19871007Q1
TV VĨ KIÊN, KHÓA 7: THỨC TÂM
THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG “THIÊN ĐÀNG DU KÝ”
Ngày 08/10/1987
Cuốn 4AB
Mp3.1
Bạn đạo1: Kính chào Thầy! Hôm nay là ngày thứ 4, chúng con xin Thầy tiếp tục thuyết giảng Thiên Đàng Du Ký.
Đức Thầy: Đêm hôm ngủ có ngon không? Có buồn không? Có cảm thấy có phần sung sướng không?
Bạn đạo: Dạ có!
Đức Thầy: Tại sao có sự cảm thấy sung sướng? Thấy bản năng được hồi sinh! Thấy không còn bơ vơ, không còn đau khổ, có trên có dưới, có sự hòa đồng nó đang nung nấu và ôm ấp tâm hồn. Thấy không? Với cái cảnh này, thế gian có mấy chỗ? Thì phải nhìn ra trên bình diện nhân loại, số người này có phước nhiều hơn, thấy rõ chưa? Vui mà không biết làm sao vui, không có vận dụng cái khả năng mình để hiểu cái giá trị của cái vui đó, thành ra mình cứ nói vui mà không biết sao vui! Tôi không có chèn ép ngũ tạng tôi nữa. Tôi không có uy hiếp tôi nữa; có sao ăn nấy cho nó ấm một chút.
- Mà cái gì tôi ăn nhiều nhứt?
- Tôi ăn toàn là cơm tinh thần, cởi mở, dẫn tiến phần hồn từ cõi này tới cõi nọ; đem tôi trở về với chỗ thức tâm chánh giác trong mấy ngày học hỏi trên đường đi tầm đạo, trên đường truy tầm chân lý mà để đả phá tất cả những sự ngại nghi trong nội tâm, nội thức.
- Khi ta vận dụng sự sáng suốt và dẹp bỏ sự ngại nghi trong tâm thức thì ta thấy gì?
- Thấy rõ vô quái ngại.
Bây giờ mọi người sống sao cũng được, thấy luật rồi, sống trong luật rồi. Cái luật tự nhiên và cái luật siêu nhiên, hai cái nó hòa hợp để cho tâm thức được cảm hóa, hiểu Địa Ngục là đâu, Thiên Đàng là đâu!
- Tại sao những người giải thoát lại vận dụng đủ thứ để đem cho những người chưa giải thoát biết đường đi; mà thấy rõ cái đường đi nó nằm ở đâu?
- Nó nằm ngay trong tâm!
- Tâm ở đâu bây giờ mà thấy? Làm sao tìm ra cái tâm?
Cho nên người tu đạo, cứ tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời; bất ngờ mới thấy cái tâm tôi. Tu hoài, tu mãi, kiên trì qua nhịn nhục, qua thử thách rồi từ đó nó mới bộc lộ cái chơn tâm, bản tánh nó hồn nhiên. Khi nó gặp người tai nạn, nó chỉ biết cứu không mà nó không biết cái bản thân của nó. Đó là tâm nó rồi. Thì chúng ta ngồi đây học đạo, thấy Thầy giảng, thấy cha giảng, toàn là cái gì? Có phải suy tư để giảng không? Không! Luôn luôn với cái tâm hồn nhiên hòa với siêu nhiên tận độ chúng sanh.
Trong lúc đó, tất cả những người ở dưới ngồi thấy sung sướng: “Tôi cảm nhận sự thương yêu tôi đang ôm ấp trong lòng, sự hòa ái tương thân là một; tôi thấy đường đi, mà tôi phải giữ lấy tôi đi; giữ lấy cái tâm, tôi đi. Mà từ khi tôi bước vào cái tâm rồi thì tôi bỏ tất cả những cái chuyện động loạn ở bên ngoài tôi mới thấy tâm, là bất ngờ trong giây phút đó. Nhà cháy, tôi nhảy tôi cứu người ta. Tuy tôi không có phương tiện mà tôi vẫn cứu.
Thì đây là cũng như nhà cháy, Trời Phật xuống cứu ta, thì ta phải nhận cái sự hồn nhiên tự tại đó mà để chúng ta tiến thì mới thấy cái tâm. Tâm ở các nơi. Tâm ở trong, tâm ở ngoài, lúc nào cũng sẵn sàng, chớ cái tâm không phải tính; tính là không có tâm. Tâm không bao giờ tính, rồi mới thấy đó là tâm từ bi. Rồi kết luận nó là: Từ bi là sức mạnh.
Như tôi đã thường nói: Nhà cháy, một người đàn bà có thể ôm cái tủ sắt chạy tuốt ra ngoài đường, vì tự nhiên có sức mạnh, vận dụng sức mạnh và thấy cái của đó là quý nhứt, ôm chạy.
- Mà ngày hôm nay chúng ta thấy cái tâm chúng ta là quý nhứt, chúng ta làm thế nào?
- Phải hồn nhiên trở về với chơn tâm, ngự hẳn trong tâm, hòa với tất cả Càn Khôn Vũ Trụ là một, huynh đệ tỉ muội là một, tất cả là một, thì nháy mắt chúng ta đã cứu người rồi.
Chúng ta không có làm ô trược bất cứ nơi nào. Nếu tâm chúng ta quy nhứt, ngồi đâu cũng là an lạc, ngồi đâu cũng đầy xán lạn quy nhứt. Thiên, địa, nhơn quy nhứt, tất cả vạn linh đều là một. Chúng ta đã ý thức rõ rồi, nguyên khí của trời đất nuôi dưỡng cây cỏ, thú vật, con người là một. Nếu ông trời mà cứ lo từ thứ, từ thứ là biết chừng nào mà lo được. Cho nên cái nguyên lý đó là chiếu cho vạn linh, mà vạn linh phải tự lo. Đó, bây giờ các bạn là tự lo. Cho cái cơ cấu làm việc, ăn, ngủ, ỉa, tham sân si, hỉ nộ ái ố dục, tự lo để khai mở nó. Ta biết có tâm rồi thì vạn linh cũng có tâm. Ta hướng tâm về vạn linh và tận độ vạn linh trong Tiểu Thiên Địa này thì cái tâm quy nhứt, nơi ta nó mới có, cái thức hồi sinh nó mới phục hồi dễ dãi, đầy sinh khí tương giao với cả Càn Khôn Vũ Trụ, cởi mở vô cùng. Cho nên chúng ta thấy rõ cái đường đi rồi. Cực nhọc, khổ đau, người nào cũng phải trải qua hết rồi, bây giờ chúng ta tìm con đường nhẹ nhàng.
Hôm nay ta tiếp tục đi lên Thiên Đàng lần nữa!
Bê! Cho cái kiếng đi! [mp3.1-08:48]
HỒI NĂM
LẠI DẠO CUNG THÁI THANH
NGHE THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ THUYẾT PHÁP
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 29 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1979)
Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu
Linh Sơn chỉ tại nễ tâm đầu
Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp
Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.
Phật ở Linh Sơn chớ kiếm xa
Linh Sơn ở tại đáy tim ta
Linh Sơn tháp báu người người có
Mau tới Linh Sơn tháp đó tu.
Đức Thầy giảng: [mp3.1-09:41]
Cái Linh Sơn của chúng ta ở trong cái đầu tâm, là trong cái khởi điểm tu học, thì thấy cái đầu tâm. Khi xuất ra thì chúng ta thấy tất cả bầu trời xán lạn, sao chiếu mênh mông, nhưng mà đó là tới cảnh Linh Sơn. Rồi nhiên hậu chúng ta trụ được trên trán này này, ngay chỗ này là cái Linh Sơn, mới ngồi đây thiền 24/24, đó là phần hồn ngay trung tim chơn mày. Đó! Thì có phần điển mới nói đó. Còn người tu này là tu phước mới nói là trong cái tim. Mà người tu về Vô Vi là Linh Sơn phải dụng điển khai mở được trước trán đó. Thì ngày nào chúng ta cũng ở đó, chúng ta đâu có tranh chấp. Nếu mà xuống cái con tim là gặp phải sự tranh chấp, mà ngự ngay chỗ đó là không có tranh chấp, lúc nào nó cũng mát, thanh nhẹ; ngay giữa trung tim chơn mày. Nó trên trung tim chơn mày một chút, nó ngang cái chỗ này. (Thầy chỉ giữa trán) Đây, đây, sơn đây, chữ sơn đây này, đây sơn này... Đó, đây là núi này, cái Linh Sơn nằm ở chỗ đây.
Cho nên tại sao nhiều khi các bạn hỏi tôi cái gì thì tôi ngồi đó và tôi trả lời liền, tôi không phải vận dụng ở dưới này để trả lời. Không! Đó là trì trệ, tu mà gom điển rồi thì ở Linh Sơn làm việc, hỏi là đáp liền, phóng điển từ bi, từ quang phóng liền tức khắc.
Cho nên các bạn đến với tôi, nhiều việc các bạn muốn hỏi lắm, nhưng mà gặp rồi, ngồi xuống, nhìn mặt cái nó quên hết - chiếu thẳng vô cái Linh Sơn của các bạn, rồi tự nhiên nó được thanh lọc thay vì lận đận nói hoài, nhưng mà chỉ ngồi đó một chút, hưởng rồi đi cũng đủ rồi. [mp3.1-11:45]
Tế Phật: Bài thơ đạo trên đây tin rằng nhiều người hiểu thấu được ý nghĩa sâu xa của nó, cùng chân nhận rằng nếu như miệng lưỡi chỉ ê a tụng niệm mà mong đắc đạo thì chẳng thể được nào, bởi lẽ từ khẩu tới tâm còn cách quá xa. Trong thơ nói Linh Sơn vốn là Tâm Đầu Sơn, tức ngã rẽ của nẻo lên Thiên Đường và ngả xuống Địa Ngục, các linh hồn sau khi chết phải tái đầu thai làm kiếp người, hay chịu hình phạt đọa Địa Ngục, hoặc có phước được lên Thiên Đường; hết thảy các linh hồn đó đều bắt đầu từ ngã ba này. Chúng sinh dưới gầm Trời muốn tu tâm hỏi đạo hẳn là chẳng cầu đâu xa, chỉ cần cầm mảnh gương tròn mà soi, rồi tìm hiểu cho kỹ bộ mặt thật của mình xem là đẹp đẽ hay xấu xa? Tự vấn lương tâm xem là thiện lành hay hư đốn, khi ấy chắc chắn sẽ tìm thấy Linh Sơn ở ngay chính giữa tâm ta, quả là một sớm lên non đột nhiên thấy Phật cùng tìm ra ngả lên được Thiên Đàng rồi vậy. Bữa nay ta lại hướng dẫn hồn phách thánh bút Dương Sinh dạo thăm cõi trời viết sách. Dương Sinh mau lên đài sen.
