Trang này xin chia sẻ với quý bạn đọc, nhất là những bạn đang tìm một pháp môn để thực hành, phần nào về kết quả tu tập của một số hành giả Vô Vi. Kính mời quý vị tham khảo.

 

Nguyễn Thọ

THỰC HÀNH PHÁP LÝ ƯU VIỆT, VĂN MINH, HỢP THỜI ĐẠI

Thưa Quý Vị, cùng Anh, Chị, Em quý mến !

Hưởng ứng lời yêu cầu và khích lệ của Ban Làm Việc trong Thư Viện Vô Vi, tôi xin sơ lược một cách thật ngắn gọn, trung thực, hoàn cảnh sống từ nhỏ đến bây giờ, cũng như cơ duyên may mắn nào tôi ngộ được Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp (PLVVKHHBPP), và gặt hái được kết quả gì sau hơn 30 năm hành Pháp, với niềm hy vọng nhỏ nhoi và duy nhất là được một ai đó trong thế giới mênh mông đầy khắc nghiệt ngoài kia có cùng hoàn cảnh, cùng tâm trạng, cùng duyên may sẽ đồng hành cùng tôi cho bớt khổ.

Thưa Quý Vị, cùng Anh, Chị, Em quý mến !

Tôi được sinh ra vào đầu thập niên 1950 tại một làng quê ẩn mình dưới dãy Trường Sơn, thuộc tỉnh Quảng Nam. Người dân quê tôi chuyên về nông nghiệp, quanh năm chỉ gần gũi với con trâu, cái cày, mảnh vườn, ao cá, nên họ rất hiền lành, hiền như cục đất. Khi tôi sinh ra thì Ông Nội đã mất ; Ông mất khi ông còn rất trẻ, chưa tròn 32 tuổi ; Ông là một thí sinh thi rớt Tú Tài thời xưa. Sư phụ, cũng là nhạc phụ, của Nội tôi là cụ Cử dạy học trong làng ; Ông cũng là bạn đồng khoa và thông gia với cụ Phan Chu Trinh ; vì có tinh thần chống Pháp nên chỉ ở quê dạy học, thành ra đời sống kinh tế rất khó khăn và vất vả. Bà Nội tôi một mình phải nuôi 6 người con còn nhỏ dại ; do vậy ba tôi không có duyên học hành đến nơi, đến chốn ; Ông chỉ là viên chức cấp thấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Quý cụ đều theo Hán học, nên gia đình tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều của Nho giáo và Khổng giáo

Khi tôi lên 5, 6 tuổi, vừa có ý thức một chút, ngoài giờ đi học, lớp vỡ lòng, Lớp Năm (tức Lớp Một bây giờ), tôi đã biết đi bắt cá, chăn trâu, và vui chơi cùng trẻ con trong làng ; tôi nhớ quê tôi nghèo nhưng vui lắm : mỗi tối có trăng bọn con nít chúng tôi thường theo những người lớn săn bắt những con thú rừng nhỏ như chim cút, chuột đồng ; về nhà làm thịt cùng ăn ; đầy tình làng nghĩa xóm. Nhưng bọn trẻ như tụi tôi rất sợ ma, vì các người lớn luôn khuyên dạy rằng trẻ nhỏ tụi tôi không được đi một mình vào rạng sáng, trưa đứng bóng, hoặc chạn vạng tối vì rất dễ bị ma bắt. Trong làng đã có nhiều người bị ma bắt, rồi dấu vào các bụi rậm, chỉ có chó săn mới đánh hơi tìm được ; khi tìm được miệng họ bị nhét đầy phân trâu ! Riêng tôi, khi trong làng có đám tang, nhìn người ta bỏ người chết xuống đất, tôi rất sợ, trong đầu tự hỏi, “Không biết lúc đó họ đi về đầu ?”

