[19870000L13 - Cuốn 13]
ĐỊA NGỤC DU KÝ
THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG TẠI MELBOURNE - ÚC CHÂU - 1987 - Từ Hồi 55 đến Hồi 59
DẠO ĐIỆNTHỨ MƯỜI GẶP GỠ CHUYỂN LUÂN VƯƠNG
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 9 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1978)
Thập Điện Diêm Quan thiểu thuyết tình
Hoành hành đáo thử đảm tâm kinh
Không lưu vạn quán nhi tôn hỉ
Minh lộ chỉ văn khiếu khổ thanh.
Điện nọ Diêm Vương chẳng vị tình
Ngang tàng tới đó mật gan kinh
Bạc tiền để lại con vui hưởng
Âm phủ cha đi khóc một mình.
Tế Phật: Dạo âm ti đã tới Điện Thứ Mười, Địa Ngục Du Ký đã gần tới đoạn chót, nhưng đoạn chót này lại rất thảm vì Điện Thứ Mười là điện chuyển bánh xe, chúng sanh bị chuyển tới nơi Trời đất tối tăm, mơ mơ hồ hồ chẳng rõ phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc là đâu. Tất cả chúng sanh sống nơi cõi thế đều muốn nhớ lại việc của kiếp trước cho nên kẻ tu đạo đều tự hỏi rằng “ta là ai”? Nếu như trả lời được “mình là ai” thì còn cần gì người đắc đạo. Bữa nay chuẩn bị dạo âm ti, Dương Sinh mau lên đài sen.
Dương Sinh: Xin ân sư chầm chậm… Thưa, có người hỏi con là họ muốn in tặng sách Địa Ngục Du Ký, khi cầu nguyện phải thắp nhang khấn trước mặt ông Táo, nhưng hiện nay bếp nhà nào nhà nấy đều đun bằng hỏa lò không đâu thấy còn ông “đồ rau” (ba cục đất nặn cao dùng để bắc nồi lên đun nấu) thì làm cách nào kiếm được ông Táo bây giờ?
Tế Phật: Nhà ở tiến từ bùn đất thấp bé tới xi măng cốt sắt cao to, mỗi người sống trong đó đâu có phải vì thay đổi bếp mà người ta quên ông Táo, để mất tiêu ông Táo luôn đâu. Thực ra chỉ là trang bị cho bếp đẹp đẽ hơn thôi. Nhớ lại thời xưa bếp núc dơ dáy đầy khói, tro, mồ hóng, mà Thần Táo vẫn còn giáng lâm mỗi nhà kia mà.
Việc ăn uống của người đời đều phải lo liệu ở bếp, ăn uống là việc để duy trì mạng sống, một ngày chẳng thể thiếu, cho nên có câu: “Hữu yên chi xứ tức hữu nhân” (Nơi nào có khói tức có người). Do đó nhân số thịnh suy mới gọi là “nhân yên” (khói người). Hiệu của ông Táo Công gọi là “Ty Mệnh Chân Quân” là vị chủ tể coi về mạng sống của Trời và thức ăn của đất ban cho con người. Bếp xưa lò nay giống nhau vì đều dùng lửa nấu ăn nên chẳng có chi khác biệt, cho nên còn gọi Táo Thần là Hỏa Thần, cũng gọi là “Hỏa Đức Tinh Quân” (Vua Sao Đức Lửa).
Lấy thần đèn mà luận thì ngày xưa châm dầu vào đèn, ngày nay bật công tắc, tuyệt nhiên không vì thế mà Thần Thánh không giá lâm đền đài miếu mạo. Chẳng kể khoa học phát đạt, kiến trúc cao ốc trăm tầng, tính linh của con người vẫn thế không hề giảm, Thần Thánh vẫn ở sát bên ta, ông Táo vẫn ở trước mặt ta.
Dương Sinh: À thì ra là thế, nhà cửa tuy kiến thiết tối tân, nhưng gạo, muối, dầu, dấm vẫn dùng như xưa. Con đã lên đài sen, mời ân sư khởi hành…..
Tế Phật: Đã tới, xuống đài sen.
Dương Sinh: Điện Thứ Mười ở trước mặt, đám đông ồn ào kia hình như tới nghinh tiếp chúng ta.
Tế Phật: Đúng rồi. Chuyển Luân Vương dẫn Minh Quan cùng Tướng Quân ra nghinh tiếp chúng ta, con mau đến làm lễ ra mắt.
Dương Sinh: Lạy chào ra mắt Chuyển Luân Vương, kẻ hậu sinh là môn sinh của Thánh Đế thuộc Thánh Hiền Đường ở Đài Trung, phụng chỉ dạo thăm âm phủ viết sách, nay tới Điện Thứ Mười, kính xin Minh Vương giúp đỡ phương tiện.
Minh Vương: Chớ khách sáo, hai vị từ Đệ Nhất Điện tới Đệ Thập Điện, trải qua hầu hết những ngả đường tối tăm, công cứu đời quả là cao sâu, kính mời vào trong điện nghỉ ngơi.
Dương Sinh: Đa tạ Minh Vương.
Tế Phật: Vì thời giờ có hạn, tôi thấy chẳng cần phải nghỉ ngơi, xin trực tiếp dẫn Dương Sinh đi thăm các khu của Điện Thứ Mười, chẳng rõ ý của Minh Vương thế nào?
Minh Vương: Ý của Tế Phật đã như vậy, tôi cũng xin vâng.
Dương Sinh: Điện Thứ Mười có điểm đặc biệt là tội hồn quá đông, vượt hẳn các điện phủ khác là tại sao?
Minh vương: Bởi vì bản điện là địa ngục cuối cùng trong số các Điện Phủ. Chúa tể Chuyển Luân là cửa ải của đường ra ngoài vĩ đại, cho nên các âm hồn ở âm phủ được chuyển bánh xe đều tụ tập tại đây nên trách vụ của bản điện cũng rất bận rộn và phức tạp, để tôi đưa lên “Quan Sinh Đài” (Đài xem sự sống) tham quan.
Dương Sinh: Đa tạ. Đài này quá cao, thang lầu “Hồi Chuyển” bắc thẳng lên mây, leo lên hẳn là hoàn toàn kiệt sức.
Tế Phật: Ta giúp sức con một tay để con leo lên.
Dương Sinh: Cảm tạ sự giúp đỡ của ân sư.
Tế Phật: Muốn lên thang Trời mà không dùng tâm lực thì làm sao lên nổi. Tu đạo không cầu tiến cuối cùng chẳng thể lên cao.
Dương Sinh: Đã lên tới chóp đỉnh, phía trên giống hệt như cái đài quan sát, phía trước chỉ nghe tiếng rì rầm hỗn tạp, nhìn bốn bề mênh mông không thấy bến thấy bờ. Đây là đâu đây?
Tế Phật: Muốn lên Đài Quan Sát Sự Sống phải leo hết 360 bực thang lầu, con số đó cũng là con số hợp nhứt với con số một vòng Trời. Chúng ta ở đây cũng đã là Thiên Đài nên cách âm phủ cũng rất xa. Phía trước mênh mông một dải chính là Tứ Đại Bộ Châu, Bởi vì mắt huệ của con chưa khai mở cho nên tầm nhìn bị giới hạn, để ta ném một viên ngọc sáng xuống.
Dương Sinh: Ân sư ném viên ngọc sáng ra như đêm sương gặp ánh sáng, quả nhiên cảnh sắc cực xa ở phía trước con đều thấy rõ. Nhìn phía trước giống như từ trên không trung nhìn xuống mặt đất lớn vậy. Cảnh trí 4 phía khác biệt nhau. Phía kia giống như nước Mỹ dân chúng cư ngụ đông đúc, người đi lại và nhà cửa kiến trúc giống y như hình ảnh chiếu trên màn bạc.
