[19860103Q1]

Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Vấn Đạo - Cuốn 7A

.....

BĐ: Kính thưa Thầy, Thầy cho phép thì con xin hỏi,

THẦY: Ừ.

BĐ: Thích Ca Mâu Ni Phật, nếu cắt nghĩa theo Đức Ông Tư thì đức Thích Ca phật tổ đắc đạo có tên thật là gì? Vì trong Kinh A Di Đà, “Thích” là giải nghĩa, “Ca” là ca tụng, “Mâu” là mâu ni châu,

THẦY: Ừ.

BĐ: Và “Ni” là chính mình,

THẦY: Ừ.

BĐ: Như vậy Thích Ca Mâu Ni Phật đã chiếu điển cho đức A Di Đà,

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì chính vị chiếu điển đó,

THẦY: Ừ.

BĐ: Pháp danh phật là gì?

THẦY: Ừ.

BĐ: Thí dụ như đức Ông Tư đã đắc quả vị Phật,

THẦY: Ừ.

BĐ: Là Phật Bảo Tạng,

THẦY: Ừ.

BĐ: Và Thầy là đức Phật Vĩ Kiên,

THẦY: Ừ.

BĐ: (nghe không rõ)

THẦY: Ừ. Đó là tất cả những danh từ cũng như mượn cây gậy mà chỉ đường cho người ta đi;

BĐ: Dạ.

THẦY: Cũng như chữ “Thích” là giải thích; còn Ông Tư là “Bảo Tạng,” là chỉ cái Pháp Luân Thường Chuyển, bảo tạng; còn tui, người ta nói, “Vĩ Kiên,” là vĩ đại kiên cố, là để dành cho tất cả mọi người tu. Và tên “Thích Ca” cũng cho tất cả chúng sanh chớ không phải riêng Thích Ca; vì Thích Ca có hình thù, Thích Ca là vô danh, không phải là hữu danh! Nếu mà Thích Ca thành đạo, giữ là tên “Thích Ca,” là không phải phật! Phật là vô danh; phật không có danh; nhưng mà thế gian phải mượn cái hình thù, vì chậm trễ, để cho thế gian hiểu cái đó, giá trị đó là cái gì, và nung nấu ý trí trở về gì? Trở về Không, cũng như Thích Ca; Thích Ca là vô danh; nhưng mà thế gian phải hữu danh. Anh hiểu chỗ đó không?

BĐ: Dạ.

THẦY: À. Đặt đó để cho những người sơ căn đi tới: “Vậy chớ, tui tu tui theo ông nào?" "Tui dựa cái lý nào? Tui theo cái đó tui mới truy tầm ra cái chơn lý mà để tui mượn cái cây gậy đó để trở về Không.” A Di Đà cũng vậy; cũng cho mượn cái danh từ ở thế gian thôi! Mà tên của Anh cũng vậy: có ý nghĩa cao siêu về Không hết! Tất cả chúng sanh, danh từ của chúng sanh, đều là mượn cây gậy tại thế, rồi bỏ cái đó, đi trở về Không, mới là thành Phật. Thì tất cả đều vô danh.

BĐ: Dạ; con kính cảm ơn Thầy. Câu hỏi thứ hai: trong trang 31 có hai câu thơ, “Đà, ấy sắc vàng muôn kiếp ghi,”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Tròn vo che phủ Núi Tu Di.”

THẦY: Ừ.

BĐ: Và cũng thì hai câu thơ trong trang 35,

THẦY: Ừ.

BĐ: “Đà, ấy sắc vàng trùm khắp cả, ”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Tròn vo che phủ Núi Tu Vi”

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì ở tại đây,

THẦY: Ừ.

BĐ: Con tự hỏi, “Tròn vo che phủ Núi Tu Di”

THẦY: Ừ.

BĐ: Rồi lại là, “Núi Tu Vi”?

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì phải chăng là do xếp chữ lộn? Hoặc là Núi Tu Di là một cái núi ở bên Tầu? Rồi ở dưới này là Núi Tu Vi, là ở đây người ta dùng chữ khác nhau?

THẦY: Cho nên, ở đây nói về cái nghĩa lý đó là cái, trên đầu; trên đầu của chúng ta, người tu Vô Vi, khi mà Anh xuất ra, hay là Anh thanh nhẹ, thấy cái đầu Anh đầy núi hết đó; nhiều cảnh núi; mà cái hào quang nó bao vây đây này: cái mầu vàng hào quang nó bao vây cái núi Tu Di ở trên này. Mà “Tu Di,” “Tu Vi,” cái đó là sắp lộn chữ, cái đó người in cũng có. Nhưng mà cái đó chữ nghĩa, không nghĩa lý gì. Mà thực hành, chúng ta, cái núi của chúng ta là ngay chỗ khối óc này, nhiều núi lắm: cái tiểu thiên địa có chỉ rõ cho các bạn thấy, cái núi, khi mà các bạn nhắm mắt thấy bay là đà đi tới núi này núi nọ là ở trên này, đó; núi này núi nọ, Núi Tu Di. Đó! Cái hào quang nó bao trùm hết thẩy. Nhưng mà cái núi Tu Di này có thể nói về cái càn khôn, chớ không phải cái núi ở bên Tầu đâu! (Thầy chỉ trên đầu) Núi chỗ này; cái núi ở đây, đây là cái Sơn Đình; ở trong này là núi! Thấy không?

BĐ: Dạ.

THẦY: Cho nên, cái hào quang chúng ta bao. Cho nên, người tu, trong đó có nói rõ Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, nó mới đi lên trên, rồi nó mới bao, “Ấy sắc vàng bao trùm khắp cả,” cái tiểu thiên địa này.

BĐ: Dạ. Kính thưa Thầy, trong này sau đó có giải,

THẦY: Ừ.

BĐ: Nghĩa như thế này. “Chữ ‘Tu’ là râu mày,

THẦY: Ừ.

BĐ: Chữ ‘Vi’ là Vô Vi.

THẦY: Ừ.

BĐ: “Như ở trong mình ta có hào quang phát ra thấy sáng,”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Chúng ta rờ bắt không được, “

THẦY: Ừ.

BĐ: “Không (nghe không rõ) được; ý nghĩa không, mà có. Mầu sắc ấy tốt tươi không bao giờ hoại nát,”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Do nơi cục ngọc mâu ni châu của ta biến hoá ra hào quang ấy.”

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì, kính thưa Thầy, ở dưới này là, “Núi Tu Vi” có nghĩa là “Tu” là râu, và “Vi” là Vô Vi.

THẦY: Ừ. Thì nó cứ tuỳ theo cái chữ đó; tuỳ theo cái giai đoạn mà cắt nghĩa; kêu bằng, mượn danh từ mà để chỉ thanh điển, mà thôi.

