ÐHVV Kỳ 5: Thiết Thực Tu Hành & Lời Minh Giải
(bắt đầu mp3.1)
BĐ1: Cũng đau hay là không đau đó là bộ phận sau, thành ra cái ý nó phát trước. Cái ý nó phát trên đỉnh đầu, rồi tâm ý, rồi cái ý trên đầu là thiên ý; thì trở lại vấn đề cái ý nó phát trước, còn cái ý dục thì tôi trở lại vô ngay vấn đề. Khi cái ý mình nhìn một người đàn bà, thấy người đàn bà đó đẹp thì cái ý đó điều khiển bộ phận dục, điện ở trên này giống như cái bugi dưới này; điện, khi mà tắt bật một cái công tắc điện thì cái bugi ở dưới nó mới kích động. Cho nên, kích động là do cái nhìn; nhìn thấy người đó rồi cái lý trí nó mới lý luận, nó xúi dục. Nó nói: Ờ, cô này đẹp! lúc đó mới nghĩ tầm bậy tầm bạ. Thì cái bộ phận nào mà liên quan tới cái ý đó thì bộ phận đó làm việc kích động, phản động.
BĐ2: Nếu các bạn không còn câu hỏi liền thì xin đề nghị kính xin Thầy ban lời minh luận; còn có còn thêm câu hỏi nào nữa không ạ?
BĐ3: Xin còn thêm câu hỏi.
BĐ2: À, xin Chị cứ tự nhiên tự tiện thêm câu hỏi nữa đi.
BĐ3: Trong con người ai cũng có chữ “Nhẫn”, mà tại sao tùy người mình nhẫn, người nào mình thương mình mới nhẫn được?
BĐ4: Dạ thưa, theo thiện ý của tôi là mình chỉ nhẫn đối với người mình thương không, đó là do cái trình độ của mình ở trong cái trạng thái đó hoặc trong tình trạng đó; và với cái sự công phu hành pháp của mình thì cái chuyện mà nhẫn đó nó càng ngày nó càng khá hơn và với người không thương thì mình cũng nhẫn được và tôi xin lấy một cái kinh nghiệm bản thân của tôi, là cái hồi đầu mà mới mở Thiền Đường đó chẳng hạn. Thì người ta điện thoại tới người ta chửi bới, tại vì ví dụ như là chồng tu vợ không tu, thì khi chồng đến Thiền Đường thì vợ điện thoại chửi.
Thì hồi đầu mình nghe mà trong lòng mình vẫn còn nhiều cái ấm ức lắm. Nhưng mà càng ngày càng ngày thì cái sự “Nhẫn” nó càng gia tăng nhờ cái sự tu tập của mình, thì càng ngày mình lại càng thấy rằng không những là mình chịu đựng và mình không còn coi đó là một sự chịu đựng nữa. Mà khi người chửi mình mình lại thương họ, thì tôi nghĩ rằng cái chuyện câu hỏi của cô Khanh là nó tùy theo cái sự cố gắng tu tập và sửa đổi các cái tánh mình, và nó càng ngày nó càng khá hơn.
BĐ5: Tôi xin bổ túc thêm cái sự trả lời của Anh Lạc. Tại vì lúc nãy tôi có hỏi cái câu: Chữ “Hòa” trong điển giới đó; thì chúng ta tu Vô Vi này là chúng ta để đi về cái điển giới để giải thoát. Thì như Anh Lạc cũng có nói: Khi chúng ta tu một thời gian, chúng ta có thể nhẫn được với cái người mà chúng ta không thương; đó là tại sao? Tại vì chúng ta đã đạt được cái chủ quyền của cái phần hồn đối với lại cái bản thể này. Chúng ta dạy dỗ nó được, khi mà một cái ý niệm xấu nảy lên chúng ta có thể kiểm soát được vì cái phần hồn chúng ta là sáng suốt. Do đó, khi chúng ta có thể quy tụ được tất cả những luồng điển trong châu thân chúng ta lên bộ đầu thì chúng ta đạt được chữ “Hòa” trong cái Tiểu Thiên Địa của chúng ta; rồi từ đó chúng ta sẽ đạt được cái chữ “Hòa”, dần dần tiến lên cao với lại các cõi trên, dạ xin hết ạ.
BĐ6: Cho tôi hỏi câu Nhẫn Hòa, thưa hỏi: Hòa có tan không? Có tan có biến không? Thành ra, xin cho tôi biết.
BĐ7: Thứ nhất là em muốn xin trả lời thêm về cái vấn đề “Nhẫn” là sở dĩ mà mình tu một thời gian mình có thể nhẫn được với những người khác ngày xưa mình không nhẫn được; theo như em nghĩ là ngày xưa mình chỉ nhẫn được với những người mình thương thôi. Nhưng mà sau khi mình tu một thời gian cái tình thương mình, nó rộng hơn, mình có thể thương những cái người ngày xưa mình nghĩ mình không có thương được; mình cảm thấy mình hạnh phúc người ta, mình cảm thấy mình vui vẻ hơn người ta.
Thành ra, mình cũng thương người ta; nhờ vậy mà mình chịu được cái nhẫn hơn, cái đó là theo như em nghĩ. Và khi hòa phải có cái “Nhẫn” phải thực sự mình cảm thấy mình thương người đó, mình phải thực sự mình cảm thấy là mình có thể chịu đựng được người đó một cách tự nhiên; thì lúc bấy giờ tự động, em nghĩ tự động là mình sẽ hòa với người ta. Mình không cảm thấy cái lời nói của người ta là kích bác hay là mình cảm thấy là khó chịu; tại sao người đó có cái ý kiến khác ý kiến của mình hoặc là người đó tại sao lại cứ nghĩ là họ cứ thích dạy đời hay là họ thích làm Thầy đời.
Thì khi mình thương người ta mình không có nghĩ cái người đó họ đang cố gắng nghĩa là kích bác hay là kích động mình nữa, thì lúc bấy giờ tự động mình sẽ hòa. Mà muốn được như vậy em nghĩ là cái phương pháp công phu này nó giúp cho mình phát triển cái tình thương của mình rộng lớn hơn, thì từ đó mình sẽ nhẫn được, mà nhẫn được là hòa được; mà hòa đây cũng không có nghĩa là mình làm mất cái con người riêng của chính mình; mình ngay cả lúc bấy giờ thì mình cảm thấy là mình thương người ta thì mình hòa, nhưng mà cái con người của mình vẫn là chính mình, cái điều đó là điều em cảm nghĩ như vậy.
BĐ6: Như vậy là Anh hòa mà Anh còn làm chủ chớ không phải là hòa tan; thí dụ tôi nói là hòa tan với khối trược, mình hòa với khối trược rồi mình tan luôn trong đó; hòa có tan không? hay là hòa vẫn còn của mình?
BĐ7: Em không biết cái khả năng tan đến như thế nào! nhưng mà “Hòa” nghĩa là như thế này, ví dụ chẳng hạn như ngày xưa em khó chịu, một số những cái ý kiến em không có đồng ý, mà người nào nói em có thể đứng dậy em bước ra ngoài, em không hòa được; nhưng mà bây giờ khi mà đạt cái tâm trạng của người ta cũng như tâm trạng của mình, mình ráng tìm hiểu là tại sao người ta cố gắng người ta nói như vậy, mình thương người ta! Người ta đang cố gắng học một cái bài của người ta, thì tự nhiên mình cảm thấy cái sự chịu đựng của mình nó mất đi, nó bớt đi! thì hóa ra cái chịu nhẫn là chịu đựng, mà khi cái sự chịu đựng của mình nó không còn nặng nề nữa thì mình nhẫn được; cái điều đó là điều em nghĩ nó là như vậy.
Nhưng mà, khi mà bảo là ví dụ như mà bảo là người đó trược, người đó ác, người đó nói vậy; thế rồi mình có theo người ta hay không? thì cái đó, chưa! em chưa thể nào theo cái đó được; thành ra, không có tan được! nhưng mà hòa là lúc bấy giờ vẫn nhẫn được, vẫn nhịn được, mà không có, không có bị khó chịu nữa. Thì cái đó là em nghĩ là Nhẫn Hòa; còn tan hay không thì cái đó chưa biết! là bởi vì em không có… chưa chắc em đã chấp nhận được cái tư tưởng đó, cũng như chưa chắc em đã có thể sống được với những cái điều người đó nói.
BĐ2: Cám ơn! có lẽ chúng ta vấn đáp như vậy cũng đầy đủ, kính mời Thầy ban lời minh luận.
ĐT: “Nhẫn Hòa”; từ nhỏ sanh ra làm người, chúng ta đã “Nhẫn” rồi! bị khép trong một cái Tiểu Thiên Địa này phải học, nhẫn để học, nhẫn để tiến, nhẫn để mở, nhẫn để khai; tới lớn rồi, mấy chục tuổi cũng phải học nhẫn! làm con, làm cha, làm mẹ cũng học nhẫn; rồi từ cái kỷ thuật này mở tới cái kỷ thuật kia. Ngày hôm nay, chúng ta tu, ta thấy ta quên ta, bây giờ chúng ta phải học nhẫn.
Các bạn học nhẫn: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định để mở tất cả những sự lố bịch ở bên trong, rồi các bạn mới thấy rằng ý dục do đâu chuyển? Do sức nóng ứ đọng. Mà ngày hôm nay, các bạn dùng thanh khí điển làm Pháp Luân Thường Chuyển khai mở nó ra, đưa cái nóng trở nên hòa nhẹ thì cái ý dục nó bớt.
Cho nên, nhiều người làm Pháp Luân Thường Chuyển, sao bây giờ tôi bớt dục? hồi trước tôi đòi hỏi rất nhiều mà bây giờ nó hết đi? thì các bạn mới thấy rằng cái Tiểu Thiên Địa này với cái Càn Khôn Vũ Trụ là một. Nhưng mà, bên ngoài chúng ta thấy nhẫn vô cùng, dòm lên trên cao trật tự trước mắt ta đều là nhẫn để tiến hóa. Thì càng tu càng mở cái Tiểu Thiên Địa này ăn khớp với cái Vũ Trụ và hòa hợp với siêu nhiên; chúng ta càng ngày càng lớn rộng, càng mở trí, càng thấy luồng điển, tâm thức của chúng ta càng ngày càng hòa; hòa tan trong mọi giới mới quán thông được mọi giới.
Khi các bạn thấy một người kia khổ. Một cô gái kia làm điếm, bệnh hoạn đau khổ, bán thân để nuôi cha mẹ. Mà mình hòa tan trong giới đó mình mới quán thông cái chữ “Hiếu” cao cả của cô này, chữ “Hiếu” động Trời, chữ “Hiếu” làm cho mọi người phải thức giác; thấy cái người bệnh hoạn kia là một món quà báu của nhân loại. Lúc đó, chúng ta quán thông kêu bằng hòa tan với điển giới, điển giới ở trần gian. Còn điển giới của từ Trung Thiên sắp lên thì các bạn sẽ thấy những gì? Chư Tiên đang làm việc, những hạnh hy sinh vô cùng không biết mệt mõi cứu độ chúng sanh không giờ phút khắc nghỉ ngơi. Chúng ta hòa tan vô đó thì chúng ta mới cảm động rơi lụy mới thấy rõ rằng: Ta còn yếu hèn và ta phải cố gắng đi tới nữa; rồi chúng ta càng hòa tan, chúng ta càng thấy sức mạnh của Thượng Đế: Sanh tử một lượt, không ngừng nghỉ.
