[19860102Q6]
KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ - Cuốn 6B
Mà muốn trị bệnh, bệnh do tánh sanh, kẻ hung hóa hiền, cái bệnh nó mới hết! Hung thì cái bệnh nó càng ngày càng gia tăng, nó làm cái thần kinh càng ngày càng yếu; mà hiền thì cái thần kinh càng ngày càng dịu, vì nó được nghỉ ngơi; còn người hung, nghĩ tới, hành cho cái thần kinh rối loạn, ngũ tạng bất an.
Cho nên, chúng ta được cái pháp này là giải tỏa 3 bộ phận đó điều hòa.
Mà ngày hôm nay chúng ta lại được tập trung ngay trung tim bộ đầu và để giải tỏa đem cái phàm tâm, luồng điển của phàm tâm, trụ về chơn tâm; cho nên sự liên hệ nó lớn rộng, nó thấy cái Tiểu Thiên Địa này hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ, nó mới thấy giá trị của Đại Thanh Tịnh là của đấng Từ Bi, của Thượng Đế, của vị Đại Thanh Tịnh, của Hắc Bì Phật đã chuyển độ chúng sanh, chúng sanh mới có cơ hội hướng thượng để tìm một lối thoát cho chính mình.
Cái hồn này là từ trên xuống, thì chúng ta từ cái thể xác này mà giải tỏa cho phần hồn được đi lên. Rồi lên đâu?
Cũng lên Tam Giới, cũng thượng, trung, hạ. Chỗ nào cũng nằm trong cái nguyên lý thượng, trung,hạ; mà ở giới nhẹ và giới nặng.
Cho nên ở thế gian đã cho chúng ta thấy biểu hiện có người được phước, thấy nó sống nhàn hạ, nó có tiền, nó dễ dãi; còn người nghèo làm suốt ngày. Đó, nó cũng có 3 giới tại xã hội. Xã hội loài người nó có ba giới thể hiện trước mắt chúng ta.
Nhưng mà người đạo dòm vô: 3 giới là 1! Người nào cũng học cái bài học đó để thức tâm, mà thôi. Người có phước, có tiền rồi cũng ôm cái khổ và thức tâm đi tu; mà người nghèo lao động khổ cực cũng chán đời, qua đạo. Đó! Còn người hiền thì họ cũng phải thấy rõ cái đời là ác ôn mà họ tự đi tu. Đó!
Cho nên chúng ta tu đây là giải tỏa 3 cái tạng quan trọn, mà chúng ta đang cai quản và không lo cho nó! Mà ngày hôm nay chúng ta tu là chúng ta biết lo và sắp đặt. Mà chúng ta lấy cái gì để giáo dục nó?
Chúng ta lấy cái nguyên khí cả Càn Khôn Vũ Trụ để khai mở 3 tạng này hòa đồng với nguyên khí Càn Khôn Vũ Trụ.
Cho nên 3 cái tạng này là lớn của ông Trời, chớ không phải của người phàm.
Cho nên, chúng ta hướng thượng mà giải tỏa!
Đó, là chúng ta mới thấy rõ ta là con ông Trời! Mà chúng ta hòa tan với ông Trời là chúng ta phải làm việc ông Trời, chúng ta phải thực hiện từ bi và đi tới Đại Từ Bi cũng như Ngài, hy sinh vô cùng:một cử, một động của chúng ta lưu lại tại thế gian để cứu những người kế tiếp.
Mà nếu một cử một động của chúng ta mà so đo, là người kế tiếp không có ngó nghĩ tới chúng ta.
Cho nên chúng ta, người tu Vô Vi, chỉ có lời chớ không có lỗ.
Nhiều người nói, “Tu Vô Vi nó lỗ, nó thiệt thòi!” Không đâu các bạn! Không có thiệt thòi, chỉ lời thêm thôi! Các bạn mở được cái trần trược, cái thối tha, cái dơ dáy, cái chậm tiến, cái ngu muội của các bạn, vứt đi, bỏ đi, thì tự nhiên các bạn sẽ đi tới chỗ sáng suốt vô cùng; cho nên chúng ta đi ngay trong tâm tạng của chúng ta, chớ không có đi bên ngoài!
