19860103Q4

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Quẻ" Bạn Đạo Chọn - Cuốn 8B

ĐT: Con người sẽ chỉ còn cảm nhận sự bi quan, sự bơ vơ, lạc lõng, chán chường, băng hoại, chẳng biết tìm đâu ra nơi nương tựa cho tâm hồn. Nãy giờ, nhân bàn đến dục tính, Cha nói qua về sự thoái bộ tinh thần của con người, vì Cha thấy hiện tại những luồng tư tưởng cổ võ cho thú tính trong con người và tin rằng thú tính ấy là tất cả bản chất thật của nó, đang được luân lưu khá thịnh hành trong những xã hội văn minh vật chất. Thật sự, con người nghĩ điều này cũng không có gì đáng trách, chỉ vì vô minh nên nó chưa biết nó là ai, nó vĩ đại đến chừng nào, bản chất thật của nó phong phú ra sao, gồm những phần gì? Nhưng rồi, có một lúc nào, trên dòng tuôn thao đăng đẳng, định luật tiến hóa sẽ ảnh hưởng giúp nó hiểu điều đó dần dần mà thôi!

Bây giờ Cha trở lại chu trình tiến hóa của tính dục. Cha đã nói đến Vật Dục rồi tiến sang Nhân Dục, biết Nhân Dục con người không thể cứ ở lại mãi chỗ này! Vì phận sự, vì nhu cầu hiểu biết của nó, nó phải tiếp tục lo tiến bước luôn luôn để tuân theo định luật tiến hóa. Nó đã học dục theo Nhân Đạo bây giờ muốn tiến hóa nữa, nó phải dục theo Thiên Đạo. Nếu cái dục theo Nhân Đạo khiến nó phải đi tìm sự phối hợp với phần Âm hay Dương ở ngoài nó, thì cái dục theo Thiên Đạo dạy nó học tìm sự phối hợp của Âm Dương ngay trong bản thể của nó. Giai đoạn này, nó không dục bên ngoài, không phóng tâm tìm đối tượng bên ngoài nữa. Đây là lúc nó phải quay vào trong, tìm đối tượng để dục bên trong.

Con người vì vô minh nên cứ đi loanh quanh tìm kiếm đối tượng đâu đâu bên ngoài nó, quay cuồng điêu đứng, để đạt cho được đối tượng mà nó vừa ý. Nếu không đạt được hoặc đạt được rồi lại khám phá ra đối tượng không đúng như mơ ước; vì chắc chắn, không bao giờ có thể đúng như mơ ước, nó lại trầm luân trong thất vọng, đau khổ, đắng cay, buồn cho số kiếp. Chìm đắm trong buồn, thương, khóc, hận, và bằng bao nhiêu lao tâm khổ trí ấy.

Con người đã chạy theo một đối tượng giả hiệu, đối tượng này không bao giờ như nó ước mong, không bao giờ thật sự hòa điệu cùng nó, để cho nó niềm hạnh phúc an lạc lâng lâng tuyệt vời! Đối tượng mà nó mong ước, thật lý tưởng và có thể hài hòa thật sự, đáp ứng tối đa nỗi khát khao lạc thú hạnh phúc vợ chồng của nó đã có sẵn ở bên trong chính nó; nhưng vì tối tăm, ngu muội, đui mù, nên đã bao lâu rồi, nó không hay, không biết!

Đây mới thật sự là “Nửa phần” khác của nó. Con người phải biết rằng nó được cấu tạo bởi phần Âm và phần Dương. Phần Dương của nó gọi là “Hồn;” phần Âm gọi là “Vía”, là cô vợ lý tưởng nhất và chỉ có cô vợ này mới có thể cùng nó đạt tới sự hòa điệu tuyệt diệu mà không có một đối tượng nào khác bên ngoài có thể mang đến cho nó.

Đấy là cô vợ thật sự mà nó phải chịu chia ly trên đoạn đường đi xuống của nó. Đấy là hiện tượng Nhất Nguyên tiến sang Nhị Nguyên! Để rồi trải bao tháng ngày biền biệt hôn trầm trong mê muội, nó đã thật sự quên mất bóng vía người xưa... Cho nên, khi nó đã thật sự mỏi mòn, quá thất vọng chán chê, không tìm thấy hạnh phúc với những gì chung quanh bên ngoài nó, con người mới chịu bắt đầu trở vào trong, để tìm về cái thế giới của chính nó.

Và khi tìm vào cái thế giới của chính nó, ấy là nó đã tình cờ dấn thân lần bước trên lối cũ để tìm gặp lại bóng hình xưa! Đấy là hiện tượng Nhị Nguyên tìm về Nhất Nguyên! Này con ơi, khi đã bắt đầu cuộc dấn thân đó, con hãy như ông chồng si tình chung thủy, ngày đêm băng ngàn vượt suối, mấy đèo cũng qua, mấy sông cũng lội, để tìm về hội ngộ người vợ thân yêu mà mình đã trót lãng quên như chưa hề gặp mặt! Sự chịu khó cố gắng “Công Phu, Công Quả, Công Trình” để vượt mọi khó khăn thử thách, trên đường tìm về của con, sẽ được đền bù xứng đáng khi gặp lại cố nhân!

