19860110Q2]
KHÓA HUẤN LUYỆN "KINH A DI ĐÀ": Bổ Dĩ Phật Học Vấn Đáp - Ông Là Người Ở Trần, Tại Sao Ông Tu? - Cuốn 22B -
... tình là vía. Nhưng cũng có sự phụ thuộc vốn của Cha Mẹ ta là khí cấu tạo, rồi hợp thành một cái vốn khí điển của thiên đàng sa xuống nhập vào thai. Bào thai này nhờ có ngươn khí chất lỏng của Cha Mẹ tạo thành, gọi là “Khí bẫm sở cầu, vật lực sở tế.”
Vốn điển này của Cha Mẹ ta giúp cho, gọi là Tinh khí, tánh vía của Cha Mẹ ta giúp cho. Còn điển hồn trên thiên đàng sa xuống nhập vào bản thể gọi là Hồn, vốn ở thiên đàng, vốn gọi là “Giống.”
Tóm tắt: Tinh vốn của Cha, Khí vốn của Mẹ, Thần vốn của trên thiên đàng sa xuống. Nói chung là: Tinh, Khí, Thần, gọi là Ta, vốn là Ta.
Ta vốn là thần hồn trên thiên đàng sa xuống, cũng gọi là căn bản. Căn bản là vốn gốc hồn trên trời sa xuống, làm chủ bản thể. Bản thể gọi là Căn. Cha mẹ cấu tạo trước khi, còn bản là vốn điển ở thiên đàng sa xuống, nhập vào ở chung với bản thể, kiết tụ thành hình dạng con người, cũng gọi: Ta vốn là Ta.
Cho nên tôi là Tác Giả giải điều ấy chung cho tất cả con người ở thế gian đều có hồn trên trời sa xuống làm Chủ Nhơn Ông:
Đố ai biết Lão là ai?... Người trong thế giới hay ngoài Càn Khôn (Ta vốn là Ta)...
Người đủ trí thức gọi là Hồn. Còn ta là người ở thế gian, Cha Mẹ ta sanh ra.
Đến đây chấm dứt lời Bổ Di của tôi sót sỉnh, xin các bạn thứ cho.
Đây nói về khi chúng ta xuống trần, nhờ sự sanh sanh hóa hóa của Trời Phật lập nên loài người. Loài người chất của nó là nhớt, nhớt tựa như nhớt mủ của cây, hợp với khí điển của ngũ hành, do nơi nắng, mưa, gió, nước. Khí ấy đọng nơi nước, là một chất lỏng làm ra, rồi gom nhớt hóa nên hình tại dưới nước, cũng không khác nào trước kia Phật độc lập làm ra Hiến Pháp.
Các bạn nên xem xét: muốn hiểu chất gốc của nó là thứ nhớt cũng như Phật độc lập cõi Trời, thì các bạn được hiểu sâu xa nguồn cội khí chất sanh ra người. Nhưng các bạn được hiểu cho: bầu trời, thế giới, chư quốc, sanh ra người khí âm, khí dương đồng thời tạo hóa. Hễ âm là âm, dương là dương, gọi là gái hay là trai một lượt, không có lộn như loài vật.
Khi sanh được nên người, điển âm theo âm, điển dương theo dương. Rồi đến kỳ đực, cái muốn hợp nhứt, kêu là “gieo giống thêm.” Sách Thánh kêu là: Đến kỳ cặp kê. Đực cái hợp nhứt, gầy tạo, cấu tạo hóa nên thai noãn, đặng gây để giống loài người dưới thế gian này.
Đực cái một cỡ hợp nhứt gọi là “nguyên thủy.” Cho nên không lộn xộn loạn luân như loài thú; không gieo giống bậy mà sái chủ nghĩa. Bởi thế đức Thánh nhơn Ngài nói: “Điễm điễm, đích đích, bất sa di”. Nghĩa là: “Nhỏ nhỏ, giọt giọt, chẳng xa dời.” Cũng có nghĩa: Chồng vợ cha con đều đi đúng chủ nghĩa, khi giao cấu sanh con, khóm này đối với khóm kia cũng một loài người, phân tách có phe đảng, chòm xóm, rồi khóm này là đực hay là cái. Đực cái hợp nhứt, hườn quy với khóm khác, kết tạo gọi là “vợ chồng.”
Bởi thế cho nên loài người có chủ nghĩa, không loạn luân xáo trộn bậy. Người khác hơn vật là chỗ ấy. Lúc đó mới có những người lớn hơn, cao thượng hơn, gọi là đời Bàn cổ sơ khai. Trời đất cho đấng này cứu thế dạy đời, linh nghiệm lương phương, muốn chi có nấy.
Lúc ấy đức Chúa Trời mới gọi các Thánh Thiên Thần truyền tin cho Đức Mẹ là Maria, Nữ Đồng Trinh hóa thai, gọi là Chúa Cứu Thế tên là Giêsu (Jésus).
