[bắt đầu ID# 19930812Q2]

ĐẠI HỘI VÔ VI KỲ 12: "TÂM LINH" – VẤN ĐẠO 1

BĐ1: Đại Hội đã trôi qua. Chúng con xin cảm tạ Đức Thầy đã cho chúng con tiến thêm một bước trên đường tu học. Kính thưa quý Bác, quý Anh Chị đạo hữu, chúng ta đã qua một ngày; và ngày hôm nay con xin giới thiệu với quý Bác, quý Anh Chị chương trình điều khiển và chương trình của Đại Hội, chúng con có phối hợp với những Anh, Em đại diện của các quốc gia, các nước, để lập chương trình và thành phần điều khiển của chương trình Đại Hội trong những ngày còn lại.

Ngày hôm nay con xin kính chúc quý Bác, quý Anh, Chị vui hưởng và đóng góp cũng như học hỏi tốt đẹp. Sau đây con xin giới thiệu Anh Vương Thanh Sơn, sẽ phụ trách vấn đề điều khiển chương trình vào buổi sáng, và Chị Trần Thị Tuyết là người là người phụ Anh Vương Thanh Sơn; và chương trình buổi chiều sẽ do Anh Lý Vĩnh phụ trách; chương trình văn nghệ buổi tối sẽ do Anh Trịnh Quang Thắng điều khiển. Dạ, con xin cảm tạ Đức Thầy, cảm tạ quý Bác, quý Anh Chị. Dạ xin kính mời Anh Vương Thanh Sơn và Chị Trần Thị Tuyết lên máy ghi âm để điều khiển chương trình buổi sáng ngày hôm nay.

BĐ2: Để bắt đầu chương trình sáng nay, chúng con xin kính xin Thầy ban cho chúng con vài lời.

ĐT: Một ngày đã trôi qua, qua những giọng hát, câu hò, và lời thuyết giảng để đưa tâm thức của mỗi người đến lãnh vực thanh nhẹ, quên hết chuyện tình, tiền, duyên nghiệp tại thế gian. Chúng ta đã bước vào trong một lãnh vực thanh nhẹ để gọt rửa tâm thức càng ngày càng nhẹ hơn, mỗi ngày tương hội của tâm linh đều có một trạng thái khác, và đưa tâm hồn của mọi người tiến hóa tới thanh nhẹ. Duyên may, chúng ta mới có cơ hội tránh những cảnh vật lộn của tình đời trong giây phút chúng ta đã tiến tới thanh nhẹ. Giữ những kỷ niệm đó để trở về và tự tu tự tiến là chánh pháp.

Chúng ta đã có Pháp trong tay, có những người đi trước đã thành công và đem lại những tin tức quý báu, những tin lành để giải mở tâm thức, để cho chúng ta rời bỏ những khổ nghiệp trong tâm mà chúng ta đã hằng ôm ấp một cách vô lý, và làm chậm trễ tâm thức, làm phần Hồn không tiến hóa được. Sự hiện diện của chúng ta ở trên mặt đất này để làm gì? Học dũng! Học nhịn nhục mới có dũng; nhịn nhục tối đa thì tâm nó sẽ sáng, trí nó sẽ minh, thì lúc đó chúng ta không có phiền muộn, chúng ta mới quý đời, lấy oán làm ân, thấy đời là một cơ hội cho chúng ta tiến hóa. Nhờ nghịch cảnh, chúng ta mới càng thấy rõ ta nhiều hơn, chớ mọi người ở thế gian thấy, chơi vui vậy chớ đâu có biết mình là ai đâu, “Tại sao tôi có sự hiện diện ở đây? Tôi là cái gì? Không hiểu. Càng kích động và phản động nhiều chúng ta mới thấy rõ ta là ánh sáng ở trần gian! Chúng ta đã vượt qua biết bao nhiêu tai nạn, từ bao nhiêu năm nay là do sự nhịn nhục, tâm thức càng ngày càng khai mở, trí càng ngày càng sang, và chúng ta bước vào lãnh vực tâm linh thì chúng ta mới trung dung tiến hóa, đi thẳng một đường để trở về nơi cảnh giới mà trước kia chúng ta đã hằng sống, chớ không phải mượn của ai hết.

Cho nên, phải tự tu tự tiến mới là chánh pháp; còn nhờ đỡ là không phải chánh pháp. Cho nên, có cơ duyên để tái hội, và học, và thấy những lời thanh nhẹ; và chung ta nghe, nhận được tâm thức sáng suốt. Cái gì nhận được tâm thức sáng suốt? Chúng ta có ánh sáng mới nhận ánh sáng; chúng ta có ánh sáng mới hòa tan trong ánh sáng được. Nếu chúng ta không, căn bản không có ánh sáng, không hòa tan với ánh sáng được.

Khi chúng ta nghe “Đức Phật từ bi,” nghe tới “Chúa thương yêu vô cùng,” là tâm chúng ta nhẹ rồi, là chúng ta có phần nhẹ mới hòa hợp với nhẹ; hòa tan với nhẹ thì cuộc sống chúng ta an vui. Không phải tiền bạc là chánh; tiền bạc chỉ tạo khổ cho con người mà thôi: nó là phương tiện tạm để cho chúng ta thức tâm; chúng ta phải hiểu cái nguyên lý của cuộc sống, mọi người nhìn nhận, mọi người quý trọng lẫn nhau mới là giá trị; giá trị nó hơn tiền bạc, hơn địa vị; thân bần nhưng mà biết quý trọng lẫn nhau, biết quý con người, biết thương Trời Phật, biết quý con người, biết thương mình, biết quý cha mẹ, biết thương đồng loại: đó là chánh pháp trong cơ trình tiến hóa.

