[19860102Q5]
KHÓA HUẤN LUYỆN "KINH A DI ĐÀ" - Cốt Chỉ Của Lục Tự Di Đà - Cuốn 6A
.....
Túi thì không có đồng xu, đi bộ mười mấy cây số, nghe ông nói có mấy câu, chả được gì! Thôi tôi cũng phải về lo tu.
Từ đó bắt đầu viết thơ. Về cái viết thơ, Ổng nói cái tôi về tôi viết thơ, tôi nhớ anh tôi viết thơ thăm anh, tôi nhớ người đó tôi viết thơ thăm người đó. Mà người nào trả lời, nghĩa là nắm cái thơ tôi khóc, đọc tới rách cái thơ luôn! Khóc mà nước mắt, nước mũi nhỏ tới rách cái thơ luôn, xin cái thơ khác. Viết biết bao thơ cho người ta, bạn bè này kia kia nọ, hồi đó tôi tu, họ khinh thị lắm, họ phá tôi. Bây giờ tôi nhờ họ tôi mới đắc đạo, tôi mới biết đạo. Tôi viết thơ thăm họ, tôi cắt nghĩa chuyện trời đất, thế gian đồ này kia kia nọ. Họ nghe, họ thấy thích thú, cái luân hồi, nghiệp quả mà tôi viết ở trong đó, tự nhiên nó mở, mà từ hồi nào tới giờ họ quen thân với tôi, tôi đâu có biết làm cái đó.
Cho nên nhờ cái Nam Mô A Di Đà Phật mà nó mở tất cả tâm trí, nó mở từ lãnh vực này tới lãnh vực nọ. Không giờ phút khắc nào tôi không niệm Phật, ngay tới bây giờ cũng vậy. Đang nói chuyện với các bạn, cái phần ở trên này ngồi trì niệm luôn luôn, nó mới phát quang ra. Cho nên khi tôi nói pháp các bạn dòm mặt tôi nó trẻ, nó tươi hơn, niệm Phật nhiều.
Cho nên các bạn may mắn được nắm có một cái chìa khóa để đi, có lý thuyết tràng giang đại hải cũng phải quy về 6 chữ. Nghe tui đi, để niệm Phật và tâm tư các bạn sẽ không còn tự đày đọa nữa và sẽ mở tâm, dịu hòa thăng tiến học hỏi vô cùng.
Cho nên tôi có những cái thư từ lai vãng, với trình độ học chữ Việt Nam tôi đâu có bao nhiêu mà tôi có thể viết như vậy, các bạn cũng có những cuốn băng ở đây nghe lưu loát. Ai đã làm cho chúng ta lưu loát? Chính ta có những phần thanh tịnh ở Bên Trên, căn của chúng ta, mà chúng ta bỏ xuống thế gian, rước cái trần trược ô nhiễm thành ra động loạn, nắm bút viết không thông, mà nếu tu trở về cái thanh cảnh thì dòm thấy mà viết, đâu cần phải suy nghĩ mà viết thơ. Tình cảnh người nào thì dòm thấy đó viết, thành ra có thể làm biết bao nhiêu công chuyện.
Một người mà thanh nhẹ và đạt như tôi, và chúng ta mấy chục người này, chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu công chuyện cho quả địa cầu, vừa thanh lọc thanh khí của càn khôn vũ trụ, vừa tác ra những cái lời nói để cho họ thức tâm. Cho nên chúng ta học trong một cái khóa ấm êm chung trong một căn nhà, chung một ý chí, chung một con tim, chung một đường lối. Rồi chúng ta mới thật sự nắm tay làm việc ở tương lai.
Cho nên cái quan trọng: tôi nhắc các bạn là niệm Phật, vừa nói chuyện, ý tưởng Phật.
Lúc nào Anh cũng phải tưởng Phật mới giải được cái nghiệp tâm.
Chúng ta không còn mê tín nữa, chính tôi là người trong thực hành mà đạt. Ngày nay có kiểu mẫu hiện diện ở đây cho các bạn thấy, mà các bạn không làm, thì có tu cho cách mấy cũng đi trong sự mê tín mà thôi!
Mà các bạn làm rồi, các bạn đi trong sự sáng suốt không có mê tín, mà Thánh, Tiên, Phật đều nể và khen tặng các bạn. Một kỳ công, có 6 chữ đó mà làm thành một kỳ công!
Cho nên 6 chữ đó là vô cùng, cái gì cũng nằm trong nguyên lý đó hết. Chính tôi là một người đã khám phá và đã tìm ra cái manh mối rõ rệt như vậy, để đem cái đạo vào Tâm, chớ hồi nào tới giờ Đạo thì viết trong sách thôi chớ không có trong Tâm, rồi dựa trong sách nói lý, chớ cái tâm không có phát triển. Còn mình niệm Nam Mô A Di Đà Phật nó tròn đầy hết tam giới Thượng Trung Hạ rồi, thì nó mới ứng dụng tam giới Thiên Địa Nhơn, có phải nới rộng không?