Đồng thời trong các khóm loài người trong thế gian có 4 phương hướng, gọi là 4 phương 8 hướng. Bốn phương là: Đông, Tây, Nam, Bắc. Nam cùng Bắc trấn, rồi Nam cấn Đông cùng cấn Bắc, còn Tây thì chánh phương Tây, cũng gọi Tây trấn. Nam cùng Bắc gọi là hướng. Trong 4 phương 8 hướng này đều có cây cối hoa quả vạn vật cùng loài người.
Trong loài người thì có PHỤC HI, HUỲNH ĐẾ, CHÂU VĂN VƯƠNG, KHỔNG TỬ, là các đấng 4 Thánh Nhơn để giáo hóa loài người; rồi tới đức Chúa Giêsu (Jesus) phát minh sau để cứu thế dạy đời, gọi là Đạo Gia Tô. Rồi các Thánh ấy bắt từ phương hướng trấn dạy loài người. Lúc này thì có người làm chủ trương, để giáo hóa các đấng đạo Thánh, mới phân nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín mới chia ranh rấp trong thế gian. Phía nào làm chủ để dạy loài người theo phương hướng nấy gọi là Vua, rồi sắp đặt quan, dân, cũng có thể gọi là đạo nghĩa, mới sanh ra nghĩa đạo, chia ra các hướng. Nhưng lúc ấy, chia làm 2 châu, châu Âu và châu Á. Châu Âu thì có Thiên Chúa giáo. Còn Á châu thì có Vua Phục Hi cùng Thánh Nhơn làm chủ dạy đạo.
Từ đó đến nay mới có đạo nghĩa luân thường khắp cùng Âu Á, các loài người đều thông minh sáng suốt hơn. Đạo nghĩa luân thường là đạo đời, đồng thời đức Thích Ca ra trước để dạy đạo Phật, giáo hóa Di Đà. Kế đó giáng sanh phía Tây phương cho bà Maria Nữ Đồng Trinh, gọi là Đức Chúa Giêsu Cứu Thế. Cứu thế là dạy đời. Khi Chúa Giêsu bị tử nạn tại thành Jérusalem, lúc ấy dân phân làm hai phe gọi là: Giu diêu, bắt đức Chúa Giêsu vấn nạn. v. v...
Đây là những lời sơ lược của chúng tôi phân những đời người thế gian, để hiểu biết đạo đời. Đời là người, người là bản thể, cũng gọi là Tiểu Thiên Địa; Tiểu Thiên Địa là có Trời Đất, mặt trời mặt trăng là 2 mặt cùng mây lẫn vào; còn gió là lỗ mũi; cùng miệng và lỗ tai. Khi chúng ta mệt thì chúng ta nghe ồ ồ gọi là bão bùng nguy hiểm, lòng ta bê bối: cái máy âm dương, ăn, ngủ, ỉa, vì khí âm dương ngoài trời không thuận gọi là Bê bối bản thể.
Bởi thế không thuận trong trời đất, sanh ra con người có tật bệnh, tham, sân si, tranh giành vô đạo đức, rồi có hại cho thất tình, mới buồn, rầu, sầu, não, ham muốn, thì loài người tất cả trong thế giới bởi tham sân, tranh giành của cải, cùng lấn ranh nước, để cho nước mình thong thả, dân sự bằng an, nước này lấn nước kia, gọi là lộn xộn loạn ly.
Bởi thế, Trời Phật phân ra năm, tháng, ngày, giờ, tam ngươn tứ quý.
Trái lại ngươn đầu sơ sanh gọi là Thượng ngươn. Mỗi ngươn có 600 năm. Rồi tới Trung ngươn thì người phát minh; trong phát minh ấy có sự tốt xấu chen lẫn. Tốt là hiền đức, minh trị, còn xấu là bạo tợn, ăn hiếp người gọi là Trung ngươn 600 năm thứ hai. Kế đó khởi đầu Hạ ngươn thì người càng ngày càng hung hăng hơn nữa, đây là rốt Hạ ngươn khởi Thượng.
Năm nay là năm 1966, đã gần tới rốt Hạ rồi tới Thượng. Hạ là 2000 năm; tính còn lại 34 năm thì đúng 2.000 năm. Bởi thế con người loạn ly bạo tợn, người giết người, chồng giết vợ, cha giết con, thượng hạ không tôn ty, lễ nghĩa biến đổi, thì chúng ta gọi là “đạo đời.”
Đây nói về Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật ra đời năm 1945, rồi truyền bá mới mở đạo, gieo trồng hột giống tốt, để sửa lại bản thể ta, để đủ sức khỏe dồi dào cùng minh triết hơn, để làm một cái mầm giống, từ 1945 gieo trồng luyện đạo cho đến 2000 năm thì Thượng ngươn bắt đầu, mới có Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật ra đời để dạy đạo làm cho người minh mẫn, hiền đức, trí thức, công đồng, phù hợp, hợp tình, hợp lý, không hơn thua lấn ép nhau, xin bạn biết cho. Trong trần thế muốn làm các thứ chi thì phải gieo giống, trồng trọt sửa đổi mới có hột giống tốt; rồi hột giống ấy ra đời truyền đạo trong lúc 2001 năm, sửa sang đời mới của chúng ta minh triết hơn, mạnh khỏe hơn, mới đủ sức lực làm cho khối óc con người sáng suốt.