BĐ: Dạ. Cảm ơn Thầy.

THẦY: Chớ không có gì hết.

BĐ: Thưa Thầy, câu hỏi thứ ba là câu hỏi phụ. Trong câu thơ ở trang 31 thì, “Công phu thuần thục lên bờ giác;” con tự cho là tạm hiểu ý nghĩa này;

THẦY: Ừ.

BĐ: “Đắc quả may ra vẫn kịp thì.”

THẦY: Ừ.

BĐ: Đã đắc quả rồi mà còn, “May ra”?

THẦY: Đắc quả thì may ra vẫn kịp thì; là tới đó mình được đi rồi! Mà phải đắc quả cơ mới được; chớ tu tới đó mới có thấy nhẹ tưởng ta đắc đạo rồi; là trật rồi. Phải tu cho đắc quả mới là kịp thì. Phải cố gắng nữa. Cho nên, các bạn muốn xả thiến, tui nói, “Ngồi rang một chút nữa rồi mới xả thiền.”

THẦY: Chớ đừng có nói, “Tu vạy đủ rồi!” Không có đủ đâu. Hiểu không?

BĐ: Dạ.

THẦY: Thì chúng ta ở đây là cắt nghĩa về điển, cho nên danh từ là mượn thôi, chớ kỳ thật nói về điển không à! Khi mà các bạn ý thức là điển, là nó phải tròn vo; lúc nào cắt nghĩa nó cũng tròn vo hết.

BĐ: Dạ.

THẦY: Cho nên, giữ cái tròn và cái không đó,

BĐ: Dạ.

THẦY: Là các bạn hiểu nghĩa lý của Kinh Di Đà. Mà còn không hiểu điển á, đọc vô là nó bực tức.

BĐ: Dạ.

THẦY: Dùng cái trí thức mà đọc cái này là nó hư hết trọi; không được.

BĐ: Dạ.

THẦY: Dùng điển. Khi mà các bạn vô, bước vô là, “Tui ở điển giới, tui không còn thể xác nữa; tui nghĩ về điển giới; giới điển nó tròn, không bị đứt và không bị mất.” Thì lúc đó tui cắt nghĩa mới rõ ràng, dễ hơn. Lấy cái Không trước; dễ hiểu và dễ nhận.

BĐ: Dạ.

THẦY: Còn lấy cái trí thức mà xét về văn tự á, là không được; không hiểu ông này ổng nói cái gì. Nhưng mà kỳ thật ổng nói từ trang một; các bạn phải theo rõi từ câu trên, câu dưới; mà ngồi, mình nghiền ngẫm, cứ đọc và nghiền ngẫm, nó chạy vô, nó chạy vô trong mình; nó chạy; nhiều bạn đọc một chập nó thấy nó, nó, nó rần rần cái đầu, nó thét nó thấy nó buồn ngủ. Đọc một chập nó buồn ngủ á; nó rút à. Đó là cái điển đó; chứng minh cái điển, chớ không phải cái văn tự; văn tự này không nghĩa lý gì. Ổng chỉ mượn như cây gậy để đề ra mà thôi; còn luồng điển trật tự từ ở trên xuống; rất có trật tự; và nếu chúng ta thanh là chúng ta thấy cái đầu nó sáng; và đọc cái này nó thấy càng sáng.

BĐ: Dạ. Con xin cảm ơn Thầy.

THẦY: Ừ.

BĐ: Và ở đây á, sau khi Thầy giảng, “Ma ha thập thích,”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Là gồm có ba tạng,”

THẦY: Ừ.

BĐ: Tạng tâm, tạng gan, và tạng thận. “Thì bởi thế, ‘Ma ha là tạng Tâm, tạng Gan, và tạng Thận.”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Thì bởi thế, dưới này chữ ‘Ma ha’ là thành ma.”

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì con kính xin Thầy giảng câu này mà có một người hỏi con, mà con không thể nào trả lời được.

THẦY: Ừ.

BĐ: Là, “Cao Đài Tiên Ông,”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Đại Bồ Tát, Ma Ha Tát.” Theo con nghĩ,

THẦY: Ừ.

BĐ: Đó là danh từ, gọi chung là “Thượng Đế.”

THẦY: Ừ, ừ.

BĐ: Nhưng mà, như vậy cái chữ, “Ma ha” này và chữ “Ma ha tát” bên kia, nó khác nhau như thế nào, thưa Thầy?

THẦY: Cái này nó khác. Cái này tui đã nói Anh rồi: mượn danh từ phân thanh trược.

BĐ: Dạ.

THẦY: Còn cái kia là khác: cái kia người ta giảng về Kinh, mà dùng cái tiếng âm thinh đó để dẫn tiến đệ tử đọc kinh để cái tâm được nhẹ. Còn cái này mượn cái đó mà phân thanh trược cho thấy. Cái bên kia khác ạ! Cái bên kia Anh phải đọc nghê ngha cho nó đẹp á! Cái câu Anh đọc, “Ma ha tát,” Anh cũng phải nhẹ nhàng đi theo cái điệu đó để cho mở tâm; bên kia cũng mượn mà lập thành cái văn từ để cho Anh đọc thành kinh, ngâm nga để giải cho cái tâm nhẹ, mà mọi người đứng xung quanh nghe cũng nhẹ nữa, rồi bắt trước đọc theo; là đọc kinh nó vậy đó! Còn cái đằng này khác: cái này mượn cái này mà mổ sẻ cái lý điển; cái lý điển khác ạ! Phân thanh, trược để thấy rõ. Mà mở cái lý điển, nó khác. Cho nên, khi Anh tu mà thanh nhẹ rồi, Anh đọc mới thấy rõ cái lý điển nó đang chạy trong tâm can của Anh; thấy ba giới quan trọng. Mà thanh tịnh đương đọc rồi mới thấy, “Ba cái này quan trọng!” Rồi dòm lên cả càn khôn vũ trụ, cũng ba cái đó quan trọng! Rồi nhân gian đều ba cái đó là quan trọng. Thấy không? Rồi cái giới ma cũng quan trọng chớ không phải không quan trọng: có trựơc, có thanh; rất rõ ràng. Đó, rồi lúc đó chúng ta mới thức trọn vẹn của chơn lý; nhờ cái đó mà chúng ta thức trọn vẹn chơn lý.

BĐ: Dạ.

