ID#19860109Q4

KHÓA HUẤN LUYỆN "KINH A DI ĐÀ" - A DI RỊ ĐÔ BÀ TÌ​ - Cuốn 21A -

.....

A DI RỊ ĐÔ BÀ TÌ nghĩa là: A là cái Thận trong bản thể, là một thứ điển cái gọi là Tiểu Thiên Địa trong bản thể để hoạt động điển chạy bộ máy Niết Bàn. Ví như đôi mắt ta là một phép vô tuyến truyền hình, bản thể ta làm chi nó chiếu nấy. Còn hai lỗ tai là máy thâu thanh, chúng ta để nghe, bộ óc là Chủ Nhơn Ông ở để sai khiến. Để cho miệng nói ra những điều chi tội lỗi, đó là máy phát thanh.

Sự tội lỗi bao la, đi đâu, làm việc gì, ra sao, đều có chiếu điển vào máy Niết Bàn không sai sót. Máy này đâu cũng có vị Phật chứng minh trong mình ta.

Câu A DI RỊ ĐA TẤT ĐAM BÀ TÌ nghĩa là: Chữ A là bộ phận trái cật. Nó là một thứ điển nước châu lưu bản thể, cùng làm chủ cái máy Niết Bàn. Chữ DI là gom về Tinh, Khí, Thần.

Tinh là tinh ba vật chất, thuộc về chơn vía để hoạt động

Khí là thuộc về bộ máy trí não để truyền bá, hội hiệp trái tim, gan, phổi, gom các điển này lên bộ đầu thừa hành cho hai lỗ tai cùng cái miệng để nói.

Thần là thần hồn chơn điển của bản thể, gọi là Chủ Nhơn Ông hay là Xá Lợi.

Chữ RỊ ĐA là sự hoạt động của máy ngũ tạng truyền bá ngũ uẩn.

A DI RỊ ĐA TÌ CA LAN ĐẾ nghĩa là: Chữ A là trái cật thận thủy điển quang. Chữ DI là tinh thần của bản thể, thay vì cơ quan ngũ uẩn xung lên bộ đầu, nơi trí não của bản thể. Chữ RỊ ĐA là máy điển chạy chuyền theo lực lượng. Chữ TÌ là điển chạy theo luồng máy.

CA LAN ĐẾ thuộc về hồn là Chủ Nhơn Ông, làm vua sai khiến, nhưng sự tội lỗi bất ngờ, bởi thế Chủ Nhơn Ông không hiểu được tội lỗi, dầu khi Tiên Phật đến khi có tội mới biết được. Nếu chúng ta biết tội nhận định được, thì ai là người có tội. Bởi thế Niết Bàn khó hiểu được. Nếu hiểu được tội lỗi ấy là phẩm Tiên Phật nhưng còn sa đọa thay.

A DI RỊ ĐA TÌ CA LAN ĐA nghĩa là: Chữ A là bộ trái cật, là một thứ điển nước, hợp với chữ DI là Tinh, Khí, Thần là điển thượng, trung, hạ trong bản thể ta.

HẠ là hỏa tặc. Điển lửa tam muội làm nhiều tội lỗi, cũng do nơi Tinh, Khí, Thần bản thể.

TRUNG: Tại lục phủ, lục phủ là sự cố sát, ưa giết người cùng thú vật. Máy này nó cũng phải gom lên nhìn nhận tội lỗi của nó.

THƯỢNG là phần cơ quan ngũ tạng thông tri ngũ uẩn bộ đầu cho máy Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Ý làm việc từ phút khắc nhận định.

DÀ DI NỊ DÀ DÀ NA nghĩa là: Xá Lợi ơi! Những chuyện chi, con khởi sự hung dữ, gieo gió gặt bão trong Niết Bàn nó có con mắt dọi bóng soi sáng, gọi là vô tuyến truyền hình, nào là lỗ tai thâu thanh, miệng phát thanh, trị tội lỗi không sai sót một tí nào.

CHỈ ĐA CA LỆ TA BÀ HA nghĩa là: Niết Bàn là máy điển chạy không ngừng trong bản thể ta. Những phụ thuộc hay là lệ thuộc đều đều đi ngay, không sót, không thể chối cãi tội lỗi ấy.