Cảnh đẹp đẽ và hạnh phúc của vía hồn tương hội sẽ đáp lại quá dư, mọi nỗi nhọc nhằn mà con đã trải qua. Bằng con mắt huệ nhãn, con sẽ thấy cô vợ của con diễm kiều và lý tưởng ra sao! Cha cho rõ cảnh tương hội này không khác gì cảnh phối hợp dục giữa vợ chồng thế gian, nhưng được thật sự đầm ấm, đầy yêu thương, thơ mộng, hạnh phúc và hưởng lạc thú, hơn cái hưởng của vợ chồng thế gian muôn ngàn lần. Cảnh tượng đẹp đẽ và kỳ ảo đó, các con có thể chứng nghiệm, cảm giác một cách rõ ràng hiện thực và hết sức sống động để chúng con cảm thấy rằng những gì mà loài người đang thiết tha bám víu ở trần gian và tưởng là hạnh phúc thật chẳng khác gì bọt nước bèo mây, và chẳng đáng chút gì so với cái con đang hưởng được!

Vả chăng, dục giữa Vía Hồn, hay phần Âm và phần Dương trong bản thể của con, không những chỉ giúp con phần lạc thú, mà còn là việc tối cần để con được tiến hóa về chỗ sáng suốt giải thoát. Đấy là một kiểu dục mà Cha cổ võ hô hào cho các con tìm hưởng. Kiểu dục này giúp con khỏe mạnh sáng suốt an lạc; càng dục càng khỏe, càng mạnh càng sáng, càng tiến hóa nhanh! Sáng suốt an lạc khỏe mạnh cả thể xác lẫn linh hồn. Sớm muộn gì, con người có lúc cũng phải thức giấc sau khi đã mỏi mệt chán chê những gì bên ngoài nó, để dấn thân tìm tới cuộc hội ngộ đẹp đẽ này, vì nó phải lo phản bổn quy nguyên, âm dương hiệp nhứt để thấy lại nó thật sự!

Cho nên, người thế gian đều ngộ nhận cho rằng, Niết Bàn chỉ là trạng thái hư vô vắng lặng, Ông Phật phải diệt mọi điều ham muốn, diệt hết bản chất dục, là lạc thú quý báu của con người, để được cái trạng thái thanh tịnh như như! Trạng thái này có gì là vui? Niết Bàn hư vô có gì hấp dẫn, để phải từ bỏ những lạc thú thế gian, lạc thú tình yêu, lạc thú vợ chồng? Sự thực, Cha cho biết, Phật không bao giờ mất bản chất dục: Phật chỉ từ bỏ kiểu dục dở, mà để tìm đến kiểu dục hay hơn, để Phật hưởng hơn. Nhờ Phật biết cách dục cao hơn, nên Phật nếm lạc thú hơn chúng con muôn ngàn lần. Chính trạng thái thanh tịnh như như an lạc khiến Phật sung sướng, vui vui, hạnh phúc, sáng suốt, lâng lâng, kỳ ảo là do việc giao hợp Âm Dương trong Phật đã đạt tới sự hòa điệu đúng mức, và Phật được hưởng lạc thú của sự hòa điệu đó một cách miên viễn; nhờ Âm Dương trong Phật đã thật sự hiệp nhứt không còn chia ly nhau nữa.

Con người vì vô minh nên cứ bám víu, ham muốn những cái nhỏ hẹp tối tăm để chỉ được hưởng những lạc thú thật bé mọn, hưởng chẳng bao nhiêu và chẳng bao lâu! Khốn thay, cái hưởng ấy lại móc nối bao nhiêu là thứ khổ! Hưởng thú vợ chồng thì thê thằng tử phược, gánh vác gia đình con, vợ; gánh vác nợ áo cơm. Hưởng thú địa vị công danh thì công danh nó hành, địa vị nó khảo. Hưởng thú bạc tiền thì phải cực khổ, quay cuồng lo vun bồi định luật đó.

Vấn: Tại sao Thượng Đế bất diệt?

Đáp: Này con, Thượng Đế bất diệt nhưng có diệt luôn vì định luật “Sinh, Trụ, Hoại, Diệt” này trong chơn lý. Cha là chơn lý thì định luật đó phải ở trong Cha; Cha là nó luôn con. Cho nên, Cha phải có trạng thái sinh trụ hoại diệt chớ con.

Lời minh giải của đức Thầy: Cho nên, cái bài này Chị Phụng đã bắt, phải đúng trong tình cảnh Chị muốn biết không?

BĐ1: Dạ.

ĐT: À, đúng phải không!? Vì Chị đã từ đời qua đạo, và Chị bước sang một kỷ nguyên mới và tự hồi sinh nguyên lý âm dương, và cũng vẫn bảo tồn dục tính đời đời; mà dục tính đó là phát triển tới vô cùng; mà dục tính đó là du dương thật sự hòa ái tương thân. Cho nên, cái quẻ này Chị bắt được và trả lời tất cả những sự thắc mắc và sự mong muốn của Chị đều có sáng tỏ và đường đi; Chị cứ tự tin và tự đi; thấy chưa?

Rồi, ai muốn bắt quẻ gì cũng được.

2: Dạ, kính thưa thầy, nhân thầy đã đọc qua bài dục mà Thượng Đế đã giảng, thì trong Thượng Đế giảng Chân Lý, Thượng Đế có nói rằng nếu cần biết rõ hơn về cái thiên dục này, thì xin hỏi Phật Tám.

ĐT: Thì đúng như vậy!

BĐ2: Thì nhân tiện đây, chúng con cũng kính nhờ Thầy cho biết rõ tường tận về thiên dục giữa vía và hồn.

