19871005Q5
T/V VĨ KIÊN, KHÓA 7: “THỨC TÂM”
THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG “THIÊN ĐÀNG DU KÝ”
Cuốn 3
Ngày 07/10/1987
HỒI BA
LẠI DẠO NAM THIÊN NGỌC KHUYẾT
NGHE THÁNH ĐẾ KHUYÊN NHỦ
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 23 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1979)
Bồ phiến khinh dao đạo khí lai
Hồ trung mỹ tửu tẩy dương ai
Thế nhân học ngã thường hoài lạc
Linh Ẩn tự tiền Hoạt Phật tài.
Nhẹ phẩy quạt bồ đạo khí lan
Rượu ngon đầy hũ tẩy dương gian
Học ta bao kẻ đời hoan lạc
Phật Sống chùa thiêng đã cấy mầm.
Tế Phật: Tay ta phe phẩy quạt Bồ, bầu rượu ngon rót chảy tràn môi, mỗi bước ta đi khác nào la hán, người đời mấy ai học được phong độ an nhiên tự tại này? Có kẻ thấy ta thích thịt chó, ham nhậu rượu, ngất nga ngất ngưỡng vội cho là ta không phải bậc chân tu, kỳ thực bọn họ đã sai lầm. Thế gian có hòa thượng ăn thịt, trên Trời không có la hán uống rượu. Nhớ thuở xưa ta từ trên trời nhìn thấy lắm kẻ xuất gia tu hành, miệng ăn đồ chay mà lòng chứa dạ quỷ, rất ít kẻ thiện trí thức giác ngộ Phật pháp, phần đông đều là những kẻ ăn xổng uống càn, cho nên ta không nỡ đoạn tuyệt với tuệ duyên nhà Phật mới đầu thai xuống trần đổi tên là Tu Duyên để phổ độ quần sinh, giả điên giả khùng châm chọc người đời, chuyên nhắm một số hòa thượng gây chuyện quái đản, hễ họ bảo phải kiêng cữ thì ta lại ăn nhiều, họ bảo không được đi ta cứ đi, hành động ngược hẳn pháp như vậy là cốt để độ người chính trực. Sở dĩ một số kẻ tuệ mỏng trí nông cho ta là thứ tăng điên dại, là ma quỷ nơi cửa Phật, bởi họ không hiểu rằng thân ta điên nhưng tâm chẳng điên, ta tụng “chân chính kinh” chẳng thể so sánh với bọn họ chuyên niệm “giả chính kinh”.
Thực ra họ chỉ là những kẻ “giả từ bi” cho nên mới giả ăn, giả uống để cầu được sống cho qua ngày, nên Tế điên ta mới đến đập bể chén cơm của họ, bởi vậy tăng lữ đương thời khi ta, chửi ta, hận ta, thậm chí tới nay cửa Phật vẫn còn nhiều thiên kiến đối với ta, cho ta là hòa thượng không thanh tịnh, đâu ngờ ta lại là la hán hóa thân, là ánh sáng mặt trời nhưng giấu kín tam muội chân đạo, cho nên khi ăn thịt uống rượu chỉ cần nuốt tới cuống họng là tiêu hóa sạch trơn, nên bao tử, ruột non, ruột già vẫn trống không. Sở dĩ ta vờ nuốt vào bụng là cốt để chọc ghẹo tăng lữ cùng tu đấy thôi, cho nên mới nói: “ăn nhiều, uống nhiều mà vẫn chẳng hưởng được mùi vị chi”. Người đời gặp ta ai nấy đều cười ha hả, khen ta là “Phật như ý”, “Phật hoan hỷ”, “Phật sống Tế Công”, ha ha cớ sao còn lắm kẻ chẳng lạy “Phật sống” lại đi lạy “Phật chết”, thực sự đáng thương! Đáng thương! Gặp thời mạt pháp ta càng cần đùa bỡn một phen, chẳng đến chùa Phật lại đến nhà tục, là muốn mọi nhà thành chùa Phật, mọi gia đình sinh ra Phật. Bữa nay tới chốn này hướng dẫn thánh bút Dương Sinh dạo Thiên Đường thực quả là bận rộn. Đi thôi Dương Sinh.
Dương Sinh: Thưa ân sư! Những điều thầy vừa dạy toàn là các ý tưởng chân chính từ cõi Trời ban xuống, nhưng con sợ rằng người đời không hiểu lại nghĩ là thầy khoe khoang phách lối.
Tế Phật: Chớ có sợ, ta vốn từ chối chùa to miếu lớn, cam phận sống trong chốn bình dân nghèo hèn là bởi vì ta không thích ngụy trang, mong sử dụng tính đó làm phương tiện cho pháp môn để hóa độ kẻ tục, người đời cười ta điên thật chẳng đáng thương thay cho họ lắm sao? Mau lên đài sen.
Dương Sinh: Con đã sẵn sàng, mời thầy lên đường... Bữa nay tại sao lại tới chốn này? Vì đây chính là ngã ba biên giới Âm Dương.
Tế Phật: Bữa trước đã tới Nam Thiên Môn, bữa nay ta lại dẫn con tới chốn này là vì chúng ta phải tới thăm Nam Thiên Môn lần nữa.
Dương Sinh: Trước đây dạo Địa Ngục con đã được thấy biên giới Âm Dương, song bữa nay nhìn con đường lớn hào quang lấp lánh dẫn thẳng lên khoảng không trung mờ mịt mây trời, trên đường người đi đông nghẹt, có kẻ ngồi kiệu, có kẻ cưỡi mây, có kẻ thả bộ, họ đều được các tiên lại, sa di hoặc thiên sứ dẫn đường là bởi lẽ gì?
