Luận Đạo Đêm Giao Thừa
Montreal 29-01-1987

Thầy Tám: ...như thế đó, mà Ngài đi qua lửa, rồi bởi vì các bạn đứng bên này, làm sao các bạn có cơ hội nhập Niết Bàn được? Bước qua đó, bước qua đó các bạn mới ngộ lại Ðức Phật. Người ta chỉ đường cho mình đi về quê. Tới đó đừng sợ! Ở thế gian này, các bạn tu, các bạn sẽ bị nhồi quả, nhiều chuyện lắm, thị phi, đủ thứ. Đừng sợ, cứ việc đi tới! Chúng ta đã hưởng được Lửa Trời rồi, và tiến thẳng vào Lửa Trời, mặc cho nó đốt để chúng ta tiến, mới thấy thực chất của chính mình. Nó rất rõ rệt!

Chớ đâu phải Thiên Ðàng mà phải gõ cửa, mà phải đi kiếm ông xếp để ổng mở cửa thì tôi ở đây tôi gởi tiền trước, tôi đi vận động rồi, tôi cần tu làm chi? Thì tu là tu trình độ thanh nhẹ, tới đó tôi chấp nhận bị đốt mà không có bị hư hao, tôi mới được tiến hóa. Tôi không có sợ sệt, không có thụt lùi. Cho nên phát đại nguyện tu là chỉ có đi tới mà thôi; và phát đại nguyện cứu người thì bất cứ trường hợp nào cũng cứu người, không có từ chối! Ðó là cái hạnh tốt.

Cho nên chúng ta tiến tới vô cùng thì phải học hỏi tới vô cùng, chớ không phải học hỏi có một chút xíu đó là hết đâu. Nhiều người đem cắt nghĩa cái lý bậy bạ, trật! Cái nguyên ý, đóng cái nguyên ý vô cùng mới cắt nghĩa được cái lý đó. Cho nên ý chí các bạn là vô cùng, không có ai khống chế được; mà các bạn biết dung dưỡng, biết thực hành thì các bạn mới tiến hóa tới.

B/Ð: Ông Tư có nói rằng, phần hồn là một vì Sao có tội nên bị đày xuống đây.

Thầy Tám: Ừ.

B/ Ð: Thì theo khoa học đó, Sao là một cái hành tinh, là như mặt trời. Thì theo về điển giới đó, Thầy cắt nghĩa như thế nào “một vì sao”?

Thầy Tám: Vì Sao là tánh thôi, tánh; Linh là khác. Cho nên người ta nói “Linh tánh, linh tánh, linh tánh, tánh linh”. Khi chết là cái tánh linh xuất khỏi ra cơ thể. Mà cái xác này là nó liên hệ một vì sao. Mỗi người tánh nóng, người tánh nguội, nó khác. Còn cái hồn, nó là còn hơn nữa, vô cùng! Nó là một điểm Linh Quang vô hình vô tướng mới hòa tan được với Thượng Ðế. Cho nên các bạn thấy không, các bạn nhiều khi buồn bực cái cơ thể bịnh hoạn này: “Tại sao nhập vô đây mà để lo cho chuyện bịnh hoạn không? Tu mà tu không được! Tại sao tôi có điểm Linh Quang, tôi không nhập trong cái cơ thể cho nó vui vẻ để đi chơi cho sướng?” Nhưng mà mỗi người có một cái nghiệp duyên khác nhau, phải học mới có tiến, phải đụng nó mới có tịnh.

B/Ð: Luồng điển của Vị Cứu Tinh đối với Ðức Di Ðà là luồng điển gì?

Thầy Tám: Vị Cứu Tinh đối với Ðức Di Ðà là hào quang của Ðức Thích Ca.

B/Ð: Dạ. Như đối với hành giả Vô Vi thì cái hiện tượng sự xuất hiện của Vị Cứu Tinh ở lúc nào và thời nào?

Thầy Tám: Tùy theo trình độ tiến tới Nếu tiến tới đó thì chúng ta tưởng Ðức Thích Ca. Như tôi, hồi lúc tu đó, tôi tưởng đến Ðức Thích Ca thì không có ngày nào, đêm nào, trên đầu tôi, tôi cũng thấy hình Ngài; đó là vị cứu tinh của tôi. Mà từ đó, nó phát triển nhiều chuyện thông minh và thấy hòa ái tương thân, thương tất cả mọi người, và âm thinh tôi nó thay đổi, mặt mày tôi nó cũng thay đổi luôn. Ði đâu tôi cũng thấy Ngài ở trên đầu tôi, là cái đường tôi đi là đường của Ngài đi.

B/Ð: Dạ. Theo Kinh A Di Ðà, thì chúng con hiểu là Vị Cứu Tinh xuất hiện khi chúng ta làm Phép Soi Hồn.

Thầy Tám: Không. Chiếu cho chúng ta, chớ không phải xuất hiện. Chiếu cho chúng ta. Khi mà chúng ta Soi Hồn đó, thì điển của chúng ta phóng ra. Phóng ra, thì cái phần thanh quang ở trên kia chiếu xuống để hỗ trợ cho chúng ta ra dễ dãi.

B/Ð: Dạ. Trong kinh, Ông Tư có nói: thì lúc mà Di Ðà được Vị Cứu Tinh xuống kêu hồn, vía, lục căn, lục trần ra, và cả bọn chúng đều quy thuận phần Hồn để tu. Nhưng mà trong thực tế của chúng con thì đâu có được dễ như vậy.

Thầy Tám: Ừ.

B/ Ð: Nhiều khi tu mười mấy năm rồi mà phần Lục Căn Lục Trần nó còn xúi bậy, nó cũng nhiều khi cũng sa ngã. Cái phàm ngã này nó cũng mãnh liệt lắm, chứ đâu có được mà như trong Kinh A Di Ðà nói: phần hồn nó, phần vía, lục căn, lục trần nó ưng thuận, rồi cái nó chịu tu theo một cách dễ dãi như Ông Di Đà.

Thầy Tám: Cho nên, cho nên bạn đọc đó không có đọc rõ là Ông Tư tu bằng cách nào? Phải đọc cái Ông Tư: Ông Tư ổng khổ nè, ổng đi làm thầy bùa nè, ổng đi làm thầy bói nè, ổng đi bộ từ ĐaKao đi tới Chợ Lớn nè, có ngày kiếm không ra một xu nè! Cái khổ hạnh của ổng nhiều hơn chúng ta, ổng mới đạt tới đó! Còn chúng ta ở đây: sung sướng nè, xách téléphone nè, nói chuyện nè, ngủ cái giường nó êm nè! Ông Tư không có tiền mua bàn bureau, mua salon, mà lấy đất sét làm cái salon để rước khách đó, đất sét đó! Ở Vườn Chuối mà làm cái đất sét, làm cái bộ salon. Chính tay ổng nắn, rồi ổng lấy giấy ổng dán vô, khách vô ngồi.

Ổng khổ hơn chúng ta nhiều! Mà chúng ta tu, là kêu bằng khổ hạnh; mà ngược lại, chúng ta sung sướng hơn. Có điều kiện tu, mà không chịu dốc lòng tu! Cho nên, các bạn thử khổ hạnh một thời gian các bạn thấy: “Ồ, Ông Tư ổng nói đúng”. Bởi vậy mà chúng ta mới xét ông Tư tu thế nào đã. Chúng ta cứ sung sướng, ăn nhậu, rước tà vào tâm nhiều hơn là thanh toán nó. Còn ông kia, ổng bắt buộc, bởi ổng nhịn đói để nuôi 10 miệng ăn mà! Thì ổng bị đau bao tử là vì ổng ăn một cục xôi một ngày mà thôi thì mới thấy được.