Mà chỉ có điển mới giữ được, mới giải tỏa được những sự kích động và phản động trong nội tâm. Ngày hôm nay chúng ta tu để nhận lấy thanh quang sẵn có, phát triển thanh quang sẵn có, và nhận lấy thanh quang vô cùng của Thượng Đế đã ân ban cho chúng ta, của Chúa đã cho chúng ta hằng ngày, hằng giờ, hằng phút. Nơi các bạn ngồi cũng là có sự hiện diện của Chúa; không phải là không có! Các nơi đều có sự hiện diện của Chúa đã lập hạnh hy sinh nhịn nhục vô cùng để cứu các con Ngài; nhưng các con Ngài chưa thức tâm, là chưa thanh nhẹ: phải buông bỏ mới thanh nhẹ; ôm vật thì không có thanh; nắm bắt không có bao giờ thanh nhẹ.

Cho nên, chúng ta tới những giây phút thiêng liêng thanh nhẹ đã cảm thức được trong tâm thức của chúng ta khác, có lãnh vực khác, lãnh vực cao siêu hơn người phàm, cao siêu hơn sự tranh chấp. Nói, “Phục vụ đồng bào,” nhưng tâm không thức, không làm được cái chuyện gì cứu giúp người khác, chỉ hại thêm mà thôi; trừ người tu, đạt được tâm thức thanh cao, hướng về con đường siêu đẳng giải tỏa, tiến tới vô cùng; lúc đó mới kêu bằng “Cứu mình” và “Giúp họ.”

Cho nên, mỗi mỗi trên thế gian đều bị sai lầm trong sự bàn bạc; trí tuệ không khai thì chỉ có hại nhơn sanh chớ không có cứu nhơn sanh. Điều chánh của Thượng Đế, điều chánh của Trời Phật đã đạt, khổ hạnh mới thành, không làm; làm cái chiều sướng, tạo khổ cho chúng sanh, chúng ta không làm nữa! Chúng ta là một khối óc ở trần gian, một điểm sáng ở trần gian; chúng ta phải phát triển điểm sáng tâm linh bén nhạy vô cùng, thanh nhẹ chớ không có trần trược nữa.

Cho nên, hôm nay ngày thứ nhì, các bạn đã chung hưởng. Rồi đây đêm đêm chúng ta sẽ có cơ hội để giải tỏa sự phiền muộn sái quấy trong nội tâm, và chính mình là y sĩ chánh để tự trị tất cả những cái bệnh chính ta tạo; thì ta phải tự giải; tự giải trong thanh nhẹ, lui về thanh tịnh là của cải vô cùng của chính chúng ta, tiền bạc của Thượng Đế đã ân ban cho chúng ta trong khối óc thanh tịnh. Chúng ta phải giữ niềm tin, khả năng của chính mình tiến về thanh tịnh vô cùng, thì chúng ta khỏi bị bỡ ngỡ ở trường đời cũng như trường đạo, khỏi bị lầm. Nhiều người lầm tưởng sự phù hộ, mà cuối cùng chỉ chuốc lấy sự đau khổ mà thôi. Tự phát triển khả năng của chính mình thì không còn đau khổ; mà ỷ lại là bị đau khổ ở tương lai.

Cho nên, thiên cơ đã cho mọi người thấy: phải phát triển khả năng của chính mình; người tu được thanh nhẹ hướng thượng thì cái vùng mình ở cũng được cứu độ; rất rõ ràng. Qua nhiều chiến tranh, đối với những người chịu ăn chay thanh nhẹ, tai nạn rất ít; mà những người ăn mặn, mang nghiệp sát, muốn cứu sự đau thương của mình mà giết những sự đau thương của con thú, cái đó là tai nạn tới bất ngờ trong tâm thức và không giải tỏa được. Cho nên, thiên cơ đã cảnh cáo mọi người: phải biết thương yêu nhau, xây dựng cho nhau. Lời Chúa để lại, lời Phật để lại, “Phải biết tha thứ và thương yêu, xây dựng để phát triển tâm từ bi của chính mình, thì mới thấy rõ khả năng vô cùng của mỗi tâm thức ở thế gian.” Mỗi khối óc, khối óc đều quý trọng, không có khối óc nào mà chúng ta chê được hết; khối óc nào cũng có một khả năng phát triển tùy theo trình độ sẵn có của chính họ.

Cho nên, hôm này ngày thứ nhì, chúng ta đã cộng hưởng; và rồi đây các Bạn sẽ tiếp tục thực thi mỗi ngày, tuy một ngày sống chung, cũng như cả bao nhiêu năm dài mà chúng ta học ở trường đời không có bao giờ thâu thập được nguyên lý rõ rệt như vậy. Ngày nay chúng ta được thâu thập được nguyên lý rõ rệt và tâm thân thanh nhẹ.

Cám ơn sự hiện diện của các bạn hôm nay! (bạn đạo vỗ tay)

BĐ2: Dạ thành thật, dạ chúng con cảm ơn những ân điển mà Thầy đã ban cho sáng nay. Để tiếp tục trụ tâm và hòa tan với không khí thanh nhẹ của buổi sáng thứ nhì cho những ngày Đại Hội ngày hôm nay, kính mời, xin mời cô Thanh Mai diễn đạt lên bài thơ của Thầy chuyển đến chúng ta trong không khí thanh nhẹ thanh tịnh.