Tế Phật: Sau khi chết những ai có phước quả đều được tới Âm Dương giới, một số trong đám người này không cần phải qua cửa âm phủ để sưu tra công và tội, do đó tới khúc rẽ của ngã ba biên giới Âm Dương này cứ việc đi thẳng lên núi Tâm Đầu. Những người con vừa thấy lúc còn tại thế họ đều sống có đạo đức, công quả lớn lao, sau khi chết được các sứ giả trực thuộc đón lên Thiên Đường trình diện. Nếu như là người đắc đạo hẳn là không như vậy vì họ “Biết sống chết, rõ đường đi” (Tri sinh tử minh khứ lộ), lúc sống quen đi đại lộ Thiên Đàng, sau khi chết như ngựa già biết rõ đường quen, an nhiên tự tại mà nguyên linh vẫn nhẹ nhàng bay thẳng tới Thiên Đường sống thảnh thơi, người đời chỉ những ai về được Thiên Đàng mới thấu tỏ hết sự tình, bữa khác ta sẽ hướng dẫn con tới dạo cảnh này, còn bữa nay chúng ta phải tới thăm Nam Thiên Ngọc Khuyết bái hội cùng Văn Hành Thánh Đế thêm lần nữa để nghe Ngài chỉ dạy.
Dương Sinh: Hay quá, những người được về cõi Trời đầu họ đều tỏa những vòng hào quang, nét mặt lộ vẻ vui mừng, an nhiên tự tại, trái ngược hẳn những vong hồn bị lùa xuống Địa Ngục kêu khóc thảm thương, quả là khác nhau nhiều quá.
Tế Phật: Lẽ đương nhiên là như vậy, lên Thiên Đàng về cực lạc; xuống Địa Ngục chịu hình phạt, hai loại cảnh huống giống nhau sao được! Kẻ muốn lên đài lãnh thưởng còn phải quỳ gối chịu đá chịu đấm nữa là. Thôi, chúng ta mau tới cửa Nam Thiên.
Dương Sinh: Đài sen bay mau, con đường lớn rực rỡ hào quang hiện ra trước mắt, chỉ một sát na là tới cửa Nam Thiên, đã thấy Đại Thánh ở đó, tay cầm gậy Kim Cô múa may, miệng vui cười không ngớt.
Tế Phật: Vì không thể ngừng lại, nên chúng ta chỉ có thể cất tiếng chào để giữ lễ mà thôi. Đã tới Nam Thiên Ngọc Khuyết, Dương Sinh mau ra mắt Thánh Đế.
Dương Sinh: Xin vâng lệnh. Lạy chào ân chủ Văn Hành Thánh Đế, bữa nay chúng tôi lại tới thăm Ngọc Khuyết, xin ân chủ ban lời chỉ giáo.
Thánh Đế: Miễn lễ. Mời hai vị ngồi; Tiên Lại, mau dâng trà ngon.
Tiên Lại: Xin tuân lệnh. Đã dâng lên.
Thánh Đế: Nhị vị gian lao khổ cực, còn Tế Phật, Ngài đã lãnh trọng trách phổ độ chúng sinh quá lớn lao, bữa nay lại còn hướng dẫn thánh bút Dương Sinh bôn tẩu khắp ba cõi viết sách khuyên đời, phải chịu nhiều khổ cực nhưng có công to. Cõi Trời lần này ban sắc chỉ trước tác sách Thiên Đường Du Ký công trình thực quả phi phàm vì đã tiết lộ thiên cơ hẳn là sẽ thâu được hiệu quả khuyên đời, còn không sẽ cực khổ mà vô ích. Nhân vì Thánh Hiền Đường viết kinh sách dạy điều thiện cho nên toàn thể bạn đạo đã dốc tâm in tặng số lượng lớn để giáo hóa phổ độ chúng sinh, giống như giọt cam lồ nhuần thấm khắp vạn vật, ví thử sách này giáng ở cõi khác, sợ rằng công hiệu khuyến hóa chưa chắc đã mau lẹ, rộng lớn như quý Hiền Đường. Bởi vậy, sách Thiên Đàng Du Ký hẳn là đã chọn nơi thiện lành đẹp đẽ nhất trong ba cõi Đất, Trời, Người là Thánh Hiền Đường mà giáng. Trường hợp này nếu trời xanh không thiên vị, đạo trời chẳng quen biết thì hẳn là chỉ nhờ tu nhân tích đức mới được vậy. Mong các đệ tử nhận lấy vinh quang mà hy sinh thêm cho sự nghiệp khuyên đời để đền đáp ơn Trời.
Dương Sinh: Cảm tạ ơn sâu của Thánh Đế, toàn thể bạn đạo chúng tôi dốc lực phục hưng văn hóa cùng đạo đức cổ truyền Á Đông, có thể nói là cho tới khi nào sức cùng lực kiệt mới thôi. Kính mong Trời xanh thấu hiểu, toàn thể bạn đạo cảm kích khôn nguôi, khi nào về tới Hiền Đường tôi sẽ thuật lại nguyên văn những lời chỉ giáo của ân chủ Thánh Đế.
Thánh Đế: Phạm vi dạo Thiên Đường rộng lắm, nếu như mỗi nơi đều tới sợ rằng sẽ vĩnh viễn đi không trở lại, nên theo ý tôi chỉ tuyển chọn một số vùng có liên quan đến thế đạo tới thăm hỏi mới có thể xong được mà thôi. Tới ngày hoàn thành sách Thánh để tặng đời độ người, Tế Phật sẽ được an ủi vì đã quá nhọc nhằn hướng dẫn.
Tế Phật: Đó là trách nhiệm, xin Thánh Đế mở rộng cửa phương tiện.
Thánh Đế: Chớ khách sáo. Hiện thời được Tam Tào phổ độ, khắp cõi Trời, địa ngục, nhân gian đều có người cùng quỷ thần hỏi đạo tu đức, viết Thiên Đàng Du Ký lần này rất ứng hợp với phương diện vừa nêu trên, cùng khuyến thế thật là đúng lúc. Bắt mạch bốc thuốc mới mong khuyên nhủ lòng người. Từ nay về sau có thể căn cứ theo đồ án đã vẽ này mà xây dựng một tòa “Thiên Đường Lạc Thú” tròn đầy, chỉ có ít lời này khuyên nhủ.
