19880419L1
VĂN TỰ VÔ VI - Cuốn 1 - Montréal 1988 - BIẾT - BẢN THÂN BẤT ĐỘ HÀ THÂN ĐỘ
Biết: Ở đời họ nói “Biết,” rất dễ, nói ở đôi môi, rất dễ, nhưng mà cái biết á nó phải cộng với sự sáng suốt ở bên trong. Mà cái hiểu biết của người đời á thì nó rất nông cạn: “Biết cái đó, biết cái hồn, biết cái hồn;” nhưng mà không biết nguyên lai của cái hồn! Còn biết về đạo á, phải biết về nguyên lai: từ đâu đến, mà làm ra bằng cách nào, mới thành cái hồn? Bây giờ, chúng ta thấy, cái ly chẳng hạn, cái người biết, nói, “Tôi biết cái ly này, mà cái ly này do cát tạo thành. Mà cát do đâu có?” Đó. Cát do sự điêu luyện cả càn khôn vũ trụ giữa nóng và lạnh, rồi nó mới kết tinh thành một hột cát; mà hột cát có thể chiếu diệu, nới rộng nó ra thì nguyên căn của nó cũng như cả một cái vũ trụ càn khôn. Vì hột cát có thể biến, từ hột cát mà biến ra một thể chất, qua những cái nung độ nóng ở cực độ, thì nó biến chảy thành nước. Mà nước rồi thì nó kết tinh thành ra trong lành, là miếng kiếng. Cho nên, cái ly do cát tạo thành; mà ai tạo; tự nó biến? Không được, nhưng do sự đóng góp của nhơn sinh nhơn loại, một phần trí khôn của nhơn loại. Thì trí khôn của nhơn loại do đâu có? Trí khôn của nhơn loại do kết tinh sáng suốt của càn khôn vũ trụ.
Người tu nói rằng, "Thượng Đế đã ban trí khôn cho hành giả," rồi mới tìm ra thực chất của vật chất; rồi từ thực chất của vật chất mới biến chế thành ra sự khôn ngoan biến chế thành cái ly. Cái ly đựng nước, cái ly trong sạch, cái ly sáng suốt. Hồi đầu chúng ta xem hột cát, chúng ta biết đó là cát, nhưng mà không biết nguyên căn của hột cát. Nguyên căn của hột cát nó đã có sự sáng suốt từ lâu, cho nên nó biến chất và trở về nguyên chất của nó, là trong lành và sáng suốt. Cho nên, mình đổ một ly nước, mình dòm thông suốt từ bên đây qua bên kia; thì cái phần trí điển của con người, xét vật thể, cũng vậy: có thể thông suốt từ bên này qua bên kia; mới kêu bằng, "Biết và hiểu biết." Đó.
Cho nên, người đời nói "Biết," chỉ có một khía cạnh nào thôi. Cho nên, nhiều người cũng nói, cũng xưng hô, cũng xưng “Đạo hạnh,” cũng xưng đủ thứ; cũng nói "Tui biết đạo, biết này, biết kia, biết đủ thứ;" nhưng mà tới hồi muốn thành đạo, muốn ngộ đạo, chưa sao đi đến được! Cũng xưng là biết! Cho nên, phải có hành trì thực triển, thực hành, để khai triển luồng thanh điển của chúng ta, để hòa hợp với thanh điển của càn khôn vũ trụ, nhiên hậu mới phản chiếu sự sáng suốt đó, mới kêu rằng, "Biết và hiểu." (3:30)