BĐ3:

HỒN VÍA TƯƠNG HỘI

Bao năm xa cách Hồn không tiến

Lảo đảo trần gian lắm nỗi phiền

Duyên đẹp trí lành nay tái ngộ

Vía Hồn chung cõi sống giao liên

Giao liên tình đẹp sống triền miên

Khổ cảnh tiêu tan chẳng có phiền

Tình bạn trăm năm đà thấm thía

Nhớ thương vui khóc cảm giao liền

Trần thế khổ đau thành duyên nợ

Ai tỉnh ai mê đều biến loạn

Pháp giới không mê thức Thiên đàng

Tâm minh điển giới càng sung sướng

Trực chỉ Thiên đàng chỉ có thương

Vạn lý hành trình trong nháy mắt

Quán thông tận độ tạo niềm vui

Vía Hồn tương hội ánh quang minh

Vỏn vẹn thương yêu nhắc nhở mình

Từ bi khai triển tình đồng đạo

Vui xây học hỏi chuyện thấp cao

Tràn đầy sáng suốt duyên tình đẹp

Tranh trời khêu dậy tình quý trọng

Dìu nhau tiến hóa trở về Không.

BĐ2: Cám ơn Thanh Mai. Để giữ không khí yên tịnh, chúng ta tập trung và phát triển thanh điển nhiều hơn thì xin đề nghị là chúng ta không cần phải vỗ tay; trụ điển trên đỉnh đầu là đủ rồi; và để, bài thơ nó quá thanh nhẹ, để tiếp tục, cũng xin mời chị Tuyết lên cũng diễn đạt bài thơ đó trong cái hình thức khác là Hò.

BĐ4: Kính thưa Thầy, kính thưa quý bạn đạo; tôi sẽ ngâm, tôi sẽ hò một bài hò của Thầy viết ra:

Đại Hội “Tâm Linh” ‘93

Hò ơi…Bạn đạo năm châu về đây sum họp tâm sầu tiêu tan, chung vui chẳng có bàng hoàng, thương yêu tha thứ,

Hò ơi… thương yêu tha thứ Thiên đàng hướng tâm;

Hò ơi… Cảm giác mừng thầm, Á Âu sum họp chung tầm tâm linh, chung tu khai triển hành trình, minh tâm kiến tánh à…,

hò ơi… minh tâm kiến tánh tâm linh hợp hòa;

Hò ơi… Chất phát thật thà, nhìn nhau cởi mở chan hòa tình thương, hướng tâm Trời Phật mở đường, tu hành tinh tấn à…,

hò ơi… tu hành tinh tấn yêu thương đời đời;

Hò ơi… Không muốn xa rời, dấn thân học đạo hợp thời tiến than, cần tu đời đạo tương thân, dày công tu học,

hò ơi… dày công tu học cân phân đạo đời;

Hò ơi… Thức giác hợp thời, trí tâm thanh nhẹ nghỉ ngơi điều hòa, tình thương chẳng có cách xa, cùng chung học hỏi ờ…,

hò ơi… cùng chung học hỏi cùng hòa tiến lên;

Hò ơi… Vũ trụ đạo nền, bền tâm vững chí tự quên cực hình, dù cho vạn lý hành trình, tình thương vẫn sống à..,

hò ơi… tình thương vẫn sống cảm minh lòng người.

Lương Sỹ Hằng

BĐ2: Cám ơn chị Tuyết.

Để bắt đầu mục Vấn Đáp, con xin nêu lên câu hỏi đầu tiên với Thầy: “Con kính xin thỉnh Đức Thầy chỉ cho con phương pháp hòa tan với tiếng động, vì tiếng động đó làm ta bực bội khó chịu!”

ĐT: Khi chúng ta cảm thấy tiếng động bực bội là chính tâm thức của chúng ta chưa được thanh tịnh. Khi thanh tịnh là nó có ánh sáng; ánh sáng mới hòa tan với tất cả được: ánh sáng, thử thấy mặt trời đang chiếu cho tâm động và chiếu cho tâm tịnh, một lượt; nếu chúng ta phát triển được ánh sáng từ bi trong nội tâm chúng ta thì không còn động nữa bất cứ ở nơi nào.

BĐ2: Những câu hỏi kế tiếp liên quan về Phương Pháp Công Phu: “Kính chào Thầy,” câu hỏi đầu tiên: “Hình ảnh các tranh vẽ của các chư Phật có những ấn tròn trên đỉnh đầu, có phải tượng trưng cho những luồng điển phát xuất ngay trên đỉnh đầu không? Tại sao ngày nay, “

ĐT: Đó là đúng theo đường lối của người tu Vô Vi, trung tâm chân mày phải phát triển trước, rồi lên đến tới ngay trán, thì lúc đó chúng ta mới xuất phát được Mô Ni Châu sáng suốt. Cho nên, người tu của Vô Vi Soi Hồn thì nó nổi ngay giữa chân mày, lần lần nó nổi ngay chỗ trán, đó là Ấn Di Đà phát quang. Đức Di Đà, chỉ có 6 chữ “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật” mà toàn thân phát quang, hào quang tỏa sang; bất cứ chỗ nào nhắc tới Ngài, có sự hiện diện của Ngài liền, là thanh nhẹ nó vậy đó.

BĐ2: “Tại sao ngày nay các thầy trong chùa không có khai triển về những ý nghĩa này?”

ĐT: Các thầy trong chùa đã thờ cái đó, mà không ý thức được cái đó; tại ông, tại sao ông Phật nào cũng có cái cục tròn tròn trên trán? Nhưng mà do đâu mà có? Từ trong phát ra!