Đức Thầy giảng: [mp3.1-13:30]
Cho nên đọc ở trong này chúng ta thấy cái phương pháp công phu của Pháp Lý Vô Vi về cái Soi Hồn hay lắm, rất nhanh, mở Linh Sơn rất nhanh, giải hỏa tâm mà mở trước trán luôn. Cho nên các bạn, nhiều bạn nó ê chỗ đó là ngồi đâu thích cứ nhắm mắt, nhắm mắt, nhưng mà nó rút cái phần đó, nó mở cái phần đó ra.
Đó! Cho nên cái phương pháp công phu này nó đi nhanh hơn những cái gì trong này nói. Những cái này nói là về tu tự nhiên, tu phước mà thô! Còn cái phần Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, thì nó đi ngắn hơn, nhanh hơn. Cho nên khi các bạn nắm được cái pháp này là nhanh hơn những cái phương tu ở trong cuốn sách này. [mp3.1-14:19]
Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường...
Tế Phật: Bữa nay lại tới cung Thái Thanh để lạy mừng cùng xin thọ giáo Thái Thượng Đạo Tổ, hai thầy trò mình ngồi trên tòa sen phơi phới bay lên cõi Trời tới nơi tới chốn bình yên vô sự.
Dương Sinh: Hình như bữa nay rất nóng?
Tế Phật: Đã gần tới Nam Thiên Môn thực quá mau lẹ, đây là ranh giới của tầng đại khí nên chẳng còn không khí, và vì tốc độ bay của chúng ta quá nhanh cho nên con mới có cảm giác nóng bỏng như vậy.
Dương Sinh: Thưa, khi lên tới cõi Trời có còn không khí chăng?
Tế Phật: Con chẳng từng nghe phi hành gia lái phi thuyền vượt ra khỏi tầng khí quyển, toàn thân họ phải bọc kín, cùng mang theo bình dưỡng khí để hít thở còn không chẳng thể sống nổi. Hiện thời người trần gian còn bất lực trong việc đem thân xương thịt lên sống tại cõi Trời, cần phải tu tới mức thân trở thành kim cương mới mong thích ứng nổi, còn thân trần thế tới đây hẳn biến thành xác chết cứng đơ. Do đó hy vọng người đời nghĩ tới việc tu đạo để khi thành đạt dời được chỗ ở của mình lên chốn hư vô, có đem tâm phóng vào cõi thái hư mới có thể nhẹ nhàng tiêu dao và tồn tại ở nơi đó được. Con từng biết chỉ trong nháy mắt là lên tới mặt trăng, tư thái phơi phới sống đời hồn nhiên tự tại của các vị Tiên Phật đã chứng minh nguyên lý chỉ có khí thanh mới lên cao nổi mà thôi. Vì vậy Tiên Phật đã luyện tinh hóa khí, khí hóa thần, thần trở về hư không đại định, luyện thân xác thành thân pháp, nhìn sắc như không cho nên khi tới đây mới dễ dàng thích ứng với hoàn cảnh sống ở tại Thiên Đàng. Mong người đời ghi nhớ rõ điểm này.
Đức Thầy giảng: [mp3.1-17:00]
Cho nên, cái này là nói ra là để chứng minh cái hồn đi, cái hồn của Dương Sinh đi chớ không phải cái xác của Dương Sinh đi. Cho nên nhiều người đọc còn lầm là cái xác của Dương Sinh đi. Cái hồn, cái hồn phách, hồn phách của Dương Sinh được đi.
Dương Sinh: Thưa ân sư, Vũ Trụ tạo hóa cớ sao lại kỳ diệu đến như vậy được?
Tế Phật: Tạo hóa đã đem các tinh cầu sắp xếp có trật tự trong Vũ Trụ, cho nên cứ theo đường quỹ đạo mà vận hành, hấp lực của lòng đất sinh ra các luồng đại từ trường, từ trường phát ra sóng điện để giữ cho các tinh cầu luôn luôn vận chuyển đúng đường, không va chạm cọ xát lẫn nhau. Đó là sự sắp xếp vô cùng khéo léo và vĩ đại của đấng thần linh chủ tạo vật. Thế giới ngày nay nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ đã chế tạo được phi thuyền thám hiểm các hành tinh, có thể nói là đã đoạt mệnh trời vì giống như kẻ không tu tâm sửa tính lại được mở huệ nhãn nhìn thấu thế giới khác một cách tỏ tường. Dựa vào phương tiện của khoa học để tìm hiểu không gian, bất quá chỉ thấy được cái hình chất thấp kém bề ngoài, còn cái hồn sống cao siêu của các cõi Trời lại bất lực, vô phương tìm hiểu, chẳng khác nào kẻ nhìn mặt đại dương bao la chỉ thấy một màu xanh biếc, sâu thẳm, còn đáy biển chất chứa biết bao điều bí ẩn của trời đất thử hỏi làm sao nhìn thấy được hết?
Dương Sinh: Thưa, ân sư vừa tiết lậu những điều cực bí ẩn của Vũ Trụ, con mới được nghe lần đầu, nếu như đem công bố cho cả thế gian đều biết hẳn là ngàn đời còn mãi lưu truyền.
Tế Phật: Nói về thiên cơ thì vô cùng, những điểm tiết lộ vừa rồi chỉ mới là một chút đấy thôi, còn biết bao nhiêu điều bí ẩn khác có thể cung cấp cho người đời thấu tỏ. Hai thầy trò mải mê bàn luận lẽ đạo, thoáng giây đã tới trước cửa cung Thái Thanh. Bữa nay chốn này yên lặng vắng vẻ vô cùng, bên gốc cây, trong nhà mát nơi nơi các đạo sĩ hài đồng nét mặt ân đức từ bi đều ngồi nhắm mắt dưỡng thần, không vương tà khí, ngời sáng vẻ thiên chân.
Dương Sinh: Thưa ân sư, toàn thân các vị đó đều tỏa sáng, không rõ họ tu luyện theo pháp môn nào?
Tế Phật: Họ đang vận chuyển “huyền công” tâm rỗng tựa hư không, đó là cách sử dụng đạo hạnh tối thượng thừa, hết sức tự nhiên như viên ngọc quý không vương chút bụi trần, chỉ tỏa chiếu hào quang sáng ngời. Chúng ta không thể ở tại đây lâu, phải mau vào cung thỉnh giáo Đạo Tổ.
Dương Sinh: Thưa hay lắm, con trâu xanh một sừng thảnh thơi bên gốc cây coi vẻ rất an nhiên tự tại.
Tế Phật: Trâu này không phải là trâu phàm, vì mỗi cử chỉ đều biểu lộ phong thái chân tu. Chúng ta phải vào trong điện lắng nghe Đạo Tổ thuyết pháp để mở trí.
Dương Sinh: Thưa vâng... Ngu sinh xin cúi lạy Đạo Tổ, bữa nay theo ân sư tới đây để kính xin Đạo Tổ ban lời chỉ giáo.
Đạo Tổ: Miễn lễ, hai vị trải bao gian lao khổ cực mới tới được nơi đây, xin mời ngồi. Đạo đồng mau dâng rượu ngọc Quỳnh Tương.
Đạo Đồng: Xin tuân lệnh... Đã dâng lên, kính mời Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh dùng.
Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Tổ đã quá ưu ái và hậu đãi.
Đạo Tổ: Chớ khách sáo, hai vị bữa nay lại quá bộ tới thăm nơi này, tôi rất đỗi vui mừng. Tuy sống tiêu dao nơi cõi Trời song lòng tôi lúc nào cũng nghĩ ngợi về thế đạo và chúng sinh, thấy người đời hiện nay kẻ giữ đạo đức rất hiếm nên tôi luôn luôn ráng sức cứu độ các sinh linh trở về nguồn cội. Nay nhờ Thánh Hội do Tam Tào triệu tập đã quyết định tiết lộ phong cảnh Thiên Đường tươi sáng hầu hướng dẫn chúng sinh trở về Trời thực quả là may mắn. Tôi càng vui mừng hơn nữa khi thấy hai vị có được cái vinh dự lãnh trách nhiệm viết sách Thiên Đường Du Ký, hiện tại nhiệm vụ kể cũng khá nặng nề vì đường đi tới mục đích quá xa. Tôi tiết lậu cơ huyền vi của thiên địa tạo hóa là cốt giúp chúng sinh tỏ rõ ngả về Trời, vậy xin hứa hết lòng bày giải cùng người đời để khỏi phụ lòng Trời xanh trông cậy.
Dương Sinh: Hiện tại người đời phần lớn vật chất dư thừa nhưng tinh thần lại trống rỗng, do đó việc tu dưỡng tính tình để tâm thần được yên ổn rất là cần thiết, nhưng khổ nỗi chẳng rõ cái lý của đạo ra sao để mà tu luyện cho có kết quả. Vậy kính mong Đạo Tổ chỉ giáo cho.
Đạo Tổ: Đường lối tu đạo tuy có hàng ngàn vạn pháp môn nhưng cuối cùng không thể không nghĩ tới Thiên Đàng cực lạc. Do đó, muốn tu đạo trước phải lo hiểu rõ lẽ đạo mới mong tránh khỏi tu luyện một cách mù quáng (yêu tu đạo tiên tu liêu giải đại đạo nguyên do phương miễn manh tu hạt luyện). Tốn hao nhiều mồ hôi mà lại lầm đường lạc lối thì thật quả là đáng tiếc. Điểm quan trọng hàng đầu của việc tu đạo là phải có duyên, kẻ vô duyên chẳng thể thức tỉnh đạo tâm, không thức đạo tâm chắc chắn rớt vào cõi mênh mang mờ mịt, chẳng thể tìm được chốn nghỉ. Chưa kể cái thế vận hành của đạo mỗi thời đại lại đổi khác, kẻ không rõ được sự vận hành của Trời thì tuy có duyên song cũng vô phương đắc nổi đạo.
Đức Thầy giảng: [mp3.1-24:43]
Cho nên người ta tu cứ ôm cái cách, cái phong kiến đó tu là không có được. Phải tùy thời mà tiến, cho nên chỉ có điển mới là đi theo hợp thời được.
Giống như kẻ hỏi đường nhưng không rõ giờ xe khởi hành, tới lúc đến được trạm xe thì xe đã rời bến từ lâu. Thế mới biết tuy có duyên nhưng vì không rõ được thời vận thành ra uổng phí rất nhiều công phu mà vẫn chẳng thể đi vào đường đạo, do đó cần phải hiểu rõ vận trời để còn biết đường mà tiến thoái. Tu đạo không khó nhưng cần phải thận trọng từng bước, vì chỉ cần lơ đễnh một chút là có thể gặp hiểm họa. Kẻ đi vào đường đạo phải kỹ lưỡng từng chút, nếu như phản quy tắc, không những bị câu lưu xử tội mà còn nguy hiểm tới tính mạng. Người tu đạo tuân theo lý đạo giống như kẻ đi đường càng đi càng thêm can đảm, cuối cùng đạt mục đích hồi nào không hay; còn như phản đạo giống kẻ đi đường càng đi càng sợ hãi, chẳng thể gặp được sinh lộ mà gặp ngay tử lộ, bởi vậy người tu đạo phải hết sức thận trọng vậy.
