KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: BĐ TẬP TRUYỀN PHÁP - THẦY MINH LUẬN - Cuốn 19I -

ĐT: … Nó cũng trở lại đó: vì không có cái nguyên khí của nó, nó không nhập. Tôi thấy ông Tư ổng ăn; nó lại chạy vô ổng. “A,” tôi nói, “ông này ổng ăn, rồi nó bắt cái hơi đó nó mới đi vô: nó mượn cái trớn đó nó vô! Rồi tôi thấy ổng vừa ăn và ổng vừa niệm, ổng vừa cứu độ.” Tôi dòm, thấy: “Té ra, tinh vi quá; té ra ông đâu có ăn; Ông làm việc chớ ông không có ăn thịt; Ông không có ăn thịt bò, mà ổng cũng không có ăn thịt vịt; mà ổng không có ăn! Ông đang làm việc độ chúng nó! Không thấy ổng ăn!” Thì lúc đó tôi mới thức giác.

Về, tôi cũng chưa dám ăn; “Không biết phải không? (cười) Bây giờ làm sao đây?” Ở nhà, mấy người dọn lên ăn, thì tôi ngồi đó tôi coi: nó cũng lẩn quẩn qua; nhưng mà tôi cũng không dám gắp, bởi vì mình ăn chay, tôi ăn trái cà chén cơm, mà làm sao tôi dám gắp cái đó? Mình cũng chấp; tôi nói: “Không được!”

Thành ra cái đêm đó tôi tu thiền tôi mới thấy đi tới cái chỗ tiến hóa của con vật, như tôi đã thường nói: mặt thì sư tử, mà gánh nước; mặt con thú, mà là thân con người. Nhiều lắm, đông đảo lắm! Tôi hỏi: “Chỗ này là chỗ nào?” Nói: “Chỗ này là chỗ tiến hóa của con thú.” Tôi mới trở về tôi suy nghĩ.

Bữa tối đó tôi bước qua bên khối Địa Tiên; tôi đi qua đó thì tôi thấy có tên tôi, vô tôi ngồi, cũng như là bá quan xung quanh ngồi chơi, ngồi đó rồi người ta đem tiệc ra cho tôi ăn; ăn đồ ngon, cũng đồ, cũng đồ, vịt tiềm đồ, nhiều món thơm ngon ghê lắm; ăn về, cái miệng cứ chép chép hoài, thấy thơm quá! “Tại sao cõi đó nó lại có nhiều đồ ăn như vậy? Vậy chớ họ tu cái gì mà họ ăn cái đó?”

Rồi tôi mới xuống ông Tư; ông Tư mới giảng một tràng về luân hồi cho tôi. Tôi mới thấy: té ra Ngài đang làm việc, chớ Ngài không có ăn uống gì hết! Thì tôi mới bắt đầu. Tôi ít nói chuyện với ông Tư, chỉ ông Tư nói chuyện cho tôi nghe thôi, không bao giờ tôi nói. Tôi nói, tôi nói với ông Tư, “Bắt đầu bữa nay tôi ăn thịt.” Ông nói, “Bạn biết rồi đó! Vậy là Bạn biết rồi; Bạn khôn, Bạn biết rồi.” “Bây giờ tôi đã thấy là cuộc đời nó khổ quá, tôi không muốn nhầm lẫn; thành ra bây giờ tôi thấy rõ rằng tôi phải làm việc một chút.” Ổng nói, “Vậy thì mai mốt tôi đãi Bạn ăn, coi thử Bạn dám ăn không?” Ở nhà ổng là thường thường, nghĩa là, người ta cúng vịt quay đó; xắt cho tôi; tôi ăn. Tôi ăn, tôi cũng làm việc như ổng. Ổng nói: “Vậy mới được; vậy mới học từ bi, và thực hiện từ bi; chớ đừng có tu lộn đường, ở trong cái mê chấp, và không có tiến nổi; kẹt! Tưởng rằng Bạn ăn rau, Bạn ăn cỏ, Bạn thành Phật? Cái đó là trật lất! Con trâu, con bò nó thành Phật lâu rồi! Tại sao nó phải hy sinh thể xác?” Ổng cắt nghĩa rất có lý.

Thành ra từ đó tôi ăn; nhưng mà cái tánh ăn chay nó phải có, luôn luôn ăn rau nhiều hơn; (cười) quen rồi, lâu lâu ăn ít miếng, rồi phải vô giường cầu siêu cho nó; tới bây giờ cũng vậy; nhưng mà đại đa số là thích ăn chay hết; còn ăn mặn là lâu lâu có cơ duyên là độ vậy thôi, chớ cũng… làm việc mệt hơn, mệt hơn ăn mặn!

BĐ1: Dạ, kính đức Thầy, nhân dịp có Thầy,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Nhân dịp có Thầy thì chúng con kính nhờ Thầy giải thêm cho chúng con một số mà chúng con hiện tại còn bị kẹt,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Là ví dụ như chúng con ăn một con vật nào đó,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Rồi, như Thầy dạy, là chuyển nó lên trên đỉnh đầu mình, cho nó trở về nguyên căn của nó.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Ví dụ như trường hợp con vật đó hết cái số làm con vật rồi, thì nó chuyển lại làm người; thì tất nhiên cái phần mình ăn, mình độ, là mình cũng đưa nó chuyển lại làm người theo cái định số của nó mà Sổ Thiên Đình, Sổ Địa Ngục mà đã sắp xếp như vậy.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Thì nó cũng trở lại cái tự do, tự tu tự tiến của nó, nó phát triển theo cái quyền năng của nó mà Thượng Đế đã sắp xếp cho nó. Thưa Thầy, có phải vậy không?

