19860103Q6

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Qủe" Bạn Đạo Chọn - Cuốn 9B

ĐT: Cái thứ đó mới là ở Địa Ngục A Tì: nó có từng lớp, cửa nhẹ có, cửa nặng có, tùy theo cái tội trạng; những người bị lôi cuốn bởi Lục Căn, Lục Trần, thì khi chết thì chỉ có đi xuống Địa Ngục thôi: Lục Căn, Lục Trần làm những điều ác, bảo thủ phạm vi hẹp, tăm tối, thì chết ra là hắc bạch không phân minh; theo Lục Căn, Lục Trần, nhiều khi nó bảo mình phải trả thù; trong một kiếp người mình thế nào cũng trả thù mấy cú; cái đó là cái tội rồi, làm cho đối phương điêu đứng.

Hại người ta, thì cái người bị hại đó nó đâu có chết. Chúng ta chết, xuống Địa Ngục, thì người bị hại nó cũng ở Địa Ngục; nó sẽ thưa ta: nó vẫn còn sống. Cho nên, những người tu, biết được cái hồn bất diệt, là không làm điều sái quấy: “Hồn tôi bất diệt, mà tôi làm điều sái quấy, tôi gạt người đó, rồi bữa sau người đó thưa, tôi làm sao? Thưa thì tôi phải bị ở tù!” Thấy không?

Cái Địa Ngục là do chúng sanh muốn làm bậy thì nhập vô cái khối bậy; mà Thượng Đế sắp đặt là luôn luôn đều là tự động, trật tự: người nào tham lam thì buộc vào cái tội nào, tự động vô đó khai hết; là chính cái ý muốn của mình đã làm như vậy; và mình hại người nào thì tự nhiên cái hồ sơ nó hiển hiện trong tâm thức của chúng ta, tự nhiên khai hết.

Cho nên, có người tội nặng thì ở theo nặng, mà nhẹ thì ở theo nhẹ; nhiều người nhẹ người ta chỉ ở có 2, 3 năm người ta được đi tu rồi; người ta đi nghe giảng đạo, được đi tu rồi; người ta nghe hướng về đạo nào thì ở đó người ta kéo đi tu rồi; có người 3 năm, có người 30 năm, có người suốt cả một, mấy ngàn năm, cũng không có được phát triển nhưng mà chỉ có chờ lệnh của Thượng Đế mà làm việc thôi, là công cụ của Ngài mà thôi.

Lật ra, chớ không có được lựa; không có được lưa; đó, lật ra; đó; chỗ nào? Bên mặt hay bên trái, muốn? Ờ, vậy nó mới ấy chớ! Còn đứng lựa, đâu có hay!

BĐ1: Lựa không công bằng

ĐT: Lựa không công bằng.

Tế Phật: Thân con mang đại mệnh phổ độ chúng sinh, ngày nay mới có vinh hạnh nhận lãnh thánh chức, phụng chỉ dạo ba cõi trước tác sách quý, có thể nói là kim cổ kì tài, đảm trách việc độ pháp giống đức Như Lai, vì vậy thầy cùng gánh sứ mệnh này, cho nên thầy trò mới đồng thuyền chung vượt khó khăn. Chỉ mong chúng sinh dưới gầm trời đọc thiên Du Ký này chớ có như kẻ phóng ngựa xem hoa mà phải nhớ kĩ sơ đồ chỉ dẫn để chuẩn bị cho việc lên thăm Thánh cảnh tương lai.

(Lời minh giải của đức ThầyJ Nghe cho kỹ. Bởi vậy “Trăm nghe không bằng một thấy:” phải đích thân thấy cảnh mới có giá trị; còn không, chỉ là xem cảnh qua bản đồ, há chẳng cách biệt nhau quá xa ư? Bữa nay thầy trò mình lên đường đi thăm cảnh giới khác. Đã tới nơi.

Dương Sinh: Phía trước kiến trúc nhiều cung điện trang nghiêm, hùng vĩ vẻ cổ xưa, vàng phủ đầy đất, mây lành trùng trùng, bậc thang lớp lang, kì hoa dị thảo mọc đầy bốn phía ngắm nhìn lòng thư thái lâng lâng.

Tế Phật: Đây là điện phủ Tam Quan, bữa nay phải bái hội đức Thiên Quan Nghiêu Đế trước.

Dương Sinh: Thưa vâng, theo thầy đi lên bậc thang, thân nhẹ như lông không giống như lên thang lầu ở thế gian bước đi cảm thấy nặng nề, không hiểu tại sao?

Tế Phật: Đây là cảnh Địa Chân Không, kẻ không có nghiệp chướng mới lên tới nổi, sở dĩ khi lên tới đây con cảm thấy thân thể nhẹ nhàng là vì giới tiên phong đạo cốt có thể đi lại dễ dàng, thân tâm quả là thanh tịnh, chỉ nhún mình một cái liền băng xa cả ngàn dặm, có thể cưỡi gió đè mây, cất bước nhẹ bay. Thế nhân bình thời cũng phải luyện thứ công phu này, còn không sẽ chẳng nhúc nhích nổi, sẽ bị vô thường bắt buộc đi đường bộ.

