19871007Q2

TV VĨ KIÊN, KHÓA 7: THỨC TÂM

THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG “THIÊN ĐÀNG DU KÝ”

Cuốn 5ABC

Ngày 09/10/1987

Đức Thầy giảng:

Hai xác phàm dụng hỏa tâm, thấy chưa? Không có hỏa tâm đâu có mà “A…”. Thằng kia nó “A…” Để chi? Để chi? Để chi? Khi mà la như vậy đó, những người ở ngoài này cũng dùng hỏa tâm nhào vô, phải không, thành ra thấy xẹt một cái nữa. Thấy chưa? À, tại sao nhờ cái đó mới tìm ra chân lý? Thấy không? Bác (nghe không rõ) đổ xăng vô, chị này cũng đổ xăng vô, nhiều người cũng đổ xăng vô, mà không dám ra biết không, nhào vô một đống lửa. Hỏa với hỏa tương giao nó thiêu với nhau, trở lại gì? Bình! Thấy không? Bình rồi nó với luận. Đêm hôm các bạn nằm ngủ nó luận:

- “Chà, biết sao đây, mình làm yếu quá!”

Thằng kia nói:

- “Cha này, thằng cha Kiều Nguyên Tá cũng ngon lắm chớ không phải tầm thường, ngon mà! Ttrước mặt cha mà nó coi (nghe không rõ) không có gì hết, nó ngon. Nhưng mà nó phủ nhận tất cả những cái lý thuyết của đối phương, mà nó có một cách biện thuyết hùng mạnh, vững vàng”. Thấy chưa?

Nhưng mà nhìn chỗ nào nó thiếu? Đó, mình luận thuyết. Tối ngủ, mình luận. Càng luận càng luận, tối càng luận càng luận càng thức. Thấy không? Luận tới thức. Luận rồi thấy:

- “Thằng cha Kiều Nguyên Tá cũng vì trình độ nó tới đó” (cười)… “Rồi thằng cha Trường này cũng phải vì trình độ nó việc nó phải làm”.

- Vậy chớ còn ai làm cho 2 thằng đó nữa?

- Mới nghĩ rằng chân lý chớ!

- Chân lý ở đâu?

- Chân lý ở cái khối Vô Vi, mà Vô Vi đâu phải cái đám này đâu, Vô Vi cả Càn Khôn Vũ Trụ, nó là thường trực để hóa giải tất cả những sự động loạn sau mọi sự phản động.

Thì thiền đường nào cũng có cãi hết mà cũng quên đi. (cười)… Mà thiền đường nào cũng có học chân lý mà quên đi. Bây giờ thấy cái này sôi nổi quá, mà chính mình là chủ thiền đường là đã sôi nổi, nghĩa là tan tành xí quách mà không biết (cười)… mà học được có chút chân lý à. Thấy chưa?

À, tại sao mình có cơ hội thức tâm như vậy? Sớm mơi mình đã học Thiên Đàng Du Ký nó mở cái tâm, nó bình thản, bình thản ghê lắm. Sớm mơi nghe Thiên Đàng Du Ký sung sướng, lâng lâng, “Ta nhất định phải về Thiên Đàng đi chơi cho nó khỏe”, chiều cái nó giam Địa Ngục, tức tối, coi thế làm sao vùng lên, lúc đó mọi người vùng lên. Vùng trong chỗ nào? Vùng trong thanh tịnh. Nhìn trong chỗ nào? Nhìn trong chỗ hòa ái tương thân.

Thằng nào cũng phải ăn cơm, phải lấy luật Trời xuống mà để thực hiện chân lý. Mà hai người này ăn có bao nhiêu đó mà nó la quá thét nó cũng tiêu hết, cũng là của Trời trả về Trời. Thấy chưa, thấy chưa - Nói về xác phàm. Còn chân lý là ở bên trên vẫn xét, vẫn hỗ trợ cho những người đó, không bỏ một đứa con nào.

Thằng nào cũng xưng “cha”, mà cha là danh từ thế gian. (cười)… Mà nó chưa xưng tới “không”, “không” thì nó không có nói nữa thì chân lý đạt rồi. Khi mà thâm tâm hai bên cũng đều ở trong cái “không” thật sự thì không có nói nữa, nhìn mà mở, nhắm con mắt mà làm việc.

Vì sao mấy người đó có thể đạt tới đó mà không làm như vậy? Thì vì các con ở xung quanh, để cho các con đồng dự và mở tâm luận thức, để khai minh mọi việc rồi mới nắm được chân lý tròn hay là méo. Mà tâm con chưa có khả năng học được chân lý tròn cho nên còn lận đận, lao đao, thấy chưa? còn bơ vơ ở trần gian; còn nhiều uất hận trong nội tâm, nhiều hoang mang. Thích và không thích là hoang mang đó!

“À… nghe thằng cha Trường nói, thích quá! Rồi nghe Kiều Nguyên Tá nói cũng thích quá!” (cười)… nó hai cái thích ở trong này, nhưng mà chưa có hòa được, tầng số nó chênh lệch chưa có hòa được. Khi nó hòa được rồi, khỏe lắm, mọi người thấy mình là chân lý rồi, lúc đó nó bay bổng tự nhiên. Chớ đừng có mong xuất hồn. Thấy không?

Hỏa - hỏa tương giao nó mới bình. Nhưng mà có cái cơ hội để học, chúng ta mới thấy rằng cha Nhẫn Hòa vẫn không có giận, vẫn không có buồn, vẫn thương yêu, vẫn cầu mong sao người trước mặt ta đồng hành với ta.

thấy rõ không?

À… cho nên các bạn phải học cái chỗ đó! Mình phải kết luận và mình đi vào chỗ đó: Đụng, tiến, giải, mở, đi lên! Mở rồi không bao giờ bị kẹt nữa. Thấy rõ không, cái bài học hôm qua?

Cho nên phải nhìn cái xác trước. Rồi xác có gì? Không có lửa thì xác không hoạt động. Cái hỏa, mà hỏa nhiều quá nó lại tối, mà giải nó ra là nó lại sáng. Mà có hỏa trong này mà không có sử dụng không bao giờ sáng, (cười)… không bao giờ sáng, phải sử dụng.

Cho nên Vô Vi á, thiền đường họp, họp một chặp cũng đụng à; đụng rồi mở, rồi thương, rồi thức. Vì Vô Vi đang làm việc, ở trên kia đang làm việc như vậy. Và muốn đưa ánh sáng, muốn đem thanh quang xuống, tôi dẹp cái trược ra ngoài, tôi đem thanh quang xuống. Càng cãi càng hăng, càng dọn càng nhiều chân lý… ha ha ha ha (cười)… Mà tưởng cái nào cũng là chân lý, mà rốt cuộc không phải chân lý! Giải hỏa tâm, rồi bình luận, thức, mới tới đó thôi, chưa tới chân lý. Bình luận rồi thức một chút vậy thôi, chưa, chưa thức trọn; thức trọn nó mới thấy chân lý. Thấy không? Còn học nữa! Học nhiều nữa! Vui chứ không có buồn, không có bực tức. Thấy không?

Nếu không có Kiều Nguyên Tá đây làm sao học được cái bài đó, phải không?Và thấy Kiều Nguyên Tá cũng là công cụ của Thượng Đế, là trên đường đang học và đang tiến, thấy không? Rồi đây rồi 2 cha để nói nữa, bình rồi giải chớ. Hỏa với hỏa tương giao rồi nó luận rồi nó thức, rồi nó đi tới cái chỗ nghĩa là vào trọn thức, nó bước vào chân tâm, thì lúc đó 2 là 1, thì cái khối nó càng ngày càng mạnh.

Cho nên cha Trường khôn! “Cha yêu cầu con cho cha cái giờ rảnh” - Tội nghiệp ha?Không phải tội nghiệp, nhưng mà cái cách dậy con phải dậy như vậy. Người hiểu dậy người không hiểu, phải hạ mình xuống để học. Người Vô Vi là học, hạ mình xuống học, rồi giải; mình học cái đó rồi mình phải giải cái đó ra, rồi mình mới thức. Hạ mình - học - giải - thức - Người Vô Vi phải vậy nó mới tiến!

Hạ mình - học - giải - thức - rồi lúc đó chúng ta mới tự đi.

Còn không chịu hạ mình, nói thằng đó ngu.

- “Trước mặt Đấng Cha Trời mà nó dám như vậy chớ, có ngày nó chết đó!” (bạn đạo cười)

Phải không? Giận á! (cười)… Thấy không? Thì tại sao? Bởi vì hỏa ở trong này nó có cái uất khí chưa có ra. Ở đây người ta hút cái nó chạy ra:

- “Ê, anh đừng có giỡ nghe không? Chết đó anh ơi!” (bạn đạo cười)

(cười)… Đấng Cha Trời đâu có giỡn! Nhưng mà Đấng Cha Trời chuyển cái này… Ra… Thằng nào có hỏa, ra… “Tao” gom hết!

Tại sao, lấy chỗ nào thấy gom hết? Sau khi giải một cách hùng hồn… “giận thằng Kiều Nguyên Tá ghê lắm! Thế nào 2 bên cũng oánh lộn” Phải không? Cặp mắt người đời nói 2 thằng thế nào cũng oánh lộn, nhưng mà một chặp hết, cha Nhẫn Hòa vui lắm, không có gì, đây là bài học. Mà nói trong cái ẩn ý để cho con, tụi con xét và tụi con tiến. Thấy chưa?

Cho nên chân lý, phải nghe cái câu cuối cùng, người Vô Vi phải nghe cái âm thinh, lời nói cuối cùng của họ là cái gì, mới biết người này trình độ ở đâu? Khi mà cuối cùng họ còn đó, họ mới có power. Mà cuối cùng không còn là họ mất power. Cuối cùng giận… (hừ hừ…) “Tao uýnh mày… tao uýnh chết cha mày… Tao giận quá rồi!” (các bạn cười)… Cai đó là không có power, bởi vì đi lộn ngược, ngược chiều. Thấy rõ không? (cười)… Mà thuận chiều á, là hạ mình học - giải - thức - Rồi từ đó tự đi. Có chút à!

Mà không chịu hạ mình thì cái hỏa nó áng rồi. Mà càng không hạ mình, nó lại càng dâng cao nữa. Rồi nói: “Mày chết đi, mày chết…” (nghe không rõ)… (cười)… ôm cái đầu lại, thấy không, nó bị kẹt một cục. Vì kẹt một cục cho nên cái người sáng suốt phải hạ mình nữa, hạ mình nữa, hạ mình nữa, yêu cầu, yêu cầu… “anh cho tôi gặp”… Thì khi nghe cái tiếng yêu cầu, nó mới hạ… để thấy cái mặt nó làm sao?

- “Chịu không? Ok không?”

- “Ok!”

- Yep! - Cũng là anh em, nhìn nhau rồi!

Tới lúc đó nhìn được cái mặt của đối phương rồi. Đối phương tối lại ngủ cũng nhìn được cái mặt của bên kia rồi! Rồi lần lần bàn, giải, nó đi tới… Té ra người ta giúp mình tiến mà mình không biết, mình tưởng mình tiến xa hơn.

- “Tôi không chơi với đám đó! Tôi vô sòng bạc tôi không oánh đâu. Oánh thua rồi làm sao?”

Nhưng mà ôm của rốt cuộc rồi cũng không đem đi được, rồi cũng thua, mà không học được cái gì hết. (cười)… Thấy không? Cái thằng oánh kia nó bị đòn đau quá:

- “Chời ơi tôi đi vô tôi oánh cờ bạc thua cha nó hết trọi tiền, buồn quá!”

- “Tại sao, tại sao tôi thua? Tiền này ở đâu, do đâu đến? Tại sao tôi lại thua?”

- “Tại tôi tham!”

Thấy rõ cái bản chất, nó mới sửa được. Còn nó ôm của, nó sửa không được. Nó vô cái chỗ trường hợp nào nó phải sử dụng ngay cái sáng suốt nó liền coi thử sáng suốt mình được mấy kilo. Thằng kia nó sắp trước mặt, nó đâu có ăn gian, nó chia bài đàng hoàng mà mình đánh thua. Ha ha (cười)… Thấy không? Mình mới thấy cái ngu của mình, mình sửa. Thấy rõ không? À, mình thấy cái ngu, mình sửa. Còn mình không thấy cái ngu, làm sao mình sửa?