Dương Sinh: Thưa con không được rõ tu tới cảnh giới tối cao “Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên” đạt đạo quả “Kim Tiên” là như thế nào?
Đạo Tổ: Đạo Tiên lấy Kim Tiên là cực phẩm, tức là Vô Cực Kim Tiên, tới được mức này không còn sống chết, vĩnh viễn thoát vòng luân hồi. Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên là công phu đạt tới mức tối thượng thừa của đạo gia, nếu không tu được tới mức đó hẳn là vô phương vào được cảnh giới Kim Tiên và Vòng Tròn Vô Cực. Xin tạm giảng giải ý nghĩa siêu diệu của Tam Hoa Tụ Đỉnh và Ngũ Khí Triều Nguyên như sau:
1/ Nhân hoa (hoa người): Luyện tinh hóa khí. Người vốn do sự hòa hợp của tinh mà sinh sản, cho nên tinh là chủng tử của luân hồi. Kẻ tu đạo, tâm phải lìa được “hạ tiêu” (tức đường dẫn khí nằm ở phía trên bàng quang chủ về phân biệt thanh trược, chỉ ra mà không vào). Có diệt trừ được dâm dục thì tinh mới không xuất, có quên được chuyện dâm dục thì tinh mới đầy và “hoa chì”mới nở.
2/ Địa hoa (hoa đất): Luyện khí hóa thần. Người ta sống được là nhờ ở khí, kẻ tu đạo tâm phải lìa được “trung tiêu” (tức mạch dẫn khí nằm ở lằn trong bao tử) thì không kinh không sợ, không oán không giận ắt khí hòa thuận bình yên, đạo thông suốt; trung khí đủ thì không nghĩ tới ăn, “hoa bạc” mới nở.
3/ Thiên hoa (hoa trời): Luyện thần hoàn hư. Tinh khí tuy đủ song không có thần ắt thân thể không có ánh sáng thì kể như chết cho nên thần là chủ tể. Kẻ tu đạo, tâm lìa được “thượng tiêu” (tức mạch dẫn khí nằm ở phía trên bao tử) mới không chấp trước, thần mãn túc thì không còn nghĩ tới ngủ, hồn trong lắng tỉnh táo ắt thoát xác trở về hư vô, vào cảnh giới hư không và “hoa vàng”bừng nở.
Đức Thầy giảng: [mp3.1-29:23]
Đọc đến đây chúng ta thấy rõ, làm sao, làm sao, làm sao để hiểu những cái điểm này? Làm sao để lìa được trung tiêu? À, rồi mới được tiến hóa làm sao? Cho nên chúng ta đã nhờ cái Pháp Luân Thường Chuyển, nhờ cái thanh khí nó chuyển giải lần lần, lần lần lần lên. Rồi trước kia các bạn ham mê cái này, ham mê cái kia, rồi mà làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi tự nó rời lần lần. Ngay như cái tánh ham mê nó cũng bớt rồi. Thì cái dục tính, cái dâm tánh nó bớt thì cái dục nó không còn.
Cứ làm Pháp Luân Thường Chuyển lần lần, lần lần nó rời đi, người ta rời đi hồi nào các bạn không hay. Rồi các bạn sống quen với vậy thì các bạn không có cái gì mà bỡ ngỡ trước cái tình dục, mà trước cái sự quyến rũ hết thảy.
Cho nên cái Pháp Luân Thường Chuyển nó đã dẫn tiến các bạn, và đọc vô trong cái cuốn sách này để chứng minh cho các bạn thấy rằng con người có khả năng làm như vậy bằng một cách tu học, hướng thiện. Nhưng mà chúng ta vận dụng phần nguyên khí của Trời Đất để hỗ trợ cho chúng ta đạt đạo, người ta kêu bằng đốn ngộ, đi ngắn và để tiến tới.
Mà không hành lại chế pháp, sửa pháp thì tu suốt đời không có đến đâu hết thảy. Cho nên nhiều khi các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển nhiều rồi, các bạn tới cái miếng ăn các bạn cũng không cần thiết nữa, thấy ăn chút chơi vậy thôi, cho nó ấm no chớ để cái bao tử nó khỏi cọ xát, chớ kỳ thật không phải là thích ăn và tham ăn nữa, không có vụ đó. Còn thích ăn, còn tham ăn đối với Vô Vi chứng minh là cái người đó chưa đạt một cái gì ở trong nội thức hết thảy. Bây giờ có dùng lý đạo nói cũng chỉ vá víu ở bên ngoài mà thôi, sự thật khả năng sáng suốt nó không có. [mp3.1-31:10]
1/ Tâm (tim): Chứa thần, hậu thiên là thần thức, tiên thiên là “lễ” (phép tắc) không buồn thương ắt thần định là Xích đế (vua đỏ hay lửa) ở phương Nam vì hỏa khí triều nguyên.
Đức Thầy giảng: Tạng Tâm.
2/ Can (gan): Chứa hồn, hậu thiên là du hồn, tiên thiên là “nhân” (lòng thương), không vui sướng ắt thần định là Thanh đế (vua xanh) ở phương Đông vì mộc khí triều nguyên.
Đức Thầy giảng:
Can là thuộc về bên cây, nó là cái màu xanh. [mp3.1-31:57]
3/ Tì (lá lách): Chứa ý, hậu thiên là vong ý (quên ý tưởng) tiên thiên là “tín” (tin tưởng), không tham dục ắt ý định là trung ương hoàng đế vì thổ khí triều nguyên.
4/ Phế (phổi): Chứa phách, hậu thiên là quỷ phách, tiên thiên là nghĩa, không giận ắt phách định là Bạch đế ở phương Tây vì kim khí triều nguyên.
Đức Thầy giảng:
Cho nên trong này chúng ta: Tâm là thuộc về hỏa này. Can thuộc về mộc này. Tỳ thuộc về thổ này. Đó! Phổi thuộc về kim. [mp3.1-32:48]
Đức Thầy giảng:
Đó! Cái tạng nào nó cũng có cái khí nó đưa lên mà nó dẫn tiến về tâm linh.
Trên đây là cái lẽ Tam Hoa Tụ Đỉnh và Ngũ Khí Triều Nguyên. Nói khác đi, người tu đạo thì ngũ hành trở về ngũ lão, tam hoa hóa tam thanh, quy hoàn bản thể Vô Cực…
Đức Thầy giảng:
Cho nên người tu bên Vô Vi làm Pháp Luân Thường Chuyển không thả lỏng nhưng mà rốt cuộc ban đầu mình ép xuống, đem lên, rồi tự nhiên nó trở về với tự nhiên là nó thả lỏng, nó hòa với bên trên rồi. “Tam hoa hóa tam thanh quy hoàn bản thể Vô Cực”: Lúc đó là cảm thấy cái tâm nó nhẹ nhàng rồi. [mp3.1-33:46]
… đạt cứu cánh viên thông. Tu pháp quả không khó, giữ tinh, khí, thần, tôn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, không đau buồn, vui sướng, dâm dục, giận hờn, ắt bản tính tự tại thành tựu được quả vị Kim Tiên. Do đó mới nói người ta có thể tu tâm dưỡng tính để thân tâm mình không còn một chút khuyết điểm, có thể tự do qua lại ở chốn thế gian mặc dù có muôn ngàn luật lệ đặt ra vẫn không trói buộc được mình, tự nhiên siêu thoát ba cõi, ra khỏi ngũ hành. Đó chính là cái lý của Tam Hoa Tụ Đỉnh và Ngũ Khí Triều Nguyên. Tam Hoa Ngũ Khí là một loại thần khí thăng hoa, khi kết tụ làm một có thể rung trời chuyển đất hết sức dễ dàng, thần thánh cũng không ngăn nổi, tự nhiên thành tựu được quả vị tối cao là Đại La Kim Tiên.
Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Tổ đã khai sáng trí huệ cho ngu sinh. Thưa còn con trâu xanh ở bên ngoài cung Thái Thanh lai lịch của nó thế nào? Ngài có thể giới thiệu qua về nó được không?
Đạo Tổ: Dương Sinh muốn biết rõ lai lịch tôi có thể trình bày sơ qua vài điểm như sau: Sự tích Lão Tử cưỡi trâu xanh qua cửa ải Hàm Cốc thì tiền thân của trâu chính là Mộc Công Thanh Đế ở phương Đông hóa thành. Còn tôi hóa thân làm Lão Tử ở Á Đông, lãnh sứ mạng phổ độ chúng sinh khắp cõi này. Các nước Á Đông vốn lấy nghề nông làm nền tảng duy trì và phát triển quốc gia, vì hầu hết dùng trâu canh tác cho nên việc tôi cưỡi trâu xanh tượng trưng cho sự giúp đời. Tôi hóa làm Lão Tử truyền đạo để giáo hóa chúng sinh và đã cưỡi trâu xanh qua ải Hàm Cốc trao lại cho ông lão canh ải tên là Y Hỷ cuốn Đạo Đức Kinh gồm 5000 chữ. Rồi sau đó tôi lại hóa thân qua Ấn Độ khai mở trí huệ cho dân tộc này khiến họ thờ bò, coi bò là thánh. Đó là nguyên nhân sâu xa của sự thần hóa từ bao ngàn năm trước mà người đời giờ đây mới rõ. Nhân loại hiện thời đa số được trâu bò nuôi lớn, như sữa trẻ con bú là chất tiết ra từ cơ thể bò, vả lại lượng thực phẩm nuôi nhân loại mỗi ngày một sút giảm nên phải dùng sữa bò thay thế trong nhiều trường hợp, và cũng bởi ăn uống lâu ngày nên nhiều kẻ nhiễm tính trâu bò. Loài người rớt xuống hậu thiên sinh trưởng trên mặt đất là do trâu bò hóa kiếp cho nên không lấy làm ngạc nhiên ở điểm đạo tâm khác nhau, tính tình ngày một đổi khác. Mong rằng sau khi nghe tôi thuyết pháp sẽ đội ơn trâu bò, lần lần biết giữ đạo tâm mới không phụ việc tôi hóa thân cứu độ chúng sinh. Còn tại sao trâu lại một sừng? Đó là vì đạo của tôi có một không hai, trên trời dưới đất chỉ có mỗi đạo là độc tôn thôi.
Tế Phật: Xin cảm tạ những lời Đạo Tổ vừa chỉ giáo. Vì thời giờ eo hẹp, tôi phải đem Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường, xin bái từ.
Dương Sinh: Lạy tạ Đạo Tổ đã ban lời vàng ngọc, vì thời giờ gấp gáp, con phải theo ân sư Tế Phật trở về Thánh Hiền Đường, xin bái biệt.