Tế Phật: Quả đúng, đất đó là nước Mỹ, ở trên Thiên Đài có thể nhìn thấy hình ảnh của khắp Tứ Đại Bộ Châu. Bánh xe chuyển vận của Điện Thứ Mười như rắc hoa khắp Trời, tùy nhân duyên mà chuyển sinh nơi các xứ. Đài này đã xem xét xong, chúng ta xuống chứ.
Dương Sinh: Dạ dạ.
Tế Phật: Vì thời giờ đã muộn, tình hình các ty của Điện Thứ Mười ngày khác tới thăm tiếp, xin cáo từ Minh Vương.
Minh Vương: Thời giờ đã trễ chúng tôi chẳng thể lưu giữ. Lệnh cho các quan viên hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.
Tế Phật: Dương Sinh lên đài sen.
Dương Sinh: Con đã sẵn sàng, mời ân sư trở lại Hiền Đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
DẠO ĐIỆNTHỨ MƯỜI THĂM HỎI SỞ CHUYỂN KIẾP
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 19 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1978)
Luân hồi lục đạo thán vô kỳ
Hướng thiện cần tu thiếu tráng thì
Nghịch nhĩ trung ngôn quân thiết ký
Thần Tiên sám vãng thượng năng truy.
Luân hồi sáu ngả khổ muôn đời
Hướng thiện tu ngay thuở thiếu thời
Tiếng xấu lời hay ghi nhớ mãi
Ăn năn Tiên Thánh mới nên người.
Tế Phật: Sáu ngả luân hồi như bánh xe chuyển động không lúc nào ngừng nghỉ, kẻ bị kẹp dưới bánh xe thành “quỷ bánh xe” rất hiếm có cơ hội trốn thoát tìm đường sống. Hy vọng trong cái chết chúng sanh tìm ra được cái sống, chớ nhắm gầm xe, miệng cọp mà đâm đầu vào. Còn như sợ hay không sợ phải vào cửa địa ngục thì tin rằng đã là kẻ thông minh hẳn đều hiểu rằng nên lánh xa là hay hơn cả, để còn kịp đến trước Thần Tiên sám hối lỗi lầm quá khứ hầu kịp chuyến xe tiến về tương lai. Sửa soạn dạo âm ti, Dương Sinh lên đài sen.
Dương Sinh: Thưa, con đã chuẩn bị xong, mời ân sư lên đường.
Tế Phật: Bữa nay lại tới thăm Điện Thứ Mười gặp gỡ Chuyển Luân Vương..... Đã tới nơi, xuống đài sen.
Dương Sinh: Chuyển Luân Vương đã chờ sẵn phía trước để nghinh đón chúng ta.
Minh Vương: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh lại tới thăm bản Điện Thứ Mười. Lần trước vì thời giờ eo hẹp cho nên chưa thể giới thiệu tỉ mỉ cặn kẽ được. Bữa nay có dịp may gặp lại tôi xin thân hành hướng dẫn hai vị đi thăm các ty.
Dương Sinh: Cảm tạ Minh Vương đã tận tình chỉ giáo.
Minh Vương: Điện Chuyển Luân tuyệt đối không vì tình riêng, người nào nhận nghiệp báo của người đó, chuyển Đông, chuyển Tây, vãng Nam, vãng Bắc đều căn cứ theo nhân duyên tạo tác của mỗi chúng sanh mà định. Bữa nay tôi xin hướng dẫn hai vị tới thăm Sở Chuyển Kiếp.
Tế Phật: “Đạo” và “kiếp” khác nhau, kẻ hướng về “đạo” chân thành tu tập thì đắc “đạo” quả, lên Thiên Đường không phải tới Sở Chuyển Kiếp. Còn như kẻ không tuân đạo đức, phản bội luân lý tự nhiên gặp “kiếp” và phải chịu sự phán quyết của các ty sở chuyển kiếp.
Minh Vương: Mau đi theo tôi… Phạm vi Sở Chuyển Kiếp cực rộng, các ty có người lo liệu các hồ sơ án lịnh. Sở Chuyển Kiếp của bản điện chia làm 8 ty. Hai vị tới sở nghỉ ngơi, tại đây sẽ giới thiệu tình hình các ty, hầu tiện việc thông báo cho người đời được rõ.
Dương Sinh: Phía trước có biển đề “Sở Chuyển Kiếp”, tội hồn do âm binh áp giải tới quá đông, âm binh đều phải trình hồ sơ lên các quan viên, không rõ họ sẽ giải quyết ra sao?
Minh Vương: Mời hai vị vào trong nghỉ ngơi, tôi sẽ giải thích rõ vấn đề.
Dương Sinh: Các quan viên trong sở mới chợt nhìn thấy chúng tôi đã đình mọi công tác, tất cả đều nghiêm chỉnh sẵn sàng đón tiếp chúng tôi.
Tế Phật: Dương Sinh ngồi xuống đi. Minh Vương đã hậu đãi như thế này con chớ có rụt rè.
Minh Vương: Đây là vị Trưởng Sở của Sở Chuyển Kiếp.
Trưởng Sở: Hoan nghênh Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh tới thăm, việc phụng chỉ viết sách tuy tốn hao nhiều máu và mồ hôi nhưng công lao vô cùng sâu dầy.
Minh Vương: Mời quý vị dùng trà. Tôi xin giới thiệu tình hình 8 ty lớn của Sở Chuyển Kiếp để thế nhân hiểu rõ thứ tự của việc chuyển kiếp luân hồi. Đầu tiên người chết phải qua Phúc Thần, Thành Hoàng, âm binh hoặc quỷ Hắc Bạch Vô Thường dẫn nhập Quỷ Môn Quan cùng tới Giao Bạ Sảnh khai hồ sơ lý lịch. Dù tới để du lịch hay nhận lãnh hình phạt cũng phải tuần tự trải qua từ điện số 1 tới điện số 9.
Kẻ có tội đã hoàn tất việc thụ lãnh hình phạt thì được giao qua bản điện chuyển kiếp luân hồi, nơi quan trọng nhất của bản điện là Sở Chuyển Kiếp. Sở này được chia làm 8 ty:
1. Ty Tra Nghiệm
2. Ty Kê Thiện
3. Ty Khảo Quá
4. Ty Ân Oán
5. Ty Thọ Mệnh
6. Ty Chi Phối
7. Ty Chưởng Kiếp
8. Ty Thụ Sinh.
1. Ty Kiểm Tra: Ty này lãnh nhiệm vụ sưu tra những tội hồn sau khi các điện đã xét xử và trừng phạt xong, thủ tục này có hoàn tất tội hồn mới được lãnh giấy chứng nhận hết can án. Trước khi đầu thai phải đến Ty Kiểm Tra khai báo để ty này kiểm soát lại xem thủ tục ở các ngục trước đây đã thực hoàn chỉnh chưa và đúng hay sai. Nếu như sai hoặc không hoàn chỉnh sẽ bị kêu trở lại ngay lập tức. Phải làm như vậy là để phòng ngừa sự làm việc tắc trách của các âm hồn.
2. Ty Kê Thiện: Ty này sưu tra những người làm việc thiện xem họ đã hành thiện được nhiều hay ít rồi mới quyết định cho họ hưởng phúc trạch dày hay mỏng. Lúc sống nếu như chịu tu nhân tích đức sẽ được đầu thai làm con trai nơi phước địa, lớn lên làm quan, nhẹ bước thanh vân, công danh hiển đạt, là phú thương ở nhà lớn, của cải nhiều vô số kể, là kẻ tay trắng sau có gia cư, là kẻ được hưởng phúc trạch của tổ tiên, trọn đời vinh hoa phú quý. Nếu đầu thai làm con gái cũng được là vợ quý nhân đạt quan hưởng phúc ấm, lại sinh con quý tử, lúc làm cha mẹ sẽ được hưởng phúc khi con khôn lớn. Trường hợp của những người vừa kể trên đều là do lúc sống có công lớn tu nhân tích đức, đó là luật phúc báo do ty này thi hành, một sợi tơ, một cọng lông không thể sai trệch. Đây chính là trách vụ của Ty Kê Thiện.