Đó! Cho nên các bạn đang vô sòng bạc, tất cả đang đánh bài để thấy thằng nào ngu. Thằng nào thua, thằng đó ngu. Mà thằng ngu, nó lại sửa. Nó thua keo này nó còn keo khác, nó lại được tiến; chân lý sẽ cho nó tiến mãi mãi. Chân lý bằng lòng thua mãi mãi để cho nó tiến mãi mãi.

Cũng như các bạn thấy tôi đâu có thắng các bạn được. Thua mà! Năn nỉ các bạn, yêu cầu các bạn, sưởi ấm các bạn, hòa tan với các bạn, mở tâm các bạn. Thấy rõ không? Thấy thua rõ ràng, nhưng mà trở lại các bạn lại quý tôi. Thấy không?

Cũng như cái sòng bài, mà khi mình thua rồi á, muốn đốt cái bàn không? Không, giữ nó lại để kỳ sau sẽ tính. Không đốt cái bàn đâu, mà không đốt bộ bài. (cười)… Bộ bài với cái bàn là chân lý, nó là luật, bước vô là chết. Nhưng mà thà là chịu chết để học khôn, hơn sợ chết mà bị chết. Thấy chưa? (cười)…

Cho nên bây giờ mình lại đi học, chân lý cũng vậy, thà là chịu chết để học khôn, còn không sợ chết mà bị chết thì cũng không có giá trị nào đâu. Thấy rõ không? Nhào vô! Họ đặt, mình đặt, thấy không? Rốt cuộc mình thấy cái ngu, mình sửa; bữa sau mình tới sòng bạc mình không có đánh nữa là mình ăn tiền rồi. Ha ha ha ha (cười)… Thấy không? Chân lý rõ ràng không? Bữa sau tới mình đâu có cần nói nữa, mình nhìn biết rồi.

Khi huệ tâm nó phát rồi, hiểu hết rồi; nhìn cái biết rồi: “Ô, bồ, có gì đâu hỏi!” Thấy không? À… lúc đó không đánh là ăn. Không đánh cờ bạc là ăn tiền cờ bạc. Mà đánh cờ bạc là phải thua. Nhưng mà thua, phải học khôn. Mà thua mà không biết học khôn á, cái đó là vô trận mà kêu bằng ngu, khi thắng, bại không chịu phân minh để tiến tới.

Cũng như học đạo cũng vậy. Khi mà tu được thanh tịnh một chút, bừng sáng một chút, rồi tưởng mình tới. Chưa!

- Nó đang đốt mình đây, mình lên từng nữa coi sao?

- Đang đốt, mình lên từng nữa coi sao?

- Đang đốt, mình lên từng nữa coi sao?

À, tới cái tối đa nóng nực nhưng mà mình thấy không có. Tối đa thối tha mà mình thấy không có, không có mùi vị gì hết. Cái mùi vị hiện tại đang có là từ cái không có mùi vị biến thành mùi vị. Mà mình đang đi tìm cái không có mùi vị, chớ không phải đi tìm mùi vị.

Cho nên các bạn đang đi, đang tu, đang hành, rồi thấy cảnh này cảnh nọ là mùi vị đó mà tưởng đó là chánh, là chết. Đang tìm về chân lý, đang tìm cái đẻ ra mùi vị, là không có mùi vị mới có mùi vị. Cái mùi vị từ cái Đại Thanh Tịnh, từ cái không có mùi vị mà biến thể thành mùi vị.

“Nhứt bổn tán vạn thù. Vạn thù quy nhứt bổn” - Vì cái câu này nói, người thường người ta không biết chữ Nho người ta không hiểu. Phải nói cái đó, cái tôi nói: Cái không có mùi vị nó biến thành mùi vị.

Bây giờ chúng ta đang tìm cái nguồn gốc là “không có mùi vị” cho nó dễ hiểu (cười)… mà trong đó nguyên lý “Nhứt bổn tán vạn thù, mà vạn thù quy nhứt bổn”. Thấy rõ chưa?

Cho nên học đạo ở chỗ Vô Vi nó vui lắm! Khi mà các bạn cãi về chân lý, ai cũng nghĩ “tôi tập trung hết luồng điển bộ đầu, chơi thằng này một cú”. (cười)… Thì ở trên kia người ta chuyển nó rồi. Nó nói ra rồi cái nó thấy nó hớ; hớ rồi cái nó thấy rằng có cái khác liền. Như Kiều Nguyên Tá vừa trả lời cái nó có cái khác, nó nói nữa, nó không thèm nghe, nó nói nữa, nói nữa… Trên kia cứ bồi xuống, bồi xuống, bồi xuống, bồi xuống… Còn đằng này cũng vậy nữa. Thấy đằng này không? Cứ bồi nữa, bồi nữa, nữa… thành ra 2 bên cãi… Mà trong cái điển ở bên trên nó chiếu rồi thì 2 bên này nó thành một sức mạnh, nó cãi nó mới thấy sung sướng. Mà nó cãi là nó đã giải được cái hỏa tâm. Sau cái cơn cãi là nó sung sướng vô cùng, hai người được đấm bóp. Ha ha ha ha ha… (cười)… Khỏe lắm, không có sao hết!

Bởi vì, nếu cha với cha cũng là một.

Mà người biết người là cũng là một.

Mà người biết tất cả vạn linh cũng là một.

Người biết quán thông Càn Khôn Vũ Trụ cũng là một.

Nam nữ quán thông nhau cũng là một.

Thành ra đi tới chỗ vô nam, vô nữ. Đi tới cái chỗ diệt dục, là quán thông hết mới diệt dục được. Vô nam, vô nữ, một thứ thôi. Anh nào cũng mắt, mũi, tai, miệng, cũng bao nhiêu cơ giới đó; chị nào cũng bao nhiêu cơ giới đó. Cao cường, cao tay ấn nhất là dục, là hết rồi. Ha ha ha… Thấy không? Tới dục rồi là hòa, thấy không? Người nào có vợ chồng là hiểu cái câu này! Tới dục rồi là hòa. Cực dục rồi đi tới chỗ hòa. Thấy rõ chưa? Mình học chân lý, bất cứ khía cạnh nào cũng là chân lý, nhưng mà phân tách được hay là không? Đó! Ăn thua cái phương cách, minh giải được hay là không. Mà muốn minh giải là phải mượn cái pháp khứ trược lưu thanh, nó mới trở về thanh tịnh. Thanh tịnh là một chút sáng suốt này, mình gieo cũng như nhúm lửa, nhúm được một chút, nó cháy lần lần, lần lần, nó sáng lần lần.

Cho nên Vô Vi chủ trương có cái quỹ du lịch. Mỗi tuần phải ngồi lên giảng. Anh nào có khả năng cứ giảng đi. Giảng đại, giảng cho người ta chửi, cho nó rủa cho mạt cho chết cho rồi đi; chết cái sân si; chết cái xấu xí; chết cái tàn tật trong tâm nó, thì nó trở về gì? - Chân lý!

Người ta nói: “Thằng Hoàng Sony mới tu sơ sơ mà lên ngồi làm sư giảng, thằng đó cho nó chết tại bàn đi!”… Còn mừng nữa: Hễ “tôi” chết là tôi có hồi sinh sự sống. Hiểu chưa?

À… Cho nên có cơ hội phải lập cái quỹ du lịch cho mọi thiền viện, mọi thiền đường. Ăn cà-rem, uống cà-phê bỏ vô đó đi, để coi thằng nào giảng ngon thì có giấy máy bay đi du lịch. Thấy chưa? Thằng nào mà giảng, nghĩa là có thể trên 30 người bằng lòng nghe đó, thằng đó nó đi chỗ khác nó giảng được, nó sẽ học thêm. Gởi nó đi chơi, xuống thiền viện Nhẫn Hòa chơi, xuống thiền viện Hai Không giảng coi. À, cứ 3 thiền viện này đi đi lại lại cũng tốn tiền xe. “Đây, tao dành tiền cà-rem tao cho mày đây này, đi đi”…Xuống kia đụng coi ra làm sao? À, thâu băng về coi. Rồi từ đó nó mới đi lên:

- Nó bị nhồi trong tâm thức nó.

- Nó được xây dựng ngay trong tâm thức nó.

- Nó mở tiến ngay trong tâm thức nó.

- Nó hùng dũng ngay trong tâm thức nó.

- Nó giàu mạnh trong hùng khí sẵn có của nó.

- Rồi tự nó hòa tan với cả Can Khôn Vũ Trụ, thì càng ngày sự thuyết giảng nó càng hồn nhiên và cởi mở, đem cho mọi người tới sự tự tại, an nhiên và thấy rõ mình trong sự thực hành tu học.

Cho nên tôi đã yêu cầu cái quỹ đó, mà tới bây giờ tôi chưa có thấy ai làm?

Bạn đạo: Có, con làm!

Đức Thầy: Mà không ai giảng gì hết trọi.

Bạn đạo: Chưa… (bạn đạo cười)

Đức Thầy: Cứ đem ra, cái thằng ngu nhất bắt lên ngồi đó: “Mày nói đi! Mày nói đi! Nói đại đi, chết cha tụi tao cũng được!”… mình mới sửa nó.

Bạn đạo: Tại anh em còn thiếu dũng mà.

Đức Thầy: Thấy không? Rồi từ đó nó mới xây được cái dũng.

Hỏi, bây giờ cha Nhẫn Hòa ngày hôm nay ngồi nói chuyện như vậy, 31 tuổi mà nói nhiều câu nghĩa là minh triết. Do đâu nó được? Bệnh hoạn triền miên, một thân thẹo còn hơn Mitraillette bắn á, khổ biết bao nhiêu, nó mới chán đời nó tầm đạo. Trong lúc nó tầm đạo rồi, nó thấy rằng: “Ô, mình có đường đi”. Có cái thức rồi nó có đường đi, nó phải tự đi. Càng đi càng xa, càng đi càng xa; nói Thượng Đế nó tầm Thượng Đế, nói Phật nó tầm Phật, nói Tiên tầm Tiên, tự nhiên nó có kinh nghiệm nó nói, có gì đâu. Mà chính nó sống trong cái cảnh đó luôn. Trình độ của một vị Tiên ở đâu, nó đọc sách nó thấy, rồi nó phải thiền để nó đi tới; nó nhờ thiền. Sách chiếu cho nó, ảnh hưởng cho nó, mà nó thực hành nó lại chiếu lại cuốn sách, nó thấy, nó tìm cuốn sách, cuốn sách còn thiếu, chỉ nhắc thôi, mà hành là nó hành cho nên nó đi tới. Nó đi trong thanh tịnh, xa hơn.

Cho nên tôi đã nói trước rằng tương lai Vô Vi tụi cao-bồi đi giảng pháp, không phải bận áo thầy; thấy mặt mày ngang ngược mà nó nói minh triết, nó cảm động lòng người được - Tôi nói lâu rồi, rồi lần lần nó sẽ có. Tại sao phải dùng những người cao-bồi? Thấy mặt nó cao-bồi lưu manh mà bây giờ nó giảng như vậy, để chi? Để kích động những người trí thức. Vì những người trí thức, cũng như là một vị Phật ôm trong thanh rồi, không muốn rời thanh.

“Khi tôi đạt tới trí thức, đâu, làm sao tôi bỏ trí thức được! Mà tôi dòm cái thằng lưu manh này bữa nay nó ngon hơn tôi, tức, tôi phải bỏ cái trí thức, tôi trở về với căn bản của tôi, tôi mới thấy rõ chân lý, tôi dẹp cái ngu học đó và tôi trở về cái chơn ngôn của tôi, và tôi sẽ khai mở tới vô cùng. Té ra tôi có một kho tàng sống động chơn lý trong tôi mà tôi không biết”.

Cho nên thằng Hoàng Sony hồi trước viết cái thơ viết không thông. Nói thiệt đó, nó viết chữ Việt Nam nó ít lắm, nó viết không có thông, mà bây giờ nó viết thông. Rồi nó cũng chuyển qua, nó cũng sắp chuyển qua bên trí thức, nhưng mà được cha Nhẫn Hòa đập cổ kéo trở lại, mà y không tự đi ở chỗ đó. Thấy chưa? Cũng bắt đầu chuyển trí thức, nó đang mê trong trí thức đó. Nó thấy văn chương, nó làm thơ thi… “Ô, khoái quá”, nhưng mở không được, nên trở lại. Mới thấy cái sáng suốt của Nhẫn Hòa chưa? Mà chính con ở trong đó con mới thấy sự sáng suốt của đối phương. Con thấy không?