Mà không tu ở trong, mà tu bên ngoài, thì có ngày cái cục đó nó cũng mất luôn! Cho nên, phải thực hành mới thấy rõ: muốn biết Phật, phải học cái khổ của Phật, học cái hạnh của Phật mới tiến tới Phật. Chớ không phải thờ Phật mà học được cái gì! Phải học được cái hạnh dấn thân: chịu làm Phật không? Phải học được cái khổ, giải được cái khổ, nó mới không còn nghiệp nữa; thì tâm từ bi nó mới phát triển. Chính nó khổ rồi nó mới biết thương người khác! Người chưa khổ không biết thương người khác! Người đau răng mới biết thương người bệnh đau răng; người có bệnh tật mới biết thương người bệnh tật, là vậy. Cho nên, muốn làm Phật là phải chịu khổ mọi trạng thái để tiến hóa, tiến hóa tới sự thanh nhẹ. Đêm đêm chúng ta tu thiền, đó là học hạnh đức khổ hạnh: biết mình và khai thác tâm linh phát triển sự sáng suốt, khối óc mới mở, thì trên trán nó mới có cái ấn chứng đó.

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp cũng của bạn đạo từ Vancouver, cùng người: “Trạng thái mát dịu ngay giữa trán thường xuyên và ngay đỉnh đầu có sự khác biệt gì không? Cảm ơn Thầy.”

ĐT: Cái đó tốt lắm; cái luồng điển mà Soi Hồn cho nó đứng đắn thì nó chỉ mát dịu ngay giữa trán; giữa chân mày trước, rồi lên tới trán; trán là cái luồng điển mình có thể cảm giao với Trung Thiên Thế Giới; mà lên trên đỉnh đầu, trên trung tim trên này, trên Mỏ Ác, là Bồng Lai Tiên Cảnh; và vô tới Trung Tim Bộ Đầu là Phật, cho nên chúng ta có thể liên hệ và nhận được sự sáng suốt của chư Phật ân độ! Bạn bè ta đông lắm!

Phật bình đẳng, Phật không có dị biệt, mà bình đẳng! Người có tu mới có bình đẳng được.

Khi không, không tu mà kêu ông Phật giúp mình? Cái chuyện đó không có; không nên!

Chúng ta phải tiến tới cái giới bình đẳng đó chúng ta mới hưởng được cái bình đẳng tâm thức: Quán Âm cũng bình đẳng; mà chúng ta phải tu chúng ta mới về được cái bình đẳng cảm giao, tâm thức cởi mở, tâm từ bi chúng ta phát triển thì mới có cái giới đó.

BĐ2: Hai câu hỏi kế tiếp của một bạn đạo khác: “Khi Chiếu Minh, tập trung nơi rún bị đau bụng như có khúc cây chỏi ở trong; xin Thầy giảng giải.”

ĐT: Cái đó là cái ruột có chuyện rồi. Chiếu Minh là chỉ trị cho cái ruột càng ngày càng tốt. Cái ruột đó có chuyện; cái đó phải khám, phải coi lại chớ không có phải là hít hơi vô mà bị đâu! Hít hơi nó sẽ thông suốt. Cái đó là trong cái ruột chúng ta bị thắt hay là bị độc tố; cần phải giải nó ra thì nó sẽ hết.

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp. “Khi Chiếu, khi Pháp Luân Thường Chuyển, hàm răng nhịp như bị đánh bò cạp; như vậy là sao?”

ĐT: Cái đó là thần kinh còn yếu; cái luồng điển lên hội tụ chưa có hợp nhất được. Phải ráng làm nhiều thì nó sẽ ổn định, không có nữa. Cứ ngồi làm Pháp Luân cho nhiều thì cái bộ phận đó nó sẽ yên à.

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp của Anh Huỳnh Quốc Kiệt muốn xin lên tự đọc; trong khi chờ đợi anh lên trên này, thì xin đọc câu hỏi ngắn tiếp, câu hỏi kế tiếp là: “Kính thưa Thầy, bạn đạo chúng con làm sao để thực hiện đúng ‘Sống vui hòa bình?’”

ĐT: Sống vui hòa bình thì mình phải thanh tịnh mới chịu sống vui hòa bình; mình thanh tịnh mới thấy được đối phương là quý: nhờ sự kích động của đối phương, mình càng ngày càng thanh tịnh thì mình mới vui hòa được. Nếu mà chúng ta không thanh tịnh, mà muốn người khác thanh tịnh, cái chuyện đó không có! Chúng ta tạo động, làm sao có thanh tịnh? Chúng ta phải thanh tịnh trước hết, không có nóng nảy; phải nhịn nhục để học hỏi và tiến hóa; nhịn nhục để thắng, nhịn nhục để học, nhịn nhục để tiến hóa; không phải nhịn nhục để thua lỗ đâu.

BĐ2: Anh Huỳnh Quốc Kiệt sẽ trực tiếp nêu lên câu hỏi với Thầy.

BĐ5: Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Vĩ Kiên Phật, Nam Mô Bảo Tạng Phật; con, Huỳnh Quốc Kiệt, bạn đạo California Mỹ Quốc, xin Thầy cho, có tất cả bao nhiêu luân xa, và chỉ dạy cách khai mở luân xa.

ĐT: Phải hành nó mới mở! Luân xa không phải là người khác mở cho mình được! Mình phải hành, đúng lực lượng, nó mở. Ở đời chúng ta thấy rõ: làm việc cũng phải làm đàng hoàng mới hưởng được một kết quả tốt; mà chúng ta tu, chúng ta lấy cái nguyên lý của Càn Khôn Vũ Trụ mới khai mở tâm thức được.

Mỗi khi các bạn Soi Hồn, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển, đó là bên trong nó dần dần sẽ phát triển, rồi nó mới mở ra.

Chớ còn đưa cho người ta mở luân xa, cái đó là không có đúng! Chính luân xa của họ, họ chưa thấu triệt được, làm sao họ mở luân xa cho người khác được? Cái đó là chuyện sai!

Người tu thanh tịnh, tinh tấn, thì đương nhiên luân xa sẽ mở và luồng điển từ bi sẽ phát triển.

BĐ5: Xin Thầy cho biết là 6 luân xa hay là 7 luân xa? Có bao nhiêu cái luân xa trong bản thể?