3. Ty Khảo Quá: Ty này chuyên khảo hạch kẻ sắp đầu thai có hay không có tội lỗi. Nếu kẻ đầu thai muốn chuyển kiếp làm người ắt bị khảo sát sưu tra tội ác, lỗi lầm nặng hay nhẹ, nhiều hay ít.
Nếu là kẻ lúc sống thiện tâm ít ỏi, lầm lỗi sơ sơ, sinh ra đời được cơm no áo ấm, được bóng râm của cha mẹ che chở, chồng vợ hòa thuận, con cái hiếu thảo.
Kẻ công tội tương đương ra đời là người bình thường, sống lâu, áo cơm đủ ăn đủ mặc, cha mẹ vợ chồng con cái sum hợp, sống suốt cuộc đời vất vả không được hưởng phúc thong dong.
Kẻ không có công mà có tội ra đời phải chịu lận đận, đói rét, nghèo hèn, cô quả, cha con anh em chồng vợ khuyết hãm.
Kẻ tội quá nặng ra đời chịu bần cùng khốn khổ, bị tàn tật, đầu và tay chân bất toàn, bị bệnh ngớ ngẩn, điếc, mù, câm, làm ăn mày.
Như con trai lúc sống buông bỏ ngũ luân bát đức, con gái không giữ tam tòng tứ đức, tạo nghiệp ác quá nặng ắt bị phạt đầu thai làm kiếp súc sinh, hoặc côn trùng sâu bọ. Đó là luật ác báo do Ty Khảo Quá đảm trách.
4. Ty Ân Oán: Ty này coi việc đầu thai làm con trai hay gái ra đời để đền ơn báo oán. Như kiếp trước chịu ân huệ của người tình còn ràng buộc, được lịnh ra đời đền đáp họ. Kiếp trước mắc cái nợ chửi mắng, khinh khi, tranh giành, tới chết oán khí chưa tiêu cũng được ra đời báo đền, do đó nói “Đức báo đức, cừu báo cừu, oan báo oan”.
Lại có loại oan hồn phụ nữ si tình quá nặng, lúc sống cắn răng chịu nỗi oán cừu mà chưa có dịp báo thù, sau khi chết không thích làm người thích làm quỷ dữ bắt hồn kẻ địch phải chết vì tai nạn dọc đường cùng ở chốn hang sâu hố thẳm để báo thù một cách thảm thiết. Bản ty này xét cái quả thấy có nỗi oan ức đó nên cho phép báo oán để an ủi cái tâm của kẻ chết. Đó là chức vụ của Ty Ân Oán.
5. Ty Thọ Mệnh: Ty này nắm giữ tuổi thọ của những người:
- Có tài năng, danh vọng.
- Những người sống ở thế gian được hưởng phú quý và trường thọ.
- Người được hưởng phú quý nhưng đoản thọ.
- Kẻ đã nghèo còn tổn thọ.
- Người nghèo mà sống lâu.
- Ra đời để chịu chết đuối, chết đau buồn.
- Sinh ra được ít ngày, ít tháng, ít năm thì chết yểu.
- Nhiều trường hợp không giống nhau.
Kẻ phạm pháp mà chết, những người bị kẻ khác mưu hại… tất cả đều có số mệnh. Đó là trách nhiệm của Ty Thọ Mệnh.
Nhưng còn nói về kẻ chết oan, sinh ra làm người không biết giữ phận, gặp họa quẩn trí tự giết mình, làm việc không cẩn thận đưa đến cái chết là do mình không do số mệnh.
6. Ty Chi Phối: Ty này chi phối việc cha con, chồng vợ của thế nhân. Nếu người đời sinh ra con trai có hiếu hay bất hiếu, lấy vợ là hiền phụ hay ác phụ đều có căn do, họ gặp nhau đều do duyên tiền định.
Như tên Giáp lúc sống thường cho tên Ất vay tiền, tới chết nếu chưa trả nổi, tuy Ất không có tội nhưng khi chuyển kiếp làm người, luật âm phủ sẽ bắt tên Ất đầu thai làm con trai hiếu thảo của tên Giáp để đền ơn, nên gọi là con cái trả nợ cha mẹ.
Lại ví dụ tên Giáp lúc sống dùng mưu kế chiếm đoạt của cải của tên Ất, dùng thế lực cướp đoạt gia tài của tên Ất khiến tên Ất uất hận mà chết, sau khi chết, tên Ất tố cáo tên Giáp với Minh Vương. Luật âm phủ phê chuẩn tên Ất tái đầu thai làm con trai kiêu căng dâm dật phá hoại gia cang của tên Giáp thì đó gọi là con cái đòi nợ bố mẹ.
Chồng vợ cũng vậy, kẻ lấy được vợ thảo, sanh con đẻ cái thành mẹ hiền, kẻ lấy vợ ác độc dâm loàn, gặp sự tốt lành hay éo le đều do nhân duyên thiện ác xui nên, kiếp trước tạo nhân, kiếp sau ắt nhận quả báo hết sức công bằng, không sai trệch mảy lông sợi tóc. Đó là trách vụ của Ty Chi Phối.
7. Ty Chưởng Kiếp:Ty này lo việc vô sổ những người chuyển kiếp luân hồi, như người đại thiện được hưởng phú quý mấy đời, kẻ đại ác phải chịu cùng khổ bao đời, kẻ nghiệp nặng phải đọa làm súc vật mấy kiếp, có thể trở lại làm người hay vĩnh viễn đọa làm côn trùng sâu bọ đều có ấn định rõ rệt, cho nên nói “số mệnh khó tránh”.
Đến như kẻ có số được hưởng phú quý nhưng lại đột nhiên tạo ra ác nghiệp, kẻ số chịu cùng khổ nhưng gắng tu nhân tích đức, thiện ác cân nhắc bù qua sớt lại, hạn cùng khổ được thâu ngắn lại. Cho nên nói “Cần năng bổ khuất, hý năng phí thời” (chăm chỉ thì được bù đắp, vui chơi thì phí thời gian). Ngoài ra còn có ba đài Bắc Đẩu Thần Quân, phụng Ngọc Chỉ của Thượng Đế giám sát rồi thông báo cho Minh Vương để Minh Vương ra lệnh cho ty này để ty này giảm bớt hoặc gia tăng. Đó là chức vụ của Ty Chưởng Kiếp.
8. Ty Thụ Sinh: Ty này coi việc đầu thai cho chúng sanh, chuyên cung cấp những bằng chứng hiển nhiên. Người chết sau khi bị các điện phán xét và trừng trị xong, đến lúc chuyển kiếp luân hồi đầu thai thì hồ sơ lý lịch lưu giữ ở ty trên được giao qua Ty Thụ Sinh lo liệu tiếp. Sau khi hoàn tất xong, nếu được đầu thai thì được cấp giấy chứng nhận, và quan coi việc đầu thai mới được phép chuyển kiếp luân hồi.
Nếu là kẻ sĩ sẽ lãnh nghiên bút.
Là thương gia lãnh bàn toán.
Là nhà nông lãnh cày bừa.
Là thợ thuyền lãnh dụng cụ.
Là muông thú, chim chóc, loài nào lãnh loại lông của loài đó, rồi đầu thai.
Kẻ nào làm nghề nấy, đúng lúc hợp cơ duyên; song vì nghiệp quả không giống nhau nên cần phải có giấy chứng nhận mới có thể đầu thai. Đó là chức vụ của Ty Thụ Sinh.