Bởi thế Trời Phật lập ra Thượng Nguơn, thì các phương hướng thế giới đều đủ, loài người cùng vạn vật đều thay đổi. Vạn vật cũng sanh mầm khác hơn, biết khôn hơn.
Trái ngược cây cối biến sanh nhiều thứ lạ thường hơn trước. Ngươn khí điều hòa khắp thế gian; mây gió mưa đều sửa đổi. Bốn phương tứ quý, tứ mùa, tám tiết, cây ngon trái lạ, vật đổi sao dời, bình đẳng, mỗi mỗi đều được mưa hòa gió thuận, để cho người được hưởng an vui, sung sướng hơn, không lộn xộn, loạn ly như khi trước. Miếng ăn gọi là vật thực, đều bổ túc; nội dương thế nước nào như nước nấy, đủ ăn, đủ ở, sự thừa hưởng của Phật của Trời sắp đặt không thiếu thốn.
Những loài người ai ai cũng vậy, nước nào như nước nấy, bình tĩnh an vui, phù hợp nhơn đạo, không còn tranh chấp, không còn mạnh hiếp yếu. Mưa hòa gió thuận, không bão bùng nguy hiểm, mới đại đồng thế giới, gọi là Thượng ngươn sơ khởi, mới có đời đạo song tu.
Thưa các bạn! Đến đây chúng tôi thiểu trí, thấy sao nói vậy, sự hiểu biết tự tri, tự tánh, lập ra quyển này để cho các bạn biết đạo thông tri, những điều chi sơ sót, xin các bạn sửa đổi giùm cho.
Đến đây chúng tôi xin phép kể chuyện đạo đời những quyển đã viết ra. Có câu: “Hợp ý, hợp trí, hợp tình, tình ý giao du, công phu hiểu biết”.
Trong phần đạo Pháp lý có
* Số 1 : Quyển diễn thuyết ra đời năm 1948.
* Số 2 : Xuất hồn.
* Số 3 : Đời đạo song tu.
* Số 4 : Chỉ rõ tánh vía cùng hồn, là Chủ Nhơn Ông trong bản thể.
* Số 5 : Điểu Sào Thiền Sư ( Tình Trong Bốn Bể ).
* Số 6 : Dịch Kinh Di Đà Nghĩa Điển Chánh Pháp, và cuốn Di Đà thứ nhì cắt nghĩa suông cho người dễ hiểu.
* Số 7 : Quyển VẤN ĐÁP cùng kế đời Thượng ngươn, Trung ngươn và Hạ ngươn.
Trong Pháp Lý có 7 quyển.
VẤN : Ông là người ở trần tại sao ông tu?
ĐÁP : Từ lúc tôi 45 tuổi, người Pháp cai trị, trong lúc nước mất nhà tan, tôi đứng làm người trong thời ấy. Khi tôi thấy nào bực Phú Gia, nào Quan Lại, từ bực Thượng đến bực Trung, thì tôi biết nhiều phần hiếp đáp xâu xé người, giàu sang, quan lại cũng thế đó thôi; còn hạng thấp thì cũng tham lam, gian trá, sân si. Rồi cũng người này hiếp người kia, sanh thù oán, giết lẫn nhau. Còn trong gia đình thì vì tiền của, tham lẫn xâu xé, con không kể cha, cho đến nỗi anh em cũng thế. Lúc ấy tôi dựa theo quan lại để tầm bắt kẻ gian và điều tra những người hung dữ đâm chém đủ điều; nhưng tôi dòm lại thấy hồn oan cáo báo cho tôi biết và xưng tên tuổi đúng không sai.
Khi ấy tôi buồn, bỏ các việc làm, ra làm một anh điền chủ thường tình và tầm kiếm con đường giải thoát cái đời của tôi cho khỏi sự bỉ ổi ấy, không có chi hơn là sự đi tu để tránh những điều dối trá. Nhưng trái lại tôi có gia đình đông con. Nhưng thấy trong nhà Phật, Thiền Lâm tuyên bố phải ly gia cắt ái, nếu không tu thì không thành Phật; còn tôi ở nhà niệm Phật tụng kinh cho là không thành vấn đề. Bởi thế tôi suy nghĩ đủ điều, nếu không đời sao có đạo? Khổ ôi là khổ!
Khi tôi nghĩ rồi bước ra đi ta bà, nào là chùa chiền, nào là núi non để đi tầm đạo. Lúc tôi gặp được Ông Cao Minh Thiền Sư dạy đạo, tôi quy y cùng Ông, gọi là đạo Vô Vi, xuất chưởng Anh Nhi, tu tâm dưỡng tánh, ở nhà làm lấy ăn để tu.