Di Đà Kinh Tán

Chữ DI là điển Tinh, Khí, Thần. Ba đấng hợp lại thành ra một điển hào quang, trực tiếp luồng điển chánh gọi là dây thần kinh. Dây thần kinh hợp tác các thứ: nào dây gân nhỏ nhặt mặt lưới bao khắp thân thể ta. Chữ RỊ là chỉ rõ phước tội, mở máy của Niết Bàn đem lại cho ta nhìn nhận tội lỗi.

Tây Phương Giáo Chủ. Tịnh Độ Năng Nhơn. Tứ Thập Bát Nguyện Độ Chúng Sanh. Phát Nguyện Thệ Hoằng Thâm, Thượng Phẩm Thượng Sanh, Đồng Phó Bửu Liên Thành

Nghĩa là: Lúc ấy đức Di Đà giảng nghĩa về Kinh Vãng Sanh đã rồi, nhưng đức Di Đà ngồi tịnh nghe điển quang Phật Tổ truyền bá thêm, phán rằng: Di Đà con ơi! Con làm một vị Phật ở chốn Tây Phương của Phật. Con nguyện độ chúng sanh theo lời ta dạy, con có nhớ chưa?... Lời con phát nguyện, con muốn sự tu hành của chúng sanh dưới thế gian này bằng như sự tu hành của con, thì con ráng cố gắng theo lời con nguyện.

Đây là chỉ thêm mấy vị Phật trong mình con. Lúc con chưa tu thì nó cũng nhiễm trần. Hễ con là ma quỷ thì nó cũng là ma quỷ. Ngày nay con tu được làm một vị Phật, thì nó cũng làm một vị Phật theo con để làm việc. Hễ con dữ thì nó cũng dữ, còn con hiền thì nó hiền theo, nhờ con dạy dỗ nó. Mấy vị này ta cho con được biết hiện tại ở trong mình con. Ta làm phép Niết Bàn Vãng Sanh để cho thấy rõ Chơn Như của nó. Ngày nay sự vui sướng thong thả của nó cũng như con. Nó cũng biết tu hành làm việc như con, vui vẻ vô cùng. Nó không xúi con làm như trước, những điều tội lỗi.

Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội Vô Lượng Quang Như Lai

Nghĩa là: Di Đà con ơi! Con biết luồng điển Nam Mô là dây điển lửa hợp với lằn điển thiên không trên nước thiên đàng ta, rồi nó hợp với những vị Phật để làm việc bản thể con. Mấy vị này ngày giờ phút khắc vui vẻ làm việc, tánh ý ngày nay khác thường.

VÔ BIÊN QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này làm việc cho luồng điển sáng chói để bảo dưỡng trong bản thể của con. Sự biến hóa muốn chi được nấy, do nơi cặp mắt thần của con.

VÔ NGẠI QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này thừa tiếp thượng điển của ta, đem đến vui vẻ, từ bi, không chấp nhứt, do nơi lá gan.

DIỆM VƯƠNG QUANG NHƯ LAI

Vị này khi điển ta truyền bá xuống, bắt từ trên làm việc cho tới dưới, điển lửa Tam Muội là Tinh, Khí, Thần ấm đều sáng chói, hiền từ không dữ nữa.

HOAN HỈ QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này đều vui vẻ, hoan hỉ do nơi trái tim bản thể của con.

NAN TƯ QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này không lo không buồn, không giận do nơi trí não hồn bản thể của con, vì nó đã biết tu hành rồi.

VÔ XỨNG QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này từ khi tu hành, không phách lối theo trần nữa, do nơi tánh ý của bản thể con.

VÔ BIÊN QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này làm việc không ngần ngại để trực tiếp bản thể con, đó là hoi hóp.

VÔ ĐỐI QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này nghe truyền bá đâu làm đó, không sai một tí, do nơi lá lách bản thể con.

THANH TỊNH QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này tự trong sạch, phán đoán bình thường, làm việc không đốc xúi, công bình tùy theo Niết Bàn Vãng Sanh do nơi trái cật bản thể của con.