Nếu mà thả lỏng cho con, mắc mớ gì mà nó cứ gây chuyện với con hoài vậy? Đi đâu cũng gây lộn thằng này: “Tao oánh cho mày tan tành đi, chẻ cái đầu mày đi, đá cái đít mày đi”… để thằng này thấy sự thật và nắm sự thật đi luôn, đừng có đi trong cái vá víu nữa. Thấy chưa? Mở tâm! Cái đó mở tâm đó, đi tới… Té ra mình không cần cái gì hết, không cần tồn trữ cái gì hết. Có một kho kinh vô tự trong chơn thức, trong sự sáng suốt của Thượng Đế đã sắp đặt, nắm đó mình đi.

Đụng - mở. Đụng tới đâu mở tới đó, đụng tới đâu mở tới đó mới là thấy sự tinh vi. Còn chờ người ta mở giùm cho mình là mình lếu láo mấy câu đó, không có được. Đụng tới đâu mở tới đó, đụng tới đâu mở tới đó là mình nắm được. Nắm có một chút xíu điểm linh quang thôi là ăn suốt kiếp không hết. Đụng tới đâu mở tới đó mà! Con thấy không?

Cho nên người ta kích động để con bỏ và con trở về với cái thực tâm của con để con tiến. Thấy không? Cho nên tôi phân tách để cho thấy rõ một chút, rồi đây sẽ học nhiều nữa.

Ai đấu lý, mình lẳng lặng hạ xuống để nghe, học. Học cái đã, trước hết phải học, rồi mình giải, rồi mình thức, mình đi. Chưa thức, không có đi được. (cười)…

Người Tàu người ta nói “Tam tư nhi hậu hành”: Suy nghĩ 3 lần rồi mới đi (nghe không rõ)… Học, giải, thức, đi. Học, giải, thức, đi. Học là mình cũng phải nghĩ, suy nghĩ. Giải, mình cũng phải suy nghĩ. Thức, rồi mình quyết định, thấy không, mình đi; cũng phải dùng cái thức nó mới nghiên cứu, từ đó nó dồi dào lên rồi mình đi không có sai.

Cho nên, nói ra thì nó dễ lắm, mà kêu các bạn truy ra nó khó lắm, kêu truy một cái việc gì… Trên đường truy tầm chơn lý tại sao không truy?

Cho nên cái bài hồi hôm hay lắm! Mà đối với người biết truy thì thấy hay lắm. Ở xã hội này ít có cơ hội để học, mà ngày nay có cơ hội như vậy. Hai diễn giả đặc sắc để hỗ trợ cho mình học, thấy chưa? À, còn ở ngoài đời người ta dòm vô: “Đám này mà phách lối gì, đang oánh lộn mà!” - Ở đời họ nói vậy! Bởi vì cộng đồng chưa tu thì họ nói: “Cái đám này mà nghĩa lý, vô là mình chết á, vô học hư đó”. Nhưng mà cái khía cạnh nên, họ không hiểu. Bây giờ mình phân tách khía cạnh nên rồi; khi mà họ thực hành, tu rồi họ mới thấy rằng: “Ồ, phải vậy!”

Chứ cái chìa khóa hay tuộc-nơ-vít không có vặn được trong tâm. Phải lấy hỏa - hỏa tương giao rồi mới kéo nó ra ngoài được.

Cho nên “Chu cha, cha Nhẫn Hòa sao dữ quá, gây lộn rầm rầm, mà Thầy Tám không có gây lộn”. Tại sao kỳ vậy? Thầy Tám gây lộn trong tâm hồn các con, đánh đập tâm hồn các con cho tới các con phải khóc cơ mà, mà quên đi. Đánh thẳng vào, Thầy Tám đánh thẳng, phải khóc và chịu buông bỏ tất cả những sự trần trược trong tâm, bằng lòng như vậy. Nhưng mà tại sao không tiến được? Vì cái đời. Về nhà, gia cang nó lôi chuyện này, chuyện nọ, rồi quên thiền, rồi quên niệm. Chớ đi đúng theo lời Thầy giảng và lời Thầy dậy thì ngày nay thiếu gì cha, nhiều lắm, giỏi lắm, không có tầm thường đâu, không phải người tầm thường.

Bây giờ tất cả, cha Nhẫn Hòa giảng, bây giờ các con nghe lại cuốn băng, những cuốn băng nào Thầy Tám nói hết, nhưng mà cha Nhẫn Hòa đem lại cái kỹ thuật cho con tự hành, tự đi. Chớ còn cha Nhẫn Hòa không có nói gì hết; bổ khuyết, nhắc lại và các con phải tự đi như vậy mới có kết quả.

Mà chính hành giả mang cái xác mà xưng danh “cha” đó cũng đã nhờ những cái lý thuyết đó, nhờ những sự phân giải như đó, nhờ những luồng điển đó mà truy tầm được ngày hôm nay cởi mở như vậy, thì mình lấy cái ảnh hưởng đó mình làm. Mà mọi người Vô Vi phải đi như vậy mới kêu bằng giải thoát.

Vì sao, một mình tôi đi không làm nổi. Tôi chỉ đi gieo, tôi chỉ đi gieo vậy thôi, tôi phải đi. Bởi vì cái cơ gấp tiến hóa tôi phải gieo. Vì tôi nói trước rằng, Việt Nam sẽ có cuộc di dân vĩ đại. Từ mười mấy, hai mươi năm về trước tôi có giảng ở Hồ Văn Em, giờ chót tôi có làm bài thơ năm Ất Mão, tình cảnh Việt Nam bây giờ đau khổ, thì trong bài thơ đó có hết. Rồi tôi ra đi là tôi xây dựng cấp bách; số người ra ngoài này thì tôi phải giảng. Tuy rằng những chỗ tôi không có mặt nhưng mà họ vẫn nhận được lời nói phân tách của tôi để họ có sự cảm thức vị trí của họ là người Việt Nam, là anh hùng.

Anh hùng ở chỗ nào?

- Bỏ đất nước ra đi không tiếc.

- Vượt biên không cần biết cái chết sống ra sao.

- Tới xứ người không biết văn chương của họ, vẫn sống.

- Cam chịu kỳ thị đủ thứ.

Cái bản chất anh hùng của họ có! Mà cái anh hùng đó sử dụng ở thế gian này có được không? Vô ích! Anh hùng đó, nó có thể trở về với chơn tâm nó trong nháy mắt, cho nên phải độ cho người Việt Nam vì lý do đó. Nó đã là anh hùng rồi:

- Nó ra học nó cũng học thi hạng nhứt, giỏi lắm!

- Khổ nó cũng khổ hạng nhứt: Ăn cơm với xì dầu nó cũng ăn được, cơm với muối nó cũng ăn được - Sống như vậy nó anh hùng đó.

Và bây giờ nuôi dưỡng và khai thông cái nguyên lý anh hùng của nó, nó dọn về chơn tâm nó mới làm việc cho cả Càn Khôn Vũ Trụ.

Vì đó cho nên người Việt Nam được ưu tiên có những luồng điển quang chiếu tới, và tất cả đều là tận độ.

Ông lên bà xuống cũng phải tận độ nó, chớ không dám mà bỏ nó - Giúp nó! Cha Ngọc Vân cũng khuyên mọi người phải tu; cha Tô Thanh Quang cũng khuyên mọi người phải tu - Phải luồng điển nhập không? Đó là luồng điển nhập! Cha Kim cũng vậy, khuyên mọi người phải tự thức thấy dung điểm của mình ở đâu. Tới ngày hôm nay cha Nhẫn Hòa chỉ rõ cái vị trí tự hành, tự tu tự tiến mới đi đến đích.

Thì tất cả là cái cơ duyên tốt đẹp cho người Việt Nam, không có chỗ nào xấu hết. Có người nào lấp liếm, hay nghe những cái lời giảng của thiêng liêng rồi nói đi nói lại… cũng khuyên chúng sanh mà thôi. Chớ còn nó nói cái lời mà không biết khuyên người Việt Nam với người Việt Nam, không ai nghe, không ai nghe.

Vì nó là anh hùng; nó khổ rồi, nó sống từ trong khổ, trong trứng khổ mà ra. Nó ra đời nó đã khổ rồi. Nó ra đời là nghĩa là người ta đã đè đầu nó rồi, đè đầu tổ tiên nó tới bây giờ mà. Rồi bây giờ nó sử dụng cái quyền năng anh hùng của nó để nó xây dựng trở lại nguồn cội thì nó đi nhanh hơn người thường. Những người mà được nâng niu, được welfare đồ này kia kia nọ, được người Mỹ này kia kia nọ, được nâng niu này kia kia nọ, họ đâu có biết cái giá trị đó. Mà người Việt Nam nhắc tới giá trị đó biết liền:

- “Phải rồi, đường tôi phải đi, tôi phải về với chân lý, mà chính tôi là chân lý. Tôi đã trải biết bao nhiêu đau khổ, biết bao nhiêu hoạn nạn nhưng tôi vẫn qua. Cái qua này không phải tôi sắp đặt. Nó có một cái luật, có một cái hành trình nào mà cả Càn Khôn Vũ Trụ đã quy định cho tôi, thì tôi mới thấy rõ dung điểm tôi, tôi phải tiến. Dung điểm tôi là gánh vác, khai tâm, mở trí và tận độ”.

Dung điểm người Việt Nam là vậy!

Cho nên ngày hôm nay đã học rất nhiều. Tôi có chết hay tôi có đi đâu, các bạn cũng nghe hoài à, thấy hoài. Nghe hoài sống hoài. Không có cuốn băng nào mà không sống động; không có cuốn băng nào mà không mở tâm các bạn. Nhưng mà các bạn cứ chênh lệch vào cái màn giả ảo thành ra chậm tiến. Bỏ tất cả những giả ảo và trở về với thực chất thì nhanh lắm.

Cho nên mỗi ngày có cơ hội lên Thiên Đàng, mỗi ngày có phân tích rõ ràng những cái chuyện đã qua của ngày hôm qua. Thì bây giờ tâm hồn các bạn nhẹ rồi chúng ta lâng lâng đi Thiên Đàng chơi nữa!

HỒI BẢY

DẠO SÔNG TAM THANH

NGHE HÀ THƯỢNG CÔNG THUYẾT PHÁP

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 23 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1979)

Thơ

Tam thanh tứ chính pháp thông linh

Ngũ khí triều nguyên chuyển đạo kinh

Thủy hỏa tương giao hồi thánh giới.

Tu tâm sửa tánh thượng Thiên Đường.

Dịch

Tam thanh tứ chính pháp làu thông

Ngũ khí triều nguyên đạo tỏ tường

Nước lửa giao hòa về cõi Thánh

Tu tâm sửa tính tới Thiên Đường.

Đức Thầy giảng:

Nãy giờ chúng ta học bài lửa rồi tới cái nước. Nước, lửa rõ ràng; hồi nãy giờ là pháp thủy, nước lửa tương giao. Thấy không? “Hòa về cõi Thánh”: tâm các bạn bây giờ nhẹ nhàng rồi, không có cái gì hết, phải không?

Tế Phật: Tam Thanh là Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh cũng còn gọi là Thiên Thanh, Địa Thanh cùng Nhân Thanh. Đạo Đức Kinh nói: “Trời gồm thâu về một ắt trong, đất gồm thâu về một ắt yên, người gồm thâu về một ắt thánh”.

Đức Thầy giảng:

Đó! Thánh tâm.

(Thiên đắc nhất tắc thanh, địa đắc nhất tắc minh, nhân đắc nhất tắc thanh). Thế mới biết Tam Thanh là sự sinh hóa của “Đại đạo nhất lý” tức là lẽ một của đạo lớn vậy. Bữa nay ta lại dẫn trò ngoan Dương Sinh dạo cõi Trời để nghe giáo chủ Tam Thanh thuyết pháp. Tam Thanh là Thánh Cổ Hỗn Nguyên đạo pháp lớn vô cùng, cho nên người phàm học pháp ở thế gian muốn giao tiếp cùng quỷ thần ắt phải cung thỉnh Tam Thanh. Tứ chính là chính thân, chính tâm, chính ngôn, chính hành. Người ta phải lo giữ bốn chính này mới mong đắc đạo, cho nên có thể ví tứ chính là chiếc thang mây để leo lên cõi Trời. Kẻ học pháp ở chốn thế gian thấy có mang phù hiệu chữ “Cương” (sao Bắc Đẩu), ý là giữ vẹn được bốn chính. “Kinh chân chính” không thiên lệch thì “thân chân chính” mới giáng, rồi sau mới kể tới phù hiệu, sự hiển hách của sứ mạng linh thiêng chẳng thể đo lường được, nhưng tiếc rằng điểm này người đời phần đông không rõ. Sự diệu dụng của pháp, thầy chẳng thể nói nhiều được, con hãy nán đợi để xin Linh Bảo Thiên Tôn chỉ dạy tận tường cho. Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị dạo cõi Trời viết sách.