Nhưng tôi thấy Vô Vi chưởng Anh Nhi thì cũng được, nhưng đàn ông thì không máy sanh dục đựng con, làm sao làm được. Nhưng tôi cũng mượn phần ấy, rồi nhờ tự nghiên cứu thiêng liêng, để cứu xét. Khi ấy tôi hiểu rõ “cư trần là nhiễm trần” thì bao giờ chúng tôi cũng có tội lỗi, không bao giờ mỗi việc gì cho khỏi. Ví như cá dưới nước sao khỏi ướt mình? Sự chán đời bao trùm sự hiểu biết nhiều tội lỗi, chớ tôi không chán ngán. Khi ấy tôi phải buộc lòng tu tâm dưỡng tánh, nhưng đã lỡ có gia đình, không thể theo mấy ông cho được. Tôi mới suy nghĩ ra, tu là tu, còn luật gia đình của Khổng Thánh cũng là tu. Bởi thế tôi cho là “đời đạo song tu;” vì thế ấy tôi suy nghĩ ra tôi phải tu, mà tu làm sao mới được, đây chữ tu tôi xin trả lời.
TU là một nền tảng điều hòa vững chắc, làm cho hung dữ hóa ra hiền. Tự làm lấy mà ăn, không sanh sự lý, lương tâm tôi bình tĩnh không xao động. Cũng có chữ: “Tu là Tu trang, làm cho một cái nền trở nên đẹp đẽ, vững chắc, bằng thẳng.” Chữ tu là trau dồi sửa đổi, ví như trong mình ta trí não Mâu Ni Châu là cục ngọc, làm cho hồn ta được trong sáng. Đó là Pháp Luân Thường Chuyển, dồi mài cho thông khí, thời khí ta mới sáng. Hễ sáng thì thông minh làm ăn không thất bại, và trí ta dồi mài trao sửa, bỏ sự si mê u ám, trở nên một người sáng suốt. Đây là cái nền tảng cốt giác của sự tu hành, là nguồn cội của nó, cùng làm ăn để nuôi gia đình Tối thì công phu luyện đạo, gọi là Đời đạo song tu.
VẤN : Như thế nào để xuất hồn được?
ĐÁP : Thưa các bạn! Sự xuất hồn là một cái huyền bí thiêng liêng. Điển quang từ lúc khai thiên lập địa: có mặt trời, mặt trăng; hễ có âm dương thì có luồng điển khí, nhờ mặt trời là lửa, là khí dương thuộc về điển nóng. Còn mặt trăng là đầu mối của điển nước điển nguội, thuộc về khí lạnh, nhưng khí nóng rút khí lạnh hóa sanh luồng sóng điện. Sóng điện là đầu mối hóa sanh gió lửa, thì thứ lửa nóng cùng lửa nguội gọi là “luồng điển âm dương.”
Khi ta tu hành trau dồi sửa đổi, làm phép: Nào là Soi Hồn cho thông lỗ mấy đầu xương, cùng gân thịt đều thông khí. Rồi làm phép Pháp Luân Thường Chuyển, chuyển sanh đốc phách xô đẩy cho điển ấy chạy từ từ nơi bộ đầu, tập trung nơi trán.
Tu luyện lâu ngày thì điển ấy càng ngày càng mạnh, sáng suốt hơn trước. Thì sự tập trung ấy điển càng ngày càng tụ hợp sanh ra một chỗ đấy nóng thật là nóng theo điển, người tu gọi là “lò lửa lư hương.” Khi điển ấy tụ hợp nhiều thì nó phải tung ra.
Sự xuất hồn thì điển nóng điển nguội xung bực thái quá, phát ra khỏi da, gom lại với thứ điển giống. Các thứ điển này tất cả ở trong bản thể ta, hợp lại với điển giống linh hồn. Ban đầu thì nhỏ tí bằng đóm chân nhang. Luyện đạo lâu ngày điển càng thông, thì điển ấy hóa ra nhiều thì hồn ta càng ngày càng mạnh. Rồi từ từ bay thấp đến cao, ví như một con chim mới sanh: sự mọc lông lá của nó là điển tụ hợp; khi lông cánh ngắn thì cựa quậy đập cánh; cánh vừa vừa thì sập sận, còn cánh dài thì bay; còn đôi chân cũng như cánh đứng dậy. Ban đầu nhảy nhót còn cánh thì tung bay. Yếu bay gần, cũng như người luyện đạo chưa dày công. Còn dày công cũng như chim đồng thời bay cao. Thì điển trong mình ta bay ra cho đến thiên không, đó là tông chỉ xuất hồn.
