19880426L1
VĂN TỰ VÔ VI – Cuốn III (1988)
HỒN VÍA - PHẢN BỔN HƯỜN NGUYÊN
VÍA: (Còn cái vía, khi mà các bạn quyết định rồi thì tay, chân, phải làm; “Coi, hôm nay tui đi giặt áo;” có hai tiếng thôi, thì nó phải đi xe, ôm cái này, lựa cái kia, làm cái nọ! Đó là cái vía nó lệ thuộc của cái hồn, và cái sáng suốt… ) Cái áo, phơi rất khô, ủi rất đẹp, bận lên thấy hãnh diện, nhẹ nhàng; nhưng phải nhớ rằng ban đầu cái lịnh nó chỉ có, “Giặt áo,” thôi; nhưng mà nó phải biến ra bao nhiêu công chuyện, rồi nó thành tựu, cũng là trong caí sáng suốt. Thích! Thích cái áo này, bận vô. Rồi cái nghĩa rất đơn giản, rất tầm thường cho các bạn hiểu; không phải người truyền pháp mà phải nói những cái văn chương hay và vá víu lượm vô trong cái sự sáng suốt của người khác, về nói cái đó là “Tôi hay!” Không phải đâu. Phải ở trong cái thực tế, Hử? Cấp nào nghe cũng phải hiểu, phải rõ. Còn những phần tử còn vun bồi tự ái, tưởng mình hay hơn, thì người đó họ chỉ thua lỗ mà thôi, họ không tiến lên được. Cho nên, cắt nghĩa phải rõ ràng; đó là cái vía. Cái vía phải lệ thuộc để làm việc cho sự chủ định của phần hồn.
Cho nên, bản thể của các bạn cũng như quốc gia: có tổng thống, cũng có thủ tướng, cũng có nhân viên làm việc đầy đủ, vạn linh phối hợp thành ra một con người. Cho nên, chủ trương của các bạn vô cùng: ai ăn hiếp, ai động bạn một chút là bạn không chịu, ngủ cả đêm cũng ngủ không được: nghĩ cái cách trả thù! Eo hẹp! Còn đối với những người tri giác cao thượng, không có nghĩ việc đó! “Tội nghiệp cho những người đã đối xử với mình sai; và thương yêu cho một ngày kia họ thức giác, họ hiểu họ, họ mới hiểu mình! Mình phải dày công, và xin gởi điển thiện lành cứu độ cho họ, và thương yêu nhiều hơn, thay vì ghét người và hại người.” Bởi vì, một cơ thể của con người trong đó có hồn, có vía, sự quy định của Thượng Đế, gởi xuống đây làm việc; nó là một vị Thượng Đế; mình không nên nghĩ cái chuyện giết nó hay là hại nó. Nếu mình có cái óc giết nó hay là hại nó, là mình mang tội liền. Tôi nói, các bạn phải suy nghĩ, cái đó quan trọng nhất: Bạn muốn giết ai hay là hại ai, bán ai, là người có tội; chắc chắn như vậy! Còn bạn thương yêu cứu giúp, bạn mới giải thoát.
Những cái gương thế gian đây là dạy cho con người tiến hóa; mà phải nhớ rằng phần hồn của các bạn vô cùng tận, thì các bạn không nên tự giam hãm trong cái chỗ eo hẹp, trả thù, nhỏ mọn, ghen ghét! Không sử dụng trong người tu của Vô Vi được! Phải hết sức thương yêu và đi trước thiên hạ; đạt được cái sáng suốt đó phải hỗ trợ cho người đi sau; đó là phụng sự và nhiệm vụ của mình; hết sức thương yêu để cảm động lòng người, xây dựng trong chu trình tiến hóa, cộng tác và góp tay cho Thượng Đế trong chu trình tiến hóa sửa đổi quả địa cầu, sửa đổi cả càn khôn vũ trụ.
HẠ TRÍ: Con người sống trong hạ trí chỉ có dục; không có dục hầu như chết, buồn. Đó là chỉ áp dụng hạ trí mà thôi. Còn Thượng Trí chỉ có giải, giải cho nó sáng suốt, thực hiện bi, trí, dũng. Các bạn nhịn một bữa ăn được, các bạn qua được, thì các bạn cũng sung sướng; huống hồ cái dục mà các bạn lần lần dẹp được rồi, các bạn thấy thanh nhẹ nhiều, tâm thức các bạn cởi mở; thì các bạn đã thử nhiều lần, những người tu về Vô Vi càng ngày, càng thương, càng thấy, “Tôi không dục, tôi thấy tôi thanh nhẹ sung sướng mà tôi dục tôi thấy bần thần. Rốt cuộc rồi như rã rịu cơ thể tôi, điển tôi nó mất; không có sáng suốt!” Thấy không? Cho nên, cái hạ trí, bành trướng cái hạ trí chỉ có đấu tranh và tham dục mà thôi. Khai triển được thượng trí, giải thoát và tiến hóa.