Cho nên người ta tu, tu về lý thuyết bên ngoài, nghe lý Chúa, hay, ôm, khóc; nghe lý Phật hay, ôm,khóc; nhưng mà không hành!
Chúng ta hành, rồi sự cảm thức của chúng ta mới rúng động tất cả mọi người; cho nên cái tu của Vô Vi là trực tiếp.
Còn cái tu u ơ, đọc, hát là gián tiếp, mà hao phí; cuối cùng không thành đạt.
Cho nên, chúng ta đã học rất kỹ về nguyên lý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; mọi người phải hiểu rõ cái giá trị đó, và nắm cái đó để đi! Hễ nắm được cái đó là sẽ khám phá tất cả! Bảo đảm các bạn sẽ khám phá tất cả, không còn ngu muội nữa và sự thông minh vô cùng của chư Phật sẽ đóng góp cho các bạn chớ không phải người phàm đâu! Phi thường lắm!
Các bạn đạt được thanh tịnh rồi là nó đi tới chỗ phi thường tâm giác, chớ không phải đơn giản! Sau này các bạn phải sợ các bạn: “Ô, tôi hồi trước tôi ngu như vậy, nhưng mà tại sao bây giờ tôi thông minh như thế này? Mà tôi không tin!” Làm được bài thơ đó, rồi bắt làm, cũng một cái đề tài đó rồi các bạn vẫn làm 20 bài thơ, cũng đề tài đó mà các bạn làm được! Hồi trước các bạn rặn một bài mà rặn không được! Nhờ cái gì? Nhờ cái “Nam Mô A Di Đà Phật” mà nó khai thông, cái Thức Hòa Đồng nó mở thì cái trí tuệ của các bạn càng ngày càng thanh cao, hồn thơ của các bạn càng ngày càng dồi dào, và lý thuyết rất vững đi đúng tâm trạng của mọi người, chúng ta mới lãnh cái nhiệm vụ dẫn tiến tâm linh.
Lúc Đức Di Đà công phu luyện đạo, lúc ấy Ngài đang ngồi giữa đám đông người, nơi cội cây miền núi, nhờ tàng cây lớn Ngài dựa nương nơi cội cây ấy, gọi là cây Bồ Đề.
BỒ có nghĩa là bồ bịch dựa nương.
• Ông Tám giảng
Ngồi đó, dựa đó.
ĐỀ là thuyết đề mục để tu hành luyện đạo.
Đến khi đức Di Đà nhập Niết Bàn thành Phật thì tất cả Môn đệ cảm mến đức tánh của Ngài; nhiều lần đến dưới chỗ cội cây Bồ Đề này để nhớ và tưởng Ngài. Vì thương nhớ Phật, kẻ thì lượm lá đem về thờ, gọi là Lá Bồ Đề, kẻ thì lượm hột làm chuỗi đeo, gọi là chuỗi Bồ Đề: khi người tu hành tưởng nhớ đến công đức của Phật khi xưa chịu khổ sở với Môn đệ để truyền bá 6 chữ Di Đà Pháp Lý luyện đạo, thì tay lần chuỗi Bồ Đề. Hiện nay tích ấy còn lưu lại nơi người tu nhà thiền, khi tụng kinh niệm Phật hay là tưởng Phật thì tay lần chuỗi Bồ Đề từ hột, đặng rèn lòng buộc chặt không cho phóng tâm, để tu hành không lo ra việc thế tục; vì hễ ở trần, phải mến trần; mà nếu mến trần, không thể tu!