Dương Sinh: Xin tuân lệnh, kính mời ân sư lên đường...

Tế Phật: Ngồi yên trên đài sen hoa tâm bừng nở. Chốn hồng trần khổ hải vì quá ham mê vui sướng nên sinh tai họa, ảo mộng phồn hoa biết ngày nào mới tỉnh? Đảo quý Bồng Lai thiết lập đài cơ bút, Tiên Phật cùng giáng, lý đạo siêu diệu chỉ dạy rành rẽ để cảnh tỉnh mê lầm, giáo hóa ngu muội, cứu độ thế nhân quả là tốt lành lắm thay.

Dương Sinh: Thưa, mấy câu ân sư vừa chỉ giáo ý nghĩa thật thâm sâu.

Tế Phật: Văn nông ý sâu, nước cạn đã dễ bắt cá lại không tốn sức cớ sao không vui vẻ làm theo?

Dương Sinh: Thưa nước cạn chỉ bắt được cá nhỏ nên con sợ phí sức.

Tế Phật: Ha ha, chỉ có chiếc cần câu nhỏ lại muốn câu cá lớn, e rằng không những chẳng bắt được cá mà còn bị cá lôi xuống biển, và vì nước càng sâu cá càng lặn xa nên việc làm không những vô ích mà còn nguy hại.

Đức Thầy giảng:

Thấy rõ cái tâm con người, một chập là chơn, một chập là phàm, nếu mà theo phàm là bị.

Dương Sinh: Thưa, lời thầy dạy quả là chí lý. A! Phía trước đột nhiên thấy xuất hiện một con sông lớn nước trong suốt, và không rõ tại sao trông giống như ba dòng nhập một?

Tế Phật: Vì đây là sông Tam Thanh, ở ngoài 33 tầng Trời, cho nên còn gọi là “Thiên Hà” tức sông trời, khúc này là đầu sông nên nước trong suốt, sáng ngời. Bữa trước vì chúng ta bay lướt qua do đó con không thấy rõ cảnh sắc, bữa nay đứng ở đây con mới được nhìn tận mắt.

Dương Sinh: Bị sông này ngăn đường, làm cách nào vượt qua?

Tế Phật: Hoa sen mọc chốn bùn nhơ không nhiễm, bữa nay đem thả tòa sen này trên sông Tam Thanh sợ rằng nó không vượt qua nổi, bởi lẽ hoa sen ưa thích nước ô uế, nên chỉ ngại không thích ứng nổi nước trong sạch của sông này.

Dương Sinh: Thưa con không được rõ nguyên nhân tại sao?

Tế Phật: Vì thiếu chất dinh dưỡng, bởi lẽ hoa sen chuyên hút thở vật ô uế để nuôi lớn cơ thể tinh khiết, bữa nay sông Tam Thanh nước trong vắt tới đáy, thiếu tạp chất nên không thích hợp với hoa sen.

Dương Sinh: Lý lẽ này con không hiểu nổi, hoa sen là vật trong trắng tinh khiết cớ sao lại chẳng thể thích hợp với nước sông trong sạch này?

Tế Phật: Con phải hiểu là hoa sen tượng trưng cho Tiên Phật, Tiên Phật có thành được Tiên Phật hay không còn tùy thuộc ở sự cứu độ chúng sinh dưới gầm Trời, bởi lẽ chúng sinh đều trầm luân trong cảnh tửu sắc, của cải, danh lợi, ái ân ô uế trần gian, tới hồi đổ nát tan hoang Tiên Phật ắt phải thả thuyền từ cứu độ. Cho nên hoa sen sinh ở bùn nhơ khác nào Tiên Phật sống giữa chúng sinh, vả lại nếu như không có chúng sinh làm sao có Tiên Phật nổi, còn nếu như khi không có chúng sinh ắt cũng phải kêu Tiên Phật là chúng sinh vậy. Cho nên hoa sen ở giữa chốn gió bụi nhơ bẩn nhưng vẫn bảo vệ được phẩm tính thanh bạch của mình, nếu không vậy thì hoa sen đã bị thối nát vì nước đục bùn nhơ mất rồi, chẳng còn mọc nổi cuống lá xanh tươi và nụ hoa thanh bạch. Giả sử phàm tính của chúng sinh đều giống như nước trong sạch của sông Tam Thanh này ắt là hoa sen cũng sẽ héo tàn rơi rụng! Sở dĩ người đời chỉ muốn tính tình trong sạch, phẩm giá thanh khiết, bước một bước tới được sông Tam Thanh, cùng đi lại trên mặt nước dễ dàng như đi trên đất, tự mình hóa thân thành đóa sen là bởi kẻ hợp được Tam Thanh làm một ắt là thánh vậy.

Dương Sinh: Những điều ân sư vừa chỉ dạy thật là chí lý.

Tế Phật: Trời gồm thâu làm một được thì sinh nước, nước đó chính là nước sông Tam Thanh rớt xuống núi Côn Lôn, chảy tràn thế gian biến thành nước đục là nước sông Hoàng Hà, cho nên có câu: “Ngày nào nước sông Hoàng Hà trong lắng thì có thánh nhân ra đời”. (Hoàng Hà trừng thanh chi nhật, thánh nhân xuất yên). Ý nói nước sông Tam Thanh nếu như chảy thẳng xuống trần gian ắt là thần thánh trên Trời theo nước đầu thai giáng phàm.

Dương Sinh: Phía trước đột nhiên xuất hiện một vị lão ông, đang đi trên mặt nước tới, không rõ người đó là ai?

Tế Phật: Đó là Hà Thượng Công (ông đi trên sông), Dương Sinh mau tiến tới lạy chào ra mắt.

Dương Sinh: Lạy mừng ra mắt Hà Thượng Công.

Hà Thượng Công: Miễn lễ, a a người phàm tới sông Trời, đã lén đến đây phải không?

Dương Sinh: Thưa không, đệ tử vốn theo ân sư phụng chỉ dạo cõi Trời viết sách, bữa nay tới chốn này vừa được nghe ân sư thuyết pháp, như vậy đệ tử đã đến một cách công khai đâu phải lén lút.

Hà Thượng Công: Đệ tử không có ý lẻn tới, tôi cũng không ngại đệ tử đến lén, song nếu bàn chân đệ tử không sạch mà bước lên mặt sông Tam Thanh ắt bị nhận chìm ngay, thì thử hỏi khi đó sẽ ra sao? Giờ tôi có ý muốn cứu độ đệ tử, đệ tử nghĩ sao?

Dương Sinh: Xin đa tạ, đệ tử cầu mong mãi mà không được, giờ tự nhiên Thượng Công giúp bè cứu độ, quả là đệ tử có phước lớn.

Hà Thượng Công: Tốt lắm! Nhớ xưa Hán Văn Đế tính Ngài đã khiêm cung cần kiệm, nhân ái, hiếu để lại còn dốc tâm tu “huyền mặc”, đêm ngày chăm chỉ đọc Đạo Đức Kinh, nhưng khổ nỗi ý nghĩa thâm sâu của kinh vẫn không giải nổi, tôi bèn hạ giáng kết bè lau trên sông, xưng là Hà Thượng Công để truyền đạo lớn cứu Văn Đế, Văn Đế lãnh hội xong liền sai sứ giả đến mời tôi tới giải nghĩa những chỗ khó hiểu trong Đạo Đức Kinh. Tôi trả lời: “Đạo kính trọng, đức tôn quý, thường nhân không thể hỏi”. Sứ giả trở về tâu lại với Văn Đế, Văn Đế liền thân hành tới lạy quỳ hỏi đạo, tôi ngồi nhắm mắt lặng thinh, giả bộ không nhìn thấy. Văn Đế lòng buồn rầu nhủ thầm “kẻ đó tuy có đạo, song chỉ vào hàng bề tôi của ta, cớ sao lại cao ngạo tới mức này?”. Đọc được ý nghĩ đó của Văn Đế tôi bèn đứng phắt dậy, bỏ ra ngoài lều tranh, bay vút lên không, cao cách mặt đất cả trăm trượng, nói dội xuống: “Ta nay trên không thuộc trời, dưới không thuộc đất, há còn là thần dân sao?”. Tiếng nói như chuông vang, chuyển động cả đất trời. Văn Đế nghe xong trong lòng liền hối hận tự giác ngộ, cúi rạp đầu xuống đất tạ tội. Tấc lòng chân thành cầu đạo của Văn Đế làm tôi cảm động khiến tôi lại giáng phàm cứu độ Văn Đế. Bởi vậy tôi khuyên người đời nếu như có chí cầu đạo thì phải lo sao cho tâm mình trống rỗng còn không sẽ khó gặp được bậc chân nhân. Bữa nay Dương Thiện Sinh tới chốn này, tôi hết lòng hóa độ cho, khỏi cần thắc mắc là bàn chân còn dính bụi hay không.

Dương Sinh: Thẹn nỗi chân đệ tử còn dính bụi quá nhiều!

Hà Thượng Công: Tự hậu muốn tới đây phải rửa chân trước tại sông Hoàng Hà, không được rửa ở khoảng sông Tam Thanh này.

Dương Sinh: Sợ rằng nước sông Hoàng Hà rửa không sạch?

Hà Thượng Công: Không tới sông Hoàng Hà tâm không chết, tới được sông Hoàng Hà tâm chết lại hồi sinh. (Bất đáo Hoàng Hà tâm bất tử, nhất đáo Hoàng Hà tử hựu sinh).

Tế Phật: Này trò ngoan Dương Sinh, thầy sẽ chỉ dạy cho con phép tẩy rửa đôi bàn chân nhơ nhớp ấy sạch sẽ nhẹ nhàng, như vậy hẳn là con được yên lòng.

Hà Thượng Công: Sự nhớp nhơ để không lợi, làm cho sạch đi được thì hay lắm, nhưng phải bằng cách sạch được chất dơ mà vẫn bảo tồn được vẻ sáng, còn không sợ rằng rửa không sạch mà còn bị tổn hại thêm, phải cẩn trọng điểm đó.

Dương Sinh: A! Chất dơ đó con đã rửa sạch được rồi.

Tế Phật: Đó! Hà Thượng Công thấy nước sông trời này diệu dụng chưa?

Hà Thượng Công: Đúng vậy, nước sông Tam Thanh cực kỳ diệu dụng, chỉ tiếc rằng người đời không biết tới. Thuở ban sơ, tam thanh do một khí biến hóa ra, cho nên nước sông này là thứ nước nguyên linh tinh chất mới ra đời. Nước đó cũng như tinh huyết vì người ta thuở mới đầu thai, ai ai cũng do tinh khí của cha và máu huyết của mẹ hòa hợp nuôi lớn. Cha tức là Mộc Công, mẹ là Kim Mẫu, dục hỏa (lửa dục) là hỏa tinh, tinh huyết là thủy tinh, Hoàng Lão là bà, tương giao biến hóa thành bào thai rồi sinh ra người. Do đó, nước sông trời rớt xuống phàm trần, chảy tràn núi Côn Lôn, tuôn ngập sông Hoàng Hà, thấm nhuần khắp Tứ Đại Bộ Châu, cho nên đất có thể sinh ra nước là do công của Hoàng Lão và tạo hóa vậy. Tinh nước lúc mới thành hình giống như con nòng nọc, tính thuộc dương giao cảm cùng tính âm trong nước hóa thành loài ếch nhái. Cho nên sự tiến hóa của nhân loại cũng cùng một cái lý là: người do khí âm dương giao cảm mà sinh ra, đạo trời làm nên người nam, đạo đất làm thành người nữ, con ngài hóa thành con bướm, nòng nọc hóa thành ếch nhái, hạt giống thành rau thành cây, sự hóa sinh của vạn vật không ngoài ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ do đó Ngũ Lão đã có công sinh ra loài người cùng vạn vật vậy. Nếu như còn có điểm hoài nghi thì có thể dùng phương tiện khoa học tìm hiểu thêm hẳn là sẽ rõ lời nói của tôi chẳng sai lệch vậy. Sở dĩ người đời tu đạo trước tiên phải lo thoát khỏi sự chi phối của ngũ hành giống như lìa bỏ mầm mống chủng tử ắt là vạn vật không sinh không diệt, khi đó mới có thể trở về nguồn cội hư vô. Ngược lại, nếu không thoát khỏi mầm mống này sẽ thành chủng tử luân hồi sinh sinh diệt diệt, như hạt mọc thành cây, cây lại kết hạt, hạt lại sinh cây, một hóa hai, hai hóa ba, ba hóa bốn, bốn hóa năm, một gốc chia thành muôn ngàn cái khác biệt, ý niệm dục cầu của người nẩy mầm tức thì thành chủng tử luân hồi, cho nên nói: “Lòng dục cầu nổi lên ắt sinh tử nối tiếp, ý niệm sinh ắt luân hồi sinh”. Chủng tử có thể trồng ở Trung Hoa, ở Hoa Kỳ, ở Ấn Độ, ở Phi Châu cùng muôn ngàn nước khác, song chỉ vì ngũ hành, khí hậu, thủy thổ cùng hình thái sinh trưởng khác biệt cho nên ngày nay mới không giống nhau về màu da và chủng tộc, bởi vậy kẻ tu đạo nên bỏ qua sự khác biệt bề ngoài mà tìm về nguồn gốc. Thế giới vạn vật vốn là một hạt giống của Thượng Đế ban đầu gieo xuống hóa thành, cho nên tu đạo là gom năm phương về tam thanh, thâu tam thanh về một khí, vượt sông Tam Thanh trở về nguồn cội ban sơ mà đạt thành đạo quả thượng thừa vô cực, siêu thoát khỏi tam giới, cởi bỏ được sự trói buộc của năm hình, có thể tiêu dao tự tại một cách an nhiên. Công năng sáng tạo vạn vật của Thượng Đế ảo diệu như vậy, người đời há chẳng kính trọng và bái phục sao?