Đạo Tổ: Mong hai vị còn có cơ hội trở lại nơi đây.
Tế Phật: Còn duyên còn gặp lại.
Đạo Tổ: Ra lệnh cho các đạo đồng hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
HỒI SÁU
DẠO CUNG THƯỢNG THANH
NGHE LINH BẢO THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày mồng 6 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1979)
Thiên hoa pháp vũ chấn mê trầm
Tĩnh thổ tiêu dao lạc đạo thâm
Thánh Phật tây thiên quan tự tại
Tiên chân ngọc điện thính dao cầm.
Hoa trời mưa pháp tỉnh mê lầm
Chốn vắng tiêu dao vui đạo tâm
Thánh Phật trời tây xem tự tại
Thần Tiên điện ngọc lắng nghe đàn.
Tế Phật: Người đời đều yêu hoa vì hương sắc của hoa diễm lệ nhưng tiếc một điều hoa hạ giới mau tàn. Ngược lại trên Trời hoa tiên nữ cúng dâng chư Tiên Phật bốn mùa không héo úa, tám tiết chẳng rụng rơi, mãi mãi tươi thắm sắc màu, thơm ngát nhụy hương. Người trần ai cũng thích không khí trong lành nhưng trược khí thế gian mỗi ngày một dày đặc mà vẫn phải hít thở, ngàn năm một thuở gặp mưa pháp đổ xuống, mùa Xuân bừng nở khắp nơi trên mặt đất khiến tâm hồn tươi mát, ý tưởng trong lành. Hai loại khí thanh trược quả đã phân biệt rõ ràng, cái khí thanh nhẹ bốc lên cao làm Trời, khí nặng trược đọng xuống làm đất. Mong thế nhân lo giữ gìn tinh thần sao cho thật thanh nhẹ, trừ bỏ phiền não tục tình, mới có thể siêu thăng cõi thái hư cực lạc, tránh khỏi cái ngày bị đọa chốn tối tăm. Dương Sinh chuẩn bị lên đường, bữa nay mình lại dạo xem phong cảnh Thiên Cung để “quan quang” (xem ánh sáng).
Dương Sinh: Xin tuân lệnh... Con đã sửa soạn xong, mời ân sư lên đường. Thưa ân sư vừa nhắc tới hai tiếng “quan quang” (xem ánh sáng) song con chưa lãnh hội được hết ý nghĩa, vậy kính mong ân sư giảng giải thêm để cho con được tận tường.
Tế Phật: Ha ha, con vừa nói dứt hai tiếng “quan quang” (xem ánh sáng) điện trong Thánh Hiền Đường tắt ngấm, mọi người trở thành “quan âm” (xem bóng tối) thì quả thực hàm ngụ quá nhiều ý nghĩa.
Đức Thầy giảng:
Quan Âm là dòm lại thấy cái bóng tối. “Quan” là dòm đó, chớ không phải “quang” là sáng, kêu là Quán Âm đó! [mp3.1-42:04]
Dương Sinh: Thưa ân sư, lý do tại sao?
Tế Phật: Con hỏi vậy là bởi tâm con còn động, vì Phật pháp vừa rồi tạm thời cúp điện 15 giây là cốt để mở trí cho các đệ tử của Thánh Hiền Đường nên sự kiện này ngụ ý rất sâu xa. Và mặc dù ở trên không trung thầy đã thấy rõ được các đệ tử trong Thánh Hiền Đường ngơ ngác kiếm tìm ánh sáng nên đã đốt nến soi la bàn, vì tưởng rằng soi như vậy sẽ thấy được ngọn bút giáng cơ viết gì, bởi vậy thầy gọi hành động đó là “quan quang” (coi ánh sáng). Nhưng thực ra hai tiếng đó có nghĩa là hướng tới chỗ sáng sủa để nhìn cho rõ cảnh tượng sáng tươi của đại tự nhiên. Hiện thời thế giới khoa học kỹ thuật phát đạt, gần thì trong nước, xa thì ngoài nước, khắp nơi mọi người đều lợi dụng cơ hội này để “quan quang” (coi ánh sáng), như vậy chẳng đã lìa bỏ ánh sáng của chân tâm đi tìm ánh sáng từ bên ngoài đó sao? Ha ha, những kẻ ham tới chốn ăn chơi, lao mình vào phòng tối mong tìm ánh sáng, ta đều gọi họ là những kẻ “quan âm” (tìm coi bóng tối). Người đời bây giờ chỉ mong xem ánh sáng của muôn ngàn thứ hình danh sắc tướng ở cõi nhân gian là bởi họ không biết rằng phong quang nơi cõi Trời còn đẹp đẽ tươi sáng gấp vạn lần hơn, nên chẳng nghĩ đến việc lên trên đó thưởng lãm. Bữa nay thầy lại hướng dẫn con tới cung điện nhà Trời mới chính thức là không cần dùng lửa đèn cầy soi rọi để “quan quang”.
Dương Sinh: Thưa, con quả là có phước nên mới may mắn được là khách “quan quang”.
Tế Phật: Đúng đó, sau này con còn có thể hướng dẫn muôn ngàn người tới đây, khi đó mới thật sự khám phá ra một lục địa mới cực kỳ vĩ đại.
Dương Sinh: Cảm tạ ân sư.
Tế Phật: Chúng ta mau tới Linh Sơn để tỏ Trời rõ Phật. Còn người đời cũng vậy, muốn lên được Thiên Đàng, chỉ cần có lòng tu đạo lớn ắt là được thỏa mãn vậy. Hiện thời đã tới cung Thượng Thanh tại cõi Trời, bữa nay thầy trò mình sẽ bái kiến đức Linh Bảo Thiên Tôn. Dương Sinh hãy mau chuẩn bị lạy chào ra mắt Ngài.
Dương Sinh: Xin vâng lệnh... Tới nơi này lòng con tự nhiên khoan khoái nhẹ nhàng, không còn vương chút bụi trần. Phía trước có một tòa cung điện nguy nga sừng sững trong mây, chung quanh hàng hàng lớp lớp lầu gác bao bọc, ánh vàng tỏa chiếu bốn phương. Các cung điện thảy đều phủ bạc, dát vàng, nạm ngọc khác hẳn nhà cửa chốn dương gian làm bằng gạch ngói gỗ tre; mắt nhìn, lòng hân hoan vô kể, chẳng thể nào tả hết vẻ trang nghiêm tráng lệ. Hoa trời ngào ngạt, mưa pháp thấm đượm tùng bách biếc xanh không vướng chút khổ não trần gian, hạc trắng đậu trên cây ngô đồng, cá vàng bơi dưới ao trời, phong cảnh sáng tươi kỳ ảo khiến khách lưu luyến quên về. Xin hỏi ân sư tại sao cung Thượng Thanh muôn vàn ánh hào quang lại ngời chiếu bất tuyệt thế kia?
Tế Phật: Vì đức Linh Bảo Thiên Tôn thuyết pháp để cho con hấp thụ “pháp quang” của 36 sao Thiên Cương (Bắc Đẩu) và 72 sao Địa Sát chuyên giữ nhiệm vụ vận chuyển 3000 đại thiên thế giới. Chúng ta mau vào cung lạy chào ra mắt đức Thiên Tôn.
Dương Sinh: Đạo Đồng hàng ngũ chỉnh tề hai bên giống như nghênh đón chúng ta.
Đạo Đồng: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh tới thăm, đức Thiên Tôn ban lệnh đón rước hai vị.
Dương Sinh: Vào trong thấy một vị đạo trưởng ngồi giữa chính điện, toàn thân ngời tỏa hào quang, vẻ mặt hiền từ nhân đức mỉm cười nhìn chúng tôi. Lạy chào ra mắt đức Thiên Tôn, ngu sinh phụng chỉ theo thầy dạo cõi Thiên Đường viết sách, bữa nay được tới thăm phong cảnh tiên thánh Tam Thanh, kính xin đức Thiên Tôn ban ân chỉ giáo.
Thiên Tôn: Miễn lễ... Mời ngồi, Tiên Đồng mau đem rượu ngọc Quỳnh Tương dâng hai vị.
Dương Sinh: Cảm tạ đức Thiên Tôn đã quá ban ân, lòng con thật cảm kích.
Tế Phật: Thưa bữa nay tôi hướng dẫn đồ đệ tới cung Thượng Thanh kính xin đức Thiên Tôn ban lời giáo huấn để chỉ rõ bến mê cho.
Thiên Tôn: Đúng vậy, thần và người thuộc quý Hiền Đường đã nhận chân công tác, ra sức truyền bá đạo Thái Thượng, ban bố Khổng Giáo, dạy pháp Như Lai, công cứu độ chúng sinh đã sâu dày, bữa nay lại còn lặn lội tới chốn Thượng Thanh cầu mong tôi ban truyền Linh Bảo chánh pháp thật quả là hết lòng vì đạo. Tôi ngự tại điện Tam Thanh chuyên gìn giữ đạo pháp nên thấy rõ muôn pháp ở thế gian chẳng thể vượt khỏi pháp của 36 sao Thiên Cương cùng thuật của 72 sao Địa Sát. Và tôi dám chắc trên đời chẳng một ai có thể hiểu rõ được hết pháp thuật này, vả lại hiện thời thế đạo nhân tâm sa sút, giả sử như có kẻ thông suốt được thì chắc chắn cũng sẽ đem sử dụng vào các việc bất chính. Bởi không tuân hành giới luật của Thiên Tôn nên dẫu có tu đạo đức của Thái Thượng và hành pháp thuật cứu thế của Linh Bảo chăng nữa cũng chỉ trọng đạo mà không trọng pháp. Kẻ nắm pháp thuật lần lần đi vào đường tà đạo, không chịu tu tâm sửa tính, gần đây pháp thuật bị thất truyền ở thế gian là vì tôi đã thâu hồi về cung Thái Thượng. Pháp thuật 36 sao Thiên Cương và 72 sao Địa Sát là pháp thuật bao la Vô Cực, gồm thâu các pháp về một mối cũng như phổ cập tới khắp mọi con tim. Bữa nay Dương Sinh được ban truyền tâm pháp này thì có thể đem ứng dụng trong mọi hoàn cảnh. Tôi vì muốn độ các nguyên linh về Trời nên mới đặc biệt ban pháp này, trong ba cõi đất, trời, người chỉ có đạo là độc tôn, trong sáu hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và trên dưới chỉ có pháp là không hai. Bởi con người thời nay tán tận lương tâm, chôn vùi đạo pháp nên sợ kẻ tâm thuật bất chính đem dùng để hại người cho nên tôi mới thâu hồi đạo pháp, chỉ truyền cho pháp thuật khoa học để bổ túc đạo học còn khiếm khuyết mà thôi. [Hết mp3.1- 50:52]
Mp3.2
Pháp của 36 sao Thiên Cương và thuật của 72 sao Địa Sát đại lược như sau:
1. Pháp của 36 sao Thiên Cương
Đức Thầy giảng:
Đó là 36 ngôi sao Thiên Cương, nó là ổn định như vậy, vẫn chiếu xuống thế gian bất cứ giờ phút nào đều làm những cái việc mà trong lúc cung ứng mà gặp tới 72 sao Địa Sát này là nó biến đổi liền. Nó là kêu bằng thuật của 72 sao Địa Sát. [mp3.2-02:42]
II. Thuật của 72 sao Địa Sát
Đức Thầy giảng:
Thứ nhất: Tỏ tối tăm: Đó! Nó chuyển xuống là biến hóa thành tối tăm.