THẦY: À. Còn chấp cái này, bỏ cái kia là không, không thức; bởi vì luồng điển nó phải tròn; mà Anh cứ đi tới trong điển là nó phải tròn. Ờ; còn cái đằng kia là phải sắp, nếu mà Anh trật một chữ là cái kinh nó không có nghĩa lý; mà đọc nó không có hay; người ta đọc người ta phải ngâm nga cơ mà; mà mọi ngừơi ngồi xung quanh mà thắp nhang, mà rồi đánh chuông lên, ai nghe cũng nhẹ hết; mà nhẹ trong thời đó thôi; trở về không được nhẹ. Còn cái này mình hành từ trong cái nặng mà mình đạt tới cái nhẹ, thì mình tiến tới cái điển giới, thì cái lý của mình nó sáng hơn. Còn cái kia nó phải mất sau cái thời kinh. Còn ở đây nó sẽ còn, mà khai triển hơn nữa sau thời công phu. Hai bên khác nhau.

BĐ: Dạ. Con kính xin cảm ơn Thầy.

THẦY: Ừ.

BĐ: Đó là những câu hỏi con có.

THẦY: Ừ.

BĐ: Dạ, xin hết.

THẦY: Cho nên tui đã nói đọc kinh A Di Đà là để những người tu có điển mới đọc; nhưng mà ngày hôm nay đem ra dậy cái này là mục đích muốn dậy cho những người sơ căn nữa, và những người tu lâu nữa, hiểu cái nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật;” rồi học thêm một phần lý giải của Đức Di Đà mà phổ hoá trong cái điển. Mà đối với những người có điển á, thì cảm thấy cái đầu nó nhẹ nhàng lắm, thấy sung sướng khi nghe được băng giải qua âm thinh của tôi. Rồi đối với những người trí thức, học văn, thì họ nghe họ không chịu, bởi vì họ đâu có biết điển giới là cái gì; họ nghe, không chịu, “Nó khó chịu quá!” Cho nên tui phải pha chế thêm một phần về trí thức: ví dụ này, ví dụ kia, ví dụ nọ, để phần trí thức cũng lần lần sẽ am hiểu và thấy rõ nguyên căn của mình đang trụ trong điển giới của cơ hình; cơ hình của con người trí thức mà không có điển thì khối óc không có sáng lạn; phải có điển là Tinh, Khí, Thần. À; phải có cái phần đó mới minh được lý thuyết và học lý thuyết. Đó.

BĐ: Dạ.

THẦY: Cho nên, ngồi đây mà cắt nghĩa về cái Kinh A Di Đà nó nhiều chuyện khó, là nó đòi hỏi từ cái người không biết gì, và người trí thức, và người có điển, và người mập mờ trong điển; phải cắt nghĩa. Cho nên các bạn, rồi đây các bạn sẽ nghe lại cuốn băng tui đều cũng có phần hết, cho người nào có phần, nghe, hiểu, nhưng mà chưa rớ tới. Rồi hành, lúc đó rớ tới, mới thấy rằng, “Ổng đã lo cho mình, và cắt nghĩa rất rõ ràng!”

BĐ: Dạ.

THẦY: Khi mà trình độ đi tới thì các bạn ngồi nghe thấy rồi; nửa đêm các bạn cứ ngồi vặn băng đi, nghe đi, nó đi tới đâu các bạn nghe thấy rồi; thấy có; thấy cái phần điển nó làm cho mình được nhẹ chỗ nào; tâm mình đang bấn loạn mà nghe qua những cái lời giảng dậy như thế này, giảng giải như thế này, mình thấy cái tâm mình nó nhẹ rồi. Thì cái gì làm mình nhẹ? Phải lời nói? Không phải! Cái điển; cái âm thinh đó nó có cái điển; mà cái điển trùng hợp với cái điển của mình nó mới rút đi lên. Cho nên, Vô Vi là rút ra chớ không có ép xuống.

BĐ: Dạ.

THẦY: Ép xuống nó khác! Không có ép xuống. Ép xuống là nó ra một tràng uy nghi, xưng danh “Thượng Đế,” uy nghi, đặt những câu thơ uy nghi, mọi người phải trầm lặng hết để nghe những sự uy nghi đó; thành ra chính nó không phát triển và không đứng lên được; chỉ nghe thôi; ở hiền vậy thôi. Còn cái này, không; cái này đi đến để tìm ra chơn lý. Mà trước hết muốn đi đến á, phải giải toả cái trược khí, mà tìm thanh khí, rồi trở về với trược điển, thanh điển; lúc đó mới minh được cái đạo pháp. Cho nên chúng ta đi tắt là Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định; là để chi? Làm việc ở bên trong; không có làm việc bên ngoài. Soi Hồn là làm việc bên trong đó: khai mở cái trược ở bên trong và lưu cái thanh ở bên trong. Làm Pháp Luân Thường Chuyển thì khai, giải cái trược ở bên trong và lưu cái thanh ở bên trong. Thì “Lưỡng nghi hợp nhứt,” nó mới thành ra ánh sáng của đạo vàng trong nội tâm. Thì chúng ta có hành cái này, dễ hiểu; cắt nghĩa ra, biết. Còn có ai có gì thắc mắc nữa không?

BĐ: Dạ kính thưa Thầy, dạ từ lâu con nghe Thầy nói trong một cuốn băng,

THẦY: Ừ?

BĐ: Là anh em bạn đạo ở Canada sáng nào cũng lo uống lít nước, rồi nằm thở, rồi sau đó ăn uống thì tính sau,

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì con cũng được lời khuyên tu của anh Phước cũng khuyên uống nước,

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì con cũng uống; sang nào con cũng uống vậy. Dạ, thì cũng lâu lắm rồi. Sáng nay thì gặp một số anh em bạn đạo, chẳng hạn như anh Hữu, với một người nữa, nói rằng ảnh uống có 21 ngày, Thầy khuyên uống có 21 ngày; con không biết làm sao; tại vì trong cuốn băng Thầy nói ở Canada đó, Thầy nói uống như vậy, nằm thở để lọc hạ giới; mà nó cũng lâu lắm.

THẦY: Ừ.

BĐ: Mà nay con nghe anh em họ nói Thầy khuyên uống có 21 ngày thôi; con rất thắc mắc không biết làm sao?

THẦY: Cho nên cái đó tôi đã in ra giấy tờ, uống 21 ngày. Cho nên tui kêu mỗi buổi sáng uống nước; trong cái giấy, có đề cái đó. Uống 21 ngày, rồi mình nghỉ. Rồi một thời gian mình uống lại. Mà có nhiều người uống liên tục cũng không có sao. Tuổi trẻ uống liên tục không có sao; nó giải nhiệt; có gì đâu.

BĐ: Dạ.