Dương Sinh: Lời dạy của ân sư rất cao siêu. Phía trước có một ngôi điện lớn, trên có đề ba chữ “Tử Vi Cung” tức cung Tử Vi, có lẽ là nơi đức Thiên Quan Đại Đế ngự?

Tế Phật: Đó chính là nơi đức Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tích Phúc Thiên Quan Đại Đế ngự, chúng ta mau tới trước làm lễ ra mắt Ngài.

Dương Sinh: Một vị mặc áo rồng vàng ngồi trong điện, đầu đội mũ kim long, tay cầm thẻ thánh chầu trời, dung mạo uy nghi, hai bên còn có rất nhiều các tiên quan y phục chỉnh tề tỏ ý đang chờ nghinh tiếp... Đệ tử Dương Thiện Sinh lạy mừng ra mắt đức Thiên Quan Đại Đế, bữa nay đệ tử theo gót thầy tới đây, kính xin đại đế ban ân phước chỉ dạy cho.

Tiên Quan Đại Đế: Lành thay, từ chốn phàm trần mà Dương Thiện Sinh có thể lên được tới điện Thiên Quan đã là đại phước rồi, há còn cần ban ơn phước nữa sao? Dương Sinh phụng chỉ theo thầy là Tế Phật dạo thăm cõi trời hỏi đạo viết sách, phổ độ chúng sinh, lòng tôi vô cùng hoan hỉ. Tam Tào mở Thánh hội, chư vị Thánh Tiên Phật cùng nghị bàn, đức Dao Trì ban ý chỉ, đức Ngọc Đế ban ngọc chỉ, tam quan chấp thuận bữa nay mới có thể đi suốt ba cõi biên soạn sách trời.

Phàm chúng sinh dưới gầm trời sau khi đọc sách Du Ký có thể cải ác theo thiện, tu đạo lập đức, ắt tam quan có thể ban ân phước giải nguy khốn, trừ oan khiên, cho nên trọng trách mà Dương Sinh đang đảm nhận mới quá lớn lao, bữa nay tới đây quả là cuộc kì ngộ, xin mời ngồi. Tiên Quan, hãy mau dâng trà.

Dương Sinh: Đại Đế quá thương tình, đệ tử vô cùng cảm kích.

Đại Đế: Chớ ngại, ba cõi trong ngoài chỉ có đạo là độc tôn, chỉ cần tu đạo lớn, ra sức thực hành thánh đức, ắt trời người hợp nhất, thánh phàm tương đồng, chớ có e ngại.

Lời minh giải của đức Thầy: Nói: “ Thánh phàm tương đồng” là thánh và phàm nhơn tương đồng với nhau

Tế Phật: Xin mạn phép ngồi, Đại Đế đã ra lệnh, lễ phép không bằng tuân theo lệnh của Đại Đế.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã ban ân, đệ tử tuân lệnh xin phép được ngồi. Ngồi xuống ghế cảm giác ban đầu lạnh băng, song lần lần tinh thần thư thái nhẹ nhàng, chẳng rõ vì nguyên nhân gì?

Đại Đế: Đất này là khí của cõi trời chín khí (cửu khí), tất cả đều là bảo vật, Dương Sinh là người phàm, ngồi trên ghế quý, chín khí lưu hành cho nên có cảm giác như vậy.

Dương Sinh: Thì ra nguyên nhân là như vậy, đã ngồi xuống rồi là không muốn đứng lên, tuy không phải là ghế nệm song vẫn thấy êm ái lạ kì.

Đại Đế: Ghế này làm bằng đá quý rất cứng, song khi ngồi lại có cảm giác êm ái là vì nhờ có chân khí vận hành. Đá cứng có đời sống nên còn gọi là đá sống, từ cứng hóa mềm, từ chết sống lại, như kẻ tâm dạ sắt đá cảm hóa được thì lại trở nên hiền lành nhu nhuyễn, sức sống tự nhiên hoạt bát sinh động. Dương Sinh hiện thời ngồi trên đá song người với đá đã hợp làm một, do đó mới có cảm giác như vậy.

Dương Sinh: Thưa tại sao người và đá lại có thể hợp nhất?

Đại Đế: Xương người khi hóa cứng so với đá chẳng khác chi, nên gọi là “hóa đá”. Người chết đất vùi thành đống, cho nên người với đá vốn vẫn như nhau. Giờ Dương Sinh ngồi trên đá, phía trên có “nhân đầu”, phía dưới có “thạch đầu”, cả hai cùng hấp khí cho nên gọi là “hợp nhất”. Phàm những người ngồi yên lặng, dưới hấp khí đất (do đầu đá hút khí lên), trên hấp khí trời (do đầu người hút khí xuống), lâu sau khí dày kết thành đan, sinh ra “thạch tử” tức đá con. Hiện thời lại không giống vậy, vì Dương Sinh ngồi trên trời, dưới hấp thiên khí, trên hấp địa khí đảo điên quay tròn, lẽ siêu diệu chỉ có một mình mình chứng ngộ.