Đức Thầy giảng:
Khi mà hiểu 36 ngôi sao Thiên Cương và 72 ngôi sao Địa Sát này mà chúng ta thuần chí hướng thượng thì cái bệnh hoạn trong mình nó cũng bớt. Mà nếu chúng ta không biết 36 ngôi sao Thiên Cương này mà mình hướng thượng để giữ cho nó vững, thì ôm một chiều 72 sao Địa Sát thì dễ sanh bệnh, con người dễ sanh bệnh lắm. Đó là nói về tâm linh. [mp3.2-03:23]
Đức Thầy giảng:
Các bạn che mặt trời, là ở trong nhà hoài, không đi ra ngoài cũng bệnh à, cũng là một cái pháp như vậy đó.
Đức Thầy giảng:
Thuật tính sao này bây giờ cũng còn. Ở bên Tàu cũng có những cái thuật tính sao, bây giờ cũng còn. [mp3.2-04:56]
Đức Thầy giảng: [mp3.2- 05:55]
Đó! Cho nên cái nào cũng là cái pháp thuật hết thảy. Bây giờ chúng ta đang dẹp cái khẩn cầu. Người tu thiền bây giờ đang dẹp cái khẩn cầu, không có xin cái gì hết, chỉ sửa mình để tiến hóa thôi, cũng là một cái pháp để đi tới. Cho nên cái dẹp khẩn cầu là cái có thể thấy tất cả những cái sự kích động và phản động của 72 cái pháp ở bên trên. Cho nên người tu bên Pháp lý Vô Vi là lấy cái thuật ngay thẳng để chuyển giải cái ánh quang từ bên trên xuống và tự khai thông và luân chuyển điều hòa với cả Càn Khôn Vũ Trụ thì không có sự khẩn cầu nữa. Dẹp khẩn cầu nó là đạt pháp rồi.
Đó! Cho nên người thường họ nói tôi làm ăn tôi muốn hên, này kia, tôi phải khẩn cầu. Là sao? Bởi vì ở trong không thông. Bây giờ mình dùng 72 pháp này mình đi tới chỗ dẹp khẩn cầu là phải có cái pháp. Mà cái pháp mình khứ trược lưu thanh là đâu có khẩn cầu. Mà nó lưu trược thì nó phải cầu thanh hay cầu này cầu kia, cầu thêm trược hay là cầu thêm thanh. Còn cái này mình không. Khứ trược lưu thanh thì thanh hòa thanh chỉ đi lên thôi. Đó!
Cho nên 72 pháp này là mình chỉ lấy cái thứ 72 là mình thấy tất cả những cái pháp biến chuyển, tối tăm ở đâu. Mà mình không chịu khai mở, tất cả 72 pháp mà Vô Vi chỉ có một pháp mà thấu đáo 72 pháp. Mà Vô Vi chỉ có một pháp để thấy rõ 36 sao Thiên Cương bất di bất dịch không có gì thay đổi.
Rồi nếu những người tu Vô Vi mà thiếu trung tín là bị biến thể vào 72 pháp này.
- Sao tôi tu càng ngày càng tăm tối?
- Tại tôi còn giận người ta. Tôi ôm cái pháp giận, tôi ôm cái pháp hờn, tôi ôm cái pháp hơn thua, mà tôi chưa mở được cái chơn điển hòa đồng, cái chơn linh tôi thiếu hòa đồng. [mp3.2-08:00]
Cho nên các bạn tu đây là trong mấy cái khóa này, cái khóa quan trọng nhứt của Vĩ Kiên mà từ hồi nào tới giờ chưa có, là đã học rất nhiều trong mấy ngày nay, để khai mở mình ra để tận dụng sự sáng suốt, vận dụng tất cả vận hành trong cái sự khôn ngoan khối thần kinh trung ương liên hệ với Càn Khôn Vũ Trụ.
Hổm rày các bạn là chỉ học vận dụng cái đó mà thôi, để nhận định từ lời nói này đến, từ người kia đến, từ người nọ đến, mà chúng ta vận dụng sự sáng suốt để xét coi sự thanh tịnh có không? Còn nếu mà sự thanh tịnh mất đi á, không bao giờ phán xét được cái gì hết. Muốn quy không cũng phải có cái sự sáng suốt.
- Sáng suốt là gì?
- Là thanh tịnh!
Mà muốn có thanh tịnh là phải có quân bình.
Cho nên các bạn mượn cái pháp để lập lại sự quân bình rồi đi đến sự thanh tịnh; từ thanh tịnh nó mới tỏa ra sự sáng suốt, rồi vận dụng sự sáng suốt là hỗ trợ cho vạn linh tiến hóa. Thì con đường đó là con đường giải thoát rất rõ ràng. Và 36 ngôi sao Thiên Cương, 72 sao Địa Sát này nó đã chứng minh sự vận chuyển trong con người và sự bất di bất dịch, luật Trời đã có rồi, chớ không phải bây giờ mới đặt, đã có rồi. Nhưng mà nó tùy thời, nó biến chuyển tùy thời. Là vì cái Địa Sát nó thay đổi thì nó phải biến chuyển tùy thời, còn cái luật ban chiếu thì nó luôn luôn là ban chiếu.
Cho nên chúng ta biết Ông Trờivà chúng ta đi thẳng với Ông Trờivới một tâm lành thiện và thật thì tự nhiên chúng ta đến, mà thiếu thiện, thiếu thật thì không bao giờ đến. Mà khi mà có thiện, có thật là có dũng chí rồi, có đầy đủ rồi, có bi, trí, dũng rồi. “Thật”: là bi, trí, dũng.
Tôi thật, tôi có thể qua lửa được mà lửa không đốt tôi. Còn nếu tôi sợ lửa thì chắc chắn là lửa đốt tôi. Thấy không? Tôi sợ đau, chắc chắn là tôi phải đau thêm. Sự thật tôi là không có sợ. À, phải thật thà và tôi phải thanh tịnh mới nhận định ra được. Thật thà là tự nhiên nó đi tới chỗ sáng suốt!
Nhiều người nói: “Bây giờ tôi thật thà thì tôi thua lỗ. Tụi nó đang giành ăn, tôi cũng giành một phần”. Đừng có giành, mà các bạn có. Thì nó học cái gì? Học được cái dũng, mà các bạn không có tranh chấp; rồi cũng từ cái dũng nó xây dựng tới cái trí tuệ sáng suốt, và nó mở cái lượng từ bi luôn.
Cho nên chúng sanh còn lầm là vì sợ mất, vì không thấy, chỉ có cặp mắt là chánh thôi. Con mắt mở ra được là thấy hạnh phúc, hạnh phúc ở trước mặt là cặp mắt đó thôi, chớ còn những cái chuyện mà thấy trong tâm, nó không bao giờ nó thấy được, chỉ có người tu mới thấy được, người tu đóng cửa đời mở cửa đạo mới thấy được. [mp3.2-10:57]
Chỉ có cái pháp đóng cửa đời, mở cửa đạo là cái pháp Soi Hồn này, co lưỡi răng kề răng, mà thậm chí nói chuyện cũng không có nói nữa, bớt luôn, để cho chơn thức đàm luận. Bởi vì cái nguyên linh sẵn có mà đã khai thông tâm đạo ở bên trên, không bị lường gạt nữa. Vì tôi đã hành cái pháp này là tôi đóng cửa đời, mở cửa đạo, mà các bạn lỗ tai cũng bịt mà, Soi Hồn bịt hết rồi, rồi co lưỡi răng kề răng ý tưởng, nhìn, mình nhìn ngay trung ương này mà làm sao thấy ánh sáng, nhưng mà tôi sẽ thấy ánh sáng. Ánh sáng đó là ánh sáng chơn thật và sức mạnh.
- Sức mạnh của ai?
- Của chính ta, của chơn tâm!
Cho nên cái pháp Soi Hồn, tu, ngồi nhắm mắt vậy mà nó mở. Ban đầu các bạn không thấy, thấy, đương thấy đen như vậy, thấy đen một chập cái thấy cái đen nó lớn rộng rồi, nó lớn rộng lần lần, lần lần nó đi ra… nó càng đi ra thì nó mới tụ ánh sáng. Cho nên tôi nhắm mắt, tôi thấy đen, tôi thấy bóng tối. Cái đó là tôi không muốn, nhưng mà cứ nhìn trong cái bóng tối đó, coi thử mình có quyết tâm nhìn thẳng không? Nhìn thẳng rồi, cái bóng tối đó nó sẽ lan rộng ra, rồi từ bóng tối nó đi tới về ánh sáng.
Một cái trì kỳ chí kiên nhẫn của hành giả mà thôi! Chứ đừng có nói “tôi nhắm mắt tôi không thấy Trời Phật, tôi không thấy Tiên”. Nhiều người nói: “Ờ, chu cha, tôi nhắm mắt tôi lên gặp cô Tiên xạo ít câu coi sao”. Cái đó không được! Mình đã tăm tối cộng thêm cái sự tăm tối; ham muốn là tăm tối. Mà mình trở về với bình thản, mình làm đúng luật tự nhiên, Soi Hồn, Pháp Luân, tự nhiên thơ thới.
- Tôi làm cái pháp này khứ trược lưu thanh, là thanh về đâu?
- Thanh về Trời! Nhẹ là về trời! Cái con đường giải thoát rõ ràng!
- À, tại sao tôi bịt nó lại?
- Để cho nó đụng, nó giải, nó mở.
- Rồi tại sao tôi hít vô?
- Cũng để cho nó đụng, nó giải, nó mở… nó mới thức. Thấy chưa?
Hổm rày giảng đạo lu bù, nói đủ chuyện hết, nhưng mà cũng có bao nhiêu công chuyện đó thôi! Cũng đụng nhau rồi giải, rồi thức. Phải không? Các bạn nói với cha, đụng cha, mong cha cứu, này kia kia nọ, đụng rồi cái thức.