TRÍ HUỆ QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này làm cho sáng suốt bộ đầu của con, do nơi điển óc bản thể của con.

BẤT ĐOẠN QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này thúc dục cho điển máy ngày đêm không ngừng, là ngũ quan do nơi ngũ uẩn bản thể con.

SIÊU NHỰT NGUYỆT QUANG NHƯ LAI

Vị Phật này là gan cùng phổi, điển ấy hợp tác điển nóng điển nguội mặt trời mặt trăng, do nơi đồng nhơn con mắt bản thể của con, để chiếu những tội lỗi con làm. Nó là một thứ truyền hình vô tuyến điều khiển, làm chủ máy Niết Bàn, cùng là sự suy gẫm tội ác.

Điều phước đức hợp với lỗ tai, miệng, mắt của con, do nơi điển ngũ uẩn làm tròn một bộ máy này gọi là Niết Bàn, chánh bản thể con.

Khi con cởi màng qua Phật Pháp dưới thế gian, con làm những điều chi tội lỗi cùng phước đức, thì nó chứng quả tiên thiên, hậu thiên trong bản thể của con, lúc ở dương thế không chối cãi. Bởi thế do chữ VÃNG SANH KHUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN. Phép điển này phước đức hay tội lỗi đều có hiện tại trong bản thể con làm ra, dầu cho Tiên Phật cũng đồng thế thôi.

Tác Giả

TỰ THUẬT

Diệu Pháp Di Đà nghĩa cao sâu

Biết Đạo nghe qua phải lắc đầu

Thức lý từ đây lo gắng chí

Pháp mầu linh nghiệm Mâu Ni Châu.

Giải bộ Kinh Di Đà này Ngày 10 - 12 dương lịch (1964)

Tác giả: ĐỖ THUẦN HẬU

BỔ DI KINH DI ĐÀ

Chúng tôi là Đỗ Thuần Hậu giải bản Di Đà của Phật đưa ra từ xưa kia. Đến nay Di Đà là một cuốn Kinh quý báu sâu xa, ước lối 1800 năm, truyền bá tới ngày hôm nay để cho các bạn tu hành được sưu tầm những lời của đức Di Đà rất sâu xa mầu nhiệm, nhưng nó phân giai cấp, nào là học cao hiểu rộng là thượng cấp và trung cấp với những người thiếu học. Hễ cao thì biết nghĩa lý cao sâu, bực trung thì hiểu theo bực trung, còn bực thấp là thiếu học, cũng được hiểu trong trí thức của họ.

Chúng ta đồng thời được hiểu chữ “Từ Bi Bác Ái” của Phật, nghĩa là Phật thương tất cả chúng sanh, không bỏ một ai. Bởi thế khi chúng tôi giải Kinh này thì chúng tôi hiểu ý Phật, phân từ đời Thượng ngươn, Trung ngươn và Hạ ngươn như dưới đây.

Vì người Thượng ngươn, hồn ở trên trời bị lỗi mới sa vào thế gian, trần tục, thì những bực người ấy tánh còn chơn tâm, lúc ở thiên đàng chưa nhuộm trần, thì Phật cho câu tâm tức Phật. Hễ người được có tâm tu niệm thì Phật chứng quả Bồ Đề.

Còn về Trung ngươn, cũng có phần nhiều cư trần, ham vui vẻ, ít ham muốn tu hành thì càng ngày càng nhiễm mê luyến trần gian, nào là tham, sân, si, phú quý, quyền thế, người hiếp người, hung hăng hại lẫn nhau, hiếp đáp nhau, giành xé nhau cho vừa ý muốn, cũng có một phần mê trần, đồng thời cũng tưởng tới sự tu hành, một phần ít vậy thôi. Nhưng những người ấy bị sự hiếp lấn, rồi thức tánh tu hành, nào là lập chùa chiền, am tự để tu hành mà không hiểu trên thiên đàng có hai thứ điển, Văn Điển là Điển Phật, còn điển của Ngọc Hoàng Thượng Đế là Võ Điển.