Tám Ty trên là nơi chúng sinh lãnh bằng chứng chuyển kiếp đầu thai; đã nhập luân hồi tức kể như là số kiếp, cho nên nói “chuyển kiếp”.
Vì thời giờ đã trễ, sự kiện luân hồi bữa khác sẽ thảo luận kỹ càng hơn.
Tế Phật: Đã tới giờ, chuẩn bị trở lại Hiền Đường, đa tạ sự giảng giải của Minh Vương.
Dương Sinh: Làm phiền Minh Vương tốn công giảng giải, xin tạm cáo biệt.....
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
DẠO ĐIỆN THỨ MƯỜI THĂM QUÁN BÀ MẠNH
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 26 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1978)
Thập điện du hoàn công diệc viên
Thâu tài ấn tống quảng lưu truyền
Bảo thư giá trị linh chi quý
Giáo hóa nhân tâm quan Thánh Hiền.
Điện nọ thăm xong mọi việc yên
Góp tiền in tặng để lưu truyền
Sách hay hoa lạ bao yêu quý
Dạy dỗ người đời học Thánh Tiên.
Tế Phật: Dạo âm ti tới Điện Thứ Mười, từ hai năm nay, chư sinh bảo hộ pháp lý giúp đỡ viết sách, người ngoài họ tưởng là bị phạt đứng lâu như vậy hẳn là có chuyện gì đây? Kỳ thật, đứng lâu như vậy mới là thế đứng chính đáng, mới là động tác cơ bản của kẻ xử thế, tu đạo phải đứng thật lâu mà vẫn không khó chịu, nếu đứng xiêu vẹo ngả nghiêng làm sao thành được Đại La Kim Tiên?
Mọi người đều tưởng nằm thẳng rẵng trên nệm, thư nhàn sảng khoái, nếu thế sẽ giống hệt thứ tiên lười, quỷ biếng chẳng thể ngang nhiên đứng thẳng lưng, làm tay hảo hán đè mây lướt gió. Dương Sinh nghe ta nói có đúng không?
Dương Sinh: Thưa đúng lắm, ân sư dạy như vậy rất là chính đáng, bởi lẽ chân đứng không vững tức là không có lập trường, đất đứng đã không có nói chi tới tu đạo.
Tế Phật: Kẻ đứng không vững hẳn là nằm ngồi cũng chẳng yên, cho nên tu đạo trước hết phải “lập định” rồi sau đó mới làm chủ được bản tính, mới thâu hồi nổi cái tâm rối rắm động loạn. Dương Sinh chuẩn bị lên đài sen, chúng ta bữa nay tiếp tục dạo thăm Điện Thứ Mười.
Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, xin ân sư hãy khởi hành.
Tế Phật: Đã tới nơi, Dương Sinh xuống đài sen.
Dương Sinh: Điện Thứ Mười, Minh Vương ở phía trước, xin chào ra mắt.
Minh Vương: Miễn lễ. Hai vị bữa nay lại tới thăm, rất hoan nghênh. Bữa trước chỉ mới thăm Sở Chuyển Kiếp, tạm giới thiệu tình hình các ty, bữa nay hẳn là sẽ được rõ tình hình 6 ngả luân hồi. Vì thời giờ có hạn, chúng ta mau đi tới phía trước.
Dương Sinh: Cảm tạ sự hậu đãi của Minh Vương cùng sự hướng dẫn của chư vị quan viên..... Đã tới Sở Chuyển Kiếp bữa trước, người ta quá đông đúc, gồm đủ mọi giống người thuộc các nước từ Á qua Âu, họ đang chuẩn bị đầu thai chăng?
Minh Vương: Người đời sau khi chết, phàm những kẻ phạm tội đều phải qua các ngục để xử trị cho nên địa ngục cũng giống như “Quốc Tế Pháp Định”. Các loại nhân sĩ chuyển kiếp luân hồi đầu thai đều lo lãnh giấy chứng nhận, giống như dương gian xuất ngoại phải lo giấy xuất cảnh vậy.
Dương Sinh: Đã tới Ty Thụ Sinh, trong này người càng đông hơn, giống cảnh chen chúc nơi bến xe đò.
Tế Phật: Ha ha… Đây đều là những người muốn lên đài chuyển kiếp luân hồi, như cảnh dương gian tại bến đợi xe, xe vừa nổ máy, bánh không ngừng chuyển động. Chỗ hành khách mua vé thì quá nhỏ, người mua vé đi các nơi là những âm hồn chuyển kiếp đầu thai các chốn trên thế giới lại quá đông.
Minh Vương: Tế Phật nói rất đúng, người đời sau khi chết phải qua các điện để xét xử và thụ hình xong mới được đưa đi đầu thai. Đường luân hồi vô tình; tuy cùng đi một chuyến xe Chuyển Luân, nhưng đích đến của mỗi người không giống nhau: mỗi người theo nhân duyên của mình, vẫy tay xuống xe, cả đời đành phải sinh hoạt trong cái hoàn cảnh nơi mình tới đó.
Dương Sinh: Phía trước người ta tụ tập quá đông, giống như đang uống nước trà đá lạnh để giải khát. Bữa nay Trời quá nóng nực, tôi cũng khát nước quá, tới trước uống một ly cho khỏi khát có được không?
Minh Vương: Không thể được, đó là quán Bà Mạnh, kẻ đầu thai đều phải húp “cháo lú”; nếu như Dương Sinh húp phải, sau khi trở lại trần gian, liệu có tránh khỏi là kẻ mơ mơ hồ hồ, quên hết mọi sự không còn nhớ gì nữa không?
Dương Sinh: Lợi hại tới mức đó sao?
Tế Phật: Con chớ tưởng đùa, Minh Vương không nói giỡn đâu.
Dương Sinh: Quán bên đường quả nhiên có đề ba chữ “Mạnh Bà Đình“ (Quán Bà Mạnh). Xin Minh Vương giới thiệu tình hình ở đây cho tôi rõ được không?
Minh Vương: Mạnh Bà Đình do Bà Mạnh cai quản, bà ta phụng mệnh Ngọc Đế phụ trách công tác cho các âm hồn húp cháo lú trước khi đầu thai, vì nếu không, sau khi đầu thai sẽ nhớ lại chuyện tiền kiếp, hài nhi sẽ tìm kiếm và nhận ra thân thuộc, tạo nên cảnh lớn bé vô trật tự, ngũ luân không còn phân biệt, kiếm thù báo oán, đời sẽ đại loạn. Vì vậy tạo vật đã biến hóa một cách kỳ diệu, dùng cháo lú để cho kẻ đầu thai húp vào quên hết mọi chuyện kiếp trước.
Cháo này có đủ năm vị: chua, cay, mặn, ngọt, đắng hỗn hợp, cho nên uống vào không còn biết Đông, Tây, Nam, Bắc; đầu óc quay cuồng mơ mơ hồ hồ tự rơi vào một trong sáu ngả của bánh xe chuyển kiếp.
Tế Phật: Thứ “cháo lú” này cũng là “cháo mê hồn” vì sau khi ăn vào thần hồn điên đảo, dương gian cũng có loại cháo này.
Dương Sinh: Thưa, con chưa từng nghe nói.
Tế Phật: Cũng như rượu vậy, con hãy nhìn kẻ uống rượu quá độ, không còn phân biệt được Đông, Tây, Nam, Bắc, đi lầm đường lạc lối, thậm chí sai cả nhà, giống như kẻ mất linh hồn. Có như vậy mới có thể lăn vào vòng luân hồi.
Kẻ không muốn đầu thai ác đạo thì đâu dám lăn tới?
Kẻ say rượu dám băng mình qua biển lớn, dám đút đầu dưới bánh xe, nước lửa không sợ, gan mật quá lớn! Trong lúc họ mê man bất tỉnh, bị rơi vào vòng luân hồi mà chẳng hay. Một sớm rã rượu tỉnh lại thì đã xa Trời, giống hệt như đầu thai chuyển kiếp, một sớm bừng sáng tỉnh lại thấy xa cách cõi đời, ở giữa khoảng Trời đất khác.
