[bắt đầu ID#19860104Q4]

KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: Thầy Gỉảng Kinh LI BÀ ĐA - B/Đ Tập Truyền Pháp - Cuốn 11B

LI BÀ ĐA

Chữ LI BÀ ĐA là chức của nó, gốc nó là lò lửa Lư Hương trước trán con. Mỗi mỗi là điển trong mình con, được làm chức Phật Tử Li Bà Đa. Mỗi vị nào có điển là có chức phận Phật Tử, là nô lệ phụ thuộc của con, để biến hóa trực tiếp theo lệnh sai khiến của con, để thừa hành phận sự. Màu sắc điển của nó chói lọi, hào quang sáng chói, tinh xảo, xanh đỏ vàng trong Mâu Ni Châu, lòe qua lòe lại đủ ba sắc lửa điển để tiếp hào quang cho Con là vị Phật Di Đà, là nghề chuyên môn của Con tu hành cải hóa làm Phật, không làm ma.

Di Đà ơi! Mấy vị Phật tử này, Ma Ha Ca Diếp, là màu lửa sắc vàng đỏ, Ma Ha Ca Chiên Diên là màu lửa vàng đỏ hóa ra, bay đặng, gốc nó cũng là ma, cũng biết bay thấp thấp, do nơi điển lửa Hồn Thư của nó, gọi là một vị Tà, nghĩa là không chơn chánh; điển lửa này cùng Ma Ha Cu Hi La, trong sự bay nhờ điển hơi thở của xác do ba màu sắc nói trên.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên, có những Bạn nói “Tôi tu tôi xuất hồn, tôi đi đây, đi đó;” nhưng mà có những Bạn đã đi trong cái giới ma không à! Đi chơi mà đi trong cái giới ma nhiều lắm; rồi cũng tưởng là mình đi tới Phật đồ này kia kia nọ, không bao giờ thấy Phật đâu! Có những người đi, mà y không bao giờ thấy; thấy ma thì có, nhưng mà y không biết, nó biến cảnh này cảnh nọ. Cho nên, đàng này kêu tu trì ngay trung tim bộ đầu để xuất phát đi lên, không nên nhầm lẫn ở đó. Nhiều người đã đi mười mấy năm mà tôi khuyên trở lại, không trở lại, cứ việc đi, đi ở cái giới ma mà thôi! Cái đó không có lợi lộc. Mà mình tu thì phải tu theo Phật, chớ còn tu mà đi... nó biến cảnh này cảnh nọ... không ích gì cho chính mình. Phải thực tâm trở về không. Ta là cảnh, cảnh là ta mới được. Chớ đừng có ham, “Tôi thấy cái này cái nọ,” là các Bạn sẽ lạc vào trong cái cảnh ma mà không hay!

Vị Phật Tử Li Bà Đa là Ngọc Lưu Li nhưng còn non bé nhỏ.

Di Đà ơi! Con nhớ chăng? Chữ Li là còn non, gọi là Hà Sa: là một đóm lửa nhỏ như cát bay qua, bay lại trước trán con, rồi nhóm lại thành Mâu Ni Châu của con. Nay Con gần thành Phật thì nó là cục Ngọc Lưu Li, nó được đi theo Con làm một luồng điển, Con muốn ngó đâu thấy đó gọi là Ta bà. Còn chữ ĐA là ngó nhiều chừng nào rõ rệt chừng nấy, gọi là Phật Tử Li Bà Đa.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên cái Mâu Ni Châu nó cũng nhiều giai đoạn lắm. Khi mà nó phát ra đó, cũng là Mâu Ni Châu, mà gom lại cũng Mâu Ni Châu. Rồi thay đổi biến lên nhiều màu, mà còn lại một màu cũng là Mâu Ni Châu được thanh lọc, rồi từ đó đi lên, rồi hiểu này hiểu nọ, học đạo. Cái vòng tròn nó bay đâu cũng thấy, rồi mới trụ, rồi trở lại hình thù, mặt mày tay chân. Lúc đó mới bắt đầu đi học, học đạo. Lúc đó mới ngộ được Phật sự. Phật sự mới độ ta, cũng chưa là Phật nữa; còn phải đi tu nữa, đi lên học nữa, rồi ăn hoa quả của Phật, à, rồi đảnh lễ theo Phật, rồi nghe những lời căn dặn của đức Phật, mà trở về để lo tu trì. Rồi lúc đó mình mới đảm đương như một vị Phật, là khác rồi, là phải học nhiều nhồi quả từ đời đạo, ba cõi bị nhồi liên tục, nhưng mà tâm ta vững tin và không thay đổi, bất cứ giá nào cũng không thay đổi. Nghề chuyên môn này nắm được cứ đó mà tu trì.

Cho nên, bị phá phách, bị ma quỷ, bị bóp cổ, bị đủ thứ, ở cõi trên bị tới hà hiếp, nhưng mà cũng trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” lúc đó chúng ta nắm vững chìa khóa trong tay rồi, không bị kẹt nữa, chắc chắn nó hung cách mấy, làm cách mấy, các Bạn cứ trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” rồi nó phải tan. Nhiều cảnh hùng hãi vô cùng, nghĩa là nói tới người phàm là họ có thể điên liền khi mà họ thấy; nhưng mà người tu Vô Vi tới giai đoạn đó là không sợ và có một sự thanh tịnh để ứng dụng ngay tình cảnh đó; với sự thanh tịnh sáng suốt đó làm cho đối phương phải tan rã cấp bách. Chúng ta thấy rằng cái hào quang là vô cùng tận; lúc đó mới thấy giá trị của một vị Phật.

Muốn tu trì phải hết sức dày công mới có thành đạt, chớ không phải dùng cái trí óc phàm mà muốn đạt liền! Không có! Chỉ có đi xuống làm ma làm quỷ thôi! Cho nên, chúng ta phải tu trì, sửa chữa bên trong, nhìn nhận sự sai lầm của chính mình, lập lại trật tự cho chính mình, mới thấy rõ cái điều huyền diệu của Ơn Trên thường trực ban cho chúng ta, và chúng ta phải thường trực hướng thượng để đón nhận cái thanh quang đó, mới thấy cái giá trị.