Còn dưới thế gian cũng có điển là điển trược hỏa tặc hung hăng giết người. Điển này để giúp cho người làm ngũ sắc kim, để nấu chất ăn cho chín, để nuôi dưỡng bản thể. Hỏa tặc này phá hoại, nóng bức khó chịu, hại người không thể tưởng tượng. Còn phần nóng ít hơn thì gây ra tham lam bỉ ổi, cũng làm ra cái tánh con người hung hăng giết hại, tham lam, giựt của cải để cho mình sung sướng, người hà hiếp người.

Còn bực hạ thừa, còn nhiễm trần hơn nữa, quỷ quái sâu xa, mưu cao kế dày, để lừa bịp những người dốt nát, hiền lành, cùng người thất học, thì do nơi sự bắt buộc của thời đại.

Phật Ngài làm Kinh Di Đà ra để cho người tu tâm dưỡng tánh, nghĩa là: Sửa là sửa tâm sửa tánh, nhưng trái lại sửa tâm là có nghĩa dùng điển quang trên thiên đàng để sửa điển của bản thể ta để trực tiếp cùng gián tiếp điển của Phật.

Điển dương là thần hồn trở lại hiền, đó là Chủ Nhơn Ông. Trước kia hồn ở thiên đàng bị tội lỗi mới xuống làm chủ của bản thể. Còn điển âm thuộc về vía của trí ý Cha Mẹ cấu tạo bản thể. Tánh nết của nó ưa oán ghét ngầm, cố ý nhớ hoài hoài, âm mưu lừa bịp, cố sát, ẩn ác. Còn bề ngoài thì vui vẻ, khuyến dụ con người theo chúng, để hại người trong trần gian, lắm điều tham lam xâu xé. Người trần gian, tưởng rằng chúng nó thật thà, theo bọn chúng mà không hiểu bề trong, mà chỉ hiểu bề ngoài mà thôi.

Bởi thế Phật Ngài cho Kinh Di Đà dạy ba Pháp Môn là: Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển và Định Thần, để sửa Tâm, Can, Tì, Phế, Thận của bản thể con người, lấy điển trong bản thể của con người trần thế để hợp với điển của Phật. Sửa đổi tâm tánh con người ở trong ngũ tạng cùng chân tay đều có điển hung ác, pha lẫn với điển của Phật để tu trang cho bản thể cho người được trở lại như người xưa, thì người trần gian mới có thể hiền lành trở lại minh mẫn, sáng láng. Rồi chúng nó xem xét lại mới biết rõ sự tham lam, lừa bịp, bỉ ổi, rồi nó biết hơn sự thật ngay lành.

Trong Kinh Di Đà Phật Ngài nói: Phật tức tâm, tâm tức Phật. Đó là Phật dạy người sơ thỉ, hễ có tâm tưởng Phật là Phật. Còn từ trung chí hạ thừa thì bị nhiễm trần, không được minh lý, rồi chúng nó lấy những câu Kinh trên đây của Phật, mới cắt nghĩa cho chúng lầm lạc.

Ngày nay chúng tôi hiểu thật sự là đời Hạ ngươn phần nhiều con người quỷ quái, xảo trá, thì câu Kinh Tâm tức Phật ngày nay nhờ ba Pháp quý báu của Phật truyền, sửa lại tất cả châu thân con người minh triết hơn. Theo như người sơ thỉ, hễ có tâm tưởng Phật là thành Phật. Ví dụ như một ông dốt không hiểu chi hết, rồi lên núi thắp nhang lạy Trời Phật cầu xin cho được linh tánh, để xuống trần gian sửa chữa bệnh. Họa phù bằng giấy vàng chữ son, vì sự dốt nát không hiểu câu kinh câu chú nào. Rồi cũng hô: Con cò xanh nhảy quanh hòn đá, chờ nước cạn ăn cá, ăn tôm, thì chúng nó xét đoán, bởi vì ông thầy ấy có tâm, rồi Phật Tiên cũng cho Long Thần, Hộ Pháp giúp đỡ cho ông thầy trị bệnh đó mau hết, lành bệnh do nơi ma quỷ khuấy phá, cùng tà tâm của bệnh sanh ra. Thì Chúng tôi suy nghĩ là ông thầy có tâm tưởng Phật, rồi Long Thần Hộ Pháp giúp đỡ, đó làVõ Phật làm mấy chuyện ấy do nơi tánh vía của ông thầy.