Tế Phật: Xin ghi tâm khắc cốt những điều Thánh Đế vừa chỉ dạy, giờ đây xin cáo từ.
Dương Sinh: Cảm tạ Thánh Đế đã ban lời vàng ngọc, xin bái từ.
Thánh Đế: Có gì khó khăn, cứ trở lại đây bày tỏ, tôi sẽ sẵn sàng giải đáp.
Dương Sinh: Đa tạ ân chủ Thánh Đế đã để tâm lo lắng cho.
Thánh Đế: Lệnh cho các Tiên Lại hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.
Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen, chúng ta chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.
Dương Sinh: Thưa con đã sẵn sàng...
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác. [08:47]
HỒI BỐN
DẠO CUNG THÁI THANH
NGHE THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ THUYẾT PHÁP
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày mồng 6 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1979)
Lão Quân tây hóa giá thanh ngưu
Ngô Phật đông lai phiếm thánh châu
Khổng Tử chu du thôi thất mã
Du Hồi sa mạc lạc đà tu.
Lão cưỡi trâu xanh phổ đạo Trời
Phật chèo thuyền pháp độ không ngơi
Khổng tung vó ngựa thầy muôn thuở
Chúa ruổi lạc đà cứu khắp nơi.
Tế Phật: Trời đất vốn từ một khí sinh ra, các vị giáo chủ của năm tôn giáo khởi sự giảng đạo dạy người, phương tiện truyền bá tuy không giống nhau nhưng kho kinh điển hàng ngàn vạn chữ chứa trong bụng đó đều hàm ngụ các pháp chỉ dẫn lối lên Thiên Đường. Chỉ tiếc rằng ngày nay những kinh sách ấy bị chữa chỗ này sửa chỗ nọ, chẳng khác nào vẽ rắn thêm chân, như bức danh họa cổ thời rách nát, khiến kẻ tu đạo muốn kiếm báu vật phải lặn lội tìm tòi tận chốn thâm sơn cùng cốc. Lại thêm không rõ đặng lẽ đạo của các tôn giáo chẳng khác nhau nên mới quên đi lý tưởng vì sự sống chung lo xây đắp thái hòa, vì chính nghĩa gắng thức tỉnh lòng người, cứu vãn cảnh trầm luân nơi cõi thế hầu giúp nhân loại xum họp một nhà.
Phật tôi đây tại cõi Trời không phân biệt chúng sinh, vì lẽ loài người đều do đức hiếu sinh của Trời mà ra, ý hướng truyền bá lẽ đạo là muốn đời sống hòa bình hạnh phúc của nhân loại ngày một thăng tiến, chấm dứt tình trạng coi rẻ, bài xích, phỉ báng lẫn nhau. Loài người trên mặt đất vốn từ Trời xuống, song vì phân chia đi các nẻo để kiếm miếng ăn duy trì sự sống, lâu ngày quên mất cõi Thiên Đàng là chốn nhà xưa. Ngày nay, cần phải thức tỉnh nhân tâm hướng về cõi Trời, nhận rõ đâu là nguồn cội, ai là tổ tiên, nên mới đặc biệt ra lệnh cho Thánh Hiền Đường trước tác sách Địa Ngục Du Ký, tiết lộ thiên cơ để chúng sinh hyểu rõ nguyên lý của tạo hóa, ngõ hầu các sinh linh trở về được cõi Thiên Đường. Nếu như không sớm tu tâm sửa tánh hẳn là càng chìm đắm càng bị chôn sâu, cuối cùng rớt vào sáu nẻo luân hồi, muôn vạn thuở không thể trở lại lúc ban đầu được nữa. Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.
Dương Sinh: Thưa, con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.
Tế Phật: Cưỡi đóa sen rực rỡ này rong ruổi vạn dặm giữa chốn không trung để tới Thiên Đường sáng chói, quả là được nhẹ nhõm siêu thoát, phơi phới muốn thành tiên, có cảm tưởng giống như mọc cánh vút bay, tấm thân nhẹ hẫng, tinh thần hoàn toàn tiêu dao tự tại. Đệ tử hiền ngoan của ta ơi! Cớ sao không nói lên cảm giác lúc này?
Dương Sinh: Thưa, con cảm thấy tâm thần sảng khoái, hào quang tỏa ngời, mây mùa thu tan biến, muôn hoa đua nở khắp nơi, các loài chim quý lượn bay, miệng ríu rít hát khúc mừng tiên. Các giống muông thú kỳ lạ chưa từng thấy, nô đùa, nhảy nhót trong đám mây xanh cỏ biếc, mùi thơm của nhụy hoa xông làm con ngây ngất, nơi này không vương mảy may khí tục trần, phong cảnh Thiên Đường sáng tươi hiện thời làm mê đắm lòng người, chẳng còn muốn trở lại trần gian.
Tế Phật: Cảnh Tiên này chốn trần gian quả chưa từng nhìn thấy, chỉ cõi Trời mới có. Hiện thời duyên trần của con chưa dứt, chẳng thể ở đây lâu, phải lo hóa độ thật nhiều chúng sinh, họp bạn cùng tu lo công quả, ngày sau tự nhiên tới được nơi đây du sơn ngoạn thủy, ở mãi núi Tiên làm khách của Tiên.
Dương Sinh: Cảm tạ những lời ân sư vừa chỉ giáo. Các tòa lầu cao phía trước sừng sững giữa mây, ngời tỏa ánh vàng lấp lánh, lại thấy có con trâu xanh một sừng đang tiến về hướng thầy trò mình, cõi Trời cớ sao lại nuôi trâu?
Tế Phật: Đó là sức mạnh của đôi cẳng Thái Thượng Lão Quân, trâu xanh một sừng là loại thú đặc biệt ở cõi Tiên chứ chẳng phải trâu rừng thế gian. Con chớ sợ hãi, trâu tới nghinh tiếp chúng ta đấy mà. Trâu bò cõi thế gian thật là đáng thương, non cày ruộng, già kéo xe, thân làm thịt ăn, sữa nuôi trẻ... trâu bò cống hiến nhu cầu cho người thật quá lớn lao. Còn con trâu xanh của Lão Tử nuôi này là trâu trời, thủy tổ của các loại trâu bò trần gian. Trâu bò trần gian có đủ màu lông, nào như vàng, trắng, đen, đỏ. v.v... nhưng tuyệt nhiên không có màu xanh.