ĐT: Luân xa không có nói 6, 7 làm cái gì! Mở tới đâu hay tới đó; nói sáu, bảy, rồi ỷ lại, rồi nói dóc, nói, “Tui bây giờ tôi mở được tới cái thứ năm rồi!” Mà, “Tôi còn lấy vợ người ta!” Mở cái thứ năm làm cái gì? Không được! Tu tới đâu nó cảm thức tới đó, và nó tự giữ cái vị trí đó phát triển, chớ tui không có nói có bao nhiêu cái luân xa; mà nó chịu hành nó sẽ phát triển; và tôi không có phong chức cho ai hết. Nhiều người nói: “Ô, tôi chức này, chức kia, chức nọ,” Để làm gì? Để đi lợi dụng; lấy vợ người ta! Hổng có ích! Phải phát triển tâm thức để tu; cái chơn chánh, đại quang minh, rõ rệt mới được; không có ôm giữ cái tánh nóng mà nói đạo được; phải thanh tịnh mới nói đạo được.

BĐ5: Phần Hồn vào bản thể lối nào, và khi xuất Hồn, đi ra cửa nào? Xin Thầy cho biết cách nào để làm xuất Hồn tốt nhất?

ĐT: Khi mà chúng ta giữ đúng pháp, thanh tịnh, quân bình luồng điển, là chúng ta đi tự nhiên; không phải là xuất Hồn một cách khó khăn. Tự nhiên chúng ta ở giới nào, thấy rõ ràng. Vì quân bình là Anh đi được rồi; còn nếu không quân bình là không có cách nào đi được. Cũng như chiếc máy bay chúng ta đi từ Mỹ qua đây: phi công nó có hỏi một ngàn câu hỏi nó mới bay lên; thì tự nhiên nó quân bình nó mới bay được. Và chúng ta tu phương pháp này là để làm cho luồng điển nó quân bình, thì tự nhiên chúng ta xuất: ý chúng ta vừa tưởng đến đâu là nó phải đi đến đó, không có sự khó khăn. Bởi sự chấn động trong cơ tạng của chúng ta hòa hợp với chấn động của Vũ Trụ, vừa nháy mắt là chúng ta đi đến nơi.

BĐ5: Hành đạo đúng, tu đạo có kết quả. Xin Thầy cho biết thế nào là người hiểu “Đạo Thiền Vô Vi”?

ĐT: Người hiểu Đạo Thiền Vô Vi là người phải thanh tịnh, hiểu mình, và tận dụng khai thác khả năng sẵn có của chính mình, mới người hiểu đạo.

Mà biết được một chút, cứ khai thác người khác và chọc phá người khác, người đó ngu đạo, không bao giờ hiểu đạo!

Mình phải sửa mình, thanh tịnh ảnh hưởng người khác; đó là chánh pháp! Người hiểu đạo nhịn nhục tối đa mới là người hiểu đạo.

BĐ5: Xin Thầy giảng cho: “Người thắc mắc là người thiếu trí,” là thế nào?

ĐT: Người thắc mắc là người thiếu trí: trí không sáng, lúc nào cũng thắc mắc. Trí mà sáng rồi thì hổng có gì thắc mắc: nó thấy, nó hiểu rồi,nháy mắt nó hiểu rồi; nó đâu cần phải hỏi người ta?

Nó bị thiếu trí; trí không mở; niệm Phật không đủ, khai triển không đủ những luồng điển trong cơ tạng nó không có giao thông được, không mạch lạc, phát triển không thanh nhẹ.

BĐ5: Xin cảm ơn Thầy.

BĐ6: Kính thưa Đức Thầy: con đường tu học của con vẫn còn trì trệ; dù hai chữ “Nhẫn Hòa” không xong, con xin Đức Thầy cho con vài lời những ngày, những ngày còn lại tu học của con.

ĐT: Chúng ta đã nhìn Đức Phật có 36 tướng tốt; mà chúng ta không chịu hành, làm sao chúng ta có 36 tướng tốt? Hành là phải nhịn nhục, sửa mình, thương yêu mình, thương yêu cha mẹ, thương yêu nhân loại, thương yêu Trời Phật, mới kêu bằng hành thiền. Đêm đêm phải có một cái đầu óc như vậy. Hành thiền đứng đắn thì tướng chúng ta sẽ tốt. Cái gì nó cũng tròn vo đều đặn. còn “Tui cố hành để thành Phật!” Thành Phật để làm gì? Ăn cướp của thiên hạ? Ông Phật không có ăn cướp của ai hết, chỉ giữ thanh tịnh là đủ rồi: “Hữu Xạ Tự Nhiên Hương”; người ta sẽ tới tìm mình; hổng có tổ chức những Tiên, Phật tùm lum, ở thế gian! Tu tới không còn người, không còn Phật nữa mới là thật sự ánh sáng Như Lai rõ rệt thanh nhẹ; thì trạng thái nào chúng ta cũng có thể hòa đồng và giải mở được hết, không có bị kẹt nữa.

BĐ6: Kính thưa Thầy: có người hỏa lai, hoa lai

ĐT: Cái gì?

BĐ6: Có người hóa lai, mà hổng có bỏ dấu

ĐT: Hóa lai là cái gì?

BĐ6: Hóa lai là quá cố đó, Thầy; bài thơ của một thi sỹ đã chết, hóa lai, hóa lai đó!

BĐ2: Có người họa lại bài thơ.

ĐT: Họa lại.

BĐ6: À; “Có người họa lại”; hổng có bỏ dấu thành ra con hổng biết. “Có người họa lại bài thơ của một thi sỹ đã chết; thơ là thơ đời, mà thơ họa lại là thơ đạo muốn gửi lại thơ này cho người đã chết, như vậy phải làm thế nào để gởi tới cho người ấy? Xin cảm ơn Thầy.”