Dương Sinh: Cháo lú diệu dụng như vậy cho nên người đời sau khi chết ai mà chẳng uống.
Minh Vương: Dương Sinh còn có điểm chưa rõ, âm hồn sau khi qua các điện sửa trị, lúc tới đây thì sự đói khát đã tới mức cùng cực, Điện Thứ Mười lại giáp giới dương gian, phía ngoài quán Bà Mạnh nóng như thiêu như đốt, phàm âm hồn tới đây đều muốn vào quán uống trà đá giải khát, đó chẳng phải là tự đâm đầu vào lưới sao? Nếu ngày hè nóng nực đi hàng vạn dặm đường hẳn là miệng cảm thấy khát vô cùng, tại cuối con đường có một cái quán mát mẻ, lại có trà đá lạnh uống không phải trả tiền, ai mà chẳng tranh uống trước. Có kẻ còn cho một ly là quá ít, bèn rót lấy rót để chẳng ngừng. Dầu vậy bọn giảo hoạt tới đây, tuy miệng khát nhưng vì rõ thứ cháo này lợi hại nên không vào quán Bà Mạnh ăn uống, tức thì mặt đất tự nhiên bắn ra một móc sắt móc chặt lấy người khiến chẳng thể giãy giụa, rồi gái hầu của Mạnh Bà cưỡng bức đổ vào miệng. Đó gọi là “rượu dâng không uống, uống rượu phạt” vậy.
Dương Sinh: Dĩ nhiên là húp cháo này có thể quên việc kiếp trước, nhưng tại sao hiện nay trẻ thơ trên thế gian ra đời lại có thể thông minh hiểu biết bội phần, có phải tại phẩm chất cháo này kém cỏi không?
Minh vương: Dương Sinh có điểm còn chưa rõ, vì từ vô thủy tới nay, con người đã trải qua ngàn vạn kiếp luân hồi, húp cháo lú đã quá nhiều lần, lâu rồi trở thành thói quen, do đó mà trẻ con sinh ra ngày nay mới vô cùng khôn ngoan, cho nên nói “đầu quỷ óc quỷ” là bởi vì húp cháo lú nhiều lượt dần thành thói quen cho nên đầu óc nó khôn ngoan tinh xảo. Đó chẳng phải là điều tốt, hãy nhìn kẻ nghiện rượu, uống mãi chẳng say, mất hết tri giác, thật quá tàn nhẫn. Cho nên thế gian càng ngày càng nhiều kẻ bất nhân bất nghĩa, càng lắm kẻ linh hoạt tinh ranh nên dễ bị lạc đường. Do đó trí xảo có gì là đáng mừng đâu?
Dương Sinh: À thì ra là thế.
Tế Phật: Đã cận giờ, tình hình 6 ngả chuyển kiếp luân hồi kỳ tới sẽ lại tìm hiểu tiếp cũng được.
Dương Sinh: Cảm tạ Minh Vương chỉ rõ bến mê, khai mở nhiều lẽ thâm diệu để chỉ dẫn chúng sanh, quả khó mà có được! khó mà có được! xin cáo từ.
Minh Vương: Đã muốn về, tôi cũng chẳng thể giữ, rất mong trở lại thăm.
Tế Phật: Dương Sinh mau lên đài sen chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.
Dương Sinh: Con đã sẵn sàng, mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.....
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
DẠO ĐIỆNTHỨ MƯỜI THĂM SÁU NẺO LUÂN HỒI
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 3 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1978)
Nhất thất nhân thân vạn kiếp nan
Đoan hành đạo đức chính y quan
Bạt mao đái giác phi vi bối
Thủy lục đầu sinh sương nguyệt hàn.
Một mất thân mình vạn kiếp nguy
Tuân theo đạo đức chỉnh xiêm y
Sừng lông xác mọc đời phi nghĩa
Đất nước sương trăng lạnh noãn thai.
Tế Phật: Nếu không tu để kiếp người rớt xuống kiếp cầm thú thì sẽ bị khổ sở tới vạn kiếp, bởi vậy phải lo sửa đổi y phục cho trang nghiêm, tuân hành đạo đức sống ngay thẳng. Nếu không, bị đầu thai làm kiếp thú, mình mọc sừng, lông, hành động phi nghĩa, làm kiếp sâu bọ chui rúc chốn đất bùn nước đục, gió trăng sương tuyết lạnh lùng. Bữa nay chuẩn bị dạo âm ti, Dương Sinh mau lên đài sen.
Dương Sinh: Xin vâng lệnh. Thưa, tại sao ân sư không nói thêm nhiều câu nữa?
Tế Phật: Lắm lời ắt sẽ sai lầm, nói nhiều ắt sinh quái gở, do đó nói ít là hay hơn cả, nói nhiều giá trị cũng chẳng bằng tiền.
Dương Sinh: Vâng vâng, con đã lên đài sen, chuẩn bị sẵn sàng.....
Tế Phật: Đã tới nơi. Bữa nay trở lại Điện Thứ Mười xem rõ thực trạng 6 ngả luân hồi, con phải gắng lên tinh thần..... Minh Vương Điện Thứ Mười đã tới.
Dương Sinh: Vái chào ra mắt Minh Vương.
Minh Vương: Hoan nghênh hai vị tới thăm bản điện, lần trước chỉ mới đến xem quán Bà Mạnh, hôm nay phải tới xem xét cảnh trí đài Chuyển Kiếp Luân Hồi. Mời Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh theo tôi tới phía trước.
Dương Sinh: Cảm tạ Minh Vương lại một lần nữa hao tổn tinh thần để hướng dẫn và giảng giải chúng tôi thấu hiểu.
Minh Vương: Không có chi, đấy là nhiệm vụ của tôi. Chúng sinh ở dương gian nếu như không cải tà quy chánh ắt hẳn đài Chuyển Kiếp Luân Hồi sẽ quay miết không ngừng thì chúng sinh quả là bất hạnh.
Dương Sinh: Dòng sông phía trước nước đỏ cuồn cuộn chảy, đó là sông gì vậy?
Minh Vương: Đó là Xích Hà (Sông Đỏ) tức dòng tinh huyết giao hợp của chúng sinh tuôn chảy, nhìn sông đỏ cuồn cuộn chảy tựa tình dục của chúng sinh dào dạt vô chừng.
Dương Sinh: Bên sông còn có vật gì giống như hình chiếc bánh xe chuyển động không ngừng?
Minh Vương: Đó là Đài Bánh Xe Chuyển Kiếp (Chuyển Luân Đài) cũng là xe Sông Tía (Tử Hà Xa) đang chìm nổi trong sông Đỏ, quay miết không ngừng.
Dương Sinh: Tại sao bên cạnh còn có thêm cây cầu bắc qua?
Minh Vương: Bản điện là chốn chuyển kiếp luân hồi, biên giới âm phủ tới đây là chấm dứt, cho nên cây cầu là điểm nối các ngả đường khắp chốn. Tiếp theo còn có 6 cây cầu khác cất bằng vàng, bạc, ngọc, đá, gỗ, tre.
1. Cây Cầu Vàng: Phàm tại thế gian có công lớn tu nhân tích đức, sau khi đi thăm các ngục, được âm phủ phê chuẩn cho băng qua cầu này lên Thiên Đàng. Nếu như công quả tròn đầy, là kẻ sĩ chân tu, sau khi chết, có người chỉ mới tới âm dương giới (biên giới âm phủ và dương gian) là lên Thiên Đường cực lạc ngay, không phải đi qua cầu này.