HẠ GIỚI: Cái hạ giới như tôi đã nói rồi, người mới tu đang thanh lọc hạ giới, phải có pháp luân mới thanh lọc hạ giới những sự trược ô của tình dục của hạ giới này phải dùng pháp luân mới chuyển nó lên bộ đầu mà không dày công không làm được. Còn thượng giới, khi mà làm pháp luân lên trung tim bộ đầu, rồi cả ngày các bạn cứ nghĩ cái chuyện tiến triển đi lên thôi, thành ra nó quên cái dục; thấy không? Đó, rồi còn cái trung giới là quyết định. Trung giới là nơi làm việc cho trên và dưới; chỗ đó là cơ quan chỉ huy. Trung Thiên cũng là cơ quan chỉ huy càn khôn vũ trụ; và cái con tim các bạn đây là chỉ huy trên đầu và ngón chân các bạn đều là quản lý do phần hồn ở trong trung thiên, trung giới. Cái nơi làm việc vừa, chỗ đó xuất phát vừa Địa Tiên vừa Thiên Tiên; đi lên là Thiên Tiên, mà đi xuống là Địa Tiên.
HÀNH HƯƠNG: Cái cuộc hành hương, các bạn đã lâm vào trong cái thể xác của tiểu thiên địa này là để học hỏi chớ có gì đâu? Sanh, lão, bệnh, tử, tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục; nó cứ đi đi lại lại, đi đi lại lại cho các bạn minh. Rồi các bạn mới ý thức được ngoài cái sự này mình còn cái sự siêu nữa. “Sự ngoài bản thể này, tôi là nguồn cội, tôi đâu phải có bao nhiêu đây? Nguồn cội tôi là ở chỗ vô cùng giáng sanh, bây giờ tôi phải trở về với chỗ vô cùng giáng sanh thì cái cuộc trở về đó là cái hành hương. Đi, về; hành là đi, hương là điểm cho nó sáng suốt để đi, không phải đi trong tăm tối, đi trong sáng suốt, kêu bằng “Hành hương.”
HỒNG ÂN: Hồng ân, ở thế gian nghe hồng ân, lạ quá, hồng ân ban bố, hồng ân thế nào đâu? Nhưng mà nói thiệt chúng ta giáng sanh ở trong bụng mẹ chỉ có một giọt máu đào, gom trong cái điển đó phân ra âm dương tạo thành một cái thể xác ở ngày nay. Đó là Thượng Đế đã ban cho chúng ta một cái hồng ân có một cơ thể, có một tiểu thiên địa, có một thể xác để trụ trì mà học hỏi học hỏi mà tu tiến. Mà chúng ta tu rồi, chúng ta mới thấy cái hồng ân của Đức Thượng Đế đã cho chúng ta, đã ban cho chúng ta một lần một, có hành vi, có một giọt máu đào đó mà ngày nay chúng ta sống. Từ một giọt đó mà ngày nay bành trướng ra thước mấy, hai thước, cũng mập, cũng ốm, này kia, kia nọ; cãi cọ với thiên hạ. Mà dòm lại trước kia các bạn thành tựu có chút xíu, có một điểm, có một giọt máu đào đó thôi. Rồi bây giờ tiến triển ra thành ra kế hoạch này, kế hoạch kia, kế hoạch nọ; rồi thì giận đầu này, giận đầu kia, giận đầu nọ có chút đó thôi! nhưng mà bây giờ nó bành trướng tới vậy đó. Rồi từ kích động và phản động này nó mới đi tới cái sáng suốt; rồi nó mới quy tựu về cái thánh thai, là thanh điển; các bạn thấy không? Rồi mới xuất phát ra, bên mình tu nói là “Mô Ni Châu xuất phát ra” nhẹ lắm. Nó mới sáng suốt; thấy không?