Theo chữ Nho: Chữ XUẤT (出) là hai chữ SƠN (山) hợp thành chữ XUẤT, Chữ SƠN, 3 sổ đứng ngang liền dưới đít gọi là chữ SƠN. Chữ SƠN là Tinh, Khí, Thần, 3 sổ ấy. Tinh, Khí, Thần 3 sổ ấy có nghĩa là điển quang trong bản thể ta rọi ngang liền đó gọi là Hợp nhứt chung nhau, cũng gọi là Sơn căn. Tu tới phẩm Tiên thời đã đến, khí điển lên tới mí tóc là phẩm Tiên, xuất hồn dạo nơi Bồng Lai. Còn một chữ SƠN nữa thuộc về khí âm, nước lã thuộc về điển nguội, để làm nền tảng cho điển trên hay là đà tiến để cho linh hồn có sức tung ra, tông chỉ của nó là xuất hồn. Hễ xuất hồn được, tu luyện lâu ngày bay lên thấy Bồng Lai Tiên Cảnh. Hễ người Tiên thì dạo cảnh Tiên là chốn Bồng Lai Nhược Thủy đó là phẩm Tiên.
VẤN : Như thế nào là hành đạo?
ĐÁP : Hành là làm theo công phu Pháp lý. Có 3 đề mục: Một là Soi Hồn để làm cho khí điển bản thể ta được thông đồng từ khớp xương này qua khớp xương khác thừa tiếp nhau, nẻo gân mặt cũng thừa tiếp chán hai qua chán ba nẻo gân mặt cùng xương. Xương thì cốt giác ngay giữa bao la huyết thịt, còn gân thì bao bọc bản thể ta để cho khí điển chạy châu lưu bản thể. Khí điển là chất nóng trong máu.
Máu có 3 thứ: Thứ trong thì ở ngoài da, còn thứ đỏ tươi thì ở từng theo sớ thịt, còn thứ đỏ bầm thì chất huyết này nặng nề. Rồi nhờ Pháp Luân Thường Chuyển là phép của Phật dạy ta công phu lừa lọc, hợp với thứ nước nhớt trong, gọi là Tinh ba. Còn thứ đỏ tươi hợp với nhớt trược nhẹ, chung quy là một thứ khí quản. Rồi thừa tiếp mở kỷ xuống tại nơi đường mạch đốc là chỗ dây gân xanh ở giữa hai trái cật, nương theo đường mạch đốc đi thẳng theo xương sống, làm ra một thứ khí trong, để giúp cho linh hồn ta là một thứ máu nóng gọi là điển giống. Điển này thừa hành phận sự làm chủ bản thể, giống nó cũng như loại kim là sắc, ưa rút nhảy cũng như thứ (aimant của magnéto) mà thế tục thường làm xe hơi, để cho bộ máy chuyển động nó, để giúp cho thần hồn mạnh mẽ khỏe khoắn.
Hồn là trí não ở vào bộ óc là một thứ khí thiêng liêng của Trời Phật ban phó cho trong bản thể con người. Con người là gom góp khí âm cùng khí dương của người đàn ông và người đàn bà. Khí ấy cũng là một men giống của hai thứ âm dương hóa sanh thai noãn, làm ra nòi giống của bản thể người. Hễ con thì giống cha mẹ là nòi giống ở trần. Còn một thứ linh hồn ở thiên đàng, nương theo điển của Trời Phật, bị lỗi về Thiên Đình. Điển ấy hễ có lỗi thì nặng, gọi là điển nặng sa xuống trần gian gọi là hồn thiêng từ lúc hai nam nữ cấu tạo được thai noãn thì cục máu ấy hình tròn, có một đốm đỏ bầm gắn ngay giữa cục máu thai noãn. Thì thai noãn này ba tháng sẽ hóa sanh tay chân cùng tâm, can, tì, phế, thận, nó cũng là loại Ngũ hành.
Nhờ khi đôi vợ chồng hít hơi thở vô ra cho ngũ tạng là ngũ hành sanh sanh hóa hóa, nào là tâm, can, tì, phế, thận. Hơi điển ấy nhờ hơi thở của người đàn bà hấp thọ nuôi dưỡng đúng 100 ngày, thì có điển quang thần hồn sa xuống trần gian. Vì bị tội Thiên Nhan phải bị đày, ví như một con mắt, ngoài da vỏ bao bọc xung quanh con mắt, rồi kế trong đó là tròng trắng, là thai noãn cục máu hợp thành rồi hợp với cục máu đỏ bầm nòi giống của trần sanh ra thai noãn con người. Rồi con người ấy biết ăn, ngủ, ỉa thôi, bộ máy tuần hườn châu lưu bản thể đó là hài nhi.