Dương Sinh: Cung điện phía trước nguy nga tráng lệ phi thường, giống như mây lành kết tụ, như nạm bạc dát vàng, khí hạo nhiên vây bọc khiến ai nhìn thấy cũng phải kính nể, ba chữ Thái Thanh Cung chợt hiện ra, hào quang lòa cả mắt.
Tế Phật: Đây là Tam Thanh Điện Phủ, chốn cư ngụ của Thái Thượng Lão Quân, cũng còn gọi là Đâu Suất Cung ở cõi Đại Xích Thiên. Bữa nay lần đầu tiên chúng tôi tới đây, xin Đạo Tổ chỉ giáo cho về nguyên lý Trời đất hóa công để người đời được rõ, để kẻ tu đạo về Trời bằng con đường ngắn nhất. Viết sách Thiên Đường Du Ký trước tiên phải bày tỏ cơ biến hóa vận chuyển của Trời đất, Đạo Tổ lại là bậc thánh “Thượng Chân Kim Tiên Khai Nguyên” cho nên cầu mong ngài chỉ dạy về lẽ huyền vi của tạo hóa.
Dương Sinh: Thưa, thì ra là như vậy.
Tế Phật: Các đồng tử tu đạo đã hàng ngũ chỉnh tề để nghinh tiếp chúng ta.
Dương Sinh: Cúi đầu chào ra mắt chư vị tiên đồng, tôi là kẻ phàm nhân, đệ tử của Thánh Đế ở Đài Trung Thánh Hiền Đường, bữa nay phụng chỉ theo thầy dạo Thiên Đường hỏi đạo, kính mong tiên đồng chỉ dẫn cho.
Đạo Đồng: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh tới thăm, giáo chủ ngỏ lời mời hai vị, xin hai vị đi theo chúng tôi vào lạy chào ra mắt Đạo Tổ.
Dương Sinh: Xin đa tạ. Theo tiên đồng vào cung Thái Thanh, chánh điện tôn nghiêm, vắng lặng, một vị đạo sĩ vẻ mặt hài đồng, mái tóc bạch hạc ngồi trên bệ cao giữa điện, phía trước có đặt một lư hương, khói nhang nghi ngút bốc lên, toàn thân Đạo Tổ hào quang tỏa ngời. Lạy chào Thái Thượng Đạo Tổ, nay con phụng chỉ theo thầy lên thăm cõi Trời để viết sách, giờ đây xin vào Thái Thanh Cung lạy mừng ra mắt Đạo Tổ, kính mong Đạo Tổ mở lòng từ bi chỉ giáo cho con về lẽ đạo để ghi vào sách Thiên Đường Du Ký hầu khuyên răn người đời.
Đạo Tổ: Miễn lễ, Dương Sinh mau đứng dậy, Tế Phật cũng chịu nhiều gian lao khổ cực. Mời hai vị ngồi, Dương Sinh xác phàm chưa hóa, linh nhãn lại mới mở nên đạo lực còn kém, nay tới cõi Đại Xích Thiên này tâm linh khó bề chịu đựng nổi, do đó ta đặc biệt ban thuốc Kim Đan này để củng cố nguyên thần đạo thể, hãy cầm lấy đi.
Dương Sinh: Cảm tạ sự ân ban của Đạo Tổ. Tinh thần con hiện thời hơi khó chịu, phong cảnh Thiên Đường tuy đẹp đẽ, song tâm hồn con cảm thấy không yên.
Đạo Tổ: Chỉ vì công lực chưa đủ, cõi Đại Xích Thiên này ở bên ngoài ba mươi ba từng trời, nếu không phải là những bậc thượng thánh cao nhân không thể tới đây. Con may nhờ được hưởng phước nên mới phụng chỉ tới thăm nơi này, ta giúp con một cánh tay để thêm sức, mau cúi xuống.
Dương Sinh: Xin vâng lệnh, con đã sẵn sàng. Đột nhiên lửa cháy bùng bùng trong tâm, một luồng chân khí bay vút lên cao, hai mắt mở lớn, chợt cảm thấy cơ thể thích ứng nổi với hoàn cảnh nơi đây. Cảm tạ Đạo Tổ.
Đạo Tổ: Đó là thuốc “cửu chuyển kim đơn” được luyện trong lò vàng tám mươi mốt năm, đợi ban cho kẻ có duyên, bữa nay Dương Thiện Sinh tới đây kể như là người có được duyên ấy.
Tế Phật: Cảm tạ Đạo Tổ đã ban thuốc kim đơn trợ giúp phần linh quang cho đệ tử của tôi một cách lớn lao. Mục đích bữa nay chúng tôi tới đây là mong được chỉ giáo, vậy kính xin Đạo Tổ khai mở lẽ huyền vi của Trời đất hóa công để thế gian giác ngộ đạo lớn mà tu luyện tính tình hồi hướng lẽ thiện chân.
Đạo Tổ: Sự huyền diệu của Trời đất hóa công ngoại trừ những bậc đắc đạo không kể, còn hầu hết người đời đều chẳng thấu tỏ. Cõi thế hiện thời lại quá cơ tâm xảo trí, cần phải rộng lượng cứu giúp, chu kỳ khí Trời đất vận hành cực kỳ huyền diệu, cho nên Trời ban sách huyền bí Thiên Đường Du Ký xuống thế gian lúc này cực kỳ đúng thời, lòng ta hằng lo chúng sinh dưới gầm trời không thấu tỏ lẽ đạo sẽ khó bề hướng thiện, bởi vậy giờ đây cần phải thuyết giảng một chương về nguyên lý cao thâm của Trời đất hóa công, đem thiên cơ tiết lậu cùng thế gian để cứu độ chúng sinh. Ô hô! Trời cao đất thấp, chúng sinh ở giữa, ba cõi lập, thế giới thành.