ĐT: Nó được cái ảnh hưởng của mình. Bởi vì khi mà mình ăn nó vô rồi á, thì nó được cái ảnh hưởng của mình. Cho nên, người tu ăn, nó mừng lắm! Ai không si mê thể xác? Khi chết rồi, ngồi chồm hổm đó, nhớ cái thể xác. Nhưng mà người tu ăn, nó mừng; người tu ăn, nó biết niệm Phật, nó biết làm pháp Luân Thường Chuyển, nâng đỡ cho nó có cơ hội tiến hóa. Còn người không tu, không: nó đem ra, nó bành trướng ăn thua với thiên hạ; nó không có tiến được.

Cho nên, mình tu đây, mình nhờ mình làm Pháp Luân Thường Chuyển, rồi nó mới đem lại cái tầng tiến hóa. Mà khi nó làm được người rồi á, nó cũng nhớ, nó nhớ, “Trước kia tui cũng may mắn; ngày nay tui mới làm được người!” Rồi làm người gặp tai nạn này, tai nạn kia, nó cũng nhớ, “Nhờ cái ơn trên của những vị nào tu hành độ tui, tui mới qua được cái tai nạn này!” Hiện tại chúng ta cũng vậy, nhiều khi xảy ra cái chuyện thấy chết, nhưng mà không chết; mình cũng nghĩ, “Đây, một vị nào độ tui!” Kỳ thật có những người tu đã độ ta, và ngày nay tiếp tục chiếu cho ta.

Cho nên, khi mà chúng ta ăn, và chúng ta phải lãnh trách nhiệm độ tha, thì không phải có hưởng thụ; không phải nói, “Thích ăn này cho no nê để tôi ngủ;” không! “Tôi ăn, tôi có nhiệm vụ!” Thì các bạn ăn chay cũng là làm việc đạo; mà ăn mặn các bạn cũng làm việc đạo: độ tha.

BĐ2: Vậy thưa Thầy, ví dụ như một con vật người ta bán ngoài chợ á, thì rất nhiều người mua để đem về họ ăn;

ĐT: Ừ.

BĐ2: Nhưng mà mình chỉ ăn một miếng nhỏ thôi, nghĩa là một phần nhỏ của cơ thể của nó thôi,

ĐT: Ừ.

BĐ2: Rồi mình có thể giải được phần Hồn của con vật?

ĐT: Được chớ! Bây giờ mình, nếu mình có đủ khả năng về điển quang thì mình chiếu thẳng tới chỗ đó; như Bạn có cái telephone bạn chuyển cái, tới rồi! Còn người ta không biết xài; ăn rồi, người ta bỏ đó. Mình có điển, mình chiếu tới đó, nó rút liền; rút tức khắc! Cũng như mấy người chết đó, nó làm cái vòng tròn, ở đằng kia người ta rút rồi; rút liền! Cho nên, khi các bạn cắt miếng thịt ra, các bạn liệng ở dưới đất; nó màu đỏ, chớ gì? Một chặp rồi nó đậm á; nó đậm lần lần, lần lần lần lần nó đen à. Thì hỏi chớ, cái thanh nó đi đâu? Nó đi lên. Nó ở tầng số nào? Mình có điển, mình chuyển tới, là tới rồi! Không có xa đâu. Mà cái nguyên điển của nó vô mình thì nó cũng, khi mình làm Pháp Luân, nó cảm ứng, hai cái đó mình mượn cái đó, chuyển cái, thì nó đồng điển, nó hút một cái, rồi; không có một cái gì hết! Chỉ có một điểm linh, một điểm chút xíu thôi; như con heo đó, cả một con heo, có chút, nhóm có một chút à, chớ không có nhiều; thấy nó mập thù lù nhưng nó có một chút à; mình rút cái phần điển nó, có một chút à!

BĐ1: Dạ, thưa Thầy, như trình độ của Chị Cương, như Chị Tranh đây á, tuy chưa có thấy được phần hồn của vật,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Mà tâm chị, lòng từ của chị ấy rung động được nhiều người,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Được tất cả mọi người, được hân hạnh gần gũi chị ấy.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Thì cái trình độ của chị ấy như vậy đó, nếu ăn con vật, chị ấy có độ được phần Hồn con vật không?

ĐT: Được chớ. Chị ấy tới, chị ấy thấy, chị ấy còn cố gắng Pháp Luân Thường Chuyển nhiều hơn, chị ấy lại cầu siêu cho nó, chị ấy tưởng, “Tôi được thêm một người bạn, và người bạn đó đồng hành với tôi.” Bởi vì bề trên, Đức Di Đà, luôn luôn chứng, Đức Di Đà đã chứng minh rằng: “Tất cả đều hướng về ta, ta độ liền.” Thấy chỗ đó không? Khi mà nó vô được cái ảnh hưởng của chị Tranh, mà chị ấy Niệm Phật, mà nó đồng Niệm Phật, thì nó cũng được cứu. Đức Di Đà cũng nhắc kỹ chỗ này.

BĐ1: Thưa Thầy, nếu mà trường hợp những người nào mà lạm dụng cái ăn uống đó, là mình nghĩ là mình độ nó được, rồi mình lạm dụng nó! Như trường hợp vậy, thì sao?

ĐT: Lạm dụng, không được; lạm dụng thì nó sanh bệnh; nó lạm dụng, nói, “Tui, bây giờ, nghĩa là, tui phải ăn nhậu cho đã, tui hưởng;” cái đó là nó sanh bệnh. Mà, “Tôi có nhiệm vụ độ tha,” thì, “Tôi không có!” Cho nên, người tu, khác; người tu người ta không có tâm trí mà lạm dụng, ăn nhậu, bê tha; không có vụ đó! Người ta đã từ bỏ sự ăn nhậu, bê tha. Bây giờ người ta ý thức cái này là cứu độ, người ta mới làm được; thì càng tu càng minh mẫn, mà càng tu điển càng sáng: cái từ điển nó phát khởi; cái từ điện vị tha nó phát khởi! Chớ không phải xách bánh cho người ta là vị tha; không phải đâu! Cái ở trong mình đây nè, vạn linh trong này, mình không cứu nó! Mình phải dụng từ điển vị tha; thì cái điển mình nó tràn lan ra, nó đúng từ cái ý nghĩa, “Nam Mô A Di Đà Phật;” cái mặt mình càng ngày càng phát quang.