Dương Sinh: Ngồi trên trời ngó xuống đất, thân tuy đảo ngược song tâm lại tự tại, cho nên chân đạp trời đầu đội đất, một điểm hư linh treo ở giữa không trung, muôn trượng biển khổ gội tóc ô uế, thưa có đúng như vậy chăng?

Đại Đế: Đúng như vậy, người phàm chân đạp đất, người tiên chân đạp trời, thánh phàm công phu không giống nhau, kẻ đi trên không (hành vân) chân chẳng chạm đất mới là Tiên Phật, thế nhân có thể như vậy được không? Nếu như có kẻ siêu nhân có được năng lực ấy đã đắc đạo quả, có thể quan sát trái cây chẳng treo lơ lửng giữa không trung sao? Người đời tu luyện công phu, trước tiên coi nhẹ tình dục, còn nếu như không chịu buông bỏ cứ khư khư nắm lấy để trở thành quá trọng tình đa dục, lúc lên đường khí kiệt thở dốc, tới cảnh địa hư không sợ rằng tinh cùng lực kiệt, mê man muốn tắt thở. Buông bỏ tất cả, hai tay áo lộng gió trong, hai bàn tay trống rỗng, tung cánh có thể bay mau, mong chúng sinh hãy lên một tầng lầu, nhìn rõ trời đất, cảm ngộ huyền diệu. Tâm sáng như gương, tính định như thủy, ắt thiên nhãn mở, tâm có thể nhìn thấy tính trời tức là rõ thiên đạo, cưỡi gió đè mây, tự tìm được đường. Mời Dương Thiện Sinh dùng trà.

Dương Sinh: Đại Đế chỉ dạy ít lời song đã giúp đệ tử còn hơn mười năm đọc sách ở thế gian, đệ tử đã nghe thấu lẽ đạo, cảm tạ đức lớn của Đại Đế. Tách trà đặc biệt nơi thượng giới trong suốt tới đáy, cúi nhìn thấy rõ mặt mũi mình nổi trên mặt nước, giống hệt bức hình chụp... Uống xong tuy vô vị nhưng lại cảm thấy sự mát mẻ thấm vào tận tâm can.

Đại Đế: Đó là bản lai diện mục chân chính của Dương Sinh, là tự tính chân nhân (Phật), vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, nay có thể nổi trên mặt nước, đủ chứng tỏ là cao minh chân chính, đi trên mây trên nước tiêu dao tự tại. Trong nước nhìn thấy chân diện mục, miệng uống nước bản tính có thể tẩy trừ được uế khí, khai thông trí tuệ, thông thần nhập chân.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã khai thị, Đại Đế giữ địa vị đứng đầu tam quan, kính xin Đại Đế cho biết lai lịch uyên nguyên cùng tình hình thánh chức ở cõi trời?

Đại Đế: Lành thay, xin lược thuật về lai lịch đạo, để thế nhân được tỏ tường. Thuở ban đầu hỗn độn, huyền hoàng cắt chia rồi sau bắt đầu định trời đất. Lúc đó Ngũ Lão hóa làm tam đế là thiên quan, địa quan, thủy quan để cai quản lo liệu ba cõi trời, đất và nước, tra hỏi công với tội của người hầu định họa phước của chúng sinh.

Tôi là Thượng Nguyên Thiên Quan, Nhất Phẩm Nguyên Dương Huyền Đô, ngự ở giữa cung Tử Vi, trông coi về hành động thiện ác của chúng sinh, cùng nắm quyền thăng giáng chư Tiên, có biệt hiệu là Thượng Nguyên Cửu Khí Tứ Phúc Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân, từng hóa sinh làm Nghiêu Đế. Phàm các tinh tú cùng các bậc cao chân, đạo quả của họ nếu như tiến bộ hoặc thần thánh thuộc cõi trời đất phổ hóa chúng sinh, có công cứu thế phò nguy sau khi được tôi coi xét chuyển trình lên Ngọc Đế để ngài căn cứ vào công đức ấy mà thăng cấp cho.

Như các chư tiên thuộc cõi trời, chư thánh thuộc cõi đất không làm tròn bổn phận, hoặc phạm lỗi, sai lầm, sau khi tôi tra xét tỏ tường, liền chuyển báo lên đức Ngọc Đế để giáng chức ngay. Trên đây là nói về thần thánh thuộc cõi trung hạ giới, còn như các vị đắc đạo cao minh, quả vị được vào cõi vô cực, không còn chịu luân hồi thì các vị đó không thuộc sự cai quản ở đây. Còn những nguyên linh thành đạo ở cõi thế gian cũng phải trải qua sự khảo hạch của Tam Quan mới được căn cứ vào công để chứng quả. Phàm nhân thiện ác đều có ghi đầy đủ trong sổ, người đời phải cầu phước tránh xa họa quyết định một trong hai đường thiện ác.