Châu Lợi Bàn Đà Già

Nghĩa là một luồng lửa trong bản thể Con, lửa trong trái cật Dương thật nóng, châu lưu bản thể Con gọi là Khí dương tinh, rất có ích khi luyện đạo hóa thành hạt Châu; mà nó cũng có thể hại Con lắm: Phải biết tu thì khí này làm cho sáng suốt trí não, rồi nó trở lại giúp cho Mục Kiền Liên, là đôi mắt ta vận động Khí điển tiếp xúc đến chỗ tập trung; luồng điển này ở tại đó lâu ngày, khi công phu đúng lực lượng hóa thành Mâu Ni Châu hay là Xá Lợi, người trần gọi là Tinh khí; nhưng nó cũng làm hại lắm, nếu chúng ta không ngay chánh thì nó đốc xúi chúng ta phải tà tâm, hay là tà dâm bỉ ổi, không còn kể phải, quấy, nhục nhã chi nữa.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên Con người nhiều khi đi tới chỗ hung hăng không còn nghĩ tới cái sự nhục nhã nữa! Mình thấy rõ cái trược nó hoành hành phần hồn rất nhiều. Cho nên người tu thanh tịnh chỉ biết lo niệm Phật và độ tha, để phải phóng cái từ điển mà độ cho đối phương bớt nóng giận; chớ chúng ta không có ùa ra mà cãi vã với họ. Chúng ta đã nắm được cái chuyên môn rồi, xây dựng cái luồng từ điển của chúng ta sẵn có. Những cái trường hợp đó xảy ra ngay trong gia cang hay ngay trong xã hội, chúng ta chỉ thầm niệm hướng thượng một hồi thì chúng ta thấy rằng cái huyền diệu của luồng hào quang thành đạt của chính chúng ta có thể hóa giải đối phương; không phải cái chuyện kêu bằng huyền bí hay là làm kinh ngạc mọi người. Vì chúng ta có tu thì chúng ta thấy cái chuyện đó thông thường: chúng ta có thể độ tha.

Còn những người không tu mà thấy ông đó chắp tay ổng niệm Phật hay là ổng trầm lặng một chút thì cái việc đó nó thay đổi, thì người ta cho đó là huyền bí, mà chúng ta đi trong huyền bí rồi thì không có cái gì kêu là quan trọng hết: đó là sự thông thường mà chưa đạt tới Phật giới đâu; chuyện tầm thường của người tu Vô Vi có thể làm được, với sự thành tâm của nó mà thôi!

Di Đà ơi! Hễ có lợi thì có hại, vì vậy mà khó thành Phật được. Lão Tử có nói “Nhãn Kiến Tâm Động” mắt thấy động lòng, nhưng Di Đà Con nên hiểu rõ, hai mắt là một bộ máy Vô Tuyến Truyền Hình, là một thứ Niết Bàn ghi tội lỗi đời đời kiếp kiếp. Khi Con thác nó cũng đem lại cho Con thấy rõ ràng những sự đã làm để nhìn nhận tội lỗi của con.

Còn câu BÀN ĐÀ GIÀ, chữ BÀN là Niết Bàn để ghi tội lỗi, chữ ĐÀ là Con Lạc Đà bên Ấn Độ cũng loại La Mã nói chung là Con Ngựa, tánh đi tới không thối lui. Giống nó là tâm trí sanh tánh; tánh đốc xúi tâm; người tu hay bị tánh, là cái vía đốc xúi tâm hồn phải đọa trần.

Di Đà ơi! Nếu người tu thức tánh, phải hiểu cặn kẽ lời ta dạy Con đây, mỗi điều hễ có lợi thì có hại; Con hãy minh trí an thần cứu xét kỹ lưỡng mới được.

(Ông Tám giảng:)

Cái gì mà ở thế gian mình thấy lợi là ngược lại nó có cái chuyện hại; phải phòng ngừa cái điều đó.

Di Đà ơi! Khi tu từ sơ thừa thì chúng nó đốc xúi khổ khảo, muốn cho ta mê trần đặng vui sướng theo nó.

Di Đà ơi! Ráng tỉnh trí an thần nghe Con, mới được theo chơn ta.

(Ông Tám giảng:)

Lúc nào có lợi là có hại, và khi mà các Bạn tu, “Tui phải khổ hạnh như thế này. Tôi ăn chay, tôi phải chấp như thế này. Tôi ăn mặn tôi phải chấp như thế này. Tôi làm việc tôi phải chấp theo thế này,” là nó bị phỉnh rồi đó! Nó đóng liền vô trong khuôn, mà khi mình đi tới đó, mình phải quán thông cái lợi hại một lượt, thì mình chỉ thường độ mà thôi, không có bị kẹt, đừng dại bước vô cái chỗ kẹt. Nói: “Tôi chấp cái này, tôi chấp cái kia, cái nọ; tôi tu, tôi phải như vậy, như vậy, tinh khiết... đôi đũa, tôi phải lau chùi 100 lần, tôi mới ăn!” Cái đó còn chấp, nó khó tánh. Khó tánh thì buộc mình vào trong cái chỗ eo hẹp và không tiến triển, càng ngày càng yếu hèn. Còn thức hòa đồng của chúng ta quán thông không có. Chuyện gì chúng ta thấy rồi, sanh trụ hoại diệt rõ ràng, trái mặt một lượt, chúng ta thấy, không có cái gì chấp!