BĐ3: Thưa Thầy, con dê, con bò, hay là con trâu á, ba con đó đều ăn cỏ hết;

ĐT: Ừ.

BĐ3: Nhưng mà không riêng gì Pháp Lý Vô Vi chúng ta, mà tất cả những cái pháp khác, từ cái cách Niệm Bùa tới Thần Quyền đồ, này kia, kia nọ, người ta lại đề ra một điều giống nhau là: con, con trâu, với lại con dê thì rất trược, cữ và cấm không được phép ăn.

ĐT: Bùa phép thì sợ lắm: bùa phép sợ ăn thịt trâu và ăn khế; sợ lắm! Bởi vì nó phá bùa; nó phá bùa; bùa không có hiệu lực! Và nó vật nữa; ăn thịt trâu nó vật liền! Thầy bùa mà ăn thịt trâu thì lộn nhào, lên vách tường, đi lên, đi xuống đồ, rồi chạy tùm lum hết; cấm, không có được!

BĐ4: Tại vì cái trình độ trược của nó quá nặng; phải không Thầy?

ĐT: Không; nó chống lại với bùa phép; rau Má cũng…, à, rau gì…, rau Diếp Cá cũng vậy: trong cái tâm nó, nó chống lại cái bùa phép, nó làm cái bùa phép không còn hiệu lực; nó mạnh lắm.

BĐ4: Thưa Thầy, xin cho phép con có ý kiến thêm về vấn đề chay mặn một chút xíu, bởi vì đây là một cái vấn đề rất quan trọng trong đường tu, mà rất nhiều người còn thắc mắc.

Thì, theo sự theo dõi tìm hiểu ở bên Thầy, thì tui thấy rằng mức độ độ tha của Thầy là tột đỉnh rồi, nhưng mà Thầy rất hạn chế, chỉ, Quý Vị nghe rõ là Thầy nói, khi nào có cơ duyên phải độ thì mới độ. Còn nếu mà đem cái trược của con thú vào cơ thể…; như trong những ngày hôm nay, Thầy làm việc rất nhiều, thì hoàn toàn không có, Thầy không muốn làm việc cơ thể hơn nữa, cho nên tuyệt đối không có, không có nấu mặn cho Thầy ăn!

Và, như Anh Phương nói đó, thì tôi tìm hiểu cái, cái, cái bản thể của mình đó, thì tôi thấy rằng đến khi mà Anh thanh lọc được cơ thể Anh á, thì cái chữ, “Lạm dụng đồ ăn mặn,” không còn có ý nghĩa nữa, vì tới một cái mức độ nào đó Anh thấy miếng thịt, Anh không thèm; Anh thấy con tôm, Anh không thèm. Nếu Anh ăn vì giao tế xã hội, bạn bè, đám cưới, đám tiệc người ta đãi Anh, thì Anh ăn, Anh phải ăn vì giao tế, và Anh về Anh phải độ! Chớ còn, nếu Anh chưa thanh lọc được bản thể Anh, Anh thấy miếng thịt, Anh còn thèm, dù cho giấu đóng lại trong tủ lạnh Anh cũng mở ra Anh ăn. Thì đó là nó tiến hóa theo trình độ tu tập của mình.

Cách đây mấy năm, nhiều khi tôi đút con tôi ăn thì tôi thấy “Chả lụa ngon quá, thịt heo ăn ngon quá,” thì tôi ăn, tôi vẫn còn cảm thấy cái ngon của nó. Nhưng bây giờ, thấy miếng thịt hay là thấy miếng tàu hũ cũng vậy thôi; và khi ăn thì tôi nhai, tôi nghiệm xem cái sự thỏa thích của mình như thế nào; thì đối với cọng rau hay là đối với miếng thịt, không khác nhau; thì tôi tự nghiệm thấy cái sự thanh lọc của mình nó có thay đổi. Thành ra vấn đề chay, mặn là tùy theo trình độ tu tiến của mình; chớ mình không thể thấy ai ăn mặn mà cho là người đó là trần trược. Theo tôi thì tôi nhận xét như vậy.

ĐT: Cho nên, “Tùy duyên trợ hành.” Khi mà mình thức tâm rồi, mình thấy không có ai hưởng hết: nó đang làm việc: máy này làm cái này, miễn là cái máy là đúng rồi: máy này làm cái này, máy này làm cái kia, máy làm cái nọ; để cho cái cơ cấu tiến hóa; chớ không có ai hưởng! Đâu có hưởng gì? Ăn, ngủ, ỉa, nhất định rồi; một ngày tới tối có ba cái công chuyện đó: làm việc! Mà Ông Trời Ổng tinh vi vô cùng: không có mảy may nào lọt; nhờ đó mà Ổng xử tất cả những cái tội: những cái tội ác ôn chừng nào, Ổng có cơ giới để xử tội: tan rã tới cọng rau, cũng còn xử tội, để cho nó tiến hóa! Ghê gớm chưa?

Cho nên, sự tinh vi của Ông Trời là chúng ta tránh không được; không thể nào tránh được! Đừng có tưởng, “Tôi ăn chay, rồi tôi đắc đạo; tôi ăn chay là tôi không có tội!” Có tội tự nhiên! Xuống địa ngục, có tội tự nhiên; vì mình, cái tâm chưa thức, chưa thấy trọn lành mặt, trái: chân lý là tròn, mà mình bóp méo, thì làm sao mình hiểu chân lý? Cho nên, khó ở chỗ đó.

Cho nên, ban đầu, tôi tu tôi rất tinh tấn; đến nỗi tôi ăn cơm với nước sôi chớ tôi không có thèm ăn cái gì hết, trong lúc cải tạo, nghĩa là một tuần tôi ăn sáu, bảy ngày, ăn cơm với nước sôi. Bởi vì sao? Ruồi, muỗi nhiều quá, không có ăn đồ ăn được; cứ đổ nước sôi vô, ăn đại! Nhưng mà nó vẫn khỏe; có gì đâu!