Chúng sinh nếu như vận mệnh muôn việc phần lớn không thuận, kiếp trước lại tạo nghiệp đa đoan, đời này nếu như sám hối trước Thần Thánh, phát nguyện hành thiện, Thiên Quan có thể ban phước cho họ. Nếu như có con hiếu thảo phát nguyện cầu phước thọ cho cha mẹ, lòng hiếu cảm thấu tới trời, thiên quan ắt cũng giáng phước cho người. Tam quan vốn cùng chung một thể chỉ dốc lòng thương người cứu đời, cho nên chuyên ban phước, xá tội, giải nguy, tế độ kẻ hoạn nạn khổ đau, nếu như người đời trên ứng lẽ trời, dưới thuận nhân luân ắt hễ cầu là ứng.

Dương Sinh: Lắng nghe Thiên Quan nói xong mới hay rằng phước họa do người tự chuốc, còn Thiên Quan thì lòng Tiên dạ Phật, dốc lòng ban bố ân phước cho người đời, quả là tâm trời cảm hóa người.

Đại Đế: Trời với người vốn hợp nhất, mong chúng sinh tuân theo lẽ trời, giữ đúng đạo người ắt trời và người hợp nhất, có thể tu tới quả vị cảnh giới vô cực. Bữa nay Dương Sinh tới đây tôi xin hướng dẫn đi thăm để rõ sự tình.

Dương Sinh: Xin vâng, đức Đại Đế tàng trữ quá nhiều án lệnh, việc xét xử chắc là cũng bề bộn lắm!

Đại Đế: Nhân hiện nay người đời thiện ác gần bằng nhau, may mắn là kẻ hồi tâm hướng thiện cũng nhiều, do đó việc xét xử công quả là nhiệm vụ của Thánh trao cho cũng có nhiều kết quả. Song sánh với các miền do các tào khác quản trị thì cơ quan của tôi lãnh nhiệm vụ xét xử tối hậu, cho nên thần lực lớn rộng, không hoảng hốt hoang mang. Dương Thiện Sinh đạo căn thâm hậu, bữa nay tới đây tôi mới tiết lậu một số điểm về thiên cơ, xin mở sổ để Dương Sinh xem.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế.

Đại Đế: Đây là cuốn sổ vàng ghi công quả, lật coi cẩn thận... không được đọc thành tiếng.

Dương Sinh: A, đây là bảng ghi chép công quả của môn sinh tu đạo tại bản đường:

(Lời minh giải của đức Thầy:) Ở đây đề ngày tháng vậy thôi, chớ không có gì.

BĐ1: Cái giờ nghĩ cũng đã tới.

ĐT: Ừ.

(Lời minh giải của đức Thầy: ) Cho nên Chị bắt cái quẻ này, Chị thấy phần linh căn có nhẹ và trong giấc mơ cũng đã thấy một vài việc. Cho nên, cố gắng noi theo đó và những lời giảng dạy này và để lo tu tâm, giữ cái tâm, quan trọng! thì cái quẻ này cũng rất tốt cho về phần tu học, đừng có hướng về đời mà phạm tội 1 kỳ nữa.

BĐ1: Con thấy Dương Sinh coi bản án cũng như coi cuốn sổ trời đó.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Xin Thầy cho biết cái chữ trên đó viết dùng cái chữ gì?

ĐT: Chữ là tùy thuộc Anh người Việt Nam Anh đọc chữ Việt Nam chớ có gì đâu!

BĐ1: Dạ, cám ơn Thầy!

ĐT: Nó hiện ra cái đó, nhưng cái đó là mật, không có cho đọc ra ngoài để ngày, ngày vậy chớ không cho đọc ra ngoài; tới giờ nữa hả?

BĐ1: Dạ, xin cảm ơn Thầy!

ĐT: Sao mau quá vậy! chưa nói,

Qua đoạn khác

ĐT: Sao cái máy Melbourne này chiếu cái phim này không được hả?

BĐ2: Nó ra trắng, đen, đó Thầy.

ĐT: Hả? Trắng đen, mà rõ không?

BĐ2: Dạ, rõ, Thầy.

BĐ3: Tại vì tần số màu của cái máy này là 4.43..

ĐT: Ừ.

BĐ3: Cái máy của chị B sử dụng tần số màu là 3.58

ĐT: Của Mỹ mà, máy Mỹ mà!

BĐ3: Cái cũ, cái mới.

……..

Bây giờ chiều nay muốn…Chư Tiên muốn cái gì? Muốn cái gì, chơi cái nấy.

BĐ4: Muốn coi bói đó, Thầy.