Cho nên, trong lúc tôi tu, tôi không phải bắt chước ổng, mà khi tôi gặp Ðức Thích Ca rồi, tôi mê ly và tôi không có muốn ăn nữa, ăn rất ít. Cho nên bà Tám kêu tôi là Ông Ðạo Cà, rồi Ông Ðạo Ðậu Hũ, là chỉ một đồng thôi! Ở Việt Nam đó, xài một ngày một đồng, không có thứ hai. Một đồng mua được gì thì tôi ăn nấy thôi, và tôi nấu cơm lấy tôi ăn. Bởi vì tôi ăn, tôi không có làm gì, tôi ăn rồi tôi đi bộ xuống, đứng trước cửa Ông Tư, chờ Ông Tư ngoắc vô nói một hai câu, rồi tôi đi bộ, đi qua bên Sở Thú, rồi tôi đi bộ về thôi, tôi không có tiền xe. Tôi phải học cái khổ hạnh đó. Mà trong lúc trước kia, tôi một bước là xích lô, một bước hai bước cũng xích lô, mà bây giờ tới lúc tôi tu là tôi giải thoát hết, dẹp hết. Tôi chịu khổ như vậy tôi mới được xuất ra.

Thì các bạn muốn tu, các bạn phải đọc lại cái người hành giả đi trước mình, họ làm cái gì mà họ được? Chớ đừng nói: “Tôi thấy, ơ, ông Tám ổng tu đạo đó được; tôi cũng tu đạo đó, mà không được!” Tôi tu, mà tôi tu ngược: ông kia giải, mà tôi lại rước! (cười) Tôi lại nhậu Whiskey, tôi đi chơi, tôi muốn kiếm em. Cái đó là làm cái gì được? (cười) Nhưng mà ở chế độ tự do này, phải tôn trọng cái quyền tự do của mọi người, và tự họ tu, rồi họ thức. Ðó, một thời gian rồi họ đổi tướng à. Họ ốm đi; nhịn ăn, nó ốm đi. Rồi nó thấy đầy đủ rồi, nó mới thấy rằng: tôi không phải ăn nữa, tôi làm việc, tôi độ. Lúc đó khác rồi. Ðứa này xin độ, đứa kia xin độ. Nghĩ chuyện độ, thì nó mập lại mấy hồi! Ăn mà vui á, thì con người nó tươi. Mà ăn mà buồn, mà lo á, thì bạc tỷ cũng là cái mặt buồn à! Thấy không? chúng tôi nghèo thiệt, nhưng mà vui. Ăn chút xíu, nhưng mà mặt mày tươi, không có ăn nhiều hơn người ta.

B/Ð: Lúc Vị Cứu Tinh kêu vía, lục căn lục trần và hồn của ông Di Ðà ra để rầy dạy, lúc đó là lúc hồn vía của ông Di Ðà gặp nhau lần đầu tiên. Sao cảnh gặp gỡ này chẳng có thơ mộng như ông Tám tả trong “Tình Yêu Siêu Thoát”, ngay cả sau khi Vị Cứu Tinh đã đi rồi?

Thầy Tám: (cười) Cho nên, một người, một người ở trong một thời đại thì học một lối, phổ hóa khác nhau. Còn tôi, mà nói theo cái thời đại xưa của Ông Tư đó, không ai đọc cái “Tình Yêu Siêu Thoát” của tôi. Bởi vì tôi nói cho cái thế hệ này và thế hệ này mượn cái trớn đó để thức tâm. Nó khác hơn. Nếu mà tôi nói như ông Tư, họ đọc họ buồn ngủ. (cười) Họ không có nghe vì họ đã nhiễm trần rồi. Tôi phải hòa trong trần tôi mới rút trược cho họ. Thành ra cái văn ngôn của tôi nó thấy hòa hợp với tuổi trẻ, và lớn cũng hòa hợp nữa. Ðọc, thấy cảm thức, thấy rõ mình hơn. Ðó. Cho nên, Ðức Di Ðà cũng là Ông Tư. Mà các bạn niệm Nam Mô A Di Ðà Phật, sau này các bạn cũng là Ðức Di Ðà; vì sức mạnh của Ðức Di Ðà tràn lan đại hải, khắp cả càn khôn vũ trụ. Những tia sáng đó, các bạn nhận, là các bạn là tia sáng đó mà thôi. Thấy chưa? Chớ đừng có nói ông Di Ðà quan trọng, không phải đâu, chỉ một tia thức tâm mà thôi!

B/Ð: Ông Di Ðà vốn là Phật, nhưng làm lỗi gì ở trên Trời nên bị xuống trần?

Thầy Tám: Ừ.

B/ Ð: Vậy đoạn đường tu hành của ông này có giống trường hợp những vị Phật xuống thế độ đời vì đại nguyện từ bi, chớ chẳng phải làm bậy có tội?

Thầy Tám: Không. Cái là, khi Người được thành đạo, ai cũng mong muốn, mong muốn trở về để cứu anh em ta được sớm giải thoát. Cho nên phát đại nguyện đó, phân thân độ đời, là chuyện thường của chư Phật; nhưng mà cái quả vị vẫn còn, ở bên trên. Chớ không có phải là nói bị tội, rồi đọa hết xuống đâu, như các bạn đây, đâu có phải đọa hết xuống đâu! Rồi các bạn tu tới cái trình độ lên Trung Thiên coi thử coi, ăn nói thao thao bất tuyệt, mà nó thông minh vô cùng! Té ra chuyện cũ của các bạn trở lại mà thôi, đâu có phải chuyện mới, đâu có hay gì đâu? Mình thấy không hay, mà người ta nghe mình nói hay quá, vì cái sự sáng suốt đó nó thanh nhẹ ở bên trên. Cũng như các bạn ở Canada có nhà, rồi bay về Việt Nam, thì bây giờ, nghĩa là, bữa nào mà các bạn trở về Canada thấy cái nhà mình, sướng không? Lúc đó ăn nói nó khác rồi. Mà ở Việt Nam, muỗi cắn quá mà, ăn nói nó lôi thôi. Thấy không? Nó khác (cười).

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Anh thấy không? Rồi chúng ta xuống thế gian đây, cũng như là muỗi cắn quá rồi, bây giờ tôi giải thoát lên trên đó rồi, cái gì cũng thanh khí, cái gì cũng nhẹ nhàng, thì cái văn ngôn chúng ta nó phải cởi mở; rồi trở về cái chỗ cũ, rồi nó sẽ hòa nhập ở trong cái đại thanh tịnh. Lúc đó mới tha hồ, đâu cũng có sự hiện diện của các bạn. Hiện tại Thượng Ðế, ở đâu cũng có sự hiện diện của Ngài. Ðại từ bi kia mà! Thì nhỏ nhứt cũng Ngài, mà lớn nhứt cũng Ngài, thì ở đâu cũng có Ngài.

B/Ð: Trong Sám, chữ Di có nói rằng, “Chờ lúc trúc cơ kết quả thành”.

Thầy Tám: Ðó.

B/Ð: Thì Ông Tám giảng, tu hành thanh tịnh thì được về chốn Trúc Cơ. Chỗ này có phải là vườn Trúc Lâm của Phật Quan Âm không?

Thầy Tám: Ðúng như vậy. Ði tới chỗ thanh nhẹ, không còn mê chấp nữa.

B/Ð: “Trống lòng, đầy bụng là giềng mối” có nghĩa sâu xa như thế nào?