Còn điển linh quang tội lỗi thiên đàng sa xuống đi theo đường tâm hồn, ngay xoáy óc của người đàn bà mang thai. Điển vào ngay giữa một chất bầm đen bóng nhoáng, gọi là Đồng Nhơn hay là con ngươi. Lúc ấy trở nên con người là con của người, còn thần hồn soi xuống ấy điểm ngay giữa cục thai noãn một đốm đỏ bầm, đó là ta, gọi là Người Ta. Nó sẽ làm chủ bản thể, mới có trí não thông minh. Nhưng người ở trần thì phải mê trần lắm lối. Ở đâu thì mê đấy, gọi là trần phải mê trần. Rồi mê trần lo tham, sân, si, ăn, ngủ, ỉa, sung sướng cho bản thể con người rồi phải bị ngu mê.
Nay đức Di Đà bày ra Pháp lý chỉ từ đường tu nẻo bước trong gan, ruột, phèo, phổi ta cùng bản thể. Khi chúng ta đứng lên làm người ở trần gian, bị si mê mà ngu xuẩn. Bởi thế chúng ta muốn làm được một người ta ở tại dương thế, còn chúng ta muốn theo chân đức Phật về cảnh cũ quê xưa tu hành theo chân Phật.
Tu hành là luyện đạo, trau dồi sửa đổi nền móng cho sáng suốt thông minh hiền từ như trước, gọi là Chơn Như. Nhờ có 6 chữ Di Đà chuyên môn của Phật Ngài, là một vị thuốc trường sanh, dắt linh hồn chúng ta về thiên đàng cảnh cũ. Nhưng ta muốn theo gót Phật, làm Tiên làm Phật thì phải ráng luyện đạo, hành đạo cho mềm dẻo bền bỉ mới sáng suốt nơi thiên đàng.
Tóm tắt sự tu hành nhờ 3 phép Khoa học cùng 6 chữ Di Đà. Công phu bền bỉ thì trí não ta sáng suốt thông minh gọi là Tiên hay là Phật trên thiên đàng. Nhưng trước đây ta phải công phu thấy Mâu Ni Châu xuất ra, đó là Hồn. Hồn là một cục máu hóa thành lửa điển gọi là Mâu Ni Châu trong mình ta trước trán phát tung bay ra mới gọi là Hồn.
Hồn biết bay là khí điển, rồi luyện đạo bền bỉ hóa đầu, mình, tay, chân, nguyên hình bản thể. Sự hóa này là điển của đầu, mình, tay, chân của người công phu luyện đạo gắn vào cục máu hồn ấy, gọi là hóa thần hồn hay là linh hồn, bay thẳng thiên không làm Tiên Phật.
Theo Kinh của đức Di Đà nói: NGÃ THỊ CHÚNG SANH CHÚNG SANH THỊ NGÃ, nghĩa là: Ta cũng như người, người cũng như ta, đó là cốt giác. Còn tại sao chúng ta được gọi là Ông Phật có huyền diệu thiêng liêng mầu nhiệm do nơi điển lửa hào quang bản thể của Phật cùng hào quang sáng chói trên đầu gọi là Phật Tiên, được thông minh, hóa phép mầu nhiệm, gọi là Điển Thiêng Liêng Tiên Phật.
Tóm tắt sự tu hành, coi kinh sách này để biết hiểu cốt giác tông chỉ của nó thì thông hiểu mà thôi, rốt cuộc phải công phu luyện đạo: Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển, và Định Thần siêng năng bền bỉ kỹ lưỡng.
Ba phép này phân ra mỗi phép là hai chữ: NAM MÔ; A DI; ĐÀ PHẬT. Sáu chữ này là Khoa học Huyền bí của Phật truyền, rồi phép này thừa hành phận sự cho chúng ta luyện đạo, nào là: Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển, Định Thần hóa thành Chơn Như, lo chi không thành Phật. Chớ nào đâu coi trong kinh sách hiểu biết mà thành Phật, có đâu dễ quá. Phải nhờ cố gắng công phu luyện đạo, có Thầy bạn chỉ bảo mới nên. Cũng có khi ỷ sự học thông minh giỏi giắn, coi sách làm đùa bướng, sanh ra nhiều bệnh điên cuồng khờ khạo, là vì ỷ tài hay sức giỏi học hành, rồi cũng thừa tiếp làm bừa làm bướng cho thành Tiên thành Phật.
Hễ chữ là khoa học chữ, còn Đạo là khoa học Đạo tu hành, còn Phật Tiên cũng có hai thứ. Thứ Văn Phật thì do nơi thần hồn để làm việc trên thiên đàng từ trung thiên sắp lên thiên không. Còn Võ Phật là Tiên Phật luyện phép mầu nhiệm, phải có vật chất, hoặc bùa hay là báu hồ lô bằng cây, luyện phép hóa thành cho linh diệu ở trần gọi là Địa Tiên Võ Phật, làm việc thông tri từ thế gian đến trung thiên mà thôi. Nếu lỗi đạo thì Thượng Đế cho trở lại bào thai con người cực khổ, còn sung sướng thì ban thưởng làm người trọn lành dưới thế gian làm quan phước đức. Còn tội nặng làm người hèn hạ, ngu si, hung bạo, tù rạt, hơn nữa tội nặng bào thai loài vật vi trùng. v.v...