Vì chúng sanh thể hiện các nơi các giới để cho chúng sanh cảm thức ta ở đây, Chúa ở đây. Các con chỉ quên Chúa, Chúa không bao giờ quên các con; lúc đó chúng ta mới thấy rằng cảm động, chúng ta thấy khả năng của người con của Thượng Đế có hiện diện tại mảnh đất này nhưng mà chưa bao giờ sử dụng quyền năng của nó vì nó thiếu hạnh hy sinh; nó tưởng cái của nó là đầy đủ rồi; nhưng mà tạm nó không hay, còn cái vô cùng là cái của chính nó.
Cho nên khi học nhẫn, chúng ta học được kỷ thuật tháo gỡ từ cái bản thể trần trược eo hẹp này, chúng ta tháo gỡ nó ra, mở cái thức hòa đồng đi lên trên hòa với đại tự nhiên là một. Lúc đó, các bạn đi trên đường lớn rộng thênh thang vô cùng và phục vụ tối đa cho tất cả các giới nào cần dùng đến bạn. Cho nên, bạn mới nắm được cái khí giới tình thương và đạo đức cứu khổ ban vui trong sự phát tâm tự động chớ không cần ai nhắc nhở.
Cho nên, nhẫn hòa tại đời kêu bằng nhịn, giận mà nhịn, không nói, nhẫn; cái đó cũng không phải nhẫn, cái đó tức thêm; hòa cười hả hả nhưng mà tâm ghét người ta cái đó là nó bệnh thêm; chớ ông đó lúc nào cũng cười mà tại sao ông bị bệnh cancer? Bị ổng tức, ổng giải quyết không được, nó ứ động ở trong đó, ổng bị bệnh cancer; bệnh nan y, thấy chưa?
Còn chúng ta tu đây là khai mở nó ra, nhẫn thật sự để học cái kỷ thuật siêu nhiên của Trời Đất đã ân ban trong tâm thức. Khoa học huyền bí nằm hẳn trong tâm của chúng ta, ta sử dụng cái khoa học đó để khai thông trí tuệ cho chính mình và hòa tan với các giới kêu bằng quán thông! đi mà không đi, ở mà không ở. Lúc nào cũng có sự hiện diên tâm thức của người hiền ở khắp các nơi. Giá trị tình thương và đạo đức không bao giờ bị tắc ngẽn, sự ác ôn họ sẽ quên đi nhưng mà tình thương đạo đức luôn luôn sống động. Thành thật cám ơn sự đóng góp của hai ban thực hiện Nhẫn Hòa!
BĐ2: Gởi lời cám ơn Thầy và cám ơn hai ban vấn đáp. Chúng ta sẽ có nữa tiếng giải lao, và Thầy sẽ trở lại để chủ tọa hướng dẫn buổi vấn đáp của chúng ta vào 11 giờ. Con kính xin Thầy đi nghỉ, bây giờ tất cả quý bạn đạo đứng dậy để tiễn Thầy.
ĐT: Thì các bạn bây giờ đi “Hòa” một chút. (cười)
Qua một buổi luận đạo khác
BĐ1: Toán đầu là Chị Nam Mai, Chị Ngọc và Chị Bê; kính mời 3 Chị lên; toán thứ nhì là Chị Lê Kim Phượng, Chị Cao Bạch Trúc và Chị Võ Thị Trang. Xin mời Chị Phượng, Chị Trúc và Chị Trang.
Chương trình vấn đáp bắt đầu chúng con kính xin Thầy ban cho chủ đề.
ĐT: Bây giờ tôi xin đề nghị bàn về đề tài: “Hưởng Thụ”.
BĐ2: Dạ thưa Thầy, dạ thưa các Chị; em xin đặt câu hỏi: Dạ, trong vấn đề tu Vô Vi của chúng ta lâu nay đã… chúng ta có được cái… nhiều, rất nhiều thiền viện và đã có một số các Anh Chị đã tình nguyện dứt bỏ để đi vào thiền viện. Vậy thì đối với người tu ở trong thiền viện, chúng ta có nên được những cái… dạ thưa Thầy, hưởng thụ như là những bạn đạo Vô Vi còn ở ngoài đời, còn lo việc vợ chồng, còn lo việc con cái, còn làm việc gia đình, công ăn việc làm; xin Chị, xin các Chị giải thích dùm?
BĐ3: Khi mà vào thiền viện thì em nghĩ rằng là phải khắc khổ tu hành, nhưng mà mình có quyền hưởng thụ thanh điển.
BĐ4: Em xin hỏi các Chị là: Hưởng thụ thanh điển là làm sao ạ? Làm cách nào để hưởng thụ được thanh điển như các Chị đang hưởng, xin bày cho tụi em với!
BĐ3: Dạ thì hưởng thụ thanh điển thì có sáu câu: “Nam Mô A Di Đà Phật” thường niệm và công phu tu hành tinh tấn, một lòng dứt khoát bỏ chuyện đời để đi vào đạo.
BĐ4: Cám ơn Chị, khi các Chị hưởng được cái thanh điển thì cái trạng thái trong cơ thể của các Chị làm sao? xin nói cho tụi em biết với ạ.
BĐ3: Xin Chị nhắc lại cái câu hỏi.
BĐ4: Dạ khi mà các Chị hưởng thụ được cái thanh điển thì cái trạng thái trong cơ thể của các Chị làm sao?
BĐ5: Khi mà niệm Nam Mô A Di Đà Phật hấp thụ được, hưởng thụ thanh điển như Chị nói đó thì em thấy hạnh phúc; quan trọng nhất là cái hạnh phúc trong tâm hồn và em sống rất an nhiên tự tại.
BĐ3: Xin các Chị đặt câu hỏi cho tụi em ạ!
BĐ6: Làm sao mà phân biệt được là khi điển của mình xuất ra tiếp ứng với bên trên hay là điển của bề trên chiếu xuống mượn xác?
BĐ3: Dạ, cái đó em còn ngu muội quá, chắc tí nữa em xin nhờ Thầy giải đáp dùm cho tất cả mọi người.
ĐT: Không, để đối phương người ta trả lời.
BĐ3: Dạ, em còn ngu muội quá; tại vì cái bài học này nó rất mới với em; em xin Chị Vân Khanh và Chị Ngọc đã tiếp điển nhiều lần xin giải thích cho tụi em biết với ạ.
BĐ1: Chị Nam Mai.
BĐ7: Em xin trả lời đại khái về cái vấn đề này đó, là làm sao để mà mình biết được mình nhận điển? Điển nó xuống qua mình và một cái nữa là mượn xác phải không ạ? Thì qua những cái kinh nghiệm, qua những cái lần mà em tiếp điển thì em thấy nó có mấy cái trạng thái, thí dụ như là khi mà điển nó xuống qua mình đó, em phân biệt cá nhân của em đó thì em thấy thế này là: Khi nó vô mình đó, thì những cái hành động của mình nó giống như là cái hành động của ở trên, của cái phần điển đó; thí dụ như là cái động tác của mình đó bình thường đó mình không có, mà cái khi mà được xuống như vậy đó, thì là mình, mình bị, mình có những cái hành động mà bình thường mình không có; rồi có những cái như là khóc cười hay là gì đó đó, thì em nghĩ đó là cái phần điển nó đã xuống vào trong mình và nó hành động.
Nhưng mà trong đó thì cũng có cái sự xúc động của bản thân của tâm mình nữa; thì ngoài ra nữa nó còn một cái đề khác nữa, thí dụ như là chiếu điển xuống thì cái phần sáng suốt của người ta chiếu xuống mình đó nó khác hơn là cái phần điển nó xuống qua mình, thí dụ như là khi mà có một bạn hỏi về cái vấn đề gì đó thì cái phần điển nó chiếu xuống, thì mình thấy được rõ cái sự việc đó để mà mình trả lời, thì nó khác ở hai cái điểm đó đó. Em xin hết!
Sẵn dịp đây thì em xin hỏi về cái vấn đề, như Thầy đã đặt ra là cái tựa đề là “Thụ Hưởng”, thì em muốn biết rõ thêm về cái vấn đề cái “Thụ Hưởng” nó có nghĩa là gì?
BĐ8: Thưa, tôi xin mạo muội trả lời cái câu đó. Về vấn đề thụ hưởng, tôi xin nói về hai trường hợp: Một trường hợp là ở ngoài đời và một trường hợp về đạo.
Trường hợp về đời thụ hưởng là chúng ta thích những cái gì ở phía bên ngoài nó có; chẳng hạn thí dụ như ra ngoài shopping, chúng ta thấy ngoài đó có nhiều đồ đẹp, đồ sang thì chúng ta thích cho đẹp thì chúng ta mua về chúng ta mặc cho nó đẹp; hay là chúng ta thích về ăn uống thì chúng ta muốn ăn ngon thì chúng ta phải cố gắng nghĩ cách nào nấu cho nó ngon. Đó là hình thức thụ hưởng về đời, tức là khi mà chúng ta hưởng cái đó chúng ta cảm thấy chúng ta thích thú.
Còn về tu thì chúng ta thấy với cái vấn đề mà thụ hưởng đó, nó không có quan trọng nữa mà chúng ta thích ngồi thiền hơn, chúng ta thích thanh tịnh hơn, chúng ta thích quay về mình hơn; mà khi chúng ta ngồi như vậy mà chúng ta thấy thoải mái, chúng ta không có cảm thấy mệt mõi và cái tâm hồn của mình muốn thanh tịnh hơn, thế đó là cái thụ hưởng. Thưa như vậy có được hay không ạ? xin các Chị cho ý kiến ạ.
BĐ9: Em nghĩ là từ đời qua đạo thì cái nguyên lý nó cũng như nhau, tức là mình phải lúc nào cũng có khổ rồi nó mới có sướng; đời đó! mình cũng phải học hành nhiều, phải làm việc nhiều mình mới có cái giây phút nhàn hạ; và đạo mình cũng phải công phu, mình cũng phải ráo riết dữ tợn lắm thì mình mới đạt được cái phút tiêu dao tự tại. Thành ra, cái hưởng thụ và cái đau khổ; cái gọi là khổ rồi mới tới sướng, lúc nào mình cũng phải khổ rồi mới tới sướng, đó là nằm trong cái sự quân bình của tạo hóa.
BĐ6: Dạ, chúng ta đã biết được cái nghĩa của về “Thụ Hưởng”. Vậy em xin đặt câu hỏi rằng là thế nào là “Hưởng” và thế nào là “Thụ”?
BĐ9: Hưởng là mình sống ở đây, xung quanh là đầy đủ màu sắc hương vị; nếu mà hiểu, mình quán thông được các hương vị đó thì lúc đó mình mới Thụ, tức là có biết được; thì nó cũng nằm trong cái Hòa, cũng như bây giờ ví dụ: Chị ăn một món mà Chị cảm thích được cái hương vị của nó, Chị mới thấy ngon. Chớ còn ăn mà ăn khơi khơi vậy không thấy hương vị gì hết, thì mình không có thấy ngon. Thành ra, cái hương vị nó có mà mình biết hưởng hay không, mình biết nó sẽ nó là Thụ, là đạt được.