Còn đây chúng tôi tu về phần hồn, là Văn Phật. Ý nghĩa chúng tôi thấy Phật Ngài dạy làm ba Pháp lý, sửa tâm tánh cho hồn trở lại thiên đàng chớ không muốn ở thế gian.

Vậy xin các bạn được hiểu trong cuốn Kinh A Di Đà là chỉ rõ đức Phật Ngài dạy bảo phải sửa điển cho chơn tánh, do nơi ngũ tạng bị điển trần từ Thượng Trung và Hạ ngươn của bản thể con người bị nhiễm trần nhiều.

Nay nhờ được Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật mà chúng tôi được thông minh kiến tánh, những lời Kinh của Phật dạy bảo, để cho ngũ tạng chúng ta được yên lành, không bận rộn, nhờ điển của Phật pha lẫn với điển của ta, mới được rõ Kinh Di Đà rất sâu xa huyền diệu.

Ngày 25 tháng 11 năm Ất Tỵ (17-12-1965)

Thưa Các Bạn

Khi chúng tôi phân lý tông chỉ cuốn Kinh A Di Đà đã hết nghĩa lý Di Đà rồi, nhưng chúng tôi viết ra thêm một quyển Vấn Đáp.

Quyển này tự nói ra không phải điển, theo ý chúng tôi muốn để các bạn hiểu sự vấn đáp để mở mang thêm cho người công phu luyện đạo. Chúng tôi muốn tường tận về sự công phu luyện đạo để cho các bạn dễ hiểu lý Kinh thiết thực của chúng tôi, muốn làm cho nền đạo sáng chói hơn, cùng thương các bạn. Chúng tôi chẳng biết lấy chi dắt dẫn cho người thiện chí, vì thế ấy, chúng tôi phải lập nên quyển Vấn Đáp để xem cho hiểu lý Kinh cùng công phu cho tỏ rạng hơn.

Các bạn ơi! Đây là cõi thế gian, chúng ta ở mảnh đất phù sanh này, dương gian hay là dương trần, thì bị tăm tối mù mịt nó lôi cuốn phải bị mê trần. Khi chúng ta thức tánh muốn về quê xưa chốn cũ là thiên đàng, thì có sự tu hành để chưởng linh hồn cho được minh triết. Nhưng trong thế gian có nhiều đạo ra đời, đạo nào cũng Chánh Đạo, nhưng các bạn suy đi nghĩ lại hoài hoài mãi mãi con đường nào về thiên đàng cho giản tiện gần gũi hơn. Nên chúng tôi thừa lập quyển Vấn Đáp này để dắt dẫn sự tu hành phát triển hơn lấy lời nói thiết thực, thêm ý kiến cho các bạn để thấu đáo không nghi ngờ, phải hay là không phải, thì chúng ta nên coi để mở trí, dẫn dắt đường tu trực chỉ đến thiên đàng.

Ôi! Thật là khó, vì Khoa học Huyền bí thiêng liêng của Phật khó hiểu được, nhưng vì chúng ta ở thế gian thì thấy trong thế gian có hình thức vật chất

Còn tu tầm đường lên thiên đàng là chỗ thiên không thì làm cho tầm mắt và ý chí ta không thấy và không thấu đáo, bởi thế không bờ không bến, thấy thì không thấy, tin thì khó tin, nào ai biết được. Bởi thế trong câu Kinh có nói: Đạo là tu du chi đạo, vô bờ bến, các bạn thiên về bên nào thì tu về bên nấy, tóm tắt có một nẻo dài hay là vắn, mau hay là chậm, khó mà hiểu được, bởi thế các bạn bán nghi bán tín, vì trong tâm còn lộn xộn, còn bê bối, không được hiểu rõ Chơn Như.