Còn, Cứu Độ: Nếu chúng ta cứu, muốn cứu một người khác, mà chúng ta không biết cứu ta, thì cứu người khác cũng vô ích; cứu không nổi, vì không hiểu rõ. Nếu mà chúng ta là người tu chúng ta biết tự cứu mình! Đó, như bây giờ các bạn ở đây, tu về Pháp Lý: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định là tự cứu mình, trở lại sự thanh tịnh, khứ trược lưu thanh, nhiên hậu mới độ cho phần hồn tiến hóa; kêu bằng "Cứu độ." À! Cho nên phải tự mình cứu mình, rồi độ tới phần hồn tiến hóa, mới ảnh hưởng người khác. Chớ không phải là kêu các bạn lấy cái gì mà đi cứu người ta được? Bởi vì, "Bản thân bất độ hà thân độ," mình không cứu độ được mình, làm sao cứu độ người khác? Cho nên, phải, ông Trời mà đã cho chúng ta ngụ trong cái tiểu thiên địa, cho cái phần hồn ngụ trong tiểu thiên địa rất phức tạp mà rất tinh vi; trách nhiệm rất nặng, mà không biết cứu lấy mình là không biết tu, làm sao độ cho phần hồn tiến được? Cho nên, phải sửa chữa đâu đó cho nó có trật tự, hòa hợp với càn khôn vũ trụ, nhiên hậu mới độ mình và ảnh hưởng người khác. Đó kêu bằng, "Cứu độ." (4:55)
Còn, Cúng Lạy: Cúng lạy là sự cung kính để giáo dục lục căn lục trần trong bản thể của chúng ta. Con người hay tự cao, xưng, “Ta đây!” mà không hiểu “Ta” là ai. Cho nên, có cái cúng; cái chữ "Cúng," á, nó phải cúi xuống, và cung kính thành tâm quỳ lạy, là chịu xả cái trược, cái sự ngu muội của chúng ta, phân giải cái sự ngu muội, mà để thu cái sự sáng suốt của người sáng suốt hơn chúng ta, là Bề Trên, siêu nhiên, "Trong không mà có." Cho nên, cái cúng lạy á, ý nghĩa rất đầy đủ nhưng mà người đời không hiểu, sắp bàn đó, rồi cũng như cho người ta ăn, rồi quỳ xuống cúng lạy, vậy thôi. Không biết ý nghĩa của cúng, thì cúng cũng vô ích. Chúng ta cúng là để dẹp tự ái; mà dẹp được tự ái á thì mới có sáng suốt. Người tu mà còn tự ái, không có sáng suốt. Dẹp tự ái mới hướng về thanh nhẹ, thì kẻ hung nó hóa hiền. Thì lẽ xưa người ta để cái sự cúng lạy đó là hồi xưa; để tập gì? Tập những người kêu bằng ác ôn, không hiểu, không có tâm linh, chậm tiến, mới chỉ độ cho nó cúng lạy, làm hình nộm cho to để cho nó có vẻ sợ và cúng lạy. Khi nó cúng lạy, nó thấy được cứu rỗi. Cứu rỗi ở chỗ nào? Là nó quỳ xuống lạy cái phần trược điển ngu muội của nó được giải tỏa ra, thì thanh điển cứu độ nó; cho nên, nó cảm thấy, khi lạy rồi, nó nhẹ. Đó là đối với những phần tâm linh yếu hèn; còn những phần mà tâm linh thanh nhẹ, không dùng cúng lạy tại thế. Nhưng mà thật sự phần hồn phải có lễ nghi gấp triệu lần ở thế gian. (6:55)