Cái HUỆ: Các bạn tu càng ngày người ta nói là, “Pháp luân thường chuyển huệ tâm khai;” thì có chùi rửa thì nó mới sáng suốt. Huệ là gì? Sáng suốt, mở ra; nội tâm nội tạng của các bạn càng ngày càng sáng suốt, là mở huệ ra, kêu bằng “phát huệ.” Huệ tâm, huệ can, huệ trong ngũ tạng đều phát hết, rồi huệ nhĩ, huệ tỉ, huệ thiệt, đều mở hết. Khi mở rồi là nó chỉ có quy một, chỉ có sáng suốt mà thôi. “Tôi ngửi thì tôi cũng hiểu cái đó.” Hiểu là thấy chứ gì! Thấy là sáng suốt chớ gì! Nghe cũng vậy, cũng hiểu; hiểu là thấy, thấy là sáng suốt. Mà nói ra đây, cái âm thinh, cũng hiểu và cũng sáng suốt; thấy không? Mà dòm ra đây cũng thấy và cũng sáng suốt; và suy nghĩ rồi cũng quy về sáng suốt; chỉ có một nhưng mà phân ra ngũ giới, vì ở thế gian tạo ra cái cảnh ngũ hành thì phải có cái cảnh ngũ giới ứng phó với ngũ hành. Đó; thì bây giờ chúng ta tu rồi nó mở huệ. Nó mở huệ rồi nó mới hòa hợp với ngũ hành hiện tại của càn khôn vũ trụ; mà hòa hợp được rồi thì nó có bàn đạp để đi tiến lên. Cho nên, các bạn Soi Hồn, Pháp Luân, đó là khai triển và nó mở huệ, rồi cái huệ đó, sau này, nó hòa hợp với cả càn khôn vũ trụ thì đó là bàn đạp, đi, về dễ dãi chớ đâu có gì khó khăn; à.
KIM CANG: Đó, cho nên ở trong sách nó có, “Kim cang, kim cang huệ mạng.” Nhưng mà khi mà chúng ta muốn hiểu rõ cái kim cang là phải hiểu được trong cái tiểu thiên địa, và hiểu phần điển của tiểu thiên địa mới hiểu kim cang. Nhiều người nghe kim cang sợ lắm, kim cang kinh, chớ người ta đặt kim cang là ma nó nhập nó dựa lên. Hỏi tên gì? Nó xưng “Kinh kim cang.” Hỏi kim cang đó ở đâu? Do cái kim và mộc cấu tạo. Kim là ở đâu? Trong thể xác, là thuộc về cái phổi. Cang là thuộc về gan, về mộc. Hai cái đó nó phát triển; mà hai cái đó là cái khí giới tiến hóa của trong cái tiểu thiên địa này. Mà nếu các bạn mà hiểu được cái kinh mạch của kim cang á, thì các bạn thấy có thanh tịnh. Cho nên, trong kim cang kinh nó sẽ, chỉ những người tu thanh nhẹ rồi mà đọc kinh kim cang thấy nó chạy trong mình; và khi các bạn đạt được điển rồi các bạn mới rõ kim cang. Mà rõ kim cang rồi, chẳng còn ma quỷ gì nhập được hết: các bạn nắm được chủ quyền của một khí giới sáng suốt để hóa giải tất cả những gì xâm chiếm bên trong.
KIM CANG HUỆ MẠNG: là gì? Kim cang rõ được kim cang rồi, huệ là mở thấy mạng môn của mình phải có người gác chớ, phải có kim cang thủ chứ. Nếu không có khí giới thì ngoại xâm nó hại chúng ta được. Cái phổi các bạn thuộc về kim. Cái gan các bạn thuộc về mộc. Mà trong cái kim và mộc tương hội là biến hóa, biến chế cái này, biến chế cái kia, biến chế cái nọ. Có cái dao bạn chuốt được một cái cây nhọn không? Để cầm cự và bảo vệ thể xác không? Thấy rõ không? Đó, cho nên phải rõ nguyên căn của luồng điển mới làm được khí giới bảo vệ thể xác mà trụ trì ở đó mà tu.
Cho nên, kim cang kinh nhiều người hiểu và có thanh điển đọc ra thấy nó mở, tâm trí mở tạm và để giữ vững mà tu vậy thôi. Còn nếu mà chúng ta hai phần đó yếu họ chuyển một cái là nhập vô trong bản thể liền. Cho nên, người đời không hiểu nguyên lý của kim cang kinh, rồi dùng kim cang kinh để ngồi đọc, bởi vì cho những cái chất đó xâm nhập vô rồi dựa lên rồi cục cựa, rồi mượn cái âm thinh sẵn có mà nói ra chuyện này, chuyện nọ, chuyện kia, xưng danh.
KIM ĐƠN: Kim đơn là khi các bạn thiền, ngồi thiền là các bạn nấu và luyện, co lưỡi răng kề răng đang nấu và luyện thì cái đó là nó đi trở về nhờ cái chất sắt, chất kim ở trong phổi mà chuyển hóa lên. Rồi nhờ cái hỏa can mà nó nấu thành, nó luyện thành. Cho nên, các bạn ngồi thiền rồi các bạn có cam lồ để uống kêu bằng luyện đơn, luyện đơn, luyện kim đơn. Ngồi thiền là đương luyện kim đơn đó. Cho nên cái kim đơn này là vô giá, nó vô giá mà tùy theo trình độ thiền giác của người mà thôi.