Kể từ thuở mênh mông mờ mịt chưa chia, Trời đất còn là một khối hỗn độn, mặt trời mặt trăng chưa phân, lúc đó khí tiên thiên vô tận, Thánh Phật Tiên hòa hợp chung cùng một thể, tỏa chiếu vô lượng hào quang xoay chuyển hư không được gọi là: “Người trên cõi mịt mờ” (Huyền huyền thượng nhân), hay “Vua Trời thuở ban sơ” (Nguyên Thủy Thiên Vương). Bởi địa vị tối cao đó nên còn được kêu là “Thượng Đế”, là thủy tổ muôn loài vạn vật, hoặc Cha Trời, Mẹ Đất. Vì không biết tên nên mới gọi là “huyền huyền” (mờ mịt), không rõ gốc rễ nên gọi là “nguyên thủy” (ban đầu) tức là gốc của đạo lớn, cõi của không tên. Vận chuyển tới mức tròn đầy thì khí tự nhiên phân hóa thành “tam thanh”, gồm: Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn. Ba nhân tố “Huyên, nguyên, thủy” cùng chung một thể, ba cấp bậc khi đã nên sự thì “tam thanh” phân chia biến hóa sang hữu hình, khí thanh nhẹ bay lên cao hội hợp làm trời, mặt trời, mặt trăng và sự xuất hiện này đã hoàn thành tam bảo. Thiên Tôn vị ở tam thanh lại biến hóa Ngũ Lão: Đông hoa Mộc Công, tây hoa Kim Mẫu, nam hoa Hỏa Tinh, bắc hoa Thủy Tinh, trung hoa Hoàng Lão, năm lão đã thành, ngũ hành lập xong, khí trược nặng lắng xuống ngưng tụ thành đất. Trời đất đã làm nên nhưng còn thiếu loài người.
Vua Trời thuở ban sơ sinh ra Trời đất hóa công, cố gắng vận dụng chân khí một cách âm thầm để phân lập năm phương thành hình thế giới, nhưng nếu không có con người thì không thể nối liền tam tài cho nên Ngài mới ra lệnh cho Ngũ Lão đem các nguyên linh gieo trồng. Ngũ Lão sau khi nhận lãnh trách nhiệm liền thúc đẩy Kim Mẫu, Mộc Công lo việc thai nghén các nguyên linh. Hoàng Lão còn tuyển chọn vùng đất Đơn Khâu thuộc núi Tu Di mà kiếm hang động để Hoàng Thổ làm chỗ thụ thai. Thế là việc chế lọng tròn (trời), đệm vuông (đất), hay trời che đất chở xong xuôi, Mộc Công bèn nấu “ngũ kim” lọc lấy tinh chất đúc đỉnh ba chân, Kim Mẫu nung “ngũ thổ” lọc lấy thần khí nặn lư Yển Nguyệt. Sau khi núi nứt nẻ, tinh chất của nước đá Huyền Anh rỉ ra ứ đọng trong lư, liền bỏ chõ đất vào trong, úp đỉnh vàng lên mặt rồi kiếm củi dâu phương nam cùng vận dụng chân hỏa nung nấu, lát sau hơi nước ở giữa chốn thái hòa trong đỉnh ngưng đọng biến thành nước rớt xuống đáy, khí thoát ra từ dưới bụng chõ lại bay lên, do đó mà nước luôn luôn thăng giáng, đầy ắp cả trong ngoài, năm Lão có thể lặng lẽ mở đóng cửa huyền vi, ngưng kết đơn đầu chuyển đỉnh ấp chõ, ánh sáng tỏa ngập tứ phương bảy ngày mới thâu hồi. Hoàng Lão, Xích Tinh, Thủy Tinh tại chốn cao vời trầm mặc đưa mắt thần theo dõi. Kim Mẫu, Mộc Công lại tái lập bếp, đặt chõ lên trên đuổi khí lạnh giá đi, tỏa khí ấm áp xuống.
Để thi hành cái tinh túy của Thái Ất, Mộc Công, Kim Mẫu dùng đạo “Kim Dịch luyện hình” để gìn giữ tĩnh dưỡng tinh thần, quên lo toan, bỏ tính toán, sống hòa hài. Phân định kỳ hạn của các tiết và mùa trong mỗi năm xong thì mây ngũ sắc phủ đỉnh đầu, sương ngọt tưới ướt đẫm mình núi Tu Di. Chợt nghe tiếng động cựa trong đỉnh, Mộc Công, Kim Mẫu biết là đơn đã chín, mở nắp xem thấy có hai vật ấp nhau liền đưa tay nhấc một vật lên xem thì ra là tượng một hài nhi nam, Mộc Công nhấc vật còn lại lên coi thì ra là một hài nhi nữ, hai người mỉm cười ra khỏi đỉnh luyện ngũ hành. Hai con đỏ đó là họ Bàn Cổ và Thái Huyền Ngọc Nữ cũng gọi là Á Dương hoặc Hạ Giai ở vào giai đoạn diễn hội giáng trần. Lúc chính khí của ngũ hành sinh ra người, khí của nó tiết ra ngoài phân tán khắp gầm Trời mà sinh ra các loài sinh động, thực vật cùng các giống bay, lặn. Còn như ngũ kim, thảo mộc, nước sông biển, điện quang thạch hỏa, các loại động vật, bụi đất đó đều là nguyên do sự tích nặn đất thổi khí thành người.