Cho: Cái sự cho: cho, khi mà chúng ta muốn ban cho một người nào một món gì cho thiên hạ là chúng ta phải có cái tâm để ban cho họ, cái món quà đó mới có giá trị. Còn người tu về Pháp Lý, cho cái gì? Các bạn có các bạn mới cho: các bạn Soi Hồn, các bạn Thiền Định, các bạn gây dựng được cái cơ sở thanh điển, lúc đó các bạn mới cho và ban bố, kêu bằng "Bố thí," cho người khác, gởi cái điển, thanh điển, cho người khác. Là các bạn ban cái điển lành cho người khác, đó; nhưng mà không bao giờ suy tính, không bao giờ nói rằng, "Ta ban cho người!" Không! Mình cho, không ai biết, vì cái đó mình chỉ biết mà thôi; mình có dư thì mình san sẻ. Cho nên, những người tu thanh tịnh, mở những lời nói dẫn giải rõ rệt để cho người có phàm tánh, thiếu tâm linh, hiểu rõ nguyên căn của họ và khả năng vô cùng tận của chính họ, để họ được cứu rỗi lấy họ, tự cứu rỗi lấy họ, đạt tới sự vui vẻ; kêu bằng, "Cứu khổ ban vui." Đó là cho. À. Họ tự ý thức thì họ cứu lấy họ được; mà cứu được rồi thì từ cái khổ đi tới cái vui; từ cái nặng đi tới cái nhẹ. Cái cho đó mới là xứng đáng kêu bằng, "Cho." (8:25)
Chơn Ngã: Là khi chúng ta ý thức được nguyên căn của mọi sự việc, là cái bản thể này, về tay chân cử động, không phải chánh; nhưng mà về phần Điển mới là chánh. Mà cái chơn ngã thì phải thanh nhẹ và sáng suốt ở bên trên, mới gọi là “Chơn ngã.” Còn nếu mà còn pha trộn cái phàm tâm, không còn chơn ngã đâu! Cái Chơn Ngã của nó ý thức riêng biệt của hành giả tự hiểu lấy thôi, chớ không có thể xưng hô với người khác về chơn ngã, nói "Ta đây là chơn ngã!" Không có. Anh có chơn ngã thì Anh hiểu sự chơn ngã của Anh. Bởi vì con người, phần hồn là vô cùng tận; mà trình độ nó đi tới đó, nó ý thức rồi; càng đi càng tiến, càng tới càng hiểu, càng minh, càng ngộ. Lúc đó nó hiểu, "À, bây giờ tui mới thấy tui có chơn ngã, tui thấy Chơn Ngã là sự thật, thực chất của tui; thực chất của tui là vô cùng biến hóa, đụng tới đâu hiểu tới đó." À; đó. (9:33)
Còn, Phàm Ngã: Cái Phàm ngã là sự giới hạn; kêu bằng, "Phàm ngã." Cũng như cái tánh con người nó sân, giận, "Tôi giận, tôi phải đánh thằng đó; là tôi bị giới hạn." Còn phần trí vô cùng tận, không bao giờ người ta đi đánh người đó, không bao giờ người ta gây lộn người đó, không bao giờ người ta làm phiền người đó, thì người ta mới kêu bằng, "Người tu sáng suốt mà dẹp được phàm ngã mới trở lại chơn ngã." Con người chơn ngã không bao giờ bị giới hạn bởi; cho nên, người có chơn ngã người ta luôn luôn thực hiện trong từ bi tha thứ, cũng như Jésus Christ chẳng hạn, bị đóng đinh Ngài cũng thực hiện tha thứ; cho nên cảm động lòng người tại thế tới ngày nay. Rồi tới Phật Thích Ca cũng vậy, tu ở trong rừng! Ngài lấy cái chơn ngã Ngài mới sống với thú dữ nổi. Còn nếu mà Ngài lấy phàm ngã thì phàm ngã nó sẵn rồi, nó giết, nó vật Ngài trong một giây phút, đâu có còn sống! Bởi vì Ngài kiên trì trong chơn ngã để hóa giải cái phàm ngã, là phần điển Ngài rút cái trược điển đi, thì cái phàm ngã nó không có lôi cuốn Ngài được nữa; vượt khỏi sức hút của phàm trần. Đó. Còn phàm ngã còn ở trong giới hạn của phàm trần, kêu bằng "Phàm ngã." Cho nên, cái phàm ngã, cái tánh con người hay gây gổ, nhưng mà rốt cuộc không đi đến đâu; bị giới hạn. (11:09)