KINH VÔ TỰ: Vô tự chơn kinh là kinh vô tự. Kinh vô tự là ở đâu? Ở đâu các bạn tìm ra kinh vô tự? Cái thể xác các bạn là cái kinh vô tự, mà các bạn chịu luyện chịu khai thông thể xác trong kinh A Di Đà cũng nói rất rõ, đều là trong mình mình hết mà không chịu học. Rồi nói “Tôi học chữ là tôi giỏi rồi, tôi viết ra được cái chữ là tôi giỏi rồi.” Nhiều người học thiệt giỏi tới luật sư, tới ông đại sứ đứng ra họp khắp thế giới; nhưng mà tới giờ phút lâm bịnh tiếng gì cũng nói ra không được hết, tiếng Tây cũng quên, mà tiếng u tiếng gì cũng không biết, ngồi câm đó. Hỏi có không? Có chứ, tôi nói ra phải có bằng chứng, tôi đã từng trị những cái bịnh đó mà. Mà cuốn lịch sử của người trước kia là giỏi lắm một nhà ngoại giao danh tiếng, nói năng lưu loát, nhưng mà giờ phút này không nói được một câu, không mở được miệng, mắt cứ trao tráo nhìn. Hỏi tại sao? Tại sao giỏi như vậy mà bây giờ lại không điều khiển được mình? Tại bất tâm! À; không chịu lo trước thì giờ phút đó sẽ gặt hái cái bịnh đó. Còn chúng ta tu đây là ở trong kinh vô tự chúng ta học! Không có chữ, nhưng mà phân li, luồng gió thổi tới cũng là giáo dục cho chúng ta tiến hóa, để thức tâm thanh tịnh sáng suốt; vô tự chơn kinh là vậy đó. Các bạn ngồi đó, nghe tiếng gió, nghe tiếng động đâu có viết ra chữ.
Hỏi loài người phân ra người Việt Nam, người Tàu, người Tây, người Mỹ, hỏi chớ cái sấm sét ở trên Trời đó nổ một cái đùng hỏi thằng Mỹ nó nói gì, nó cũng nói sấm sét, hỏi Việt Nam nó nói sấm sét, hỏi thằng Tàu nó cũng nói sấm sét; thì ba thằng cũng một sự hiểu biết mà thôi! Có cái gì đâu mà phân cách lẫn nhau. Và tại sao phải phân cách lẫn nhau? Vì ngu muội, không hiểu. “Chà, tôi là người học tiếng Tây, rằng một cây Ăng-Lê giỏi thiệt giỏi!” Rồi Ăng-Lê cũng nói gì, cũng nói cái bàn, cái ghế, cũng nói sấm sét là cùng chớ gì. Cho nên, cái ý chí sáng suốt của các bạn, các bạn vun bồi thì các bạn ở trong kinh vô tự, mà trong kinh vô tự đó là giải tiến tâm linh các bạn; không còn nghèo nàn và bị che lấp bởi một từ tạm bợ của thế gian. Chớ bạn đừng cho mình là người trí thức đầy đủ đâu. Chưa đâu; còn ngu muội các bạn ơi. Những nhà ngoại giao lưu loát mà tới giờ phút, thọ một cái bịnh rồi không nói năng gì, không đi đứng được. Hỏi chứ ông đó dốt hay là người học giả? Có chớ bạn! Có cơ hội, các bạn nghe lời tôi nói rồi các bạn sẽ đi chứng kiến; có cơ hội cho các bạn thấy; chính tôi đã gặp rất nhiều và tôi đã trị rất nhiều và tôi cũng đã khuyên thẳng những phần hồn đó cho họ thức giác. Tôi đã làm điều đó tôi mới nói ra; nếu không làm, không bao giờ tôi nói điều đó.
LỤC CĂN LỤC TRẦN: Có người cắt nghĩa ở bên ngoài, là thấy, tai nghe, này kia, kia nọ, thì lục căn không phải đó. Lục căn là nguyên căn cấu tạo về sự tri giác và thể xác con người, là nằm hẳn trong “Nam Mô A Di Đà Phật;” mà càn khôn vũ trụ cũng ở trong “Nam Mô A Di Đà Phật.” Nam là lửa, Mô là không khí, A là nước, Di là phát triển, Đà là màu sắc, Phật là linh cảm. Thì cọng cỏ nó cũng cần sống, nó cũng có lục căn và lục trần. Sáu cái bên ngoài có thể xô ngã nó nếu nó không vững; mà nếu ở bên trong lục căn nó vững á, thì nó sẽ hòa hợp sáu cái bên ngoài. Cho nên, các bạn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” trong cái pháp này để cho các bạn ý thức rõ lục căn. Mà cái lục căn này là đi về tới đại định, chớ không phải lục căn như người ta cắt nghĩa là chỉ có một góc thôi, không thấy rõ điều đó. Còn cái lục căn mà tôi vừa nói đây là nó phát triển vô cùng tận. Cái gì ở thế gian không có sáu cái đó, không có bao giờ phát triển được. Cho nên, các bạn tu phải ý thức. Cho nên, tôi khuyên các bạn niệm Phật, niệm thường niệm, vô biệt niệm thì các bạn mới thấy. À.