ĐT: Người đã chết mà họ làm được thơ thì họ cũng có chút đỉnh trình độ, nhưng mà trình độ họ tới đó thôi. Còn người sống này có tu mà được thanh nhẹ, muốn họa lại thơ gởi cho người chết: có liên hệ gia đình cửu huyền thất tổ mới có cơ hội gởi được, còn người ngoài, mình không có gởi được. Chỉ lo tu thôi, để phát triển. Chưa chắc cái của mình gọi là đúng! Phải ráng tu nữa. Thơ là nhắc mình chớ không phải nhắc người khác.

BĐ6: “Thưa Thầy: Thiên Cơ biến đổi dồn dập, dù cố gắng thanh tịnh, một số bạn đạo vẫn hoang mang không biết mình có hy vọng trở về quê nhà không, nhứt là các bạn lớn tuổi. Kính xin Thầy có vài lời dạy bảo.”

ĐT: Thiên Cơ biến động, Vũ Trụ biến động; thì chúng ta tu này, khai thác cái Tiểu Thiên Địa này liên hệ với Vũ Trụ, thì chúng ta càng khai thác, nó càng thanh tịnh, thì chúng ta không có đặt vấn đề, “Mong muốn tương lai tôi sẽ đi đâu? Tôi mong muốn giải tỏa và khai thác khối óc, cơ tạng thanh tịnh của tôi; tôi tiến về Nguồn Cội là nơi thanh tịnh vô cùng, Tam Thập Tam Thiên, lúc tôi giáng lâm xuống thế gian; tôi phải trở về nơi đó!” Đó là chánh pháp.

Chớ không phải về, về cái xứ sở nhỏ bé đó làm gì? Chúng ta cầu tiến tới Đại La thanh nhẹ ở bên trên, chớ không phải đi tới cái chỗ tranh chấp để làm gì; không mong tới cái chuyện đó!

Phải trở về với Đại La thanh nhẹ của Trời Phật.

BĐ2: Những câu hỏi kế tiếp của một bạn đạo ở Montreal; câu hỏi đầu tiên: “‘Trống lòng, đầy bụng’ ý nghĩa là như thế nào?”

ĐT: “Trống long, đầy bụng” là chúng ta, cái lòng của chúng ta không có tranh chấp với ai hết, chúng ta hưởng thanh khí điển cả Càn Khôn Vũ Trụ đầy đủ cho sự mạnh khỏe tiến hóa của tâm linh; kêu bằng, “Trống lòng, đầy bụng.”

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp: “Làm sao biết được mình Soi Hồn đúng đắn và đúng mức? Có cần nghe rút, thấy ánh sáng gì không?”

ĐT: Soi Hồn đúng thì chân mày, trước chân mày, nó hơi nặng nặng, cái đó là đúng; mà khi nặng một thời gian rồi nó sẽ nhẹ; nhẹ là chúng ta thấy ánh sáng khi chúng ta Soi Hồn; 5 giờ sáng ngồi dậy Soi Hồn 15 phút, thì chúng ta thấy tuyết trước mặt, tươi đẹp, cảnh vật tươi đẹp; thì con người không có buồn phiền trước khi chúng ta đi làm đụng chạm với đời. Sáng sớm ta ngồi ta dậy ta Soi Hồn khoảng 15 phút, thì cái óc nó thanh nhẹ, bỏ tất cả những sự phiền não sái quấy trong nội tâm.

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp: “Sau mấy chục năm quen dùng trí phàm để giải quyết mọi việc, làm sao có thể buông bỏ trí phàm mà nguời trí thức thường hay mắc phải, để phát triển trí đạo của người tu?”

ĐT: Trí đạo là trong tự nhiên và hồn nhiên: chúng ta tu, Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định đây là trở về với tự nhiên, hồn nhiên; thì lúc nào mà chúng ta đã trở về với tự nhiên và hồn nhiên là giải quyết bất cứ một chuyện gì cũng thanh nhẹ và cởi mở, có lối thoát.

Còn cái ý phàm là không có lối thoát và tạo sự tranh chấp, giết chóc lẫn nhau, không có lợi lộc; đi vô đường cùng, không phát triển.

BĐ2: “Thiền nhập định khác với thiền rồi ngủ quên, ra sao?”

ĐT: Thiền nhập định thì thấy rõ ràng luồng điển xuất ngay giữa trán rõ ràng, xuất ra thanh nhẹ mát mẻ, kêu bằng nhập Định; Định là phải xuất, xuất về cõi thanh nhẹ.

Còn thiền ngủ quên là mê ăn, tạo động khối thần kinh; ăn nhiều là nó phải ngủ quên.

BĐ2: Câu hỏi cuối cùng: “Cách nào giúp hành giả dễ buông bỏ mọi chuyện thế gian, và tập trung hướng thượng? Thí dụ lúc dự Đại Hội, thấy nhiều chuyện trần gian nhỏ mọn, mà lúc về gặp những chuyện đó lại thấy lớn? Kính xin Thầy giảng giải.”

ĐT: Tại sao khi Đại Hội chúng ta thấy chuyện trần gian nhỏ mọn? Là chúng ta đã ly khai luồng điển trong cơ tạng, và tâm thức chúng ta phát triển lên khối óc, và phát triển tới vô cùng; nó thanh nhẹ; mọi người ở hội trường đều thanh nhẹ. Mà khi về với đời, thấy chuyện đời nó lớn lắm vì nó quy trách nhiệm cho mọi người, và phải gánh, và thiếu nhịn nhục là thấy nó lớn; nhịn nhục là thấy hổng có gì lớn hết! “ Tâm làm thân chịu”; sống chung, chung đụng với khối óc con người, “Tâm làm thân chịu,” mọi người đều có sự sáng suốt tiến hóa. Không nên lo cho người khác mà tạo động cho chính mình nữa! Tiếp tục như vậy thì mới phát triển được tâm linh thanh nhẹ.