Còn, Động Loạn: Là mình chỉ tự giới hạn lấy mình và thu hút ngoại cảnh, sát nhập vô trong cái ngũ tạng, ngũ kinh chúng ta, rồi làm cho nó rối loạn, nó biến tới động loạn. Đó. Thì, trong đó, bằng đầu mình thích, thích ghê lắm: thích yêu, thích tiền bạc, thích của cải, thích làm giầu. Sau cái thích đó, mật thiết rồi, nó mới phản! Nó phản lại thì trở nên động. À. Trước kia, hai người chưa thương yêu, thích, mỗi ngày không gặp mặt thì buồn. Nhưng mà thương yêu, ở chung với nhau, cọ sát rồi nó lại động loạn, gây gổ. À. Cái gì mà bên ngoài chúng ta thâu thập vô nhiều, và chúng ta không có cách giải quyết, sửa chữa. Đối với người tu thì sống trong động loạn mà không động loạn, mới là tu. À, "Tu tại thị" là vậy. Sống động loạn mà tâm không động loạn. Vì sao? Vì người ta đã có cái cách, như chúng ta Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, là hóa giải cái trược, lưu cái thanh. Cái Động chẳng qua là trược; nhưng mà cái trược nó xâm nhập vô trong lỗ chơn lông, trong tư tưởng của chúng ta; thì chúng ta hóa giải liền. Thì nó trở về gì? Trở về thanh tịnh. Trong cái động loạn nó trở về thanh tịnh; mà trong cái động đạt được cái thanh tịnh á, mới là thật sự thanh tịnh. Còn khi không nhẩy ra kêu, “Thanh tịnh,” thì động một chút thì trở về động; không phải thanh tịnh! Trong cái thanh tịnh nó có cái động; mà trong động nó có thanh tịnh.
Cho nên, chúng ta tu ở trong động, các bạn Soi Hồn, đó là động đó; Pháp Luân là động đó; rồi tới Thiền Định nó mới đi tới cái tịnh. Bịt lỗ tai nó, “Ồ, ồ” chạy, làm Pháp Luân nó, “Ồ ồ, ẹt ẹt,” đó là động; nhưng mà rồi nó đi tới thanh tịnh; thấy chưa? Trong cái động nó có tịnh; mà trong cái tịnh nó có cái động: là khi không chúng ta cứ lo vun bồi về tịnh, mà chúng ta không hiểu rõ nguyên căn của động: từ cái động đi tới cái tịnh. Nếu không có động á, không có đi tới cái tịnh. Bảo đảm! Vì chúng ta ở trong động, chúng ta vượt qua rồi, bao nhiêu nghịch cảnh chúng ta vượt qua rồi, thì nó có xuất hiện đi nữa chúng ta cũng thấy rõ. À! Trong sự động mà chúng ta đạt được tịnh mới là chánh tịnh, chơn pháp. "Tu tại thị" là ở chỗ đó, hữu ích ở chỗ đó.
Còn chúng ta tu tại chùa, thanh tịnh, đem ra gặp động chúng ta bị lôi cuốn, cũng như sóng gió bão táp lôi cuốn, nó kéo ra khơi luôn; rồi than trời trách đất.