Thầy Tám: Trống lòng, đầy bụng: là lòng chúng ta không bao giờ rước những sự ô trược, nghĩ những sự tham lam; không nghĩ những thứ đó. Mà đầy bụng, đầy Pháp Khí, đầy Pháp Thủy, mà thường độ chúng sanh. Cho nên gặp đâu, hỏi câu Ðời thì mình nói Ðạo rõ ràng, cho họ thấy trong Ðời có Ðạo. Cho nên họ sẽ dựa trong cái Kinh Vô Tự, họ thấy hành động đó, họ tu thanh tịnh; họ thấy hành động đó, họ quán thông liền. Cho nên họ thấy rằng: “Chu cha, hồi có Ông Tám thì tôi lên hỏi cái này, mà bây giờ tôi gặp nạn, bây giờ tôi hỏi ai?” Nhưng mà họ thanh tịnh rồi họ nói: “Chớ, cái nạn là gì? Cái nạn là cái phước ở tương lai. Tôi chấp nhận cái nạn này, tôi sẽ hưởng cái phước ở tương lai”. Thì họ thoát khỏi rồi, thấy không? À.

B/Ð: Ông Tư có giảng: “Mười tháng công phu, ba năm công quả” trong bài Nam Mô A Di Ðà Phật. Tại sao công phu ít vậy? Công quả tuy nhiều hơn công phu, mà cũng chẳng lâu?

Thầy Tám: Cho nên, công phu được xuất ra thì công quả nhiều hơn. Mỗi đêm tôi mỗi đi, mỗi làm việc. Trên đó người ta cũng cần dùng mình làm việc vậy! Vì tại sao? Mình tình nguyện đi làm việc, cứu độ vạn linh. Ðâu có phải tu cho cái cõi này đâu! Chúng ta từ trên xuống kia mà! Thì huynh đệ của ba cõi chúng ta đều có hết, tại sao chúng ta không đi làm việc? Cái công quả nó phải nhiều hơn chứ. Cái công quả đó mới thật sự là công quả, chớ không phải mua bánh cho người ta ăn là công quả đâu ! Công quả kia, công quả kia. Niệm Phật, tu hành nhẹ thì các bạn thanh lọc được cái thanh khí rồi. Cung ứng cái thanh khí cho càn khôn vũ trụ, cái khu vực mình ở cũng an nhiên, cái đó là cái công quả đó. Cho nên ngồi thiền, đó là có công quả rồi.

B/Ð: Trong Kinh A Di Ðà, trang 46, có câu: “Thận là điển Thiên Tiên, gọi là Thiên Nhứt Khảm”. Trong trang 61 lại có câu: “Thiên Nhứt Khảm ở bộ đầu gọi là Trời, rồi tới ngũ tạng là ngũ hành, tới Tỳ là bao tử, thuộc Thổ”. Vậy, Thiên Nhứt Khảm và Thiên Khảm Nhứt có giống nhau không?

Thầy Tám: Bởi vì một cái đi ngược, đi lên; cắt nghĩa để đi lên thì từ cái Thận đi lên, thấy không? À. Rồi từ đây mà đi lên Thiên Ðàng đó, phải cắt nghĩa đây là nó thuộc về Thận, nó liên tiếp một cái môi giới để tiến lên. Người ta cắt nghĩa hai chỗ cho mình đi. Từ đây lên đây, rồi cái Khảm này cũng nhứt, hai cái cũng hợp nhứt, thấy không? Cho nên người tu, ngồi thiền, mà khi mà nó hợp nhứt á, thì thấy cái Thận nó rút à! Rút rồi cái bộ dâm dục nó cũng rút, nó quên cái chỗ đó luôn, nó mất cái đó luôn. Thiên Khảm Nhứt, hai cái nó hợp, hợp, hợp; hợp lại quy một, ngay hà đào thành, tạo thành hết. Lúc đó các bạn nhắm mắt mới thấy hào quang rồi. Lúc đó mới thấy rằng: ông Phật không có nói láo, mà người ta không có vẽ bậy. Có hào quang. Cái đầu như cái nia, nó không có phải là cái đầu thông thường, như cái đầu của người mà không có tu. Lúc đó cái luồng điển nó khác. Như tôi ngồi dựa đây, tôi dựa cái ghế này, không phải đâu! Ở trong một cái tròn, tôi cảm thấy thanh nhẹ, thương yêu tất cả mọi người, vuốt ve tất cả mọi người. Cho nên các bạn ngồi dưới đất nhưng mà các bạn thấy nhẹ, chớ đâu có mệt đâu, nó khác! Rồi nhìn cái mặt tôi, thấy nó tươi, nó vui, trong cái sự thương yêu thật sự.

B/Ð: Thận và Tỳ thuộc ngũ tạng. Làm sao ngũ tạng lại ở giữa Thận và Tỳ được?

Thầy Tám: Ở... Ngũ tạng hả?

B/Ð: Tại vì trong câu 61, Ông Tư có nói: “Thiên Khảm Nhứt ở bộ đầu gọi là Trời, rồi tới ngũ tạng là ngũ hành ...

Thầy Tám: Ừ.

B/ Ð: ...tới Tỳ là bao tử, thuộc Thổ”. Thì bây giờ Thận và Tỳ thì thuộc về ngũ tạng,

Thầy Tám: Thuộc về ngũ tạng.

B/Ð: Làm sao ngũ tạng lại ở giữa Thận và Tỳ được?

Thầy Tám: Không phải ở giữa. Nó là liên hệ, là ngũ tạng. Ổng nói vậy là rõ ràng đó. Đó, nó là ngũ tạng, ở trong. Thận cũng là ở trong ngũ tạng, thuộc về ngũ tạng. Còn cái này là khác, đi lên trên. Nhưng mà nó cũng từ cái này mà biến hóa lên trên. Nó cũng một cái tổ chức vậy mà thôi.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Cho nên, để cho người ta đừng có nhầm lẫn, khi mà các bạn tu rồi, nó rút lên rồi, cái các bạn chỉ, bàn đầu, cảm thấy bộ đầu. Rồi khi xuất ra rồi, ở trên dòm xuống, té ra: thượng, trung, hạ của Tiểu Thiên Địa là một mà thôi! Phân gì bốn, năm, sáu thứ? Đâu có! Hết rồi!

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Lúc đó hết rồi. À, là mới điều khiển cái ngũ hành của mình được. Lúc đó mới đập ngực: “Ta là Chủ Nhân Ông!” Lúc đó bước xuống là mọi người phải quỳ. Hỏi chớ: “Tôi lớn như thế này mà làm sao tôi chun vô trong cái thể xác nhỏ được?” Nhưng mà nó là thoạt lớn, thoạt nhỏ, nó mới kêu bằng “Điển hình”. Ðó, thoạt lớn, thoạt nhỏ. Cho nên các bạn thiền, đương nhẹ vậy nè, ngồi thanh nhẹ, hết sức thanh nhẹ; rồi một chập, cái nó trở về, sao nó nặng trì? Nhập, nhập xác rồi, nhập trở lại rồi! Thì xả đi, nằm một chút, ngồi lại, nó nhẹ lại.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Cứ tập tành, tập tành, thét rồi nó gọn lại, nó thu nhỏ lại. Thì tới lúc đó, nghĩa là, chúng ta ngồi, mở mắt như vầy, muốn đi tới kia, nó đi liền. Lúc đó nó nhẹ rồi, nó cũng như con bébé, đi ra, đi vô dễ dãi, không có khó khăn, mà nhanh nhẹ vô cùng!