BĐ-4: Thưa Thầy,

ĐT: Cho nên, chúng ta “Nhứt bất sát sanh,” không có cố sát một cái gì: tâm luôn luôn cứu độ, và ý chúng ta luôn luôn giải thoát; thì tùy duyên trợ hành! Ăn được bao nhiêu? Người tu không có ăn nhiều được. Cho nên, tôi chỉ giới hạn cho cái thể xác 5 tới 10 phút là hết rồi; không có vụ 20 phút ăn một bữa ăn; không có; giới hạn bao nhiêu đó thôi; có đói, ráng chịu. Tôi đi tới chỗ đó; nghiêm luật của tôi cũng dữ lắm: 5 tới 10 phút là xong bữa ăn; không có để lâu; cà kê, dê ngỗng, món này, món nọ; không có! Mình giới hạn nó để cho nó dễ tu; vì Lục Căn Lục Trần mà mình thả lỏng á, nó cũng làm trời, làm đất! Cho nên, mình phải giới hạn để mình quản lý và dẫn tiến nó tu.

BĐ4: Thưa Thầy, trong thời gian Thầy ăn cơm với nước lạnh đó, mà Thầy nghĩ tới thịt quay, thịt bò, Thầy có thèm không?

ĐT: Không!

BĐ4: Là vì Thầy đã thanh tịnh. Còn thí dụ như tụi con mà tu chưa có đạt mức thanh tịnh đó, mình biết rằng mình ăn chay để mình nhẹ cơ thể, thì mình biết vậy thôi, mình thức vậy thôi, nhưng mà mình còn thèm; tức là mình chưa thanh tịnh?

ĐT: Ừ, mình còn thèm là chưa; mình còn trược bám ở bên trong: trược hút trược! Thì mình lo làm Pháp Luân nhiều, cái trược nó hết. Ở trong có trược nó mới hút trược; nó thích ăn đó là, “Trược hút trược.” Còn cái này, không có thích.

BĐ4: Như vậy mình chỉ xét mình, đến một cái lúc nào đó mình tự biết mình còn thèm hay không còn thèm; là như vậy là…

ĐT: Ừ. Thèm là trược đó! Còn khi mà độ á, thì khi dọn đồ ăn lên á, thì cái này nó sáng rồi, như cái đèn pha, nó rọi hết: “Thằng nào thằng nấy đứng xếp hàng hết rồi, thôi, bây giờ mình ăn một chút này cho ấm bụng; rồi cái chuyện kia, tui làm sau.” Đó. Mình, ở trong này mình phải tận độ cho nó: ăn rồi, trưa phải lên ngồi giường, cầu nguyện cho nó liền; không có trưa nào tôi không thiền.

BĐ-4: Cho nên, có một hôm, khi đi ăn, được hồng ân đi ăn chung với Thầy, dọn lên một mâm mặn, thì Thầy nói: “Đây nè, bà con họ hàng mình đó, hiện diện ra hết!” Thì lúc đó (cười) trong lòng tôi, tôi tưởng tượng như là mình đang nuốt xác của cha mẹ, dì cô mình gì đó. Lời của Thầy nói, Quý Vị thấy! Thầy thấy được, Thầy nói, “Đây nè, bà con, họ hàng, hiện ra rồi!” Thì tự Quý Vị suy xét.

ĐT: Cho nên, cái duyên nó đến mình mới độ; còn không có duyên, không có độ; không có duyên, không có độ. Bây giờ kêu, bây giờ kêu các bạn lấy dao cắt cổ con gà; chắc không cắt rồi đó; phải không? Rồi họ giết tùm lum đó, rồi mà nó phải có duyên, “Tại sao con gà này, tôi đi ngang, tôi để ý, tôi muốn mua, mà mua không được, thôi chạy đi mua con gà kia!” Sai một chút; tới đó; để độ. Cho nên, nó kỳ diệu vô cùng! Cứ tu đi, rồi nghiệm trong cái Kinh A Di Đà này, nó mở ra; rồi mới thấy, “Té ra, bà con họ hàng mình hết; không có ai!”

Nhưng mà cái quan trọng là phần Hồn: phần Hồn mỗi phần đều bất diệt: tội nào nó hiểu lấy nó. Chớ còn cái mà mình ăn, cái đó không có nghĩa lý gì: đất trả lại đất. Nhưng mà luồng điển, cái đó là quan trọng. Cho nên, mình tu thanh tịnh để mình thấy luồng điển đó là của ai? Cái đó là cái cần thiết. Còn cái miếng ăn kia, không nghĩa lý gì đâu: Anh nhai miếng thịt, rồi Anh đi cầu, nó cũng thành đất thôi! Còn cái điển là quan trọng; cái phần nó đương si mê cái cục thịt đó, mình phải thấy; cái đó, cái quan trọng!

Cho nên, những người mà tu, ăn được một chút, nó mừng lắm! Bởi vì người ta tu, về, người ta niệm Phật, người ta độ cho nó. Còn đằng kia tu á, rồi bắt nó đi lạc nhiều, tu rồi đi chơi bời này, rồi nhậu này; ở trong này nó tùm lum hết trọi á: cái, cái, cái mạnh hiếp yếu, rồi này kia, kia nọ, làm nó cực nhọc vô cùng; mà theo dõi, không bao giờ phát triển được; rồi đâm ra hoang phí, rồi rơi rớt khắp các nơi; không biết chừng nào nó mới có cơ hội tụ lại được! Cho nên, khổ vô cùng. Người tu, không; người tu chỉ gom tụ và độ cho nó; trường hợp có duyên mới độ; không, chúng ta cũng không cần thiết cái đó! Ăn chay nó khỏe hơn.