Còn cái này, chúng ta luôn luôn ở trong động loạn, ở trong trược mà giải được trược, thì sẽ đi tới thanh. Là ở trong động mà giải được động thì nó sẽ đi tới tịnh. Động tới cực động là đi tới tịnh chớ gì nữa! Cho nên, các bạn ban đầu tu, rồi sau, lúc ngồi thiền Soi Hồn, nghĩ tầm bậy tầm bạ đủ thứ hết cả đêm, bao nhiêu công chuyện trong đầu óc nó xuất hiện. Đó. Cho nên, một hồi nào đó các bạn mê rồi đó, quên hết; có phải trước kia phải thực sự từ trong động không? Mà bây giờ vừa Soi Hồn, vừa nhắm mắt là nó mê đi, nó quên tất cả những chuyện đời. Nó đi tới gì? Đi tới chỗ tịnh. Mà nhờ động nó đi tới tịnh. (14:34)
À; còn, Đau Khổ: Cái đau khổ là người phàm thường than ván là đau khổ. Còn người đạo á, luôn luôn sống trong đau khổ để tìm chơn lý: Chúa trong đau khổ, Phật trong đau khổ, Quan Thế Âm trong đau khổ mới có Ngài. Còn người thế gian, đau khổ là than, cầu xin Trời Phật. Là vì sao? Vì tham! Vì lòng tham bành trướng ra chừng nào thì cảm thấy sự đau khổ nhiều chừng nấy. Mà lòng tham tiêu diệt rồi thì chẳng còn đau khổ. Cho nên, người tu thu hẹp phạm vi, không còn tham lam; kể cả sự ăn uống, không có cái vấn đề thích ăn, nhưng mà ăn là để cứu độ vạn linh hòa hợp nhứt thể, để khai triển hòa đồng với càn khôn vũ trụ. Con thú, con vật, cái rau, cái cỏ, nó cũng muốn cầu tiến. Mà cầu tiến ở đâu? Nó cũng phải qua cái tiểu thiên địa này nó mới có cơ hội tiến hóa. Cho nên, khi mình có ý thức rằng mình ăn là có trách nhiệm, mình thấy đó là đau khổ, đó là sự đau khổ. Mà sau cái khổ là gì? Là cái sướng: được chuyển hóa trong tiểu thiên địa này. Và chúng ta là người tu pháp lý Vô Vi, chúng ta phải hành trì hóa giải cho chúng nó đồng tiến như chủ nhơn ông trong hạnh ngộ để hiểu cái chơn giác của bề trên. Thì sau cái đau khổ này nó đi tới cái gì? Sung sướng đời đời vô tận. Còn người phàm ở thế gian chỉ có cái tham thôi mà than khổ; còn đạo á, phải đi trong khổ mới là đạt được sự vĩnh cửu đời đời. Cho nên, các bạn tu gặp tai? Cái chuyện thường tình, không nghĩa lý gì. Chúa còn bị nạn, Phật còn bị nạn, mới lưu danh tại thế, mới có cơ hội tiến hóa. Đó. (16:35)
Còn, Vấn đề Đầu Thai: Phần hồn chúng ta là một điểm linh quang phân ly bởi Thượng Đế, giáng sanh thế gian. Thì khi đầu thai thì thành thai noãn; đó là bề trên đã quyết định rồi. Bởi vì cái phần đó, sau sự ân ái giữa cha mẹ, và phối hợp với thời gian của càn khôn vũ trụ, di chuyển và cấu tạo thành một cái cơ thai. Cho nên, nó ở cái từng số nào, điển quang nào, đã quy định hết; những phần hồn nào sẽ nhập vô đó cũng như vào cái lớp học. Cho nên, cái người phá thai là sẽ bị tội: cái thai là một cái trường học để cho phần hồn tiến hóa. Cho nên, chúng ta không nên phá thai khi nó đã thành tựu rồi; không nên. Nó thành hình tượng rồi, không nên phá thai. Nếu mà phá thai, đó là gây tội lỗi, ác nghiệp. Bởi vì chúng ta đã có một cơ cấu để học hỏi, tại sao chúng ta không cho những phần hồn khác được có một cơ cấu để học hỏi? Chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm xây dựng của Thượng Đế, của càn khôn vũ trụ? Đó là chúng ta có lỗi. Cho nên, các bạn phải hiểu rõ: khi đã thành thai, phải cố gắng học cái bài đó để tiến tới; không nên phá thai. Hử? Còn không thì chúng ta phải ngừa khi có thai, vì sự quyết định của bề trên nó phối hợp cả càn khôn vũ trụ, quyết định của Thượng Đế, của tình thương, của Mẹ tình thương cả thế giới để xây dựng một cái cơ cấu cho một linh căn xuống đây học hỏi. (18:33)
Hiếu: Lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Hiếu là sao? Hiếu là con người phải hiểu nguyên lai do đâu sanh ra mình, do đâu sanh ra con người? Có Trời, có đất, có phối hợp, có càn khôn vũ trụ, có vạn linh cấu kết nó mới tạo thành một con người, tạo thành một cái thánh thai, rồi xuống đây nhập xác trần trược ở thế gian. Thì cái chữ "Hiếu" này đặt để làm gì tại thế? Sanh ra thôi, cần gì phải hiếu? Nhưng mà chữ hiếu này là để cho nó thực hiện, nó nhớ cha, nhớ mẹ nó, để nó nhớ nguồn cội và nó đi về dễ dãi hơn. Dù cho nó không tu, nhưng mà nó biết thương yêu cha mẹ nó, cái tâm nó cũng được Bề Trên chứng. Chứng tâm rồi thì nó làm gì? Nó được cứu độ, trong lúc lâm chung nó được nhẹ nhàng hơn, và sẽ học qua những khóa nhẹ nhàng và văn minh tiến triển thông minh hơn ở về sau.