ĐT: Cho nên, bữa nào mà Anh thấy mặt tôi tươi như mùa xuân, là đêm hôm tôi dục lắm! (cười...); tôi với Cô Tiên đã nói chuyện với tất cả mọi người, và làm thi thơ đầy đủ: cái dục của chúng tôi về một sự ân tình cao siêu, cởi mở, thương yêu mở rộng, thi thơ phong phú, không bao giờ lạc đề khi chúng tôi đàm đạo. Cho nên, những người tu mà đạt tới cái đó, mặt mày tươi, tươi như mùa xuân.

Cho nên, cái tình dục đó, nó cũng như thế gian, chớ không có gì; nhưng mà cái sự giao cấu đó là nó nảy nở ánh sáng trên bộ đầu, hào quang càng ngày càng thanh tịnh; nhưng mà không phải đòi liên tục, nó cũng có ngày có giờ; mà đi tới cái dục đó là khi thiếu sức: khi mà Anh thiếu một phần sáng suốt nào thì cái cơ duyên đó sẽ đến, mà cái dục tính đó là vun bồi cho mình sáng suốt lên, và thấy sảng khoái, và thấy luôn luôn có nhiệm vụ làm việc trong sự cởi mở thanh cao, chớ không có bị chèn ép như ở thế gian.

Ở thế gian chèn ép chỗ nào? Vợ chồng vui trong lúc đó, muốn trong lúc đó; mà gần rồi, là hai người uể oải! Nó ngược lại với thế gian. Còn ở trên thiên đàng nó khác: khi thiếu sót thì âm dương phải tương hội; mà hội rồi là sanh, sức hồi sinh còn vô cùng hơn. Nó ngược lại cái chiều hướng ở thế gian, khỏe khoắn hơn và tươi đẹp hơn. Cho nên, Anh nhìn mặt tôi mỗi buổi sáng, “Thấy ông Tám tươi; chắc nói chuyện với cô Tiên nhiều lắm!”

Cho nên, tôi có viết cái “Tình Yêu Siêu Thoát:” chúng tôi đã nói nhiều, rất nhiều, mượn cảnh này nói, mượn cảnh kia nói; nhưng mà để các bạn đọc coi thử có cái gì cảm ứng không? Rồi tôi sẽ viết thêm; chớ chuyện của chúng tôi có nhiều lắm; ly kỳ lắm, vui lắm, thâm thúy lắm; nhưng mà bàn bạc trong tâm hồn của các Bạn, chớ không ngoài đâu, vì làm một việc cho tất cả mọi việc, hữu ích! Cái dục là tiến hóa, không phải cái dục mà thụt lùi như ở thế gian: đòi dục, hăng lắm; nhưng tới hồi đó là hết muốn làm việc rồi! Còn cái này người ta dục rồi là người ta làm việc dữ lắm, sáng suốt lắm, không có bị lụn bại.

Cho nên, các Bạn tu đi để bảo tồn cái tinh khí, và cái tinh khí đó sẽ biến hóa tới vô cùng và khai triển tâm linh; lúc đó, các Bạn không còn bị bơ vơ nữa: đi đâu cũng có cặp hết; mà làm việc lúc nào cũng trong nhàn hạ chớ không có bận rộn.

Cho nên, ở thế gian bị cái chấp; nhảy vô đạo nào đạo nấy: “Diệt dục đi mày!” Nó ra nó đứng, nó thề với Trời Phật, sợ nó đi làm bậy á; nó thề rồi qua bữa sau nó đi làm bậy nó cũng đâu có thề lại! (cười); thành ra nó diệt, nó thề với Trời Phật: “Con xin diệt dục;” mà nó lại bỏ vợ, nó lấy bà khác! Cái đó không được! Còn cái này thức tế nó như vậy; nó có cái gì nó phải nói cái nấy; nó phải đổi qua một cái cơ giới mới; chớ người ta đương dục mà mình kêu, bắt người ta ngưng dục, đâu có được! Người ta khùng đi. Nó phải tu luyện để nó đổi qua một cái thế khác thay vì cái thế kia; mà cái dục này là cái dục trường cửu. Mà cái dục này là dục tạm bợ, hủy hoại. Hai cái dục khác nhau: nó so sánh, và nó làm cái chuyện cần thiết thay vì không cần thiết.

BĐ3: Dạ, kính thưa Thầy con xin đảnh lễ Thầy.

ĐT: Ừ!

3: Con có câu hỏi, vừa kết hợp với lời Thầy giảng với thành quả do một bạn đạo Nam Úc công phu luyện tập.

ĐT: Ừ.

BĐ3: Thứ nhất là con xin hỏi: Nếu khi hồn và vía thấy nhau thì khi chết ắt hẳn là được lên thiên đường; nhưng cũng có,…ngay tại bạn đạo Nam Úc, là Thầy đã nói: “Cô Tiên kia, vì thấy một nhà sư nọ mà chọc ghẹo, nên xuống trần để mà trả cái nghiệp đó;” thì con thử hỏi: Nếu Cô Tiên kia có một người chồng lý tưởng, thì tại sao còn chọc ghẹo nhà Sư ở dưới trần? Đó là câu hỏi thứ nhất; và tội tình gì khi nhà sư không bị chọc ghẹo, mà phải đi mang cái nghiệp quả đó?

Và câu hỏi thứ hai là: Một bạn đạo Nam Úc, do công phu, đã biết được sự giao hợp giữa âm và dương, lạc thú vô cùng; thì, kính thưa Thầy, đó là ấn chứng thành đạt do công phu luyện đạo, nhưng ấn chứng đó là anh ta hiểu được sự khoái cảm, rung cảm hòa điệu giữa âm và dương, chớ vẫn chưa thấy được cô Tiên? Đó là hai câu hỏi con kính trình lên Thầy.