BĐ5: (nghe không rõ) (18:20)

ĐT: Đó; thì bây giờ Bác thấy, phải thấy rằng cọng rau nó cũng có cái khổ của nó; mà Bác phải Niệm Phật cho nhiều, là Bác độ đó; Bác Niệm Phật là Bác độ cho chúng nó. Nó là “Thụ trảm bá đao” mà! Tội nó nặng hơn con bò mà; tội nặng lắm; không được hưởng cái gì hết đó; sanh ra là bị chặt đầu luôn luôn à!

BĐ4: Kính thưa Thầy, chúng con xin tạ ơn Thầy đã mở trí cho chúng con. Xin mời Thầy nghỉ.

ĐT: Ừ; cảm ơn.

(bạn đạo vỗ tay)

ĐT: Để làm cho xong, để người ta không có thì giờ làm việc. Nào, bây giờ tới phiên ai? Tiếp tục cho hết cái chương trình đó đi; chưa tới giờ mà; còn 4 phút nữa!

Cái này niệm, “Nam” là nó gom ở đây, sáng ở đây; niệm “Mô” chuyển ra đây; rồi “A” nó chuyển ra đây; “Di” nó chuyển; thấy rõ rang là tôi mới ngưng, nó chuyển; thành ra nó chạy đều toàn thân. Niệm cái này không phải là niệm “Í, a” cho có giọng; niệm cái này là phá mê, phá chấp, giải tà khí luôn một lượt một. Hồi nào tới giờ nó chưa nghe lớn như vậy mà.

BĐ6: Nghe lớn quá, Thầy!

ĐT: Mô! Còn cái gì nữa, còn thiếu cái gì nữa, ông Can? Ông đòi cái gì, tôi làm cái nấy, đó; thiếu nấu cho Ông ăn thôi, há?

BĐ7: Thưa Thầy, con lúc này con nghĩ đến cái công đức của Thầy hoằng pháp,

ĐT: Ừ.

BĐ7: Mà cái người thực hiện cái băng đó không được như ý của Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ7: Thành thử ra con thấy cái đó là một cái sự họ làm giảm cái giá trị của Thầy,

ĐT: Ừ.

BĐ7: Như vậy con nghĩ để con làm trở lại,

ĐT: Ừ.

BĐ7: Và con cố gắng bằng sức của mình.

ĐT: Ừ.

BĐ7: Con nghĩ có thể làm được điều gì cho Thầy thì con làm điều đó,

ĐT: Ừ.

BĐ7: Nhưng mà trong trường hợp đó thì con chỉ mong là khi nào Thầy có sức khỏe và cảm thấy thoải mái, có thể làm được, con cố gắng hết lòng.

ĐT: Ừ (cười).

BĐ7: Như, hồi nãy, bạn đạo có người nắm áo giật, người thì gõ lung;

ĐT: Tại họ không biết, tại không biết.

BĐ7: Ông Minh, ổng hăm con: một hồi ổng ra ổng chửi con,

ĐT: (cười)

BĐ8: Thưa Thầy, nếu mà đi bên cạnh Đức Phật thì thứ nhứt là A La Hán.

ĐT: Người ta nhẹ thì kêu làm gì cũng được hà: kêu tôi đi giặt áo, kêu tôi làm cái gì, tôi làm cũng được; làm lẹ hơn mấy người vậy à! Cứ thử chơi vậy à! Nấu ăn cũng lẹ hơn; cái gì cũng lẹ hơn; vá áo cũng vậy, cũng được; làm cái gì cũng được. Cho nên, tu Vô Vi là cái gì cũng phải làm; đừng có nại hà cái gì hết; có thể làm, cứ việc làm; bởi vì mình không có sợ chết nữa; có chết lúc nào cũng, “Cảm ơn;” cứ việc làm.

Bây giờ chị Thanh đâu? Chương trình của chị Tranh? Trốn rồi?

(… Thầy và bạn đạo nói, nghe không rõ…)

BĐ1: Tiếp theo, chiều nay thì anh Thanh ở Sidney; thì xin quý Cô Bác, quý Anh Chị có cái điều gì mà muốn hỏi để mà, trong cái phần thảo luận này, cho nó hào hứng đó; xin kính mời!

BĐ8: Chị Tranh chưa xong; còn của chị ấy.

ĐT: Ừ; để cho chương trình Chị Tranh xong, rồi Con lên; há? Cái nợ của chị ấy, chị ấy phải trả hết cái đã.

(… bạn đạo nói cùng nhau, nghe không rõ)

ĐT: Nhậu chưa? Nhậu rồi hả?

BĐ4: Dạ.

ĐT: Nhậu rồi là nói còn hăng nữa! Rồi; lên!

BĐ9: Thưa Chị, cho em hỏi Chị một câu. Người ta nói tu Vô Vi á, có nhiều người nói á, đề cập tới điển, điển; còn có người nói điển, đề cập tới thì ghét lắm, họ không thích nghe cái đó: “Tôi tu, tôi sửa tâm sửa tánh thôi, chớ còn nói điển, tôi không có nói tới, không đề cập tới.” Như vậy, thưa Chị, như vậy thì người ta chỉ sửa tâm, sửa tánh không, thì có giải thoát được không, Chị?

BĐ4: Theo định nghĩa ngắn gọn của Thầy, thì tu là sửa tâm, sửa tánh. Thì khi mình sửa tâm, sửa tánh tới một cái trình độ mà mình không còn những cái ràng buộc của cái, cái, cái thường tình ở cái, cái đời sống hằng ngày như mình vẫn thường nói, “Thất Tình Lục Dục” đó, thì sẽ được giải thoát, thưa Anh. Còn về cái danh từ “Điển” mà nói, là vì nó là một danh từ rất trừu tượng, mơ hồ, mà những người không thích những cái gì trừu tượng, mơ hồ, mà nói đến nó thì người ta không thích vì người ta cho rằng đó có vẻ như là dị đoan; hay là mình nói một cái gì nó xa vời với cái thực tế, cho nên người ta không thích. Nếu những người chấp vào cái danh từ thì họ không thích.