Ông Trời chấp thì ông không có chiếu cho cả càn khôn vũ trụ. Ông Trời thanh sạch hơn chúng ta. Ổng có chỗ đại thanh tịnh thanh sạch hơn chúng ta, mà tại sao Ổng còn phải chuyển hóa luồng điển vào đống phân để được xây dựng hóa hóa sanh sanh hoa quả để nuôi dưỡng những người còn tồn tại trên mặt đất này? Ổng phải điên không? Không! Mà ổng quán thông và ổng thấy việc làm đó hữu ích đời đời và không bị tiêu diệt.

Thì khi chúng ta quán thông thì không bao giờ bị tiêu diệt. Nếu tâm chúng ta chấp thì chúng ta tâm bị thương rồi. Các Bạn tu không nên chấp, tu Vô Vi không nên chấp, tôi kêu nhẫn hòa để đi tới đi! Thì các Bạn sẽ quán thông, mà còn chấp một việc là cái tâm các Bạn bị thương rồi, làm sao Mâu Ni Châu nó xuất phát. Có hòa đồng Mâu Ni Châu nó mới xuất phát. Mà Tâm các Bạn bị thương là không có xuất phát được.

Cho nên trong kinh này cũng dạy rất rõ ràng, khi chúng ta chạm trán một cái gì chúng ta hiểu lợi hại liền. Hai cái một lượt thì chúng ta nắm sự quân bình mà đi. Đất trả lại đất, chớ đâu có đem đi được mà chấp. Chấp trong đất để làm gì; thấy không? Còn chúng ta giữ điển để đi, thì điển nào cũng được thăng hoa mà theo ta, chúng ta dìu tiến nó. Chúng ta có trách nhiệm đó mà thành ra chuyên môn khai hóa tâm trạng để tiến hóa tới vô cùng.

Nan Đà A Nan Đà

Chữ NAN ĐÀ là một thứ điển quang sắc vàng; A NAN ĐÀ là điển quang sắc xanh của trái cật; nó thuộc về thận thủy: Nước điển này có một phần trược khí, hóa sanh loài người, thì ta giúp cho nó một phần nước trên thiên đàng đem xuống, để hợp với thứ nước điển khí của Cha Mẹ Con cấu tạo thành ra Di Đà, để làm việc trong bản thể.

Chữ NAN ĐÀ là Tánh, A NAN ĐÀ là Vía, thuộc về trái cật bên mặt và bên trái của bản thể Con, nơi đường xương sống, phía trong, ngay rún. Ngày giờ phút khắc nào nó cũng cho nước đi châu lưu bản thể Con. Nước là lửa điển, trong ấy có hơi để xung theo; hơi ấy có chất dưỡng khí của ta trên thiên đàng cho xuống tựu nơi trái cật.

Di Đà ơi! Con biết chưa? Nó là chất dưỡng khí để làm nền tảng cho bản thể, thừa hành phận sự mà ta giao phó cho nó, hóa sanh rọi truyền nòi giống cho loài người; hiện giúp cho bản thể làm cho guồng máy Ngũ Tạng làm việc ăn, ngủ, bài tiết, còn một phần tiếp với dưỡng khí của ta, làm cho bản thể Con người sống lâu, mạnh khỏe dưới quyền ta sai khiến.

Di Đà ơi! Trong đấy nó có năm chất loại kim: Gang, Sắt, Thép, Vàng, Bạc, hợp lại hóa thành một chất để thâu phóng, úp mở từ phút khắc làm việc bản thể của nó và hóa sanh nó cũng như cái Magnéto của xe hơi thâu phóng lửa điển hợp thành một thứ Nam Châm (aimant) thâu phóng mạnh hơn hai trái cật, gọi là Thiên Khảm Nhứt của trần, là đầu mối mạch lạc của bản thể nhảy ra là thâu phóng do nơi trái cật, thừa tiếp cho trái tim cùng hoi hóp.

Ba đấng này để bảo trợ bản thể người sống thác, điển này thừa tiếp lệnh NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ, để giáo hóa Ngũ hành. Ta cho phẩm chức của trái cật bên trái cùng bên mặt, bửu danh là NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ gọi là Tánh Vía, để thừa hành phận sự cho tâm thần của chúng ngươi.

Khi ấy, Phật giao quyền Ngũ hành cho NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ, thừa tiếp lệnh ta để sai khiến chúng nó, và thừa hành phận sự của ta theo luồng điển, cái sống sanh tồn cùng là thác.

(Ông Tám giảng:)

Ở đây tại làm sao người ta nói Ngọc Hoàng Thượng Đế nhỏ hơn Phật? Cho nên, Thượng Đế có nhiều giới Thượng Đế: Diêm Vương cũng là Thượng Đế; Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng là Thượng Đế; mà Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn là Hắc Bì Phật. Phải thấy chỗ này! Cái màu huyền đó không ai thay đổi được. Bạn có phóng màu trắng vô nó cũng là đen, mà sửa màu đen thành trắng không được. Cho nên tối thượng ở chỗ đó; nhưng mà người phàm không thấy, nói ông Phật kia lớn hơn. Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn khác à. Ngọc Hoàng, thiếu gì Ngọc Hoàng, chỗ nào lại không có. Cho nên, xưng danh ông vua cũng có thể xưng được Ngọc Hoàng ở thế gian cũng một Thượng Đế nhỏ mà thôi. Cho nên, nhiều người lầm. Cơ bút cũng vậy, nhập xác cũng vậy; lầm ở chỗ đó!

Mà chúng ta có pháp tu thanh tịnh, chúng ta phải giữ pháp mà đi thôi! Không có nghe ông Ngọc Hoàng đó xuống “Tôi phải quỳ, tôi phải làm cái gì;” Vô ích! “Tôi chỉ lo tu để tôi trở về với Đại Thiên Tôn, Đại Thanh Tịnh. Cái đó là cái quan trọng, cái đó là cái chánh. Còn những cái kia mà xuống có làm bùa phép đi nữa cũng chỉ giới hạn mà thôi!” Cho nên người tu Vô Vi không cần thiết suy nghĩ vấn đề đó! Nghe tài liệu để thấy, và để phán xét, lấy cái trí khôn của chúng ta thấy sự thanh tịnh của chúng ta đến đâu, và chúng ta thấy quyền năng của các nơi đang làm việc hỗ trợ cho chư Phật, chư Tiên bằng cách nào. Chúng ta thấy rõ điều đó mà chúng ta cố gắng tu và xây dựng niềm tin, tự đi, và không có còn cầu xin nữa: thực hành cho đến đích.