Cho nên chúng ta tu trong cái khoa học huyền bí thực tế, chớ không xạo láo và tự lường gạt nữa. Không có sự tự lường gạt, các bạn niệm Phật nhiều chừng nào thì các bạn sẽ có kết quả bảo đảm 100%, ai tu thây kệ, họ nói lý thuyết thây kệ. Các bạn nghe “Thượng Đế giảng Chơn Lý”, nghe nó hay lắm! Mà các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Các bạn đọc “Địa Ngục Du Ký” hay lắm! Các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Sách vở tràn đầy ở đây các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Nhưng mà các bạn niệm "Nam Mô A Di Đà Phật", tất cả bao nhiêu cuốn các bạn đem vào tâm hết, phải dọn để có chỗ chứa, nó cũng ở trong một nguyên lý thôi!
Đó! Cho nên trong lúc mà tôi niệm Phật, và tôi được rồi, tôi lại thách người bạn tôi, người bạn tôi biết tiếng Anh, mà tôi hồi nào tới giờ không học chữ Anh. Nó nói: tao kêu mầy học tiếng Anh để mầy đi làm, mà mầy không chịu học, mà mầy nói mầy muốn học một chút à! Bộ mầy là Tiên Thánh tại trần rồi sao? Vậy thì mầy ngon mầy viết thơ chữ Anh cho tao! Tôi nói: “Tao hẹn mầy 10 ngày tao học 10 bài là viết thơ Ăng Lê, bởi vì mầy ngu, mầy có bạn Anh trên trời mà mầy không chơi, mà mầy đi chơi mấy thằng ở dưới này, còn tao chơi thẳng mấy thằng trên kia, tao kêu nó viết dùm cũng ngon nữa”. Thằng đó bây giờ còn sống, nó ở Texas. Ảnh nói : “ giỏi làm đi”. “Tao học bao nhiêu năm, bây giờ tao làm cho RMK!” “Mầy viết đi... mầy viết thử đi, tao trả lời mầy!”. Tui nói : “Tao sợ mầy trả lời không nổi!”. Viết cái thơ đầu, ảnh khen, ảnh viết cái thơ lại ảnh khen. Viết cái thơ thứ nhì, ảnh khen. Viết cái thơ thứ ba, làm thi, ảnh viết cái thơ chữ Việt Nam trở lại, ảnh không có viết thư Ăng lê nữa, như vậy thua chưa? thua chưa? Ảnh viết thơ chữ Việt Nam trả lời, tôi làm bằng thi không! Tôi không viết cái kia, thi Ăng Lê! Mà thi Ăng Lê của tôi là thượng lục hạ bát, đọc ra hiểu, tôi làm vậy đó! Tôi gởi cho nó!
Cho nên những người Anh, bây giờ tên Anh, cho tôi cái tên, tôi làm bài thơ cho họ. Nghĩa là 4 câu trên cũng 26 câu, cho 26 câu, như cho mấy người Việt Nam một thứ, cũng như anh George, bây giờ George Cap tôi đọc là Giáp Anh, sửa tên là Giáp Anh Tuấn đó, treo cái bài thơ đó, mỗi buổi sáng đọc rồi đi làm. Có cái gì lộn xộn đọc cái nó hết (cười...). Chữ Anh... tên chữ Pháp tôi làm bài chữ Pháp. Mấy người bên Pháp đều có bài thơ của tôi hết! Nó treo đó, có cái gì rắc rối, gây lộn cái nó đọc, cái nó hết. Cái đó là đồ chơi! Còn cái thực hành là phải niệm Phật, đào sâu chân lý trong cái huyệt khuyết của nội tâm. Chỉ có niệm Phật thôi! Lục Tổ Huệ Năng đã khám phá ra. Ở thế gian này, ông Tư đã khám phá ra, tôi lại khám phá ra rõ rệt hơn cho các bạn, sướng lắm, chúng ta đi một đường lối của Ngài. Dốt mà biết đạo hơn biết chữ mà tạo nghiệp, Nam Mô A Di Đà Phật dễ học, biết chữ mà tạo nghiệp thua thằng dốt biết đạo đó bạn! Hiểu chỗ này! Cho nên cứ niệm Phật đi, rồi mọi sự sẽ qua!
Đây nói về cái cốt chỉ của Lục Tự Di Đà. Chúng ta thường khi niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT mà không rõ tông chỉ của 6 chữ ấy.
• Ông Tám giảng
Không hiểu (tông chỉ của 6 chữ ấy)!