ĐT: Hả? Muốn học Kinh A Di Đà, mà một số người học không nổi, tôi thấy học không nổi, vô không nổi; thôi, bói đi, cho tiếp tục bói đi; chiều nay cho bói luôn đi ha!

(một bạn đạo lên chọn 1 trang trong sách Mẫu Ái và Thầy đọc)

“Mẫu Ái” nè!

Xét xem con trẻ xôn xao

Mẹ lo chuyển hóa ra vào giúp con

Hành trình đã sẵn đường mòn

Chờ con thực hiện sống còn đến nơi.

Xét xem con trẻ xôn xao”: Tranh đua đủ thứ, cái gì cũng tham, cái gì cũng muốn.

(Lời minh giải của đức Thầy: ) Học cũng muốn học nhiều, mà không có chỗ chứa đó, a! Nói rồi

“Mẹ lo chuyển hóa ra vào giúp con”: Lúc đó, mẹ luôn luôn ở trong con và ngoài con, lo chuyển hóa để giúp đỡ. Phần điển của mẹ không bao giờ rời con được. Vì là thiêng liêng làm sao rời con được?

“Hành trình đã sẵn đường mòn”, “Chờ con thực hiện sống còn đến nơi”: Cuộc hành trình đã sẵn đường mòn của những người tiền bối đã thành công, cũng như Phật, Chúa ở thế gian, các vị Thiên Tiên đã thành công.

“Chờ con thực hiện sống còn đến nơi”: Để chờ con tự thực hiện, tự khai mở, tự sửa, tự tiến để đến nơi. Sự động loạn của con trẻ là sự lo âu của mẹ hiền, ước mong con sớm thức giác, thực hành cho kịp con tàu tiến hóa của nội tâm. Chiếc tàu tiến hóa không phải một chiếc tàu chực sẵn làm bằng cây, thép, sắt. Không! Nội tâm của chúng ta có cả một chiếc tàu để tiến hóa. Từ trược tới thanh, từ thanh đi tới sự sáng suốt đời đời.

“Xét xem con trẻ xôn xao”: Tranh đua đủ thứ, cái gì cũng tham, cái gì cũng muốn.

Lời minh giải của đức Thầy: Cho nên, chúng ta phải cố gắng dày công sửa mình mới được. Chứ không nên động loạn và thích những cái gì không xứng đáng, để hòa hợp dẫn tiến tâm linh của chúng ta.

Chớ xem ngoại cảnh mà lầm

Trong con có sẵn thậm thâm dịu hòa

Điển thanh thực hiện chơn đà

Hòa cùng vũ trụ chuyển qua muôn tình.

“ Chớ xem ngoại cảnh mà lầm”: Đừng cho ngoại cảnh xâm nhập chúng ta và đừng tán đồng ngoại cảnh mà không tìm cái cảnh có sẵn của nội tâm chúng ta.

“ Trong con có sẵn thậm thâm dịu hòa”: Ở sâu trong đáy lòng của con có những sự dịu hòa. Nếu mình hướng lộn vô và tìm trong thanh tịnh thì thấy rõ.

“Điển thanh thực hiện chơn đà”, “Hòa cùng vũ trụ chuyển qua muôn tình”: muôn tình điển thanh, phải thực hiện chơn đà điển thanh; đó là phát triển và đem tới một đà tiến chơn chánh. “Hòa cùng vũ trụ chuyển qua muôn tình”: Phần thanh điển chuyển hư không, chuyển qua tất cả muôn tình thế, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Sự đẹp xinh của nội tâm sẵn có, chỉ có thực hành thanh tịnh thì tự xem con mà hiểu người.

Vũ trụ là con, con là vũ trụ. Minh rồi mới hiểu vô cùng tận là gì. Sự xinh đẹp của nội tâm, mọi người đều có, mà chúng ta không hướng về nội tâm làm sao có? Lúc đó, chúng ta càng hướng về nội tâm. Càng thấy ta thì càng thấy tất cả những gì của Càn Khôn Vũ Trụ. Chính ta có, chính người có, thì chúng ta mới thấy rằng đi trong đà tiến học hỏi mới là tiến hóa. Còn nếu đi trong đà tiến kích bác, thì không bao giờ có sự tiến hóa. Chúng ta cần học hỏi nhiều hơn, nếu chúng ta không học hỏi thì làm sao mà tiến được?

Mẹ răn mẹ dạy nhớ ghi

Đời con phải học thân thì mới an

Càn Khôn Vũ Trụ luận bàn

Chờ con tiến hóa mở màn tình thương.

Lời minh giải của đức Thầy: Những sự cố gắng và phát nguyện trong nội tâm của con, ngày nay lại được thêm một sự nhắc nhở và đi đúng đường lối phát nguyện của chính con, đúng như vậy không?

BĐ4: (… không nghe rõ câu hỏi)

ĐT: Ừ!