Viết tại Đa Kao
Năm Bính Ngọ tháng 6 ngày 15 (1 Aout 1966)
Đỗ Thuần Hậu
THAY LỜI KẾT
Ông già cũng bỏ công rất nhiều, tại vì các con nó moi: Một chập nó tới hỏi chuyện này, một chập nó tới hỏi chuyện kia. Rồi ông phải bươi ra; bươi ra nó không chịu, nó hỏi nữa! Thành ra ở trong đó nó nhiều chuyện lắm!
Bởi vì sao?
Trong lúc đó cứ sợ ông chết! Người này sợ ông chết, người kia sợ ông chết, có thì giờ mà hùn với nhau lên moi ổng. Người này moi một chút, người kia moi một chút, rồi ông phải “bổ di” hoài là thêm đó, viết thêm, viết thêm. Nay nó đến hỏi một chuyện, mai nó hỏi một chuyện rồi nó tới nó chép.
Thành ra do những người tu đòi hỏi, cho nên Ngài mới nói ra, chớ kỳ thật ổng chỉ có dạy thiền thôi, giữ “Nam Mô A Di Đà Phật” để tu.
Người nào thật tâm tu người đó sẽ đạt, mà người nào thiếu tâm tu hay là tu thử, tu chơi thì không có được cái gì đâu! Cũng như thể thao thôi!
Chớ kỳ thật, thật tâm đặt nặng vấn đề giải thoát thì người đó mới đạt pháp, còn không có thật tâm đặt vấn đề giải thoát là tu chơi, tu thử thì trong nghi ngờ nó chỉ ở trong cái giai đoạn nghi ngờ mãi mãi thôi, nó không có tiến được; bởi vì nó cũng như hóa chất, luồng điển cũng như hóa chất, mà mình cứ giữ cái độ này, cứ cái độ này mình cứ régler độ này thì nó cứ chạy cái độ này thôi!
Mình thả nó đi, cho nó chun vô, cho nó đụng chạm; và từ cái định luật hóa hóa, sanh sanh của chính nó tự tiến tự thăng, nó mới có cơ hội đạt. Còn nếu chúng ta vừa tu, nói, “Bữa nay tôi thấy ông Phật, ông Phật hứa với tôi như vậy, tôi tin.” Không được! Mình có pháp, mình phải giữ pháp.
Rồi bữa nay người khác giáng cơ xuống nói như vậy, khuyên tu này kia, mình cảm động, là tại cái lười biếng của mình, rồi bây giờ mình cũng ỷ lại nơi cái đó nữa, cũng không được,vì “Tôi có cái pháp, tôi phải làm sao ý thức được cái pháp rõ rang, và tôi thực hành giải tỏa khứ trược lưu thanh, càng ngày tôi càng thấy tôi càng trược, càng ngày tôi càng thấy tôi tăm tối, càng ngày tôi càng thấy tôi càng ngu, tôi mới là người tu! Còn nếu tôi thấy tôi thông minh, tôi không phải là người tu.”
Bởi vì tại sao?
“Tôi biết phần hồn là vô cùng, mà tôi cho tôi là khôn Ngoan là không có bao giờ được hết, không bao giờ khôn ngoan được!”
Các bạn mà nhìn nhận các bạn là ngu thì các bạn mới có cơ hội sửa, các bạn nhìn nhận các bạn chậm trễ, các bạn mới có cơ hội tiến.
Cho nên trong này ông Tư nhắc đi nhắc lại cũng nhắc phần hồn, đọc đi đọc lại, đọc phần hồn, kêu phần hồn thức giác đi, tu đi, đừng có ôm cái khôn lanh của mình mà tạo kẹt và không có tiến!
Cho nên nhìn nhận ta ngu đi chúng ta mới tiến! Bởi vì chúng ta là đấng vô cùng, thì phải làm việc vô cùng không có nại hà gì hết, chỉ thăng hoa, chỉ tiến: “Ở Kiếp này tôi có sự hiện diện ở thế gian, kiếp sau tôi sẽ có sự hiện diện ở một nơi thanh tịnh tốt hơn. Tôi cố gắng làm tốt để trở về, và hoàn trả những gì tôi đã vay từ nhiều kiếp tới ngày hôm nay.”
Vì chúng ta đã vay! Nếu chúng ta không có vay từ mọi trạng thái, chúng ta không có thể xác duyên dáng như thế này! Thì bây giờ chúng ta phải trả trước khi ta đi. Ta biết cái xác này là thổ hườn thổ, thì trả bằng cách nào? Thì thanh lọc nó mới trả.
Bạn trả những cái gì mỗi đêm?
Bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển là trả cái trược điển ra, cho cái càn khôn vũ trụ này:nó có cái khối trược để làm việc, trong cái định luật hóa hóa sanh sanh; còn khối thanh thì tiến hóa để khai mở bên trên và hỗ trợ cho cái nền tảng thanh vững bền và không bị sụp đổ nữa!