Còn con người tu, tuyệt đối phải dùng chữ hiếu; đối với cha mẹ, không được nghịch, bởi vì cha mẹ là thế Thiên hành đạo; chúng ta nên tuân theo những lời dạy bảo. Không có ai yêu con bằng cha mẹ; không có ai thương con bằng cha mẹ. Người tình của các bạn không thương bạn bằng cha mẹ. Mà nếu các bạn có con rồi, các bạn mới hiểu rằng tình thương của cha mẹ đối với con bằng cách nào, sâu đậm bằng cách nào. Đó; lúc đó chúng ta mới hiểu rõ. Còn người tu về pháp lý Vô Vi, tuyệt đối phải hiếu thảo. Nếu các bạn không có cái tính chất hiếu thảo, các bạn không có tánh chất hy sinh, thì làm sao các bạn tiến về đạo pháp? Phải có hiếu thảo mới có óc hy sinh; có hy sinh thì mới có tiến hóa. Khi các bạn chấp nhận những gì cha mẹ đòi hỏi hay là gây phiền phức các bạn, các bạn có cơ hội học nhẫn, rồi các bạn thực hiện từ bi. Không có thua lỗ đâu. Cha mẹ luôn luôn thương con, đòi hỏi là dạy, giáo dục, và đưa con tiến hóa. Nhiều người không hiểu, nói, "Cha mẹ hành hạ con." Không! Nó có cái duyên nghiệp, và an bài để cho nó học hỏi cho nó tiến hóa. Đó. (21:15)
Còn, Hào Quang. Đó. Thì, người tu mà có hào quang, cái hào quang đó do trung tim bộ đầu, mà do cái Pháp Luân Thường Chuyển, Soi Hồn, rồi nó khứ trược lưu thanh; thì dần dần cái thanh nó tựu hóa, trụ sanh, diễn tiến lên trên. Cho nên, trung tim bộ đầu của người tu về Pháp Lý, bằng đầu nó ú, nhột nhột ngay trung tim bộ đầu, của Hà Đào Thành đó, như là có con gì rờ trên đầu chúng ta. Nhưng mà lâu lâu rồi nó sẽ tiến triển, thanh nó thừa thanh, tiếp cho nó điêu luyện một thời gian; thì lúc đó các bạn nhắm mắt các bạn sẽ thấy sáng suốt: hào quang bao vây cả bộ đầu! Thì các bạn thấy cái tượng Phật nó giống y như vậy, không có sai.