SAU ĐÂY TÔI XIN CẮT NGHĨA VỀ KHỞI ĐẦU CUỐN “KINH A DI ĐÀ”
Như Thị Ngã Văn
Nói về tông chỉ của nhà Phật, khi đức Thích Ca thấy đức Di Đà ngồi tựa cội cây công phu luyện đạo theo Pháp Lý, thì Phật Tổ mới cho điển truyền tin; lúc ấy đức Di Đà gom thần nhập định quên cả bản thể, làm cho điển bản thể được thông thiên thăng hành; đồng thời trực tiếp điển của đức Thích Ca truyền bá chỉ rõ cơ quan cùng gân thịt xương máu, mỗi mỗi trong bản thể đều có khí điển để làm việc cho những nhu cầu xác thịt (ăn, ngủ, bài tiết. v.v...) theo trần. Ngài nhận biết, cũng vì điển bản thể làm việc theo trần, làm cho con người cứ theo đó mà mê trần mỗi ngày sự sáng suốt của con người phải bớt dần; hễ con người càng bị lấm trần thì không thể thông minh được.
Đức Thích Ca thương xót chúng sanh, bèn điều độ lấy điển ngũ tạng gom lại tập trung nơi trước trán để làm một cái máy thông thiên; nhưng máy ấy gom cả lực lượng điển quang bản thể ta trở nên điển Hồn, lên phẩm làm Chủ Nhơn Ông, Xá Lợi, cùng Thông Thiên Giáo Chủ.
Đức Thích Ca đã chỉ rõ các mối điển hết rồi nhưng còn sợ người trần không hiểu thấu, mới chỉ trong bản thể của đức Di Đà có những tạng nào làm việc ra sao mà được ráp thành một guồng máy khoa học tinh xảo để hóa thành phụ trợ cho một linh hồn phép tắc vô cực vô biên, để làm một cái phép huyền diệu bay thẳng thăng thiên qua Bỉ Ngạn đến Bồng Lai và Niết Bàn đảnh lễ Phật.
Đức Phật Tổ buộc Phật Di Đà công phu luyện đạo để Ngài hiểu rõ tông chỉ, đồng thời cũng phát thanh ra giữa công chúng cho mỗi người hiểu lấy để cho dễ công phu luyện đạo.
Tông chỉ là nguồn cội, cốt giác của điển sanh sanh hóa hóa trước kia, làm cho mỗi người biết ăn, biết ngủ, biết bài tiết, và có trí thức thông minh hơn; nhưng Phật Tổ Ngài bố đức từ bi hộ độ, muốn cho mỗi người đều thành Phật, lấy phép điển trong mình gom góp lại, sắp đặt cơ quan con người đủ thông minh trí tuệ thần thông biến hóa; khỏi đi, đứng, nhờ điển tiếp truyền đại hùng, đại lực cũng như Ngài, muốn đến đâu thì hình bóng Người bay đến đó, hóa các phép Như Ngài, thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý; bởi thế Ngài đặt để đầu cuốn Kinh câu: “NHƯ THỊ NGÃ VĂN” để cho đức Di Đà nghe và nói ra cho rõ căn bản Pháp Lý mà thực hành.
Chữ NHƯ : Là Như Lai, nghĩa là trên không mà có tiếng nói đến bộ đầu Di Đà.
Chữ THỊ : Là hiển hiện rõ ràng.
Chữ NGÃ : Là Ta, là linh hồn của Di Đà, ở tại bộ đầu .
Chữ VĂN : Là mắt thấy, tai nghe, miệng lại nói ra giữa đám đông người.
• Ông Tám giảng
Cho nên, một chữ “Như Thị Ngã Văn” này là cái ý muốn của Đức Thích Ca, mà người truyền pháp cũng vậy, muốn đem những cái gì tinh vi độ chúng sanh.
Mà chúng sanh ở thế gian làm sao độ, vì nó không biết cái điển tâm ở nơi nào? Nên ngày hôm nay những bạn đạo Vô Vi dùng trung tim bộ đầu, đó là điển tâm; điển tâm các bạn tập trung đó hướng thượng thì chư Phật truyền pháp, truyền điển ngay cho chúng ta, pháp thủy rưới tươi trên đầu của chúng ta càng ngày càng thanh nhẹ; lúc đó trong cái thức của các bạn nghe, chớ không phải nghe người ta nói xào xào trong lỗ tai! Cái đó là tà! Còn cái thức của các bạn nhận, kêu bằng “tâm tâm tương ứng.” Khi mà nhắm con mắt như vậy, đương ngồi thanh tịnh không biết gì, mà cảm thức một triết lý vô cùng sâu rộng mà không bao giờ mình có thể nghĩ được, đó là “tâm tâm tương ứng”: chư Phật đã truyền bá ngay trung tim bộ đầu của chúng ta!