Thâu là sự thác đem hồn về thiên đàng, còn phóng là cho ra, cho sanh tồn bản thể Con người cùng vận mạng.

Di Đà ơi! Bởi vậy ta hết tâm giáo hóa con, để Con hiểu rõ phận sự tu hành sáng suốt, cái guồng máy của Con người, vận mạng của nó cùng giống men chất là cốt giác nguyên chất phần nào, phò tá linh hồn Con để làm việc cho bản thể, còn Tánh, Vía, bửu pháp của nó là NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ để vận động thừa tiếp bên trong, ăn, ngủ, bài tiết, Lục Căn, phải nghe nó truyền bá. Nó là tánh tình, bóng vía của bản thể.

Còn Lục Trần cũng thừa tiếp NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ là trái cật; thừa tiếp bên ngoài là chơn tay, đầu, mình, da, lông, vật gì hoạt động. Về phần NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ chủ mưu. Sự vận động vật chất do nơi ĐÀ RA NI ĐẾ, CHƠN LĂNG CÀNG ĐẾ, TÌ LÊ NI ĐẾ động đậy, cựa quậy, đánh đập, hung dữ, thuộc về Võ Phật, là một phần khí trược thuộc về hỏa tặc tánh hờn giận nóng nảy, tham sân.

Di Đà ơi! Con hãy dè dặt.

(Ông Tám giảng:)

Nãy giờ các Bạn nghe “Di… Đà…ơi!” Là cái phần trí của các bạn, các Bạn phải ứng nơi đó! “Di Đà ơi!” Là kêu các Bạn đó! Chớ không phải đọc cái cuốn này mà cứ nghĩ tới ông Di Đà là sái (sai) rồi! “Di Đà ơi!” Các Người phải nhận ngay những lời giáo dục đó.

Con hãy dè dặt thừa tiếp cho nó tu hành, hóa Văn Phật, Pháp lý của đức Thích Ca Mâu Ni. Nếu Con không dạy bảo nó học đạo, thì nó được kéo Con trở lại dương thế: hễ Con mê trần thì bị nó lôi cuốn, ta lấy lẽ công không bênh vực thần hồn Con được.

Di Đà ơi! Con ráng cần mẫn xem xét dạy chúng nó được theo Con về nước thiên đàng, hưởng phước đời đời. Còn Con mê trần thì cũng sang trọng vui sướng trong đời, nhưng phải nhớ đầu thai cho trần, không thể về cõi thiên đàng; dầu cho đến đỗi Con ngay thẳng tử tế đi nữa, thì Con được hưởng phước vinh huê phú quý nơi trần mà thôi; nếu Con bị mê trần thái quá, tội lỗi nhiều thì bị sa đọa, làm quỷ ma không đầu; nếu thái quá sa đọa thì bị sa thải thú vật côn trùng.

Di Đà ơi! Ta đã bao phen bảo Ngươi tu hành theo chân ta; lòng ta từ bi bác ái thương con, dạy dỗ nâng đỡ đến cùng; Con ráng tu luyện Pháp lý cho linh hồn Con khỏi đọa lạc trầm luân, nay Con được Á Phật, thì ta hết sức ân cần giúp Con. Nếu Con sa đọa thì Con bị Niết Bàn lôi cuốn nơi trần thế, lẽ công không bênh vị, hộ độ Con được.

Di Đà ơi! Ráng tu luyện theo Pháp Lý để theo chân ta về thiên đàng, Con gắn bó theo lẽ phải ngay thẳng đó con. Đây ta chỉ rõ: Trái cật làm việc cho tiên thiên bộ đầu, giúp việc cho thần Hồn điển quang về phía bên trái. Còn trái cật bên mặt, làm việc cho Tánh, Vía, Võ Phật, luồng Hỏa Hầu.

LA HẦU LA

Nghĩa là nước BA LA MẬT cũng gọi là Cam Lồ, chỉ rõ là nước miếng bản thể Con người.

HẦU là dưới cằm hầu,

LA là La Hán Bồ Tát.

Di Đà ơi! Khi Con luyện đạo lấy lưỡi co lên kề chơn răng, công phu chừng 4 tháng thì nước miếng ấy hóa ra BA LA MẬT, hay là Cam Lồ, do nơi một chất nước theo đường gân tẻ bộ đầu chạy xuống nơi chân răng hợp với cuống vị, đựng trong hầu tì Con. Đó là một chất điển trong sạch để giúp cho bản thể Con nuốt vào thành ra một thứ nước vàng Bao Tử, giúp cho nó tiêu hóa vật thực, hóa ra một chất Cam Lồ, làm cho huyết thanh khí. Hễ công phu luyện đạo thì huyết ấy xung lên mặt mày tươi tắn, da thịt mịn màng, trở thành một người trẻ trung hơn.

Di Đà ơi! Thứ Cam Lồ làm cho người được sống lâu và sức khỏe. Nếu luyện đạo được bền bỉ, thì nước ấy trở thành một hườn Diên Hống, từ trên Hà Đào Thành ngay não của ta rớt xuống phía trong hai lỗ mũi đi ngay xuống cuống họng một hườn tròn, gọi là Diên Hống.