Còn lý luận ở thế gian, lý luận là luôn luôn bị giới hạn. Còn thanh tịnh là vô giới hạn. À! Cái chuyện lý luận nó giới hạn. Như hồi nãy giờ tôi nói chuyện này kia, kia nọ cho các bạn, cái phần tư tưởng của các bạn nó đã giới hạn, làm sao hấp thụ được những cái gì tôi muốn nói? Đó là trình độ lý luận ở thế gian, tùy theo trình độ mà hiểu biết lẫn nhau thôi. Nhưng mà cũng nhờ cái lý luận đó để hiểu một phần nào, để thức giác; chớ mà sự thật của nó là thanh tịnh, thanh tịnh là đủ rồi. Tôi nói, “Bạn thanh tịnh, bạn không cần biết chữ nghĩa gì hết, ở trên Trời nổ cái “Đùng!” các bạn cũng biết là sấm sét; thấy không? Mà nhờ các bạn hiểu được sấm sét, giờ các bạn lý luận được! Mà lý luận là tạm mà thôi; chớ cái thực chất, nó không phải. Thực chất của người tu là chỉ có thanh tịnh mà thôi.
LỤC PHỦ NGŨ TẠNG: cũng là trong cái lục phủ nó cũng chuyển của sáu cái luồng điển kia. Còn cái ngũ tạng, cái đó là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ở bên trong. Mà cái sáu luồng điển tôi vừa cắt nghĩa ở bên trên: lửa nè, nước nè, không khí nè, phát triển nè, hào quang, linh cảm; nó bao vây cái ngũ tạng, mà để cho ngũ tạng vận hành và di chuyển cái cơ thể; mà còn lục phủ nó bao vây bên ngoài. Khi mà các bạn niệm được “Nam Mô A Di Đà Phật,” nó khai thông rồi, thì sáu cái đó là trung tâm quan trọng của cái tiểu thiên địa. Mà niệm thông rồi á, thì thuộc về lục thong: sáu cái đó thông là lục thông; khi mà các bạn thông được sáu cái đó rồi thì thiên biến vạn hóa, vô cùng trí giác, thì mới đi tới lục tâm thông; thấy không? Đệ tử của nhà Phật phải có sự thanh nhẹ đó nó mới hấp thụ được cái lời giáo huấn của Ngài: một chữ của chư Phật, chư Tiên, một chữ của thanh điển nói ra đáng ngàn vàng: càng suy luận càng mở, càng thiền càng thanh tịnh, càng thiền càng học them.
LINH CĂN: Là nếu con người không có linh căn là người khùng rồi. Mọi người đều có linh căn, là sáng suốt đó. Mà cái linh căn đó là phần hồn thôi: hiểu biết; nghi là phải có; đó là linh căn; chủ trương trong bản thể; cũng có thể nói nó là phần hồn. “Linh tại ngã bất linh tại ngã, linh cũng do tôi nếu tôi vun bồi sự sáng suốt thì tôi hiểu. Còn nếu tôi không vun bồi sự sang suốt thì cũng như không có tâm linh.” Mà người ở thế gian nó có linh căn mà nó không chịu vun bồi, thì nó là gi? Là người sân si và đấu tranh ghen ghét thôi. Nó tạo ra cái cảnh đê hèn cho chính nó mà nó không hiểu; tăm tối mà nó không minh, nó tưởng nó hay hơn thiên hạ; chậm tiến mà nó không biết, nó tưởng là nó tiến bộ. Cho nên, khổ vậy đó. Cho nên, nói không hết; sách vở không ghi chép được. Cho nên, các bạn tu ở trong cái kinh vô tự, đạt tới thanh tịnh là đủ rồi; bao nhiêu đó đủ rồi.
MẤT TÂM LINH: thế nào kêu bằng mất tâm linh? Cũng như con người rõ ràng mắt, mũi, tai, miệng mà cứ oán trách người ta mà không biết oán trách mình, là nó mất tâm linh chứ gì. Thượng Đế cho nó xuống đây sửa nó chớ đâu có phải kêu nó đi sửa người ta đâu? Cho nên, các bạn đã thấy rõ không: chiến tranh, bom nguyên tử liệng rầm rầm; đâu có sửa được ai? Việt Nam CBU nổ rầm rầm, súng ống bắn rầm rầm; sửa được ai? Tánh ai nấy giữ, chớ đâu có gì đâu? Sung ống không làm gì được. Mà tâm linh cho nó sửa để nó tiến hóa chớ không phải người khác sửa nó. Mà họ đem vật chất họ đi sửa tâm linh làm sao sửa được, thấy không?