BĐ4: Khi mà bức tượng đàn bà cười rồi, con mới thấy, con quay lại.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì bức tượng đó không còn cười nữa.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Rồi con mới thấy vậy, con bỏ con đi; trên đường con đi thì con thấy thú vật mà nó chết dữ lắm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Mà đường khó khăn dữ lắm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì cứ đi như vậy thì một hồi con thấy bức tượng đàn bà hiện ra, cái hình đàn bà.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Mà hào quang chói lòa; còn bức tượng đàn ông, hiện ra bức tượng đàn ông thì đi về phía này không nói gì con.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Mà bức tượng đàn bà thì cười với con.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Rồi đi về cái hướng Tây Bắc.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Rồi đi một hồi, thì cười với con mà đi cái hào quang chói lọi, rồi đi về cái hướng Tây

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì con lúc đó, con mới biết mẹ, rồi con mới kêu mẹ, quá cỡ kêu.

ĐT: Ừ, đó là điển của Quan Âm mà;

BĐ4: Cám ơn Thầy!

ĐT: Ngày nay nhắc lại một lần nữa; con hiểu không?

BĐ4: Dạ.

ĐT: Lo tu, ha!

Để đó, rồi lựa đi!

(một bạn đạo lên chọn 1 trang trong cuốn Phép Xuất Hồn VÀ ThẦY đọc trang đó)

(cười) nói về tình duyên.

Hoàng tiếp:

Em không hiểu đây là bờ sông Bỉ Ngạn, đã bao năm anh cùng em đã hiểu; em đã nhớ nơi bờ sông Bỉ Ngạn. Thật em mong mỏi, có lẽ là chỗ thích hợp cõi lòng của chúng ta.

Lời minh giải của đức Thầy: Chắc duyên sắp đến rồi!

Nguyệt Ánh Hồng cười cho là chỗ nhứt định tỉnh trí an lòng, nhưng cũng ứa nước mắt khóc buồn tủi phận trung trinh không người an ủi.

Khi Hoàng giựt mình thức dậy, suy nghĩ biết mình chiêm bao, trong đêm nay chiêm bao rất dài có ý mơ duyên là phải, có lẽ gì chiêm bao suốt đêm, đâu có lý.

Khi Hoàng nghĩ xong, kế bữa cơm sớm mai, ăn rồi là đúng trưa, an nghỉ cũng thấy mơ mộng bầu trời quang đãng. Hoàng nằm trên ghế bố thấy đám mây sa trước mặt, có bóng cô Nguyệt Ánh bước đến chào,

Hoàng chào hỏi lại: “Sao em biết ở đây mà đến?”

Bao la vũ trụ, chỗ nào là không biết. Khi trước vén mây mờ ám còn được biết, nay rõ căn lại chẳng biết nữa à?

Hoàng ngớ ngẩn ngó cô rồi nói: Đã 216 năm mới gặp lần thứ hai, thời gian qua hai đời con người sao cô nương còn sống?

Để trả lời nhiều câu ngớ ngẩn quá, mà Hoàng không thấu hiểu được, Hoàng cho rằng, hay là ma quỷ đến đây để nhiễu hại giấc mơ của ta?

Thôi cô nương chớ buông lời hóm hỉnh nữa.

Nguyệt Ánh, là em đây! Thật không một ai dám làm một con yêu phá đời vẻ vang của anh đâu. Đây là duyên xưa nghĩa cũ, em đến đây để tiếp chuyện cùng anh. Số là trong lúc buồn thảm, thương mây nhớ gió, không người an ủi trong cuộc đời buồn thảm của em (cười).

Lời minh giải của đức Thầy: Thằng này nó cũng…(cười), tới rồi mày ơi! (cười), tới rồi, tới rồi!

Nhờ đó em được tu tâm dưỡng tánh quyết bỏ cõi phàm. Em được Đức Quan Âm dạy bảo, nơi anh bắt tay em lúc đó, Ơn Trên đã định cho chúng ta (cười),

Lời minh giải của đức Thầy: tới rồi, tới rồi.

Gốc anh là Sao Mai, còn em là Sao Hôm, nên căn kiếp trắc trở (cười),

Lời minh giải của đức Thầy: nói rõ quá mà;

Trắc trở hơ hỏng, để làm tròn bổn phận số kiếp của con người cùng duyên nợ. Anh cùng em đều đày đọa lao tâm nhọc trí, chúng ta phải làm việc bổn phận mới được chứng quả. Vậy anh nhớ chưa? Nghi ngại chi cho mệt, để trí dưỡng nhàn tốt hơn nghĩ ngợi. Anh cùng em (cười) chung sống trong bầu không khí mát mẻ, non tiên. Chúng ta khỏi nguôi lòng dạ nữa.

Lời minh giải của đức Thầy: Thôi, (cười) công chuyện nó cũng tới dần, duyên nợ nó cũng tới; ráng tu thì gặp cô vía mà không tu thì gặp cô đời, cũng bạn đạo thôi (cười)

Rồi; để đó! Vui chớ; cái quẻ này vui thiệt! (cười)

(một bạn đạo lên chọn 1 trang trong quyển Mẫu Ai, và Thầy đọc trang đó)

Đâu, ở đâu? a, cũng “Mẫu Ái” nữa.