BĐ10: Chữ “Thụ”, em thêm về chữ thụ nữa! “Thụ” đó, nếu mà mình nói về đạo đó thì có nghĩa là nhận, và khi nhận đó, mình nhận trong cái thức nào? Mình có cái sự hiểu biết đó không? Và đối với người đạo mình đó, thì khi nhận thì mình phải biết được cái nguồn gốc, biết được cái sự khó khăn của cái việc mà mình hưởng được; không biết mấy Chị có hiểu được cái đó không? thì hưởng thụ đối với đời cũng như đối với đạo đó, thì được tùy theo cái thức của mỗi người và cái sự hưởng thụ nó có giá trị hay không có giá trị.
BĐ4: Em nghĩ rằng là: Thầy cho chúng mình cái đề tài “Hưởng Thụ”, theo em nghĩ rằng là chắc có lẽ tất cả chúng ta đây chưa ai biết “Hưởng Thụ” hết; thành ra, Thầy cho cái đề tài “Hưởng Thụ”. Chúng ta chỉ hưởng thụ những cái gì mà chúng ta không biết tới thôi. Nhưng mà Thầy muốn cho chúng ta cái đề tài “Hưởng Thụ” này, em không biết mấy Chị có đồng ý hay không? là Cha Trời cho chúng ta tất cả, tất cả rồi! mà tất cả chúng ta không ai biết “Hưởng” để mà “Thụ”, để mà có; thành ra, Thầy cho chúng ta cái đề tài này; hưởng thụ cái Tiểu Thiên Địa.
Chúng ta xuống đây, chúng ta có cái Tiểu Thiên Địa để mà chúng ta tự tu tự tiến, và có thanh điển, dùng cái thanh điển đó để thanh lọc cái Vũ Trụ mình biến nó thành một cái dinh thự cho phần hồn mình tu học. Mà tất cả chúng ta ở đây không ai biết; chúng ta thật sự chúng ta nghĩ chúng ta biết hưởng thụ, mà thật sự chúng ta không đứa nào biết hưởng thụ hết. Không biết Hưởng để mà Thụ, để nhận cái đó để mà có cho về phần mình để thăng tiến; em không biết mấy Chị có nghĩ như vậy không?
BĐ11: Em thấy “Hưởng Thụ”, theo em, em thấy chỉ có Nam Mô A Di Đà Phật là hưởng thụ. Thì hồi nãy giờ nói đi nói lại thì em đang hưởng thụ là vì em đang niệm Nam Mô A Di Đà Phật và thấy Nam Mô A Di Đà Phật là hưởng thụ.
BĐ1: Nếu các Chị không còn câu hỏi, thì kính xin Thầy ban cho lời minh luận.
ĐT: “Hưởng Thụ”; Hưởng là biết, tôi thấy cái mùi đó nó bay tới tôi muốn hưởng nó, nhưng mà tôi chịu học không? Thụ là học, thụ là nhận để khai mở ra. Tôi hưởng thụ, các bạn đang hưởng thụ; các bạn thấy rõ rằng ta ở Thiên Đàng, ta ở nơi tiêu dao giáng lâm xuống thế gian. Bây giờ nhắc nơi đó, các bạn phưởng phất mùi đạo trong tâm, đang hưởng đó! nhưng mà chịu thụ không? nhận không? học không? mở không? làm cho cái Tiểu Thiên Địa này nó tiêu dao như trước kia.
Chúng ta lúc sơ sanh giáng lâm từ tiêu dao tới động loạn. Cho nên, chúng ta biết tu sửa là chúng ta đang Hưởng Thụ; Thụ là học để tiến, để cải tiến vô cùng thì nó mới đạt tới sự quân bình. Lúc đó mới thấy hạnh phúc, sau sự hưởng thụ mới thấy hạnh phúc. Còn người đời: Cha! chả giò ngon quá, ăn 10 cuốn, 20 cuốn; rồi bệnh. Mà sau cái bệnh đó là gì? Nó cũng hưởng thụ vậy, chấp nhận không? Thấy sự sai lầm của mình không? Sửa không? Chấp nhận rồi mới sửa, từ đó không có tái phạm nữa. Lúc đó, mới đi tới chỗ thật sự hưởng thụ của tình đời.
Ở đời chúng ta thấy ăn ngon là cứ ăn vô rồi tới sanh bệnh rồi mới biết cái hưởng thụ không phải làm quá lố được, vừa phải để tiến, nó mới đạt tới sự quân bình. Cho nên, ngày hôm nay các bạn có đạo pháp; như Chị Phượng vừa nói của Cha ban cho chúng ta; chúng ta nghe tới Cha Trời chúng ta mừng lắm! nghe tới Tiên Phật chúng ta thấy thơm, thích lắm! nhưng mà thụ không? chịu học, nhận không? Thâu vô không? Mở cửa không? Mở cửa rồi chúng ta mới nhận được; rồi nó mới đạt tới sự quân bình mới là hạnh phúc. “Hưởng Thụ” là … rốt sau sự hưởng thụ mới thấy rõ hạnh phúc, thấy chưa?
Cho nên, chúng ta trên đường hưởng thụ tiến hóa. Hai bên A, B cũng thông được một phần lớn về lý đạo, cho nên đã giải đáp rất rõ rệt và cũng khuyến khích trong thực hành. Tôi mong rằng hai đội trở về thực hành thêm nữa để kì tới sẽ đặt những câu cũng “Hưởng Thụ” mà cắt nghĩa khác hơn. Cám ơn! (cười)
BĐ1: Cám ơn Thầy, cám ơn các Chị trong hai ban vấn đáp; kế tiếp kính mời một bác nữ đạo hữu lên để bốc dùm bốc thăm chọ hai toán kế tiếp. Toán đầu tiên là Bác Huỳnh Bá, Anh Phố và Chị Lý. Dạ kính mời Toán thứ nhì ở Texas gồm có Anh Long, Anh Duy và Chị Lan Anh.
(... Qua một nhóm luận đạo khác...)
ĐT: Đâu Anh ở bên này chớ! đi lộn đường rồi. Tưởng mình làm Phật muốn ngồi đâu ngồi hả.(cười)
BĐ1: Vì chương trình có phần hào hứng; thành ra, chúng ta không có quan tâm thời giờ nữa, trong vòng phạm vi thích hợp. Các bạn cứ đặt câu hỏi tự nhiên, trả lời tự nhiên. Chúng con kính xin Thầy ban cho chủ đề.
ĐT: Thiền thức, xin giải bày về đề tài “Thiền Thức”.
BĐ1: Kính xin bất cứ một trong hai toán có thể bắt đầu câu hỏi. Toán nào cũng có thể bắt đầu câu hỏi và đặt câu hỏi được hết.
ĐT: Muốn hỏi thì hỏi liền chớ không thôi người ta hỏi, người ta lấn áp, mau!
BĐ2: Dạ xin cho biết sự khác biệt giữa “Thiền Thức” và “Thiền Giác”?
BĐ3: “Thiền Thức”, tức là thức là thức tỉnh, thiền là ngồi thiền; thiền cho nó thức, tức là phải thiền làm sao cho nó thức tỉnh lên; còn “Thiền Giác” đây thì nó thấp hơn một chút, tức là cũng ngồi thiền nhưng mà được giác ngộ thì trong cái sự giác ngộ đó; nếu mà chúng ta phân tích ra từng chữ và theo lý thuyết đó thì nó là như vậy. Nhưng mà nếu chúng ta đứng trong phương diện thực hành của thiền Vô Vi thì chúng ta sẽ thấy “Thiền Thức” hay “Thiền Giác” nó cũng vậy thôi, tất cả nó chỉ là danh từ thôi! Thì cũng là đều một chữ “Thiền”, và cuối cùng thì theo sự nhận biết của tôi thì là nó cũng là thiền Vô Vi cả thôi.
BĐ4: Tôi xin đặt câu hỏi: Làm sao đạt được thiền thức?
BĐ5: À, bác nói là: Làm sao đạt được Thiền Thức?
BĐ4: Làm sao đạt được Thiền Thức?
BĐ5: Thì con người… thì chúng ta sanh ra đây chúng ta đều là vô minh cả. Bây giờ chúng ta có cái pháp, cái pháp này gọi là cái pháp thiền; thì chúng ta dụng cái pháp thiền để mà đi sâu vào để cho nó thức; mình thiền là cái gì? Mình thiền là mình đi sâu vào cái nội tâm của mình để mình thấy cái tánh hư tật xấu của mình, rồi mình mới thức được; mình chưa thấy mình thì mình không thể nào mình thức được, cái đó gọi là Thiền Thức; xin bác…
BĐ4: Tôi đồng ý với Anh, nhưng tôi cũng xin bổ túc là: Thiền Thức thì tất nhiên là mình ngồi thiền, mình tịnh tâm, mình nhập định thì mình biết được cái tình trạng tâm linh của mình trong cái lúc đó.
BĐ6: Xin có câu hỏi: Có thể nào chúng ta đi đứng ngồi nằm bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể đạt được trạng thái Thiền Thức hay không?
BĐ5: Chắc chắn là có, vì Pháp Lý Vô Vi cho thấy chúng ta thấy là thiền 24/24, lúc nào chúng ta cũng thiền được và thức được, thì chúng ta Thiền Thức tức là chúng ta đang nghĩ đến sự thiền và nghĩ đến làm tất cả những điều tốt, điều lành thì cái đó là chúng ta đang ở trong tình trạng thiền thức nhưng có một số đạo hữu Vô Vi thường thường thì cái miệng thì nói là: Thiền á! tôi thiền 24/24 nhưng mà thực sự một ngày chẳng thiền được một giờ nào cả, ngồi 1 giờ là không nổi rồi; nhưng mà miệng vẫn nói là tôi thiền 24/24: đi, đứng, nằm, ngồi; nói thì được nhưng làm không được; vậy thì theo tôi đó, muốn đạt được cái thiền 24/24 thì chúng ta phải đặt một cái kế hoạch là hằng ngày chúng ta phải có một giờ nhất định để chúng ta quyết tâm và đạt đến đó, mà cái giờ tốt nhất là từ 12 giờ cho đến 2 giờ sáng. Nếu đêm nào cũng như vậy, thì trong một thời gian ngắn chúng ta sẽ đến cái giai đoạn nó tăng dần lên, chớ còn nói thì không được đâu! phải làm mới được.
BĐ4: Tôi xin thêm ý kiến với Anh Phổ là: Có thể trong một ngày 24/24 mình cũng có thể mình thiền trọn vẹn được bằng cái cách trù niệm Nam Mô A Di Đà Phật trên đỉnh đầu thì cái đó cũng là một cái hình thức thiền của mình.