2. Cây Cầu Bạc: Phàm tại thế tu nhân tích đức đạt mức trung, sau khi chết tới Sở Tụ Thiện tu luyện, thời kỳ khảo hạch thông thuộc kinh điển, nếu trúng tuyển được tới “Cửu Tuyền Bộc Bố” (Thác Cửu Tuyền) thanh tẩy tính linh, qua cầu này lên dương thế nhậm chức Thần, tiếp nhận sự sùng bái của cả hàng vạn người, nhang khói không dứt.
3. Cây Cầu Ngọc: Phàm tại thế có công tích thiện, sau khi trải qua sự thẩm xét của các điện xong được đầu thai nơi nhà kẻ phú quý chốn phúc địa ở cõi dương gian, sẽ qua cầu này mà vào đài chuyển kiếp luân hồi đầu thai.
4. Cây Cầu Đá: Phàm tại thế công tội ngang nhau đầu thai làm thường dân, qua cầu này vào đài chuyển kiếp luân hồi.
5. Cây Cầu Gỗ: Phàm tại thế tội nhiều hơn công sẽ đầu thai làm giới bần tiện hạ cấp, chịu nghèo khổ cô quả, sẽ qua cầu này mà vào đài chuyển kiếp luân hồi.
6. Cây Cầu Tre: Phàm tại thế phạm tội ác quá lớn, phản bội Thiên lý nhân luân, trộm cướp, giết người, dâm loạn, ác nghiệp tràn đầy, sẽ đầu thai làm loài thai (súc vật), noãn (chim muông), thấp (cá, tôm, cua), hóa (côn trùng) qua cầu này mà vào đài chuyển kiếp luân hồi.
Dương Sinh: Đa tạ Minh Vương đã khai mở. Tại sao trên cầu Vàng và Bạc dấu chân người quá ít, còn cầu khác quá đông đúc giống như cố chen chúc đuổi theo cho kịp thời giờ?
Tế Phật: Ta đi cầu gỗ dành riêng của ta, người đi nẻo đường dương gian của người, không dính dấp với nhau. Đó là các âm hồn sắp chuyển kiếp luân hồi, húp xong cháo lú mê mê tỉnh tỉnh chen chúc đi trên các ngả đường dành sẵn cho mình; người bận y phục quan tước, kẻ vác dụng cụ, người mang nghiên bút, kẻ mặc da thú, kẻ đội đầu thú có sừng, kẻ điên điên khùng khùng, mỗi người mỗi vẻ biểu lộ rõ bản năng nao nức lên dương thế.
Minh Vương: Họ đều mất lý trí giống như cầm dao mà chẳng biết phen này đi, người không chết thì ắt ta sẽ chết, lại còn hí hửng ra chiều đắc ý. Cảnh dương gian cũng giống hệt cảnh này, thế mới biết hố sâu bẫy người, lửa thiêu còn bốc cháy, hiện tượng luân hồi chuyển kiếp sinh sôi nẩy nở thấy cũng chẳng khác gì cảnh đó.
Dương Sinh: Họ mê mê đắm đắm đi trên cầu Ngọc, Đá, Gỗ, Tre nhắm đài chuyển kiếp luân hồi mà lao vào, có kẻ rớt xuống mất tiêu chẳng thấy bóng tăm, chẳng hiểu những kẻ đó làm cách nào để có thể chuyển kiếp đầu thai?
Minh Vương: Người đời cần phải hiểu thật rõ sự việc này, tôi sẽ giảng giải rành rẽ dưới đây:
Vạn vật chuyển sinh hẳn là do hai khí âm dương giao hợp kết cấu mà thành. Đài chuyển kiếp luân hồi cũng giống như cửa ngõ âm dương của người đời, nam nữ lúc động tình dục, tâm thần ắt hôn mê, tinh huyết dâng tràn giống như sông đỏ, dưới đài Chuyển Kiếp Luân Hồi lớp lớp sóng dâng trào, nước cuốn qua đẩy đưa bánh xe chuyển kiếp, giống như cái guồng nước quay theo nước chảy, sinh ra sức hút. Những âm hồn mê mê tỉnh tỉnh này sẽ tùy nhân duyên của mỗi kẻ mà bị cuốn hút vào trong bánh xe chuyển kiếp luân hồi.
Giống như cơ thể của người mẹ trên đời, do tinh huyết giao hợp mà cấu tạo thành bào thai, tính linh đã nhập vào cơ thể thai nhi, 10 tháng mang thai, một sớm tới giờ, ắt linh thể này sẽ theo đài chuyển kiếp chào đời. Kêu một tiếng từ Tử Hà Xa (Bánh Xe Sông Tía) nhào ra, máu nước cùng tuôn. Khóc một tiếng, hoảng kinh tỉnh thức, nhìn lại đã tới trần gian.
Ngoài ra còn 4 loại sinh vật là: thai (trâu bò), noãn (gà vịt), thấp (cá tôm), hóa (côn trùng) tùy thuộc mà sinh sản, tùy theo khoảng thời gian dài ngắn khác nhau mà nuôi dưỡng bào thai nơi đài chuyển kiếp luân hồi. Người đời lúc hoài thai vì hà xa (xe sông) chuyển động cho nên thường ói mửa. Đó là lúc bào thai choáng váng, giống như cảnh ngồi xe chóng mặt, nôn nao...
Dương Sinh: À thì ra là vậy, Minh Vương nếu như không giảng rõ người đời hiện nay chẳng hiểu.
Minh Vương: Đài Chuyển Luân giống hình bát quái trong có một vòng tròn là hình thái cực, vốn gọi là vô cực, vô cực nhất động sinh thái cực, thái cực sinh âm dương, cho nên Đài Chuyển Luân chuyển động tự nhiên, sinh sôi nảy nở không ngừng; bên trong có 6 lỗ để chui ra, nên gọi là Sáu Nẻo Luân Hồi.
Lỗ thứ nhất: Đầu thai làm công, hầu, khanh, tướng.
Lỗ thứ hai: Đầu thai làm sĩ, nông, công, thương (bao gồm cả loại nghèo khổ, cô quả).
Lỗ thứ ba: Đầu thai làm trâu, bò v.v…
Lỗ thứ tư: Đầu thai làm gà, vịt.
Lỗ thứ năm: Đầu thai làm cá, tôm v.v…
Lỗ thứ sáu: Đầu thai làm sâu, bọ…
Mỗi loài chiếu theo công tội riêng mình mà thành hình.
Tế Phật: Giống hệt như công xưởng ở thế gian, vì nguyên liệu hơn kém nên sản phẩm cũng khác nhau. Như gỗ tốt có thể xây cất nhà cửa, gỗ xấu chỉ dùng để nấu nước, nấu cơm. Con người chuyển kiếp luân hồi cũng vậy, nếu kiếp trước lương thiện, khi đầu thai cũng gặp được đường ra tốt. Bởi vậy các loại nhu yếu phẩm của chúng sanh cần phải sửa đổi cho tốt hơn mới có thể tránh khỏi đầu thai làm kẻ ác nhân.
Dương Sinh: Có thể nói riêng về Sáu Nẻo Luân Hồi được chăng?
Tế Phật: Sáu Nẻo Luân Hồi gồm:
Ngả Trời - Ngả người - Ngả a tu la - Ngả địa ngục - Ngả quỷ đói - Ngả súc sinh.
Đó là căn cứ vào mỗi loài mỗi bậc mà phân loại.
Ngả Trời: Tức ngả Thiên Đường nơi Tiên, Phật, Thánh, Thần ở - thuộc hệ thống ngả Trời. Sau khi các vị đó đã chứng quả thành đạo, chẳng cần húp cháo lú, không phải qua đài chuyển kiếp luân hồi mà bay thẳng lên Thiên Đường. Điểm này mong chúng sinh tỉnh ngộ để thoát ly 6 nẻo luân hồi.