A - Chữ NAM là phương Nam, trước trán bản thể ta. Lúc ta công phu, nhờ hai ngón tay trỏ và hai ngón tay giữa chận hai sợi dây gân, thường giờ phút khắc mạch nhảy theo gân chán hai, chúng ta nhờ Soi Hồn, lấy ngón tay cái bịt lỗ tai cho kín thì khí điển trong mình ta xung lên bộ đầu, làm cho ồ ạt trong đầu, rồi điển chạy theo gân qua màng tang trước trán ta chạy vào nơi chỗ tập trung Lư Hương luyện đạo.
Phật Ngài nói, lửa Bính là than vùi bên tay mặt, còn bên tay trái gọi là lửa ngọn, người luyện đạo gọi là Điển. Nếu chúng ta công phu bền bỉ cố gắng, điển ấy gom vào nơi tập trung Lư Hương. Chúng ta tu lâu ngày thì điển ấy hóa sanh hột Mâu Ni Châu.
Hột Mâu Ni Châu là cục lửa tròn vo trước trán ta, lửa ấy bay vơ vẩn trước mặt ta trong lúc luyện đạo.
Nhưng ta tưởng nghĩ: đốm lửa ấy biết bay! Đó là một huyền diệu khí điển của Phật biểu ta tu nơi mình, gọi là Hào quang; thì bạn cũng biết cho, kêu là huyền diệu của Phật.
B - Chữ MÔ có nghĩa là Mô giới, hay là một chất luồng điển trên thiên không, hợp với thán khí hóa ra dưỡng khí giúp cho hơi thở con người khỏe khoắn và thông minh trí tuệ.
Phật lại hóa sanh khí ấy, nâng đỡ, vừa giúp, hỗ trợ, gọi là Điển lành để giúp cho điển của chúng ta lúc công phu luyện đạo, thì điển của chúng ta được mạnh thêm một phần nào, cho có năng lực tung ra bộ đầu gọi là Hà Sa. Hà Sa là một thứ điển vi tế, tựa như hột cát, ánh vàng sắc lửa.
Chúng ta cố gắng công phu lâu ngày, thì những Hà Sa ấy gom lại tại nơi tập trung hóa thành hạt Mâu Ni Châu bay vơ vẩn trước mặt ta, cũng gọi là Thần Hồn của ta xuất ra!
Đó là Phật độ cho ta, chỉ là nâng đỡ cho hồn ta.
HỒN là thứ khí điển trong bản thể, bắt từ dưới chân, nhờ ta công phu luyện đạo mà điển ấy trở nên mạnh. Có hai thứ điển: một thứ chất nặng để làm việc bản thể; còn một thứ khác thì thanh hơn, bắt từ mấy sợi dây gân bao bọc bản thể ta cùng các khớp xương. Chỗ nào bịt nghẹt nhờ khí điển xung lên, điển mạnh kéo điển yếu, các nẻo gân làm cho chúng ta thông minh trí tuệ, từ thiện và gom lại khí ấy giúp cho linh hồn ta sáng suốt. Phép đạo gọi là SOI HỒN.
Soi Hồn là soi cho trống, cho thông, điển yếu cùng chung điển mạnh rút lên bộ đầu cho mau lẹ.
C - Chữ A là Nhâm Quý gồm thâu nơi thận. Nhâm Quý thuộc về Tiên Thiên Thận Thủy, do nơi nước điển trong trái cật nơi thân mình ta, cũng có nghĩa là Bắc Phương Nhâm Quý Thủy. Thủy là loại nước (liquide); liquide và air tạo ra khí điển trong khoa học đời nay. Chất lỏng ép cho bị nghẹt, nước ấy thành khói, bịt, tức nổ ra thành điển lửa.
Lúc chúng ta công phu luyện đạo, nghe trên bộ đầu ta nổ lụp bụp, nhờ các sợi dây gân bao trùm bộ đầu làm cho động địa, cùng kéo khớp xương 3 miếng trên bộ đầu ta tách gian ra: công phu ít thì tách ít, công phu nhiều thì khớp xương mở ra lớn hơn một tí, ước chừng 1 li; cố gắng công phu được lâu thì khớp xương nẻ ra rộng hơn, nhưng không tới 1 phân.
D - Chữ DI là khí điển trên thiên không rọi xuống, cũng gọi là Dưỡng Khí hay là Trường Sanh để giúp cho ta thở khỏe khoắn.
Lúc ta công phu luyện đạo hít hơi vô bụng cho đầy, rồi thở ra làm cho trái tim mở hai lỗ trống thông cho được khí hồn ta trong trái tim tung lên bộ đầu. Bộ lá gan cùng bộ lá phổi và bộ bao tử, khí điển trong ba bộ phận ấy sẽ sốt sắng làm việc không bê trễ và có sức thêm hơn; nhưng nhiệm vụ mỗi bộ làm việc bổn phận không hiệp một ai, chữ Pháp gọi là détaché (nới ra). Nhờ vậy mà chúng ta không lo ra, không tham sân, không bệnh hoạn, không tưởng tượng, trở thành ngay thẳng, chân chánh, nhờ Pháp Luân Thường Chuyển mà thoát (détaché).