Vậy xin mời các thiện chí nếu muốn về nhà Phật thì nên xem quyển Kinh Di Đà cùng Vấn Đáp là tông chỉ của nó, rồi các bạn theo Pháp lý Vô Vi Huyền bí của Phật, ráng tu luyện đạo, trong một năm rưỡi cũng chẳng xa, chẳng kém thì giờ, miễn cố gắng công phu, trước hết thấy hào quang của Phật ban cho mình, cùng linh hồn của chúng ta phóng ra một đóm lửa sáng chói, đó là linh hồn của bạn từ trán phóng ra, rồi bay đi thiên không, ban đầu bay ngắn biến mất, càng ngày càng bay xa, nhưng bay lên trên thiên không, không hạ xuống đất, chỉ rõ là linh hồn về thiên đàng chầu Phật, cũng thấy quê cảnh Bồng Lai Nhược Thủy của Tiên, thì lúc này chúng ta được thấy Mâu Ni Châu thì chí ta hiểu là có đường lên Phật.

Thưa các bạn! Chư thiện nam tín nữ, cùng các em đồng nhi nam nữ cố gắng công phu cho linh hồn về cõi Phật, tuy xác hãy còn ở trần, còn hồn được xuất ra bay bổng trên thiên đàng, rồi mới hiểu biết sự chân thật của chúng tôi, vì lòng bác ái đối với các bạn tu hành thiện chí.

Sự tu hành thuộc về khí điển thiêng liêng, cố gắng công phu là được, nhưng chúng tôi không thể nắm tay bản thể của bạn mà bay đùa bay bướng trên thiên đàng cho được, buộc lòng chúng tôi phải dịch quyển Kinh Di Đà để các bạn thưởng thức hiểu biết, hơn nữa chúng tôi thừa tiếp quyển Vấn Đáp này bổ di giúp cho các bạn, để được tường lãm am hiểu Pháp lý cho dễ bề công phu luyện đạo.

Đến đây chúng tôi xin chào các bạn thiện chí, cùng xin tha thứ những điều thô sơ của chúng tôi.

PHẦN II

PHẬT HỌC

VẤN ĐÁP

***

Công danh phú quý bất như nhàn

Cực khổ nghèo giàu há dám than

Mang gậy Kim Cang về bến giác

Thẳng đường thẳng lối đến Tây Phang.

***

Tây Phang vạn lý khổ nài bao

Góp gió ngàn phương mới thấy sao

Bệnh, tử, lão, sanh, nào sá kể

Pháp Thần do PHẬT thẳng bay cao.

***

Bay cao xuống thấp tự nơi mình

Thanh lọc điển hồn mới phát minh

Trược biến thanh nhờ công chuyển pháp

Quốc hồn kêu gọi hỡi sanh linh.

TỰA

Hôm nay chúng tôi được chung nhau để viết quyển Vấn Đáp cho các bạn được hiểu rõ về ý nghĩa Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của chư Phật cùng chư Tiên về việc: Tà là hữu vi hay là duy vật, còn Chánh là Vô Vi, không không.

Chúng ta hay lầm lẫn không không mà có, có có mà không. Tiên cùng Phật, sự tu hành bực Tiên rồi tới Phật, thì duy vật rồi biến duy tâm, còn trần thì ráo riết, ngày nó đi rất đỗi mau, hết đời Thượng ngươn, Trung ngươn, rồi tới Hạ ngươn, thì trong ba ngươn cộng lại là 1.800 năm.

Khi trong đời người cùng nước lộn xộn, thì chúng ta nên biết, Trời Phật cũng như người thế gian, khi gần đến sang thế kỷ, thì cũng sanh loạn lạc trong các nước, thì đời đạo đều đảo điên tất cả bầu trời thế giới, đấy là ngày hôm nay năm 1966, bạn cũng biết cho.

Đúng 2.000 năm là hết đời Hạ ngươn sang Thượng ngươn, thì tất cả các nước đều lộn xộn, thành bại hưng vong. Còn những người đời là dân trong nước thì bị điêu đứng khó khăn, nếm đủ chua, cay, chát, đắng, mặn, nồng, phần nhiều vì chỗ ấy. Những phần đạo là người hiền, cũng chịu ảnh hưởng chung, nên ai ai cũng muốn yên tịnh, bằng an vô sự mà thôi.