B/Ð: Dạ. Trong trang 49 có nói về Ma Ha Mục Kiền Liên. Thì, vậy thì còn bà Thanh Ðề là cái gì trong bản thể?

Thầy Tám: Bà Thanh Ðề là thuộc về cõi âm.

B/Ð: Dạ .

Thầy Tám: Âm, âm khí; là thuộc về phần vía thôi.

B/Ð : Dạ .

Thầy Tám: Thuộc về phần vía thôi. Cho nên, trong cái cơ cấu của chúng ta, chủ nhân ông nắm cái quyền âm dương. Khi mà thoát ra cái chỗ mà tôi nói hồi nãy đó, là nắm cái quyền âm dương. Thì bây giờ, đấng liên hệ với Thượng Ðế, Thượng Ðế đang nắm cái quyền âm dương. Cho nên thầy bói hay thầy tiên tri, nói đủ thứ, là nói nói vậy thôi; nhưng mà tới giờ phút chót mới là đúng. Giờ phút chót là cái ông nắm âm dương ổng cho biết, mới là đúng.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Chớ không có ông nào nói đúng hết thẩy! Bây giờ có nhập xác, xưng danh ông này ông nọ, nói cũng trật lất à! Cali nói mấy lần đó, nói sập đất, kêu người ta bỏ chạy. Chạy, rồi cũng chạy về! Tôi nói: “Lo tu đi, tu cho nó thanh tịnh đi”. Nó thanh tịnh rồi, nó có sập đất, mình đi về thanh tịnh, cái đó là đúng đường đi. Còn ôm cái xác, đi ôm cái xe hơi, ôm tiền bạc, chạy chỗ đó, thì nó cũng vậy đó à! Không sập trời, nó chết, thì nó cũng đi xuống địa phủ à! Thì tại sao ta không ở nhà đóng cửa, ta tu thanh tịnh, nó sập trời, ta được đi lên trên kia? Phải không?

Cho nên, nhiều người lại nói khích nè: “Thôi, nghe lời cha nói! Ðể tui đi!” Ði rồi, rốt cuộc rồi, hết tiền rồi! (cười) Có gì đâu! Mà tui nói họ không nghe! Bởi vì tui là một người thường, một người thông thường như mọi người. Họ tưởng họ là tu cao hơn, thì quyền của chính họ! Nhưng mà rốt cuộc rồi, họ mới điện thoại, họ nói: “Ưm, Trời ơi, vậy cũng phải đi lại đường của Thầy, chứ còn đi cái kia, nó hao quá!” (cười).

B/Ð: (cười!)

Thầy Tám: Nó hao quá, nó bỏ chạy hoài! Một chập cái, ổng hù nữa: “Tới rồi! Tới rồi đó! Bây giờ tới rồi đó! Bây giờ con mà không đi thì nó tiêu rồi!” Thiệt, có hai ba bữa, nghe nó động đất rồi, “Thôi, đúng rồi!” Chạy! Bị kẹt rồi! Nó động đất đó, mình cũng giữ cái hồn. Mà nó có sập nhà, mình cũng giữ cái hồn. Cái chết là chắc chắn người thế gian phải chết, mà không thanh tịnh làm sao đổ bộ vô chỗ thanh tịnh? Thấy không? Cho nên, giữ cái thanh tịnh đó, lo niệm Phật đi. Sập nhà cũng thây kệ! Nhà thì nó phải sập rồi đó, xác tui còn chết, mà nhà không sập là nói vô lý! Cứ việc để yên vậy để tôi đổ bộ trong chỗ thanh tịnh. Thấy chưa?

B/Ð: Dạ. Trong trang 50, “Ma Ha Ca Diếp, là lá gan hiệp với lá phổi. Lá gan, lá phổi, phát lửa điển sắc xanh”. Trong trang 52, “Ma Ha Ca Diếp là màu lửa sắc vàng.” Tại sao cũng cùng một dòng điển, mà khi thì nói màu này, khi thì nói màu khác?

Thầy Tám: Cho nên, nó ở mỗi cái nghiệp khác nhau. Cái nghiệp Hòa nó ở màu khác, mà nghiệp Sát nó phải ở màu khác. Như anh là màu xanh, nhưng mà anh giáng lâm xuống cái màu vàng, là anh ở trong cái xác rồi, thấy không? Còn mà anh từ cái màu vàng mà anh tu trở lên đó, nó là màu xanh rồi, thấy không?

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Mà từ màu xanh anh tu tới, là nó là không màu, vô sắc rồi, Vô Sắc Giới rồi. Cho nên, sự biến hóa đó không ngừng nghỉ. Cho nên con người cứ ôm cái gan và ở cái tánh, ở trong cái gan đó, là cái tánh tình không có ổn định. Nói gì cũng không dứt khoát, một chặp cái đổi màu rồi đó. Hứa với anh đi chơi, rồi một chút nói: “Thôi, thôi, thôi, nguy hiểm lắm!” Ðó, là cái đó nó biến màu rồi, nó biến hóa đó.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Còn mình đi lên trên không, Vô Sắc Giới rồi, không! Nói là làm, không có sợ nữa, không có thay đổi. Dứt khoát!

B/Ð: Dạ. Từ khi cấu tạo trời đất thì có ngũ hành, tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Thầy Tám: Ừ.

B/Ð: Thì chuyển qua về ngũ tạng thì đại diện cho là: Kim là phổi …

Thầy Tám: Ừ.

B/Ð: Mộc là gan …

Thầy Tám: Ừ.

B/ Ð: Thủy là thận …

Thầy Tám: Ừ.

B/Ð: Thổ là bao tử …

Thầy Tám: Ừ.

B/Ð: Hỏa là tim.

Thầy Tám: Ừ.

B/Ð: Thì cái màu mà tương đương với nó, như Kim thì phải màu trắng, Thủy thì phải là màu đen, Gan thì phải màu xanh; chẳng hạn như vậy.

Thầy Tám: Ừ.

B/Ð: Tại sao trong dòng điển thì cái màu nó lại khác với cái màu chủ của cấu tạo Ngũ Hành?

Thầy Tám: Cấu tạo Ngũ Hành, Tim là đỏ chớ, làm sao màu đen được?

B/Ð: Dạ, thì đúng rồi, Tim màu đỏ, Thận là màu đen; chẳng hạn như vậy.

Thầy Tám: Ừ, Thổ màu vàng.

B/Ð: Hay là trong Kim là màu trắng, Phổi là màu trắng.

Thầy Tám:

B/ Ð: Nhưng mà Ông Tư là ổng nói trong này: “Ma Ha Ca Diếp, là lá gan hiệp với lá phổi, là điển sắc xanh”.

Thầy Tám: Ừ, điển sắc xanh chớ.

B/Ð: Thì đáng lẽ phổi phải trắng, thì nó phải thuộc về màu trắng chớ.

Thầy Tám: Không, nó hai cái hiệp nhứt nó mới làm việc được. Cái sắc xanh đó nó mới có sự tiến hóa.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Nó có sự kích động, nó mới có sự tiến hóa. Mà nếu hai cái đó mà không có kích động, nó không bao giờ chịu đi tu. Nó kích động rồi, nó mới thức tâm, nó mới buông bỏ. Cho nên, mình làm Pháp Luân Thường Chuyển một thời gian rồi mấy cái màu nó séparés, nó đứng riêng ra hết: Kim ra Kim, Mộc ra Mộc, Thủy ra Thủy, Thổ ra Thổ. Ðứng riêng. Trong lúc đó, người ta chọc, mình hết giận. Bởi vì nó riêng rồi, nó không có groupés lại nữa. Còn nó, về phàm trần này, luôn luôn nó phải groupés, nó phải kích động. Anh nặng về Gan, sân á, thì nó phải liên hệ với cái Phổi nó mới sân được, thì nó phải Sát. Hai cái nó đập nhau là nó phải Sát. Anh hiểu không?