Đức Thầy giảng:

Cho nên cả tỷ tỷ năm nay mà Thượng Đế đã lo cho chúng sanh chuyển hóa vô cùng nhưng mà chúng sanh vẫn ở trong cái luật phản trắc của tình đời mà quên căn bản. Mong về nguồn cội mà không chịu rời bỏ cái tâm ác trược thì không cách nào mà có thể về nguồn cội được.

Tế Phật: Cảm tạ Hà Thượng Công đã chỉ dạy rõ về thiên cơ.

Dương Sinh: Phía trước có một vị đạo trưởng đi tới, dung mạo rất còn trẻ trung, qua sông không dùng thuyền, theo dòng nước đi tới, không rõ có nên nhờ vị này chỉ dạy cho biết rõ về “tiên cơ” chăng?

Hà Thượng Công: Vị đó là Đạo Trưởng Thanh Vân. Dương Sinh có thể hỏi đạo.

Dương Sinh: Xin hỏi Đạo Trưởng, ngài từ phương nào tới?

Thanh Vân: Tôi từ cung Thượng Thanh tới, là đệ tử của Linh Bảo Thiên Tôn, bữa nay được rõ Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh dạo cõi Trời hỏi đạo, lòng tôi rất phấn khởi cho nên tìm tới sông Tam Thanh để mong họp mặt. Vừa rồi Hà Thượng Công đã trình bày về nguồn gốc của sông Tam Thanh để phổ độ thế nhân, nên đã đặc biệt giảng đi giảng lại cho Dương Thiện Sinh hiểu rõ. Người đời tu đạo, lần lần thiếu trí kiên trì thành luật mất nghiêm, mỗi mỗi đều lầm lẫn tới lầm lẫn lui, cuối cùng trở thành vô phương cứu vãn. Thượng Đế chỉ mong cứu vớt nguyên linh nên lại cho phép tiết lậu “tiên cơ” để chúng sinh thức tâm tu luyện hầu vượt sông Tam Thanh. Còn như tôi tu đạo này chỉ cần cố gắng kiên trì hành pháp một cách tuần tự theo ba tiêu chuẩn dưới đây:

1/ Thiên Thanh: Đầu người là “trời” có ẩn giấu “huyền quang linh khiếu” tức cửa ra vô mầu nhiệm linh thiêng. Bình thường cửa đó đóng kín mít nên cần phải tu luyện để mở bung cửa đó ra, dẹp bỏ tư tưởng tà dâm, trừ khử ý niệm tham dục ắt thần trí sáng ngời, đài linh thiêng thông với cõi Trời, một sớm dứt bỏ “tam thốn khí” tức ba tấc khí ô trược để chân linh phơi phới bay thẳng tới Thiên Đường. Như thế gọi là “Thiên Thanh” tức trời trong vậy.

2/ Địa Thanh: Bụng của cơ thể người là “đất”, tỳ vị thuộc thổ, ăn ngũ cốc để nuôi sống, bỏ thịt cá để giữ vệ sinh trong bụng được sạch sẽ, thanh tịnh, không chất chứa thịt cá thối tha, ba tấc trược khí dứt, thanh khí trở về lúc ban đầu, thần linh ắt về lại đất tĩnh. Như thế gọi là “Địa Thanh” tức đất trong vậy.

3/ Nhân Thanh: Hạ bộ của cơ thể là “người”, tình dục nam nữ phát động ắt tinh huyết của họ tiết ra. Không phải vợ chồng mà bày trò dâm dục gọi là “tà dâm”, tà dâm ắt loạn âm dương, chà đạp nhân luân. Tinh huyết là gốc rễ của loài người, đem sử dụng một cách hoang phí vô độ làm điên đảo thác loạn cùng hủy diệt chủng tử thiêng liêng tức là sát hại sinh linh. Tinh huyết hỗn độn ắt nước sông vẩn đục, để chỉ kẻ hiếu sắc dâm dục có câu: “Chỉ thích chuyện lá gió cành chim, chẳng thích chuyện Tiên”. Chính vì thế mà ý niệm về tu đạo tiêu tan, tánh dâm dục nẩy nở, thần phách nát nhầu, hồn ma xâm nhập. Gốc dâm của cá nhân phát sinh từ dưới đáy sâu biển cả loài người, vốn là chỗ chất chứa tất cả những cặn bã nhơ bẩn bài tiết ra, nên khi sống ngụp lặn ở đó, sau khi chết hẳn là bị đọa trầm dưới đáy biển sâu âm tào địa phủ. Ngược lại, nếu như thanh tẩy được dâm căn hóa thành thiện căn, gạn lọc được khổ hải hóa thành đạo hải ắt hẳn lòng dục dứt tuyệt, thiên lý lưu hành, ba tấc khí trược dứt tuyệt, nhân đạo tự nhiên nối tiếp với địa đạo mà về tới được thiên đạo. Tuy nhiên những kẻ tu hành trên đời ai nấy có chí tu đạo, tiếc rằng không lìa bỏ được tâm sắc dục, tự giam mình mãi trong chốn hang hốc ngòi lạch, cho nên sau khi chết bị sóng dục cuốn đi, nhận chìm dưới đáy sông ái dục, đày đọa chốn Địa Ngục để rồi lại đầu thai cõi thế, chịu luân hồi mãi mãi. Nay nhờ Bề Trên ban ơn cứu độ để chúng sinh tu đạo, nếu như trừ bỏ được sắc dục, vun bồi được thanh khí hẳn là ba bộ phận nơi cơ thể con người là “thượng, trung, hạ” bị bế tắc được khai thông tức thì vượt qua sông Tam Thanh chứng ngộ đạo quả vô cực về được nơi thánh cảnh Tam Thanh. Trái lại, công quả mặc dầu nhiều, sau khi chết vẫn phải nhờ linh quang của Tiên Phật gia hộ cùng chịu sự nhồi nặn tinh luyện lại cho tới khi nào tâm tính đạt mức nhuần nhuyễn chân chất mới có thể cất bước đi lên nổi, mong ước chúng sinh dưới gầm trời hiểu rõ điểm này.

Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Trưởng Thanh Vân đã ban lời vàng ngọc, mỗi tiếng mỗi câu dư âm thánh thoát cần phải lắng nghe để thực hành nghiêm chỉnh.

Tế Phật: Thời giờ đã trễ, tôi phải dẫn đệ tử trở lại Thánh Hiền Đường, xin cáo biệt nhị vị “thượng tiên”.

Hà Thượng Công: Chớ quá khách sáo, mong gặp lại.

Dương Sinh: Con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Hiền Đường...

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

HỒI TÁM

LẠI DẠO CUNG THƯỢNG THANH

NGHE LINH BẢO THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 16 tháng 7 năm Kỷ Mùi (1979)

Thơ

Thiên Đàng thắng cảnh dị thường gian

Tuyệt hảo phong quang khí tượng hoàn

Đạo tặc ký vô môn bất bế

Tiên chân vấn đạo khấu thiền quan.

Dịch

Thắng cảnh Thiên Đàng khác thế gian

Phong quang tuyệt hảo vẻ khôn bàn

Bởi không cướp trộm nhà thường ngỏ

Hỏi đạo thánh tiên lạy cửa thiền.

Tế Phật: Đời sống vật chất ở thế gian hiện được đề cao quá mức, nên có nhiều kẻ đã ở nhà gạch kiên cố, tường lại còn bọc thép để tự giam mình ở trong. Tuy cướp trộm không vào được nhưng mỗi đêm khó bề đóng nổi cửa “phòng tâm” vì bọn giặc tình dục, phiền não luôn luôn rình rập! Trái lại các loại lầu gác ở chốn Thiên Đàng cửa đều bỏ ngỏ mà trộm không lén vào, cướp không phá phách, do đó mà tâm thần an nhiên tự tại, phong cảnh thảnh thơi nhàn hạ, đời sống thư thái như vậy há chẳng ham thích lắm sao? Hãy tới đó đi, chớ có ngại ngùng. Dương Sinh mau lên đài sen, bữa nay thầy trò mình dạo cung Thượng Thanh, bái kiến Linh Bảo Thiên Tôn lần nữa.

Dương Sinh: Thưa hay lắm. Con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: ... Đã tới cung Thượng Thanh, Dương Sinh xuống đài sen.

Dương Sinh: Chỉ trong thoáng giây cung Thượng Thanh quả nhiên đã hiện ra trước mắt, hào quang của 36 sao Thiên Cương và 72 sao Địa Sát xoay chuyển không ngừng, lóa cả mắt con.

Tế Phật: Phải trấn tỉnh tinh thần, tâm không được hoang mang.

Dương Sinh: Thưa vâng, hiện thời tâm con đã tạm yên ổn.... Lạy mừng ra mắt đức Linh Bảo Thiên Tôn.

Thiên Tôn: Miễn lễ. Hai vị bữa nay lại tới cung Thượng Thanh, rất đỗi hoan nghinh. Lần trước hai vị tới đây, vì thời giờ eo hẹp, tôi chỉ mới dẫn chứng sơ lược về 36 sao Thiên Cương cùng 72 sao Địa Sát, chưa giảng rộng được về đạo pháp, bữa nay tôi xin tường thuật tỉ mỉ về Linh Bảo Đại Đạo để hóa độ thế nhân. Mời hai vị qua xem cung điện bên cạnh.

Dương Sinh: Cảm tạ đức Thiên Tôn. Tới đại điện thấy bốn chữ lớn “Linh Bảo Hoàn Nguyên” ánh vàng tỏa chiếu sáng ngời, song không hiểu ý nghĩa ra sao?

Thiên Tôn: Hãy nán đợi chút nữa sẽ rõ.

Dương Sinh: Vào trong điện, thấy hoàn toàn trống rỗng, trong suốt tựa thủy tinh không vướng một mảy lông, vắng lặng vô cùng.

Thiên Tôn: Vì thần của mắt Dương Sinh chưa được trong, còn mắt tôi chỉ cần liếc qua đã nhìn thấy rõ hết.

Dương Sinh: Đức Thiên Tôn chỉ phủi nhẹ một cái mà cảnh vật trước mắt con biến sạch, chỉ còn thấy một viên ngọc trắng sáng bay lượn trước mắt tỏa chiếu rạng ngời, quay tít…. không rõ vật đó là vật gì?