Kẻ có nguyên lực hay túc duyên, luôn ôm ấp lòng từ bi, thấy chúng sinh chưa được độ sinh lòng trắc ẩn, nên thường chuyển kiếp đầu thai tu chân học đạo, quyết chí dạy dỗ để khai sáng dẫn đường cho chúng sanh. Như các vị giáo chủ, sư tổ của các tôn giáo, hẳn là phải có căn cốt Tiên Phật, do đó nói Tiên Phật không rời chúng sinh.
Từ xưa tới nay Tiên Phật phát nguyện giáng thế cứu độ chúng sinh rất nhiều. Cho nên ở tại cảnh giới “bất sinh bất diệt”. Tiên Phật thường giáng trần gian, địa ngục, do đó “luân hồi” đổi là “lai hồi” để xem xét, chớ không chỉ đầu thai chuyển kiếp mới được gọi là “luân hồi”.
Đúng ra có tới 3.000 đại thế giới, đường qua lại tại sao chỉ chia làm 6 ngả. Cho nên phải nói “vạn nẻo luân hồi” mới phải.
Tính linh thông cùng nhau chứ không ở riêng một cảnh giới nào, như cùng một gốc tỏa ra muôn nẻo khác nhau, muôn nẻo khác nhau lại thâu về một gốc, chúng sinh nên hiểu rõ điều đó.
Dương Sinh: Những điều mắt thấy bữa nay mới đúng là 6 nẻo luân hồi.
Minh Vương: Đại khái tình hình chuyển kiếp ở Điện Thứ Mười đã tiết lộ trong sách Địa Ngục Du Ký. Hy vọng người đời gắng liễu ngộ cùng thể nghiệm. Đầu thai chuyển kiếp tuy do âm phủ phán quyết nhưng kỳ thực là con đường thế nhân tự tìm tới, nếu như không mau tu tâm dưỡng tính, một sớm đánh mất thân mình, hẳn là muôn kiếp khó tìm lại được.
Kính cẩn đưa tiễn Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh trở lại Thánh Hiền Đường cùng chúc gặp nhiều may mắn trong việc hoàn thành cuốn sách để sớm cứu độ hết thảy chúng sinh.
Dương Sinh: Cảm kích lời vàng của Minh Vương đã phá nỗi mê chấp ngàn đời, thế nhân quả là được ơn phước. Hẹn gặp lại. Con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.
Tế Phật: Toàn bộ Điện Thứ Mười địa ngục tới đây kể như đã dạo thăm xong. Trọng trách nặng nề này đã nhẹ bớt được phân nửa. Dương Sinh cũng đã quá cực nhọc, rằm tháng tám mùa thu năm nay thiên ký sự này in thành sách, tinh thần Tam Tào (Thần, nhân, quỷ) hẳn là đều vui mừng, chắc chắn bút mực không thể nào tả nổi. Bởi vậy chúng sanh trong thiên hạ nên in tặng sách này thật nhiều để phổ biến chân lý, đề cao chính pháp, đó cũng là tâm nguyện của ta.
Qua 10 điện địa ngục, đã tới lúc bình minh ló dạng, mong chúng sinh có thể ngộ được chân lý trong sách, dứt bỏ được cái tâm lý chật hẹp của riêng mình, mở rộng con tim từ bi hân hoan tràn ngập đất, ngả Thiên Đường cũng ở ngay trước mắt.....
Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
HỒI NĂM MƯƠI CHÍN
DẠO KHU BÌNH DÂN Ở ÂM PHỦ
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 9 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1978)
Nhân gian bách nghiệp cạnh phân tranh
Địa phủ bình dân tinh dạ doanh
Đại hoại khu thân nan khán phá
Âm hồn đáo thử động u tình.
Bách nghiệp người đời mãi cạnh tranh
Bình dân âm phủ tối kinh doanh
Cái thân đại họa không lo lắng
Hồn tới âm ti nặng trĩu tình.
Tế Phật: Thế gian trăm nghề cạnh tranh nhau cách dị thường, âm phủ dưới trời sao đêm ảm đạm, khắp nơi cũng hành nghề sầm uất. Lão Tử nói: “Ngô sở dĩ hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân; cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn” (Sở dĩ ta có nạn lớn vì ta có thân; tới khi ta không còn thân, ta đâu có nạn). Cái thân xác giả tạm này dĩ nhiên bỏ thì thương, vương thì tội, do đó người đời tới âm phủ rồi mà vẫn còn động lòng trắc ẩn, nghĩ có kỳ lạ không? Bữa nay ta dẫn Dương Sinh đi thăm “Khu Bình Dân” để được tỏ tường, Dương Sinh mau lên đài sen.
Dương Sinh: Xin tuân lệnh, con đã sửa soạn xong, mời ân sư lên đường…..
Tế Phật: Đã tới, Dương Sinh xuống đài sen.
Dương Sinh: Thành âm phủ này náo nhiệt lạ thường, người ra kẻ vào nhiều vô kể, kẻ nào kẻ nấy vẻ mặt hớn hở vui tươi, không một âm binh áp giải nên rất tự do. Trên vách thành thấy đề ba chữ “Khu Bình Dân”, chẳng rõ phía trong đó tình hình ra sao?
Tế Phật: Khu Bình Dân tức là khu “Bình Hồn” (hồn yên). Phàm người trần sau khi qua đời, những vong hồn công và tội ngang nhau, kẻ tại thế không kết ân oán với ai ắt khỏi phải đầu thai, vào thẳng khu Bình Dân ở âm phủ. Sở dĩ gọi là khu Bình Dân tức là được hành nghề tự do.
Tại thế nếu làm nghề nông hay buôn bán, lúc tới đây cũng có thể hành nghề cũ, lấy thương, nông làm chính để tự lực cánh sinh. Khác hẳn xã hội khoa học tiến bộ ngày nay trên dương gian không cần phải làm lụng vất vả mà vẫn sống sung sướng, còn những kẻ tới đây dĩ nhiên phải nhờ vào đôi tay làm việc cực nhọc mới mong duy trì sự sống. Chúng ta hãy vào trong xem xét tình hình.
Tướng Quân Giữ Cửa: Thần Thánh từ phương nào tới khu này đây?
Tế Phật: Ta là Phật Sống Tế Công, phụng chỉ hướng dẫn người phàm tham quan quý khu để viết sách khuyên đời.
Tướng Quân: Tình hình của bản khu làm sao có thể tiết lộ được?
Tế Phật: Ngọc chỉ đây, mau vào trong thông báo.
Tướng Quân: Ngu chức phạm thượng, xin Phật Sống tha tội, tôi phải vào trong thông báo ngay mới được.
Khu Trưởng: Xin Tế Phật tha thứ, Dương Sinh che chở vì Tướng Quân không biết hai vị. Bữa nay hai vị quá bộ tới thăm khu Bình Dân, xin tha tội về việc không nghinh đón.
Tế Phật: Cũng tại không thông báo trước, xin chớ bận tâm.
Khu Trưởng: Kính mời hai vị vào trong tham quan.
Dương Sinh: Cảm tạ sự tiếp đãi của Khu Trưởng! Khu Trưởng ở đây có giống Khu Trưởng ở dương gian không?
Tế Phật: Này Dương Sinh, con chớ nhiều lời. Sở dĩ kêu “Trưởng” chỉ vì tôn xưng, còn đích thực là Chủ Quản khu Bình Hồn.
Dương Sinh: Các kiểu kiến trúc phòng ốc trong khu này toàn bằng gỗ, không thấy có lầu cao nhà lớn như ở dương gian.
Khu Trưởng: Khu Bình Dân là nơi âm hồn cư ngụ, tính của gỗ và đất lại có liên quan với nhau, cho nên âm hồn ở nhà gỗ rất thích hợp.