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Còn mình làm Pháp Luân Thường Chuyển, tại sao con người nó lại dịu bớt đi? Hồi trước tánh nóng, mà tại sao bây giờ tôi hết rồi? Hết rồi, yên rồi. Kim ra Kim, Mộc ra Mộc, Thủy ra Thủy. Không có chớp như đèn quân cảnh nữa, hết rồi!

B/ Ð: Trong trang 55, Ông Tư có nhắc đến một cái dòng điển mà nó để mà đánh đập, hung dữ, là “Ðà Ra Ni Ðế, Chơn Lăng Càng Ðế, Tỳ Lê Ni Ðế”, là điển gì ở trong bản thể?

Thầy Tám: (cười) Ðiển đó là điển quân sự; quân sự.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: À. Nó đi tới là ở dưới phải êm. Cũng nhiều khi nó đòi hỏi, trong lúc anh thiền, nó đòi hỏi anh ăn uống, hay này kia kia nọ. Anh nói “Cấm” là anh phải sử dụng luồng điển đó rồi.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Tỏa xuống như điển Thiên Lôi, thì nó phải ngưng ngay tức khắc.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Là nếu mà anh tu có điển đó.

B/Ð: Dạ. Nó phát xuất ra …

Thầy Tám: Còn người hiền, thường đó, nó đương ngồi đây, cái nó nghĩ ăn, rồi bắt đứng dậy đi ăn!

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: (cười) Không có khống trị được! Cho nên mình tu, mình phải chia ra hai giới: điểm Linh Quang là chủ, thể xác là lệ thuộc.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Nhứt định phải quản lý cho kỳ được. Nó muốn sai người ta làm, bắt mày làm! Bắt buộc nó làm, thét rồi nó thuần rồi á, lúc đó các bạn thấy rõ, vía, hồn, lục căn, lục trần. Các bạn mới có cơ hội giáo dục nó. Càng giáo dục càng thích thú; càng giáo dục càng khám phá được cả Càn Khôn Vũ Trụ nằm hẳn trong Tiểu Thiên Địa này, không ở đâu hết.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Ði đâu xa cho mệt? Cho nên, lúc nào bạn cũng định.

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Cho nên tôi, tôi bày cái bàn roulette để cho các bạn, nghĩa là, chơi roulette trong động mà tìm tịnh. Nó là chợ đời mà! Mình ngồi mình chơi, mình chơi: “Chết cha! Ăn, thua, ăn, thua!”, nhưng mà vẫn làm việc. Trong động tìm tịnh, trong động tìm tịnh, mới thật sự là tịnh. Nó rút ngắn thời gian cho các bạn. Lẹ nhứt! Thay vì các bạn ngồi Thiền vầy để tịnh, gặp thằng nhỏ nó la, cái bạn động rồi! Mà các bạn chơi cái đó rồi, bắt các bạn ngồi, thiền là thiền chớ thằng nhỏ ăn chung gì! Thấy không? Ba mươi sáu con số mà nó quay tôi không nổi, thì có một thằng, không có ăn chung gì hết đó! Học cái tịnh trong động. Cho nên tôi khám phá cái này, để tôi giúp cho mấy người cái thần kinh yếu. Tương lai, ở Thiền Viện, tôi sẽ làm riêng một căn phòng, mời mấy thằng cha đó, ăn no, khóa cửa, cứ ngồi quay đó, quay tới chừng nào thức tâm mà thôi. Mau lắm!

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Ba tháng à! Vừa quay vừa niệm Phật, vừa quay vừa niệm Phật . Ðể ba tháng nó niệm được Nam Mô A Di Ðà Phật. Nó thấy, nó thấy cái “ jeu” mới, cái Kinh mới của tui đang dạy người ta. Tỉnh người ghê lắm và thông minh lên! Hết khùng!

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: Bây giờ tôi không có phương tiện. Tôi sẽ, có phương tiện, tôi làm một cái phòng riêng cho mấy ông, mấy bà đó chơi thôi. Khùng là vô chơi à! Mà làm sao, tôi trị sao hết khùng thôi!

B/Ð: Dạ.

Thầy Tám: (cười) Tôi làm một kiểu mới. Rồi sau đó, tôi mời báo chí tới. Hả? Không cần uống thuốc, mà trị cho nó hết bệnh thôi. Tôi nghiên cứu kỹ lắm. Tôi nghiên cứu, tôi đi casino nghiên cứu, chớ tôi không phải ở đây đi nghiên cứu nghe! Tôi ngồi tôi oánh 5 tiếng đồng hồ, nghĩa là, tụi nó nói, nghĩa là: “Không có một người nào có thể ngồi như vậy được. Mà tôi nhìn ông á, tôi chóng mặt luôn!” Bởi vì tôi niệm Phật. Ở đây nó nổi lên vậy nè, nó cứ nhìn cái cục này nè. Tôi cứ ngồi tôi niệm: “Nam Mô A Di Ðà Phật”, mà tôi cứ đánh một đồng bạc hoài. Mà tôi oánh từ 10 giờ sáng tới 12 giờ khuya cho nó chơi! Nó nói: “I get a little bit now! Can I follow you? You can, you, you, you go home, better!” (cười) Tôi nói: “I will follow you to the last minute”. Tôi chơi vậy đó! (cười) Nó cười quá chừng! Mà nó nhìn một chặp, cái nó làm như vầy. Bởi vì ông này chì quá mà! Không có ai ngồi như vậy! Nhưng mà tôi thấy, để cho nó thấy cái difference mà tôi niệm Phật.

Mà trong lúc tôi ngồi trong cái salle d’attente, tôi nhắm mắt đó, những cái mặt xấu thiệt xấu, mỏ thiệt dài, chạy xung quanh cái, ào, ào, ào, ào vậy đó! “Ô! Thằng cha này nó có ánh sáng, nó có hào quang!” Quỳ, quỳ, quỳ tới, cái êm, êm, êm, êm. Lần, lần, lần, lần, êm, êm, êm, êm hết! Tôi ngồi, tôi ngồi nghiêm chỉnh, mấy, hai chục phút; tới chừng đó thôi. Con Bê cũng sợ, con Bê nói: “Sao Ba nghiêm quá, Ba ngồi nghiêm quá!” Ngồi nhắm mắt, cái tự nhiên tôi ngồi nhắm mắt, nghiêm vậy đó! Rồi tôi quán độ cho những số đó. Rồi tôi cười. Vậy thôi!