ĐT: Cái câu đầu Anh muốn biết cái Cô Tiên ghẹo ông Sư bị đọa xuống trần; phải không? Đó, cái đó là hai cái ly thân, hai cái xác khác nhau, chớ không phải chung ở trong một thể xác; chung một thể xác là phân chia ra đi, rồi tái hợp, trong thể xác.

Còn hai người nó có ghẹo nhau rồi đọa xuống trần, rồi làm vợ chồng ở thế gian, cái đó có! Cái đó có, rồi tái ngộ, rồi đồng đi học đạo, rồi chung làm vợ chồng, rồi hai người mới tách ra.

Mà tu thiệt thọ rồi là hồn, vía tương hội; cái đó nó khác: cái đó nó hai cái xác không có dính liền; còn cái hồn với cái vía này là hai người đã cùng chung sống trong một cái sự mê muội hiểu lầm, mà phân tán kẻ Nam người Bắc, thì ở hai cái hướng, nhưng mà ở chung một cái Tiểu Thiên Địa; rồi tu lên mớI, hai người mới tái hội, mới ngộ nhau; lúc đó là cũng làm một lễ cưới đàng hoàng.

Ban đầu hai người, người kia, cô gái kia mà khi Anh tham thiền Anh thấy cô gái đứng trước mặt; nhưng mà Anh vẫn niệm Phật, bởi vì Anh là người tu, “Tại sao cô gái tới phỉnh tôi được?” Nhưng mà Anh niệm Phật chừng nào là Anh nhớ cô đó chừng nấy; nó có cái chỗ đó. Rồi cổ đi mất: cổ làm theo việc phận sự của cổ. Rồi một thời gian lâu Anh cứ nhớ nhung cái đó, mà muốn gặp gặp không được, phải tu nữa! Tu một thời gian lâu nữa, rồi được thanh lọc, rồi lúc đó mới là làm một cái lễ tái hôn vợ chồng; mừng!

Hồi nào tới giờ Anh tu, Anh không muốn chơi với bè bạn nữa, nhưng mà trong lúc Anh gặp rồi đó, Anh muốn làm cái bánh hay mua cái trái đồ gì đó cho anh em bạn đạo ăn chơi; nhưng mà làm cái lễ vậy thôi. Nhưng mà không có nói ra được, hay mời người ta. Như hồi đó tôi tu, gặp Cô Tiên rồi vui vẻ, chúng tôi nói chuyện vui vẻ; “Thôi, bây giờ mình làm cái lễ để ra mắt!” Mà ra mắt người phàm, nó đâu có thấy, nhưng mà thích mời bạn bè ăn chơi vui, ăn chơi vui. Mà hồi nào tới giờ người ta nói: “Thằng này ly cà phê nó không uống, mà bây giờ nó mời người ta ăn?” Nhưng mà mấy người bạn tôi cũng không biết vụ gì; “Mình mời để coi sao, để thế gian họ có thấy những cái chuyện mà hai người đối diện với họ; có thấy không; mắt phàm có thấy không?” Và thật sự họ không thấy! Đãi người này ăn, đãi người kia ăn, cũng như là tái hôn vậy đó; nó vui lắm; trong tâm hồn nó vui lắm!

Nhưng mà hai người mà gặp nhau rồi đó, lại có sự ghen tương: cô vợ thiệt ở thế gian này tới rờ là không có được! Như tôi đã nói hôm qua, nó ngứa mình lắm, bởi vì nó không có quen! Bây giờ người ta quen với một người trí thức, mà nói đâu mở đó, mà quen với một người đây nó cù lần, nó khó chịu lắm; (cười) nó không thèm chơi! Cho nên, “Tôi ngủ riêng, bà ngủ riêng; tôi ngủ riêng, tôi không có động bà nữa!” Động nó ngứa mình chịu không được, không thích.

Mà đàn bà mà thấy một tiên đồng rồi, không thích chồng mình nữa; thấy người đó nó cù lần lắm, nó không hiểu! Người ta thông minh lắm. Cho nên, có một kì tôi đi trong xe từ Chợ Lớn đi xuống Sài Gòn, mà tôi vừa lái xe, cô Tiên hỏi: “Thiên thượng nhân gian hà năng, hà sở?” Hỏi, tôi phải trả lời liền; rồi tôi cũng nói cho mấy người; tôi nói, “Bây giờ Cô Tiên hỏi tôi câu mắc quá, mà tôi lái xe, làm sao trả lời được?” Mà cổ, “Phải trả lời, có khả năng phải trả lời; chồng thì phải trả lời cho vợ chớ không có vụ mà từ chối, thấy không?” Tôi nói: “Thiên thượng nhân gian thụ năng đắc sở:” có học thì mới làm được chớ; trả lời thì cổ chịu.

Tôi lái xe, tôi cười; rồi mấy người cô thư ký ngồi xung quanh nói: “Ông này sao bây giờ mặt Ông tươi quá vậy?” Tôi nói: “Tôi vui lắm”; “Mà ông được cái gì mà ông vui?” “Thì tôi được chở mấy cô về nhà, tôi vui thôi.” Mình chỉ trả lời vậy thôi; nhưng mà mình trả lời cái này mình biết: “Thiên thượng nhân gian thụ năng đắc sở,” không học làm sao mà biết, phải học. “Trên Trời, dưới Đất cũng phải học;” cổ hỏi cái câu đó.