Nói chuyện với tôi cũng vậy, cũng đụng với nhau rồi mới thức. Thì bây giờ mình đang Soi Hồn là đụng, thức, mở trong thanh tịnh. Mình đang làm Pháp Luân Thường Chuyển, đụng, thức, mở trong thanh tịnh. Khi mà các bạn làm đủ pháp rồi, các bạn ngồi yên tịnh, thanh nhàn, Nói tôi đang làm việc với Thượng Đế, tôi đang khai thông Càn Khôn Vũ Trụ, đang mở Tiểu Thiên Địa này, rồi từ từ các bạn làm thơ thới. Làm việc lớn mà! đâu phải làm việc nhỏ, đâu phải ngồi đó cầu xin Ông Trời được đâu; Ông Trời đâu có giúp, ông Phật cũng không có giúp, có duyên thì tương ngộ một chút trong giây lát thoáng qua thấy cái mặt vậy thôi, thì đó là cái duyên mà cái vía nó biến thể vậy thôi. Chứ kỳ thật là mình phải thơ thới mình mới đi tới cái thức hòa đồng. [mp3.2-14:13]
Cho nên cái pháp này là nó vi diệu vô cùng, mà nhiều người khinh cái pháp này, chính nó đã đọa nó. Nó tu một thời gian rồi nó: “Tôi không cần thiền nữa! Tôi nói chuyện siêu lý còn hơn Ông Tám nữa!”. Làm sao hơn được! Một biển chân lý mà làm sao hơn được? Có ai hơn ai đâu! Ông Tám cũng không hơn những người đó được. Mà những người đó rốt cuộc cũng không hơn Ông Tám được. Cho nên dùng cái hơn là trật rồi. Mà cho cái hay cũng là trật rồi. Làm sao mình vận dụng sáng suốt để mình thấy và mình tiến, cái đó là cái quan trọng.
- Mà cái sáng suốt làm cái gì? Làm sao để được sáng suốt?
- Cái Soi Hồn là đem tới sự sáng suốt.
Bộ óc, thần kinh của các bạn được vận dụng, khai mở, thì cái hỏa tâm nó không có tựu nữa. Hỏa tâm trược nó phải giải ra mà nó lưu cái hỏa tâm thanh, nó mới đem ra ánh sáng. Rồi các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển đầy rún đầy ngực tung lên bộ đầu, ngộp, ngộp, ngộp, ngộp… hết thở, để chi? Để vận dụng cho nó đi lên, thay vì nó ép xuống dưới nó tạo dục; vận dụng nó đi lên rồi tự nhiên các bạn không cần nói nó đi lên, cứ nói “đầy rún, đầy ngực tung lên bộ đầu” mà nó đi lên hồi nào các bạn không hay. Mà các bạn dụng ý chí nói “tôi vận dụng nó đi lên” là trật rồi đó! Thì vì sao? Sự ham muốn đi lên nó đi trước hơn cái cơ tiến của ở bên dưới, thành ra nó đi quá lố, trật lất.
Người ta dặn “đầy rún, đầy ngực tung lên bộ đầu”, cứ nói đầy rún, đầy ngực tung lên bộ đầu vậy thôi, chớ đừng có nói “tôi vận dụng tôi kéo điển” - Không! Cứ nói bây nhiêu đó đủ rồi!
Thì lắng nghe sự nhẹ nhàng của mình, hít vô đầy rún, đầy ngực, tung lên bộ đầu… thơ thới. Thì chúng ta nghiệm thấy rằng tất cả những cái nghiệp lực mà nó thúc đẩy con người trở về dục là phải cô đọng không? Mà tại sao giữa con người với con người ân ái với nhau, là cái nóng với cái nóng nó cọ xát một chập rồi cái nó trung hòa, hết, phần nào trở về phần nấy, phải đúng điển không? Là vì nó mất quân bình và chúng ta vận dụng cái Pháp Luân Thường Chuyển để cho nó trở lại quân bình, hỏi chớ cái dục đi đâu? Nó lại chuyển thức; từ cái dục chuyển thức, đem cái dục lên trên thì cái thức nó mở, nó sáng suốt, nó thấy nó yêu đời nhiều hơn. [mp3.2-16:48]
Hồi trước tôi yêu bà xã có một chút mà tạo tánh ích kỷ, mà bây giờ tôi yêu tất cả rồi tôi thấy tôi mở, tâm tôi khoan khoái, tôi thấy tôi nhàn hạ, nhìn ai tôi cũng thương yêu hết. Tôi yêu tất cả, yêu cả Càn Khôn Vũ Trụ. Đó, mới thấy tình yêu là duy nhứt, tình yêu hướng thượng là tình yêu duy nhứt. Còn tình yêu hướng hạ là tình yêu suy đồi lụn bại, ích kỷ, đút vào, chen vào trong chỗ tăm tối, tranh giành, ghen tuông. Tôi yêu cô đó, tôi phải nhứt định… tôi nghe một cái, cô đi ăn đám cưới, tôi cũng mệt rồi đó, không có muốn cổ đi đâu, đi với tôi là được. Phải không?
Càng ngày càng eo hẹp vì nó bị chôn vùi trong chỗ tăm tối. Mà càng ngày nó càng mở, nó đem cái biển yêu lên trung tim bộ đầu là yêu tất cả thì nó đâu có thấy cái gì đâu; nó thấy cô đó cũng là trên đường học yêu, tại sao nó ghen? Thấy không? Thành ra thấy anh đó cũng trên đường học yêu, thì để ảnh học chớ, có mất đâu. Bởi giới luật đang kềm sát một bên là cái xác đó, cái xác đó là luật đang theo nó, mà nó đi trật luật là nó sẽ thấy luật. Đụng rồi đau khổ nó sẽ thấy luật, mà nó đi đúng luật thì nó áp dụng được luật để nó đi lên. Thể xác nó là luật. [mp3.2-18:22]
Cho nên cái pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, đơn giản, rất đơn giản, mà làm hoài nó khai thác hoài, nó có hoài, mở hoài, khai triển hoài, đi tới đích, tự thức, ổn định tâm can, làm việc dễ dãi, thông minh, nghề nào trở về nghề đó, thực chất chớ không có lộn xộn nữa. Khi mà chúng ta hiểu rằng 36 ngôi sao Thiên Cương không thay đổi, thì chúng ta tu chúng ta cũng không thay đổi chúng ta mới điều khiển được.
Mặt đất của chúng ta là ở đâu? Ngũ tạng, hành tinh, chúng ta điều khiển nó… (nghe không rõ), hạ lệnh nó phải nghe, và không bao giờ nó được quyền nghịch chủ nhân ông, vì chủ nhân ông là Thượng Đế đã nắm cái quyền sắp đặt hết rồi. Chúng ta cho nó pháp Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển và Thiền Định là đặt luật cho nó rồi, nó không có cách gì hơn hết.
Còn tại sao người ta bị bệnh cancer? Đó, bệnh do tánh sanh: nóng, không mở được, ngũ tạng không yên, chủ nhân ông lo không tới, Thượng Đế bê bối, không lo nổi, không có pháp, chỉ nói không không có pháp, chỉ đổ thừa; lúc bệnh cái đổ thừa, tại ăn đồ chiên, tại ăn này kia kia nọ, kỳ thật tại mình, tại tánh mình. Tánh mình keo kiết, chật hẹp không cởi mở thì nó dễ sanh cái bịnh cancer, dồn cục; cứ ôm cái có mà trở nên không mà không hay, mà cứ ôm hoài, ôm hoài, ôm hoài, thì cái đó nó biến thành bệnh à.. [mp3.2-20:09]
Cancer không phải tụi nhà nghèo cancer, nhà giàu bị cancer nhiều. Ôm của, ôm garage, ôm xe cộ, ôm, mua cả cái núi chơi rồi ôm cái đó, rồi bận tâm vì đó mà không có bỏ được, rồi cái tánh nó càng ngày càng dồn cục, độc tài, tăm tối, nó không có khai mở; nó không thấy rằng của đó là của Ông Trời, mà nó, chính là của của nó. Nó chỉ nói của của nó, mà khả năng nó có chút xíu mà nó nói của đó của nó chớ không phải của Ông Trời. Thì đem nó che lấp ánh sáng rồi, nó che lấp mặt trời rồi, nó ở trong cái chỗ tăm tối rồi, thì tụi tăm tối nó mới hoành hành, nó mới cổ động thành một đảng phái ở trong đó, nó mới hoành hành, nó lật ngược chủ nhân ông, nó sanh ra cái bệnh, cái bệnh nan y càng ngày càng sưng càng to lên không có đi được, chết. Vì tánh nó không có điều hòa, thân pháp nó không có điều hòa, và nó ôm cái có trở nên không mà nó không biết, nó tưởng cái đó là có, thành ra nó phải bị bỏ xác là vậy.
Cho nên bệnh do tánh sanh, y học bây giờ chưa thấy rõ cái bệnh do tánh sanh, còn đang tìm thuốc, chớ kỳ thật là tánh sanh.
Cho nên chúng ta có một liều thuốc là niệm Nam Mô A Di Đà Phật này là một viên diên hống, viên thuốc để các bạn nấu linh dược uống hàng ngày. Hàng ngày co lưỡi, răng kề răng ý tưởng Nam Mô A Di Đà Phật, là tưởng lửa Trời, một lò lửa Trời lớn thiệt lớn để sắc thuốc cho các bạn uống. Co lưỡi răng kề răng đó là các bạn ăn cái gì? Ăn ngũ vị: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Thuốc ở thế gian nó chế cái gì? Cũng ngũ vị chế thành một viên thuốc cho các bạn uống. Thì các bạn co lưỡi răng kề răng ý niệm Nam Mô A Di Đà Phật, hướng thượng, lấy cái lò lửa Trời để sắc thuốc linh dược cho các bạn uống; tới lúc mà nuốt vô, nó mát mà nó ngọt, thanh diệu vô cùng, tâm an lạc, hạnh phúc vô cùng. Lúc đó các bạn mới thấy viên thuốc của Trời cho, mới thấy cái quyền năng của Thượng Đế, mới thấy cái sự vi diệu của cõi huyền vi đã sắp đặt mà cứu độ chúng sinh, mà chúng sinh không biết.
Mà từ bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu tỷ năm khám phá không ra có 6 chữ đó. Gặp nhau cứ Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, rồi về cái nó trưng ra hột xoàn coi, rồi nói chuyện chơi bời đồ tầm bậy tầm bạ thôi. Rồi chặp tới bữa sau gặp cũng Nam Mô A Di Đà Phật, mà không đi tới đâu hết. Còn cái này thật dụng và khai triển cái âm ba của Nam Mô A Di Đà Phật. Cái chấn động lực của Nam Mô A Di Đà Phật nó hỗ trợ và nó xoay chuyển cái phần vi diệu trong nội tâm nội thức của chúng ta, rồi cái huệ tâm mới mở. Mà phải làm, phải hành!
Ở trong cái cơ thể các bạn đâu có phải một chỗ đâu. Tim, gan, tỳ, phế, thận, mỗi chỗ 250 vị tì kheo, tổng cộng 1250 vị tì kheo cộng với lục căn, lục trần nữa, đâu có phải một người đâu mà các bạn chỉ có niệm sơ vậy là làm sao giáo dục được. Đây có mấy chục người đây mà nói hoài mà còn chưa hiểu, mà đó một ngàn mấy trăm người mà mình làm sao mình nói một lần được.