Di Đà ơi! Đó là thuốc Trường Sanh để giúp cho Con sống lâu, sức khỏe dồi dào, bổ túc lại trong lúc Con ngoài đời làm việc cần lao. Nay Con tu, Thầy lấy chất điển trong bản thể tiếp xúc cho Con, khi Con định thần thì Diên Hống rớt xuống. Con nhớ lời Thầy dặn: “Nghiêng bộ đầu qua tay trái, rồi nuốt hườn Diên Hống ấy xuống khỏi cuống vị”. Diên Hống này tan ra trở thành nước thuốc Cam Lồ, giúp cho sự tu luyện khỏe khoắn, sống lâu dồi dào thêm nữa, cho có công quả bồi đức tu hành để đền tội nhỏ nhít, chút ít những lời lẽ vô nghi bỉ ổi của Con. Đó là tội sơ lược không đáng kể vào Niết Bàn, gọi là trừng phạt dạ của trần thế, ham ăn, nói hỗn ẩu.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên, trong này đã dạy từ li từ tí, dạy cái Thủy từ trái cật xung lên cái não; rồi từ ở trên đem cái Diên Hống, nước Cam Lồ là cái bọt nước miếng của chúng ta. Và nền y học hiện tại cũng xác nhận rằng bọt nước miếng là trị bá bệnh trong cơ tạng. Cho nên, các Bạn đã may mắn rằng: co lưỡi răng kề răng niệm Phật và nuốt nước miếng hằng ngày; đó là đã lo trị bệnh tâm lẫn than. Kỳ diệu vô cùng.

Cho nên, càng ngày càng niệm càng nuốt nước miếng thì thấy cái mặt càng ngày càng tươi, thay đổi! Thậm chí những người mặt nám mà ngày nay tu, cố công làm đúng theo pháp mặt mày vẫn tươi và tiêu trừ tất cả những cái nám đó; nám mà thể hiện trên mặt, đó là nạn; mà chúng ta cố gắng tu rồi nó thanh lọc, không còn nám nữa, là cái nạn nó sẽ tiêu trừ. Mà trong nội tạng của chúng ta càng ngày càng nhẹ. Nhờ đâu?

Cho nên, cái pháp này là trường sanh trị bệnh mà người thực hành không trì kỳ chí làm nửa chừng thay đổi, than ván đủ chuyện. Chứ kỳ thật mà chúng ta bỏ kỳ công cho chính ta thì ta sẽ thoát nhiều cõi và không có bị lệ thuộc nữa! Rất rõ ràng tâm lẫn thân, cơ tạng các bạn. Nhiều tai nạn đáng lẽ nó xảy đến khủng khiếp nhưng mà chỉ sơ sài mà thôi! Những cái nạn lớn đó nó muốn áp đảo các Bạn, mà các Bạn có công tu rồi, nó chỉ bệnh hoạn sơ sơ, và ngưng trệ cái kỳ có thể tiến tới giây phút đó nó ngộ nạn, nhưng mà tránh khỏi. Cái chuyện đó là bất ngờ và không cần phải thầy tướng thầy bói nào hết, chỉ nhờ vào sự trật tự của chính mình mà hòa với Thanh Giới thì tự cứu rõ ràng.

Cho nên, cái phương pháp công phu này nó khai hóa nội tâm, nội tạng, từ sớ thịt, từ lỗ chân lông và không có bỏ sót một nơi nào hết. Thì cái tiểu thiên địa này biến thành cái Xá Vệ Quốc, biến hóa trở lại, trật tự rõ rệt. Lời ăn tiếng nói cũng thay đổi. Tại sao nó thay đổi? Các Bạn co lưỡi răng kề răng, hồi trước các Bạn nói xàm nhiều, thì nó kéo, nó lôi các Bạn nói bậy, nói hơn, nói thua. Mà bây giờ các Bạn co lưỡi răng kề răng niệm Phật, thì sự đối đãi giữa nhơn sanh, cái gì cần thiết thì các Bạn nói, mà không cần thiết các Bạn đâu có nói. Thành ra nó không có lầm lỗi gì nhiều, mà nó hướng thượng nó nói những câu thanh cao, cởi mở.

Cho nên, những người hướng thượng ở đây tu rồi cái điển nó rút đi lên. Pháp Lý, tại sao người có thiền theo Pháp Lý đi nói với người thường không có thiền, nói một chập có cảm tình? Vì rút cái trược của người ta đi. Ngồi đó, nói một chập nó rú;, mà nhiều người tâm nó nhẹ rồi, thì nó thấy đi tới nói với đối phương thấy ngực nặng, mà ngực nặng thì mình phải nghĩ sao? Mình hướng về cái tâm, mà mình nói về cái tâm, cái tạng tâm mình mở, mở lần, rồi trụ đảnh, đối phương nó cũng nhẹ. Đương ngồi mình thấy mình mỏi, đối diện với đối phương, mình thấy mình mỏi bên tay trái, thì mình thấy đối phương đã bị tay trái rồi. Cái trược xâm chiếm nó. Cái tà khí xâm chiếm nó. Mình nói cái chuyện nặng của tay trái thì một chập nó khai hết. Nó thấy nó bị thương chỗ đó rồi, vì cái tà khí xâm nhập nó mới sanh ra bệnh. Bất cứ một cái bệnh gì ở thế gian đều tà khí xâm nhập hết, nó mới sanh ra bệnh. Mà chúng ta tu hướng về thanh thì chúng ta rút hướng về thanh nó đâu còn nữa.

Cho nên, những người tu Vô Vi đi thăm bệnh nhân, chỉ rước cái nặng về nhưng mà về chúng ta phải trì niệm Phật nhiều, phải làm Pháp Luân nhiều mới giải được. Có nhiều người ban đêm ngồi thiền nhắm mắt thấy ánh sang, mà bữa nay đi thăm một bệnh nhân trong nhà thương mà thấy họ bệnh nặng quá, mình thật tâm muốn cứu độ họ, tối về mất cái ánh sáng; nhưng mà mình phải chịu, vì cái thanh điển mình bỏ cho họ rồi, mình rước cái trược cho họ; mình phải về thanh lọc ít nhứt hai tuần nó mới khôi phục được; cái sự thiệt thòi đó mình cả mừng và mình học được cái dung. Vì sao? Vì mình biết đường đi, họ không biết đường đi.