Cho nên, từ đó mà đi tới cái chuyện kêu bằng biết nhau nhiều, nhắc lại mấy trăm năm về trước, khóc sướt mướt mà không dám cho người ta biết mình khóc; “Khóc cái gì? Thằng này nó điên, đưa vô chợ quán bây giờ!” Ngồi khóc ghê lắm; thấy không: nhớ thương quá; mấy trăm năm không gặp, mà người ta đã phục vụ cho mình tùy theo lệnh của mình; mà mấy chục năm, bao nhiêu kiếp ở thế gian cứ hạ lệnh cho người ta làm.

Bây giờ các bạn không có biết, không có thấy cái vía, chớ cái vía ở đó chớ đâu: các Bạn sai nó làm; cái ý của Anh đang sai nó hỏi “Tôi đây nè,” là cái vía của Anh hỏi đó chớ! Đang sai: cái hồn sai cái vía làm việc 24/24 mà không hay, hành hạ không hay! Mình thương là cái mình đã hành hạ vợ mình; bao nhiêu đó, khóc ăn năn sám hối; “Thôi, từ rày về sau chúng ta đồng tu đồng tiến!” Nó thấm thía lắm; nó thâm thúy lắm; không có bút mực nào mà tả cho hết.

Rồi cái anh bạn mà nói rằng đã gặp được hồn vía mà không thấy mặt; cái đó không phải! “Lưỡng nghi hợp nhất,” cái phần con trê của ảnh rút lên, cái điển nó rút cái bộ sinh dục nó rút, nó rút lên; nó phối hợp ngay trung tim bộ đầu: sung sướng lắm, lạc thú lắm; nhưng mà không có thấy mặt. Chưa thấy đâu, vì hai luồng điển lưỡng nghi hợp nhất nó sung sướng; khi mà ngồi mà thấy nó rút rút như vậy là nó sướng vô cùng, nhẹ nhàng lắm; sướng hơn triệu lần ở thế gian giao cấu; mà không có tiêu hao; hồng hào tốt đẹp. Cái đó là ông bạn đó đi tới chỗ lưỡng nghi hợp nhất.

BĐ3: Dạ, con cảm ơn Thầy giải đáp hai câu hỏi. Con còn thắc mắc thêm một phần nữa là, như vậy ở trên Thiên Tiên, ở trên cõi Tiên thì ở cấp bậc nào hồn và vía luôn luôn tương hội? Vì đọc qua những cốt truyện,

ĐT: Ở cõi Bồng Lai thì tương hội rồi.

BĐ3: Dạ, còn dưới Tiên, vẫn còn là cũng chưa tương hội?

ĐT: Chưa, chưa.

3: Do đó Tiên vẫn còn mắc đọa là vì,

ĐT: Cũng còn mắc đọa; ở Bồng Lai thì tương hội.

: Dạ.

ĐT: Ông đi đâu thì bà đi đó.

3: Dạ.

ĐT: Mình đi trước, có bà đi sau: vô tới Phật giới mới nhập lại một, nhập đằng sau lung, nhập lại một.

3: Dạ, kính thưa Thầy: Nếu ông đi trước, bà đi sau, hoặc bà đi trước ông đi sau, thì tại sao vị tiên nữ đó lại còn mê một nhà sư, và nhà sư không tội tình đó cũng phải vương vấn với cái nghiệp?

ĐT: Đâu có; hai cái là một mà, bởi vì nhà sư phải thuần dương, rồi cái vía kia cũng phải thuần âm; hai cái thuần âm thuần dương hợp lại là một mới nhập niết bàn.

: Dạ.

ĐT: Bởi vì định luật tiến hóa đi tới mà: người ta tu học mà; bởi vì ông cũng phải tu, mà bà cũng phải tu; “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc,” nhưng mà hai cái thuần lại hòa là một; thuần âm thuần dương hòa là một.

3: Dạ.

ĐT: Cho nên, Đức Quan Âm với Đức Di Lạc, nói đi nói lại cũng một lý thôi: hai người; mà bên ra hình đàn ông, bên ra hình đàn bà; một trình độ như nhau.

3: Dạ, con kính xin cảm ơn Thầy!

ĐT: Ừ.

BĐ4: Xin Thầy cho phép con hỏi thêm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì người tu thành đạt đó, thì hội hiệp được phần vía và hồn.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thưa Thầy, nếu mà những người thế gian không có tu thì khi qua đời rồi thì cái phần vía hồn này có hồi hiệp được không?

ĐT: Không được, không được; chỉ tu phước thôi. Người hành đạo là mới được; còn không là tu phước thôi; không làm gì được, cái đó chịu; chỉ tu phước là được, rồi phải luân hồi. Còn những người hành đạo, cố gắng rốt ráo thì họ giải tỏa được, họ mới quy hội được: nó thuần âm, thuần dương nó mới quy hội được; còn không, không thể nào cất đầu nổI; bị kẹt mà thôi.

BĐ4: Xin phép Thầy, cho con hỏi thêm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Như cái phần xác trước, cái phần trước của Thầy đó, là cái phần hồn của ông Lương Sĩ Hằng;

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì ông Lương Sĩ Hằng cũng có cái phần vía của ông Lương Sĩ Hằng;

ĐT: Ừ.

BĐ4: Nhưng mà khi cái phần hồn của Ngài Vĩ Kiên đến với cái phần xác của ông Lương Sĩ Hằng, thì cái phần hồn của Ngài Vĩ Kiên đó sẽ dùng cái phần vía nào?