Thương con mẹ nhớ con hoài

Muốn con tiến hóa tận đài thanh cao

Bình tâm chuyển hóa ra vào

Nơi cao nơi thấp nơi nào cũng minh.

“Thương con mẹ nhớ con hoài”: Tình của mẹ con làm sao ly khai được.

“Muốn con tiến hóa tận đài thanh cao”: Không có người mẹ nào muốn chúng ta làm điều ác, muốn chúng ta thực hiện sự tốt đẹp.

(Lời minh giải của đức Thầy: ) Đúng, ngày nay Con ra đây tu là đúng rồi.

“ Bình tâm chuyển hóa ra vào”: Chúng ta trong cái bình tâm, bình thản, thì thấy sự thâu thập cũng như sự phóng ra lời nói của chúng ta cũng là ôn tồn, hóa giải.

“ Nơi cao nơi thấp nơi nào cũng minh”: Muốn từ đời qua đạo, chỗ nào cũng được minh. Đời: sự an tâm của người mẹ đối với người con. Người mẹ luôn luôn cầu nguyện, cầu xin bề trên giúp đỡ người con để cho nó được hiểu. Để chi? Để bảo trọng lấy nó và không xảy ra những sự nguy hiểm đến bản thân nó.

Cho nên, người mẹ cao quý, người mẹ luôn luôn thực hiện tình thương trong tâm khảm của Người đối với người con. Trong giấc hôn mê cũng kêu con, gọi con, thương nhớ con. Sự tiến hóa của người con thương yêu cũng như sự tiến hóa của người mẹ, sự cảm mến chuyển hóa ấy không bao giờ xa vắng được. Thương yêu mãi mãi không bao giờ phai.

Tình mẹ và con khó phai lạt. Ngỗ nghịch cách mấy đi nữa cũng biết rằng trong lúc đó con nó nghĩ đến mẹ không nhiều thì ít. Một triệu phần một, nó cũng phải nghĩ, không nói dứt khoát bỏ mẹ được; mà mẹ không bao giờ bỏ con. Mẹ luôn luôn, luôn luôn, luôn luôn đem lại cho con nhiều hơn, mong muốn nhiều hơn để cứu độ con tôi, để giúp con tôi càng ngày càng đạt đến sự thông minh cao đẹp.

Thực hành chơn lý thanh đài

Ngày ngày thanh nhẹ dồi mài không ngưng

Tiến nhanh chuyển hóa không ngừng

Hư không chánh pháp mở từng cảm giao.

“Thực hành chơn lý thanh đài”: Chúng ta thực hành rồi, chúng ta mới thấy chơn lý là sự thanh cao đời đời.

“ Ngày ngày thanh nhẹ dồi mài không ngưng”: Khi mà hiểu được chơn lý, càng theo chơn lý, càng theo sự quân bình sáng suốt sẵn có trong bộ đầu chúng ta.

“ Tiến nhanh chuyển hóa không ngừng”: Khi mà chúng ta hiểu, thông cảm, hòa tan với chơn lý thì tiến nhanh; chuyển hóa không ngừng, luôn theo dõi trong sự sáng suốt sẵn có.

“ Hư không chánh pháp mở từng cảm giao”: Hư không, lấy cái không không mới đo lường vạn sự tại thế, đó là chánh pháp. Mở từng cảm giao: Khai thông và để lấy cái sự không động mới là có sự cảm giao vững chắc được. Nếu chúng ta động làm sao có sự cảm giao được; chúng ta lấy cái không động làm sự cảm giao. Sự thanh cao là sự đời đời của tâm linh, vui trong ổn định, tiến hóa trong nhẹ nhàng; quy về chánh pháp, hào quang chiếu diệu đời đời.

Khi mà chúng ta rõ được hào quang, thì chúng ta thấy rõ ràng, chúng ta thấy những cái gì đang chiếu rọi cho chúng ta có hơi thở, có sự nhẹ nhàng: đó là sự sáng suốt. Sự sáng suốt là do hào quang chuyển hóa; nếu không có hào quang chuyển hóa thì chúng ta không có sự sáng suốt trong tâm tư. Chúng ta cũng có hào quang trong bộ đầu chúng ta. Ta thanh tịnh, chúng ta mới rước được cái hào quang sáng suốt từ bên trên chiếu xuống cho chúng ta. Hào quang đó là hào quang vô cùng tận của Đấng Cha Lành.

“Quan Âm chuyển hóa không rời;

Dìu con tiến tới nơi nơi an toàn”: Luôn luôn giúp đỡ, luôn luôn cứu độ trong tình thương. Hành độngkhông được thì tới rơi lụy để giúp, để cho phần hồn cảm động tiến hóa.