BĐ6: Tôi xin được bổ túc nữa là khi mà mình thiền ngoài cái giờ công phu theo Pháp Lý Vô Vi ra thì bất cứ hành động và tư tưởng nào nếu mình nghĩ tất cả xung quanh đều là có Phật tính hết, thì mình sẽ học hỏi trong cái giây phút mà gọi là thức đó, như Thầy nói là không có lúc nào chúng ta ngủ cả. Lúc nào chúng ta cũng là thức, thì khi chúng ta lúc nào cũng học hỏi. Thì khi đó thật sự là cố gắng có thể đạt đến được tìm mọi phương tiện để thiền trong bất cứ cái gì chúng ta làm, nghĩ rằng ta đang làm gì đây và khi đó tất cả chỉ là sự học hỏi để tiến hóa thôi thì tôi nghĩ có thể đạt được đến vấn đề thiền trong đi đứng ngồi nằm và trong lúc đó thì chúng ta luôn luôn niệm Phật thì sẽ đạt được đến điều đó.
BĐ4: Theo Chị đó, thì Chị hiểu về Thiền Thức và Thiền Giác ra làm sao?
BĐ6: Dạ, theo tôi hiểu thì Thiền Thức, thiền để mài bóng cái thức mình đang có chúng ta là một điểm linh quang từ trên xuống là chúng ta cũng có sẵn cái thức. Chúng ta thiền để tìm lại cái thức mà chúng ta mất đi trong cái vô minh, vì cái hồng trần nó bao cuốn lấy chúng ta; còn cái Thiền Giác thì cái giác theo tôi hiểu là giác ngộ; thiền để giác ngộ, thì khi mà giác ngộ được thì chúng ta tìm được cái chân lý mà chúng ta hằng mong muốn, cái sự sáng suốt mà chúng ta hằng ước vọng tìm ra được; thì cái đó, Thiền Giác và Thiền Thức tôi thấy cái sự khác biệt như thế.
BĐ4: Cám ơn Chị.
BĐ7: Tôi xin đóng góp thêm về cái Thiền Giác là: Thiền là hòa tan, mà giác là phải hiểu bên trái, bên phải; cũng như bên trái bên phải, cũng như trở về cái nội thức mà biết mình và biết người; định thì định rồi mới giác được, không định không giác được là mình phải nắm hai mặt để biết được cái quân bình, tay mặt và tay trái phải biết được cả hai mới giác và Thiền Giác.
BĐ4: Xin cho tôi đặt câu hỏi: Thường thường đó anh chị em ta có những cái danh từ như là “Quán, Chỉ”; ở bên đạo Phật thì có “Quán” có “Chỉ”, nhưng mà ở phía một số anh em đó thường thường thiền thì chưa tới đâu mà nghe tới người ta thiền Quán thì bảo người ta thấp quá còn mấy ông Vô Vi thì cao quá, cứ nghĩ rằng mình là cao quá thành ra mình là cao quá thành ra mình không thèm Quán nữa, mà mình đi trực chỉ thành Phật luôn, kiến tánh thành Phật luôn.
Thưa Anh, cái quan niệm thiền Quán theo quý vị cho chúng tôi biết cái thiền Quán với lại cái thiền Vô Vi nó khác nhau ở chỗ nào? Và chúng ta có đặt nặng vấn đề thiền Quán hay là thiền Chỉ; thực “Chỉ” hay là “Quán” nó có khác nhau không và nó có thấp hơn không? Vì một số anh em nói là thiền Quán tức là thấp, nhưng mà tôi bảo: Không! tôi, theo tôi quan niệm của tôi thì tôi nghĩ đó là không có Quán mà cứ ngồi thiền không; rồi cứ gật gà gật gù ngủ, rồi cứ đi tuốt, đi đi đi đâu đó; toàn ngủ gật không đó thì tôi thấy nó không được cái gì hết á! thành trong cái thức ở đây đó thiền là phải thức, tức là trong thức mà có ngủ thì cái đó nó phải Quán tưởng vào vấn đề gì? Nhưng cái chữ “Quán” đó có lẽ thì theo cái thiển ý của tôi đó, thì nó đã khác là quý vị cứ bảo là bên ông đạo Phật ông ấy thiền Quán thì thấp còn mấy ông Vô Vi của mình ngon á, trực chỉ là ngon thì xin cho biết quan niệm về thiền Quán và thiền Vô Vi?
BĐ8: Tôi xin trả lời Anh Phố là: Bên Phật giáo nói là thiền Quán, thì thiền Quán là Quán tưởng; chẳng hạn như người ta ngồi người ta thiền nhìn dưới lỗ mũi, nhìn xuống đất, người ta quán tưởng thì người ta cảm thấy con người từ tứ đại mà ra, rồi lúc chết rồi á, rồi cũng về “Quy Không” mà thôi; thì người ta cũng đi đến cái “Thức” và cũng đi đến cái “Giác”. Còn cái pháp Vô Vi mình đó là mình thiền trực chỉ vào tâm, để thấy gì? thấy tánh. Phật nói: “Kiến thánh thành Phật”, bởi vậy mình… thiền của Vô Vi mình là mình thấy tánh, phải kiến tánh thì mới thành Phật được; thì có hai phương pháp là đều là tốt cả, không có phương pháp nào là không tốt. Nhưng mà tùy theo hành giả mà thôi, tùy theo cái tâm thức mỗi người chọn lựa cái phương pháp mà thôi! chớ mình không thể nói rằng: Cái Vô Vi mình cao hơn người ta hoặc người ta cao hơn mình, tức là cái pháp nào cũng là của Thượng Đế cả. Nên chỉ do hành giả mà thôi, nó chỉ khác biệt nhau chút xíu đó.
BĐ6: Xin góp lời thêm với Anh Long: Thì cái thiền Quán đó, sở dĩ pháp chúng ta Thầy không dạy chúng ta Quán, vì Thầy có nói rằng: Trong cái tưởng sẽ có cái tượng, chúng ta Vô Vi Thầy nói khả năng vô cùng tận, chúng ta sẽ có thể đạt được tất cả bất cứ cái gì khi chúng ta đạt được cái “Không”; thì khi có cái “Không” là có tất cả. Vậy thì tại sao khi thiền, nếu như lời Anh Phố nói rằng: Chúng ta chỉ ngủ gà ngủ gật nhưng mà tại sao lại nói rằng cao hơn người khác? thì cũng như Anh Long nói: Chúng ta không cao hơn ai, cũng như không thấp hơn ai. Chúng ta chỉ đi theo đúng cái trình độ chúng ta sẵn có, nhưng chúng ta buông thả lỏng vì chúng ta mục đích là đạt đến cái “Không”, thì đi đến cái “Không” chúng ta cũng không muốn quán cả cái “Không” nữa. Nên chúng ta cũng không nghĩ tới cái “Không”, chúng ta chỉ buông thả mà thôi. Vì khi đó chúng ta sẽ học hỏi được vô cùng tận và tất cả những cái gì đến đúng với trình độ của chúng ta do cái sự hướng dẫn của cộng đồng Vô Vi hoặc là của… nghĩa là nói chung lại là của Thượng Đế; nhìn lại với cái sự, cái trình độ tiến hóa thì đúng với chúng ta, chúng ta không có tự quán lấy một cái gì. Thì theo tôi nghĩ cái duyên chúng ta gặp được pháp Vô Vi, cái đó cũng là một cái trình độ mà thôi.
BĐ4: Tôi xin phép nói rõ thêm về cái thiền Chỉ Quán. Bởi vì cái môn pháp thiền này là trước kia tôi đã thực hiện theo Tịnh Độ Cư Sĩ một thời gian; thì nó chỉ, các cái chỉ, đình chỉ cái tư tưởng lại; rồi mình mới quán, đặt một cái đề tài mình nêu ra chẳng hạn: “Tôi là ai? tại sao có tôi?”, thì mình phải đào sâu ở trong cái trí óc của mình, ở trong cái lương tri của mình để mình hiểu biết.
Thì cái vấn đề đó tôi thực hành một thời gian lâu thì tôi thấy nó cũng nặng cái đầu, hơn nữa cái pháp thở của bên Chỉ Quán thì thở Sổ Tức, thì nó khác với cái pháp của Vô Vi; mà sau một thời gian tôi thực hành thì tôi thấy nó có khác biệt trước hết về cái pháp thở ở bên đây thì mình dùng thanh khí điển thanh lọc. Về cái Thiền Định thì thả lỏng bộ đầu, cái đó nó đem lại cho mình một cái lợi là trong khi mình ngồi thiền định mà thả lỏng bộ đầu thì tất nhiên là cái trí óc của mình nó không có làm việc, mà đây là cái phàm trí nếu mình bắt cá phàm trí nó làm việc thì tất nhiên là cái chân trí nó không có lộ ra được.
Sở dĩ chúng ta bị kẹt là vì cái Chân Trí của mình bị cái Phàm Trí do cái ngoại cảnh lấn áp làm cho mình phải nặng nề, dùng cái pháp thiền để dẹp bỏ lần lần, dẹp cái Phàm Trí qua một bên để cái Chân Trí nó lộ ra. Thì cái thiền Chỉ Quán cũng là một cái pháp mà bên tịnh độ cũng nhiều nhà cũng thực hành được; tôi nghĩ rằng tùy theo cái cơ thể, tùy theo cái trình độ của mỗi người mà áp dụng được hay là không; nhưng tất cả thiền Chỉ Quán hay là thiền Vô Vi cũng là pháp của Thượng Đế cho ra.
BĐ8: Xin Anh Phố cho biết là: Thế nào mình đạt được tới Thiền Thức? làm thế nào để đạt thật sự đến Thiền Thức? Nếu mà nói tới Thiền Thức có nhiều người họ thiền.
(bắt đầu mp3.2)
BĐ8: Nói họ biết cái này, biết cái nọ, nói là thức, cũng thiền thức; nhưng mà cái thật sự thiền thức, mình thiền như thế nào để mà mình đi đến thật sự cái thiền thức, đúng nghĩa của nó?
BĐ4: Theo sự nhận biết của tôi về vấn đề “Thiền Thức” Anh đặt ra thì nó là vô cùng vô tận, không thể nào nói ai đạt được cái chữ Thiền Thức cả. Vì Thiền Thức, thiền là thiền, thức là thức giác; bây giờ nếu cho tôi nói thì tôi chỉ nói có thể Đức Phật Thích Ca, rồi Đức Chúa Jesus những người đã thành đạo và đã để lại cho chúng ta tất cả những cái gì còn lại ngày hôm nay, để đi theo con đường của quý Ngài, thì quý vị đã đạt được Thiền Thức. Còn chúng ta ở đây là chúng ta đang đi trên con đường học để tiến về đạt được cái trạng thái Thiền Thức.
Trong tình thương và đạo đức nếu chúng ta đi trọn vẹn và chúng ta làm được tất cả mọi cái gì chúng ta cần làm để phục vụ cho người khác, hy sinh cho người khác, quên mình đi; thì ít nhất mọi người xung quanh thương yêu ta thì chúng ta cũng là những cái bước để mà đánh dấu được chúng ta đạt được Thiền Thức. Theo quan niệm của tôi thì tôi nghĩ là: Chúng ta đang đi trên con đường tiến về Thiền Thức.
BĐ1: Tôi đề nghị: Khi mình đặt câu hỏi, nên đặt câu hỏi chung cho toàn nhóm để tất cả các bạn trong nhóm cũng có thể có cơ hội đóng góp. Chẳng hạn Chị Lý có thể phát biểu thêm.