Bởi thế người hoằng hóa Pháp Lý không khuyên bạn, không thuyết pháp, không giáo huấn về sự làm lành lánh dữ. Cho nên, Pháp Lý gọi là một vị thuốc của Phật truyền ra trừ bệnh tham sân, si, ái, ố; lo chi là không hiền, lo chi là không hết bệnh; nhưng nhờ sự sáng suốt của bản thể ta thông khí tạo thành một người thông minh trí đức.
Vì trong thế gian, tham, sân, si, bỉ, ổi bị mê trần, lấm trần cho đến đỗi người trị nước lên án xử tử bỏ tù; càng cai trị chừng nào, bệnh ấy càng trở nên nhiều hơn, không cản ngăn được!
Bởi thế phải nhờ chữ A DI gọi là PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN, khoa học của Phật trị bệnh tham sân mới dứt; những người công phu luyện đạo mới trở nên hiền đức.
Thật là một vị thuốc thần tiên của Phật giúp đỡ cho Pháp Lý ngày nay mới có. Bởi vậy người học đạo trở nên hiền đức, khỏi cần thuyết pháp.
Thuyết pháp để khuyên người làm lành lánh dữ, nhưng tật bệnh ấy do sự nhiễm trần xung vào bộ phận ngũ tạng ta, nếu không có phép đuổi nó ra, răn he sao đặng?...
Pháp Lý khuyên các bạn tu hành, nếu có điều chi lấm trần thì làm Pháp Luân Thường Chuyển, là một vị thuốc của Phật để trị dứt liền căn bệnh nhiễm trần, không sai.
VẬY CÓ THƠ RẰNG:
“Thường Chuyển Pháp Luân thuốc khó tầm,
Thuốc này vốn ở chốn Lôi Âm,
Nếu ai nhuốm bệnh mau trừ giải,
Càng luyện càng hay bệnh chẳng xâm.
E - Chữ ĐÀ có nghĩa là một nền tảng cứng rắn, bực Chơn Tiên mới có, gọi là Hào quang.
Nhưng hào quang nó ở nơi bản thể ta, hễ tu luyện 6 chữ Di Đà thì khí điển trong mình do chất thanh tịnh hóa ra hào quang, tia sáng phát xung lên bộ đầu, ngưng trệ tụ họp tại bộ đầu.
Lúc đến giờ công phu thì điển hào quang của Phật bay xuống trợ giúp cho ta, làm cho hào quang của ta được tươi sáng. Nhờ điển hào quang của Phật làm nền tảng giúp ta; gọi là chữ ĐÀ. Khi chúng ta luyện đạo, nhờ nó mà được một phẩm Phật, là một Môn đệ của Phật đã nhìn nhận.
Nhưng chúng ta ráng cố gắng công phu dày dặn, thì điển của chúng ta chạy từ Lư Hương tập trung từ từ đi lên tại trán ta nơi mí tóc, thì chúng ta thấy nơi chân mí tóc phát ra ánh sáng màu vàng tựa nắng mặt Trời, chúng ta cũng nên mừng, đó là phẩm Tiên.
Theo chữ Hán viết, NHƠN (亻) bằng chữ SƠN (山) gọi là chữ Tiên (仙). Chiết tự ra: chữ NHƠN là người; chữ SƠN là Sơn căn, mí tóc trước trán ta.
Nhưng có câu:
“ĐÀ, ấy sắc vàng trùm khắp cả.
Tròn vo che phủ núi Tu Vi.”
Chữ Tu là râu mày, chữ Vi là Vô Vi; nhưng ở trong mình ta có hào quang phát ra; thấy sáng mà chúng ta rờ bắt không được, không đụng chạm được; chỉ nghĩa Không mà Có.
Màu sắc ấy tốt tươi không bao giờ hoại nát, do nơi cục ngọc Mâu Ni Châu của ta biến hóa ra hào quang ấy.
G - Chữ PHẬT gọi là người có hào quang chớ không có chức sắc tên tuổi chi, vì Ngài đại từ, đại bi, muốn chi được nấy, sanh sanh hóa hóa vạn vật; bởi thế Ngài không lãnh chức sắc nào hết, Ngài trọng hào quang của Ngài là cục ngọc Mâu Ni Châu quý báu ở trong mình Ngài; cho nên mỗi khi Ngài công phu tu luyện trau dồi cho cục ngọc Mâu Ni Châu làm nền tảng cứng rắn không phai lợt, làm cho linh hồn Ngài nhẹ nhàng ở chốn Thiên Đàng hưởng thú vinh quang.