Cho nên mình phải niệm, thường niệm, vô biệt niệm, và ý tưởng rằng toàn thân đồng niệm cũng như chủ nhơn ông, thì lúc đó chúng ta mới thấy rõ cái lịnh của phần sáng suốt đưa xuống thì ở dưới nó phải chấp nhận và học hỏi và tiến hóa. Đó là vận dụng cái pháp này để đem lại sự sáng suốt và cởi mở, mở tâm mở trí. Rồi khi mà nó hội tụ được, cái thức hòa đồng nó mở rồi, nó đâu có kỳ thị ai nữa.
Khi mà thức hòa đồng mở là chỉ biết thương yêu, thấy đối phương sai lầm, và trước kia chúng ta đã sai lầm rồi chúng ta mới chịu tha thứ cho đối phương. Trước khi chưa niệm Phật thì chúng ta cũng tăm tối như người, mà ngày nay chúng ta niệm Phật, ta sáng suốt thì ta phải tha thứ cho những người đối phương cũng như ta trước kia. Đồng huynh đệ tỉ muội phải thương yêu vô cùng, và kiên nhẫn ảnh hưởng từ từ cho họ để cho họ tự thức tâm và tự làm. [mp3-24:47]
Cho nên trong giữa bạn đạo và bạn đạo ở thiền viện cũng như ở thiền đường cũng vậy, không hiểu được cái nguyên lý này thì cái thiền đường không có dồi dào. Không hiểu cái nguyên lý này thì cái thiền viện không ai tới.
Cho nên thời gian đầu, khi tịnh khẩu niệm Phật để cho các bạn chứng nghiệm cái gì và các bạn sẽ cống hiến ra. Có người cũng thấy rằng “tôi” được thanh tịnh nhưng mà không biết rõ cái nguyên lý Nam Mô A Di Đà Phật. Cho nên ngày hôm nay nói rõ ra, và bước vào một phần của điển giới để hiểu rõ cái tâm linh, chấn động lực nó hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ, mình phải sử dụng cái quyền năng đó đó mà để tiến hóa. Chớ còn mình chỉ nhờ người ta, không có ai giúp cho mình. Chính mình tự giúp và tự khai mới là đúng!
Cho nên, các bạn đã có cơ hội tốt lành. Nhiều khi nghe đạo mà trí độ của các bạn không có nhiều. Cũng như cha giảng cho các bạn (là cha Nhẫn Hòa), nói một chút thôi. Tại sao nói một chút? Vì trình độ ổng có tới đó à! Mà nó biết hết trọi mấy ngàn quả địa cầu, trong đó có cái thứ, trái nào ăn được nó cũng muốn hỏi luôn, mà không bao giờ nó đi. Thấy không? Thì nó, nó đi làm cái gì? Nó hỏi, nó làm cái gì? Chính nó đang tự hại nó!
Cho nên cha không nói, mà Thầy cũng không nói. Nói hại nó làm cái gì! Bởi vì cái này nó chưa xong, nó muốn nhảy qua bên kia. Bây giờ mình nói chuyện bên kia. Bây giờ nó không, không… Tôi nói, bây giờ tôi nói “Las Vegas sướng rồi, thằng này xuống chơi”, mà nó không có tiền đi xe, nó ấm ức ở trong này, nó sanh bệnh rồi đó. Cái bệnh ấm ức đây này: “Đây xuống LasVegas mà không có tiền”, tức quá ngủ không được, nó sanh bệnh rồi, té ra cha với Thầy chỉ hại nó sao! Thành ra, “tôi không có trả lời được, cái đó tôi dốt, tôi không biết”. Người ta trả lời vậy chứ người ta dư hiểu. Người ta hiểu tới xương tủy của các con mà người ta không nói! [mp3.2-26:53]
- Tại sao người ta hiểu tới xương tủy của các con mà không nói? Mà ổng nói có sơ sơ vậy, mà tại sao các con cứ ngồi theo hỏi người ta hoài vậy?
- Là người ta đã phóng tới xương, tủy mình rồi, mình mới chịu ngồi đó mà chọc người ta. Thấy không?
Mà có cái thứ ngồi nói 2, 3 câu rồi tự nhiên… người ta không nghe, người ta đứng dậy người ta đi ra, rồi làm bộ đi tiểu, đi thét không một người. (các bạn cười)… Có không?
Rồi cái này nó đã làm việc, làm việc bằng cái từ quang của Đại Thanh Tịnh nó làm việc rồi, mà người ta không thấy.
Chịu ngồi đó, ngồi đó ấm ức, rồi “hỏi, hỏi thằng cha này có phải thiệt hay là giả, cha thiệt hay cha giả? Hỏi coi, hỏi coi, hỏi coi”… Nhưng mà điển người ta đang làm việc.
Mà nó hỏi nó muốn biết hết thảy cái gì, phải phục vụ cho nó biết liền! Cho nên, nó là cũng tánh chất của Thượng Đế. Tánh chất của Thượng Đế là muốn biết tất cả. Nhưng mà nó là đội đá vá trời, thì nó muốn biết nhưng mà bị cục đá đang chặn ở đây (Thầy chỉ đỉnh đầu) nên nó không thấy. Thì bây giờ làm cái kỹ thuật nào để cho nó gỡ cái cục đá đi? thì lúc đó đó, nó không có hỏi ông Thượng Đế nữa. Người ta biết rồi, người ta đâu cần hỏi “mày” làm cái gì! Phải không? “Tao là mày rồi, cha là con, con là cha đó”, không có cái gì dị biệt hết, chỉ gặp nhau cười thôi. Thấy chưa?
Cho nên cái khổ của ban đầu là gỡ đươc cục đá đó ra, rồi nó mới thấy cha nó là ai? Là nó, là cha chớ ai nữa, hỏi gì nữa![mp3.2-28:28]
Thành ra việc làm dễ chịu, nói một tiếng là chạy… Không cần nói nó cũng làm, bởi nó thấy, đâu có cần phải là cái ông cha phải nhắc đâu!
- Chớ tại sao Ông Thượng Đế Ổng hạ một cái lệnh mà dưới Địa Ngục đồ nó cũng nghe lời hết trọi?
- Bởi vì nó có nhất trí vậy thôi! Ổng nghĩ cái gì thì tụi nó nghĩ cái nấy.
- Mà nó là gì, tụi nó là gì?
- Là Ổng đó!
Bây giờ tụi con tu mà con mở được cái đám mây đen ở trên đầu này, con là Thầy chớ có gì đâu mà phải nghĩ, phải hỏi nữa! Ở đây người ta nghĩ cái gì thì đó nghĩ như vậy một thứ, có hỏi gì đâu. Thấy chưa? Mà bị cái đám mây đen nó che đây rồi (Thầy chỉ trên đỉnh đầu), chưa có mở được.
Mà cái tội tiền kiếp lẻo mép, bây giờ nó còn cù lần đó. Bây giờ đang trị bịnh cù lần, thấy chưa? (Thầy chỉ đỉnh đầu) - Nó mở ra rồi thì không có hỏi, hỏi gì nữa bây giờ?
Làm đi chớ! Chuyện mình thấy mình làm là được rồi, kêu bằng sống với hiện tại của tâm linh. Đó… là cái gì nó cũng yên hết á, không có xen vô, phê bình người này, phê bình người kia, rồi rước cái khổ vào tâm, không có giải.
Mình cầu đạo chớ đâu phải cầu đời. Tụi con lên thiền viện phải cầu đạo không? Mà tại sao cứ nói chuyện đời à! Đi ngược chân rồi, lật ngược rồi! Lên thiền viện mà nói chuyện đời là phải cầu đời đâu phải cầu đạo. Ha ha (cười)… Thấy rõ chưa?
Ờ, cầu đạo thì chúng ta khác, phải cởi mở, phải thấy chơn tâm, phải thực hành, phải đi tới, thấy mình là họ, họ là mình, mình mới học được… vô tự chơn kinh, không có chữ. [mp3.2- 30:17]
Con thấy cái cây là con là con đứng nói chuyện ngon lành:
- “Sao, anh khổ làm sao?”
- “Ôi cha, tôi khổ lắm chị! Bị luật mà!”
Hỏi:
- “Luật gì?”
- “Luật nó trồng đó, nó kêu cứ đi lên, nó không cho đi xuống!”
Thấy không? Nó trả lời đó! Rồi:
- “Mà khổ cái gì?”
- “Trời ơi, cũng chịu đựng tứ quý cũng như các anh chị vậy! Rồi cũng tới ngày, cũng tụ hoa, rồi cũng ra trái, rồi cũng hóa hóa sanh sanh. Mà tôi nó còn bắt hóa sanh nhiều nữa. Chị thì đẻ có một đứa, chớ tôi đẻ một lần mấy ngàn trái, mấy ngàn trái, mấy ngàn trái đó. Mà nó còn chê ít nữa!” (các bạn cười)… “Khổ quá chừng!”
- “Rồi chừng nào chị mới gặp được cái pháp chị đi về trời?”
- “Chừng nào mà nó đốn tôi, tôi mới ngộ pháp. Nó đốn á, nó chặt đầu tôi, tôi mới ngộ pháp. Chờ, tôi biết nhưng mà tôi chỉ chờ thôi! Sợ quá, da đồ nứt hết… Mà cứ chờ không à! Chờ nó đốn tôi, tôi mới ngộ pháp”.
- “Ngộ pháp, ngộ chỗ nào?”
- “Nó đốt tôi thì tôi mới trở về Trời. Chớ chừng nào tôi mới nhẹ? Tôi nhẹ tôi mới về Trời!”
Rồi bây giờ mình tu cái pháp này, lấy cái gì? Đang lấy lửa Trời đốt tâm, đốt trần trược. Pháp Luân Thường Chuyển là lửa Trời đó, không phải hơi đâu, ánh sáng đó! Tu tới thanh tịnh, vận dụng ngay trung tim mà hít được vô rồi là chỉ thấy đem ánh sáng vô đốt thôi. Đốt hết rồi mới được về Trời.
Cho nên cái pháp thấy dễ nhưng mà cái hành trình nó phải dài. Thấy không? Cái cây nó còn nói rõ cho mình nghe cái pháp mà! Mình nắm được cái pháp lại mình chê cái pháp, vậy thôi đường đâu mà đi nữa!
- Hễ khi mình chê cái món này, mình có món nào khác không?
- Không có!
Không có thì không nên chê; phải giữ cái đó mà đi. [mp3.2- 32:17]
Cho nên đi đúng rồi, khứ trược lưu thanh, điều hòa, quy nhứt rồi, ở đâu cũng nói chuyện được. Nói với cây cỏ cũng được, cọng cỏ cũng có đạo ở trong đó, mà nắm hột cát nói cũng có đạo ở trong đó. Cứ hỏi nó:
- “Chừng nào về trời”?