BĐ6: Dạ, thưa: Tại sao Thầy thường hay nói: Có “Thiền” mới có “Thức”; dạ, tại sao như vậy?
BĐ8: Lẽ dĩ nhiên là có “Thiền” mới có “Thức”, chớ nếu mình không có ngồi lại, rồi mình Soi Hồn mình công phu thì tất nhiên mình đâu có biết vô cái giai đoạn của “Thức”, thiền thức là một cái giai đoạn nó sẽ dẫn ta đi đến cái thiền giác là cũng như Đức Phật xưa kia phải đi tới cái giai đoạn Thiền Giác, Ngài mới thấy được cái chân lý rõ ràng.
BĐ4: Xin phép! tôi xin bổ túc thêm là có “Thiền” mới có “ Thức” vì nếu đúng như là Bác nói đó, ngày hôm nào chúng ta cái… anh em chúng ta thường thường có cái quan niệm mới học được cái pháp dăm bảy ba ngày, rồi cứ đi giảng đạo hết chỗ này đến chỗ kia, chưa biết cái gì cả; rồi cứ nói cái pháp lung tung beng lên, rồi cứ bảo là: Thiền đủ rồi; nhưng mà sự thật công phu công trình chưa đủ.
Thầy thường dạy chúng ta rằng: “Nếu chúng ta tu thiền mà đạt được đến cái trình độ nào thì tự nhiên cái thanh điển nó sẽ thâu hút các linh căn trở về đó để trao đổi và học hỏi, thì trong khi chúng ta mới biết một tí mà điển thì nó cũng gọi như là nó cũng chưa tới đâu trên đường đạo cả, thì chúng ta đã vung vít lên; cũng vì thương yêu mà chúng ta đem cái bài bản của chúng ta đi mà quảng bá, điều đó rất là tốt! nhưng mà nếu chúng ta ngồi xuống để chúng ta thiền thật nhiều, cho đến ngày chúng ta thức đỡ đỡ một chút đó, chúng ta đi nói thì nó tốt hơn! nghĩa là đi nói sớm cũng tốt mà trễ một chút thì lại còn tốt hơn nữa, theo tôi nghĩ như vậy.
BĐ6: Xin đặt câu hỏi tiếp theo cái câu của Bác Bá hỏi: Vậy thì tại sao Thầy lại nói là: “Vạn vật đồng một thức”. Nếu như Bác nói rằng: Chúng ta phải có “Thiền” thì mới “thức”, thì như Bác câu trả lời thì tại sao vạn vật đồng một thức?
BĐ8: Vạn vật đồng một thể, tất nhiên là cái thể đó cái thể chung của tạo hóa vũ trụ cho ra con người, thì từ cái thể đó nó mới ra cái “Thức” và cái “Dụng”; thì tất cả chúng ta từ Vũ Trụ sanh ra loài vật, con người, tất cả đều nó giống một thể tất cả. Nếu bây giờ mình lấy theo vấn đề khía cạnh khoa học mà nói, mình phân tách ra từ ở trong cái tế bào chúng ta, nó cũng có âm dương. Thì nếu bây giờ phân tách ra cây cỏ vạn vật đều cũng có âm dương, đó là cũng cái đồng một thể với nhau cả. Thì từ cái thể đó, nó có thể nó tiến lên cái “Thức” để ra được cái “Dụng”.
BĐ4: Xin được bổ túc một chút xíu, đó là: “NHẤT BẢN TÁN VẠN THÙ, VẠN THÙ QUY NHẤT BẢN”; điển chỗ nào cũng có điển, thường thường tôi nói là điển tùm lum hết! cây cỏ cũng có điển, cái tô cũng có điển, cái món ăn của anh em cũng có điển. Con ruồi, con bọ, chỗ nào cũng có điển hết! cái điển đó đó, thì tôi thấy nó là nhất thể đó. chỉ có ở thể điển thôi. Nhưng mà chúng ta gọi tùm lum lên thì cái thể điển của chúng ta nó không khá, mà chúng ta ngồi tịnh xuống thanh lọc cho đàng hoàng thì cái thanh điển đó nó gom lại chỉ có một thôi. Vậy thì, khi mà “VẠN THÙ QUY NHẤT BỔN” rồi đó, thì cái thể là thể đó; thể đó là thể tình thương và yêu thương nhau thì cái thể đó nó trong vắt. Mà chúng ta cứ ngồi, mà chúng ta đem lý sự đời ra cãi lộn nhau, thì cái thể đó nó là thể trược.
BĐ1: Cám ơn sự đóng góp của các bạn trong hai toán. Kính xin Thầy ban lời minh luận.
ĐT: Hai bên cũng đã biết, nhưng mà mỗi trình độ đều khác nhau. Cái “Thức” là vô cùng, như Anh Phố đã nói; cọng cỏ nó cũng thức vậy, cọng cỏ nó đang thiền. Nếu nó không chịu thiền nó đâu có chấp nhận ở một chỗ, chúng ta thấy không? Thiền là Thức, bởi vì chúng ta nhiều khi mất Thức dao động hướng ngoại, chúng ta di chuyển được; cho nên, chúng ta phải học cái pháp thiền cho nó trụ và nó lui lại sự quân bình sẵn có của chính chúng nó.
Mỗi tâm linh đều có sự quân bình, trở lộn lại quân bình; trở lộn lại quân bình mới thấy giá trị của số “Không”, từ đó mới thức, mà đạt về trong cái số quân bình trong nội thức của chúng ta rồi nắm đó đo lường bất cứ cái gì cũng là quy “Một”. Cho nên, học tới vô cùng mãi mãi, nếu thiếu thức không có giá trị vô cùng; trụ hóa được quy “Không”, trọn thức thì mới thấy có giá trị.
Cho nên, chúng ta ngồi lại thiền thì không lâu đạt tới sự quân bình của 3 giới Thượng Trung Hạ của cơ thể. Lúc đó, chúng ta mới thấy trụ điển lên trên bộ đầu, lúc đó mới thấy rõ giá trị của quy Thức. Phần đó không ai cắt đứt được, phần đó là trường cửu và cố gắng vun bồi; thấy chậm, bữa nay thấy có chút xíu đó thôi nhưng mà lần lần, lần lần xem kinh hiểu kinh, họ nói mình nghe mình quán thông, hiểu được.
Còn thiền Quán kia là phải bớt ăn, phải tu khổ mới thiền được cái pháp thiền Quán. Thiền Quán là nhịn ăn, ăn một buổi trưa thôi; còn đằng này chúng ta ăn ba bốn buổi thì chúng ta phải dùng Pháp Luân Thường Chuyển khứ trược lưu thanh. Cho nên, cái pháp này là đời đạo song tu; còn cái thiền quán kia là chỉ có tu không có làm chuyện đời. Nếu những người nào mà làm chuyện đời học về cái pháp thiền Quán đó là chỉ động và loạn thôi!
Bước vào chùa tu, ăn một ngày một buổi, chút ít để ấm no bao tử thôi; rồi tiếp tục thiền Quán thì nó cũng đạt tới được; cái đó nó rất hay nhưng mà phải từ giả đời, dứt khoát thất tình lục dục. Còn chúng ta đời đạo song tu, phải mượn cái nguyên năng của cả Càn Khôn Vũ Trụ và lập lại quân bình của chính mình mới thức tâm, mới thấy rõ sự sai lầm của chính ta, cải tiến tùy theo trình độ và khả năng đã và đang tiến.
Cho nên, cái Thiền Thức này áp dụng cho mọi giới được có cơ hội tu học đời lẫn đạo và đạt tới sự quân bình; rồi sau này mới quy về căn cội; kẻ thuộc Quan Âm, người thuộc Quan Thánh, người thuộc Thiên Chúa, người thuộc Jesus. Thì từ đó mới được hạnh ngộ tương giao phần thanh điển đó, và cố gắng tu học đi tới vô cùng. Cái thức luôn luôn bừng sáng, giữ đó mà đi! chớ không phải thức đi thách đố thiên hạ.
Cho nên, trong Vô Vi có, có một nhóm lý thuyết Vô Vi; Anh Phố đã nói lý thuyết Vô Vi chỉ có nói không mà không có hành; nói đầu nào nó hiểu đầu đó, nó nói rất rành nhưng mà nó không có hành, nó không có chịu thấy nó; cho nên, cái phương pháp công phu này phải trong thực hành chớ không dùng lý thuyết, dùng lý thuyết chừng nào thì chỉ đi sai đường. Mà chúng ta hành rồi, tự nhiên chúng ta mở một cái triết lý rõ ràng trong đó nó cộng với thanh điển của bề trên của tam giới, thì lời nói có giá trị; thì lúc đó nó kêu bằng: “ Hữu Xạ Tự Nhiên Hương”, người ta sẽ đến tìm chúng ta và hỏi đạo và nhân cơ hội đó chúng ta mới thấy giá trị của cái thức được học hỏi nhiều và khai triễn vô cùng, và thấy mình càng ngày càng nhỏ chớ không lớn. Nhưng mà nhanh nhẹ học hỏi vô cùng không ngừng nghỉ và không bao giờ mệt mỏi nữa.
Cho nên, chúng ta đã tu để thu cái phạm vi động loạn, từ to lớn động loạn tranh chấp trở về nhỏ và từ nhỏ trở về “Không”, thì lúc đó mới nắm trọn thức, cư trần không nhiễm trần, ở thế gian mà không phải người phàm. Bởi vì cái thức làm việc ba cõi liên tục không ngừng nghĩ; lúc đó các bạn mới thấy rằng khả năng con người là vô cùng, lúc đó chúng ta không dám kì thị và không dám khinh bất cứ một đạo pháp nào.
Con người là có giá trị. Con người là đương nhiên có giá trị tiến hóa; rồi chúng ta càng tu nữa thấy vạn linh đều hữu ích, dẫn tiến tâm linh tiến hóa. Cây cỏ, côn trùng, vạn vật cũng đang hòa hợp với cộng đồng điển giới của Trời Phật, thì chúng ta không còn sự kì thị và cách biệt nữa. Cho nên, hòa tan trong đó và thương yêu vô cùng, Thiền nó mới có Thức, quân bình nó mới tự đạt, còn mất quân bình không có tự đạt. Thiền là đạt tới quân bình trước hết, rồi mới thức, mới mở trí khai tâm, mới thấy rõ tiền kiếp của chúng ta và quyết định con đường đi ở tương lai là vậy! “Thiền Thức”.
BĐ1: Chúng con kính cám ơn Thầy và cám ơn các bạn trong ban vấn đáp!
ĐT: Cám ơn 2 ban rất thông suốt!
BĐ1: Trước khi chấm dứt chương trình tạm ngưng của chương trình buổi sáng nay, thì xin mời Anh Huỳnh Văn Trí lên đây để có lời từ giả Thầy và quý bạn đạo chúng ta.