Nhưng khi Ngài đi, đứng, nằm, ngồi, không bỏ chữ niệm Phật, gọi là tu tịnh; cho nên mỗi vị Phật ngồi thì ngồi ngay, đôi mắt ngó lim dim khác hơn người trần; mắt lim dim ấy để thừa cơ biến hóa làm việc cho cõi nhà Phật cùng thế gian, âm phủ. Tuy là Ngài thong thả, cũng phải làm việc và tu hành: lúc Ngài ở thiên đàng, cũng cố gắng trực định.
Còn chúng ta là môn đệ của Phật, phải mẫn cán hơn để công phu luyện đạo.
Luyện đạo là xếp bằng ngồi ngay thẳng, xương sống và bộ đầu trực chỉ không nên cong vẹo, mặt thì ngó ngay, rồi lim dim dỗ ngủ cũng như vị Phật, gọi là Định thần; trong lúc ấy sẽ phát Mâu Ni Châu và hào quang.
Nếu công phu dày công lâu chừng nào tốt chừng nấy; rồi Mâu Ni Châu ấy lững đững lờ đờ khỏi đầu ta trên không; đợi chúng ta công phu lâu ngày thì các mối điển: nào là chân, tay, mình mẩy,mặt, mày, tai, miệng, mũi, mắt; điển ấy bay lên kết tụ hội cộng đồng hình bóng của ta.
Đã có hình dạng xong rồi, nhưng chúng ta còn thơ ấu, chưa biết đi, đứng, ăn, nói, nằm, ngồi, gọi là Tiên Đồng; trong Vô Vi pháp nói là Anh Nhi phát hiện.
Rồi chúng ta cũng cứ công phu; kể từ đấy Anh Nhi bản thể ta lên trên không khỏi bộ đầu, từ từ khôn ngoan, thấy cảnh Bồng Lai. Khi chúng ta định thần mà thấy cảnh Bồng Lai rồi, thì lo chi là chẳng nên vị Tiên Phật?
Tới đây Pháp Lý được chỉ rõ: Quý bạn chúng ta ráng chung sức cùng nhau chọn một con đường thẳng rãnh để đến Thiên Đàng hưởng phúc vô cực, vô biên.
• Ông Tám giảng
Cho nên, những lời phân giải về “Nam Mô A Di Đà Phật,” nó là vô cùng khai triển; mà các bạn chịu công phu thực hành rồi, các bạn mới thấy rằng: lui về thanh tịnh, chúng ta mới chứa được cái nguyên ý này; mà còn thiếu thanh tịnh, ở trong mê chấp, thì cái nguyên ý “Nam Mô A Di Đà Phậ”t nó đi trật đường rầy và không có tiến.
Cho nên, mọi người tu phải nhớ trì niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" để lập lại con đường rõ rệt, và chúng ta đã thấy rõ rằng: từ 7 ức niên mới kết tụ thành cơ thể con người tại thế gian, cấu trúc bởi siêu nhiên mà có, nó lâu ngày, giờ lắm nó mới giáng hạ xuống trần gian; khối này, khối kia, từ mọi trạng thái mới kết tập thành một cái thể xác.
Rồi còn chúng ta trở về thì chúng ta làm thế nào mà được trở về?
Phải gom tụ tất cả những luồng điển của chúng ta, nó cũng từ mọi trạng thái mà lọc trở về thanh nhẹ tinh vi, rồi kết tập thành hình thù, mới đi lên, mới đi ra được, kêu là “Xuất hồn.” Cho nên đòi hỏi ngày, giờ tu trì của các bạn.
Mà tu cái gì? Tu, ngồi một đống là tu ư? Không!
Tâm niệm mới tu: tâm các bạn thành, và hành cho đúng đường lối, rõ cái đường lối quy nguyên và khai mở giềng mối của đạo tâm là "Nam Mô A Di Đà Phật"; mà trì niệm chừng nào thì các bạn được quy hội sự thanh nhẹ.
Sự thanh nhẹ nó đem lại cho các bạn những cái gì?
Mọi trạng thái trở về thanh nhẹ thì các bạn trở nên thông minh, cái sự thông minh lạ thường, sự thông minh từ hồi nào tới giờ các bạn không có thể tưởng tượng được các bạn có sự thông minh đó. Và hiện tại tất cả bạn đạo khắp năm châu đã có nhiều người đã đạt, nói cái chuyện tầm thường là làm thơ, thi mà thôi: xưa kia không biết làm, ngày nay đã làm được; xưa kia không biết nghĩ chân lý là tròn, ngày nay thuyết chân lý rất tròn trịa; cái đó do đâu?