MỘNG MỊ: thế nào là mộng mị? Thế nào là xuất vía? Thế nào là xuất hồn? Cái mộng mị là nằm chiêm bao, thần kinh suy nhược, nghĩ cái việc đó đa tình, đa cảm, rồi nằm đó tưởng sai cho thiên hạ, nó sanh ra sự mộng mị, chiêm bao; cái đó là bất chánh.
NIẾT BÀN: Thế gian nghe "Niết Bàn". “Chừng nào tôi mới tới Niết Bàn? Trời ơi! Ông Phật ông mới tới Niết Bàn chớ tôi làm gì tôi có thực tài?” Thưa các bạn, các bạn không sửa các bạn, làm sao mà các bạn được nhẹ. Người ta nói, “Tôi đi 747 trên không trung, nó bay ồ ồ, nhẹ quá mà mình?” Mấy người mới nghe qua thôi, “Trời ơi chừng nào tôi có tiền tôi mới đi 747?” Tại sao ông Thượng Đế lại cho cái sự bất công bình như vậy? Kẻ có người không? Mà thằng có được cái thằng đó khổ trước rồi nó mới được đi, mà các bạn không chịu khổ như nó làm sao các bạn đi được 747, đi được máy bay, ví dụ vậy; thấy không? Cho nên, mình phải hành trì khổ, rồi điêu luyện cho nó quân bình, đó, rồi phần hồn xuất ra kêu bằng tự túc, không ỷ lại nơi ai. Cũng như người con cho nó đi học ngày nay nó tự túc, cuộc sống nó không đòi hỏi gì của cha mẹ nó; nó báo hiếu cho cha mẹ nó. Cho nên, người của Phật là một người con hiếu thảo, sửa mình để trở về Niết Bàn tự túc tự sống. Cho nên, Phật chỉ tới Niết Bàn mà thôi; còn muốn học nữa phải trở về với nguồn cội, với Thượng Đế, phải trở về mọi trạng thái. Còn Phật, ở Niết Bàn, có một trạng thái thôi; còn phải trở về mọi trạng thái nữa nó mới thực hiện đại từ bi. Người ta nói “Phật quan trọng.” Phật đâu có gì quan trọng: là con người thanh điển, minh, định, hiểu, và quân bình tư tưởng: thiện ác, minh thiện, minh ác, không xưng “Ta là thiện,” rồi cũng chẳng làm điều ác; chỉ lo tu trung dung trong tiến hóa mà thôi.
NIỆM: là gì? Niệm để làm gì? Tại sao phải niệm? Bởi vì con người của các bạn chỉ dùng ý chí điều khiển thể xác, và ý chí của các bạn không có tập trung thì cái ý chí các bạn đâu có vững? Mà dùng ý chí để niệm, chớ không phải mở miệng niệm mà khẩu khai thần khí tán rồi bịnh hoạn cả đống, rồi trách ông Phật, “Tôi niệm ông hoài mà ông không cứu tôi!” Còn cái niệm này khác: co lưỡi, răng kề răng, ý niệm trong lúc chuyển, vận hành tất cả những ngũ hành trong cơ tạng. Khi các bạn co lưỡi, răng kề răng, thần kinh các bạn chấn động, chấn động lực tăng gia mạnh hơn, rồi cái nước miếng nó chuyển chạy là thận thủy được lọc; thấy không? Mà ý chí các bạn sẽ được tập trung; phải dùng ý niệm. À. Niệm; rồi quen, rồi nó đi tới thường niệm, rồi vô biệt niệm: không có niệm cái gì khác, chỉ nhớ có sự sáng suốt mà thôi; là đi tới thanh nhẹ rồi. Còn niệm, thường niệm, vô biệt niệm là vậy.