THẦY: Sợ mấy người già người ta uống (cười) nhiều quá nó hàn bao tử. Chớ ở trong đó người ta có đề bao nhiêu ngày, bao nhiêu ngày; có đề hết. Chớ đâu có gì. Mà nhiều người người ta uống luôn à! Có nhiều người người ta uống tới mấy năm trời, đâu có sao.

BĐ: Dạ, con cũng uống trên một năm rồi.

THẦY: (cười) Tuổi trẻ, đâu có sao! Nó giải nhiệt. Không có ăn đồ nó bị lở miệng đồ, vậy thôi; thanh niên mà!

BĐ: Thưa Thầy, nếu mà uống 21 ngày rồi nghỉ đó,

THẦY: Ừ.

BĐ: Thì cái thời gian uống lại thì chừng bao lâu uống lại lần nữa, Thầy?

THẦY: Thì, mình thấy mình thích thì mình uống lại. Bởi vì nếu mà cái miệng mình ăn phức tạp, đồ chiên, đồ nhậu nhiều quá thì mình phải uống.

BĐ: Dạ.

THẦY: Còn bình thường mình ăn đồ mà mát thì thôi, mình đâu có cần uống. Nó điều hoà thôi.

BĐ: Dạ.

THẦY: Ờ. Còn nếu mà ăn đồ nhiều quá, ăn tiệc tùng nhiều quá, ăn mỡ đồ nhiều, mình uống, lọc. Cái đó là lọc, cũng như rửa nhà; không có gì đâu. Mà uống mỗi lần phải uống 21 ngày;

BĐ: Dạ.

THẦY: Rồi ngưng.

BĐ: Cảm ơn thầy.

THẦY: Dạ.

BĐ: Kính thưa Thầy,

THẦY: Ừ.

BĐ: Trong cái phần nói về phần hồn thì, “Khi mà hồn đã được tự do luyện đạo theo Pháp Lý công phu, thì hồn này mới gọi lục căn lục trần cùng vía lại mà nói rằng,”

THẦY: Ừ.

BĐ: “Hôm nay ta chào các ngươi, Lục Căn Lục Trần cùng Vía nghe theo ta phán, và chúng ngươi phải biết mấy câu kệ của ta, ‘Đố ai có biết lão là ai? Vi phạm Thiên Nhan phải bị đầy.’” Vậy trong phần này, con thắc mắc vì cái phần hồn đã phạm những tội gì mà bị đầy?

THẦY: Phạm chớ! Không phạm, sao bị Lục Căn Lục Trần nó sai khiến? Liệng một cái, “Ạch” xuống cơ mà! Bây giờ xuống đây các bạn đang phạm tội đó chớ các Bạn không phạm tội thì các bạn đi ra đi vô dễ dãi rồi. Bị bao vây bởi Lục Căn Lục Trần, nó sai khiến, tánh ý nó điều khiển mình, nó làm cho mình bực bội. Bị tội mới bị giam ở trong cái tiểu thiên địa này; cái tiểu thiên địa này là cái khám mà! Mà từ ngày thức giác rồi thì bề trên chư Phật chiếu cho, mình mới tỉnh giậy, mình mới thấy rằng, “À, các ngươi phải nghe lời ta!” Thì ông Chủ Nhân Ông ổng tu rồi. Phạm tội nhiều lắm chớ! Nhiều tội lắm: cướp của, giết người, đủ thứ; luân hồi ở tù biết bao nhiêu kiếp, ngày nay mới được ngồi đây. Mà chưa xong, chưa thấy rõ mình;

BĐ: Dạ,

THẦY: Chưa biết mình tiền kiếp làm cái gì.

BĐ: Dạ,

THẦY: Không phải người hiền đâu.

BĐ: Dạ,

THẦY: Ác lắm đó! Ăn gì cho thiệt ngon, nấu gì cho thiệt chín; đủ thứ muốn không à! Tội nặng lắm. Cho nên tui nói rằng, “Chúng ta là một tội hồn chưa hoàn tất.” Còn đang ở trong cái xác này chưa biết bữa nào xẩy ra đại nạn. Cho nên chỉ có tu, tháo gỡ lần lần, tu thì Bề Trên xoá liền, mà chúng ta cứ tháo gỡ, nay một chút, mai một chút thì không có bị tội. Bịnh là tội đó; nhiều cái bịnh nặng lắm: bị tội đó! Mà không hay; tưởng “Tôi ở hiền.” Tội nặng lắm; từ tiền kiếp, tội nặng lắm. Bây giờ phải chịu, mà để có cơ hội thức tâm ăn năn hối cải lo tu.

BĐ: Thưa Thầy, cái ý con là cái phạm tội này là phạm tội ở trên Thiên Đình?

THẦY: Phạm tội Thiên Đình đó; bởi vì Thiên Đình gởi xuống thế gian để làm việc, mà xuống đây, nghĩa là, enjoy, hưởng thụ. Tội đó! Tham dục; tạo nghiệp. Tội đó!

BĐ: Như vậy là từ trên thiên đình không có bị tội, mà chỉ vì giao cái nhiệm vụ,

THẦY: Chớ sao! Là chứng minh là phần hồn không phải ở thế gian tạo, cái câu này đó!

BĐ: Dạ,

THẦY: Phần hồn này là tội, cái người vô tội mà xuống đây làm nhiệm vụ, mà không tròn nhiệm vụ, thành tội. Tạo nghiệp đó! Chớ đừng có nói, “Tui coi hồ sơ toà án, tui không có tội!” Có tội!

BĐ: Dạ,

THẦY: Có tội mới không thấy rõ mình! (cười)

BĐ: Nếu mà có tội ở trên Thiên Đình, vậy thì ở trên Thiên Đình cũng có luật pháp; vậy cái luật pháp ở trên Thiên Đình là sao, Thầy?

THẦY: Luật pháp ở trên Thiên Đình là kêu bằng, “Cứu độ quần sanh.” Luật pháp ở trên Thiên Đình là phải lo tu tịnh chơn chánh, chuyên cần chơn chánh, chớ không có làm bậy bạ. Mà xuống thế gian rồi, người ta bợ lên cái, ham, thích, làm bậy; cho nên sanh tội. Nội cái tình dục không này, cũng tạo biết bao nhiêu tội không!

BĐ: Dạ,

THẦY: Mình đẻ một mớ con, rồi mình cưng con, rồi đánh nước này, đánh nước kia, đánh nước nọ, rồi tạo tội; cứ cuống cuồng luân hồi tại thế mãi mãi; mà không có giải thoát được. Mà trước kia là một vị tiên rõ ràng! Cho nên, quý vị mà tu giải thoát, tu về cái pháp này, thì con ma nó nói, “Chư tiên đó chớ!” Nó thấy rõ chư tiên! Mà chư tiên phạm tội, phải mang xác phàm! Chớ đâu có phải, đâu có phải tầm thường đâu.