- “Chừng nào thật sự nhồi quả tôi, tôi mới được về Trời!
Hột cát thôi à, miếng đất thôi à, thật sự nhồi quả, đốt nó rồi nó mới thăng hoa cái phần thanh nó đi ra, rồi vẫn lưu lại cái vật quý ở đây (Thầy chỉ cái ly bằng sứ), vẫn lưu lại vật quý. Vật quý này là đại diện cái gì? Từ bi! Nó phải qua đun lửa đốt cháy nó, nó mới học từ bi và nó thực hiện từ bi bất phân giai cấp. Cái ly này giá trị hơn một người sang trọng ở đây. Nó không có tranh chấp, mà cần nó, nó phục vụ, nó phải từ bi hay không?
- Người bệnh không có nó lấy đâu mà chứa thuốc uống?
- Lúc nào nó cũng sẵn sàng chớ không có từ chối.
Qua cơn điêu luyện rồi, cái tâm con người lúc nào cũng sẵn sàng, không có từ chối. Phải hiểu chỗ này! Cho nên các con được điêu luyện, được rầy la, được khai mở tâm đạo, được gia đình kích bác, được xã hội chê, chấp, mà phải giữ lòng tiến hóa. [mp3.2- 34:02]
Nhìn cái cây thì thấy đạo, nhìn cái chén cũng thấy đạo, thấy cái nguyên lý nó là một thôi. Mà khi chúng ta chưa hiểu, mà khi hiểu rồi thì ở đâu cũng là đạo hết thảy; càng ngày càng mở rộng đường đi không bị kẹt.
Cứ lo niệm Phật đi, rồi lần lần nhìn mọi người là ta, vạn vật vạn linh là ta, thì lúc nào cũng sống trong sự nhàn hạ. Mà nếu không cảm thông và không quán thông được những điều đó, không có bao giờ yên đâu. Viết sách, viết báo nói cho đủ thứ nhưng mà rốt cuộc không yên. Vì mình viết thì hay, nhưng mà chưa biết mình là ai, ở đâu đến đây, sẽ về đâu, thì cũng học cái tội cù lần đó thôi, không bao giờ phát triển. Mà thanh tịnh tu là phát triển! [mp3.2- 35:08]
Giờ dẫn pháp của 36 sao Thiên Cương để thấy rõ sự tương đồng xưa và nay như sau:
1/ Người xưa có phép làm điên đảo âm dương; người nay từ khi có đèn điện, đêm đen có thể biến thành ngày sáng, đem so sánh sự náo nhiệt sáng sủa của đêm thành thị với ban ngày thì quả đêm tối hơn hẳn.
2/ Người xưa có phép cưỡi gió đè mây; người nay ngồi phi cơ vượt từng mây, đó là sự biến hóa pháp của khoa học kỹ thuật.
3/ Người xưa có phép đổi vật dời sao; người nay có thể thay tim thay thận. Lại còn có thể thay đổi ngũ tạng giữa người và chó khỉ.
4/ Người xưa có phép ẩn trốn trong ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; người nay ẩn trong nước có tiềm thủy đỉnh, trong sắt có phản lực cơ, trong đất có đường hầm.
5/ Người xưa có phép tiên đoán để biết trước tương lai; người nay có đủ các thứ máy móc tối tân nên có thể trắc nghiệm tương lai thời tiết cùng khí hậu.
6/ Người xưa có phép tàng hình; người nay có máy bay xe lửa, chỉ trong khoảnh khắc có thể băng mình tới địa điểm khác.
7/ Người xưa có phép dời non lấp biển; người nay có thể dùng các thứ chất nổ cùng máy móc tối tân để đào núi lấp sông.
8/ Người xưa có phép khuất phục rồng cọp vâng lời; người nay có roi điện để dạy dỗ chúng làm theo ý muốn.
9/ Người xưa có phép gây sấm sét; người nay chỉ cần gài bom rồi nhấn nút là long trời lở đất.
10/ Người xưa có phép nhìn xuyên tường vách; người nay có máy truyền hình, truyền thanh nên các hình ảnh và tiếng nói cách xa hàng ngàn dặm vẫn có thể nhìn tận mắt nghe tận tai.
11/ Người xưa có phép ném đậu thành quân; người nay dùng trái nổ miếng nhỏ như hạt đậu mà có thể thay thế một người lính để giết quân thù.
12/ Trên đây là bảng lược thuật pháp của 36 sao Thiên Cương xưa và nay.
Còn dưới đây xin dẫn chứng thêm về thuật của 72 sao Địa Sát như sau:
Trên là bản lược thuật các phép của 72 sao Địa Sát xưa và nay.
36 sao Thiên Cương và 72 sao Địa Sát vốn do khí chính tà của trời đất sinh ra, ngày nay các khoa học gia phụng mệnh Trời giáng phàm để đổi đời, nếu như biết đem khoa học phụng sự hòa bình thì sẽ mang lại hạnh phúc cho loài người, còn nếu như cam phận làm đầy tớ cho chiến tranh thì hẳn là nhân loại sẽ bị tận diệt. Giả sử thuốc nổ đem phá núi để lấy đá làm đường, xã hội sẽ được hưởng phước vô kể, còn nếu đem chế bom đạn để đánh nhau thì gieo tai họa chẳng thể lường. Hiện thời khoa học kỹ thuật tiến bộ đã chế tạo biết bao thứ vũ khí giết người như hỏa tiễn, bom nguyên tử, tia sáng v.v... hiểm họa tàn sát sinh linh nhiều vô cùng kể này là do chính loài người tự rước tà khí, hay sao Địa Sát đầu thai để cảnh tỉnh thế nhân.
Thế mới biết lòng người đời nay kém xa đời trước cho nên chốn thế gian mới tự chuốc tà khí của trời đất cùng các sao Địa Sát, song nhân loại vẫn có thể hưởng phúc lộc vô biên vô tận vì sự tồn vong của mọi sinh linh chỉ trong một sớm một chiều, nếu như Trời cao không có lòng nhân thì quả thực là tính ác của con người tự chuốc lấy hiểm họa vậy. Hy vọng chúng sinh nghe ta thuyết pháp mau tỉnh thức, tự bỏ ý chém giết để tránh cho nhân loại khỏi bị tận diệt vì tà khí sao Địa Sát bộc phát, gây nên cuộc trời đất tan hoang. Người đời nếu như có lòng lo xây dựng cuộc sống hạnh phúc tồn tại lâu dài, vun bồi thanh khí hòa bình thì sự phát triển khoa học kỹ thuật tại cõi thế gian chính là cơ báo trước của trời xanh giúp cho thế giới đi tới đại đồng. Khoa học kỹ thuật phát triển, đời sống trần gian trở thành Thiên Đàng, con người lui tới ngao du thế giới thảnh thơi, cơm ăn, áo mặc, chốn ở, nơi đi, hết thảy đều đầy đủ tiện nghi, đời sống của con người ở cõi thế gian có khác chi đời sống của chư Tiên, Thánh, Phật, đó là hiện tượng Trời cao cứu độ chúng sinh.
Dương Sinh: Lạy tạ những điều đức Thiên Tôn vừa khai tâm mở trí, ân đức quá sâu dày, được nghe đức Thiên Tôn chỉ dạy một lần hơn cả mười năm đọc sách. Tình hình thế gian hiện thời cũng đều do sự an bài tuyệt diệu của đức Thiên Tôn, quả là không thể nghĩ bàn nổi.
Tế Phật: Quả là tuyệt diệu, tuyệt diệu. Chúng tôi xin cáo biệt.
Dương Sinh: Xin bái từ đức Thiên Tôn.
Thiên Tôn: Lệnh cho các Tiên Đồng hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.
Tiên Đồng: Kính tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.
Dương Sinh: Lạy tạ đức Thiên Tôn cùng chư vị Tiên Đồng. Thưa con đã sẵn sàng, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
Đức Thầy giảng: [mp3.2-42:26]
Chúng ta đã đọc và đã thấy rõ những cái gì đã ban, cũng như tôi đã nói rằng kỷ nguyên Di Lạc đã mở rồi, mọi người phải hoan lạc, phát tâm tu thiền để tận hưởng những cái gì ở thế gian có. Mà từ vật chất nó cho chúng ta thấy rằng nó đang dẫn tiến tâm linh, nếu tâm linh không có dồi dào đâu có sản xuất được những cái món tinh vi được.
Cho nên chúng ta được hạnh phúc… Chúng ta là người dân Việt Nam thiếu thốn, bị đè đầu từ hồi nào tới bây giờ nhưng mà ngày nay chúng ta được dự tất cả. Do cái khổ hạnh, do sự chèn ép, do sự đau khổ, thiếu thốn đó mà chúng ta mới có cơ hội ngày nay kiến thức tất cả thế gian. Và thấy rõ rằng Thiên Đàng tại thế gian, mà chỉ thiếu có cái tâm! Ngày nay chúng ta xây cái tâm rồi là trọn lành, nhân loại xây cái tâm rồi là đại đồng, không có xây cái gì, không phải xây building nữa, hết rồi! Building, kỹ thuật bây giờ là dễ rồi, không có khó khăn như hồi trước nữa mà chỉ có cái tâm là khó nhứt. Chúng ta là người tu đi trước mà biết xây dựng cái tâm là một người kiến trúc sư nổi tiếng ở tương lai, sẽ giúp cho nhiều người xây dựng cái tâm để tiến.
Cho nên chúng ta ngày nay học đạo, phân tách những chuyện ngoài, chuyện trong, mà năm này tới năm kia vỏn vẹn cũng dồn về cái tâm. Đạo là một tâm thôi, Trời là một tâm thôi, Thấy chưa? Đó, chúng ta không có bị xuống Địa Ngục nữa.
Tất cả những hiện tượng để cho chúng ta thấy là dìu tiến tâm linh chúng ta đi tiến hóa nơi một nơi thanh nhẹ hơn và tốt đẹp hơn ở tương lai, vinh quang hơn. Cho nên, nên vui lên, thật thà trong thương yêu, cởi mở.
(Đức Thầy và bạn đạo cùng ca bài “Ôhê!”)
Ô hê…Ô hê…!
Yêu yêu yêu, thật là yêu!
Thương thương thương thật là thương!
Về đây chung sống, thương yêu hòa bình!
Về đây chung sống thương yêu hòa bình!
Ô hê…Ô hê…!
Đức Thầy: Thôi, tới… (nghe không rõ)
Bạn đạo: Chúng con xin cám ơn Thầy!
Đức Thầy: Ừ…
Bạn đạo: Xin các bạn chắp tay đưa tiễn Đức Thầy! [mp3.2- 45:13]
Hết cuốn 4AB - ID# 19871007Q1