Thiên Tôn: Ha ha, đó là nguyên linh của Dương Sinh. Ngay cả tam tài nếu như thiếu ba khí thiêng liêng của Thiên linh, Địa linh, Nhân linh ắt là trời sập, đất tan, người diệt. Chân linh vô cùng thiêng liêng quý báu cho nên gọi là “Linh Bảo”. Mặt trời, mặt trăng cùng muôn sao ở trên Trời, nước lửa gió ở dưới đất, tinh khí thần ở trong con người, tất cả đều linh thiêng quý trọng đối với tam tài. Tuy tôi coi sóc đạo pháp tiên thiên song muôn pháp vốn do Thái Thượng Lão Quân ban hành. Ở thế gian kẻ dùng pháp phải bái thỉnh Tam Thanh, người chế pháp phải là người anh linh vì cần tập trung tinh thần, trời trong, đất yên và người phải linh ứng. Vì nếu không thế thì gặp lúc thiên tai, địa biến người làm sao an định nổi? Cho nên hạnh của pháp cứu độ quý ở tâm thần chí thành chí thiết. Tam Thanh có hợp Tứ Chính thì linh khí trời đất mới thông suốt vậy. Đạo pháp sở dĩ diệu dụng được là nhờ ở chỗ dám cả gan; lớn gan thì pháp mạnh, nhỏ gan thì pháp yếu, không gan thì pháp cũng không.

Dương Sinh: Thưa, có thể truyền được cách giúp cho có gan để sử dụng pháp chăng?

Thiên Tôn: A ha! Điều đó xin miễn. Sử dụng được gan tốt lành thì tâm tốt lành, sự giúp đỡ đó là lòng trung dạ nghĩa, gan mật lớn thì bao trùm được cả Trời và diệu pháp của nó vô biên vô tận.

Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy, tâm pháp thực tại diệu dụng vô cùng.

Thiên Tôn: Chúng sinh hiện thời không chịu bồi dưỡng tâm địa, kẻ học pháp phần lớn cống cao ngạo mạn, duy ngã độc tôn, bạn đạo có kẻ còn đố kị, ganh pháp tham của, hiếu dâm hiếu sắc chẳng chịu tuân theo pháp thức, thi hành pháp một cách bừa bãi, chuốc tà hại người, phản bội lời dạy của sư tổ. Loại người này sau khi chết ắt bị căn cứ theo lời nguyền mà chịu tội đày đọa Địa Ngục mắc lưới Trời, lưới đất chịu khổ hình, hoặc bị luân hồi qua các kiếp sâu bọ, cá tôm, gà vịt, trâu bò cùng người ngợm để nhận các nghiệp quả ác báo. Còn nếu như theo pháp một cách nghiêm chỉnh, thi hành pháp để giúp đời cứu người thì phải giữ đúng mười điều giới cấm dưới đây:

1. Không giết chóc, miệng và bao tử chớ tham.

2. Không tà dâm xâm phạm vợ người.

3. Không trộm cướp chiếm đoạt của phi nghĩa.

4. Không lừa gạt, chẳng nói lời gian dối.

5. Không say sưa, thường suy tư, lẳng lặng làm.

6. Thân quyến họ hàng chẳng ghét bỏ một ai.

7. Thấy việc thiện của người hết lòng giúp đỡ.

8. Thấy mối lo của người làm phước giúp giùm.

9. Bị người xử ác không để tâm báo thù.

10. Lòng luôn luôn lo lắng rằng chúng sinh chưa đắc đạo thì đạo của mình chưa thành.

Nếu như kiên trì giữ đúng được những điều luật răn cấm trên, người học đạo học pháp nào cũng được chứng quả thành đạo. Nay may mắn gặp kỳ phổ độ chúng sinh phải chăm lo nghe đạo, tu đạo, ngược lại nếu lỡ một dịp may, sau có hối hận thì đã muộn. Tôi đọc một bài thơ đạo để thân tặng như sau:

Thơ

Cửu u khảo đối vô nhàn nhật

Trú dạ thường văn thụ khổ thanh

Giai do tiền sinh bất niệm thiện

Tử hậu tương khiên nhập thiết thành.

Ngưu đầu bản tự vô tình giả

Ngục tốt hà năng hữu từ hành

Thiết hoàn viêm viêm sung cơ nỗi

Đồng điểu phi lai chác nhãn tình.

Oan gia trái chủ vô đầu sổ

Nhất nhất thù hoàn nghiệp báo minh

Sinh thời bất khắc thân tam bảo

Tử hậu hà năng miễn cửu u.

Nhất đọa vô minh trường dạ ngục

Thiên niên bất ngộ tử sinh do

Thiết sàng trú dạ thường như hỏa

Kiếm thụ chi điều bất thức thu.

Đề khốc chúng sinh tịnh ngạ quỷ

Oán tăng ngục tốt dữ ngưu đầu

Đao sơn lãnh lãnh thương thủ túc

Lô thán viêm viêm thảm khốc nhân.

Vạn bát thiên kiếp vô quy nhật

Túng xuất hoàn sinh cẩu trư thân

Vi nhân bất khẳng hành phương tiện

Tác quỉ hà duyên hữu thiện nhân.

Thử thị tam đồ bát nan xứ

Ưu bi khổ não hướng thùy trần

Nhất niệm ảo thân tịnh hư giả

Tứ đại ngũ thể bản phi chân.

Tam bách lục thập toái cốt tiết

Bì nhục hợp thành nùng huyết thân

Niệm niệm vô thường hằng bất trú

Triêu tịch phiền não loạn tâm thần.

Phụ mẫu thê tử quyền tương ký

Huynh đệ tỉ muội thiếu thời nhân

Nhất chiêu khí đoạn quy không khứ

Bách hài lạn hoại tổng thành trần.

Túng hữu nam nữ đầu biên khốc

Chung nan cứu bạt miễn trầm luân

Các tự khuyến tu kim nhật thiện

Thiện mạc lưu tài phó hậu nhân.

Dịch

Cõi âm phủ triền miên khảo đảo

Suốt ngày đêm ảo não thở than

Thay vì lúc sống gian tham

Chết đi ngục sắt giam cầm khổ đau.

Quỷ đầu trâu nào đâu thương xót

Quân coi tù há tốt được sao

Xích xiềng lửa đói thét gào

Chim đồng bay tới mổ vào mắt sâu.

Nợ oan gia đứng đầu sổ cái

Bao oán thù nghiệp phải trả xong

Sống không vì đạo hết lòng

Chết nào tránh khỏi mắc tròng quỷ vương.

Đọa tối tăm đêm trường tù ngục

Chịu luân hồi cả ức triệu năm

Tháng ngày giường lửa ngồi nằm

Cành cây sắc nhọn kiếm đâm rã rời.

Tiếng rên siết lũ người ma đói

Lời oán than bọn quỷ đầu trâu

Chân tay rơi rụng thảm sầu

Lửa thiêu dao chém còn đâu thân mình.

Muôn ngàn kiếp khổ hình đày đọa

Được đầu thai cũng hóa chó heo

Làm người chánh đạo chẳng theo

Tới khi thành quỷ pháp nào độ cho.

Chốn Địa Ngục nỗi lo đày đọa

Nẻo luân hồi biết tả cùng ai

Thân giả tạm sẽ xa rời

Ngũ hành tứ đại tơi bời nát tan.

Nắm xương khô tro tàn xác nọ

Mớ thịt da máu mủ thân kia

Phút giây tan tác chia lìa

Hồn đau giọt lệ đầm đìa sớm hôm.

Nghĩa đoàn tụ vợ con bố mẹ

Tình sum vầy anh chị một nhà

Sớm nao nhắm mắt cách xa

Xác thân rữa nát thành tro hóa bùn.

Dẫu con cái khóc than níu lại

Song người thân vẫn phải đọa đày

Trau dồi đạo pháp mỗi ngày

Chớ vì danh lợi tiền tài bỏ quên.

Tế Phật: Nghe lời dạy của Thiên Tôn, Dương Sinh xúc động lệ tuôn trào, người đời nếu như được nghe bài thơ đạo cảnh tỉnh thế gian này hẳn là những ai có tâm huyết sẽ rất cảm kích, theo gương đó lo tu đạo để sớm lên cõi Thiên Đàng.

Thiên Tôn: Tôi sẽ hướng dẫn nguyên linh của Dương Thiện Sinh trở về nguồn cội.

Dương Sinh: Quả nhiên chẳng còn thấy viên ngọc chiếu sáng trước mắt nữa.

Thiên Tôn: Đã có một đấng “Linh Bảo Thiên Tôn” ngụ tại tâm con, vì nguyên linh của mỗi người chính là bậc Thiên Tôn của mình, cho nên mới nói: “Muôn pháp do tâm đẻ ra” (Vạn pháp do tâm sở sanh). Muốn độ kẻ nguy nan, ắt phải tìm biện pháp giải quyết, bởi vậy pháp đã do tâm mà có, tâm chính ắt pháp chính, có thể đạt được kết quả tự phát triển đạo. Ngược lại tâm tà ắt pháp tà, chắc chắn sẽ hại người tổn đức. Người đời lần lần cầu pháp chẳng đắc pháp, cầu đạo không đạt đạo bởi vậy nói: “Đạo cao rồng cọp chầu, đức nặng quỷ thần phục” là cách diễn tả tượng trưng cho sự đắc pháp đạt đạo. Bởi vậy ta khuyên người đời chớ nên bỏ tu đạo đức để cầu giỏi pháp thuật thần thông, như những bậc vĩ nhân chẳng hạn, mặc dù bản thân các vị đó không có pháp thuật, nhưng lúc nào cũng được thần linh gia hộ, đó chính là được pháp bảo vệ. Học đạo cũng giống hệt vậy, chỉ cần kiên tâm tu đạo, nhẫn nại chịu sự hành hạ của ma quỷ, một sớm công đức sâu dày, điển quang sung túc tự nhiên ma quỷ lánh xa, hẳn là “dẫn hỏa quy nguyên”.

Dương Sinh: Thưa, tại sao gọi là “dẫn hỏa quy nguyên”?

Thiên Tôn: Tu đạo nếu như chịu luyện hỏa khí tất nhiên khí nóng sục sôi bay thẳng lên cao, thanh nhẹ trở về nguồn cội. Còn nếu như tâm trí không kiên định, “hỏa khí” nguội ngắt, tất nhiên khí lạnh xuống thấp mà sinh ra đọa lạc. Vì muốn phổ độ chúng sinh, tôi đặc biệt lên đài giảng về kinh “Linh Bảo Định Quán” tức cuốn kinh chỉ dạy phép yên lặng để xét thấu chân tâm thiêng liêng quý báu.

LINH BẢO ĐỊNH QUÁN KINH

Phù dục tu đạo, tiên năng sả sự.

Kẻ muốn tu đạo, trước phải dứt bỏ lòng trần.

Giảng: Sửa đổi tâm tính gọi là “tu đạo”, không nhiễm trần trược gọi là “sả sự”.

Ngoại sự đa tuyệt, vô dữ ngỗ tâm.

Việc trần dứt hết, chẳng còn động tâm.

Giảng: “Ngoại sự” là việc ngoài đời tức lục trần, cần phải tránh xa.

Lục trần gồm: sắc, thanh (tiếng), hương, vị, xúc (đụng chạm), pháp (phép). Không được nhiễm sáu thứ nói trên gọi là “đa tuyệt” (dứt sạch). Quên được tâm ở trong và cảnh ở ngoài gọi là “Vô dữ ngỗ tâm” tức không để cho tâm ngang ngược.

Nhiên hậu an tọa, nội quán tâm khởi.

Rồi sau mới ngồi yên xét thấu chân tâm.

Giảng: Các nỗi buồn phiền đã hết ngồi mới được yên. Nếu thấy một ý niệm dấy lên ắt phải lo trừ diệt ngay để cho tâm được hoàn toàn yên tịnh. Tâm trí huệ bừng sáng trong nội giới gọi là “nội quán” tức xét thấu chân tâm. Ý niệm chưa diệt trừ được hết gọi là “tâm khởi” tức tâm dấy động. Ý niệm trước dấy lên, cảm giác sau theo liền, do đó nếu diệt được tâm, ắt cảm giác mất ngay nên gọi là “trừ diệt”. Phàm tâm không dấy là “an”, cảm tính không động là “tĩnh”, do đó gọi là an tĩnh.

Kỳ thứ hữu tham trước, phù du, loạn tưởng diệc tận diệt trừ.

Kế đến có tham lam, trôi nổi, nghĩ xằng thảy diệt trừ hết.

Giảng: Tâm không dấy động, vọng niệm đã mất, vọng tưởng không sinh, không còn gì để mà tham nữa gọi là diệt trừ.

Trú dạ cầm hành, tu du bất thế.

Đêm ngày chăm lo công phu, phút giây không ngừng nghỉ.