Cho nên, cái Kinh này đã giải bày tất cả những cái gút mắc trong nội tạng của chính chúng ta, cho nên các Bạn cố gắng nghiên cứu và nghiền ngẫm trở lại, nghe những gì mà tôi đọc ra và tôi cộng thêm cái luồng điển của Bề Trên, rồi các Bạn từ tâm niệm Phật để nghe lại, thì các Bạn sẽ có chỗ chứa, từ từ do cái công năng công phu, và buông bỏ cái tánh trần tục, và để giáo dục Lục Căn, Lục Trần tiến hóa; thì lúc đó mới có cơ hội chứa đựng được.

Chớ bây giờ nghe thì nghe vậy, nhưng mà nói lại nói không được. Rồi tương lai các Bạn thanh nhẹ, nắm cuốn sách này đọc vừa nghe cái đó, vừa đọc cái này, rồi các Bạn mới thấy thấm thía: Đức Di Đà đã chuyển thẳng luồng điển ngay trung tim bộ đầu của các Bạn trong giờ phút tôi đang chuyển giám và đọc lại những cái kinh của Ngài đã chuyển hóa cho Ông Tư. Thì các Bạn được tận hưởng cái đó, nhưng mà vì quá trược, không có chỗ chứa; thì cố gắng tu thanh đi, rồi mới thấy cái đầu của các Bạn nó tròn vo, hào quang rõ ràng; mới thấy giá trị của thanh tịnh, thấy “Ta là cảnh, cảnh là ta; không còn động nữa.” Lúc đó mới là thật sự tu trong thanh tịnh, và không còn bơ vơ nữa.

ĐT: Bữa nay tới đây ngưng; phải không?

(30:34....)

BĐ: Dạ.

ĐT: Rồi chút nữa sẽ làm nữa.

ĐT: Bữa nay á, là học hết ngày nay rồi; ngày mai á phải lên làm Thầy. Mọi người bây giờ đề cử người nào trước, bầu ứng cử viên, mai đi lên đây nói chuyện. Bây giờ, ờ làm danh sách hết đi; miếng giấy đâu, ghi tên đi.

BĐ1: Có danh sách hết rồi.

ĐT: Nghĩa là tất cả ở đây người ta đưa tay, người ta cử mình là mình lên à, không có nói gì hết; rồi ghi tên ai lên, dạy người mới tu; đó, rồi mấy người ở dưới lên hỏi đạo; ngồi đó, tới đây hỏi đạo. “Bây giờ tôi muốn tu Pháp Lý Vô Vi, Ông dạy tôi làm sao?” Đó, chuyện gia đình đồ, kể lễ cho y nghe, coi thử y nói làm sao;

: (…nghe không rõ.)

ĐT: Thực hành đó, ngày mai là thực hành đó; ngày mai là thực hành đó, để coi Thiền Đường nào tương lai chọn người nào, ngồi thay phiên nhau để giúp những người mới tới tu á. Chớ nói mà coi có đầu, có đuôi, có mạch lạc người ta mới nghe; còn nói tầm bậy rồi chỉ tầm bậy, gây mê tín, người ta tu trật lất, (cười), họ tới họ chửi á!

Chớ hồi trước Anh Yêm, ảnh ở bên Canada đó, ảnh nói không ai nghe tu, thì Ảnh, bắt buộc Ảnh phải nói: “ Tôi chỉ cho, tu 6 tháng thành Phật!” Thì mấy cái ông kia ổng ào ào vô tu 6 tháng không thành cái gì hết, ổng tới ổng hỏi: “Sao?” (Thầy và bạn đạo cười) Ăn thua với Anh Yêm; tôi nói, nghĩa là, “Đâu phải ăn thua với Anh Yêm được! Anh Yêm, cái tâm muốn độ người, ảnh thấy cái pháp này hay, nhưng mà nói hoài người ta không nghe, thì Ảnh mới nói, ‘Sáu tháng tu thành Phật,’. Thì mấy cha tham thành Phật, mấy cha tu, “Thì bây giờ thấy có sức khỏe, tu rồi tu luôn đi! Tu có hữu ích cho Anh, chớ đâu có hữu ích cho Anh Yêm đâu; phải không?”

Rồi có một ông Võ Thanh Vân ở San José, ổng nói “Khó nói quá! Dạy người ta tu khó nói quá;” “Tôi cho Chị cái pháp này, Chị nắm Chị coi kỹ đi! Chị tu, 6 tháng không kết quả, cứ tới đốt nhà tôi!” (Thầy và bạn đạo cười lớn) Bởi vì ảnh khôn, ảnh mua assurance hết rồi, ai dám đốt! (Thầy và bạn đạo cười lớn) Vậy mà có người ta thành! “Thiệt hả? Tôi mà tu không có gì, tới đốt nhà Anh đó!” Ông kia về ổng tu, ổng thấy có kết quả; thét rồi càng ngày càng đông. Ổng nói: “ Vậy đó, mau nhất”. Bởi “Tôi cho cái pháp này mà Anh làm không thành công đó, trong 6 tháng mà không có kết quả gì ở trong bản thể của Anh đó, thì Anh tới đốt nhà tôi!” Chỉ một cái, người ta tới; mà ảnh chỉ đông lắm á! Ảnh chỉ nói có bao nhiêu đó thôi à! Người ta không biết, té ra thằng này nó mua assurance hết rồi; đốt, nó lấy tiền mặt; sướng hơn! (cười)

BĐ2: Thưa Thầy, có cái điều khó nữa đó.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Mình nói thì người ta nghe dữ lắm.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Nhưng mà người ta hỏi, “Vậy chớ Anh tu tới giờ, Anh có sáng được cái gì chưa; có xuất hồn được chưa?”

ĐT: Ừ.