Đầu thập niên 1960, chiến tranh lan rộng toàn miền Nam ; quê tôi cũng không tránh khỏi bom đạn tàn phá : gia đình tôi phải tản cư xuống thành phố Hội An ; lúc này tôi đã lớn hơn một chút rồi, bắt đầu học Lớp 3 ; một đứa trẻ ở quê mới ra thành phố, thấy cái gì cũng lạ lẫm, nhà cửa to đẹp, đường nhựa sạch sẽ không như ở quê đầy bùn, đầy bụi ; ghe thuyền tấp nập, đèn điện sáng rực, không như ở quê đèn dầu tối om ; con người thì sạch sẽ, ăn bận đẹp, lịch thiệp, vv... Lúc đó, dù còn ngây thơ nhưng tôi cũng tự hỏi, “Sao ông Trời bất công quá vậy ? Nơi thì quá sướng, nơi thì quá khổ !” Thời gian trôi qua, học hết tiểu học, lên bậc trung học, đầu óc khôn hơn chút đỉnh, hiểu biết về khoa học hơn chút đỉnh, tôi luôn băn khoăn tự hỏi, “Từ đâu mình sinh ra ; chết rồi sẽ về đâu ?” Khi biết được các hành tinh tự quay trên quỹ đạo của chính nó, các sinh vật nhỏ nhất như con kiến con muỗi, chúng cũng biết tìm bạn đời để sinh sản để bảo vệ nòi giống của chính nó ; vậy ai là người điều khiển vũ trụ nầy ? Chúa ? Phật ? hay Trời ?”

Tôi tin chắc rằng phải có đấng tối cao hiện hữu sắp đặt và điều khiển. Tôi đã từng tìm gặp rất nhiều quí vị chức sắc của các tôn giáo lớn để thắc mắc học hỏi, xin chỉ giáo ; nhưng buồn thay không có vị nào giảng giải làm tôi hài lòng, thỏa mãn ; đôi lúc tôi cảm thấy hoang mang, cộng một ít bất bình về nhiều điều răng dạy của các tôn giáo lớn. Tôi xin đơn cử vài nội dung như: đạo Chúa : "Tin Ta Sẽ Được Sống Đời Đời, Không Tin Ta Sẽ Bị Chết Đời Đời" ; hay đạo Phật : "Con Người Không Có Linh Hồn, Con Người Tồn Tại Bởi Cái Thức, Cái Nhân, Cái Quả" ; hay đạo Khổng : "Quân Xử Thần Tử, Thần Bất Tử Bất Trung", "Phụ xử Tử Vong, Tử Bất Vong Bất Hiếu". Thành ra tôi là người rất tin vào đời sống tâm linh và đấng tạo Hoá, nhưng lại là con người không có đạo !

Sau khi đậu Tú Tài, vào đại học, điều trăn trở của tôi về cuộc đời sinh, lão, bệnh, tử của con người càng lớn dần theo kiến thức của trường đời. Dịp may hiếm có, tôi tiếp xúc được với những cuốn sách của hội Thông Thiên Học do bà Nguyễn Thị Hai lược dịch ; tôi say sưa đọc từ cuốn này qua cuốn khác như: “Vũ Trụ và Con Người,” “Con Đường Giải Thoát” ; vài cuốn của Krisnamurti như: “Tình Yêu Cô Đơn” ; tôi rất tâm đắc. Những cuốn sách đã giai toả phần nào nỗi khát khao tìm hiểu về thế giới tâm linh, huyền bí, của tôi. Nhưng Thông Thiên Học cũng chỉ dừng lại tại phần lý thuyết ; tôi không được tiếp cận bất cứ phương pháp thực hành nào.

Rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 ập đến ; miền Nam có trăm kẻ vui, nhưng cũng có vạn người sầu. Gia đình chúng tôi cũng là một trong hàng vạn người sầu đó, và bắt đầu lang thang qua nhiều thành phố, thôn quê vùng Tây Nam Bộ, để tìm kế sinh nhai trong muôn vàn lo lắng, căng thẳng, khó khăn và vất vả. Cuối cùng chúng tôi đã xuống thuyền và ra đi tại đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, để tìm tự do, tìm sự sống trong muôn vàn sự chết đang chực chờ giữa biển khơi trùng trùng sóng gió.