Cho nên chúng ta làm việc ba cõi một lượt là vậy! Cho nên các bạn đã thực hành Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định phải ý thức chúng ta là vô cùng và chúng ta là bất diệt, chúng ta mới hành đạo.
Còn nếu mà chúng ta giới hạn, chúng ta không hành đạo để làm gì. Hành đạo để tìm chiều sâu sẵn có bất diệt của chính chúng ta thì chúng ta mới làm, chớ làm mà không có lợi lộc chúng ta làm để làm gì? Chúng ta không có lớn, không có gồ ghề tại thế, nhưng mà chúng ta phải trở nên nhanh nhẹ hơn, đã nhỏ càng nhỏ hơn. Thì thời đại đã cho chúng ta thấy càng ngày càng tinh vi, máy móc ban đầu mới ra thì gồ ghề, nhưng sau nó càng ngày càng tinh vi, rốt cuộc chỉ có chút xíu mà làm tất cả mọi việc.
Cho nên, chúng ta tu ở đây chúng ta nghe Mâu Ni Châu có chút xíu à, một cái điểm, thì chúng ta thấy rõ rằng sự bành trướng vô cùng của Thượng Đế đã an bài, là một giọt máu đào mà chúng ta giáng lâm xuống thế gian này chỉ có giọt máu thôi nhưng ngày nay bành trướng thành cái thể xác đi, đứng, tranh chấp đủ thứ, giành nước này, giành nước nọ! Rốt cuộc rồi đạt được cái gì?
Rốt cuộc phải quy về cái điểm linh quang sẵn có của chính mình là chủ của giọt máu đào đó. Máu đào đó là thể xác. Bây giờ chúng ta cào thể xác từ đầu tới chân đều là ra máu hết. Phải giọt máu đào không? Chứng minh sự bành trướng của giọt máu đào, nhưng mà tâm thức của ta, thì có chút xíu thôi!
Cái ý của ta chuyển một chút xíu là toàn cơ thể phải chuyển động: “Ý tôi không chấp nhận là tất cả đều hung hăng, mà ý tôi hòa đồng để tự thức, thì cái ý thiện lành của tôi nó có. Cơ thể của tôi nó mát mẻ, bất cứ ở trường hợp nào nghịch, thuận, tôi phải ở trong cái hòa đồng để tôi có cơ hội thức tâm và xây dựng cho tôi tiến hóa; thì cái phần nặng tôi không có, nhưng tôi nuôi dưỡng luôn luôn cái phần nhẹ để tiến!”
Thì cái nào chúng ta thích?
Cái văn là cái nhẹ, Văn là thông minh, Văn là cởi mở, Văn là sáng suốt, Văn là cái tinh thần hộ độ để gỡ rối cho chúng sanh. Thì chúng ta nuôi dưỡng điều này, chúng ta mới thấy cái thức vô cùng của chúng ta; và chúng ta trên đường học hỏi và trên đường về nguồn cội, chớ không có bị kẹt.
Và nếu chúng ta còn ôm, thi thố theo cái thể xác động loạn này cho cái này là chánh, thì lúc nào chúng ta cũng kẹt, vì nó giới hạn, khả năng của nó giới hạn. Các bạn đánh một cú ra 300 pounds đi nữa cũng giới hạn mà thôi!
Còn cái thức của các bạn là không có bị chận đứng bởi cái giới hạn của 300 pounds; thấy rõ ràng chưa? Cái thức của các bạn là từ keo này thua, tôi chuyển keo khác, phải cái thức của các bạn vô cùng không, nói về đời. “Còn từ cái giới này, tôi không có đến được mà tôi thanh tịnh, thì tôi sẽ vượt qua cái giới đó.”
Thì các bạn cũng xây dựng được cái dũng rõ ràng, trong chu trình tiến hóa, nhưng mà cái bi phải có trước.
Cái bi là cái thức hòa đồng, an độ cho chính mình và an độ cho tất cả mọi người.
Rồi cái chí chúng ta mới tìm tòi con đường đi và giữ một cái mạch lạc đó để tiến hóa, mới kêu là Bi Trí Dũng, đi lên.
Cho nên, cái tu chỉ gom gọn trong ý chí thanh quang điển lành thì chúng ta đầy đủ tất cả và không có ôm cái thể xác gồ ghề này, không có người nào đẹp hết.
Nếu các bạn cho các bạn là đẹp, các bạn lấy kiếng hiển vi rọi cái mặt các bạn, các bạn ghê tởm cái da mặt của các bạn, không có giá trị!
Khi các bạn biết cái đó thì sự giá trị vô cùng, nó là thanh quang chớ không phải thể xác, thì chúng ta đã học được nhiều ngày trong cái nguyên lý.
Rồi đây các bạn trở về sẽ mổ xẻ ra từ li từ tí...
[ID# 19860110Q2].....