BĐ2: Mình trả lời: “Chưa có”(cười)

ĐT: Bởi vì Anh… tại vì Anh nói quá. Anh nói, “Tui hồi trước tôi bị cái bệnh gì, tánh tình tôi thế nào, nhưng mà bây giờ tôi tu tôi thấy tôi đỡ; mà bây giờ tôi có sự kiên nhẫn ngồi nói chuyện với Anh đây nè, và nói hồi nãy tới giờ Anh thông cảm rằng chính Anh phải hành cho chính Anh, thì Anh thấy rõ sự thay đổi của tôi rồi. Còn cái chuyện xuất hồn, đó là tôi có nói tôi xuất hồn thì tôi biết thôi, chớ Anh đâu có thấy hồn của tôi mà tôi nói; phải không? Thì cái chuyện đó, nói vô ích. Nhưng mà bây giờ cái kết quả tánh tình và lời ăn tiếng nói của tôi, Anh thấy thay đổi chưa?” Đó là Anh chứng minh điều đó được rồi.

BĐ2: Dạ, thưa; cái đó thì mình buộc người ta dễ.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Nhưng khi phát tài liệu ra đó.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Thì người ta đọc hết đi, rồi người ta sẽ mời lại, người ta sẽ hỏi thế này, thế kia, thế họ biểu mình giải thích.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Chớ không phải người ta, bởi người ta biết tu chút đỉnh rồi

ĐT: Ừ.

BĐ2: Thì người ta hỏi tới mấy cái chỗ đó, mình giải thích cho người ta, rồi cái người ta quay trở lại người ta hỏi mình;

ĐT: Ừ.

BĐ2: thì mình đâu có dám nói dóc.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Đó. Thành ra, rồi người ta nói: “Ủa, sao Anh tu lâu rồi mà Anh chưa đạt cái gì?” Cái làm như họ cũng hơi chán.

ĐT: Thì Anh có thể đếm cái mà thành công của Anh.

BĐ2: Dạ.

ĐT: Trước kia Anh làm sao, bây giờ Anh làm sao; Anh nói Anh mới đi tới đó thôi.

BĐ2: Dạ.

ĐT: Anh thành thật với chính Anh nói, “Có bao nhiêu;” Anh đừng có nói “Tôi xuất hồn.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: Rồi Anh có thể chứng minh cho họ biết rằng: “Cái hồn tôi từ ở trên xuống đây, chớ không phải là không có đường đi;”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Tôi nhập xác rồi.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Mà tôi, vì sự bận rộn cơ thể của tôi, tôi chưa quân bình. Quân bình rồi thì nháy mắt tôi đi về Trời; chớ không lý tôi ở đây đâu!” Phải không?

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Tôi đến được là tôi đi được; không có gì đâu; mà Anh hỏi thắc mắc cái chuyện xuất hồn.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Thì Anh cũng đến đây, và Anh đang bị giam trong sự khó khan, và không có giải quyết được; và Anh không biết ngày mai Anh sẽ đi đâu; vì đó Anh mới lập lại quân bình, lập lại sức khỏe trước hết để Anh ứng phó với hoàn cảnh hiện tại.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Rồi tương lai Anh thanh tịnh là Anh đi về, chớ có cái gì đâu; thì chúng ta từ thanh tịnh giáng lâm xuống đây; thì bây giờ trong thanh tịnh thì trở về; chớ có gì đâu?”

BĐ2: Dạ.

ĐT: Có khó không? Những lời đó ở trong túi Anh có hết đó,

BĐ2: Dạ.

ĐT: Mà Anh không chịu sắp. Anh nói: “Chu cha! xuất hồn, tôi cũng chưa có xuất hồn; ông đừng hỏi vụ đó tôi sợ quá!” (bạn đạo cười) Ai mà dám tu! phải không? (cười) Thì sự thật là mình gan đầy mình: từ trên Trời mình nhảy cái ọc xuống đây là mình gan đầy mình: từ miệng giếng nhảy xuống dưới đáy giếng mà, gan đầy mình rồi mà; mà sợ gì nữa? Thấy không?

BĐ3: Dạ, thưa Thầy; nghe Thầy nói thì câu nào cũng tròn vo.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Nhưng chúng Con tới đó là bế tắc à.

ĐT: Đâu có gì đâu mà bế tắc. Cho nên, ngày mai sẽ biết bế tắc hay không! Cái thứ kì cục nó lên hỏi Anh; ngày mai lên đây ngồi, rồi nó sẽ hỏi. À!

BĐ4: Dạ, thưa Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Sydney tụi con, thì chúng con xin đề cử Anh Hữu.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Dạ, bị Anh Hữu, Con xin giới thiệu Anh Hữu với các anh em: đó là Anh Hữu phát tâm rất lớn,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Phát tâm cứu độ rất lớn, và Anh đã có nhiều kinh nghiệm,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Trong cái việc mà giảng pháp cũng như là nói đạo cho các Bạn đạo; các Bạn đạo mới tìm hiểu tìm học.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì đây cũng là một cái dịp để Anh Hữu cũng được học hỏi thêm, cũng như chúng ta cũng được thu thập thêm kinh nghiệm của Anh Hữu,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Để rồi chúng ta sẽ bổ sung thêm bằng những cái buổi thảo luận,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Bằng rút ưu khuyết điểm.

ĐT: Rồi, ghi tên Anh Hữu một cái. Rồi bây giờ Anh Hữu bầu ai? Anh Hữu cũng có quyền bầu người khác vậy.

BĐ5: Dạ, ở Melbourne, con xin bầu Anh Hiếu, mặc dầu ảnh nhỏ nhưng mà được;

ĐT: Rồi được, anh Hiếu! Ghi tên anh Hiếu, Sydney; lấy viết viết vô; anh Hiếu, anh Hữu, Sydney; rồi, Anh Hữu bầu ai?

BĐ5: Dạ, cảm ơn Anh Phương! Sự thật đáng lẽ thì Anh Phương phải lên trước.