Cho nên, người tu Vô Vi nó may mắn nhứt! Chỉ trụ tâm ngay trung tâm bộ đầu để có cơ hội tâm tâm tương ứng với chư Phật, mà do cái công phu dày công hành đạt; trung tim bộ đầu đầy đủ điển thì rất dễ dãi, Ngài răn dạy chúng ta trong nháy mắt chúng ta hiểu hết, không phải mất thì giờ nói như âm thinh tôi nói ở đây; không có sử dụng cái đó! Ý Ngài chuyển là chúng ta hiểu liền! Cái đó kêu bằng tâm tâm tương ứng.
Cho nên, nhiều người tu không hiểu, nói, “Điển này tới đầu tôi; điển kia tới đầu tôi; điển nọ tới đầu tôi!” Cái đó là trật!
Mình phải mở cái hào quang sẵn có của chính mình, hướng thượng, rồi lúc đó Bên Trên mới chiếu hòa cái hào quang của Ngài cho chúng ta, phóng cho chúng ta một chút, thì chúng ta hiểu theo sự tri giác trình độ của chúng ta; chúng ta biết đấy là ai, ai đang về với chúng ta, ai đang giáo dục chúng ta, ai đang đem thanh quang hộ độ chúng ta? Mở tâm mở trí vô cùng!
Nhưng mà muốn cái đó phải hành, phải thân ngoại thân, thì phải hàn;, mà hành cái gì?
Đêm hành, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển là lọc cái tinh vi rồi nó mới lên tới trung tâm, mới đi tới chỗ “Như Thị Ngã Văn”: nghe rõ, thấy rõ, hành rõ, kêu bằng “tâm tâm tương ứng.”
Cho nên, nhiều người muốn, “Tôi tu, tôi ngồi này kia, kia nọ, để tôi nghĩ Thượng Đế, để Thượng Đế tâm tâm tương ứng với tôi!” Không có được!
Phải có cái cách xuất phát ra, nhiên hậu mới có cơ hội tâm tâm tương ứng!
Bây giờ chúng ta ở thế gian này, nhập vô cái xác này, chúng ta nghe tiếng trần: xe hơi nè, người ta nói chuyện nè; cái tần số đó, thấy không? Bây giờ chúng ta muốn nghe cái tần số nhẹ hơn thì chúng ta phải mở chỗ này (Thầy chỉ nơi trung tim bộ đầu) để được nghe cái tần số nhẹ hơn.
Mà tần số nhẹ hơn người ta không có nói như chúng ta! Người ta họp, gặp mặt họp cái rồi, người ta biết hết cái công chuyện rồi; chuyển điển cái, biết rồi; đâu có phải nói năng như ở thế gian đâu! Nó mất thì giờ, chậm trễ lắm! Cho nên, mang cái xác phàm mà lý luận ở thế gian là chậm trễ lắm.
Một cuộc họp của chư Tiên, của Địa Tiên người ta họp xong hết mọi sự, Thượng Đế gom họp xong hết mọi sự, mà ở đây 10 năm chưa thấy cục cựa! Nó chậm lắm; nói văn minh, hô hào tùm lum hết, mà 10 năm chưa thấy cái chuyện đó xảy ra! Nó kỳ cục vậy đó! Người ta mau nhiều quá, mà mình chậm nhiều quá! Mà bây giờ mình lấy cái gì chứng minh cái mau?
Phải cái ý nghĩ của mình mau không? Mà chuyển ở dưới này, động cái cơ tạng này rồi mới nói ra, rồi ngồi đó bàn hoài, bàn hoài, bàn hoài; rồi gom trở lại có một chút à! Họp đó: bàn, bàn, ông này bàn, bà này bàn, bàn, bàn, bàn tùm lum; rồi gom có một chút xíu, mà nói tới mấy ngày, mà kết luận có một chút xíu; thấy chưa?