BĐ2: Câu hỏi của một bạn đạo khác: “’Kinh A Di Đà’ có dạy, trong khi công phu mình phải tưởng nhớ tới Phật. Con muốn biết, ‘Nhớ tới,’ với, ‘không nhớ tới,’ Phật, khác chỗ nào, trong khi công phu?” (36:25)

ĐT: Công phu mà không nhớ tới Phật, nhớ tới tiền, là nó khác; không nhớ chuyện này, nhớ chuyện khác. Nhớ Phật là nhớ cái tâm từ bi thanh nhẹ, mà nhớ Phật là nhớ mình chớ hông phải nhớ Phật là để nịnh Phật; nhớ Phật là nhớ mình, phát triển tâm từ bi; Phật là từ bi, mình nhớ Phật để phát triển tâm từ bi của chính mình.

Còn nhớ chuyện đời là nó trói buộc: tiền, tình, duyên nghiệp, đều trói buộc; lúc không nhớ được Phật á, là tâm lúc nào cũng động, không có yên.

Nhớ Phật phải hiểu nguyên lý: Phật người là từ con người động loạn vô cùng tiến tới thanh nhẹ, phát triển tâm từ bi.

BĐ2: Hai câu hỏi kế tiếp của bạn đạo người Pháp, không có nêu tên: “’Nam Mô A Di Đà Phật,’ Maitre Tám, la notion du pardon et d’amour définit elle la compassion? Comment doit on utilizer cette compassion? - Cái khái niệm ‘Tha thứ và thương yêu,’ có phải nó định nghĩa ‘Từ Bi’ hay không? Làm sao chúng ta có thể sử dụng ‘Từ bi’ thế này?”

ĐT: Chúng ta muốn có được căn bản từ bi, phải biết tha thứ và thương yêu; nó không có trói buộc và không có chèn ép tâm thức từ bi của chính mình. Niệm Phật nhiều, chấn động nó càng ngày càng thanh nhẹ; khối óc thanh nhẹ hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ càng ngày càng lớn rộng, tâm từ bi chúng ta mới phát triển.

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp, có lẽ cũng cùng bạn đạo Pháp: “’Nam Mô A Di Đà Phật,’ Maitre Tám, on dit que le Budha doit être tranché de nos liens karmiques; pourtant on nous enseigne d’aimer l’humanité, les êtres humains; peut on donc aimer les êtres centrés de liens? N’est ce pas là un fait contradictoire; et comment doit on agir?” Kính thưa Thầy, người ta nói là Phật thì phải giải thoát hết mọi duyên nghiệp; tuy nhiên cũng được dạy là, ‘Phải thương yêu nhân loại, thương yêu hết mọi người;’ như vậy, chúng ta có thể vừa thương yêu nhân loại mà không tạo ra duyên nghiệp, hay không? Có phải là như vậy nó có sự mâu thuẫn? Và chúng ta phải làm như thế nào?”

ĐT: Không có nhịn nhục, không có nói vấn đề thương yêu. Con người không biết nhịn nhục, con người đó không bao giờ biết thương yêu. Muốn theo đường lối của Phật, phải nhịn nhục tối đa mới thấy rõ đường đi: đường đi là giúp người khác, là phát triển tâm từ bi mới giúp người khác được. Còn không nhịn nhục, trong này nó không nhịn nhục, ồn ồn, ào ào, không làm được một việc gì cho chính mình và cho người khác; tạo khổ mà thôi.

BĐ2: Những câu hỏi kế tiếp của cùng một bạn đạo. Câu hỏi đầu tiên: “Thưa Thầy, con nghe nói, ‘Người tu, khi đã đắc đạo, có thể cứu được cửu huyền thất tổ.’ Vậy Đức Thầy là người đã được thành Đạo rồi, vậy chắc chắn là Đức Thầy cũng đã cứu được cửu huyền thất tổ? Vậy Đức Thầy đã cứu được bao nhiêu người rồi? Còn nếu có thể, Thầy có thể kể ra, gồm những ai và được bao nhiêu người, hay không?”

ĐT: Bởi vì tôi không làm chánh trị thiêng liêng, tôi không có ghi sổ sách mà để điểm danh mọi người, và tôi chỉ phát triển tâm từ bi mà để tôi được yên ổn. Mà ngày hôm nay bao nhiêu khối óc đang trực diện với tôi cũng được thanh nhẹ thì có thể đếm thử, sơ sơ thôi, đừng nói chuyện nhiều, không biết được.

BĐ2: Thưa, câu hỏi kế tiếp: “Thưa Thầy, con có nghe băng Đức Thầy giảng nói trong cõi vô hình Thầy có đến giảng đạo cho những vong hồn người cùi nghe. Như vậy, mấy người cùi lúc còn sống tại thế gian, họ bị mang bệnh cùi, và khi chết đi rồi không được đầu thai hay siêu thoát, mà ở lại một nơi riêng biệt dành cho những vong hồn người cùi; hay sao?”

ĐT: Có hết! Những cái, những cái nơi đó có hết: những người đó vẫn thọ và để cho họ thức tâm. Cái phần Hồn đau khổ, thiệt đau khổ, mới thức tâm. Cho nên có “Địa Ngục Du Ký”, các Bạn đọc “Địa Ngục Du Ký,” các Bạn thấy, phần Hồn xuống đó bị hành hạ đau khổ hết sức, thức tâm, mới chịu nghe những lời giảng của Quan Âm, là ở, ở cõi âm u đó mà thức tâm để tiến hóa về Khu Bình Dân.