BĐ9: Nhưng theo em biết thì có Sư Huynh của tui đây nè, là ảnh ghét lắm; nói về điển, điển, hay ấn chứng gì, ảnh ghét lắm. Nhưng mà, mà tôi niệm Lục Tự Di Đà thì trên đầu nó nhột nhột, thì đó là cái gì nếu không phải điển? Thầy nói mình tu Vô Vi là mình tu về điển giới. Thì ảnh, mình, ai nói mà “điển, điển,” ảnh ghét lắm. Như vậy là làm sao?

BĐ4: Theo tôi nghĩ Anh đề cập đến Sư Huynh, thì nói về điển mà ảnh ghét, là vì ở một cái, hình dung tới một cái hình thức nào đó, thí dụ như điển lên, điển xuống. Mà điển, thì nó phải, cũng giống như là mình mở radio vậy, nó phải hợp tần số thì Anh mới thích: radio của Anh ba tần, Anh không thể bắt được tần số bốn tần; thành ra nói tới bốn tần thì ảnh không thích, chẳng hạn vậy; không hạp. Còn những người nào mà người ta bắt được cái tần số đó, tần số điển quang đó, người ta có sự rung động và hòa cảm với cái tần số đó, thì nó sẽ chan hòa, nó sẽ hòa tan vào đó, thì không còn thích hay là không thích nữa. Theo tôi nghĩ là như vậy.

BĐ9: Dạ.

BĐ4: Còn nếu mà có thái độ ghét hay là không ghét đó, thì chỉ là một trạng thái nào đó về một cái thí dụ cụ thể nào đó thôi; chớ, theo tôi nghĩ, chắc là cũng không ghét đâu (cười) !

BĐ9: Cám ơn Chị; xin Anh tha thứ cho tôi.

BĐ1: Dạ, xin phép Thầy,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Xin phép các Anh Chị, điều này có dính tới tôi; nhưng mà tại Dũng hiểu lầm! Tôi thấy, thường thường cái thái độ của một số anh em là nghe nói người nào có điển, rồi chạy theo bám những người đó; rồi đến nỗi ngủ, muốn ôm cái người đó; rồi ngồi thiền lại muốn ngồi trước người đó; thì gây tạo nên cái sự gần như là mê tín. Thành ra không phải là ghét, nhưng mà muốn làm sao cái trình độ của mình tới đâu thì mình ráng cố gắng tới đó. Còn, chạy theo bám người này để mình chia chút điển, chạy theo bám người nọ để mình được sớt một chút gì đó, chẳng hạn; để làm gì vậy? Như vậy thì mình dựa vào tha lực chăng? Thành vì vậy mà tôi có khuyên một số anh em; do đó nên có sự hiểu lầm là “Ghét.” Chớ, thực sự, mình tu là mình tập trung. Cái điển là gì? Là cái lòng từ của mình; mà lòng từ phát ra nhiều á, thì tức có cái sự rung động; thì như vậy tôi quan niệm điển là như vậy. Chớ không phải mình chạy, mình bám người này, rồi mình bám người kia, bám người nọ; riết rồi cái khối Vô Vi biến thành một cái nhóm người mê tín! Như vậy thì người đời người ta nghĩ thế nào? Do đó, nếu mà bị hiểu lầm thì tôi cũng xin chấp nhận.

ĐT: Cho nên, ở Việt Nam cũng có cái vụ điển, điển: “Cái anh đó ảnh có điển, mấy Chị cứ tới đem lưng, cọ!” (bạn đạo cười) Rồi chà sát lên mình người ta! Làm cái gì vậy? Mà Vô Vi đâu có dạy như vậy? Nói, “Anh đó có điển,” rồi chà xát lên mình, lấy bàn tay, lấy này chà, cái này, áo này, đồ. Rồi người ta thấy, “Cái đạo gì kỳ quá vậy?” Cái này cái đạo cọ, chớ không phải đạo Vô Vi đâu! (bạn đạo cười) À! Đó, mấy người nó mượn điển, nó chà điển! Chơi vậy đó! Cái đó là cái, kêu bằng, biến chế! Còn cái đạo người ta, không! Tu tâm, dưỡng tánh, khai minh trí; tự họ hành, tự họ đạt; điển của người đó thì người đó hưởng; làm sao chia sớt cho người khác được? Cho nên, Đức Phật nói rằng: “Con làm bậy, Phật cũng không làm gì hết!” Đi ngang, nó kêu danh Phật, nhưng mà Phật cũng chỉ ngó thôi; thấy nó khóc, rồi đi luôn thôi; đâu có làm gì hơn được? Mà nó đem xác người ta nó cọ vô xác nó! Để làm gì? Cho nên, cái đó, kêu bằng, loạn rồi! Đó; loạn, rồi tưởng là, “Tôi dính được chút điển rồi; tôi hóa phép thần thông được rồi!” Cái đó là tự gạt lấy mình! Thiếu thật thà.

BĐ4: Dạ, kính thưa Thầy, con cũng xin góp ý kiến thêm với Anh Phương, và tiếp theo lời của Thầy, lời minh luận của Thầy.

Là trong khối Vô Vi chúng ta, tôi thì không bao giờ để ý lời khen hay là lời chê của ai cả, nhưng mà hình như mình lạm dụng cái chữ “Điển.” Mình nói với nhau: “người này ‘điển cao,’ người kia ‘điển thấp,’ hay là ‘có điển,’ hay là ‘điển rút;’” thì mình nên dùng cái danh từ “điển” đó nó vào một trường hợp đứng đắn một chút và trong khuôn khổ một chút: thì bạn mình đang tu tiến, không biết có điển chưa, mà mình nói ra, người ta không hiểu rõ, người ta sẽ nghĩ lầm về cái trình độ của người này, hay là người khác; thì mình nên suy nghĩ lại một chút về vấn đề nói chuyện với nhau trong cái việc dùng từ “điển.”