Còn đằng kia người ta tin cậy lẫn nhau hết rồi, người ta bay tới họp là rồi, xong hết cái việc đó, mỗi người đều có việc hết trọi.
Cho nên, người ta làm việc nhiều hơn thế gian; mà liền liền!
Còn ở thế gian, gặp một cuộc họp lâu lắm, rồi cãi vã, rốt cuộc không ra cái gì, rồi về trong tâm cũng chưa có yên!
Còn đằng kia người ta yên, người ta làm tới.
Cho nên, cái nền siêu văn minh có những người nào dự? Những người tu xuất hồn mới có cơ hội tham gia vô cái siêu văn minh của Thượng Đế; phải làm liền liền, cấp bách, chớ không có phải để trì trệ như hiện tại. Cái này là cái văn minh của Di Đà, đã có lâu rồi; nhưng mà ở đây người ta mới đi theo,mà theo chưa được gì hết trọi; tu cũng tu chưa xong!
Mà cái đám Vô Vi này, tương lai cố gắng nghe theo tôi trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”; rồi lần lần đọc cái Kinh này mới thấy rõ, thấy, đã có lâu rồi! Cái chữ “Như Thị Ngã Văn” này là cái siêu văn minh, một chút xíu là biết rồi chớ không phải đợi mà giải thích cả mấy tiếng đồng hồ mà không hiểu cái gì hết trọi!
Là có phải chúng ta thấy sự trì trệ không? Thượng, trun,g hạ chưa đồng nhứt thì không hiểu; mà thượng, trung, hạ hợp nhứt rồi, nháy mắt là hiểu rồi! Đó; kêu là “Thanh tịnh.”
Nhiều người nói, “Thanh tịnh, Ông Tám cứ nói”Tthanh tịnh”; làm sao thanh tịnh?
Quy hội nó mới thanh tịnh.
Cho nên, các bạn phải làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi nó mới lọc ra: cái trược nó theo cái trược, cái thanh nó theo cái thanh; nó có trật tự nó mới quy hội, nó mới thanh tịnh được.
Cho nên, thấy rốt cuộc phải hành không?
Cho nên, không có dùng lý thuyết; Pháp Lý không có đi thuyết pháp là chỗ đó. Ông Tư nói như vậy: “Chỉ bạn đạo thực hành rồi mới nói chuyện với nhau, mới được; không thực hành là không có giá trị!” Nói rõ ở trong này.
Cho nên, nhiều người xưng là “Tôi tu Pháp lý Vô Vi”; rồi đi nói ào ào. Các bạn không nên nghe! Các bạn hỏi chớ, “Anh thiền cho tôi coi; Anh làm được mấy tiếng?” Cứ hỏi thực hành vậy thôi!
Mọi người đều thực hành thì chúng ta làm được việc lớn, mà dễ hiểu nhau, nhanh chóng thông cảm, mà lúc nào cũng minh bạch và tin cậy lẫn nhau.
Cho nên, người thế gian không tin cậy lẫn nhau! Biết bao nhiêu cái hội ở thế gian này, như hội người Việt Nam từ Mỹ qua tới bên này, không có tin cậy nhau! Họp, họp rồi cũng gây lộn hà! Không xài! Tại sao?
Nó không tin cậy, bởi vì nó sợ mất, sợ hư!
Chớ kỳ thật nó đâu có mất, đâu có hư? Vô Vi mới thấy rõ: “Tôi có cái gì đem tới đây mà tôi sợ mất? Mà tôi có tình thương, còn anh kia cũng có tình thươn;, mà tình thương chúng tôi hòa đồng thì chúng tôi tin cậy với nhau, không có sao, không có mất! Của của Ông Trời mà; tôi đâu có đem đi được đâu, mà tôi sợ mất? Của thiên trả cho địa, cái xác này cũng của ông Trời, mà của thiên trả cho địa, tôi có đem đi được đâu mà tôi sợ mất?”