BĐ: Dạ,

THẦY: Bất cứ kinh kệ nào cũng xác nhận là phần hồn ở đây không có thể chế tạo được mà! Từ ở trên xuống! Tại sao? Bây giờ Anh, nói về Bồng Lai Tiên Cảnh, cảnh đẹp, Anh thích không? Thích chớ! Sạch sẽ, Anh thích không? Vốn Anh chỗ đó! Thơm tho Anh thích không? Vốn Anh ở chỗ đó, Anh phải thích chỗ đó! Nhưng mà chưa về được, vì ta đang bị ôm bởi sự trần trược; và sự trần trược đang bao vây chúng ta.

BĐ: Dạ,

THẦY: Cho nên chúng ta mượn cái kỹ thuật tu để tháo gỡ sự trần trược, trở về sự thanh cao. Cho nên từ ngày tu, chưa tu thì mình ăn nói hung hăng; tu rồi, tự nhiên mình xuất ngôn hiền lành. Nó đi tới nhẹ rồi đó! Mà tu rồi, mình thấy mình thương tất cả mọi người: nó nhẹ rồi; quý tất cả mọi người; là mình thấy mình nhẹ rồi;

BĐ: Dạ,

THẦY: Rồi mình đối với những người mà chưa biết tu á, họ muốn hơn thua, họ muốn chèn ép người khác. Còn mình không có cái ý chèn ép một ai hết. Mình có cái ý xây dựng. Thì mình thấy mình bước được một bước, tiến tới một giai đoạn nhẹ rồi.

BĐ: Dạ,

THẦY: Mới thấy rõ, “Ta không phải là người ở đây!” Cho nên, càng tu càng thấy cái quyền năng tha thứ và thương yêu của chính mình, mới học từ bi được; biết tha thứ, biết thương yêu mới học từ bi và thực hiện từ bi được.

BĐ: Dạ,

THẦY: Chớ Anh tưởng Anh là ông gì ở đây? Ông tiên đó chớ! Ông tiên (cười) giáng trần mà bị kẹt tới bây giờ; đi không được. Phải không?

BĐ: Dạ,

THẦY: Đi đâu bị khối trược nó cứ bám theo. Cái xác Anh là khối trược chớ gì nữa? “Ma nhứt trượng, phật nhứt xích.” Nó cứ bám theo à! (b/đ cười) Nó không có thả ổng đâu! Chừng nào mà Ông lo cho nó đầy đủ rồi, nó thả. Nó thức tâm hết rồi, tự nhiên mình muốn đi đâu mình đi. Lúc đó là sống nó nhàn hạ rồi. Cho nên, mình tu là nó phải có cái giá trị ở chỗ đó.

BĐ: Dạ,

THẦY: Mới thấy rõ nhiệm vụ. Lúc đó mới quỳ trước mặt Thượng Đế mà khóc lóc và xin lỗi; là hứa, trước khi xuống thế gian đã hứa với Ngài làm cái gì, nhưng mà bây giờ không chịu làm! Ăn, đi chơi bời! Trước, tui cũng bị; tui quỳ gần nửa ngày với Ổng mà tui khóc;

BĐ: Dạ,

THẦY: Bởi vì trước đây mình nhớ và mình hứa đi xuống đây làm cái gì. Xuống đây chỉ đi chơi! Không làm cái gì hết!

BĐ: Dạ,

THẦY: Sau, trở về gặp được, là khóc. Mình thấy mình sai lầm!

BĐ: Dạ,

THẦY: Bây giờ mình phải ăn năn lo tu, lo cứu mình để độ tha.

BĐ: Dạ,

THẦY: Cho nên dốc long tu. Cho nên, các Bạn ra đây các bạn sẽ gặp à, hễ đi lên được là lẩn quẩn lẩn quẩn đi chơi; thấy cái nhà đẹp lẩn quẩn đi chơi; rồi nó hút vô đó là ứ hơi! Nhắc lại cái tuồng cũ, thấy mình đứng đó, “Trước khi đi mày hứa gì; bây giờ mày làm sao;” hiện ra hết! “Bây giờ mày đi đâu?” Khóc nửa ngày mà!

BĐ: Dạ,

THẦY: Những anh hùng này kia, kia nọ, mà lên tới đó, thôi, khóc; không có nói được cái câu gì hết. Chỉ quỳ ở đó thôi!

BĐ: Dạ,

THẦY: Cho nên, tới trước mặt Thượng Đế là chỉ có quỳ và không có được nói cái gì hết. Chắc chắn là mình có lỗi. Một triệu phần trăm là mình có lỗi; không có nói được cái gì hết.

BĐ: Dạ,

THẦY: Ở thế gian sai Thượng Đế, chê Thượng Đế, này kia kia nọ chớ, đi lên trên đó rồi sẽ biết! Cái hào quang Ngài chiếu một cái rồi, bẩy mươi hai diệu tướng của Ngài chiếu một cái rồi đó là chỉ có khai thôi à! Không có đánh đập!

BĐ: Dạ,

THẦY: Cho nên, các bạn tu thanh nhẹ rồi, những người phàm ở thế gian mà quen bạn rồi, tự nó khai hết trọi hết công chuyện của nó cho bạn nghe. Bạn thấy cái điển nó thế nào. Cái điển của mình là người phàm tu luyện được mà đối phương nó còn khai; hỏi chớ, ông Thượng Đế còn cách nào? Tự nhiên trong ruột gan mình phải được phơi bầy hết trọi rồi; tự nhiên khai hết.

BĐ: Dạ,

THẦY: Khi xuống tới diêm Vương cũng khai hết à; bởi vì ông đó ổng thế Thượng Đế mà! Mà ông đó là ổng cứu! Ông Diêm Vương đó, ổng không có ác đâu; ổng cho mình ở tù đó rồi xong rồi mình ăn năn hối cải mình mới được luân hồi trở lại. Biết được Địa Ngục là ông Diêm Vương là người tốt, không phải người xấu; mà ổng giữ luật công bằng.

BĐ: Dạ,

THẦY: Khi anh luân hồi rồi Anh trở lại, Anh chết rồi Anh trở lại thế gian, Anh xin cái gì ổng cho cái nấy: cho theo ý muốn của mình!

BĐ: Dạ,

THẦY: Mình muốn sung sướng, ổng cho sung sướng: làm con heo sung sướng nhứt: người ta nấu, mình ăn; rồi mình phải hy sinh! Sung sướng nhứt rồi! Phải không? Xin cái gì, cho cái nấy.