Con người vốn từ đất làm nên, đất nuôi đất dưỡng, cho nên khi chết lại trở về nguồn cội đất. Tạo lập cõi trần xong, anh nhi hài nữ giáng phàm thân thể vốn thanh tịnh, song vì ăn phải trái cấm tính dục phàm trần kích động, âm dương giao hợp cho nên loài người từ đấy sinh sản không ngừng. Lý do Vô Cực Nguyên Thủy chỉ nhất động mà sinh ra Thái Cực, Thái Cực bao hàm lưỡng nghi âm dương rồi biến thành tam tài, tứ tượng, ngũ hành v.v... Nhất bản tán vạn thù (một gốc sinh ra muôn vạn cái khác biệt) cho nên gọi là chúng sinh, cũng còn kêu là chín mươi sáu nguyên linh, ý nói trời chín, đất sáu bao la vô cùng vô tận không chỉ giới hạn có 96 ức mà thôi. Ngũ Lão thai nghén sinh sản ra các nguyên linh cùng vận chuyển chân khí thành ra người đầy đủ ngũ tạng, ngũ khí thịnh được là nhờ công của Ngũ Lão.
Loài người trên trái đất màu da không giống nhau là do ảnh hưởng bởi năm sắc của năm phương: Đông sắc xanh, Tây sắc trắng, Nam sắc đỏ, giữa sắc vàng, Bắc sắc đen. Cho nên màu sắc giống như đất nung trong lò, vì lửa không đều mới sinh ra các màu khác nhau. Nguyên linh giáng phàm, ban đầu tính tình thuần phác, lấy lá cây che mình, tâm hồn nhiên như lúc ban đầu, không thắc mắc, không ham sống sợ chết cho nên lúc chết dễ dàng siêu thăng cõi Trời. Sau chỉ vì nguyên linh chủng tử sống với đất lâu ngày thay chất đổi giống, từ thời trung cổ tính linh bắt đầu bị ô nhiễm nặng cho nên có nhiều kẻ chết không được về Trời, khí ô trọc nặng nề chìm xuống nên Địa Ngục được tạo lập từ đây. Ngũ Lão ở cõi Trời thấy vậy quá đau lòng muốn phế bỏ, liền triệu tập hội nghị để họp bàn phương cách thâu hồi kế sách đã đem ra thi hành một cách bất đắc dĩ, Ngũ Lão mới phân thân giáng phàm đầu thai đủ năm phương làm năm vị giáo chủ của năm tôn giáo, bắt đầu truyền pháp thâu nhận môn đồ. Tới lúc các giáo chủ ngưng phổ độ, rời bỏ trần gian trở về Trời, đa số giáo đồ bỏ kinh bỏ đạo khiến cho nguyên linh phân tán đạo tâm, sinh linh tương tàn làm thương tổn hỏa khí của Trời đất.
Kim Mẫu tại cõi trời Ngũ Lão xót thương các nguyên linh chủng tử một đi không trở lại cho nên nay ban lệnh phổ giáng chân đạo quảng độ những người có phước duyên. Để cho việc khuyến hóa được hiệu nghiệm mau chóng bèn mượn hình thức giáng cơ để phát huy đạo giáo, ban truyền lệnh Trời để khuyên răn những kẻ ngang ngược. Vì phải cấp thiết độ chúng sinh cho nên Tam Tài đồng thanh lập thánh hội để họp bàn và đã đi đến quyết nghị chung là phải đem phong cảnh Thiên Đường sáng tươi tiết lộ cùng thế gian để khuyên nhủ và hướng dẫn nguyên linh trở về chốn cực lạc, giúp Kim Mẫu độ nguyên linh trở về nguồn cội. Hy vọng chúng sinh dưới gầm Trời xem xong sách này đều hồi tâm hướng thiện, quy y đại đạo, trở lại Thiên Đường, nguyên linh được siêu thăng cõi tam thanh hợp làm một khí hưởng thú tiêu dao.
Tế Phật: Cảm tạ Đạo Tổ đã tiết lậu hết thiên cơ để cảm hóa chúng sinh. Vì thời giờ eo hẹp, tôi còn phải đem Dương Sinh trở về Hiền Đường, ngày khác lại xin tới thỉnh giáo.
Đạo Tổ: Tốt lắm. Ra lệnh cho các đạo đồng hàng ngũ chỉnh tề tiễn đưa hai vị trở lại Hiền Đường.
Đạo Đồng: Xin tuân lệnh. Kính tiễn Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh trở về Hiền Đường. Mong sớm tới thăm lại chốn này.
Dương Sinh: Cảm tạ Đạo Tổ đã ban lời chỉ giáo ngọc vàng siêu diệu, xin bái từ. Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác. [33:19]
Đức Thầy giảng:
Đến đây chúng ta mới thấy rõ rằng chúng ta không phải là người ở đây sản xuất. Thấy cái nguyên lý sản xuất chưa? À, của bên trên xuống chớ không phải người thế gian, tôi đã nói nhiều lần. Hôm nay đọc ra mới thấy không khác gì mà tôi đã nói, là tất cả chúng ta không phải là người ở đây, không có ai chế chúng ta ra được hết. Chúng ta có quyền sống tự do trong tâm thức, mà tâm thức của chúng ta muốn thế nào? Muốn hướng thượng hay là muốn làm những điều ác, tranh chấp và sống trong cái chỗ eo hẹp? Muốn đi đường lớn hay là đi đường hẹp? Đó, đi đường hẹp thì cứ đem tham, sân, si hướng hạ, mà đi đường lớn thì cứ đem tham, sân, si hướng thượng.
Cho nên may mắn nhứt là chúng ta đã có cái pháp. Dù tâm sao lãng nhưng pháp thực hành rồi nó cũng nhắc nhở phải ăn năn hối cải và trở về với sự chơn giác của chính mình. Thì mới thấy rằng chúng ta đâu có phải là người phàm ở thế gian đâu. Tôi nói các bạn không phải người phàm, một nguyên linh của Trời Đất mà liên hệ với Càn Khôn Vũ Trụ là một, mà không chịu ý thức điều đó mà cứ xưng mình là thứ yếu hèn mà không chịu khai thác cái cơ năng sẵn có của chính mình để thực hiện cái hòa đồng của tam giới, cho nên rất thua thiệt. Thua thiệt ở chỗ nào? Càng ngày càng ở trong cái vị trí eo hẹp, rồi cái vị trí eo hẹp nó làm cái gì? Nó dẫn chúng ta đi xuống cái chỗ tăm tối, tranh chấp vô lý.