ĐT: Tạm dùng cái phần vía của ông Lương Sĩ Hằng, rồi một thời gian đổi trở lại: vì cái chỗ ban giao, ban giao với nhau thôi, thì cái phần hồn kia thức giác lo đi tu; đằng này lo xong rồi mới cho trở lộn lại. Hai người ở bên kia nó trở về bên kia; còn cái bên này, trụ lại bên này. Nhưng mà trước khi trong cái ban giao đó là phải ở lại thế gian một thời gian: cái phần của ông Lương Sĩ Hằng phải ở lại thế gian một thời gian, rồi sau đó là rời khỏi luôn và đổi lại tất cả hoàn toàn của người mới; nhưng mà cũng nhìn nhận cái chuyện cũ của đằng kia; ban giao một cơ sở vậy thôi chớ không có gì!

Đây rồi, các Bạn tu thời gian đi lên, đi thấy đi vậy, rồi nó tiêu tan đi, rồi nó trở lộn lại. Rồi tới lúc mà các Bạn dẫn được cái vía đi rồi, cũng bị tiêu tan; rồi trở lại; thì cái phần trước kia nó phải hồi về với cái trước, rồi cái sau này nó thay đổi, nó trở lại tinh tấn hơn. Cái vía cũng phải tinh tấn, chớ không phải riêng tôi: là tôi đem cái phần linh hồn, linh điển xuống đây, rồi cái phần vía của linh tánh nó ngày nay đã phối hợp rồi thành ra hai cái đồng thành đạo một lượt, để cứu độ chung sanh; mắc ở trong cái thiện nghiệp đó thôi.

Rồi cái phần kia thì người ta lo người ta đi tu: hai người kia phải lo đi tu; phần nào trả về phần nấy; nhưng mà cái vía một thời gian theo cái phần hồn này nó được tinh tấn và nó trở về đôn đốc cái phần kia tu nhiều hơn để trả lại. Nó không phải màu nhiệm gì; nó rõ như ban ngày, không có cái gì màu nhiệm hết á. Nó đương nhiên phải vậy à, cũng như cơ sở làm ăn, bây giờ nó cũng bao nhiêu công chuyện đó thôi, bây giờ đổi người mới tới thì Anh phải, ... phải dạy đủ mấy công chuyện, rồi Anh bỏ Anh đi chỗ khác; người khác nó tới nó thế.

Cho nên, thay đổi hoài hoài! Các Bạn tu đi, rồi mặt mày các Bạn thay đổi hoài hoàI; mà không biết là sao? Cũng như Hiếu đó: người ta dòm thấy nó trẻ hoài à! Nó có thay đổi, nhưng mà nó đâu có biết thay đổi cái gì đâu? Mà chừng nào Anh đi lên tới trển, Anh nói: “Ồ!” Anh dòm lên, té ra, “Tôi thay đổi từng này từng này.” Lúc đó Anh mới giảng đạo được. Nó thay đổi, cũng như Anh Phương bây giờ ở chỗ trán nó cũng bắt đầu thay đổi đó, nó gom lần lần hết rồi đó; rồi sẽ thay đổi nữa; rồi chừng ít năm sau, người ta nói: “Anh Phương sao lúc này trẻ giống con trai Ảnh quá!” Nó không có già; nó phải thay đổi vậy đó.

Nó lên cao chừng nào nó phải trẻ chừng nấy; mà nó lên rồi thì nó vui, nó như con nít vậy; mình thấy hình thù mình ra có chút, đâu có lớn đâu, mà biết đủ chuyện hết, không có nặng nề nữa, mới kêu bằng “Buông bỏ;” không đánh phấn, không thoa son, nhưng mà thấy mặt, người ta dòm thoáng mặt mình “Cha này tươi đẹp!” Phải đánh phấn thoa son mới tươi đẹp chớ! Người ta dòm, tươi đẹp.

Chớ mặt tôi hồi trước đâu có hồng như vậy, mà bây giờ nó hồng! Tôi là tôi y cái hình mà tôi thấy trong lúc tôi thiền, tôi thấy y vậy đó: mặt tươi, đỏ; rồi cái tôi đứng giữa kiếng tôi chà vậy, cái thấy nó đỏ lòm, thấy nó đỏ, đỏ liền; khỏi cần bỏ son (cười); thì cái đó là mới chứng minh là cái hào quang nó xuất phát, nó chạy hoàI, chạy hoài, nó liên hệ, liên hệ với cả Càn Khôn Vũ Trụ; nó tươi.

BĐ5: Khỏi đánh phấn, phấn hồng.

ĐT: Không có đánh phấn hồng, làm vậy cái nó hồng à! Thấy không; thấy điển không?

BĐ5: Dạ.

ĐT: A, hiểu điển rồi là quý rồI; biết điển rồI, sắc đẹp sẽ có tự nhiên, không cần phải đi xin ai có sắc đẹp.

BĐ5: Con dẹp tiệm.

ĐT: Nó đâu có đẹp bằng cái này.

BĐ5: Dạ.

ĐT: Cái này tự nhiên mà; tự nhiên nó đẹp hơn! Rồi bây giờ ai?

BĐ6: Thưa Thầy, trong phần này con có cái thắc mắc.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Như anh Phương mới vừa nói hồi nãy, Thầy giảng thì phần hồn của Đức Vĩ Kiên xuống mà quên đi phần vía của Đức Vĩ Kiên.