BĐ: Dạ,

THẦY: Đó; cho nên ở thế gian hay muốn lắm, “À, tui muốn có cái này, tui muốn có cái kia!” Tui tu, bây giờ tui không giám muốn. Tui có giám muốn đâu! Hỏi con Bê, nó ở gần một bên mà tui đâu có giám mà, “Ờ, Con cho Ba xin” cái gì; không gíam đâu! Chừng nào nó cho thì tui ăn; không cho thì thôi. (cười) Sợ lắm; dễ làm tội lắm! Ờ, mắc tiêu cũng không giám kêu nó! Nó ở bên phòng chớ đâu! Tui đâu có giám kêu.

BĐ: (b/đ cười)

THẦY: Thôi, không có thôi, ráng chịu. Nó không cho! (b/đ cười) Mình ráng chịu. Nó, nó, nó khoẻ quá thành ra ngủ không được; nó mát cái chỗ này á, nó không ngủ đước; nó khoẻ quá không có cái gì, thì cũng không giám qua đó kêu. Cho nên, nhiều khi nửa đêm tui lụi cụi tui giậy tui làm việc, rồi nó thấy tội, nó qua giúp. Hồi trước chị thanh Nguyên hay là chị Truyền cũng vậy. Tui không có giám kêu một người nào. Không có, “A, mày phải làm cho tao cái này.” Không! Tui dậy tui đánh máy; rồi mấy người nghe cốc cốc cốc cốc, tội nghiệp, qua nói, “Thôi, để tui đánh máy; Ông ngồi Ông nói đi. Ờ.” Phát tâm làm thì tui chịu. Còn sai người ta, tui không chịu. Tui làm cas đêm không à! Một, 2 giờ khuya là tui giậy tui đánh máy rồi. Thành ra bữa hôm tới đó, thì qua bà này ngủ bên phòng đó rồi; tính qua làm việc mà thấy hai người ngủ, mình không giám; phải tôn trọng họ; trở về phòng (Thầy và b/đ cười) Không giám. Ờ; chớ giờ đó là giờ tui làm việc đó; tui phải đánh máy thơ từ. Cho nên, không giám động ai hết. Càng biết luật á, thì phải càng đi đúng đèn xanh, đèn đỏ, hơn. Càng không biết luật á, thì dòm không có xe chạy lên chạy xuống, mình chạy ngang! (Thầy và b/đ cười) Phải không?

BĐ: Dạ! (Thầy và b/đ cười)

THẦY: Càng quen ông lớn chừng nào á, lại càng phải giữ luật chừng nấy. Chớ nói, “Tui quen ông Thượng Đế, tui muốn làm gì thì làm!” Đâu có được! Tội còn nặng gấp triệu người không biết Thượng Đế.

BĐ: Dạ!

THẦY: Nó không phải giỡn đâu! Cho nên, cái tinh thần cứu độ, tuyệt đối phải giữ. Nếu mà quen được Thượng Đế, tin Thượng Đế, cái tinh thần cứu độ và hy sinh phải trọn vẹn mới được chứng minh. Còn tinh thần cứu độ phục vụ mà thiếu sót á, không bao giờ Thượng Đế chứng minh! Rồi, ai có gì thắc mắc nữa?

BĐ: Dạ, thưa Thầy, trong cái phần đó, con vẫn còn có một cái thắc mắc.

THẦY: Rồi, Anh nói tới!

BĐ: Là thế này:

THẦY: Rồi!

BĐ: Mỗi một con người ở trên trái đất này coi như là một tiểu thượng đế,

THẦY: Ừ.

BĐ: Bây giờ ở đây, “Ông hồn,” đây là nói chung cả loài người, hay là một cá nhân?

THẦY: “Ông hồn,” tiểu hồn, là của cá nhân; mà đại hồn là cả loài người.

BĐ: Như vậy ở đây, trong cái cuốn sách này dùng chữ, “Ông hồn,” đây là đại hồn, hay là tiểu hồn?

THẦY: Tiểu hồn.

BĐ: Tiểu hồn?

THẦY: Ông hồn; tiểu hồn.

BĐ: Như vậy, nếu tiểu hồn,

THẦY: Ừ.

BĐ: Coi như là lúc trước tiên là ở trên Thiên Đình,

THẦY: Ừ.

BĐ: Mà nhận nhiệm vụ của Thượng Đế xuống đây để làm việc,

THẦY: Ừ.

BĐ: Nhưng không làm tròn, mà mệ trần,

THẦY: Ừ.

BĐ: Không trở về, thành ra đắc tội.

THẦY: Ừ.

BĐ: Như vậy thì bây giờ trên cái đất này có hàng tỷ tỷ người, tức là có hàng tỷ tỷ tiểu hồn,

THẦY: Ừ.

BĐ: Như vậy họ nhận cái nhiệm vụ gì từ Thượng Đế xuống đây,

THẦY: Ừ.

BĐ: Mà từ tỷ tỷ tiểu hồn?

THẦY: Ừ. Thì có; có nhiệm vụ hết trọi; chớ nếu không có nhiệm vụ, ai xây nhà cho Anh ở đây này?

BĐ: Dạ!

THẦY: Ai làm xe hơi cho Anh đi? Ai may áo cho Anh mặc? Mỗi người nó có cái nhiệm vụ. Rồi còn cái nhiệm vụ mà đối với Thượng Đế, nhiệm vụ hy sinh và cứu độ. Nhưng mà nó không hy sinh; nó vụ lợi; nó mang tội.

BĐ: Dạ.

THẦY: Nó chỉ lo cho cá nhân nó thôi, nó không cần biết người khác. Rồi nó còn hạ lịnh giết người khác nữa; hại người ta; đốt nhà người ta; giết vợ giết con người ta. Cái đó nó có tội chớ.

BĐ: Dạ!

THẦY: Anh thấy không? Thấy nó ăn bận ngon lành, đi xe hơi, nhưng mà cái tâm của nó ác lắm. Về buôn bán cũng vậy: “Làm cho nó xập đi; cho tán gia bại sản đi; giết hết cả gia đình nó,” nó mới chịu. Có chớ! Có tội chớ, sao không có tội? Chớ mỗi một cái tội khác nhau! Cho nên, Anh có thời giờ Anh đọc cái “Địa Ngục Du Ký” Anh thấy cái tội, có chớ. Không có, lấy gì giam, lấy gì xử?

BĐ: Dạ!

THẦY: Mà chính mình cũng có tội, mà chưa tới lúc xử đó chớ! Không nhiều thì ít mình cũng có tội; chưa đến lúc xử mình; xử rồi thì mình khai; hồ sơ nắm vững ở đó chớ đâu có bỏ được!

BĐ: Những cái người ở trên Thiên Đình, nếu mình muốn bước vào Thiên Đình đó, thì phải thật thanh nhẹ?