Sự xáo trộn lôi cuốn, cái lành dữ lộn lạo trong nước, không khác nào trời đất mới mở, người không tu lo làm ăn, còn có một phần hung dữ tàn bạo, thì càng hung dữ tàn bạo lừng lẫy hơn. Hiền lành hung dữ đều xáo trộn, trong lúc ấy hiền muốn hiền hơn, hung dữ muốn lừng lẫy hơn, cũng có một phần vô phước vô gia thê, vô bờ bến, làm cho cực điểm trong đời, sự hung dữ lừng lẫy hơn mới sanh loạn ly hỗn độn, thì chúng ta nên biết cho nước nào cũng có nhân viên can dự. Còn gia đình cũng như trong nước, cha đối với con, chồng đối với vợ. Chồng vợ cha con đều lộn xộn, quên đạo lý.

Bởi vậy chúng tôi muốn phân rõ đời đạo song tu. Đời là cho gia đình vĩnh viễn, từ thượng chí hạ, từ ông bà cha mẹ con cháu, ngôi thứ chuyển đệ hiếu hạnh vi tiên mới thanh bình.

Còn đạo thì muốn yên tịnh để tu theo ý muốn của người, để làm Phật Tiên, không muốn ở trần, không thể nào thoát khỏi. Bởi vì chúng ta bản thể còn ở nhân gian, cũng có nhiều người ai ai cũng đều muốn tu, bỏ thế gian. Trong thế gian biết rằng: Khó, cùng, cực, nhọc, muốn cho rảnh rang cho đời của mình, nhưng làm sao cho khỏi chốn trần gian? Bị mạnh hiếp yếu, mạnh là quật cường, yếu là hiền lành, rồi muốn tầm đạo đi tu. Tu thì cũng khó lắm, làm sao phân cho được cái giả cùng cái chơn. Còn giả chơn phần nào cũng có đương vương trường bản trong trần để lợi dụng. Thì người chơn thì ở trần rất sợ hãi, mà tránh làm sao cho khỏi.

Còn tu để tránh trần gian, lo làm Tiên Phật, không tranh danh đoạt lợi, còn nhiều người ích kỷ, lấy vải thưa che mắt Thánh, làm điều dối trá cho sung sướng trong đời. Hiểu mà không nói, còn nói mà không hiểu. Ôi! Thế sự vi nhân nan, buộc lòng chúng tôi lấy sự bác ái phô bày, chỉ rõ sự tu hành. Phật thì có hàng Phật Tử. Trời thì cũng có âm dương. Người thì có phu phụ. Còn điển thì có điển nóng cùng điển lạnh. Trong đời thì có ngày đêm, đó là âm dương. Nhưng âm dương hợp thành, gọi là hợp nhứt, để cho hóa hóa sanh sanh. Bây giờ chúng ta muốn cho hung trở nên hiền, hung là duy vật võ biền, còn hiền là Vô Vi Văn Phật.

Đây chúng ta muốn tu thì phải biết Phật Tiên thì có võ, có văn, rồi mới hợp nhứt hườn vô. Hợp nhứt hườn vô là thừa võ hóa văn. Thì chúng ta luyện đạo phải biết bên Võ Phật, phải lấy duy vật làm gốc.

Duy vật là cốt giác luyện phép hườn hình, ví như biến hóa di sơn, thì chúng ta phải lấy một cục đá nhỏ (là duy vật) mà thuật biến ra một hòn núi cao chớn chở, cốt giác của nó là hòn đá, là duy vật, mỗi việc đều nhỏ biến lớn, huyền ảo qua một thời gian rồi hườn nhứt, tồn lại cục đá là cục đá. Nhưng các bạn biết cho, cục đá ấy biến hóa cho cục đá, phép mầu linh nghiệm thành ra một trái núi, huyền ảo hườn nhứt một thời gian, phép ấy gọi là Tà thuật rồi hườn lại các đá nhỏ mà thôi.

Nếu cục đá nhỏ ấy bị người giựt hay là phá tan, hoặc đoạt được, thì phép ấy không linh nghiệm nữa, gọi là Hườn hư, thâu phép, hay là Phép hư.