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp cũng liên quan cửu tuyền thất tổ: “Thưa Thầy, người tu chưa có trình độ để độ cửu tuyền thất tổ, vậy trong lúc thiền, cầu nguyện cho cửu tuyền thất tổ có cứu được phần nào, hay không?”

ĐT: Không phải cầu nguyện! Hành đúng pháp là đương nhiên cứu được: sự liên hệ của mình không ngừng nghỉ với cửu huyền thất tổ, lúc nào cũng có duyên giao liên; nếu chúng ta tu thanh tịnh là chúng ta có thể cứu độ cho cửu huyền thất tổ thăng hoa, chớ không phải đắc đạo; thăng hoa thôi: được nhẹ, được vinh dự, nhẹ, để học và tiến hóa, mà thôi.

BĐ2: Câu hỏi kế tiếp liên quan về công phu: “Thưa Thầy, khi thiền, có một cơ tạng nào sắp được khai mở là có phải là đang đau ngay chỗ đó, hay không? Thí dụ như đau xương sống, từ lưng quần trở lên một gang tay; rồi một thời gian ngắn thì lại hết, và chuyển sang đau chỗ khác, cũng như vậy, chẳng hạn như trung tâm chân mày, hay trên đỉnh đầu?”

ĐT: Chỗ nào đau là nhờ Pháp Luân Thường Chuyển nó đẩy độc tố tới đó mà nó đau thôi, chớ không có gì hết; mà khi mà độc tố nó qua khỏi rồi, nó hết đau. Cứ cố gắng làm Pháp Luân Thường Chuyển thì giải được.

BĐ2: Câu hỏi tiếp: “Thưa Thầy, khi ban đêm thiền, lúc thở làm Pháp Luân Thường Chuyển, điển rút từ chót mũi lên trung tim chân mày; và sau khi dứt Pháp Luân Thường Chuyển, thấy phực ra ánh sáng; và ban ngày, không có thiền nhưng ngay trung tim chân mày cứ cảm thấy đau nhức và điển rút; như vậy là sao?”

ĐT: Cái đó tốt! Phải cố gắng; cái đau là, chẳng qua độc tố thôi; cố gắng làm tiếp, nó sẽ không còn gì nữa, và lúc nào cũng thanh nhẹ, đầu óc sáng suốt.

BĐ2: Thưa Thầy, câu hỏi cuối của bạn đạo này: “Trong lúc ngó vật gì mà ngay trung tim chân mày cảm thấy nhúc nhích như quả lắc; là sao?”

ĐT: Cái đó là luồng điển chúng ta đang chiếu; mà mình chưa định thì chưa thức được. Sau này nhẹ, chúng ta nhìn một người, chúng ta muốn biết tiền kiếp người đó làm cái gì, thì nó hiện ra tất cả những câu chuyện trước mặt chúng ta; nhưng mà chúng ta không có thể nói cho họ biết được; chỉ thấy và hiểu, và lấy một lời chân lý tổng quát để độ họ, mà thôi.

BĐ6: Sau đây con xin đọc câu hỏi tiếp của một bạn đạo: “Kính thưa Thầy, đã biết rằng, đã biết rằng có hai luồng điển Thanh, và Trược, con xin Thầy giải rõ một lần nữa cho các con: trong Trược có mấy tầng cấp của nó? a: sự lợi, hại thế nào? Trong Thanh, có các tầng cấp của nó; và sự lợi ích thế nào? Con xin cảm ơn Thầy.”

ĐT: Thanh, hướng thanh là chỉ có giải thôi. Hướng trược là chỉ có ôm mà thôi. Còn hướng về âm là chỉ có dục, cái óc nó càng ngày càng nặng trược và chậm trễ, suy tính thua kém. Không được! Cho nên người tu về Vô Vi phải hướng thượng và giải tỏa: đụng tới đâu giải tới đó! Chớ không phải đụng tới đâu ôm tới đó. Ôm tới đó là mình thấy là mình hành pháp sai rồi: hướng về cõi âm, trược, tạo dục và không phát triển, sanh bệnh; không gỡ rối được.

BĐ6: Câu hỏi kế tiếp: “Khi cha mẹ mất, người con trai trưởng phải để tang bao lâu sau đó mới được lập gia đình?”

ĐT: Ờ, theo thường phong tục của người Trung Hoa, người Việt Nam, thì cha chết, mình phải để tang 3 năm: Đại Tang là không có làm ăn gì được hết; phải lo tu là quý, tu và hướng tâm về cha mẹ, thì cha mẹ cũng được thăng hoa.

BĐ6: Câu hỏi kế tiếp: “Kính thưa Ông Tám, con có một người em tật nguyền đang ngồi xe lăn, chỉ biết Ông Tám qua băng video cassette, và rất thích nghe lời giảng của ông Tám, nhưng chưa quyết ý tu. Xin Ông Tám cho em con ít lời để đánh thức tâm đạo của nó, cho em con quyết chí tu. Xin cảm ơn Ông Tám.”

ĐT: Người thích nghe triết lý là người đã có tâm đạo, và chỉ thích nghe những lời tôi giảng giải, và thường xuyên nghe, cũng được phần nhẹ chớ không cần hành động gì tu. Đó là tâm đã tu rồi; từ tiền kiếp có tu, nay tái ngộ, và nay tiếp tục nghe; nghe thét rồi nó minh, óc nó minh, trí nó sáng! Nghe trong một năm là thấy con người nó đã nhẹ rồi, sẽ dứt bỏ nhiều chuyện trong nội tâm và khỏi làm khổ cho chính mình nữa.

[kết thúc ID# 19930812Q2]


----
vovilibrary.net >>refresh...