ĐT: Cho nên, người tu Vô Vi có điển, lúc nào lối nói chuyện nó cũng thanh thoát. Như là để anh em nào tu khá, nói, mọi người cảm phục, và quán thông được đối phương, và dẫn giải cho đối phương tiến hóa, thì người đó được đi thăm các thiền đường khác. Và số tiền đó do quỹ anh em đài thọ; tiền đó, tiền không phải là bắt buộc bao nhiêu, nhưng mà tùy thích; cứ để năm này tới năm kia, ít năm, mình có số tiền gởi bạn mình, thí dụ, đi Pháp, đi đâu, để nói Pháp cho người khác nghe, vì người đó đã thuyết phục tất cả mọi người, và người đó đã dùng Thanh Điển để hóa giải những cái tâm tư phiền muộn tối tăm của bạn đạo. Cho nên, người đó là một người hữu ích, đại diện cho khối chúng ta, đi độ chỗ khác; kêu bằng, thực hiện Chương Trình Cứu Khổ Ban Vui!

Chớ cái điển không có thể ăn cắp được, không cách gì ăn cắp được! Lời trong kinh nói, lời tôi nói, nhiều người, ăn cắp, nói lại, cũng không có đúng! Chính họ thực hiện được, trình độ tương đồng, thì họ nói giống như tôi. Đó! Cho nên, các bạn cũng vậy: đừng có lo là “Tôi không có điển.” Lo là, “Tôi không tu. Tôi tu thì tôi sẽ có điển. Điển có sẵn trong tôi, mà trược với thanh thôi; tôi hướng về thanh nhiều thì tôi dồi dào và tôi sáng suốt, tôi có thể cứu khổ ban vui được; nếu mà tôi hướng về đời nhiều thì tôi tăm tối nhiều, tôi làm sao cứu khổ ban vui?”

Cho nên, cái chương trình tu này trong thực hành, chớ đừng có nói biến cái điển thành sự mê tín, rồi đâm ra muốn lợi dụng cái điển! Cái đó là làm chuyện mất công và không cần thiết mà thôi! Rồi, có ai muốn tiếp tục hỏi chị Tranh, lên đây!

BĐ10: Thưa Chị Tranh, một số anh em tu bên Pháp Lý Vô Vi á, họ có kể những trường hợp họ thấy này, thấy kia. Thì tôi có cái thắc mắc là, làm sao mình phân biệt được khi họ thấy như vậy là chiêm bao, do tưởng tượng, hay là do họ xuất Hồn, hay do họ xuất Vía?

BĐ4: Thấy này, thấy kia, là thấy cái gì, Anh?

BĐ10: Thí dụ là có thể là họ thấy Thầy chẳng hạn; nhưng mà, nếu như mà so như ở ngoài đời, chẳng hạn, thí dụ tôi thương cô nào chẳng hạn, thì cũng có thể tối về tôi nằm mơ? Rồi thí dụ như đối với ông Thầy, nhiều khi tui mến ổng, hay là một số người nào đó họ có cảm tình thương Thầy quá, tối họ về họ nằm, cũng có thể là họ nằm mơ? Hay là do cái đó, cũng có thể là họ xuất Vía, hoặc cũng có thể họ xuất Hồn họ gặp ông Thầy? Thành ra, tôi cũng nghe nhiều người nói chuyện “Gặp Thầy,” hay gặp này, gặp kia; thì làm sao mình biết để mình phân biệt được?

BĐ4: A, nếu nói lấy kinh nghiệm bản thân để phân biệt xuất Hồn, xuất Vía thì tôi không có kinh nghiệm bản thân đó, thành ra tôi không thể giải thích cho anh biết được; nhưng mà nhiều bạn đạo nói là xuất Hồn thì trạng thái như thế này, xuất Vía thì trạng thái như thế kia. Nhưng mà Thầy có giải thích cho nhiều người, Thầy nói rằng mỗi một người một trạng thái khác nhau; thành ra trong bạn đạo chúng ta nếu mà muốn có một thí dụ điển hình về xuất Vía là như thế nào, và xuất Hồn là như thế nào, thì xin Thầy cho một cái thí dụ điển hình, bởi vì tụi con cũng được Thầy nói là mỗi một cơ thể, mỗi một người một trạng thái khác nhau. Nhưng mà, nếu có thể, xin Thầy cho biết để anh em chúng con có một cái khái niệm khi nào biết mình xuất Vía, và khi nào biết mình xuất Hồn?

ĐT: Xuất Vía, đại đa số nằm ở chiêm bao: khi chúng ta nằm xuống á, thì cái luồng điện nó đi xuống đây: thấy biển, thấy sông, thấy cảnh; nằm đó. Rồi trong này mình thích chùa chiền, thì thấy nó thể hiện chùa chiền; thấy nhiều người lắm, mà không có biết mặt người nào. Nó nằm. Còn người ta ngồi, khi người ta xuất ra là tỉnh táo như ban ngày, đi rõ rang, từ bước đi, từ nơi đến, từ chỗ nói chuyện. Thành ra nó đòi hỏi công phu nhiều của mỗi cá nhân để xuất Hồn, là trở về quê xưa chôn cũ: mình trở về quê xưa chốn cũ mà mình đi, đứng không được, cũng như nằm chiêm bao; làm sao được?

Rồi, “Tôi đi tới đó, cũng như vậy, rồi chút nữa tôi đi lại, cũng như vậy, chút nữa tôi đi lại, cũng như vậy; không có thay đổi.” Cái đó mới là đi “trở về quê xưa chốn cũ” được.

Cho nên, nó phải có chứng minh rõ rệt. Chớ những người nằm mà thấy cái đó là, kêu bằng, nằm chiêm bao; nằm chiêm bao thấy, là cái phần Vía mà thôi. Còn cái Hồn xuất ra và đi về, phải đi lên, đi trên nóc nhà ra hay là đi xuống, rõ ràng; nó phải có trật tự như vậy. Cho nên, tôi đã nói nhiều, như Ông Tư đã thuật ra trong cái cuốn “Xuất Hồn” là để các bạn đừng có sai lầm: đi rõ rệt, như ban ngày.