BĐ9: Kính thưa Thầy và thưa các bạn đạo hữu; tôi hôm nay là Huỳnh Văn Trí, tôi muốn tỏ đôi lời trước khi tôi rời khỏi đại hội. Tôi rất lấy làm tiếc là tôi không có thì giờ để mà tham dự buổi đại hội cho đến ngày cuối cùng. Bởi vì ngày mai là cái ngày công tác của tôi ở tại Tokyo, tôi phải đi; thành ra, tôi muốn lên đây để có đôi lời cám ơn tất cả mấy anh em, và nhất là ban tổ chức đã dành những cái thì giờ cho chúng tôi có những cái tiếng nói tại buổi đại hội hôm nay. Thì một lần nữa, tôi thành thật cám ơn tất cả những bà con cô bác và tất cả những ban tổ chức đã giúp tôi hôm nay.
Trong thời gian tôi ở lại đây tôi rất là hãnh diện được diện kiến với tất cả các đạo hữu, hy vọng rằng tôi sẽ gặp lại tất cả các đạo hữu tại quốc gia Úc Châu, là cái quốc gia mà chúng tôi đang sinh sống, cũng là quốc gia ân nhân của tôi; thì trước khi dứt lời tôi xin kể một câu chuyện gọi là “Nụ Cười Của Nước Úc” để các bạn ngày tối nay các bạn thiền, trước khi thiền các bạn cứ suy nghĩ đây là một cái nụ cười hay là một cái câu chuyện tâm sự của nước Úc.
Nếu mà tôi kể đây thì nói thật nãy giờ thì các bạn đã nói rất nhiều về vấn đề đạo pháp; tôi thì đạo pháp nói thật thưa các bạn là không được bao nhiêu, nhưng mà tôi có những cái gì thì tôi nói cho các bạn biết để các bạn cùng tôi chia vui. Là có một hôm mà tụi tôi làm việc nhà máy hư không chạy được, thì tụi tôi ra lệnh là phải tháo cái đầu máy ra, cái đầu máy đó là nó nóng dữ lắm! 400 độ C; thành ra, khi mà ra lệnh tháo đầu máy ra ai cũng sợ hết trơn. Thành ra, tất cả những người đó thì họ về hết á, chỉ còn tôi với một cái bạn đạo tên là chú Thắng.
Thì khi mà nhiệt độ đã lên tới đủ rồi đó, thì tụi tôi kêu chú Thắng tháo cái đầu máy ra; chú Thắng tháo ra, với 400 độ C với hai ba cái bao tay cũng không có, không có đủ để mà cản được sức nóng nữa. Nhưng mà các bạn biết là mỡ bò nó nóng 400 độ C đó, khi mà rớt vào cái da tay của mình đó thì nhất định cái miếng da đó phải lột ra rồi; đó, thành ra khi mà buổi sáng vợ tôi hỏi tôi đó: Là bữa nay anh làm việc ở khu vực nào vậy? Tôi nói là: Tôi làm việc ở trên Vô Vi chớ đâu nữa, thì vợ tôi hoảng hồn chạy lấy cái áo khác cho tôi mặc vô. Bởi vì cái mỡ bò màu đen đó nó dính vô một cái đó là giặt không có ra rồi bỏ luôn cái áo. Thành ra, chú Thắng chú cười cười, chú nói rằng: Hồi xưa em nghe nói rằng nhất vợ nhì trời thứ ba mới tới ngô tổng thống, tức trong bụng mà liếc liếc vậy thôi chớ cũng không có nói nữa.
Tức là nghe chú Thắng chê, chắc là mình sợ vợ hay gì đây, rồi tới khi mà tháo cái khuôn ra rồi đó thì chú Thắng lỡ một cục mỡ bò dính vô tay rồi, thì tôi có nói thôi chú lại lấy mỡ bò ra tức là lột miếng da ra luôn đó và lấy thuốc xức vô trở lại làm việc ngay, không có được ngừng. Bởi vì nếu mà để một hồi cái khuôn nó nguội là không có làm việc được; thành ra, chú Thắng đau lắm, cũng khổ lắm! thì tôi có nói cái câu nói rằng: Quay đi quảnh lại chỉ còn ta với ta, thì chú Thắng vừa đau vừa nghe cái câu đó, chắc có lẽ chú là bơ vơ thấy khổ, và nước mắt chú đổ ra tức là không có bạn nào tới phụ.
Thành ra, tới phiên làm việc một hồi nữa; thì tôi có nói một cái câu này ngoài cái câu chót, tôi nói: Còn trời, còn đất, còn non, còn nước; có lẽ ta đâu mãi thế này, tức là cái câu của những danh nhân hồi xưa; tự nhiên chú Thắng lau nước mắt, đứng dậy, “để em đi một chút xíu”; chút xíu nữa chú Thắng bưng lên ly cà phê, nói rằng: Để thưởng cho anh, em mà bị nghĩa là ngó đi ngó lại không thấy ai hết trơn á, chỉ còn mình với mình thôi đó, là chú Thắng thấy bơ vơ là thấy khổ rồi; tự nhiên tôi nói rằng: Còn trời, còn đất, còn non, còn nước đó, thì chú tự nhiên chú giật mình. “Mình không có bơ vơ, còn ơn trên mà”. Thành ra, cái điểm đó đó, thành ra tụi tôi nói đi nói lại hoài; thành ra tôi nói chú Thắng chú ghẹo tôi hồi sáng sớm tới chiều tôi cũng nói lại chú. Đó là cái câu chuyện vui của nước Úc mà tụi tôi lấy đó làm nói hoài.
Thì những cái điều đó là hồi xưa những cái doanh nhân mà tôi không biết là Nguyễn Trung Trực hay là cái gì đó, thì lúc mà lâm cơ mà bị Pháp bắt hay gì đó thì họ nói là cái câu đó; thành ra, xin cáo lỗi với quý vị là tôi xin tạm ngưng nơi đây và tôi bây giờ đang chuẩn bị cái chuyến đi trở về, trở về Nhật. Thành thật cám ơn.
ĐT: Cám ơn sự hiện diện của Chú và đã phân tách hổm rày về vấn đề kĩ thuật cho tất cả anh em, và đem lại niềm tin con người Vô Vi nhỏ bé, nhất là Chú Thắng tại Úc. Nhưng mà tâm hồn rất lớn rộng, tôi nói đến đây tôi cảm động thương yêu Chú Thắng vô cùng, có thể hy sinh tánh mạng cho Vô Vi; muốn Vô Vi trở nên một cơ sở đầy đủ, chú không cần biết tâm lẫn thân hướng cho đạo pháp, làm ngày làm đêm vì sự đóng góp của anh em toàn thế giới, kêu gọi lòng từ của Chú Trí và Chú Trí đã bỏ, vợ chồng ngày đêm lo cho Vô Vi, không tính tiền bạc; còn đem vốn vào giúp đỡ, nhưng mà thế nào cũng bị sự kích động và phản động ở xung quanh, của những bạn đạo chưa hiểu hạnh hy sinh của những tuổi trẻ và hướng về con đường đạo pháp, thấy rõ sức mạnh của Thượng Đế không bao giờ bỏ người.
Cho nên, chúng ta đã làm tới ngày hôm nay, một mình làm ngày làm đêm, buồn ngủ thì ngủ thức thì lo chỉ có một mình cặm cụi. Cho nên, rồi đây tôi sẽ gởi chú Châu qua đó giúp đỡ vì tình thương và xây dựng quyết chí đạt thành của mọi người Vô Vi đã làm một điểm son và để cho chúng ta noi gương, tương lai anh em có hợp tác muốn xây dựng một cơ sở tài chánh cũng phải đầy hạnh hy sinh, ý chí vô cùng của chúng ta không bao giờ bị ngăn cản, cứ cương quyết đi tới rồi thành đạt; biết bao nhiêu sự thất bại trong kĩ thuật, nhưng rồi Chú Trí đã giải quyết tất cả ngày nay sản phẩm của chúng ta tốt nhất tại Úc Châu.
Một người Việt Nam ôm kỷ thuật tới xứ người không thua người, chúng ta đủ hãnh diện rồi; tương lai chúng ta tin chắc rằng sẽ có một Thiền Viện tốt đẹp qua công sức của Chú Trí và Chú Thắng; rồi đây cộng với Chú Châu sẽ tiếp tục lên đường và xây dựng cho kỳ được những sự tốt đẹp ở trong cái chuyện nhã ý sáng suốt và cương quyết biết bao nhiêu cơn khổ cực thử thách. Cuộc đời của Chú Trí tay bị đứt, ra đời bị xã hội khinh thị, đi làm công cho ông chủ, ông chủ kêu mua phở với cà phê mà không trả tiền; luôn luôn mỗi buổi sáng phục vụ ông chủ như vậy, để học gì? Học nhẫn học hòa.
Chú tuy không phải tu nhưng mà Chú đã tu từ lúc ra xã hội; bị đè nén bị khinh thị, bị đủ thứ; nhưng mà kiên nhẫn một lòng học đầy đủ kỷ thuật thì bất cứ hiện tại những máy móc mà chú đang điều hành đó không có chỗ nào mà chú không hiểu hết; phải do công không? Ngày nay chúng ta tu cũng bỏ công thực hành, chúng ta mới có kết quả. Người đời muốn thành công phải cố gắng, phải vun bồi ý chí; hai vợ chồng khổ cực cất thành căn nhà ở; không đèn, đi làm về nữa đêm xây gạch. Ông cha thấy tội nghiệp cho mượn cây đèn. Những cảnh cô đơn đó vượt qua được là sự thành công ở tương lai sẽ sáng sủa, sự vinh quang sẽ về với những người cố gắng.
Cho nên, chúng ta tu đây rồi một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ có sự vinh quang thành đạt trong ý chí vô cùng bất diệt không phải so đo về tiền bạc. Cho nên, tiện đây tôi xin đại diện tất cả anh em trong đại hội chúc Chú thượng lộ bình an và thế tôi hỏi thăm tất cả bạn đạo nơi xứ Úc, nhất là Chú Thắng. Thành thật cám ơn sự hiện diện của Chú!
BĐ9: Thành thật cám ơn Thầy! con sẽ nhận lời Thầy để mà chuyển lại tất cả những lời thăm về cho các anh em Úc Châu. Tôi sẽ một lần nữa tự nguyện đóng góp tất cả những kỷ thuật chúng tôi có, để mà cho những cái đạo pháp Vô Vi; tôi nói thật từ nhỏ đến lớn thì tôi không có ai hướng dẫn tôi hơn Thầy. Thầy coi tôi là một đệ tử rất nhỏ bé, nhưng mà tôi mỗi một tiếng nói của Thầy là tôi nhớ mãi không bao giờ quên; không có nhiều lần hỏi Thầy, tại sao? tại sao? mỗi lần Thầy nói ra là tôi nhớ, nhớ không thiếu một điều nào, thi hành đúng theo đường lối của Thầy và hôm nay chúng tôi tiến tới thành công; thành ra xin cáo lỗi mấy bạn và tôi xin về chỗ.
BĐ10: Kính thưa Thầy, kính thưa các bạn đạo; trước khi Anh Trí đi ra ngoài phi trường; thay mặt ban tổ chức đại hội Vancouver, xin thành thật cảm ơn sự hiện diện của Anh Trí trong những ngày hôm nay và đóng góp một phần trong chương trình để chúng ta có thể tiến lên một công ty Plastic ở Bắc Mỹ.