Mà ngày hôm nay chúng ta trong giây phút ta đi Thiên Đàng chơi đó, nghe người ta thuật lại Thiên Đàng, và tâm hồn, trong tâm thiền chúng ta thấy họ nói đó, chúng ta đến đó, có cái ý niệm, có cái khái niệm đến đó rồi. Rồi bây giờ chúng ta có cái pháp tu để tháo gỡ những cái gì mà trói buộc mà chúng ta không có đi được. Chúng ta còn ngồi đây lo cho người này, lo cho người kia, lo cho người nọ, là cột cái tâm, làm sao chúng ta bay được. Thấy chưa? Cái chuyện lo đó là Lão Mẫu đã lo rồi!
Cho nên kỳ này “Đạo Tâm” đã cho các bạn thấy, nghe lại cuốn Đạo Tâm, Diêu Trì Kim Mẫu đã khóc biết là bao nhiêu, nhắc các con Ngài trong cái bài ngâm (02:16 nghe không rõ) của Lệ Ba, các bạn thấy, cái tình yêu thương và phân tách từ li từ tí để cho các bạn đi/ thức tâm… (có mp3/mp4 có từ “đi”. Có mp3/mp4 có từ “thức tâm”) có gì sung sướng bằng, có gì cởi mở bằng, có gì thương yêu bằng, và chỉ ta chịu nhận hay là không. Nếu chúng ta nhận thì ta dễ về không. Về cái nguyên căn “không” thanh nhẹ chúng ta mới trở về cái cõi đó được. Còn chúng ta ôm sự bận bịu so đo thì làm sao mà chúng ta tiến hóa được. Tất cả đều sắp đặt hết rồi. Cũng như cha Nhẫn Hòa đã giảng rằng, đều nằm trong luật hết, các con là ở trong luật, không có ngoài luật, tại sao con phải sợ người này, sợ người kia làm chi. Sợ tâm mình xấu.
Luật Trời là thương yêu cởi mở, mà tâm mình cứ nghĩ gắt gao, hành hạ, làm sao tiến - Tâm mình eo hẹp! Tâm mình vô tư mà bị trở lại sự ưu tư, phải nặng không? Phải che lấp không? Phải tắt đèn không? Rồi bây giờ than trách với ai? Ai làm nấy chịu!
Cho nên tình thương của Thượng Đế, của Lão Mẫu là phải mở thêm Địa Ngục nữa, để làm chi? Chiều con, và cho nó có cái cơ hội đau khổ nó mới chịu thức tâm. Bình sanh ở thế gian, hoàn cảnh đã dạy nó, nó còn chưa chịu thức tâm. Nó nói: “Tôi có chồng, tôi bỏ thằng này, tôi lấy thằng kia, tôi bỏ thằng này, lấy thằng kia, lấy chục thằng mới có kinh nghiệm”, nhưng mà cái khổ (nghe không rõ)… nó đâu có biết. (ở video Thầy có nói một vài câu ở đoạn này). Còn thằng kia nó nói: “Ôi xời, tôi qua đây lấy vợ Mỹ”… lấy, lấy tùm lum, rồi bị khảo rồi mới “Trời ơi, chết cha mình ngu”. Rốt cuộc mới thấy ngu! Vậy chứ bây giờ có người ta nhắc và thấy rõ cái nguyên linh của mình, chớ không phải thấy cái xác. Nãy giờ nói không phải thấy cái xác, thấy cái nguyên linh, thấy cái phần hồn. Nguyên linh tròn đầy cũng như là Vũ Trụ, mà sự biến chế đó là phối hợp của ngũ hành mới cấu trúc thành một cái cơ thể siêu nhiên này.
- Và cái tâm hồn chúng ta tại sao không hướng về siêu nhiên, còn dại dột gì không tự chủ?
- Ta phải tự chủ! Ta phải nắm lại cái quyền năng sẵn có của chính ta!
Ở đời, chúng ta biết tha thứ và thương yêu thì cái đầu óc, cái sự sáng suốt của chúng ta nó mới nẩy nở. Mà không biết tha thứ và thương yêu thì cái sự tăm tối nó sẽ tràn ngập hận thù.
Tưởng đâu tôi trừng trị người đó là người đó tiến (mp3 và mp4 của nơi khác, nghe như không phải từ “tiến”)…. Chính tôi trừng trị người đó, tôi thụt lùi, mà người đó tiến hồi nào tôi không hay. Thấy chưa? Vì mình chưa đủ quyền năng. Còn quyền năng của Ông Trời đặt luật rồi thì có quyền trừng trị. Trừng trị ở chỗ nào? Cái luật này là đi xuống, mà cái bên này là đi lên, thì bây giờ đã có thang máy rồi, đứng ở đây cái nó đi lên, mà không nghe lời, đứng đây là nó đẩy ra, nó đi xuống, thấy chưa? À, cho nên đạp trật một chút là sai một li đi một dặm. Đường đi của chúng ta rất rõ ràng, có tam giới: thượng, trung, hạ, làm Pháp Luân Thường Chuyển cho nó khai mở, rồi thanh lọc cái hạ giới cho nó ổn định. [39:42]
Cho nên tại sao Lão Mẫu và Thượng Đế phải lập cái thế gian để làm gì? Ban đầu tính gởi Tiên xuống lập cho nó ổn định, Tiên xuống mê trần luôn. Bây giờ xuống, đem những người truyền pháp nhắc cho nó biết. Mà người truyền pháp là người nào? Cái người mê trần nhứt thế gian, là bị đau khổ nhứt thế gian, mà luân hồi nhiều kiếp nhứt thế gian mới được làm giáo chủ. Nó qua nhiều cảnh khổ rồi. Nó đã gỡ rối cho nó rồi, nó mới nói cái thực hành để cho người khác gỡ rối. Là nó rút ngắn con đường cho mọi người được tiến trở về nguồn cội.
Chớ cái người mà lên truyền pháp hay làm giáo chủ không phải dễ. Phải biết ăn phân, phải biết uống nước tiểu, phải biết cái gì dơ nhứt và không chê, không chán, thấy đó là luật, mà cái luật đó là cái luật phổ độ để cho tâm linh tiến hóa.