Dương Sinh: Có quán ăn, quán tạp hóa, người tụ họp đông đảo chẳng khác gì dương gian, cũng có một số người để tóc dài, bận đồ xưa, chẳng rõ lý do tại sao?
Khu Trưởng: Trong khu này có một số âm hồn thuộc triều đại khác, vì vậy ai nấy giữ cách sinh hoạt riêng của mình như lúc còn sống, cho nên nhìn thấy tự nhiên có chút khác nhau, để tôi đưa hai vị ra đồng xem cách thức canh tác ngoài ruộng.
Tế Phật: Âm dương đôi ngả, nhưng tâm lý giống nhau, lúc sống không lo tu chính đạo cho nên sau khi chết không quên được nghề nghiệp kiếp trước. Do đó nói “chết mang nghề nghiệp theo”, như cách sinh hoạt ở đây, vong hồn không bỏ nghề nghiệp trước, họ chỉ thích làm nghề cũ.
Dương Sinh: Ruộng đất ngoài đồng, khắp nơi đều có người canh tác, tất cả lại chỉ nhờ vào đôi tay làm việc khó nhọc cần cù, không hề có một con trâu hay cái cầy máy giúp sức.
Khu Trưởng: Sau khi chết chẳng thể so sánh với lúc còn sống thì làm sao hưởng phúc, cho nên chỉ nhờ cậy ở năng lực tự nhiên làm việc để sống.
Dương Sinh: Tình hình sinh hoạt của những người này ra sao?
Khu Trưởng: Sinh hoạt giống như người thế gian, ngày ba bữa ăn uống, làm lụng nghỉ ngơi có giờ giấc, vì hồn phách của họ còn mê loạn, thất tình lục dục, do đó cũng có hôn nhân qua lại, bình thường làm lụng vất vả khổ cực, sống lâu thành thói quen.
Dương Sinh: Có phải họ sẽ vĩnh viễn làm việc ở đây?
Khu Trưởng: Chẳng phải. Họ cũng có mệnh thọ quản chế, hết hạn được trở về nghỉ ngơi để chuyển kiếp đầu thai.
Dương Sinh: Chẳng rõ dương gian đốt giấy vàng, giấy tiền, chi phiếu cùng lễ vật cúng bái, ở đây họ có được hưởng không?
Khu Trưởng: Vấn đề này là một nghi vấn mà thế gian cứ tranh luận hoài, tôi xin đặc biệt trình bày như sau:
Tổ tiên người đời sau khi tạ thế, có kẻ đốt giấy vàng, giấy bạc, giấy tiền, chi phiếu v.v... để cho người chết sử dụng, nhưng những người này lại đều là những “thân đợi tội” ở âm phủ, bởi vậy họ không được hưởng tiền bạc đó!
Tục ngữ nói: “Vận lai hoàng thổ biến thành kim” (Vận tới đất biến thành vàng). Lấy dương gian hiện tại mà luận thì ở đó tấc đất tấc vàng, đất có thể biến thành vàng là sự thật. Còn như thể tro than giấy vàng, giấy bạc, giấy tiền v.v... cúng cho người chết cuối cùng đều về đất, cho nên đất có thể sinh ra vàng là gốc ở cái lý ngũ hành tương sinh tương khắc.
Giấy qua lửa thành tro nhưng vàng thếp thì lại bất diệt. Tro hóa thành đất, hơi nước thấm ướt nó, cho nên nói đó là khí của ngũ hành.
Âm hồn nhận được giấy vàng của con cháu đời sau là do ngũ tạng nhận được khí đó giống như người hấp thụ phần dinh dưỡng mới có thể tiếp tục sinh trưởng.
Dương Sinh: Cớ sao vẫn nghe nói trong lúc nằm mơ con cháu thường thấy ông bà, cha mẹ hiện về xin tiền để tiêu?
Khu Trưởng: Thức ăn của các vong linh là khí cho nên đồ cúng chưa từng bị vong hồn nuốt mất là bởi vong hồn chỉ hít khí vị mà thôi. Vong hồn vì phải làm việc để sống hoặc sau khi bị hình phạt, nguyên khí không đủ, cho nên có kẻ trở lại dương gian hướng người thân xin ăn, đòi tiền, đó là cầu yểm trợ nguyên khí.
Đốt giấy tiền, vàng bạc chẳng cần nhiều lắm, nhận được chút lòng hiếu thảo của con cái là đủ rồi.
Tại dương thế chính mình sống giàu sang, tổ tiên cũng không có cách gì nhận được cái phần “phúc khí”, cho nên việc cúng bái là cốt để yên lòng người chết, để đạo lý tồn tại. Như “phúc khí”, “môi khí” (khí mốc) chẳng phải là loại khí sao? Bởi vậy đốt giấy để hỏa khí hóa âm khí của vong hồn, để trợ nguyên khí rất là điều đúng, người đời chớ có khinh thị.
Tuy nhiên chẳng cần đốt quá nhiều, lỡ vong hồn không có may mắn để nhận sẽ lãng phí. Do đó đốt giấy tiền, vong hồn sẽ chỉ hấp thụ được khí, chớ không dùng để mua bán được. Ở âm phủ có loại tiền riêng lưu hành, tuyệt đối không nhờ cậy dương gian cung cấp.
Tế Phật: Giấy tiền chỉ hữu dụng đối với những vong hồn bình thường, còn nếu là kẻ có công đại thiện ở cõi thế hoặc kẻ tu đạo sau khi chết họ “quy chân”, nguyên linh đạo khí của họ sung Thiên, không dùng “tục tiền, tục khí” để bổ sung, điểm này mong người đời hiểu rõ.
Dương Sinh: Ân sư nói rất chí lý, tuy nhiên những xưởng in giấy bạc âm phủ ở dương gian lại bất nhất, nên phẩm chất chế tạo sai biệt quá lớn, mang tới ngân hàng nhà nước ở âm phủ không hiểu làm sao sử dụng?
Tế Phật: Ha ha… Công xưởng chế tạo tiền âm phủ ở dương gian quá nhiều, nên phần đông chỉ nhằm kiếm lời thành bớt công, giảm vật liệu. Nếu như không chế tạo thực thà, đó là tự tác nghiệp. Ta đã từng thấy âm phủ hoàn trả lại những món đồ không đủ tiêu chuẩn rất nhiều.
Dương Sinh: Âm hồn ở Khu Bình Dân với vong hồn phạm tội có chi bất đồng?
Khu Trưởng: Vong hồn ở khu Bình Dân được tự do không quá bị trói buộc, muốn tới dương gian có thể được phê chuẩn, khoảng 7 tháng thay phiên nhau ra ngoài.
Nếu là tội hồn thì trái ngược hẳn, lúc thường chịu hình phạt, trừ phi tự mình tế sao hoặc tình trạng đặc biệt, còn không khó được ra ngoài, ngoại trừ tháng bảy, kẻ có tội nhẹ có thể ra ngoài đi đây đi đó.
Dương Sinh: À thì ra là vậy.
Tế Phật: Khuyên người đời lo tu thân học đạo giác ngộ chân lý thấy được ảo thân là giả, để sau khi chết không còn ảo tưởng là mình vẫn còn sống ở thế gian, đến Khu Bình Dân lại còn muốn làm việc nặng nhọc vất vả, rất khó chữa trị nổi. Không vượt được đường tử - sinh ắt sinh như tử, tử như sinh, sinh sinh - tử tử, lăn lóc mãi trong vòng luân hồi, vĩnh viễn không có ngày ngóc đầu lên nổi.
Bữa nay thời giờ đã hết, chuẩn bị trở lại Hiền Đường.
Khu Trưởng: Lệnh các quan viên hàng ngũ chỉnh tề đưa tiễn.
Dương Sinh: Cảm tạ sự chỉ dẫn của Khu Trưởng, xin cáo từ.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
[Hết cuốn 13 - ID# 19870000L13]