Đó, cho nên, cái hào quang của Thượng Đế là vô cùng tận. Thì chúng ta tiến tới thanh, về Phật, thì chúng ta là người con ngoan của Thượng Đế, hiểu ý của Thượng Đế, chúng ta mới học nhiều hơn để hòa cảm lên trên hư không, mới tiến về đời đời vô tận, mới trở về nguồn cội. Chớ không phải chúng ta dùng ý niệm, mà chúng ta phải thực hiện mới có hào quang. Nếu các bạn không thực hiện, không có hào quang. Cho nên, con người có hào quang, tu tại thế mà đắc pháp, có hào quang, xuất ngôn đều là hợp lý, sâu rộng, cởi mở, làm cho tâm can của mọi người được phấn khởi và nhẹ nhàng; nghe qua âm thinh Người thì thấy nó nhẹ nhàng; ngồi bên Người thấy hình như được giải thoát. Đó, mới xác nhận rõ rằng người đó đã có hào quang, và có một sự quyền năng siêu diệu có thể cứu độ tâm linh. Khi chúng ta gặp Người thì tất cả những sự thắc mắc đều được giải tỏa. Đó là thấy rõ hào quang cứu độ nhân sanh.
Còn hào quang của Thượng Đế là vô cùng tận, còn siêu diệu gấp triệu lần nữa. Cho nên, chúng ta ráng tu để đi tới đó, rồi chúng ta hưởng cái hào quang vô cùng tận, đời đời bất diệt. Cho nên, tất cả tôn giáo ở thế gian đã nói rằng, "Phần hồn là bất diệt." Tất cả tôn giáo đều nói, nhưng mà chưa ai chứng minh được sự bất diệt đó. Cho nên, các bạn tu rồi các bạn sẽ thấy chính các bạn có hào quang. Nói đâu phải đúng đó: khai triển vô cùng, vô cực, và cái tâm tư cứu độ người không có so đo, không có tính toán bất cứ điều gì; luôn luôn chơn tâm thường trụ, tiến giải minh bạch, hào quang sáng suốt. Đó mới là hào quang. (24:14)
Bồ Đề Tâm: "Bồ Đề bổn vô thụ;" xưa có câu, “Bồ Đề bổn vô thụ.” Tại sao nói “Bồ Đề;” thế gian người ta dùng cây bồ đề trồng ra thành cái cây bồ đề, lá sum sê đó, mà tại sao nhiều kinh sách nói "Bồ đề bổn vô thụ," là bồ đề không có cây; là cái gì? Cho nên, chúng ta tu rồi, được thanh điển ở trên bộ đầu phóng lên, mới hiểu, mới hiểu cái chữ, "Bồ Đề bổn vô thụ," là cái thanh điển của chúng ta trụ trên bộ đầu, hòa cảm với cả càn khôn vũ trụ; mới biết cây Bồ Đề là bổn vô thụ, không có cây, chỉ có Điển mà thôi! Cho nên, sự tri giác của người tu thiền mở thanh điển rồi, thì cái Bồ Đề Tâm là nó không còn nằm ở trong cái tâm như ở thế gian mà suy nghĩ bằng cái con tim ngay trung ương này; nhưng mà cái tâm của nó đã thay đổi rồi, về cái thanh khí điển, hòa hợp với thanh khí điển, rút bộ đầu, tròn vo, hòa hợp cả càn khôn vũ trụ; đó là cái Bồ Đề Tâm. Bồ Đề Tâm, khi ai động tới nó, nó hiểu liền; bất cứ một cái gì xẩy đến cho nó thì chỉ dụng Bồ Đề Tâm để suy xét. Người ta đề nghị một chuyện gì xung quanh nó, nó hiểu liền, rõ rệt và phân giải. Người đối phương nói chưa dứt lời là nó đã phát ra những lời chơn chánh phân giải rõ rệt; là "Bồ Đề Tâm." (26:34)