Thì tự nhiên cái sự tin cậy của mình là sự tin cậy của Thượng Đế; và sự tin cậy của mình là đang quản thúc đối phương, đối phương ăn cắp được không? Thét nó mắc cở chớ; nó trả lại! Nó lỡ ăn cắp 10 đồng, nó còn trả lại 100 nữa là khác! Không có lo; đừng có sợ cái đó!
Các bạn sẽ có hết! Tu Vô Vi rồi các bạn sẽ có hết. Các bạn là giàu hơn tỉ phú; nói vậy đó!
Tỉ phú còn lo, chớ các bạn không có lo! Cái ông giàu ổng nói: “Tôi giàu, rồi tôi hết lo”; nhưng mà cái ông giàu đó lo nhiều hơn!
Mà các bạn hết lo! Có phải các bạn giàu hơn ông tỉ phú không? Phải không? Mà hỏi, các bạn đói không? Không! Không có thiếu cái gì hết!
Cho nên, đức Phật đã nói bao nhiêu ngàn năm trước, mà người ta không chịu hành.
Ngày nay mình may mắn được cái pháp này để hành; hành để khai thông 3 cái tạng của mình đi, thì 3cái tạng mình khai thông được rồi, bạn bè mình khai thông 3 tạng rồi, nó hiền, nó không có ăn cướp của mình nữa; mình tin cậy, rồi mình làm nên sự nghiệp, thấy chưa! Nháy mắt là nên sự nghiệp.
Cho nên, cái lòng tin là phải thực hành; mà không thực hành là không có tin nổi: Anh đi ra đời, Anh ra nói một đường, nó nói một ngả; họp một chập rồi gây lộn, không có yên đâu!
B/Đ: (… không nghe rõ)
THẦY: Tới giờ chưa? Cho học trò đi uống nước hả?
Vậy, thôi. Được mấy trang? (cười)
Bởi vì tui ăn cơm no, phải khổ hơn các bạn. Muốn ăn chén cơm của ông Trời á, phải làm việc nhiều; mà ăn ít, Ổng không cho! (b/đ cười) Ổng nói, “Mày là thứ ngon hơn mấy thằng kia, thì mấy thằng kia ăn nhiều hơn, Mày ăn một chút mà Mày phải làm việc nhiều hơn; Mày muốn ăn nhiều, Mày phải làm việc nhiều hơn nữa! (cười)
Ông đó khôn lắm! Ổng là đại thương gia, mà đại ba xạo, mà đại đầu tư! Khó lắm! Tui nói Ổng hoài vậy chớ! Mình không chịu vô á thì mình không có tiến; tui cũng như hết đường đi rồi: tui không bị nhồi thì tui không có tiến; mà nhồi chừng nào thì tôi tiến chừng nấy. Tui nói Ổng mấy bữa, mấy, mấy tuần trước tui cũng nói, “Thôi tui, bây giờ tui đi làm thợ máy đi; tui không học nữa!” Ổng nói, “Mày đi thử coi người ta mướn Mày không?” Tui muốn đi làm thợ máy cho anh Trí đó; tui nghỉ, không thèm đi; đi làm thợ máy. Ổng nói, “Mày đi thử; nó có dám mướn Mày không?” (cười)
B/Đ: (Không nghe rõ)
THẦY: Hả? (cười) Nó kỳ quá mà! Nó nói, từ Việt Nam tới bây giờ mà tui không có làm được cái gì hết đó! Chớ còn tui thường ra là tui computer cũng giỏi lắm đó; tui muốn đi học cái đó; mà không có đi được!
B/Đ: (Không nghe rõ)
THẦY: Hả? (cười) Phải mắc làm cái này! Hả? (cười) Thợ máy chớ! Tui bây giờ thợ máy đồ, Anh bàn máy với tui, tui nói à! (Thầy cùng b/đ cười) Nó không mướn đâu!
[kết thúc ID# 19860102Q6]