Trước khi anh Trí về Anh Trí có trao cho tôi một cái bao thơ và cái đó là riêng của Anh Trí để giúp Đại Hội Vô Vi kì 5 tại Vancouver và Anh Sơn cũng đã nhận trực tiếp bằng đường bưu điện một bao thơ của tất cả các bạn đạo ở bên Úc Châu gởi cho Anh Sơn một số tiền để đóng góp trong Đại Hội này; một lần nữa thay mặt ban tổ chức tôi xin cám ơn sự hiện diện của Anh Trí, và xin nhờ Anh Trí gởi tất cả lòng chân thành của anh em chúng tôi đến bạn đạo Úc Châu, và chúng tôi có một món quà trước khi Anh Trí đi về, xin Anh nhận món quà này.
BĐ9: Một lần nữa xin thành thật cám ơn tất cả ban tổ chức; chúng tôi sẽ nhận những cái lời của các anh để chuyển lại cho các anh em Vô Vi Úc Châu. Nếu có thể các anh cho chuyển một cuộn băng sang Úc Châu, thì tôi nghĩ đó là phương pháp tốt nhất. Thành thật cám ơn!
BĐ1: Chương trình buổi sáng nay tới đây coi như tạm ngưng. Chúng con xin kính mời Thầy nghỉ trưa, và chúng ta sẽ bắt đầu lại vào 2 giờ rưỡi trưa.
Qua một buổi vấn đáp khác
BĐ1: Tất cả quý vị bạn đạo, để tiếp tục chương trình vấn đáp đạo ngày hôm qua, một số anh em và một số câu hỏi đã được bỏ vào thùng, và muốn nhờ ban tổ chức đưa lên để nhờ Thầy chỉ dạy và giảng giải những cây hỏi của các anh em đó; cũng như chương trình hôm qua, trong việc để đặt câu hỏi với Thầy. Các anh em đã viết sẵn câu hỏi và để vào thùng, chúng ta sẽ được bốc thăm lần lượt từng câu hỏi một.
Tuy nhiên trong một số câu hỏi như ngày hôm qua, trong ban tổ chức chúng tôi nhận thấy rằng các anh em có một số không viết tên và để lên đây anh em tổ chức hỏi. Điều đó tôi nhận thấy rằng các anh em chưa thật sự, thật sự muốn hỏi Thầy. Vì các anh em muốn hỏi Thầy thật sự, các anh em nên viết tên mình vào. Vì chúng ta là ở trong Vô Vi, chúng ta là người tu; những điều gì chúng ta muốn hỏi thẳng thắn chúng ta sẽ viết tên vào đó, không có gì mà không dám viết tên cả.
Như vậy những số thăm các anh em không viết tên chúng tôi sẽ để ra sau, và tôi sẽ đọc một câu để anh em nào biết rằng cái đó của mình, tự động lên đặt câu hỏi với Thầy thì điều đó anh em chúng tôi nhận thấy xác đáng hơn.
Kính thưa Thầy, để tiếp tục chương trình chúng con xin mời một vị lên bốc thăm và nhờ Thầy giảng giải câu đó.
Kính thưa Thầy, câu hỏi thứ nhất của Anh Phạm Văn Sang; xin mời Anh Phạm Văn Sang.
BĐ2: Kính thưa Thầy, tôi có ba câu hỏi, và bây giờ tôi xin đọc câu hỏi đầu tiên: Thầy thường dạy rằng ông Phật Thích Ca sau khi… trước khi ông thành đạo, ổng không có bao giờ tụng kinh gõ mõ hay là đốt nhang. Nhưng mà ông hành đạo thật sự và sau khi ổng đắc đạo, ổng mới truyền dạy lại cho bá tánh.
Nhưng theo con thấy thì hiện bây giờ những người, những người theo đạo Phật phần đông họ chỉ biết tụng kinh gõ mõ và đi chùa. Ngoài ra, theo con biết đó thì họ không có hành cái pháp gì hết; nhưng mà họ quyết tâm tu hành để đạt tới theo cái lòng mong muốn của những người, những người vô đạo Phật; họ mong muốn là đi tới cõi niết bàn, và họ quyết tâm tu hành như vậy để đạt tới cái kết quả đó. Thưa Thầy, cái câu hỏi của con là: Nếu như họ tiếp tục họ tu hành như vậy thì họ đi tới cái kết quả nào? Họ thành cái gì?
ĐT: Họ thành tâm tu hành, họ đến chùa để chiêm ngưỡng Phật và không cầu xin và không lợi dụng Phật; và họ chiêm ngưỡng cái quá trình hành đạo của Đức Phật và càng ngày càng đi càng tới càng chiêm ngưỡng càng cúng lạy là càng được dẹp tự ái và hướng về sự thanh nhẹ. Lúc đó, họ mới đi tới cái chỗ kêu bằng thức tâm tự thiền theo lời dạy trong kinh, thì họ cũng có thể đạt thành.
Cho nên, nhiều người họ đi chùa họ trở về, tại sao họ bỏ tất cả sự nghiệp và không có buôn bán làm ăn? rồi họ đi lên núi họ cất cái cốc, họ tu! mà họ không biết cái pháp thiền là cái gì. Nhưng mà tâm họ tưởng Phật, họ thấy Đức Phật ăn một ngày một hột lúa cũng qua ngày được, họ thử nhịn xem; càng nhịn thì càng thấy rằng mình cần phải hít thanh khí để mà sống, nữa đêm khuya ai phục vụ mình trên núi? cho nên, đó là cái Pháp Luân Thường Chuyển.
Do đó, người hành giả muốn tìm chân lý thanh nhẹ cho nên sống với tự nhiên và cảm thức về siêu nhiên thì người đó cũng có cơ hội thành đạt. Như Đức Thích Ca chẳng hạn, Ngài đã dòm tất cả thế sự, quyền thế nắm trong tay, cung nga mỹ nữ đầy đủ phục vụ không có thiếu một chuyện gì, muốn mưa được mưa muốn gió được gió. Nhưng mà Ngài thấy đó là cảnh tạm và xác cũng không có thể trường cửu được, chỉ tạm thời mấy chục năm quy định mà thôi.
Cho nên, Ngài đốn ngộ thức tâm không đi quỳ lạy, không tầm sư học đạo nhưng mà trở về với tự nhiên và tự tầm siêu nhiên. Ngài thấy cái xác này là giả tạm; tại sao phải đem cái xác cống hiến cho Thần, đốt cháy xác để cống hiến cho Thần, giết con thú để ăn; cho nên, Ngài tìm ra con đường, đó là không có phải con đường giết nhưng mà hồn là bất diệt. Cho nên, Ngài… tâm Ngài thổn thức ngày đêm và đi tìm chơn lý, chơn lý hòa với đại tự nhiên mới thấy rõ chơn lý. Cho nên, Ngài ra rừng già sống với những thú động loạn, những sự kích động và phản động nghịch lại trong sự thanh nhẹ, trong sự phục vụ của chúng sanh đối với Ngài
Cho nên, Ngài muốn cứu chúng sanh, thương yêu chúng sanh. Ngài ví cái thân của Ngài hòa với đại tự nhiên để tìm chơn lý, đến lúc cuối cùng của Ngài, thân thể cũng phải tiều tụy vì không ăn; nhưng mà hưởng chưởng dưỡng được thanh khí điển của bề trên; cho nên, đầu Ngài phát hào quang; như chúng ta tu đây! là những người tu cảm thấy luồng điển rút ngay bộ đầu, khi nghe âm thinh tôi nói luồng điển cũng rút ngay bộ đầu, thì thấy chúng ta đã tìm được giềng mối, đường lối của Ngài đã trao lại cho chúng ta là cái Pháp Luân Thường Chuyển và cái Soi Hồn mở tâm mở trí.
Ngài bịt lỗ tai không nge thú dữ, nếu Ngài bằng lòng nghe thú dữ thì Ngài đâu có ngồi tọa thiền được ở dưới rừng già. Cái đó là tượng trưng cho sự Soi Hồn; cái Pháp Luân Thường Chuyển lấy thanh khí hóa giải trược khí trong nội tâm, nội tạng, Ngài mới thành đạo, mới thức tâm, thấy rằng hồn là bất diệt. Ngài mới trở lại quán độ chúng sanh và nói cho chúng sanh biết rằng ta là các người, “ NHÂN NHÂN GIAI THÀNH PHẬT” chỉ biết tu bỏ động tìm tịnh thì thấy ta và không bao giờ bị diệt nữa; cho nên, trở lộn lại độ chúng sanh.
Cho nên, những người có lòng thành tưởng tới Thích Ca và truy niệm lịch sử của Ngài và cảm thức hành động của Ngài và tâm tự giác đi với Ngài, thì chắc chắn phải đạt tới sự trường độ của Ngài. Vì Ngài là người đi trước dọn đường cho những kẻ đi sau, nhưng ngày hôm nay chúng ta tu đây vì đời đạo song tu, chúng ta có gia cang chúng ta không nỡ bỏ. Chính Ngài đã tu đắc đạo, Ngài cũng phải trở lại ăn uống và giảng giải cho chúng sanh. Chúng sanh là con Ngài, giúp cho cha Ngài được giải thoát, giúp cho vợ Ngài được tu, giúp con Ngài được tu và giúp tất cả toàn dân có cơ hội tự giải thoát.
Cho nên, ngày hôm nay danh tiếng của Ngài mấy ngàn năm mà người nào buồn khổ đọc qua những lời giảng giải của Ngài, cảm thức được “Tứ Đại Giai Không”; cái bản thể của chúng ta là tứ giả hợp thành; nước, lửa, gió, đất đều giả tạm rồi sẽ tiêu tan thì mới cảm thức được phần hồn của chúng ta, và chúng ta nung nấu phần đó đi về con đường thanh cao cởi mở cứu mình và cứu họ, tự tu tự tiến là hành động của Thích Ca, là một cuộc cách mạng tâm linh vĩ đại nhất cả thế giới, ngày nay mọi người mới tìm ra.
Tại sao chùa chiền trưng hình Ngài và thắp nhang quỳ lạy? đó là sơ cấp để độ chúng sanh trong lúc lầm lạc, cống cao ngạo mạn, khinh khi Phật Trời. ngày nay thấy sự oai nghiêm của Ngài, vô đó thắp nhang quỳ rồi lần lượt mới biết chiêm ngưỡng hành động của Ngài. Tại sao nhân gian lại đem thờ trong chùa kĩ như vậy? nhưng mà kì thật Ngài ở trong cái chùa hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ tu trở về với siêu nhiên; giữa đồng hoang, ân sư của Ngài là thú dữ, rắn độc, gái đẹp; không có chiêm nhiễm trong tâm hồn của Ngài. Ngài không rước nghiệp và giải được nghiệp. Cho nên, Ngài mới thực thi được giải thoát; ngày hôm nay chúng ta dùng cái Pháp Luân Thường Chuyển này là giải nghiệp tâm; Soi Hồn để giải cái hỏa tặc trong nội tâm mà trở về với chơn giác tự thức, lúc đó mới hành động tự tu tự tiến.
BĐ2: Dạ thưa Thầy nếu như vậy thì những người Phật tử mà họ tu theo cái lối bây giờ đó thì họ có được?