“Bỏ đời qua đạo rõ ràng”, “Thanh cao ổn định mở màn hòa minh”: Để dìu cho chúng ta an toàn từ đời qua đạo; chán ghét thế gian, không muốn trụ lại tại thế gian; rồi lúc đó mới thấy rõ ràng bài học của thế gian đã sắp đặt cho chúng ta. Chúng ta bỏ đời qua đạo.

“Thanh cao ổn định mở màn hòa minh”: Chúng ta thanh cao ổn định mở màn sáng suốt, mở sự ô trược khai thông rồi. Sự ô trược đi rồi mới hòa minh đem sự sáng suốt hòa với sự sáng suốt ở bên trên.

Sự thương yêu vô tận của Đấng Từ Bi cảm động lòng người, giải bày hiếu thảo, hỗ trợ cho tâm linh quy nguyên thiền giác, tự ổn định trong kích động và phản động. Cho nên, cái sự cảm động đó nó dắt chúng ta phải hiền lương, phải thanh tịnh: tự ổn định trong hoàn cảnh sống hiện tại trong kích động và phản động. Nó luôn như vậy; chúng ta hiểu rõ định luật như vậy thì chúng ta mới ổn định được. Nếu không hiểu rõ sự kích động và phản động thì không bao giờ ổn định.

Cho nên, những tâm tư yếu hèn không chịu nổi sự kích động và phản động, cho nên nó phải vun bồi tự ái. Vun bồi tự ái là gì? Là người yếu hèn, chớ không phải là thông. Nếu người anh hùng, là học nhẫn mới khai thong; còn vun bồi tự ái là yếu hèn. Sự yếu hèn đó đem lại sự chậm trễ, mất hẳn sự sáng suốt. Vì sao? Vì bảo vệ sự tăm tối.

(Lời minh giải của đức Thầy: ) Đó, thì cái bài này, mà “Mẫu Ái - 2” này cũng nhắc tình thương của người mẹ hền đang mong con tiến hóa mà chính con đã đi đúng con đường tu hành, cha mẹ vui hết sức.

Rồi; còn gì; ai nữa?

(một bạn đạo khác lên chọn 1 trang trong cuốn “Văn Tự Vô Vi” và Thầy đọc phần đó)

Niết Bàn: Thế gian nghe "Niết Bàn". Chừng nào tôi mới tới Niết Bàn? Trời ơi! Ông Phật ông mới tới Niết Bàn, chớ tôi làm gì có thực tài. Thưa các bạn, các bạn không sửa các bạn làm sao mà các bạn được nhẹ. Người ta nói: “ Tôi đi 747 trên không trung, nó bay ồ ồ nhẹ quá”; mấy người mới nghe qua, nói: “ Trời ơi, chừng nào tôi có tiền tôi mới đi 747?”. Tại sao Thượng Đế lại cho cái sự bất công bình như vậy? cho kẻ có, người không; mà cái thằng có được thì cái thằng đó khổ trước, rồi nó mới được đi; mà các bạn không chịu khổ như nó làm sao các bạn đi được 747, đi được máy bay, thí dụ vậy; thấy không?

Cho nên, mình phải hành trì khổ rồi điêu luyện cho nó quân bình, rồi cái phần hồn xuất ra kêu bằng tự túc, không ỷ lại nơi ai nữa. Cũng như người con cho nó đi học ngày nay nó tự túc sống, nó không đòi hỏi gì của cha mẹ nó nữa, thì nó báo hiếu cho cha mẹ nó. Cho nên, ông Phật là người có hiếu thảo, sửa mình để trở về Niết Bàn tự túc tự sống. Cho nên, Phật chỉ tới Niết Bàn mà thôi, còn muốn học nữa phải trở về với nguồn cội, với Thượng Đế, phải trở về mọi trạng thái, còn Phật ở Niết Bàn có một trạng thái thôi, còn phải học để trở về mọi trạng thái nữa; nó mới thực hiện đại từ bi.

Người ta nói Phật là quan trọng; Phật đâu có gì quan trọng: là một con người có thanh điển, minh, định, hiểu và quân bình tư tưởng thiện ác; minh thiện, minh ác, không xưng “Ta là thiện,” rồi cũng chẳng làm điều ác, chỉ lo tu; trung dung trong tiến hóa mà thôi.

Nợ Đời, Nợ Đạo: Trong cái đời nó có cái đạo. Người phàm vì mắt trược cho nên họ không thấy. Nợ đời là nợ vợ, nợ con, nợ quần áo, đó là nợ đời; mình vay bao nhiêu từ nhỏ đến lớn, bây giờ mình làm để trả lại. Đó là nợ đời. Còn nợ đạo là mình tu, đạt đến sự sáng suốt, có hào quang được bao nhiêu thì mình phải tiến triển lên càng ngày càng nhiều, là để trả lại cho chúng sanh. “Cũng nhờ cái cơm áo này, tôi nhờ sự khắt khe này…”


----
vovilibrary.net >>refresh...