May mắn, Trời thương, cuối cùng cũng tấp được vào bến bờ bình yên, và đến định cư tại Mỹ vào đầu năm 1978. Sau 3 năm vất vả, nỗ lực và cố gắng vươn lên tại quê hương thứ hai, tôi đã lập gia đình, có 2 cháu, mua được xe, được nhà. Đời sống đi dần vào ổn định, thì sự thôi thúc, băn khoăn về cuộc đời khi xưa lại trổi dậy. Một hôm, đi chợ Việt Nam, bà xã tôi thấy có một banner quảng cáo : “Buổi nói chuyện về Thiền của ông Tám, Lương Sĩ Hằng”. Vì bà xã biết tôi luôn luôn hướng tâm về đạo nên bà chỉ cho tôi ; tôi liền lấy bút ra ghi ngay, địa điểm, ngày giờ để chờ đợi đến nghe ; nhưng trong thâm tâm cũng hoài nghi và thắc mắc, không hiểu tại sao nói về Thiền mà không phải là một tu sĩ Phật giáo, hay một thiền sư nào đó, mà lại là “ông Tám, Lương Sĩ Hằng,” một tên tuổi như nông dân đồng bằng Nam bộ ? Nhưng tâm đã quyết ; đến ngày, tôi nhất định đi.

Lần đầu tiên gặp ông Tám, thoạt nhìn Ông ăn mặc bình thường, giản dị, nhưng rất lịch thiệp, sang trọng, cách ông đi, ông đứng, ông tiếp xúc, giống như một nhà lảnh đạo cấp cao, hay một doanh nhận thành đạt, một ông chủ rất có uy ! Khi được tiếp xúc gần, khuôn mặt Ông đầy đặn, phúc hậu ; đặc biệt, đôi mắt Ông rất sáng, kiểu nhìn hiền lành, từ bi ; Ông cười thật thân thiện ; vầng trán cao và sáng, đôi vành tai giống như tai ông Phật.

Khi Ông nói, giọng Ông rất trong, rất khỏe, dù lúc đó ông đã ngoài 60 tuổi ; lời Ông rất giản dị, bình dân dễ hiểu, nhưng mang một nội dung rất giá trị mà từ trước đến giờ tôi chưa từng được nghe một vị tu sĩ nào nói giống như vậy. Khi Ông nói, không có giấy tờ, sách vở gì cả ; Ông thao thao bất tuyệt, nói những gì có sẵn trong đầu, trong bụng Ông ; Ông trả lời hằng chục câu vấn đạo từ cử tọa, lý Đạo rất tròn trịa, rất thuyết phục ; đôi khi Ông còn pha trò một cách duyên dáng, làm không khí trong hội trường luôn vui nhộn.

Tôi say sưa nghe Ông giảng như chưa hề được nghe một lần nào. Tôi có cảm giác như Ông giảng, Ông trả lời vấn đạo cho chính một mình tôi : hình như Ông đã biết được tôi đang thắc mắc điều gì ! Tôi thầm cảm ơn ông Trời : Người Thầy mà tôi hằng tìm kiếm suốt thời gian qua, Ngài đă đến tìm tôi ! Ôi, Hoàng Thiên hữu nhản bất phụ đạo tâm nhơn !

Hôm ấy ông Tám đã nói gì mà làm tôi sung sướng và đầy niềm tin tưởng ?

Ông đã cảm ơn Ban Tổ Chức cho Ông cơ hội để gặp gỡ đồng hương và chia xẻ những điều thực tu, thực chứng của Ông ; Ông nói những gì Ông biết khi Ông hành đạo ; Ông không hề đọc sách vở, kinh kệ gì cả ; Ông đến đây không có mục đích rủ rê ai theo Ông ; Ông chỉ muốn mọi người tự thức, tự tu, tự đạt : không có ai có thể tu dùm mình được.