Phải do sự dày công của hành giả mà khai thông mọi trạng thái của trong cái cơ tạng Tiểu Thiên Địa này, mới quy hội về cái nguyên lý của "Nam Mô A Di Đà Phật". Cái "Nam Mô A Di Đà Phật" không phải dạy một góc, mà dạy cho tất cả: vì thức hòa đồng cho tất cả và khai mở quán thông tất cả, nó mới định.
Cho nên, chúng ta đã nhầm lẫn xuống thế gian bị phỉnh bởi tứ quan, ngũ tạng nó đã đã bị xâm nhập, “cư trần nhiễm trần” nhiều năm, nhiều tháng, nhiều kỳ; chúng ta tưởng đó là thật!
Ngày hôm nay chúng ta biết kỹ thuật tháo gỡ rồi, thì chúng ta phải nắm cái chìa khóa đó để tháo gỡ.
Chìa khóa đó là gì?
Là nguyên lý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; mà nguyên lý, tại sao phải niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" mà thay vì niệm "Một, Hai, Ba, Bốn, Năm, Sáu"?
"Nam Mô A Di Đà Phật" là cái chấn động lực nó khác hơn “Một, Hai, Ba, Bốn, Năm, Sáu” như tôi đã thường thuyết; bây giờ nói lại cho rõ để cho các bạn ngồi đây và tự nghiệm:
Cái ý các bạn tưởng chữ “N... A... M...” nó đi dài lắm, rồi nó sẽ có nơi xuất và có nơi trụ là ngay trung tâm chân mày.
“M...Ô..”. nó đi lên trung tim bộ đầu và xuất phát ra để thực hiện cái hòa tan với cả càn khôn vũ trụ.
“A...” nó chuyển chạy một vòng của Đốc Mạch lên trụ trên khối óc.
“D... I...” tinh khí thần trụ, cái chữ “Vạn” nó mới chuyển được, là Pháp Tâm.
“Đ... À...” là nó phóng quang ra tất cả lỗ chân lông, khối óc, và hòa hợp với thanh điển Bên Trên đang hội nhập trong cơ thể của chúng ta.
“P... H... Ậ... T..”. các bạn nói “Phật” thì nó quy ngay chỗ lỗ rún, là mình biết mình: “Tứ hải quy gia”, khi lìa bụng mẹ chúng ta đã có trời, đất rồi mà chúng ta không biết.
Bây giờ chúng ta càng ngày càng tu, hiểu việc mình, hiểu Tiểu Thiên Địa này, hiểu một nơi trụ hóa bất diệt, đời đời của tâm linh, mà chính ta là chủ; thì cái điểm linh quang chúng ta là chủ,chúng ta mới nắm được cái chủ quyền điều khiển và mở, tận mở cái Thức Hòa Đồng cứu độ quần sanh.
Chư Phật, chư Tiên đã hành, đã thành. Chúng ta là người kế tiếp bước vào, phải hành, không nên cầu xin!
Nếu cầu xin thì mướn họ hành cho ta, thì ta tu làm gì!? Ta phải tu, chớ ta không mướn người khác tu cho ta, thì cái này mới đi đến mục đích.
Nhiều người nói rằng, “Tu hành không tụng kinh, không thắp nhang, không lạy Phậ;t làm sao biết đạo?” Nhưng mà những người đó chưa hiểu đạo ở đâu?
Đạo trong tâm, chớ không phải đạo ở trên bàn thờ, không phải đạo ở trên cây nhang, mà không phải đạo ở ngoài đường! Đạo trong tâm!
Bây giờ chúng ta phải làm thế nào?
Chúng ta phải tu tâm, phải sửa tâm, chúng ta phải biết cái mạch lạc của tâm nó nằm ở đâu; cho nên nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật,” ông Tư đã cắt nghĩa rất rõ ràng, đã đào sâu để cho mình đọc và tự thức, và tùy theo cái trình độ, thực hiện công phu của Pháp Lý Vô Vi, rồi các bạn dọn mới ứng, mới trụ, mới nhận được cái luồng điển đó.
Cho nên, nhiều bạn nghe điển, điển; đâu có hiểu điển?
Mà không có niệm Phật, làm sao biết điển? Các bạn niệm Phật rồi, bạn thấy sự huyền diệu rõ ràng, tâm trí các bạn thay đổi, cái nội thức nó được mở, sáng suốt tự nhiên, thấy mọi sự việc kích động nguy hiểm trước mắt ta. Chúng ta thấy vạn sự khởi đầu là Không. Tâm chúng ta không động, mà việc nào nó sẽ trở về việc nấy rõ ràng, rồi đâu sẽ vào đấy; cho nên chúng ta được có cơ hội an nhiên tự tại.