ĐT: Đâu có quên, có sắp đặt làm sao quên được; giỡn! Đi đâu nó cũng chạy theo.

BĐ6: Phần hồn của Đức Vĩ Kiên sẽ xuống để nhập với lại phần vía của Lương Sĩ Hằng.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Thì như vậy, vì một cái công tác, vì một công chuyện mà phần hồn của Đức Vĩ Kiên đã mất chung thủy với phần vía của…

ĐT: Bởi vì khi đổi mà chiếm cái xác đó đó, mà cái xác đó phải đương sống; thấy chết nhưng mà còn hơi thở; thấy chết, thấy chết nhưng mà cái nhịp thở ở trong đó còn; chiếm là chiếm cái còn sống thì có người làm việc ở trong đó. Cho nên, xuống phải dọn lại: cũng như Anh chiếm cái nhà mà có người ở, thì Anh vô Anh phải sắp đặt; sắp đặt rồi thì mấy người đó nó đi chớ; rất dễ mà; không có gì đâu.

BĐ6: Với lại, ngoài ra cái phần này con thấy cũng có cái cách buộc cho những người đang đi tìm cái cô Tiên ở trong cái bản thể của mình.

ĐT: Ừ.

6: Là khi họ mê cô Tiên đó quá thì đâm ra quên cái cô Tiên thật ở trên trần gian.

ĐT: Nếu mà cô Tiên đó mà làm cho họ mê quá đó, thì cô Tiên đó không phải là cô Tiên. Cô Tiên sáng suốt phải hiểu Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín;:không có nên làm cho chồng mình mê, mình mới thấy con vợ đó là vợ lý tưởng; chớ con vợ mà bắt mình mê đó, là con vợ đó là con vợ con quỷ (cười), không phải Tiên; con quỷ đó, thiệt đó! Nhiều người lấy con quỷ mà không biết đâu.

BĐ5: Dạ.

ĐT: Bắt chồng mình mê mình không à; đó là quỷ, không phải là tiên; không phải! Nói sự thật vậy đó, tôi nói sự thật vậy đó.

Rồi bây giờ Anh lên hả? RồI; chớ ai cũng chọn “Thượng Đế Giảng Chân Lý” hết á! (cười) Không có ai dám chọn “Địa Ngục” để tôi nói chuyện cho nghe; Địa Ngục hay lắm, mà người ta không ai chọn.

BĐ7: Bởi vì ai cũng sợ hết, Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Địa Ngục buồn lắm Thầy ơi!

ĐT: Ừ.

Trần gian, các con thờ “Tam Thể Phật” mà không hiểu ba vị Phật này tượng trưng cho ba thể tính Bi, Trí, Dũng của Thượng Đế. Bên Thiên Chúa Giáo cũng vậy, thờ Chúa Ba Ngôi: Đức Chúa Cha chính là thể Trí; Đức Chúa Con ngôi tình yêu, tức thể Bi; Đức Chúa Thánh Thần là ý lực của Thượng Đế, tức thể Dũng vậy.

Các con, phần đông không hiểu Chơn Lý nên chỉ cầu Chúa, niệm Phật, niệm Thượng Đế, trong tinh thần ỷ lại vào sự cứu giúp, sự phò hộ, vì nghĩ rằng các vị Phật, Chúa ấy ở đâu đâu ngoài con, chớ không hiểu rằng các vị này đều vừa có ở ngoài Đại Vũ Trụ, vừa có cả trong bản thể con nữa! Đấy là những thể tính của Thượng Đế, mà cũng là của con; và Thượng Đế chính thật là con đó!

(Lời minh giải của đức ThầyJ Cho nên, tôi thường nói: “Các bạn cứ mong Thượng Đế ở bên ngoài, ông Phật ở bên ngoài;” nhưng mà lấy cái gì chứng minh ông Phật? Phải khối óc không? Lấy cái gì chứng minh ông Trời? Phải khối óc không? Lấy cái gì chứng minh con ma? Phải khối óc không? Tất cả là ở trong các bạn!

Chưa hiểu được điều này, mà chỉ cầu hoặc niệm để được sự phò hộ, sự cứu rỗi, đấy là còn mê tín, là vọng cầu, vọng niệm mà thôi! Đa số các con niệm Di Đà để xin Di Đà che chở, niệm Quan Âm để xin Quan Âm cứu nạn, giờ đây biết niệm danh Thượng Đế thường là cũng xin Thượng Đế cứu độ con thoát qua tai ách, v.v... ấy là những vọng cầu, vọng niệm, vọng tưởng, vì con chưa hiểu con đó thôi!

Vậy thế nào là chánh niệm? Khi con niệm Lục Tự Di Đà, con phải hiểu rằng con đang lay động, nhắc nhở, đánh thức tính sáng suốt, khơi dậy ánh sáng trong con, để con vượt lên sự tăm tối ngu muội. Đấy mới tưởng Di Đà ở đúng vị trí của Di Đà. Khi con niệm Nam Mô Đại Bi Cứu Khổ Quan Thế Âm Bồ Tát, con hiểu rằng, con đang đánh thức tính yêu thương tức thể Bi trong con.