ĐT: Trước, sau, gì? Anh được bầu thì Anh lên trước. Mình giảng đạo, không có sợ; rồi, Anh bầu ai?

BĐ5: Nhưng mà phải thành thật công nhận rằng ở cái Thiền Đường Sydney đó, Anh Phương đóng cái vai trò quan trọng là những cái buổi thảo luận đồ, đặc biệt là anh em đến không có rành cái này kia, thì Anh Phương hướng dẫn từ hồi trước tới nay mấy năm rồi.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Thì, ví dụ Anh Phương đã có nhã ý bầu con thì con cám ơn, con xin nhận để học hỏi thêm.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà Anh Phương cũng nên lên để học hỏi thêm với Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Đặng mà về chỉ dẫn cho anh em cho có hiệu quả hơn.

ĐT: Rồi, ghi tên Anh Phương vô; vậy đó, dễ ợt! À; ghi tên Anh Phương; rồi.

BĐ6: Ở Melbourne, tôi xin nhường lại cho Anh Hòa và Anh Bang, có thể lên thuyết giảng được không ạ?

ĐT: Không có nhường; người ta bầu mình rồi thì không có nhường:

BĐ6:

ĐT: Mình cũng miệng, cũng nước miếng như người ta; nói đại; nó ra cái gì thì ra! (cười) Thế nào Chị Yến cũng được bầu nói đạo.

BĐ7: Xin đề nghị Chị Tranh.

BĐ8: Dạ, Con không biết nói cái gì.

ĐT: Sao không biết? Biết đi chợ nè, biết mua bánh nè, biết mua đậu hũ nè, biết xào nè, chế món này, món nọ; là đạo chớ gì nữa?

BĐ8: Dạ, con chế tùm lum.

ĐT: “Ăn vô cái nó an dạ, thanh tịnh liền!” Tại sao không biết nói cái đó? (cười)

BĐ9: Dạ, xin đề nghị Chị Tranh có thể lên thuyết giảng được?

ĐT: Rồi, Chị Tranh; ghi tên Chị Tranh vô; vậy thôi, từ từ người ta thấy hay rồi anh em tới: “Dạ, Chị làm ơn chỉ cho em tu, em bị vợ bỏ, khổ quá; Chị làm ơn cắt nghĩa!” (bạn đạo cười) Coi thử Chị cắt nghĩa làm sao; phải không? Đó; rồi Chị phải làm cho mình phấn khởi, vui lên, này kia, kia nọ. Cái mục đó quan trọng đó; phải không? Rồi Chị mới bắt đầu muốn giải tỏa những phiền muộn sái quấy giữa Anh Chị, thì phải niệm “Nam Mô A Di Đà Phật;” giá trị của “Nam Mô A Di Đà Phật” là sao, sao, sao, sao; chính bản thân Chị đã đạt như thế nào, Chị nói lại; rồi Chị chỉ cho người ta tu.

BĐ10: Dạ, thưa Cha; tụi Con ghi hết tên bỏ vô trong cái nón của Cha, Cha xào, Cha bốc ra, trúng ai người đó lên.

ĐT: Không được, không được; bởi vì, nghĩa là, cái này Bạn đạo là ông Trời mà! Ổng chỉ là phải lên, (bạn đạo cười) không phải giỡn. Rồi, bây giờ mọi người đồng ý Chị Tranh không? Đưa tay lên; ok!

BĐ10: Dạ!

ĐT: Rồi, đó; vậy là ông Trời kêu rồi, không có thay đổi.

BĐ10: Thưa Thầy, như vậy mỗi tiểu bang…

ĐT: Ờ, rồi sẽ còn nữa, còn nữa, còn nữa; (bạn đạo cười) bây giờ còn ai nữa cứ kêu lần sẽ ra à; rồi.

BĐ10: Thầy xin đề nghị chị…

ĐT: Còn cái ông mà làm Pháp Luân lắc đầu quá, chắc không ai cử? (cười)

BĐ10: Số một ở Melbourne đó Thầy.

ĐT: Số một ở Melbourne, mà ổng lắc quá người ta sợ! (Thầy cùng bạn đạo cười)

BĐ10: Anh đã có thành tích nhiều lắm rồi.

ĐT: Rồi, bầu ổng đi! Chịu không, có ai đồng ý không?

BĐ11: Dạ, đồng ý.

ĐT: Đồng ý, đồng ý, đồng ý; rồi, đưa tay, rồi ok;

BĐ10: Ghi Anh Tân vô;

ĐT: Ghi Anh Tân vô; rồi còn ai nữa? À, rồi, Chị Hai ở Perth! Rồi, đưa tay lên; ai đưa tay lên; ai đưa tay? Adelaid, Anh Sanh, Anh Sanh phải không? Anh Sanh; ai đồng ý không?

BĐ11: Dạ, đồng ý!

ĐT: Anh Sanh; thì đủ người rồi! Mỗi chỗ ít nhất hai tới ba người, bởi vì bữa nay người này đi làm, người kia đi tới, “Tôi, bây giờ tôi muốn gặp Anh Sanh. Anh Sanh nói không gặp được, thì tôi gặp Anh Quang. Ok!” Cũng như nói một thứ: dạy người ta tu; thấy không?

BĐ12: Dạ, con thưa Thầy Sydney, thưa Thầy, dì Bảy, với anh Cang.

ĐT: Ừ; ở đâu?

BĐ12: Dạ, Sydney.

ĐT: Ở Sydney? ờ; ghi tên vô. Ừ; anh Cang; có ai đồng ý không?

: Dạ!

ĐT: Bởi vì người ta dạy nhiều giới: như Anh Cang là dạy thứ, kêu bằng, thứ cựu, thứ dữ đó! Anh Cang ra dạy, hiểu không? “Đạo Anh là cái thớ gì,”

[kết thúc ID#19860104Q4]


----
vovilibrary.net >>refresh...