Khoa học, xã hội đã cho chúng ta thấy cuộc sống từ xa xưa khó khan: người này phá người kia, người kia phá người nọ. Bây giờ người ta tôn trọng nhân quyền. Chúng ta được tiến một bước rồi. Ai muốn tu thì cứ ngồi an nhiên đó lo tu, không đói, không khổ nữa, chỉ có thiếu tu mà khổ.
Mà nếu chúng ta bằng lòng tu thì chúng ta là một người giải nghiệp, thì không còn khổ nữa. Nghiệp là đi xuống và rước vào thì nó lấn áp chúng ta, là nghiệp.
Còn người chưa tu thì người đó còn nghiệp, là Lục Căn, Lục Trần nó đang chỉ huy Chủ Nhơn Ông, nó ép Chủ Nhơn Ông phải làm điều này, điều nọ, phải nhậu nhẹt, phải đi chơi bời mà làm cái chuyện không hữu ích; phải tranh đua, phải giành đất nước; nhưng mà đất nước của nó, nó bỏ.
Đất nước của chúng sanh là gì?
Cái Tâm! Mà bỏ Tâm, đâu còn nước? Bỏ Tâm rồi tham tiền, tham bạc, làm bậy, giết hại đồng bào, không hay; nguy hại tới tấp mà không biết!
Tâm không có!
Cho nên, những người làm chánh trị phải biết tu thân, tề gia, bình thiên hạ, mới là một người chánh trị chơn chánh. Còn hô hào, không trách nhiệm, rồi đẩy người ta vô chỗ chết; cái đó là đi tới chỗ tự sát!
Vì các bạn biết được phần hồn là bất diệt, thì chúng ta có cơ hội tu bổ cho phần hồn càng ngày càng cường tráng mạnh lên hơn để cứu độ chúng sanh trở về Phật Quốc là một nơi bất diệt trường tồn, giữ Định Luật Hóa Hóa, Sanh Sanh không ngừng nghỉ. Cái đó mới là đường lối trường cửu và cần thiết cho chúng sanh phải hành.
Cho nên, nhiều người không hiểu, làm sái quấy rồi lương tâm bị cắn rứt; tới lúc chết bị đọa địa ngục chỉ biết khóc mà thôi, khổ vô cùng!
Cái này, ngày hôm nay chúng ta đại phước, được biết được cái nguyên lý của “Nam Mô A Di Đà Phật” rồi, chúng ta phải đào sâu mọi sự việc của những người đi trước để lại, như Kinh A Di Đà; mà Kinh A Di Đà, những chữ nghĩa càng ngày càng thất lạc vì thời đại thay đổi, thiên cơ thay đổi: trước kia học Nho, hiểu Nho, mà bây giờ nó đổi lại thấp hơn, khó hiểu; cho nên Ông Tư mới mượn cái nghĩa phàm mà dẫn các bạn trở về đạo.
MA HA THẬP THÍCH
Nghĩa là, trong bản thể con người có 3 phần gọi là cơ sở quyết liệt của Điển Huyền Diệu tinh thông Pháp Thần:
1. Tạng Tâm.
2. Tạng Can.
3. Tạng Thận.
• Ông Tám giảng
Ba tạng quan trọng!
Nếu chúng ta thành Phật, chúng ta muốn chi được nấy do 3 tạng này, chánh đáng của điển, mà Phật kể ra cho chúng sanh biết, tất cả ở bản thể của mỗi người luyện đạo, quý báu duy nhất, thành thật cùng chăng? Do tu luyện 3 tạng này được thông, thì sự sáng suốt thấy từ mặt đất đến Thiên Đàng, ngồi đây thấy kia, chỗ xa đem lại gần, gọi là Điển.
Sự thâu thập này không khác chi một cái ống dòm: nếu các bạn cố gắng luyện đạo, dầu lâu hay mau, có tâm chí bền bỉ thì lo chi không thành Phật!
Còn người mê trần không tu, làm nhiều tội lỗi, khi thác thành ma vì lúc ở tại dương thế chẳng tu hành. Bởi thế chữ Ma Ha là thành Ma, thì làm nhiều điều khổ sở, nào là:
1) Không chỗ nương dựa, phải ẩn theo cội cây bóng tối.
2) Đói khát phải ăn trùng dế cùng đất.
3) Chịu dưới quyền sai khiến hành hạ của Thổ địa Thần kỳ ngăn cấm.
4) Không tự do.
5) Không quần áo mặc.
6) Chịu nắng lửa, mưa dầu.
7) Bị quỷ ăn hiếp.
8) Không rời nấm mả phần mộ, phải chịu sự hôi thối của bản thể, đi đến đâu thì mùi hôi thối ràng buộc.
9) Phải bị tội lệ lúc còn sống bị mê trần lâm bệnh thất tình lục dục cùng tham sân, si, ố, nộ.
10) Bị đày đọa khổ sở, mãn tù tội, được đầu thai để trả quả nghiệp chướng luân hồi.