Giảng: Lời nói ban ngày trong, ban đêm đục, trong đục cả hai không còn, đêm ngày lo tu không có gián đoạn, nên gọi là “bất thế” tức không bỏ.

Duy diệt động tâm, bất diệt chiếu tâm.

Chỉ trừ tâm động, không trừ tâm sáng.

Giảng: Nghĩ xằng phân biệt nọ kia là động tâm, nếu thức tâm đuổi được nó đi gọi là “diệt” tức dẹp bỏ. Tâm trí huệ luôn luôn chiếu sáng không chút gián đoạn nên gọi là “bất diệt chiếu tâm” tức tâm chiếu sáng đời đời.

Đản ngưng không tâm, bất ngưng trụ tâm.

Chỉ chuyên chú tâm không chẳng chuyên chú tâm trụ.

Giảng: “Ngưng” có nghĩa là chuyên chú, tâm chẳng dấy động gọi là “không tâm” tức tâm trống rỗng. Không chấp trước bất cứ điều gì gọi là “bất ngưng trụ tâm” tức không chuyên chú tâm trụ.

Bất y nhất pháp, nhi tâm thường trụ.

Không ỷ lại vào bất cứ một pháp nào, mới mong tâm đứng vững hoài hoài.

Giảng: Nếu chỉ ôm riết một pháp là “trước tướng” tức giữ mãi cái xác chết mà bỏ mất cái hồn sống. Tâm phải không chấp pháp mới khỏi ỷ lại và tự đứng vững một mình. Hiện có mà vẫn lặng thinh coi như không có kêu là “thường trụ” tức mãi mãi còn đó.

Nhiên tắc phàm tâm tháo cạnh, kỳ thứ sơ học tức tâm thậm nan, hoặc tức bất đắc, tạm đình hoàn thất.

Phàm tâm luôn tranh giành, kẻ mới học đạo trừ nó rất khó hoặc trừ không nổi, nhưng nếu bỏ qua coi như không có ắt nó tự mất đi.

Giảng: Tính quen phiền não tuy có thể diệt trừ, song kẻ mới học đạo sức định thần chưa có, nên trừ diệt nó rất khó. Nếu như biết tạm ngưng sự cố gắng diệt trừ nó thì tự nhiên nó mất đi.

Khứ lưu giao chiến bách thể lưu hành.

Tranh giành qua lại đẻ ra trăm cái xấu.

Giảng: Tâm mới chớm nhiễm cảnh, cảnh đã nhào tới trói buộc tâm, thành ra tâm và cảnh cùng bị nhiễm. Ý niệm tham dục và đạo đức cả hai đều khó cắt đứt, khó ruồng bỏ, nên tánh đó luôn luôn giao chiến với nhau. Tánh vọng niệm nếu như không trừ được, tự nhiên nó đẻ ra hàng trăm ngàn tánh xấu khác, nên gọi là “Bách thể lưu hành” muôn thứ tánh hoành hành.

Cửu tinh tư, phương nãi điều thực, vật dĩ tạm thu bất đắc, toại phế thiên sinh chi nghiệp.

Kiên nhẫn suy nghĩ kỹ càng mới có thể thuần thục chín chắn, chẳng thể vội vã thâu lượm kết quả để rồi ngàn muôn đời nghiệp đạo chẳng thành.

Giảng: Định được tâm không để cho nó động ắt là khế hợp được nó với chân lý thường tại. Không dứt tuyệt được ý, sự nghiệp tu đạo có cả ngàn kiếp cũng phế bỏ. Tu đạo giống như xào rau, lửa thiếu, mắm muối không nêm ắt sẽ nhạt nhẽo, sống sượng tất nhiên phải làm lại một cách cẩn thận mùi vị mới thơm ngon. Nếu như không kiên nhẫn nổi tức là tự hủy hoại muôn ngàn đời nghiệp đạo chẳng thành.

Thiểu đắc tĩnh kỷ.

Mình còn thiếu thanh tĩnh.

Giảng: Mới thanh tĩnh chưa phát được huệ cho nên gọi là “thiểu đắc tĩnh kỷ” tức mình thanh tĩnh chưa đủ mức.

Tắc ư hành lập tọa ngọa chi thời.

Vẻ uy nghi được biểu lộ vào những lúc đi đứng nằm ngồi.

Giảng: Đi, đứng, nằm, ngồi là những cử chỉ biểu lộ bốn tư thế của kẻ tu hành.

Thiệp sự chi xứ, huyên náo chi sở.

Chốn giao tiếp, nơi ồn ào.

Giảng: Sự giao tiếp biểu lộ rõ được các vẻ của tính. Mọi tâm đều dấy động gọi là chốn gây huyên náo.

Giai tác ý an.

Phải làm cho ý yên định.

Giảng: Bỏ loạn theo yên gọi là “tác ý” tức dẹp “ý” vì “ý” là thức thứ bảy hay phân biệt nghĩ ngợi. Đạt được sự hòa nhã gọi là “an” tức yên tịnh.

Hữu sự vô sự thường nhược vô tâm xứ. Xứ tĩnh xứ huyên, kỳ chí duy nhất.

Cái có cái không đều trở về cõi hư vô. Chốn yên chốn động cuối cùng hợp làm một.

Giảng: Có và không ràng rịt lẫn nhau, lặng thinh được thì cả hai đều tan biến, muôn pháp không hai duy chỉ một.

Nhược thúc tâm thái cấp, tắc hữu thành bệnh, khí phát cuồng điên, thị kỳ hậu dã.

Nếu như bó buộc tâm gắt quá ắt sinh bệnh, uất khí thành điên cuồng, đó là nguyên do.

Giảng: Tâm thiên lệch thành chấp trước nên gọi là “thúc” tức bó buộc. Tâm hướng ngoại bị hình danh sắc tướng bên ngoài lôi cuốn riết sinh điên cuồng, bởi vậy kẻ tu đạo phải thâu tâm về, không được cố chấp tính nóng nảy, nếu làm sai ắt sinh bệnh.

Tâm nhược bất động, hựu tu phóng nhiệm, khoan cấp đắc sở.

Nếu tâm bất động, phải lo thả lỏng, mau chậm đúng lúc.

Giảng: Theo định phát huệ gọi là “phóng nhiệm” tức thả lỏng. Định và huệ cùng hòa hợp gọi là đắc sở tức thấu đạt. Đạo tu tâm cần phải thâu mở tự nhiên.

Tự hằng điều thích.

Luôn luôn tự điều hợp thích nghi cùng hoàn cảnh.

Giảng: Định nhiều tức ngu, huệ lắm tức điên. Định huệ được dùng đúng mức gọi là “điều thích” tức là tự mình điều hợp sao cho thích ứng được với mọi trạng huống.

Chế nhi bất trước, phóng nhi bất động, xử huyên vô ố, thiệp sự vô não giả, thử thị chân định.

Gò bó mà không trói buộc, buông thả mà không động loạn, ồn ào mà không đáng ghét, phiền phức mà không chán nản, đó là chân định.

Giảng: Vắng lặng mà vẫn tỏa sáng, tỏa sáng mà vẫn vắng lặng, không dùng mà dùng luôn, dùng luôn mà không dùng tức là tới được ngọn nguồn của sự vắng lặng, đó mới là tính định chân thực.

Bất dĩ thiệp sự vô não, cố cầu đa sự. Bất dĩ xử huyên ố, cưỡng cầu tựu huyên.

Không khiến được sự giao tiếp vui vẻ nên sinh lắm chuyện, vì muốn một cách gượng ép nên sinh rối rắm.

Giảng: Thói quen trần trược phải luôn luôn chế ngự nó, không được thả lỏng khiến sinh ra phiền phức.

Dĩ vô sự vi chân trạch, hữu sự vi ứng tích.

Lấy sự không phiền toái làm nơi trú ngụ đích thực, gặp trở ngại phải giải quyết một cách êm xuôi.

Giảng: Thấy được bản tính hư không vắng lặng mới hết ồn ào phiền toái, và chỉ có nơi đó mới là căn nhà đích thực. Trí huệ sử dụng được hết mức thì gặp trở ngại nào cũng đều qua khỏi nên gọi là “ứng tích” tức ứng hợp đúng cách.

Nhược thủy kính chi vi giám, tắc tùy vật nhi hiện hình.

Nếu lấy gương nước để soi ắt mọi vật đều hiện rõ.

Giảng: Bản tâm vắng lặng trong như gương nước, phản chiếu không cản trở, muôn vật đều lộ rõ gọi là hiện hình.

Thiên xảo phương tiện, duy năng nhập định.

Mọi phương cách muốn giỏi chỉ nhập định mới có thể.

Giảng: Muôn pháp vốn trống rỗng, vắng lặng không chút lay động nên gọi là nhập định.

Huệ phát trì tốc tắc bất do nhân, vật lệnh định trung cấp cấp cầu huệ, cấp tắc thương tính, thương tắc vô huệ.

Huệ phát mau lẹ ắt chẳng bởi người, trong khi “định” chớ gấp gáp mong có huệ, gấp gáp ắt làm thương tổn tới “tính”, thương tổn ắt không có huệ.

Giảng: Muốn biết rõ một cách gấp gáp chân định liền mất, ham liên lụy các hình tướng tâm tính bị thương tổn, nên nói “vô huệ” tức không có trí huệ. Do đó phải thể hiện đạo một cách tự nhiên, đạo mới tự sống còn vậy.

Nhược định bất cầu huệ, nhi huệ tự sinh, thử danh chân huệ.

Nếu như “định” mà không cầu huệ thì huệ mới sinh, đó gọi là chân huệ.

Giảng: Tâm vốn vắng lặng diệu dụng vô cùng, nên rất dễ phát sinh chân trí huệ.

Huệ nhi bất dụng, thực trí giả ngu.

Có huệ mà không dùng tới, thực biết rõ mà như dốt.

Giảng: hiểu được “vô phân biệt” tức không so đo nên gọi là “bất dụng” tức không dùng tới; ẩn giấu tài năng nên gọi là “nhược ngu” tức coi giống như đần. Kẻ tu đạo phải đạt tới mức đại trí mà giống như ngu đần có thể đếm được.

Ích tư định huệ, song mỹ vô cực.

Định huệ gia tăng cùng đẹp vô vàn.

Giảng: Im lìm và sáng tỏ cùng hòa hợp lay động và tĩnh mịch đều giống nhau cho nên nói “song mỹ vô cực” tức cùng đẹp muôn vàn.

Nhược định trung niệm tưởng, đa cảm chúng tà, yêu tinh bách mị, tùy tâm ứng kiến.

Nếu như trong lúc định còn nghĩ ngợi vẩn vơ, quyến luyến tà khí, vấn vương trăm mối, yêu ma sẽ theo đó mà xuất hiện liền.

Giảng: Nếu như đem tâm cầu hình tướng, các hình tướng liền ứng hiện, tà ma thảy đều giành nhau tới nhiễu loạn.

Sở kiến Thiên Tôn, chư Tiên, chân nhân thị kì tường dã.

Được thấy Thiên Tôn, chư Tiên, chân nhân thì là điềm tốt lành vậy.

Giảng: Nếu như thấy các đấng Thiên Tôn, Tiên chân, Thần tướng xuất hiện tuy là điềm tốt lành song không được hí hửng mon men tới gần.

Duy lịnh định tâm chi thượng, khoát nhiên vô phú. Định tâm chi hạ, khoáng nhiên vô cơ.

Trước khi định phải làm sao cho tâm trống vắng không gì che phủ. Sau khi định, tâm rỗng rang không gì ngăn cản.

Giảng: Ý niệm trước không sinh gọi là “vô phú” tức không nảy nở, ý niệm sau không dấy gọi là “vô cơ” tức không mầm mống.

Cựu nghiệp nhật tiêu, tân nghiệp bất tạo.

Nghiệp cũ ngày một tiêu tan, nghiệp mới chẳng gây thêm.

Giảng: Thói tật kiếp trước đều diệt trừ được hết gọi là nghiệp cũ ngày một tiêu tan. Tâm không còn động nên gọi là nghiệp mới không gây.

Vô sở quái ngại, huýnh thoát trần lung.

Không còn chỗ trở ngại, thoát xa cái lồng trần thế.

Giảng: Nhất quyết không nhiễm nên nói là không còn chỗ trở ngại. Cởi gỡ mọi trói buộc nên gọi là thoát xa cái lồng trần thế giam giữ.

Hành nhi cửu chi, tự nhiên đắc đạo.

Chịu khó thực hành những điều vừa nói trên lâu tự nhiên đắc đạo.