Đánh thức nó tỉnh dậy, phát triển nó để tâm con mở rộng luôn luôn hành thiện cứu khổ, ban vui. Đấy là con biết tưởng Quan Âm đúng vị trí của Quan Âm. Khi con niệm danh Thượng Đế, con phải hiểu con cũng đang niệm chính danh con đó. Con vốn dĩ là Thượng Đế phân hồn ra thành tiểu linh quang xuống đây đi học. Con là Chủ Nhân Ông đang điều khiển cái tiểu thiên địa của con, bản chất của con y như bản chất của Đấng Tạo Hóa muôn loài và khi đọc danh hiệu này, tâm thức con hãy hòa vào tâm thức của Càn Khôn, rung động cùng một nhịp với Đại Hồn Vũ Trụ. Đấy là con biết tưởng Thượng Đế như ý Thượng Đế muốn, và con cũng đã đặt con ở đúng vị trí của con. Niệm như vậy mới là biết niệm: Đấy là chánh niệm, mà cũng là chánh kiến, chánh tín, chánh định, chánh tư duy của Phật giáo đó con.

Cha cho chúng con rõ, khi con biết chánh niệm, thì dù không cầu, không vọng sự phò hộ, chở che, cứu giúp. Con lại được hộ giúp, che chở hữu hiệu hơn, đắc lực hơn nữa; đức Bồ Đề Đạt Ma nói: “ Tất cả chúng sanh đều là Phật như mình, vậy mình chẳng phải cứu ai cả! không vị Phật nào có thể hơn mình. Vậy mình chẳng phải van xin, cầu nguyện ai cả; mỗi người là Phật cho chính mình, mỗi người là mỗi vị Phật riêng của mình và tất cả đều ta phải làm cho tới cùng để nhận ra rằng mỗi người đều tìm tàng thực tại và chơn lý duy nhất ấy”

Nho giáo nói: “ Vũ Trụ Tiện Thị Ngộ Tâm, Ngộ Tâm Tiện Thị Vũ Trụ”: Vũ Trụ chính là tâm ta, ta chính là Vũ Trụ; thấy tất cả tôn giáo đều cắt nghĩa như vậy;

Lời minh giải của đức Thầy: Cho nên, cái gì các bạn đang hành đây là như vậy. Cho nên, phải xây dựng đức tin và tin nơi khả năng của mình, thực hành một kỳ công giải tỏa cái phần lười biếng đó, mà để đi tới sự thanh cao tự đạt.

Tại sao? Lẽ dễ hiểu là vì kẻ vọng niệm phần trí tuệ chưa sáng bằng kẻ chánh niệm. Linh hồn nó yếu đuối và kém tiến hóa hơn vì chỉ biết hướng tới tha lực mà không biết tự lực, chỉ thấy sức mạnh bên ngoài mà không thấy sức mạnh có sẵn trong chính nó để biết tận dụng sức mạnh đó.

Cho nên khi con niệm để cầu được cứu giúp, điển của con không sáng bằng khi con biết chánh niệm. Vì nếu con biết chánh niệm, khi ấy điển trong bản thể con sẽ hòa cảm với khối điển sáng suốt của Càn Khôn. Niệm Di Đà thì phần điển Di Đà trong con bật sáng, chuyển động hòa với khối điển Di Đà, tức phần điển Trí của Càn Khôn. Niệm Quan Âm là phần điển Quan Âm của con sáng lên rung động, hòa cảm với khối điển Quan Âm tức phần điển Bi của Càn Khôn. Niệm danh Thượng Đế thì chơn thần con rung động, tiểu linh quang lóe sáng hòa với khối Đại Linh Quang. Nhờ đó, đứa biết chánh niệm, sẽ tự bao quanh nó một khối lượng điển lành nhiều hơn đứa vọng niệm.

Khối điển tốt lành đó sẽ che chở, hóa giải bớt cho nó điều khổ nạn do nghiệp lực khảo đảo nó, và nếu khối điển lành bao quanh, càng lớn chừng nào thì nó được hưởng sự che chở, sự hóa giải điều khổ nạn nhiều hơn chừng ấy, dù nó không cầu, không vọng sự cứu giúp phò hộ như kẻ vọng niệm. Ấy chính vì nó đã tự biết cứu, tự phò hộ, tự che chở nhờ hiểu được và biết tận dụng sức mạnh của chính nó có sẵn. Nhờ cái biết đó, mà nó đã tự bảo vệ nó hữu hiệu, trong khi kẻ vọng niệm do ít sáng hơn nên không được hưởng bằng.

Dĩ nhiên trong khi con vọng cầu sự phò hộ thì các phần điển những vị trong khối sáng suốt của Càn Khôn cũng sẽ ban rải chút điển sáng suốt xuống linh hồn con để phò hộ, cứu giúp, giải bớt khổ cho con nhờ con tưởng đến. Song, sự vọng niệm sẽ khiến con bị chậm trễ đà tiến bộ, vì Tiểu Hồn cứ có thói quen nương tựa, ỷ lại vào tha lực, chờ đợi sự giúp sức nên mãi còn yếu đuối, trí tuệ còn lâu mở, và do đó, con phải tiến hóa trì trệ mà thôi!

Tóm lại, khi con niệm Di Đà, phải thấy mình là Di Đà. Khi con niệm Quan Âm phải thấy mình là Quan Âm. Khi con niệm danh Thượng Đế, phải thấy mình là Thượng Đế và hợp nhất với Đại Hồn Vũ Trụ. Biết niệm như vậy, con vừa giúp con được tiến hóa nhanh, mau sáng suốt, vừa lại biết tự phò hộ con, bảo vệ con hữu hiệu hơn; vì nếu sáng hơn, thanh hơn chừng nào, con sẽ hóa giải hữu hiệu hơn chừng ấy


----
vovilibrary.net >>refresh...