Cho nên ở thế gian đã thấy nhiều rồi, con người bị khinh khi nó mới chịu đi học; xin chén cơm còn (bị) đá chén cơm, nó tức nó mới học, thi thành trạng nguyên. Thấy không? Rồi hoàn cảnh nó ràng buộc nhiều quá, bây giờ chúng ta tức chúng ta mới tu, chúng ta mới thành Phật. (cười)… Hoàn cảnh vày xéo; thấy nó ác lắm nhưng mà nó là ân nhân. Không có hoàn cảnh thì không có bao giờ có cơ hội tiến. Hoàn cảnh là ân nhân, thấy chưa? Sau cái đau khổ rồi chúng ta mới thấy, nhờ cái hoàn cảnh, ngày hôm nay tôi có cái vị trí tu. [41:39]
Chính anh Lạc từ nhỏ muốn tu, mà tu đâu có được! Gia đình nghèo, phải đi học; học hết mình để có cái bourse đi ngoại quốc, rồi đi du học. Du học mà phải lo gia đình, lo báo hiếu; không dám ăn, không dám mặc mà để nuôi dưỡng cha mẹ. Cái đó là cái hoàn cảnh để dẫn anh đi tu; tu từ giai đoạn, ngày nay mới được bước vào làm một Hội trưởng của người tu - Không phải chuyện dễ! Hội trưởng của người tu chớ không phải Hội trưởng của người đời. Khó lắm à! Thì nhân cái cơ hội này mà để thực thi cái đại nguyện của chính mình. Phải sáng suốt, phải thanh tịnh, phải học hỏi, phải nhẫn hòa.
Cho nên anh Lạc bị chửi rất nhiều. Người khác là đã bỏ rồi, ai làm làm chi, chuyện không công mà bị nó chửi hoài. Nội Trần Văn Trường chửi cũng đủ mệt rồi; gặp Lạc đâu là chửi đó, nhưng mà Lạc lúc nào cũng là tiếp rất niềm nở.
Hỏi chớ, hai người có phải có tu không? Hai người cũng đã tu từ nhiều kiếp, bây giờ mới tương ngộ với nhau để trao đổi trong chu trình tiến hóa. Đó là một cái ân phước rất lớn, và sẽ đi tới. Các bạn phải nhìn những cái gương lành đó mà học, khuyến khích nhau, rồi tu tiến; rồi chúng ta không phải gặp ở cõi này nữa, cũng sẽ gặp một cõi khác nữa, rồi chúng kể lại cái chuyện tiền kiếp tu học lôi thôi, rồi cố gắng, rồi cha lên, cha xuống... rồi chúng ta mới biết đường cha đi, ta bắt chước ta đi theo. Cha lên, cha xuống, cha nào cũng hữu ích hết, không có cha nào nói bậy. Cha nào cũng khuyên mình tu thôi. [43:45]
Tại mình không chịu tu, rồi mình đâm ra mê tín, rồi cái thứ cha giả nó xâm chiếm, nó hưởng ngũ vị, nó cũng mượn xác tu thôi. Thấy không? Cũng trên đà tiến hóa tu học. Cho nên Ông Trời vẫn để họ làm, nhưng mà tội ai nấy chịu. Người nào đi sái luật thì người đó phải chịu luật. Luật phạt. Luật là công bằng. Thế gian ai cũng thích tự do, mà Ông Trời không có tự do sao? Có tự do, mà có luật.
Xứ Mỹ là tự do đây này, mà đèn xanh, đèn đỏ, đi ngược là nó đụng bể đầu, phải không - ráng chịu. Thấy không?
Cho nên cái nghiệp là cũng như đụng xe vậy đó, bể đầu. Hồi đó chị Hoa chỉ yêu anh Quang đó, rồi tưởng yêu sung sướng, dẫn đi chụp hình… “Chụp gì, bây giờ năm, bảy đứa, chụp gì, tôi không chụp hình nữa, mệt lắm”. (cười)… Năm, bảy đứa… (cười)… “Ông làm gì mà giờ tôi có năm, bảy đứa, nó mệt quá”! Thấy không? Đó, nghiệp đó!
Đụng đầu rồi, đụng rồi mới biết, mới thức tâm, mới lo tu, mới thấy rằng: “Ô cho, cha mẹ mình thương mình; cũng như mình biết thương con mình, mình mới biết thương cha mẹ mình. Rồi ngày nay mình làm mẹ mình mới nhớ rằng, Diêu Trì Kim Mẫu, mình thế Thiên hành đạo, thay Ngài làm một việc tốt cho con, thương yêu con, xây dựng con và lái lèo cho nó đi tới con đường chân chính - là trách nhiệm của người mẹ hiền. Cho nên cái “Đạo Tâm”, Diêu Trì Kim Mẫu cũng có nói, “Con thay mẹ hiền. Mẹ đã làm mẹ, bây giờ con là mẹ, con phải vì con hơn nữa, con phải thương yêu con hơn con hơn nữa, tức là con sẽ thương yêu nhơn loại hơn nữa, thì lúc đó là con được trở về nguồn cội”.
Cho nên cuốn Đạo Tâm nhắc đầy đủ hết, không có thiếu một phận sự nào. Cho nên hôm nay, hôm qua tôi nói lộn ngày rằm, chứ bữa nay ngày rằm, tôi thấy (nghe không rõ) thì nói vậy thôi; tôi cũng không ngày, không giờ gì. (cười)… Rồi tối nay mình sẽ vui, ha! Ờ, tối nay mình sẽ vui. Đến đây là tôi thấy… Nãy giờ vui không?
Các bạn đạo: Dạ vui!
Đức Thầy: Thì ráng vui với chính mình và cởi mở ra để đem cái vui an lạc của kỷ nguyên này độ cho tất cả, nhà nhà yên vui, ha! Thì thôi, các bạn cho phép tôi nghỉ ha! [46:32]
Hết cuốn 3 - ID# 19871005Q5