NGŨ UẨN GIAI KHÔNG: Chúng ta tu khai thông ngũ tạng thì bộ đầu chúng ta có pháp soi hồn để mở bộ đầu đi lên trước Trung ương. Thượng bất chánh thì hạ tất loạn, bộ đầu mà không chịu tu bắt ở dưới tu cũng vô ích, thấy không? Chúng ta cũng soi hồn để cho nó xuất phát lên, thấy không? Đó rồi cái ngũ tạng cũng kéo lên. Trong lúc đó, bộ đầu cũng như hình, hầu như giải thoát rồi nhẹ rồi, ngồi đó có rờ bộ đầu mới thấy bộ đầu, không rờ bộ đầu chỉ giữ cái sáng suốt thôi. Bởi vì ngũ uẩn các bạn chỉ quy tụ có cái sáng suốt hà: Mắt thấy, rồi cái lỗ tai nghe cũng hiểu cũng thấy, cái miệng nói rồi cũng hiểu cũng thấy, cái lỗ mũi ngửi cũng hiểu cũng thấy, bộ óc nghĩ cũng thấy; rốt cuộc là chỉ có một cái thấy là sáng suốt thôi. Cái đó là sáng suốt, ngũ uẩn giai không là đi tới giữ cái sáng suốt rồi.
NHỨT LÝ THÔNG, VẠN LÝ MINH: một cái cơ thể này mà các bạn khai thác được thì cái cơ thể khác cũng vậy đó thôi. Nó cũng nằm trong cái nhất lý, rồi vạn lý cũng muôn hình vạn trạng cũng có bao nhiêu đó thôi. Nếu bạn khai thông được cái tiểu thiên địa này thì tất cả các bạn hiểu hết, thì nhất lý thông vạn lý minh.
NHỨT BỔN TÁN VẠN THÙ, VẠN THÙ QUY NHỨT BỔN: đó, thì nguyên căn chỉ có sáng suốt hào quang vô tận từ ở trên phân tán xuống con người rồi nó phân ra ông A, ông B, ông C đủ thứ hết. Mà ông nào cũng biết tiến, biết thối, ôm cái máy automatic đi cùng hết trọi, phải tự quyết định ăn hay là không, tiến hay thối; vậy thôi. Mà nó phân tán ra khác nhau rồi nói, “Tôi đạo này khác, Thượng Đế là khác!” Mà thiệt không có cha không có mẹ đâu có mình. Đó, cha mẹ sanh mấy anh em mà mỗi người tánh tình khác nhau, tán vạn thù rồi. Hai vợ chồng đẻ ra năm đứa con; năm đứa con đẻ bao nhiêu rồi con cháu chắt nó đẻ bao nhiêu đẻ tán vạn thù nó phân tán ra! Mà phải quy nhất bổn, là tất cả ý thức cũng có bao nhiêu đó thôi: Sanh trụ hoại diệt! Quy nguyên có một, nhưng mà thế gian phân, “Ông này ông triết gia, ông này ông Phật, ông này ông thánh, bà này là luật sư, ông kia giỏi quá làm gì lung tung, ông kia là kỹ sư, bà này là bác sĩ,” phân ra vậy, nhưng mà ông bà nào rốt cuộc rồi cũng phải quy nguyên: Vạn thù quy nhất bổn, cũng có một cái giải thoát là quan trọng và hạnh phúc mà thôi.
NGUYÊN LAI BỔN TÁNH: Linh căn, mọi người xuống thế đều có nguyên lai. Mà nguyên lai bổn tánh cho chúng ta thấy là tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục cũng là tánh chất của Thượng Đế. Mà Thượng đế là nới rộng ra để hóa giải; còn mình, lâm phải trong cái tánh chất của Thượng Đế, nhưng mà mình không biết sử dụng thành ra mình bị u ơ, bị kẹt. Chớ nguyên lai bổn tánh thì ai cũng như ai hết, hiểu được rồi thì phát triển vô cùng.
NHƯ LAI: là nguyên căn mình nguồn cội tới đây rồi mình phải trở về Như Lai tạng, là phải trở về nguyên căn tánh chất thực tế của Thượng Đế, mới là biết được sự Như Lai. À; không có động loạn nữa; nó như vậy là như vậy, nó phải sẽ sáng suốt trở về như vậy. Cho nên, tôi có những ví dụ rằng, các bạn lấy miếng nhôm bỏ dưới đất, nó sét; rồi các bạn lấy giấy nhám các bạn chùi, rồi nó thế nào? Nó trở về Như Lai của nó. Bây giờ bạn tu bạn là gì? Như Lai!
PHƯỚC ĐỨC: là thế nào? “Phước” là chúng ta có một cái thể xác đi đứng, ngồi nằm, thông minh; và chúng ta phải sử dụng sự sáng suốt của chúng ta để ảnh hưởng để giúp cho những người khác, và chúng ta không có vụ lợi; thấy không? Rồi nó mới tạo ra cái đức. Cho nên, Đức Thích Ca ngài có làm gì đâu, ngồi thiền; vậy mà người ta nói “Ông đó phước đức quá,” người ta kêu bằng, “Đức Thích Ca;” người ta nhìn nhận ông đó làm việc đó phải, “Anh hùng thế giới, dám gan bỏ cái cảnh sẵn có của mình, xa hoa, mình đi vô trong rừng tu với thú dữ. Chớ ông này ông có làm điều gì?” Nếu ông không ảnh hưởng được con thú là con thú nó giết ông rồi, con ma nó giết ông rồi, con quỷ nó giết ông rồi! Ổng ngồi trong cái rừng rậm đó mà ổng vẫn sống, vẫn trở về ông thuyết pháp cho chúng sanh, “Tứ đại giai không, quy nguyên hườn hư là chánh pháp;” thấy không?