Mình phải thực tế nghiên cứu. Cho nên các bạn tu đi, rồi các bạn sẽ nắm luồng điển đó. Các bạn đi cùng khắp thế giới để phá mê phá chấp và cứu khổ ban vui. Chớ không phải là bị người ta nói cái gì bậy. Các bạn sẽ phá mê phá chấp. Cả thế giới còn ngu muội, không biết! Trong cái mê chấp, tạo khổ não cho chính họ mà không hay. Bây giờ tu rồi, tu có điển, có hào quang rồi, các bạn cứ đi thí nghiệm thử coi lời nói tôi nói đúng không. Bây giờ có văn minh, nó đã thâu băng để đây, ngày nào tôi chết rồi, các bạn có quyền thưa tôi chớ! Thấy không? Thưa ông Thượng Ðế hay thưa ông gì cũng được. Vì tôi nghiên cứu là tôi phải nghiên cứu, nghiên cứu cho tới cùng sự việc đó nó là cái gì? Tương lai đem lại một cái hữu ích cho những người ở thế gian. Nếu mà tôi chơi như vậy khùng, là tôi khùng rồi! Càng minh mẫn, niệm Phật càng tinh vi! Hay vô cùng! Tôi mới khám phá ra được. Mặt mày lúc nào cũng tươi, tươi rói! Niệm Nam Mô A Di Ðà Phật, tươi rói! Mà trong đó, ai biết niệm đâu? Mình niệm thôi! (cười)

B/Ð: Kính thưa Thầy, đến đây đã hết giờ rồi. Chúng con rất lấy làm hối tiếc, bởi vì trong nửa giờ vừa qua, chúng con đã ăn được một bữa cơm thanh điển rất là ngon lành. Nhưng mà cái phần đó cũng chưa được đầy đủ lắm, chưa thỏa mãn lắm! Nhưng mà âu cũng là cái ý của Cha Bề Trên chuyển như vậy. Thành ra, trước khi mà Thầy ra đi, chúng con cũng xin Thầy ban cho chúng con một vài lời nhắn nhủ để chúng con lấy đó mà tu tập trong lúc Thầy vắng mặt.

Thầy Tám: Tu là phải hành, chớ không tham. Tham nhiều quá, hành không nổi! Montréal tham lắm, gởi đủ thứ về hết đó, mà chưa có coi hết! Thấy không? Khi tôi đi, tại sao tôi phải đi? Tôi tới đây rồi tôi thấy ở nhà này đó, họ không thèm coi phim, mà họ không nghe, và họ không đặt những câu hỏi thắc mắc đó. Tôi phải bỏ đi, rồi họ mới tìm ra, họ tức, rồi họ đặt, rồi bây giờ tôi mới có cơ hội trả lời. Chớ còn tôi ở đây, họ không có làm. Cũng như Bà Tám đó, tôi về rồi, bả nói: “Thôi, người ta tu gặp Phật; tôi gặp Phật, thôi tôi thiền làm chi?!”

B/Ð: (cười)

Thầy Tám: Thì tôi cũng phải đi, thấy không? Cho nên tôi ra đi, nó có cái công chuyện tôi làm. Làm cho ở đây và làm cho ở kia. Thì tôi không có thì giờ hưởng, hưởng thụ. Tôi không có cái thì giờ cho tôi. Ngay cả Việt Nam, tôi, thứ bảy, chủ nhựt cũng không có thời giờ cho tôi nữa. Thứ bảy cũng đi giảng đạo, chủ nhựt cũng đi giảng đạo. Mà không có một đồng xu teng! Không có phải cái thời giờ của tôi. Rồi bây giờ tôi bỏ Montréal đi, thì Montréal sẽ tiếp tục coi lại tất cả những cuốn phim video, phê phán, rồi thậm chí muốn viết thơ cho tôi, tôi cũng trả lời cho, hay là tôi thâu băng tôi gởi về cho. Rồi để các bạn thấy rằng lòng tham của các bạn nhiều, mà hành ít!

B/Đ: (cười)

Thầy Tám: Ðại tội đó! Nhớ, ráng hành đi! Thấy không? Rồi phổ hóa. Thôi, thành thật cảm ơn các bạn.

B/Ð: Thưa Thầy, xin Thầy nán lại một chút. Trước khi dứt lời thì bác Huỳnh có một vài lời thưa với Thầy.

Thầy Tám: Dạ.

B/Ð: Kính thưa Thầy, hôm qua con đã trình với Thầy cái quyển sách “Ma vie au paradis” mà con vừa dịch, thì hôm nay con xin phép Thầy để con phân phối.

Thầy Tám: Dạ. Phân phối cho bà con xem cái cõi bên kia.

B/Ð: Dạ, cái cõi bên kia.

Thầy Tám: Chớ để mình sau này, mình, hồi xưa á, mình ở Việt Nam, người ta nói: “Canada hay lắm!” Bây giờ mình qua đây, thiệt, thấy cũng hay. Chớ hồi đó mình nghe người ta xuyên tạc, nói Canada thiếu cơm ăn, hay độc tài, đủ chuyện. Bây giờ mình thấy Canada là Thiên Đàng và đủ điều kiện cho mình tu, mà mình không tu là mình dại, ráng chịu à! Há?

B/Ð: Kính thưa Thầy, tôi rất hân hạnh được các đạo hữu giới thiệu, và cũng xin gia nhập cái môn tu Hư Vô.

Thầy Tám: Dạ.

B/Ð: Từ lâu, chúng tôi đã theo dõi và đã thực hiện, nhưng mà chỉ thực hiện phần nào.

Thầy Tám: Ừ.

B/Ð: Trong cái thời gian thực hiện, là hồi chúng tôi bị trong nhà tù Cộng Sản, thì thực sự đã giúp ích chúng tôi rất nhiều. Nhưng mà chúng tôi cũng chưa được sự hướng dẫn, chỉ rõ của những người đi trước. Thành ra vẫn còn trong cái vòng hơi lẩn quẩn, chưa dứt khoát, chưa rõ ràng.

Thầy Tám: Dạ.

B/Ð: Thì hôm nay, tôi rất hân hạnh được gặp Thầy, do sự giới thiệu, dẫn dắt của một số đạo hữu ở đây. Hôm nay để xin hỏi Thầy một câu, là cái phép tu Vô Vi, so với các tôn giáo khác, thì có thể sắp đặt thành một thứ tôn giáo hay là không? Và phép tu này có thể gọi là phép tu nhập thế hay là phép tu xuất thế? Mà nếu là xuất thế thì coi như là, cũng có thể là coi như đạo Phật, hay đạo Cao Ðài, hay đạo Hòa Hảo. Mà nếu là nhập thế, thì có thể coi như đạo Khổng, đạo Lão. Thì đạo Lão cũng là hướng về sự Vô Vi. Xin Thầy chỉ dẫn và hướng dẫn cho để cho chúng tôi được rõ.

Và ngoài ra, thì cái này chúng tôi cũng chân thực, thì nghe có một số người, có thể là miệng thế gian thì có sự đố kỵ, hay là có một cái sự ganh ghét nào đó, có thể nói không tốt đẹp, hay là nói những cái sự sai lạc, xuyên tạc, về cái phép tu Vô Vi. Dạ xin Thầy nói rõ, và xin Thầy nói lên để cho tất cả, gióng lên một tiếng để cho những cái người mà hiểu lầm, có thể là về phép tu Vô Vi, hoặc là cũng có thể xin, có thể là về cá nhân Thầy. Nhưng mà chúng tôi quả quyết là chúng tôi không tin.

Thành ra chúng tôi xin Thầy nói rõ thêm về các cái điều chúng tôi vừa trình bày. Cám ơn Thầy.

Thầy Tám: Cho nên, tu nhập thế hay là xuất thế, cũng là ta mà thôi, cũng là phần hồn mà thôi! Chúng ta đã nhập thế, ngự trong cái Tiểu Thiên Địa, thể xác eo hẹp này; rồi trong tăm tối làm sai lầm đủ chuyện, thù hận, tranh chấp, rồi tự mình giam mình, tự mình trói buộc mình trong nghiệp tâm và không thoát được. Chính chúng ta, mọi người đều có.