THẦY: Chớ sao?

BĐ: Và taị sao đã đạt được như vậy rồi, lên Thiên Đình lại còn mang những cái trần trược đó để rồi phạm tội đối với lại Thượng Đế để rồi bị đầy xuống đây?

BĐ: Những người mà phạm tội ở thế gian mà được lên Thiên Đình rồi đó, không có giám tái phạm đâu. Cho nên, cho nó học một khoá ở thế gian rồi, nó lên đó nó mới chịu cộng tác với Thượng Đế; mà chỉ thừa lệnh của Thượng Đế mà thôi. Cho nên, nhiều người ở thế gian tu phước, thành thần; cứ làm ông thổ thần hoài à! Tới đó rồi ông thượng Đế ổng cho làm việc là mừng quá rồi; ở đó làm ông thổ thần hoài! Bởi vì chức vụ của ông Thượng Đế không là an ninh đầy đủ, không có bị thất bại. Thành ra người ta không cần tiến; đó là người ta tu rồi; mà tu trong cái giới đó, giới thần; mà thực thi cái quyền năng của Thượng Đế để thức tâm loài người; và những người tà gian gặp Ngài phải kính nể và phải thức tâm. Đó là nằm trong cái ý của Thiên Ý!

BĐ: Dạ!

THẦY: Chớ đâu có trở lại đó rồi trở lại làm người; không! “Trước kia làm người; nay tui được làm vị tiên gia.” Đó; nhiều vị đã nói rồi, “Trước kia tui cũng làm người như các vị; vì tu tui mới được làm tiên gia!”

BĐ: Dạ!

THẦY: “Trước kia tui là một người phàm, ngày nay tui là một vị phật, cũng nhờ tu.” Mà những người đó không có bị trở lộn lại. Mà những người từ ở trên đó mà tách rời bởi Thượng Đế, rồi thấy nhẹ nhõm, chán; sung sướng quá, chán! Rồi dòm ở dưới thế gian này thấy nhiều người nó cần mình, rồi mình nhẩy xuống, cũng như là liến khỉ, xuống chọc chơi! À, chọc thét rồi này kia kia nọ, rồi gá duyên, rồi cái ở lại, bị kẹt luôn! Rồi hoá hoá, sanh sanh; bị kẹt rồi sanh ra ác ý. Nó không ngờ thế gian mà động loạn cho đến nỗi phải chém giết; thì lúc đó những người đó phải lấy cái trí thông minh của họ tạo bùa, tạo phép. Cho nên bùa phép đem xuống thế gian để giết người. Những cái khí giới đó ngay ở Nam Vang, ở Lào, đã xử dụng rất nhiều; ở Thái bây giờ cũng vậy nữa. Đâu có cần súng ống.

BĐ: Dạ!

THẦY: Nó giết cả gia đình người ta! Nó biết tên tuổi của Anh, rồi nó làm chú, bùa chú, mỗi đêm nó mỗi tụng, mỗi làm cho Anh đau chỗ này, đau chỗ nọ. Tui có một người bạn ở Việt Nam, chia gia tài anh em mà không xong, rồi mấy anh em đó, nó ôm hết của người ta, rồi mấy anh em giận, đi qua Thái cầu bùa; bùa mà bên Thái, khi tới giờ mà người ta cúng đó, người ta đánh một cái chuông, đánh cái “Bùm,” mà là cái ngực nghe cái “Bục” liền, nó nhào lăn ra. Con một Hán gian của người Tầu ngày xưa đó, giầu có lắm, ở Việt Nam đó, mà nó không có cách gì chữa hết. Xuống gặp Ông Tư, Ông Tư cũng nói, “Không; vì Bạn quá tham, Bạn phải trả cái của lại cho anh em, thì cái bùa đó mới không có hiệu nghiệm.” Mà đúng giờ á, đúng 11, 12 giờ á, là bên kia người ta cúng lên cái người ta đánh cái, “Bùng!” là ngực nó nghe cái trống lớn lắm, nó phải nhào xuống. Mà nói gì nói, nó cũng nhứt định không chịu. Bây giờ không biết ra làm sao; tui không hiểu. Rồi cái, nó muốn tu cái pháp này. Ông Tư nói, “Tu cái Pháp này mà không bỏ cái đó thì tu không được! Bởi vì Bạn ôm cái này và muốn tu cái pháp kia để giải; giải cái gì? Ôm cái này, làm sao giải được? Của thì Bạn không giải, mà bùa thì nó bám Bạn, nó đánh Bạn. Không cách nào cứu được!”

BĐ: Dạ!

THẦY: Cho nên, những vị tiên xuống trần đểlàm nhiều điều tốt cho thế gian, nhưng mà những người đó đem ra bán mà ăn, thành ra mang tội nhiều lắm. Ngay cả bên Tầu là nhiều nhứt: những vị tiên xuống, làm sách bói đồ này kia kia nọ, rồi đè đầu người ta lấy tiền. Những vị đó bị hết. Chớ trước tiên là ở bên Tầu; như đệ tử của Lưu Bá Ôn đồ, nhiều lắm, biết quá khứ, biết vị lai đồ, biết nhiều lắm. Nhưng mà làm bậy hết!

BĐ: Dạ!

THẦY: Thành ra bị. Không có mấy người chơn đâu! Xuống trần bị hết. Cho nên, hỏi, hồi trước, Trung Hoa có phải tự do không? Sung sướng không? Hưởng thụ! Nhưng mà vì quá thái cho nên bị xụp đổ. Cũng kể cả Việt Nam nữa cũng vậy: hồi đó cũng tự do, nhưng mà quá thái: năm thê bẩy thiếp, nhà lầu, tùm lum. Không kể thằng dân! Thì phải bị đoạ. Cũng một vị tiên vậy! Xuống trần để độ tha, nhưng mà hại tha! Đâu có được! Thì phải bị đại nạn.

BĐ: Con xin cảm ơn Thầy.

BĐ: Kính thưa Thầy, qua sự giải đáp của Thầy về những vị tiên xuống trần bị mê trần, nhiễm trần, và bị đoạ. Vì các chư tiên xuống trần qua bào thai, mặc dù mục đích là xuống để cứu thế giúp cuộc sống của chúng sinh tốt đẹp hơn. Nhưng mà con, qua nhận xét của con, vì các vị đó xuống trần qua bào thai, xuống trần vì có (không nghe rõ) của người mẹ và người cha, thì mất dần cái tính cách tinh anh, do đó những sự nhận xét và phán xét những nhận thức lúc còn là vị tiên trên Thiên Đình xuống không còn sáng suốt nữa, thì vì cái sự nhiễm trược của những vị tiên xuống trần qua hình thức chào đời, lọt lòng từ người mẹ, thì do đó con thiết nghĩ rằng tại sao Thượng Đế cử người xuống mà để làm lu mờ tính linh anh luôn của những vị tiên xuống trần, để cho đến nỗi họ mê trần, vì họ không thức được? Như chúng con nghĩ, những vị tiên đó xuống có tính cách mất dần linh anh và sáng suốt, thì cái tội đó có phải chăng, có được nhẹ giảm đi chăng? Và có phải chăng rằng Thượng Đế có thể cách nào mà để làm khi xuống trần các vị tiên vẫn còn sáng suốt như ở trên Thiên Đường? Thì kết quả có tốt đẹp hơn chăng?