Cái Đức là mười phương, cái chữ “Đức” là thiên địa, luồng điển bề trên, luồng điển ngũ hành hợp tác xương vũ trụ hấp thụ, mà mười phương Trời, bốn phương Phật nhất tâm nhìn nhận cái việc đó đúng, mới kêu bằng “Đức.” Chớ không phải tôi có tiền cho người ta là đức! Nói chuyện đó là áp phe đâu phải đức! Cái đức không phải vậy. Đức là sửa mình để ảnh hưởng cho họ và họ thức giác họ trở về với họ mới kêu bằng tạo được cái đức. Cái đức đó mình cũng chưa nhìn nhận đâu, cứ làm tới làm tới, như Đức Phật vậy; không có nhìn nhận đó là đức nhưng người khác dòm phân đó là đức. Các nơi các giới đều nhìn nhận cái việc làm đó là phải, anh hùng thật sự; nhìn nhận đó là anh hung: biết sửa mình là anh hùng, biết cách mạng bản thân là anh hùng. Còn cách mạng quần chúng là dễ quá, dung thế lực giết hại người ta; nhưng mà rốt cuộc giết hại được ai? Cách mạng quần chúng dễ hơn là cách mạng bản thân. Các bạn nhớ, thiếu gì cách mạng gia đã nói câu này. À.
Cho nên, cái phước đức á, thế gian không thấy; nhưng mà chỉ làm để đời. Mình hiểu mình nhiều chừng nào thì mình thấy rõ cái phước; rồi mình khai thông được mình, mình ảnh hưởng được người khác, lúc đó mới rõ cái đức. Còn không thực hành, không hiểu phước đức! Các bạn học chữ để chơi thôi! Tôi dám phê bình các bạn; học hết chữ để chơi mà thôi: vá víu nhưng mà không vô và không phát triển. Bởi vì các bạn không sử dụng sự sáng suốt của các bạn, làm sao các bạn thấy rõ cái ý nghĩa của văn tự? Cho nên, vẫn là bị kẹt; dù là có ăn học nhưng vẫn bị kẹt.
PHẢN BỔN HƯỜN NGUYÊN: Là phải trở về với mình, trở về với sự sẵn có đời đời của chính ta, mới kêu, “Phản bổn hườn nguyên.” Đó, kêu, người tu tại thế, tại sao chửi, họ không giận? Bởi vì họ phản bổn hườn nguyên rồi, họ đã tránh khỏi mình lâu rồi; mà mình đi tới mình đá đấm họ, ăn chung gì đâu? Đánh đâu có tới; sẽ thiệt thòi, chớ đâu có bắt được cái hồn họ! Thấy không? Cho nên, Jésus đã cho chúng ta thấy, đóng đinh giết Ngài mà Ngài không chết đó! Là Ngài đã phản bổn hườn nguyên rồi: Ngài đâu có cần cái chuyện thể xác tạm bợ, cho nên Ngài đâu có đau khổ (cười). Cho nên, người đời thấy cảm động, "Trời ơi! Ông này bị đóng đinh, mà tại sao Ông cũng chịu thôi?" Ông học thực hiện cái từ bi; nhưng mà ảnh hưởng tới mấy ngàn năm tới bây giờ; mọi người tưởng tới Ngài, mọi người thấy sự cảm động của phần hồn.
Cho nên, chúng ta thấy, những người tu đã khổ, đã khổ hạnh, đời cũng như đạo, khổ nạn nhiều lắm, bị tù tội để thử thách, bị đủ chuyện để thử thách, mới kêu bằng học hỏi! Học kinh vô tự, mà không cho thực hành, làm sao học được? Không bị người ta giày xéo, làm sao các bạn thấy sự tinh tấn là chánh (cười)? Cho nên, bài học chúng ta đâu có học chữ; học kinh vô tự mà! Phải thực hành; trong cái dốt mà khôn ở cái chỗ đó các bạn! Các bạn tu, các bạn khôn dữ lắm, khôn hơn những người biết chữ nữa! Nhiều người biết chữ họ chưa biết họ, bởi vì họ chỉ sống sự vá víu của chữ nghĩa của sách vở mà thôi; còn cái thực chất của họ, không bao giờ họ hiểu được.
[kết thúc ID# 19880426L1]