Rồi xuất thế là sao? Chán đời. Mà trong cái lúc chán đời, nói sao: “Tôi thấy sao cái đó tôi chán”, mà trước khi chán tôi lại thích. Tôi thích cái việc đó, rồi tôi đâm ra tôi chán. Tôi chán thì tôi mới thấy rõ rằng: chính tôi là người trói buộc tôi, tôi tạo nghiệp cho tôi, tôi phải tháo mở nghiệp. Nhưng mà kỹ thuật không có, tôi không biết làm sao thoát được! Tôi đi chùa tôi tìm thầy, tôi đi đâu tôi cũng nghe. Bởi vì tánh tôi nóng, tánh tôi động, tôi tới đó tôi nghe một chút, tới kia tôi nghe một chút, tôi nghe không hết. Chớ kỳ thật, đạo nào cũng có cái chiều sâu siêu nhiên của chính nó mà người tu không dốc lòng đi theo, thiếu kiên nhẫn học hỏi. Như đạo Phật cũng hay, tinh vi vô cùng. Ðạo Lão cũng hay, đạo nào cũng hay hết. Ðạo Thiên Chúa cũng hay. Nếu không hay, sao cả triệu triệu tỷ người người ta theo để làm gì? Nó có cái hay mà chúng ta chưa tìm ra được. Cũng là đạo giải thoát, thấy chưa?

Còn cái phương pháp hiện tại của Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí đây, là đời đạo song tu, trong thực hành để làm cho mình có sức khỏe, và lui về dung điểm thanh tịnh của chính mình, mình thấy mình đang lưu lạc tha phương cầu thực, thành xác nhận rõ phần hồn. À! Cho nên ở bên ngoài, người ta không hiểu cái đạo gì? Họ tưởng đây là một cái tôn giáo. Không! Đây là một kỹ thuật để cho mọi người tu để trở về với chính mình, tháo gỡ những sự tăm tối sẵn có của chính mình, mau lẹ hơn, bằng một cái phương pháp; thay vì ngồi đó cầu xin, biết chừng nào mới có? Có người đã cầu xin mười mấy năm, ba chục năm, chưa có một hiệu lực!

Còn cái người thực hành của Pháp Lý Vô Vi này, tất cả, bạn xem có người nào ngu đâu? Người nào cũng khôn lắm! Nó bán trời, gạt bạn như không! Nhưng mà nó không thèm nữa. Nó nói thấy cái nghề đó không hay, lưu manh, tăm tối; nó trở về với sự chánh giác của nó, nó tu. Chớ nó có cái khả năng làm việc. Nó vẫn đời đạo song tu, làm việc ở thế gian giúp nó tráng kiện, đem ảnh hưởng cho người khác. Và người nào ở tôn giáo nào phải về tôn giáo đó. Người Cao Ðài phải thành thật với Cao Ðài Tiên Ông, lo tu, không lường gạt mình và lợi dụng Cao Ðài Tiên Ông. Người Thiên Chúa giáo phải thật tình tin Chúa, mà để thực hiện hành khổ như Chúa để tiến hóa. Thấy chưa? Thì tất cả cái đạo nào phải quy về cái đạo nấy. Còn cái phương pháp thực hành này là lập lại trật tự cho cá nhân, mau chóng hơn. Cảm thức sự sai lầm mình, sự phản bội của mình đối với Chúa, phản bội của mình đối với Phật, phản bội của mình đối với Tiên Thánh! Khi mình cần, mình “Dạ”, quỳ; khi mình giận, mình chửi “Cái đó là tà đạo!” Cái đó là tự cái tâm phản trắc, mọi người, người nào cũng có.

Cho nên thị phi ở thế gian, kẻ có tu thực hành, không muốn thị phi. Người chưa thực hành, có quyền thị phi. Mà nhờ sự thị phi đóng góp. Cũng như bạn làm một cái điều gì tốt, bạn làm ăn qua đây, bạn trúng một triệu. Bạn làm ăn, nhà giàu cũng có bị người ta chửi vậy! Chớ bạn đâu có nhà giàu, không bị người ta chửi đâu?

Chúng tôi nhà nghèo, chúng tôi nghèo, chúng tôi thấy chúng tôi mất nước, mất cơ sở, mất quê hương, mất cả Thiên Đàng, chúng tôi mới cố gắng tu trở về với sự chánh giác của chúng tôi. Chúng tôi đau khổ vô cùng, chúng tôi hòa tan trong đau khổ, và chúng tôi chơi với những người đau khổ để tháo gỡ kỹ thuật đau khổ đi, để trở về với sự chánh giác, và nhìn nhận ta đã phản trắc đối với Trời Phật, ta bất hiếu đối với cha mẹ, bất hiếu đối với quần sanh, bất hiếu với bạn bè, thụ lợi mà không giúp đỡ người khác.

Cho nên anh em chúng tôi coi tiền bạc không nghĩa lý gì. Chúng tôi quan trọng là tình thương. Tại sao giữa con người và con người, mắt mũi tai miệng như nhau mà không có biết thương yêu nhau, không nhìn nhau, không biết mình từ đâu đến đây, rồi sẽ về đâu? Sự ngu muội vô cùng của chúng tôi, và chúng tôi đã khám phá ra được, chúng tôi mới sống trong cái thức hòa đồng. Chúng tôi không cần hỏi anh là đạo nào. Tôi không cần biết anh đạo nào, tôi biết anh là con người, là anh em của chúng tôi, đồng hít thanh khí của cả Càn Khôn Vũ Trụ, sống trong một nhịp sống như nhau, hít vô, thở ra. Anh thấy không? Anh ở trong trại tù cải tạo, nó tháo gỡ tất cả vật chất rồi, anh mới vỏn vẹn còn cái gì? Còn tâm linh. Anh mới nghe cái Pháp này, thực hiện, rồi anh lập lại quân bình, anh cảm thấy tâm nó an. Rồi qua đây, vật chất anh không có hơn người ta được, buôn bán anh không hơn người ta được. Tất cả, so sánh một cái là mình cũng như là không còn gì hết, chỉ vỏn vẹn đem phần hồn ra đây mà thôi! Mà trước kia đại nguyện chúng ta: nguyện theo Chúa, thì chúng ta phải giữ đức tin theo Chúa; nguyện theo Phật, chúng ta giữ đức tin theo Phật, và chúng ta phải hành khổ như Phật, hành khổ như Chúa. Tâm ta luôn luôn học từ bi và thực hiện từ bi, hòa với các giới, độ mình, ảnh hưởng tha nhân.

Cho nên bạn đạo Vô Vi đây, chỉ câm cái mồm lo tu. Trước kia hung hăng, nói này nói kia dữ lắm, rồi bây giờ, trở về tu rồi, mới thấy: tin Chúa kính mến Chúa, tin Phật kính mến Phật. Những người Cao Đài đi lễ đàng hoàng, những người tu nhà thờ phải đi lễ đàng hoàng. Cái lễ đó là nó đã để lưu lại bao nhiêu ngàn năm tới bây giờ. Nó có cái phép tắc trong đó mà mình không thanh tịnh, không thấy, rồi đâm ra chê. Đó là một cái tội! Còn đằng này chúng tôi không có kêu ai bỏ cái đạo của họ. Chúng tôi chỉ truyền cảm một cái kỹ thuật: làm sao cho tâm tánh được cởi mở và hướng thiện, lạc an. Chỉ có bây nhiêu công chuyện đó thôi, chớ chúng tôi không phải một cái tôn giáo. Là một cái phương pháp để thực hành trở về với chính mình, và anh thuộc căn nào thì anh về căn đó thôi, chớ chúng tôi không có buộc phải theo tôi. Chúng tôi không có. Chúng tôi là giữa bạn đạo- bạn đạo trao đổi. Tôi làm sái quấy? Chỉ trích thẳng thắn. Phải không? À!