Bát Nhã: À; bát nhã; là người phàm nói, “Bát nhã," bị kẹt ở trong con tim, không hiểu bát nhã này ở đâu, "Làm sao có bát nhã?" Cũng là cái trung tim bộ đầu, mà Bồ Đề Tâm của chúng ta phát hiện rồi thì cái sự hướng chuyển, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, tám hướng, tám ngả xuất phát, chiếu diệu tất cả càn khôn vũ trụ, mới là được mở hòa hợp với bát nhã của Bề Trên. "Trí Bát Nhã," là sự sáng suốt đã sẵn có, để chiếu rõ mọi khía cạnh; mọi cái sự chuyển hướng Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc về điển khí Thanh Quang. (27:40)
Bỉ Ngạn: Thì người ta nói phải có một con Sông Bỉ Ngạn! Mà ngay trung tim chơn mày chúng ta tu ở đây xuất phát ra rồi, thì chúng ta mới thấy rõ rằng cái Bỉ Ngạn nó phải có cái khởi điểm do đâu xuất phát ra, mới hòa hợp với Bỉ Ngạn ở Bên Trên; và chỉ trung tim chân mày các bạn nó ê ê xuất phát đó, và nó đi tới cái thanh nhẹ sáng suốt thì trong giờ thiền của các bạn, các bạn thấy ở bên này dòm qua bên kia rất rõ rệt; ở bên con sông này dòm qua của bên con sông kia rất rõ ràng. Đứng đó mà không biết bao nhiêu người thanh nhã ở bên kia ngoắc các bạn, rồi các bạn từ từ phát tâm, từ bên này đi qua bên kia không có khó khăn. Ban đầu thì thấy rất khó khăn, "Làm sao tôi có thể qua con sông này?" Nhưng mà, "Tôi thanh nhẹ rồi, tôi thấy mình qua con sông." Cho nên, con người, trước trán đó, tu mở nó có cái vòng ở trước trán đó, là nó bắt đầu trụ, rồi từ đó nó thanh nhẹ bước ra đi, phải qua cái bỉ ngạn. Từ cái khởi điểm ở trong cái thể xác con người, nếu muốn có khởi điểm để tiến tới Bỉ Ngạn, thì chúng ta tiến lên rồi, qua khỏi con sông Bỉ Ngạn ở bên trên. (29:10)
Bồng Lai: Là một nơi cảnh tươi đẹp và mọi vạn vật hình như một trí khôn vô cùng, đi đâu cũng có sự tươi đẹp chuyển giải, và thấy thông suốt. Cái cây cái lá đều ý thức trong chu trình tiến hóa của chính nó. Cho nên, người đi lên tới trên đó, đi tới cảnh bồng lai, cảnh Bồng Lai, tiên cảnh á, thấy hình như nó nhẹ nhàng vô cùng, và mùi vị thơm tho, các vật đều tươi đẹp mà màu sắc lộng lẫy. Đó cũng là trong cảnh giới của Tiên gia.
Bất Minh Nguyên Lai: Là không hiểu, không hiểu rõ được mình ở đâu đến đây, rồi sẽ về đâu. Kêu bằng "Bất minh nguyên lai."
Mp3-3 (track 3)
Bản Thân Bất Độ Hà Thân Độ: Đó. Bây giờ, con người ở thế gian chỉ dùng cái miệng, dùng cặp mắt, dùng cái bộ óc, được thu hút một phần nào đó thôi, rồi nói này, nói kia; nói "Cứu người này, cứu người kia, cứu người nọ," nhưng mà chính nó, nó chưa biết cứu nó: ghen tương đầu này, ghen tương đầu kia, ghen tương đầu nọ; mà nó chưa biết, chưa hiểu, chưa ghen tương nó. Tại sao phải ghen tương nó? Là nó phải thấy rõ sự sai lầm của chính nó trước, sửa nó trước, hành triển tiến tới sự vô cùng sẵn có của nó và sự sáng suốt sẵn có cho nó, thì nó mới biết được cái bản thân của nó. Nhưng mà bản thân ở thế gian, con người không chịu hiểu, không chịu độ lấy mình, rồi làm sao đi độ người khác? Chính ta không tu, không sửa, mà làm sao chúng ta đi sửa người khác? Cho nên, cái phương pháp của Vô Vi là ....
(Hết băng)