Giảng: Không ngừng để trí theo dõi cùng quyết tâm thực hành những điều đã chỉ dẫn gọi là “hành nhi cửu chi”. Đúng lẽ hợp chân lý gọi là “đắc đạo”.

Phù đắc đạo chi nhân, phàm hữu thất hầu.

Phàm những kẻ đắc đạo tất có được bảy điểm như sau:

Giảng: Phàm những kẻ đắc đạo, tâm lộ rõ bảy điểm tượng trưng như sau:

  1. Giả tâm đắc định, dị giác chư trần lậu.

Kẻ tâm đạt định dễ thấy được các tính trần hiện ra.

Giảng: Tâm đạt thanh tĩnh, thấy được hết các ý nghĩ phàm tục.

  1. Giả túc tật phổ tiêu, thân tâm khinh sảng.

Kẻ trừ hết những thói tật kiếp trước, thân tâm nhẹ nhõm sảng khoái.

Giảng: Chân khí thanh nhẹ được như chân khí của bào thai còn nằm trong bụng mẹ, tất cả những tật xấu vô phương sửa chữa từ trước tới giờ thảy đều diệt trọn, tâm đạo hợp chân lý, thân mình nhẹ nhõm không già.

  1. Giả điền yểu tổn, hoàn niên phục mệnh.

Kẻ tự bồi bổ để khỏi chết sớm, sẽ hồi sinh trẻ lại.

Giảng: Xương cứng cáp tủy tràn đầy là “điền bổ yểu tổn”. Giữ gìn dung nhan khiến cho khỏi già nua gọi là “hoàn niên phục mệnh”.

  1. Giả diên số vạn tuế, danh viết tiên nhân.

Kẻ số mạng dài cả mười ngàn năm gọi là người Tiên.

Giảng: Sống lâu không chết, số mệnh kéo dài cả vạn năm, tên được ghi vào sổ Tiên nên gọi là “Tiên nhân” tức người cõi Tiên.

  1. Giả luyện hình vi khí, danh viết chân nhân.

Kẻ luyện hình chất thành khí lực gọi là “chân nhân” tức người thành đạo.

Giảng: Đạt được nguyên khí ban đầu gọi là “luyện hình vi khí” tức luyện hình chất thành khí lực. Tính tình chân chính vô vi gọi là “chân nhân” tức người đắc đạo.

  1. Giả luyện khí thành Thần, danh viết Thần nhân.

Kẻ luyện khí thành Thần gọi là “Thần nhân” tức người đạt đạo.

Giảng: Chân khí thần thông, âm dương không thể đo lường, nên gọi là “Thần nhân” tức người thông suốt đạo.

  1. Giả luyện thần hợp đạo, danh viết chí nhân.

Kẻ luyện thần hợp làm một với đạo gọi là “chí nhân” tức người thành đạo.

Giảng: Tinh thần chân chính hòa hợp được với đạo gọi là “chí nhân” tức người đắc đạo, còn gọi là Kim Tiên, Như Lai.

Kỳ ư giám lực, tùy hậu ích minh.

Sức đạo soi càng mạnh, hỏa khí càng sáng rỡ.

Giảng: Cái sức soi rọi kêu là “giám lực” tức chiếu sáng hoài không dứt. Sự sáng gia tăng gọi là “ích minh” tức sáng mãi không ngừng. Tóm lại sức đạo càng mạnh, hỏa khí càng sáng rỡ vậy.

Đắc chí đạo thành, huệ nãi viên bị.

Tu tới mức thành đạo, trí huệ ắt tròn đầy.

Giảng: Nếu như bổn tính đạt đạo, trí huệ sáng sủa tròn đầy, muôn pháp đều thông.

Nhược nãi cửu học định tâm, thân vô nhất hậu, xúc linh uế chất, sắc tạ phương không, tự vân huệ giác, hựu xưng thành đạo giả, cầu đạo chi lý, thực sở vị nhiên.

Nếu như học định tâm đã lâu mà không có được một chút thanh điển, tuổi tác thêm cao, thể chất suy nhược, sắc diện phai tàn mà còn tự cho là mình mở huệ giác cùng đắc đạo thì quả thực chẳng hợp lý chút nào.

Giảng: Thần sáng suốt hợp với lẽ đạo ắt đạt được chân lý, tâm cảm thấy không còn thân xác, xa rời sống chết. Kinh Tây Thăng (về Tây Trúc tức cõi Phật) có nói: “Nếu như quên mất gốc rễ sinh thành làm sao có thể biết cội nguồn lý đạo”? Bởi vậy kẻ học đạo mãi mà chẳng thấy có được chút thanh điển hẳn là công lực chưa tới mức, sự sáng đã mất tiêu, tuổi tác thêm cao, thân thể suy nhược còn tự cho là mình mở huệ và đắc đạo thì quả thực chẳng thể có được. Bởi vậy phải nắm lấy thời gian, dũng mãnh tinh tiến.

Thơ

Trí khởi sinh u cảnh

Hỏa phát sinh ư duyên

Các cụ chân chủng tính

Thừa lưu thất đạo nguyên

Khởi tâm dục tức tri

Tâm khởi tri cánh phiền

Liễu tri tính bản không

Tri tắc chúng diệu môn.

Dịch

Trí sinh bởi tại cảnh

Lửa bốc lại do duyên

Khắp chốn tính gieo giống

Tràn lan đạo mất nguồn

Động tâm ắt muốn biết

Tâm động biết thêm phiền

Rõ đặng tính không thực

Hiểu rành cửa diệu huyền.

Dương Sinh: Cúi đầu lạy tạ đức Thiên Tôn đã ân ban kinh báu, tai nghe chân kinh nếu như những chỗ trí hiểu nổi tâm thần rất thanh tĩnh sảng khoái. Chúng sinh dưới gầm Trời từ nay lại có thêm một cuốn chân kinh để có thể làm tấm gương soi sáng chung.

Thiên Tôn: Mong những ai theo học đạo trong thiên hạ đều có thể học kinh “Định Quán” này. Những kẻ học tập thiền định cần phải tụng niệm để có thể tự nhập định thông chân lý, nếu như có điều không thể bàn bạc chứng nghiệm nổi cũng đừng nên khinh thường. Tôi lại dẫn Dương Thiện Sinh tới thăm điện Linh Tu nghe Linh Bảo Cao Chân thuyết pháp.

Dương Sinh: Thưa hay quá. Cảm tạ sự hướng dẫn của đức Thiên Tôn. Điện Linh Tu lớn mênh mông, không vương mùi tục lụy, có rất nhiều bậc chân tu đạo cao đức rộng, vị nào vị nấy toàn thân hào quang tỏa chiếu sáng ngời, nét mặt đầy vẻ từ bi ân đức. Xin thỉnh vấn bậc cao chân, không rõ Ngài đã tu luyện cách nào mà ngày nay đạt được quả vị này?

Huyền Linh Kim Tiên: Lành thay, tôi thành đạo đã được hơn trăm năm rồi, vốn sinh trưởng tại Tứ Xuyên, song thân lại qua đời từ thuở tôi còn thơ ấu, cho nên phải lang thang khắp chốn xin ăn, song lòng dạ không tham lam, chỉ mới lưng lửng bụng đã ngưng. Có một bữa nằm nghỉ bên lề đường, đại sư Mông Thánh Đức thâu nạp tôi làm đệ tử, truyền đạo ban pháp, trải quá mười năm khổ luyện, gặp bao phen ma quỷ thử thách mà vẫn không thối chí nên mới đạt được thành quả như bữa nay.

Dương Sinh: Thưa Ngài có thể tường thuật lại quá trình tu đạo của Ngài để làm gương cho thế nhân noi theo không?

Kim Tiên: Việc hồng trần tôi chẳng còn thắc mắc, nên thiết nghĩ không cần bàn tới làm chi.

Thiên Tôn: Để độ người cứu đời, mong Kim Tiên cứ bày tỏ.

Kim Tiên: Thưa cũng được, không phải tôi thiếu lòng từ bi, song người đời khó độ. Nhớ lại quá khứ tu đạo của tôi thực là gian nan vất vả, chịu đủ mùi khổ cực đắng cay, uống nước lạnh, ngủ giường tre, khi tham thiền vận khí, nhập định xuất thần, trải hàng tháng hôn mê, bệnh mỗi ngày một tăng chứ không thuyên giảm, mình mẩy ghẻ lở cùi hủi, bị thầy đuổi ra khỏi cửa, cơ thể suy nhược nhưng chí đạo vẫn vững bền. Sau, thầy ban linh đơn, uống vào, những chỗ lở loét ăn da non đóng vẩy, khỏi dứt bệnh, khỏe khoắn như xưa. Có một lần sử dụng thần lực chữa bệnh, bệnh nhân mỗi ngày một đông, có cả hàng ngàn người xin chữa bệnh, quan phủ cho là tôi dùng bùa ngải mê hoặc tụ tập dân chúng liền bắt tôi bỏ ngục. Ở trong ngục tôi liền tọa thiền nhập định và đã thấy được rằng đó là nghiệp báo của nhiều kiếp trước tích tụ, để tránh khỏi bị tù tội tại chốn âm ti sau này ắt phải nhờ gông cùm thế gian giải trừ, cho nên ở trong ngục không những lòng tôi chẳng chút oán hận, mà còn tĩnh tâm sám hối để mong được giải nghiệp, lấy việc tu hành để lập công chuộc tội. Sau nửa năm điều tra xong, thấy tôi không có tội liền thả tôi ra.

Một hôm vào buổi chiều trên đường về gặp một thiếu phụ nhan sắc tuyệt vời chắn đường tự nguyện vái lạy, tôn tôi làm thầy để cầu âm dương song tu, những lời nói ra đều là những lời dâm đãng thiết tha van nài, cử chỉ cực kỳ khiêu khích sự động tình, xác thân quá khiêu gợi dễ làm sa ngã lòng người. Tôi liền nghiêm giọng cự tuyệt, thấy tôi đứng yên không nhúc nhích, nàng ôm chầm lấy vuốt ve mơn trớn, nhưng tôi vẫn kiên định được đạo tâm. Cuối cùng nhắm không thể quyến rũ nổi tôi, nàng mới bỏ đi. Sau này tôi được rõ, nàng chính là ma nữ chuyên đem nhan sắc để thử lòng dạ kẻ tu hành. Quả thực là may mắn, vượt ải mà thoát nổi cảnh ngụp lặn trong biển tình ái ân dục lạc, cho nên kẻ tu đạo phải rất thận trọng trong vấn đề này, nếu gặp cảnh ngộ tương tự, phải nên tâm niệm ngay rằng xác thân huyền ảo, phấn trắng son hồng trang điểm đẹp đẽ đều cốt để làm mờ mắt mê đắm tâm hồn, quả là dao sắc giết người.

Thơ

Tu tâm tiên tác như thị quán

Sắc tướng giai ảo hữu hà tham

Tứ đại giả hợp vô thường hạn

Khổ khổ liên thiên xuất thế nan.

Dịch

Tu tâm phải hiểu rõ căn nguyên

Chớ có say mê cảnh hão huyền

Thân xác nay còn mai đã mất

Chán đời khổ ải muốn thành Tiên.

Chẳng đáng sợ lắm sao! Phàm những kẻ tu đạo ắt gặp nhiều hoạn nạn, vả lại để nghiệp chướng ba kiếp tiêu tan, cho nên ta phải sẵn sàng hân hoan chấp nhận để cho yêu ma khảo đảo. Khuyên người đời tu đạo, gặp nạn ma hành ốm đau khổ sở, hoặc thân thể, cửa nhà đổi thay tan nát, chớ có nản lòng thối chí, một sớm ngã gục ắt là ma thắng đạo bại vậy. Tôi tu tới mức tiêu trừ được nghiệp chướng, phát hiện được tâm linh nguồn cội, thoát xác bay thẳng lên cõi Đại La Tiên Cảnh, muôn kiếp sống tiêu dao, cùng các Kim Tiên trao đổi ánh hào quang của đạo, vĩnh viễn thoát vòng luân hồi.

Tế Phật: Vì thời giờ có hạn, thầy trò tôi phải trở lại Thánh Hiền Đường. Cảm tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Kim Tiên đã ban ân chỉ giáo.

Thiên Tôn: Tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

Dương Sinh: Lạy tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Kim Tiên, xin cáo từ.

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

Hết cuốn 5ABC - ID# 19870072Q2


----
vovilibrary.net >>refresh...