Còn ở bên ngoài thì thị phi là cái chuyện đó thường có. Ở cái xã hội động loạn, làm sao không có sự thị phi? Mỗi người hiểu một cạnh, thì nói: “Ôi, thằng cha đó nó chơi bời mà nghe nó cái gì? Tu cái gì?” Thì mình cũng nghe vậy, bởi vì mình chưa gặp người đó. Mà khi gặp rồi, thấy tại sao người đó nó càng ngày càng vui? Mà mình gặp đó, mới thấy cái thâm tình huynh đệ nó có thật, và sự chung sống của cả Càn Khôn Vũ Trụ. Chúng ta mới nhận thức: chính ta là học viên cả Càn Khôn Vũ Trụ, đang học và đang tiến, chứ chưa được hưởng thụ. Cái nhịp tim ta còn đập mà hưởng thụ cái gì? Làm việc đó! Giấc ngủ cũng làm việc, để xây dựng cái thức càng ngày càng thanh nhẹ, càng thông cảm, càng quán thông, mới thấy cái thức vô cùng! Lúc đó cái tinh thần phục vụ của chúng ta đối với chúng sanh, đối với quê hương xứ sở, đối với đồng bào, đối với ai chúng ta phải thật tình trong thật thà. Chúng ta nhìn nhận ta đã gạt ta nhiều quá, ta không tiếp tục gạt nữa.

Thì cái phương pháp công phu này nó chỉ có bây nhiêu công chuyện đó thôi. Ðó! Ai muốn trở về với chính họ thì thử thực hiện, chớ chúng tôi không có bắt đóng nguyệt liễm, hay là ghi tên, hay ghi họ, hay đăng ký, cái đó chúng tôi không có. Chúng tôi biết rằng anh em trong quả địa cầu, con thú nó cũng có ngũ tạng như chúng ta, cây cỏ nó cũng đang có cái sức hồi sinh tiến hóa: Thiên sanh nhân hà nhân vô lộc. Ðịa sanh thảo hà thảo vô căn?” Bạn thấy chưa? Cây cỏ, chúng ta cắt đi, nó khô rồi, bữa sau chúng ta tưới nước, nó cũng hồi sinh. Thức hồi sinh vô cùng là do điển giới rút nó, chớ không phải do nó tự tiến.

Cho nên không hiểu, nhiều người không hiểu, tưởng là “tôi tự tiến, tôi tự làm.” Vậy chớ bạn tự làm, bạn đâu có cần cái sự liên hệ Càn Khôn Vũ Trụ? Vô khạp, tôi đậy lại, còn bạn không? Không! Chúng ta phải sống chung, sống chung với Càn Khôn Vũ Trụ. Trong này có Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thì bên ngoài cũng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thì chúng ta cũng tứ quan ngũ tạng: mắt, mũi, tai, miệng, ngũ tạng như nhau; có anh nào khác hơn anh nào không? Rồi cái thằng đó, là đạo thằng đó khác hơn tôi. Khác ở chỗ nào? Tôi chưa hòa thôi! Tôi hòa thì nó là tôi đó. Tôi thương yêu! Tại sao một người bị thương chết ở ngoài đường, tôi tới, tôi thấy thê thảm? Gãy tay gãy chân, cảm động vô cùng! Tại sao? Nó không phải là thể xác của tôi, mà tại sao tôi phải đau? Tôi phải ôm nó lên, tôi phải cứu nó. Tại sao? Chúng ta đồng nhứt thể, huynh đệ trong nhà. Cái nhà chúng ta là cái nhà Càn Khôn Vũ Trụ, chớ không phải cái nhà eo hẹp như thế này. Nói nhà tôi kiểu tốt hơn nhà kia. Nhà nào cũng vậy, người ta xây tạm mà thôi! Rốt cuộc mọi người phải lấy trời làm nhà, mà lấy đất làm giường, chớ đâu có ai được ở trong căn nhà này mãi mãi đâu?

Cho nên chúng ta biết cõi tạm và thể xác tạm thì chúng ta không có lo âu, và không có xây dựng sự tranh chấp. Thể xác của chúng ta không phải của ta. Lấy cái gì chứng minh? Giờ phút lâm chung, anh có ôm cái xác này đi chôn được không? Anh trả lời dứt khoát: “Không!” Thấy chưa? Thì ai là người ôm xác đi? Ðó. Cho nên sự liên hệ của cái thể xác này nó làm gì? Nó kích động và phản động, nó nhắc cho phần hồn anh biết anh, và anh phải trở về với chính anh, càng sớm càng tốt. Thì giờ không có nhiều. Mười tuổi, hai mươi tuổi, ba mươi tuổi, bốn mươi tuổi, năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi. Hết! Hết làm việc được, lụn bại rồi! Mà bây giờ không tu, chừng nào mới tu được? À! Lo tu bổ sự khiếm khuyết để lập lại sự quân bình của chính mình thì cái lời nói mình là vàng, chớ đâu phải cần cho tiền người ta? Anh cho tiền tôi, tôi không biết, tôi ngu muội, tôi xài hết, thì cũng cái tánh nào tật nấy thôi! Mà anh đưa một lời vàng tiếng ngọc, chỉ một đường lối cho tôi tiến hóa, thì tôi trở về với vô cùng, tôi mới là hưởng hạnh phúc của Trời Phật. Tôi đang sống với Trời Phật, mà tôi chê Trời Phật; tôi đang sống với đạo pháp, mà tôi phản lại đạo pháp! Ðạo pháp ở đâu? Ðạo pháp là sự quân bình trong tâm của mọi người. Thấy chưa?

Cho nên tôi mong rằng, những người hiểu lầm, nói sai, mà họ gặp tôi á, thì hết. Nhiều lắm! Cũng anh em không. Nhiều người không hiểu, bởi vì họ nương theo cái cá tánh của họ, và họ quên cái chủ quyền tha thứ và thương yêu của chính họ. Cho nên họ có quyền thị phi bất cứ ở lúc nào. Họ muốn nói gì họ nói. Chớ kỳ thật là không có ai, chúng tôi không dám mích lòng ai. Chúng tôi là người học viên cả Càn Khôn Vũ Trụ, thì những lời anh hỏi, chúng tôi được học. Cảm ơn anh. Và những lời tất cả những người nào hỏi, tôi cũng đang học, và tôi cũng cảm ơn mọi người. Nếu không có mọi người, làm sao tôi phân minh được mà tôi học thêm để tiến hóa? Thấy chưa? Rồi chúng ta đồng đẳng, đồng thức, hòa đồng, học hỏi, tiến hóa, thì mới mau. Mà ràng buộc trong một cái khuôn khổ đó, cũng như cái trình độ anh thích hợp như thế này, mà bắt anh kẹt vô chỗ này, làm sao anh tiến? Còn cái phương pháp này là khứ trược lưu thanh, thì Soi Hồn là cái trược, cái động ở trong khối óc của anh nó giải ra. Anh làm Pháp Luân Thường Chuyển, đem cái thanh khí điển Càn Khôn Vũ Trụ vô nó giải cái trược cho anh. Anh được an, nhàn hạ, cái pháp của anh, chớ đâu phải cái pháp của tôi? Anh không làm thì cái pháp nó không có chạy vô. Thấy không? Mà anh làm bằng cái gì? Lấy cái thanh nhẹ, lấy cái ...

(hết audio)


----
vovilibrary.net >>refresh...