Võ Phật hay là Võ Tiên thì lấy duy vật biến hóa nên hình, đó là ảo thuật hay là tà thuật. Còn chúng ta muốn tu nơi Văn Phật là lẽ chánh tự nhiên. Thì chúng ta phải tu lấy phần hồn gọi là Lẽ chánh, thuộc về luồng điển cái, còn luồng điển lạnh trược thuộc về tánh vía, hay múa men động chạm, lấy sự vật hại người hay là làm khó cho người.

Ôi! Trong thế gian, tưởng Phật nào như Phật nấy, Tiên nào như Tiên nấy, không phân lẽ chánh tà. Đồng thời chúng ta cũng tu duy vật và Vô Vi, xáo trộn không phân biệt. Cho nên chúng tôi hợp ý phân tách ra cho rõ, nào là Văn, nào là Võ Phật.

Văn là Vô Vi, tu phần hồn, thừa tiếp điển trên thiên không xuống, còn Võ Phật thì lấy cái vía mà thừa tiếp điển lạnh của trần gian rồi hợp tác để cho hồn trí thức sai khiến, sự linh nghiệm hiện tại thế gian, làm chi được nấy. Còn người trong thế gian bị nhiễm trần, tham muốn ưa linh nghiệm, làm đâu được đấy.

Còn Văn Phật thì lo cho phần hồn được làm Tiên Phật ở xứ thiên đàng không trở lại thế gian.

Nay hồn chúng ta muốn trở về chốn cũ quê xưa để tỉnh ngộ hưởng sự sung sướng thiêng liêng ở chốn thiên đàng, thì không hoạt động lấy duy vật xáo trộn, tất cả đều lấy chữ không không yên tịnh, tom góp điển bản thể trong mình hườn quy hợp nhứt, làm cho hồn đủ sức mạnh dồi dào.

Hồn là một luồng điển chánh làm chủ bản thể ta, nhờ điển trong bản thể quy tụ hợp nhứt, hùng dũng vô cực vô biên để quy tụ như vậy, trở về thiên đàng, gọn gàng mau mắn hơn, nhưng ta thì cố gắng công phu luyện đạo dày chặt, bắt từ đầu của bản thể là chỗ hồn ở, tập cho hồn sáng suốt lấy pháp tu để lọc trược khí trở nên thanh tại bộ đầu, rồi lấy điển thanh của tay chân và các điển phụ, cũng lọc trược biến thanh hợp lại hóa nên hình. Phải bền bỉ cố gắng làm pháp tu thì mới gom hồn cùng vía được.

Vía là ngũ tạng tay chân, tất cả những vật gì động dạng là vía, lấy thanh khí của bản thể cùng tay chân gắn lên tiên thiên bộ đầu. Khi chúng đủ đầu mình tay chân, công phu luyện đạo cho dày công, trược mới biến thanh, thì xuất hồn về thiên đàng cũng không lâu.

Ví như Lương Sĩ Hằng (gọi là Lưỡng) tu theo Pháp nhà Phật là Pháp lý Vô Vi mà ngày nay chúng ta lượm được, đã vắn tắt được xuất hồn bay về trung thiên, rồi trở về trần nhập vào bản thể, thì sự tham lam hung hăng bỉ ổi của bản thể Lưỡng trong thế gian đâu còn nữa, bởi vì hồn Chủ Nhơn Ông của Lưỡng cố gắng tu hành, nào là Lục Căn, Lục Trần của tánh vía sai khiến, xưa là hung dữ tham lam. Nay hồn của Lưỡng được lên thiên đàng thấy sự tà chánh rõ ràng, mới dạy cho vía cùng Lục Căn, Lục Trần tu theo hồn, thì tánh vía không bao giờ còn hung dữ tham lam nữa, trở nên người hiền triết, thì hồn cùng vía tự nhiên trở nên lành, khỏi coi sách dạy trong thế gian, hay làm lành lánh dữ.

Hễ Chủ Nhơn Ông hồn được hiền từ, thâu được khí thanh, còn vía cùng Lục Căn, Lục Trần phụ thuộc, phải nương theo hồn, thì tất cả trở nên lành, vì nhờ pháp mầu nhiệm của Phật...

ID#19860109Q4.....


----
vovilibrary.net >>refresh...