ĐT: Họ tập tành thôi!
BĐ2: Dạ.
ĐT: Phải độ! có sơ cấp, trung cấp, thượng cấp, và vô trong định giới nó nhiều cấp chớ không phải một tu, muốn bước vô tu là đắc đạo.
BĐ2: Dạ.
ĐT: Tôi có tiền cất cái chùa là ông Phật Thích Ca tới độ tôi thì nhà giàu thành Phật hết rồi, tôi xuống Địa Ngục làm chi, phải không?
BĐ2: Dạ.
ĐT: À!
BĐ2: Thưa Thầy, đây là cái câu hỏi thứ nhì. Câu hỏi thứ nhì của con, nó thuộc về cái vấn đề Vô Vi của mình.
ĐT: Dạ.
BĐ2: Con không biết theo cái các cái cuốn sách dạy để tu thiền của mình đó, thì trước khi mình muốn được Mô Ni Châu thì phải hành pháp cho đúng; nhưng mà trong cái những… ba cái pháp để mình hành đó; thứ nhất cái Pháp Luân Thường Chuyển phải làm cho đúng, nhưng mà muốn làm cái Pháp Luân Thường Chuyển cho đúng thì phải thở hít cho đúng; như vậy cái Mô Ni Châu mình mới thấy được, mình mới tạo được.
Nhưng sau mấy lần có dịp gặp bạn đạo ở trong những cái buổi Đại Hội hay là cái buổi họp với Thầy ở trên Thiền Viện. Chúng con nhận thấy rằng trong nhiều bạn đạo ở đây có nhiều người lớn tuổi rồi, giả tỷ như con chẳng hạn. Con cũng lớn tuổi rồi và bên phái nam cũng vậy, có nhiều người cũng hơi lớn tuổi, yếu; thành thử cái vấn đề thở hít của họ không có đúng, phần nhiều không có đúng; nếu như thở hít không có đúng đó thì không bao giờ có Mô Ni Châu.
Mà thưa Thầy, con biết rằng có nhiều người mặc dầu họ thở hít không có đúng, họ làm không có đúng; nhưng mà họ quyết tâm, họ muốn đi lên để học đạo, giả tỷ như trường hợp của con chẳng hạn. Con thật sự, con qua bên nay, con được chuyển qua bên nay đó, là con trước khi qua bên đây con chưa biết Vô Vi đó; con thấy rằng cái việc mà tu hành không có cái hoạt động gì hết! nghĩa là không có pháp gì hết đó, thì nó không có đi tới đâu.
Dạ thưa Thầy, hồi trước con ở bên Cao Đài. Con mới là trong ba đêm con xin với Đức Thầy của con là Thượng Đế; con xin rằng: Đừng cho con tái lại đầu thai lại trần gian nữa, bởi vì con thấy trần gian là một cái bể khổ chớ không có gì hết; cho nên, con xin rằng nếu như sau khi con chết rồi đó, thì cho con tiếp tục ở trên thiên đình để con học đạo chớ đừng cho con ở trần gian nữa! con không muốn ở trần gian nữa. Thưa Thầy, những cái người mà quyết tâm họ đi lên để họ học đạo như vậy đó; mà, khi mà không được Mô Ni Châu đó, thì con đường đi lên để mà học đạo không thể có được.
ĐT: Cho nên, ở đời này họ có câu nói: “Nói vậy mà không phải vậy”, Anh thấy rằng “Tôi quyết tâm, tôi thấy tôi già rồi! tôi nhất định phải về với Thượng Đế, tôi nhất định tôi phải lên niết bàn”, nói vậy nhưng mà không phải vậy; muốn có điều kiện lên niết bàn và giải thoát hay là lên Thiên Đàng phải cần tu luyện. Tu nó không phải là hít thở không, nó nhiều chuyện lắm! cái bóp của Anh cũng có thể quên được, thấy không? những cái gì cao quý của trong nhà Anh, Anh phải quên đi thì Anh mới về được; còn Anh ôm cái này, “Tôi muốn ôm cái này và tôi muốn về Thiên Đàng”, nói vậy mà không phải vậy, Anh thấy chưa?
Cho nên, ăn thua chúng ta phải dứt khoát trong tâm hồn. Khi đức Thích Ca đã bước ra đường thấy con người sát con người hại con người một cách vô lý. Ngài dứt khoát, Ngài ví người là Ngài, thôi! tôi phải đi tìm cái gì vĩnh cữu, chớ xác tôi cũng sẽ chết. Nhưng mà nếu ở trong cái cảnh tượng như thế này không có gì kêu bằng quý giá. Tôi có thể hủy thân tôi để tôi tìm cái gì sự thật trong tôi; cho nên, Ngài mới đi ra rừng già xuống tóc đi tu, thì chúng ta phải dứt khoát ngay trong tâm thức. Ta nói rằng: Tôi không muốn luân hồi tại thế gian, tôi còn ôm của thế gian, ôm xác thế gian, si mê trần tục, làm sao tôi được về trên cõi thanh nhẹ. Cho nên, muốn biết điều này phải đọc qua lịch sử của Ngài, và những người thành đạo đã dứt khoát trong tâm hồn, tứ quan không phỉnh Ngài được; mắt mũi tai miệng không phỉnh Ngài được, Ngài chỉ giữ trọn vẹn một tâm thanh nhẹ hướng thượng hóa giải thì không cần pháp gì, đứng đó Ngài cũng đi được, thấy chưa? mà tâm ta còn trần tục, cư trần nhiễm trần, ham mê điều này, thích điều nọ, động! tự trói buộc mình làm sao đi được.
Cho nên, Anh thấy rằng: Tôi tuổi già, tôi phải chứng nghiệm trở lại những cái quá trình tôi thấy rằng không có gì hữu ích tại thế gian, đều là hư ảo tạm cảnh; nhưng nó là một cơ duyên nhồi quả để cho tôi có cơ hội thức tâm. Ngày hôm nay tôi bước vào Pháp Lý Vô Vi tôi biết Soi Hồn, tôi biết làm Pháp Luân, tôi hít thua hơn người ta, nhưng mà tâm thức của tôi là đã được mở. Tôi thấy nó thanh nhẹ, tôi càng thấy tôi hơn, tôi càng thấy tội lỗi của tôi hơn; tôi thấy gia đình, vợ con đang ràng buộc tôi, tôi càng thấy cái tội tiền kiếp tôi; tôi có tội người ta mới trói buộc tôi, tôi không có tội làm sao người ta trói buộc tôi! bây giờ, gia cang nó đang trói buộc tôi, tôi làm sao tháo gỡ?
Tôi muốn nắm cái kỷ thuật đó là tôi phải thanh tịnh; Anh không phải ngồi thiền không, nhưng mà Anh có cơ hội trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật để cái chấn động lực điển quang thực thụ đó nó trở về với thiên giới chớ không phải cái hít thở kêu bằng trở về thiên giới, mà cái ý chí Anh biết niệm Phật rồi Mô Ni Châu nó cũng vẫn xuất vì đó là luồng điển. Thượng Trung Hạ quy nhất rồi thì cái chấn động lực đó nó hợp thành ngũ sắc ngũ quang, huyền sắc huyền quang; trong một giây phút nào đó Anh ngồi nhắm thấy nó xuất phát. Cho nên, chúng ta tu sai lầm bao nhiêu kiếp mới tu có mấy năm, muốn về trời; cái chuyện đó là nói được, không làm được! Anh thấy chưa?
BĐ2: Dạ.
ĐT: Cho nên, phải thấy và kiểm điểm từ li từ tí, bảy ức niên mới cấu trúc thành cái thể xác của Anh, thì biết bao nhiêu sự sai lầm tăm tối mà ngày ngay tia sáng để chiếu rọi cho tâm hồn của Anh, thấy Anh là bất diệt. Bắt đầu từ ngày Anh tu Vô Vi, Anh không muốn tái phạm một việc gì nữa, Anh thấy rằng tôi là bất diệt; nhưng mà nếu tôi phạm lỗi với một người nào, một ngày nào đó nó cũng thưa tôi, thấy không? mà tôi tu rồi thì tôi thấy tòa án lương tâm của tôi cũng không cho phép tôi làm điều sái quấy nữa. Từ đó, ăn năn hối cãi, sám hối; càng sám hối càng thấy sự sai lầm của quá khứ và phát đại nguyện vung bồi ý chí cương quyết chấp nhận nhồi quả để trở về nguồn cội.
Khi mà Anh bằng lòng chấp nhận nhồi quả rồi, sự kích động và phản động của thế gian đến Anh, Anh thấy cũng như Không; từ cái “Có” trở nên “Không”, từ cái “Động” biến thành “Tịnh”, thì lúc đó nhập niết bàn mấy hồi, vỏn vẹn chỉ có cái ý chí thanh tịnh và sáng suốt mà thôi, chớ không phải ngồi làm Pháp Luân mới có Mô Ni Châu, ý chí Anh không có hợp tác mà Anh hít bao nhiêu! cứ lấy cái bơm bơm hơi vô nó cũng không thành Mô Ni Châu; Anh thấy không? Đừng lo cái vấn đề đó! chỉ có một góc mà thôi, toàn diện kết tập ngũ tạng của Anh nó có ngũ linh, có ngũ giới, ngũ sắc. Đó! cho nên, do cái thức điều khiển và giải tiến.
Cho nên, cái thức Anh thấy cái ý chí vô cùng và phần hồn bất diệt, lúc nào Anh cũng vui vẻ, không nên buồn, không nên nói: Tôi tu cái này trì trệ, chừng nào mới đạt. Đó là Anh tạo cái buồn và trói buộc tâm can và Anh thấy Anh vui vẻ. Bây giờ tôi biết tôi bất diệt, nhất định tôi phải trở về quê xưa chốn cũ, mà tôi phải giải cái nghiệp chính tôi đã trói buộc tôi, tôi phải từ từ mở ra tôi sẽ đi đến. Thì lúc đó Anh nói Anh già, nhưng mà Thầy tướng nói Anh sang năm chết, mà 5 năm nữa Anh cũng chưa chết vì Anh đã mở trói cho Anh rồi, Anh thấy chưa?
Cho nên, những người tu Vô Vi đó có được triễn hạn về số mệnh như vậy, và với ý chí của nó bằng lòng thực hiện hay không? và nhận ra chơn tướng của nó là “Không”, không phải cái hình tướng rờ mó được. Nó là một điểm linh quang vô cùng tận, phải trở về với chơn điển nó, nó mới hòa tan trong Đại Hồn. Lúc đó kêu bằng giải thoát, Anh không cần phải chờ Mô Ni Châu. Khi Anh chờ Mô Ni Châu là Anh đóng cửa, mà Anh giải tỏa trược khí thì chơn tánh Mô Ni Châu xuất hiện, thấy rõ chưa?
BĐ2: Dạ.
ĐT: Cứ thực hành đi!
BĐ2: Dạ.
ĐT: Lý luận nhiều rồi buộc lấy mình và không tiến.
BĐ2: Dạ thưa Thầy, còn câu hỏi thứ ba nữa, nói về tình thương thì ở trong cuốn Thượng Đế Giảng Chân Lý.