Ông giải thích tóm tắt :

- Đạo là sự quân bình của nội tâm.
- Tu là tu bổ, sửa chữa những khiếm khuyết của ta, loại bỏ những thói hư tật xấu.
- Đồng thời, Ông cũng giải thích linh hồn nhập thể phải qua điểm nào trong cơ thể, và khi rời thế-xác phải xuất ra từ điểm nào.
- Phần hồn ta bị giam nơi đâu ?
- Thân xác ta là một tiểu thiên địa có tất cả tính chất của Đại Vũ Trụ,
- Nếu ta có phương pháp và biết cách khai thác thì mỗi chúng ta đều có thể trở về với Thần, Thánh, hay Tiên, Phật.
- Tiểu Vũ Trụ của ta sẽ trở thành một Xá Vệ Quốc cho phần Hồn ta cai quản.
- Ông cũng giải thích những luồng điển chính trong cơ tạng con người: Nhâm mạch, Đốc mạch, các luồng điển của Lục Phủ, Ngũ Tạng ; và Ngũ Uẩn.
- Cuối cùng, Ông giới thiệu Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp : Ông giải thích rõ ràng Pháp Môn này giúp ích cho ta những gì, và cặn kẽ hơn là ý nghĩa mỗi Câu Niệm, mỗi Động Tác khi Hành Thiền.
- Ông nói : Trước khi ta làm điều gì thì ta phải hiểu thông suốt, phải biết lợi ích của nó là gì. Không hiểu, không nên làm.
- Ông giải thích pháp Soi hồn để ổn định thần kinh khối óc ; pháp Pháp Luân Thường Chuyển để thanh lọc ngũ tạng ; pháp Thiền Định để đem luồng điển của chính mình hòa nhập với luồng điển thanh tịnh của đại vũ trụ.

Tan buổi thuyết giảng, ban tổ chức phân phát cho mỗi người một cuốn tape “Vấn Đạo Tổng Quát” và một tập giấy nhỏ chỉ dẫn Phương Pháp Công Phu.

Về nhà, mở tape Vấn Đạo, tôi nghe đi, nghe lại hàng chục lần mà không chán. Ông giải đáp thắc mắc về đời, về đạo, một cách rất hợp tình, hợp lý và mới lạ - khác hẳn với các vị chức sắc của các tôn giáo khác. Càng nghe, tôi càng thấm, càng thích cách lý giải tròn trịa của Ông.

Rồi tôi nghiên cứu cách hành Thiền theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp theo tập giấy chỉ dẫn. Tối hôm đó tôi bắt đầu ngồi thiền, không cho vợ con hay biết. Trong đêm tối mênh mông tĩnh lặng, tâm hướng về Trời, Phật, tôi cảm nhận một sự thiêng liêng huyền bí khó diễn tả.

Những ngày tháng tiếp theo tôi cũng tiếp tục ngồi thiền một mình, không cho một ai trong nhà hay biết, dù là vợ, là cha ruột của tôi, vì ông Tám khuyên rằng : mình tu, không nên rủ rê ai hết ; ta phải cố gắng tu tốt để ảnh hưởng người ta thôi. Nếu ai có duyên thì họ sẽ ngộ Pháp.

Thật bất ngờ, khoảng 6 tháng sau, bà xã tôi tự động thiền theo tôi ; và khoảng 4 năm sau thì cha tôi cũng bắt đầu ngồi thiền luôn ! Cả nhà cùng tu, cùng tiến ; vui vẻ cả làng!