THẦY: Khi xuống trần, những vị tiên có tu thì vô trong một cái gia cang đạo đức. Đạo đức, cái gia đình đó đạo đức cho nên sanh ra có cơ hội ăn học; hồi xưa đó, học thông minh lắm, làm tới Thượng Thơ, làm quan lại; đâu có phải tầm thường. Vẫn còn sáng suốt; và cái ý nguyện của Ngài là cứu độ nhân dân; và thi thơ lưu loát, không có bị tắc nghẽn. Nhưng mà cư trần, nhiễm trần; ở thế gian quyền thế càng ngày càng bành trướng bao vây, hạnh hy sinh càng ngày càng mất, là do nhân dân ngu muội nhiều quá rồi phục vụ, đề cao vị đó, “Có một, không hai;” rồi giao hết trọn quyền ở trong tay. Thì Ngài cũng vẫn sáng suốt, sáng suốt để mà cai trị. Nhưng mà càng cai trị thì càng làm lợi cho chính cá nhân, và không biết cái cách chia sẻ và điêu luyện cho toàn dân tiến tới như mình. Cái lỗi đó là sai! Vì ở thế gian phong chức mà! Ông quan không có chơi với dân; ông quan khác, dân khác. Nó không chịu hoà đồng với dân.

BĐ: Dạ!

THẦY: Còn ông tiên xuống thế gian thì phải cho nó qua cái chỗ ô trược để nó thấy người dân nó bị nhập cái xác phàm là nó ở ô trược, và nó không bị ở cái gia đình nó nuôi nấng nó và cho đề cao nó, nó không có chịu hoà tan với cái giới ô trược, để nó đem cái phần sáng suốt dẫn người ta từ cái trược đi tới cái thanh. Đó.

BĐ: Dạ!

THẦY: Thành ra từ đó nó mới ô nhiễm; vì bưng bít, này kia, kia nọ, nó tạo ra cái tánh độc tài. Nó cũng thấy có sự sáng suốt của nó, vị sự sáng suốt của nó, ra một cái lệnh là tất cả mọi người phải nghe, nó có phải sáng suốt không?

BĐ: Dạ!

THẦY: Nó vẫn xử dụng sáng suốt. Mả cái sáng suốt đó lần lần, lần lần nó quên Thượng Đế, vì nó thấy nó đã tạo được một cảnh thiên đàng tại thế gian rồi, cho nó rồi. Cũng như Tần Thuỷ Hoàng đó, tạo được một cảnh cho nó rồi, không bao giờ chết, “Vạn Lý Trường Thành,” chận hết, không có ai tới được! Thấy nó ngon không? Sáng suốt nó bành trướng như vậy đó. Ngày hôm nay người ta còn đi thăm Vạn Lý Trường Thành, vì người ta không thấy rằng cái người đó nó thấy rằng nó đã bành trướng một cái sáng suốt tại thế; nhưng mà sáng suốt nó bị giới hạn.

BĐ: Dạ!

THẦY: Cho nên, lịch sủ lưu lại để cho chúng sanh thấy rằng sự bành trướng của một vị tiên ông đó bị giới hạn bởi Thượng Đế, vì cái mạng môn của y, tới thời kỳ, phải ly khai.

BĐ: Dạ.

THẦY: Thì nó làm được Vạn Lý Trường Thành, mà y không hưởng được Vạn Lý Trường Thành. Thì cái quyền đó ông trời nắm rồi. Y phải bị đoạ; y phải mang tội.

BĐ: Dạ.

THẦY: Còn nếu mà y làm như Thượng Đế, Thượng Đế tạo mặt trăng mặt trời chiếu cho chúng sanh, chiếu tất cả, không phải chiếu cho một người; tình thương của Thượng Đế ban cho tất cả, hơi thở của Thượng Đế ban cho tất cả, ở trong cái chỗ hôi thúi cũng như chổ thanh sạch; thì y không có bị xụp đổ.

BĐ: Dạ.

THẦY: Cho nên, những vị đó xuống thế gian làm thầy, đều thất bại hết. Không làm thầy, không làm tổ, nhưng mà làm bạn trao đổi, thì có quyền. Cho nên, tui luôn luôn tuyên bố với các bạn, “Tui là bạn đạo mà thôi; không phải thầy;” nhưng mà các bạn, vì cái thói xưa, hồi xưa, cứ kêu, “Thầy.” Nhưng mà tui cũng nói rằng “Các bạn đạo là thầy của tiểu thiên địa thì ‘Tao’ với ‘Mày,’ một thứ thôi,” để cho nó hiểu rõ cái nguyên lý là chúng ta bình đẳng trao đổi, để nghiên cứu để đi lên. Nó càng thân mật hơn, cởi mở hơn, và dễ dãi hơn.

BĐ: Dạ.

THẦY: Thấy rõ không? Để tránh những cái sai lầm mà chính chúng ta có thể tạo cho ta. Nếu bây giờ Bạn đề cao tui, mọi người đề cao tui, phục vụ cho tui, tui ham ăn, ham nhậu, ham chơi bời, các bạn cũng phục vụ luôn, thì tui chết. Phải không? Cái gì tui cũng giới hạn, Anh thấy không? Tui ăn 5 phút tới 10 phút là hết rồi; không có cho ăn nhiều; không có được tham lam. Phải quản lý như vậy. Chớ còn mấy ông kia á, ngồi chễm chệ, món này thưởng thức rồi tới món nọ, rồi ngồi, này kia, kia nọ, ăn một bữa ăn mấy tiếng đồng hồ. Tui, 5 tới 10 phút là hết rồi! Trễ lắm là 10 phút là phải xong bữa ăn chớ tui không có cho ăn nhiều nữa. Tụi dưới này không có làm được nhiều việc, cho chút đó thôi; êm; nó không có tham lam được; nó không có quá độ. Cho nên, tương lai các bạn có thành đạo cũng phải giới hạn.

.....[19860103Q1]


----
vovilibrary.net >>refresh...