BĐ4: Thưa Thầy, khi mà mình xuất ra mà mình không thấy mình, không thấy xác mình, là người ta gọi là xuất Vía? Nhưng mà mình có cảm giác là mình bay, mình nghe gió thổi, rồi mình biết mình bay mạnh, hay là bay chậm, hay là bay mau; bay tới một cái trình độ nào đó, rồi mình trở lại, mình thấy mình bay xuyên qua tường, nhưng mà không thấy được xác. Thì nếu mà, dù một trạng thái xuất ra ở chân, ở bụng, hay là ở đâu, mà không thấy được xác mình, vẫn là xuất Vía; phải không Thầy?

ĐT: Xuất Vía, chớ không có phải xuất Hồn. Xuất Hồn, phải rõ rệt: ra, vô, phải rõ rệt.

BĐ4: Và cụ thể hơn nữa thì, xuất Vía thì mình biết cái, cái sức cản của không khí ở ngoài trời, mình có cảm tưởng như vậy. Còn xuất Hồn thì rất là thanh nhẹ, mình không có cảm giác gì hết, chỉ thấy cái xác.

ĐT: Toàn là mình đi trên mây không à, không có đi cõi thế gian! Bước ra là có đám mây rồi; từ đó là nó bay đi cho chúng ta; cái ý muốn đi đâu, nó bay đi đó; mà chúng ta đi lên cao, lên Bồng Lai Tiên Cảnh, cỡi Hạc là cũng Hạc của trong mình chớ không phải bên ngoài; nó biến thể ra, mình cỡi thì mình đi thôi; chỉ cái ý mình đi thôi. Hễ tới đó, leo lên cây, hái cái trái cây, xuống, ăn ngon ngọt vậy; thấy rõ ràng như vậy; nhưng mà muốn bỏ trong túi để đem về thế gian, đưa cho người ta coi là có bằng chứng; nhưng mà về tới thì thấy cái tay để vậy thôi, mà không có cái trái gì hết; nhưng mà mùi thơm vẫn còn, mùi thơm vẫn còn rõ rệt, thơm ngon vô cùng; rồi ra chợ tìm mấy trái cây, không có cái mùi nào mà bằng cái mùi đó.

BĐ4: Để phân biệt cho rõ là, luôn luôn khi xuất Hồn mà mình trở về bản thể là mình nhìn thấy mình trước, rồi mình mới vào?

ĐT: Chớ sao! Nhưng mà còn những người mà còn nhiệm vụ làm việc á, nó ít có ở trong thể xác; không có trở lại con tim; có nơi ở, ở bên trên. Có về, thì bây giờ, lúc đó khả năng rồi, cái Vía, giao cho cái Vía làm việc, đủ rồi. Chừng nào mà thiếu sót thì ở bên trên chiếu xuống một chút, thì ở dưới này nó làm việc đầy đủ. Trường hợp bất trắc, nghiêm nghị, nó mới giáng lâm; lúc đó là rúng động tất cả: những người ngồi đối diện với nó, thấy trạng thái thay đổi bất ngờ, và rúng động tâm hồn hết. Đó là lúc cái phần Hồn, Chơn Hồn, trở về, nghiêm nghị, trong một lời giáo huấn nào đó; làm mọi người cảm động.

BĐ10: Câu hỏi thứ hai: Thưa Chị á, thì vừa, vừa đây nghĩa là có tin từ Việt Nam ra, là hiện tượng “Đức Kim Thân biến Hồn và Vía đi trên trời.” Thì theo Chị, cái chuyện đó Chị thấy có hợp lý hay không? Bởi vì theo cái thiển cận của tôi đó, thì tôi thấy mình phải tu để mình thanh lọc bản thể, tức là cái phần Hồn mình phải thanh nhẹ lắm mới về được cõi trên; chớ còn nếu mà lấy thân xác, một cái thân xác ngũ hành, mà tôi nghĩ không thể nào một thân xác ngũ hành có thể mà về đến cõi Đại La được! Thì trình độ tôi nó còn giới hạn nhiều; thì cũng nhờ Chị giải tỏa giùm.

BĐ4: Theo tôi hiểu thì có lẽ là Đức Kim Thân đi quy ẩn ở đâu đó, mà không để cho ai thấy hết; rồi người ta nói rằng Hồn với xác của Đức Kim Thân đều đi về trời. Đó là theo sự hiểu biết giới hạn của tui thôi. Còn cái, cái, cái việc mà Hồn và xác có thể đi được cùng một lúc về trời hay không, thì xin nhờ Thầy.

ĐT: Cho nên, lúc tôi còn sống ở Việt Nam, tôi cùng đi với Kim Thân; Kim Thân cũng dụng cái thần lực của chư Tiên để che mắt mọi người. Bởi vì, hồi nào tới giờ tôi không có đi chơi với con gái, nhưng mà Kim Thân rủ tôi đi với Ngài, đi bằng Honda! Tôi nói: “Khó đi lắm, bạn đạo nó xé xác, bởi vì hồi nào giờ tôi đâu có đi với con gái ở ngoài đường!” Nhưng mà Y nói, nghĩa là, “Tao che mắt tụi nó.” Tôi cũng thử coi coi sao. Đi ngang một số bạn đạo, mà không ai thấy! Cho nên Ngài mới nói: “Mày thấy chưa; mấy thằng đó nó đâu có biết, hả! Tao, con gái ngồi với mày đây nè, tại sao nó không tới xé xác? Tao nói che mắt, là che mắt!” Cho nên, cái kỳ ở Khổng Thánh Miếu đó, Ngài cho tự do lên tham gia, và Ngài nói rằng: “Việc của Cha làm, Cha trách nhiệm; các Con cứ yên tâm ngồi đó, Cha sẽ che mắt Công An.” Thì sự thật, bữa đó làm xong, chúng tôi ăn uống, giỡn cợt tới tối mới về.


----
vovilibrary.net >>refresh...