Có bạn thắc mắc tại sao tôi hành thiền theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp ?
Tôi thường trả lời rằng: vì Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp có những điểm ƯU VIỆT, VĂN MINH, HỢP THỜI ĐẠI như sau:

o KHOA HỌC: Ta có thể kiểm chứng kết quả của những điều ta làm trong lúc hành Thiền. Không tin, không nghe những gì ta chưa kiểm chứng được. Đây cũng là phương pháp tu về điển quang, rất thích hợp cho con người trong thời đại văn mình này - Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp, xem computer, là phiên bản thô kệch nhất của Bộ Đầu chúng ta.
o TỰ DO: Ta không bị ràng buộc vào bất kỳ giáo lý, giáo điều, hoặc điều lệ nào ; chỉ có một điều cấm duy nhất là không được lười biếng hành pháp !
o BÌNH ĐẲNG: Ta không bị lệ thuộc bất kỳ ai, dù người đó là Thầy ta. Khi ta nhận Pháp, Pháp đó thuộc về ta ; sự sáng suốt là minh sư của chính ta.
o CÔNG BẰNG: Ta có tu có tiến, có hành có hưởng ; không ai có thể ban phát phước lộc cho ta cả. Ta được thanh nhẹ ta đi lên ; bằng không, nặng trược, ta phải đi xuống chỗ tối tăm, khổ sở.

Và sau hơn 30 năm hành Pháp, tôi đã gặt hái được kết quả gì ?

= VỀ PHẦN ĐỜI:

o Tôi bỏ được hút thuốc một cách dễ dàng.
o Không bị các bịnh lặt vặt quấy nhiễu - số giờ bịnh (sick leave) của vợ chồng tôi dư ra hơn 4000 giờ.
o Một vài bịnh kinh niên như chảy máu cam, hệ tiêu hóa suy yếu, tự nhiên dần dần biến mất. Khi xưa, ăn uống rất khó tiêu, không thể lên cân được. Bây giờ phải kiêng ăn để giảm cân.
o Vợ chồng, gia đình cùng tu, càng thấy được may mắn, vui vẻ hơn, thanh nhẹ, hạnh phúc hơn ; được sự yêu mến của bà con, bạn đạo, cũng như bạn đời, trên thuận, dưới hòa ; các con rất ngoan, học hành đến nơi đến chốn, nhất là biết lẽ đạo ở đời. Con trai trường chay, không lập gia đình ; con gái thì không muốn sinh con ; mọi người đều sống một cách hài hòa giản dị ; các con rất gần gũi với cha mẹ, như là người bạn thân, chia sẻ mọi điều vui, buồn cùng gia đình.

Sau đây là đôi điều chia sẽ của con gái chúng tôi về gia đình ba mẹ :

Who is my hero ? My parents, of course !

I love my family so much that i can't imagine a life without them. I'm not as happy if I'm apart from them for too long. Some people don't understand this, or know what it's like to have a home filled with so much love and goodness.

I'm extremely close to my parents, so close that I don't think anyone else in the world can understand me better than my parents.

Sometime I feel like I don't want to get married and have my own family, because I don't think it'll ever be as perfect as the one I have now. I've been very blessed to have parents that I can look up to, respect, and admire. I feel fortunate to have two people, amazing people, to guide me, love me, and support me .

Tôi xin tạm dịch ra Việt ngữ :

Ai là người tôi ngưỡng mộ nhất? Dĩ nhiên, đó là Ba Mẹ tôi. Tôi yêu thương gia đình tôi thật nhiều ; tôi không thể tưởng tượng nổi cuộc sống tôi sẽ ra sao nếu thiếu vắng Ba Mẹ tôi bên cạnh. Tôi không có được niềm vui trọn vẹn nếu tôi sống xa ba mẹ tôi quá lâu. Một số người sẽ không hiểu được điều này, hoặc cảm nhận được như thế nào với ngôi nhà đầy ắp tình yêu thương và tiếng cười.