Khi ấy, Phật muốn vớt những người ở trần cho khỏi lâm các điều ấy, khỏi làm ma chướng nữa, mới bày ra “Kinh”; là luồng điển để cho người ở trần thức tánh tu hành luyện đạo, khỏi làm ma chướng lúc thác; còn người sống tại dương gian được giác ngộ tu hành, đánh đổ ma chướng bỉ ổi, giải thoát cường hào ác ý, nhờ luyện đạo theo 3 phương pháp sau đây:
1. Soi Hồn,
2. Pháp Luân Thường Chuyển,
3. Định Thần.
Ba số này người tu luyện đặng trở nên hiền và thành Tiên, thành Phật; nhờ ba tạng này, Phật Ngài bảo chúng ta biết gom thần, định tánh. Thần hồn đã hiểu rõ sự tội lỗi ăn năn, cải tánh diệt danh nhờ tu hành, thì vị Điển Cứu Tinh soi xuống, truyền bá và điểm đạo, cùng phân phẩm bậc cho Hồn; Hồn mới thức tánh, hiểu biết, sai khiến Vía phải khâm phục Hồn; Vía cũng thức tánh, cai trị Lục Căn, Lục Trần phải tuân theo quyền lực Phật pháp; mới truyền bá cho Thập Tam Ma Chướng đều phải tuân Phật pháp.
Thì người tu trở nên hiền, được thông minh, được tránh những điều hung dữ bỉ ổi, không lầm lạc ở dương thế.
TÓM TẮT
Trong tam tạng: Tâm, Can, Thận; 3 ngôi chánh này, TÂM là một cái lò lửa điển, cũng như một cái nhà đèn, CAN cũng là lửa hùng dũng nóng bức, THẬN là thứ nước mát.
Khi Phật bày ra Pháp lý này, lấy chất nóng trong 3 tạng này, gọi là Điển của bản thể ta, làm cho phối hiệp với chất điển của Phật trên Thiên Đàng, hóa thành một vị cao ngôi: Thần, Thánh, Tiên, được thông hiểu quá khứ, vị lai dưới thế gian cùng Thiên Đàng do nơi cơ quan là nguồn máy của ngũ tạng bản thể ta.
Phật Ngài lấy điển ấy làm cho ta hóa sanh một vị Cao Thượng Phẩm Tước, nhờ vậy chúng ta trở nên hiền, thông minh, làm lành lánh dữ, sáng kiến để trừng phạt Lục Căn, Lục Trần gọi là Lục tặc, không dám xâm phạm xúi biểu linh hồn ta nữa; ta có quyền hành trị chúng nó.
Từ đây ta mới biết có người có ta (Người Ta): hễ Người thì mê trần; còn Ta thì thức tỉnh rồi mới làm Tiên, làm Phật. Người là thể xác trần, mê trần thuộc tánh; còn Ta là hồn điển mới được minh, cai trị bọn chúng.
• Ông Tám giảng
Cho nên, chúng ta tu về 3 cái tạng nó liên hệ ở đâu? Thượng, trung, hạ; chúng ta có bộ đầu, có bộ ngực, có ở dưới bộ sinh dục; mà ai chỉ huy 3 cái đó? Tâm, Can, Thận; 3 bộ phận quan trọng lắm. Mà chúng ta làm Pháp Luân Thường Chuyển... “Tại sao tôi làm Pháp Luân Thường Chuyển, hồi trước tôi chưa làm Pháp Luân Thường Chuyển thì tôi thấy tánh tôi nóng, mà tôi làm được Pháp Luân Thường Chuyển rồi, cái tánh tôi nó dịu?” Là vì cái hỏa can nó rời đi, nó dời lần đi:
mà nhiều người, khi mà làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi ngồi thiền nó lại chảy nước mắt,
là cái trược ở trong gan được thanh lọc;
cái gan mà được thanh lọc thì con người nó bớt nóng tánh;
bớt nóng tánh thì nó mới chấp nhận trở về cái thiền;
mà càng thiền, càng làm Pháp Luân thì cái thận nó mới giải cái phần trược ô dục của hạ giới,
rồi nó mới ngược cái chiều nó cung cấp lên trên.
Cho nên, những người làm Pháp Luân Thường Chuyển nhiều, tại sao nó lại lãnh cảm và nó không có hướng về tình dục nữa?
Vì cái chỗ cung cấp nó hướng thượng, nó đi trở lộn lên thay vì nó đi trở lộn xuống. Hồi trước nó không biết, nó không có sử dụng cái Pháp Luân Thường Chuyển là nó bị cô đọng, nó sân si, ham dục.
[Bây giờ nó điều hòa 3 bộ phận đó thì không có sân si, không còn ham dục nữa .....
[hết 19860102Q5]