Tôi gần gũi Ba Mẹ tôi nhiều lắm, tôi không nghĩ rằng trong thế giới này có một ai đó hiểu tôi bằng Ba Mẹ tôi hiểu tôi. Đôi khi tôi không muốn lập gia đình, bởi nếu tôi có gia đình riêng cho chính tôi thì sẽ không có được một gia đình như gia đình mà tôi đang có cùng Ba Mẹ tôi hiện giờ. Cám ơn ông Trời đã ban cho tôi Ba Mẹ thật tuyệt vời để tôi noi theo, kính trọng,và ngưỡng mộ. Tôi cảm thấy thật may mắn có được hai con người thật tuyệt vời để hướng dẫn, dìu dắt tôi, yêu thương và hỗ trợ tôi nên người.

Nguyễn, Anvy.

= VỀ PHẦN TÂM LINH :

• Vài năm đầu, ngồi thiền giữa đêm khuya, vợ chồng tôi khóc rất nhiều vì sự ăn năn hối lỗi của phần hồn khi thức tâm ; nước mắt tự tuôn trào ; sau khi khóc xong, toàn thân thấy thanh nhẹ như có thêm năng lượng.
• Cảm nhận được luồng điện đi lên trên trung tim bộ đầu.
• Cảm nhận được luồng điện từ bi và thương yêu của Ông Tám làm rúng động tận tâm can của mình. Đôi lúc Thiền thanh nhe, mình có cảm giác như mất đi phần thân xác.
• Đôi lúc cảm nhận được tình thương của Trời Phật khi nhìn một cành cây, vạt cỏ bên đường vào buổi sáng sớm tinh sương.
• Bà xã tôi hai năm đầu ngồi thiền thấy rất nhiều hiện tượng lạ. Vì mỗi người một duyên nghiệp nên hiện tượng bắt gặp lúc ngồi thiền mỗi người mỗi khác, tôi không dám lạm bàn ở đây. Và nếu có duyên gặp nhau tôi sẽ tâm sự nhiều hơn về Thiền.
• Càng thiền, niềm tin về Trời Phật càng lớn ; lòng tham lam, tự ái mòn dần, nên ít tranh chấp.
• Sợ hãi và lo toan giảm đi rất nhiều, thành ra đời sống tâm linh mỗi ngày mỗi thoải mái hơn, tâm thức buông bỏ được nhiều thứ.
• Và gần 40 năm hành thiền theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp, tôi xin khẳng định rằng Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp không làm tổn hại bất cứ điều gì cho Tâm lẫn Thân ; chỉ có lợi mà thôi.

Chúng tôi cảm thấy ngộ được Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp là một đại phước duyên của gia đình chúng tôi trong cuộc đời này .

Gia đình chúng tôi như một con thuyền mất hướng giữa biển khơi mênh mông đầy sóng gió - Bây giờ có được Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp như tìm được ngọn hải đăng và có GPS dẫn đường.

Nếu Quý Vị có duyên và đọc được bài viết này của tôi, hy vọng Quý Vị cũng có cùng suy nghĩ, khát khao như tôi, xin Quý Vị hãy vào xem mục vấn đạo Vô Vi do chính Thầy Tám trả lời ; biết đâu chúng ta sẽ là anh em cùng dìu dắt nhau trên con đường trở về nguồn cội !

Để khép lại bài viết này, vợ chồng con thành tâm cúi đầu cảm ơn Ông Tám, Đức Thầy kính yêu suốt đời của chúng con (dù Ông Tám không bao giờ muốn làm thầy ai, và cũng chưa bao giờ nhận ai làm đệ tử).

Chúng con cũng xin đảnh lễ và vô cùng biết ơn Đức Ông Tư, người đã truyền Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp cho Đức Ông Tám để dìu dắt chúng sinh trở về nguồn cội.

Chúng con luôn khắc ghi lời dạy của đức Thầy: “Cố gắng tu, để người khác được tu.”
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Kính bút,
Nguyễn Thọ&Loan.
Houston, Texas, mùa Xuân Tân Sửu, 2021.
Tìm: