[bắt đầu ID#19860102Q4]

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ - Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát - Cuốn 5B

Ông Tám giảng

Rồi các bạn mê, mê sự từ bi, thích sự từ bi, mà không bao giờ chịu hy sinh, làm sao có từ bi: mới hy sinh một chút là nói "thua lỗ" rồi, "thiệt thòi" rồi! Cái đó là cái trần tâm tăm tối! Phải mau mau thức tâm trở về sự chơn giác của chính mình!

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT

Bởi thế chư Phật cùng đức Di Đà khuyên chúng ta phải cố gắng luyện đạo mềm dẻo:

Ông Tám giảng

"Mềm dẻo" là bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể qua được; cái cứng cáp đó là cái tạm bợ, mà cái mềm dẻo là cái thông qua tam cõi.

Nếu có được Mâu Ni Châu trong lò lửa phát ra thì lo chi không thành Phật

Ông Tám giảng

Thấy rõ không? Một kỳ công ta làm là cho ta, đâu phải làm cho người khác, đừng có dòm bề ngoài mà thấy sự thiệt thòi mà mất cái chơn tâm là chỉ có xuống địa ngục khóc mà thôi! Chúng ta thấy rõ rồi, phải thực hành cho kỳ được.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Lúc ấy Thích Ca Phật Tổ chứng minh thì giờ phút khắc mà chúng ta luyện đạo theo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật.

VẬY CÓ THƠ RẰNG:

Di Đà sáu chữ ấy ơn sâu

Kẻ Đạo nghe qua phải lắc đầu

Thích chí từ đây tua gắn bó

Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu.

Mâu Ni Châu vốn ở trong mình

Luyện đạo Soi Hồn lọc khí tinh

Miệng niệm mãn đời không thể có

Huyền vi nhờ Điển Đạo càng minh.

Ông Tám giảng

Đó, “Di Đà sáu chữ ấy ơn sâu”, Nam Mô A Di Đà Phật, tại sao nói là ơn sâu? Cái người đi trước, con người là bị bao vây, đóng khung một chỗ, không biết con đường để thoát thân. Ngày hôm nay Bề Trên đã chuyển vận thanh điển và để cho chúng sanh học để hiểu được nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật để khai lục thông trở về thức hòa đồng đời đời sẵn có ở bên trên, nơi lớn rộng vô cùng và không bao giờ bị tiêu diệt.

Cho nên nhờ cái sự sáng suốt chỉ điểm cho chúng ta, chúng ta nhờ trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật, chúng ta mới thoát được cái trần tâm. Đó là cái ơn đó là vô cùng, làm sao chúng ta có thể thoát trần tâm và tránh cái tham dục ở thế gian, người nào cũng có trần tâm và tham dục, mà chúng ta dùng trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật rồi. Lần lần các bạn cảm thấy tôi bớt, tôi không thích, tôi mở rồi, tôi bỏ rồi. Mà bỏ cái đó rồi các bạn lấy cái gì, lấy được cái thức hòa đồng thì các bạn sẽ có nhiều hơn. Cho nên, do đó chúng ta mới thấy cái ơn sâu của cái nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật để dẫn tiến tâm linh của chúng ta. Cho nên đời đời chúng ta không quên cái Nam Mô A Di Đà Phật, vì nó là cái chìa khóa của tam cõi.

“Kẻ đạo nghe qua phải lắc đầu”, người tu đều thấy rõ nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật, bái phục vô cùng, không có cách gì cứu con người ra khỏi khổ ngoài nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật.

“Thích chí từ đây tua gắng bó”, bây giờ chúng ta phải lấy cái đó làm chánh, mà cố gắng niệm, cố gắng trì niệm cho cái thức hòa đồng nó mở, thế gian ai cũng mong thế giới đại đồng, nhưng mà tâm ta chưa hòa đồng làm sao đạt được thế giới đại đồng.

“Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu”, khi chúng ta công phu phải nghiêm chỉnh, thực thi 3 pháp cho đầy đủ, một phút cũng phải nghiêm chỉnh, rồi lần lần nó đi lâu, chớ không phải, nhiều người nói tôi muốn vô tôi ngồi một ngày. Đâu có được! Tôi được 1 phút hay 1 phút, tôi được 5 phút hay 5 phút, rồi tôi sẽ đi tới, chính tôi sẽ khai thông tôi và tôi sẽ tái chiếm những cái cơ sở thanh tịnh của chính tôi có từ nghìn xưa chớ không phải mới đây.

“Mâu Ni Châu vốn ở trong mình”,“Luyện đạo Soi Hồn lọc khí tinh”, đó! Nó vốn ở bên trong chớ đâu, mà nếu chúng ta luyện đạo khứ trược lưu thanh rồi thì nó lọc khí tinh. Lúc đó nó là đi tới chỗ tinh vi, một luồng hơi sáng suốt ở trong mình cũng như đức Thích Ca trước kia tu cũng có cái Thiên Xích một đường thẳng ngay trung tim bộ đầu rút thẳng lên trên không trung, mà khi Ngài muốn chuyển độ một người nào cũng chỉ phóng cái luồng điển đó để rút cái phần thanh điển của hành giả, mà đưa hành giả tới cái chỗ ngộ và chư Phật chỉ độ chúng ta ở chỗ đó, trong giây phút mà thanh tịnh đó, chư Phật chỉ truyền một luồng điển xuống mà rút chúng ta thẳng tới cái chỗ ngộ Tâm.

Cho nên phải do sự công phu cố gắng và nghiêm chỉnh thực hành trong giờ công phu, còn không thôi đừng tu, tôi ngồi kiểu ngồi chơi ngồi nghĩ bậy, đừng thèm, vô là phải chấp hành cho đúng. Trong giây phút tôi Soi Hồn, Soi Hồn cho đúng, làm Pháp Luân, Pháp Luân cho đúng, Thiền Định, Thiền Định cho chững chạc. Ông phật ngồi sao tôi ngồi vậy Thà thì giờ ngắn, hơn là các bạn làm dài mà èo uột không tiến triển.

“Huyền vi nhờ điển đạo càng minh”. Tiến tới huyền vi là chỗ mắt phàm không thấy, nhờ điển thì cái đạo nó càng minh, nó càng ngày càng nới rộng, thánh tâm càng ngày càng mở, thấy rõ chiều hướng tiến hóa của nội tâm.

Đây là lời của ông Tư.

Thưa Các Bạn

Trước kia tôi học đạo Vô Vi của Ông Cao Minh Thiền Sư truyền bá, nhưng Ông có thể giảng 6 chữ Di Đà dạy phép luyện đạo công phu mới có, chớ chẳng phải lấy miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật để Phật giúp cho.

Có câu: “Khẩu khai thần khí tán” nghĩa là nói hao hơi, thần khí yếu hết, lòng ta bê bối không thể nghĩ ra một lẽ nào, sanh mệt mỏi, nhưng nó cũng có ích cho người để dỗ ngủ không lo ra. Còn theo Pháp lý, thì hễ tu phải luyện đạo, làm phép Soi Hồn, hễ học đạo thì phải hành đạo.

Thưa các bạn nghĩ cho! Sự tu hành đêm ngày cố gắng công phu thì điển chạy mới thông, thì Mâu Ni Châu mới phát ra. Phật Tổ Thích Ca dạy Đức Di Đà học đạo theo Huyền bí của Phật, thì sự cực nhọc ngày đêm gắn bó mới có Mâu Ni Châu, nhưng Phật Tổ Ngài biết người thế gian mê muội u ám theo cõi trần.

Lúc đức Di Đà ngồi thiền định, đồng thời Đức Thích Ca chỉ rõ Khoa học Huyền bí của Phật cho đức Di Đà vừa tịnh và nói cho chúng sanh nghe cách luyện đạo ở trong mình bản thể ta. Trong cuốn Di Đà mỗi câu đều chỉ rõ thân ta chỗ nào là Khoa học Huyền bí, mảy may đều không sót, ta mới rõ biết thâu điển gom lại để cho Mâu Ni Châu phát hiện, vì Đức Phật trước kia cũng làm như trong cuốn Di Đà này mà đắc quả, chẳng phải lấy chữ phò hộ mà Phật độ.

Cho nên chúng ta ráng cố gắng, phải lấy Khoa học Huyền bí của Phật mà luyện đạo, thì sẽ thành đạo cũng như Phật Tổ Ngài vậy, ai ai cũng tu được, cho đến đỗi bò bay máy cựa, ngu xuẩn đi nữa mà chí tâm luyện đạo của Phật Ngài thì được đạo. Tu thì phải học luyện, hễ mình bỏ qua không luyện đạo là không đắc đạo, cho đến đỗi Phật Tổ cùng chư Phật phải luyện đạo hàng ngày giờ phút khắc. Vừa làm việc cũng vừa tu, vì máy huyền vi bao la rộng lớn, phải làm việc và tu hành, không phải làm Ông Tiên, Ông Phật chơi bời cho thong thả. Ví như anh học trò cũng muốn cho đỗ đạt thành tài, nhưng lười biếng không chăm học, thì làm sao kết quả được. Bởi thế Phật không vị ai, cũng không ăn hối lộ mà ban cho ai phẩm chức. Phật Ngài chứng minh do theo sức mình tu mà thôi.

Đây 6 chữ Di Đà, chúng tôi xin trao ra đây cho quý bạn xem và suy nghĩ nghiên cứu. Phép Vô Vi cũng từa tựa như Pháp lý nhưng canh cải chút ít mà thôi.

LẤY NGHĨA CHÁNH SÁU CHỮ

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

XIN DỊCH RA ĐÂY QUÝ BẠN TƯỜNG LÃM

NAM thuộc Cung Ly lửa Bính Đinh

là chỉ rõ vật vô hình

A gồm Nhâm Quý an nơi thận

DI giữ bền chặt ba báu linh.

ĐÀ ấy sắc vàng trùm khắp cả

PHẬT hay thanh tịnh ở nơi mình

Hống Diên hai tám hòa nên một

Rồng cọp thâu về tợ nguyệt tinh.

GIẢI NGHĨA:

NAM thật phương Nam lửa Bính Đinh

Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình

Phát ra hừng cháy cùng Trời Đất

Lặng lẽ êm ru cả tánh tình.

Ông Tám giảng

Xuất phát ra nó mới êm. Mà cô đọng, tin tưởng và cô đọng, ôm lấy nó là không có bao giờ mà nó êm được hết.

Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng

Tản đòi nơi tợ tuyết trong xanh

Khảm Ly Diên Hống hòa hai tám

Hiệp lại một nhà tợ Nguyệt tinh.

Ông Tám giảng

Cái này tại sao nói là: hiệp lại một nhà? Đó! “Thật phương Nam lửa Bính Đinh”, Bính Đinh là sanh hỏa, cũng như hai cái vis platiné mà nó nhịp lại là sanh hỏa Bính Đinh.

“Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình”,“Phát ra hừng cháy cùng trời đất”, cũng như chiếc xe hơi, chúng ta thấy chiếc xe hơi nó có cái vít lửa, nó mới phát ra. Còn chúng ta ở nơi cái tam tinh này nó cũng có cái vít lửa nó phát ra. Mà nếu ta không tập trung thì không có mở ra được, mà khi mà nó phát ra rồi, cái lửa nóng trong cái cơ thể của các bạn mà nó phát ra rồi thì nó êm rồi, con người đâu còn sân nữa!

Cho nên các bạn Soi Hồn, các bạn làm Pháp Luân nó phát ra rồi cái thì thôi, thấy nó êm rồi. Cái chuyện đáng cãi, đáng gây nhưng mà rồi bây giờ mình không gây nữa, không chấp nữa. Nó thanh tịnh rồi, cái thượng trung hạ là một, cái khối đầu này là tiến về thiên đàng mà từ rún sắp xuống là làm cái gì? Tham dục ở thế gian là tạo ra cái cơ đồ nhà cửa xây dựng đồ này kia kia nọ ở thế gian, nó cũng như cái…(nghe không rỏ)

Hai cái lưỡng nghi đó nó hợp nhứt, nó mới là thanh tịnh. Chớ tại sao chúng ta phải làm Pháp Luân Thường Chuyển, hít một vòng, hít vào, hít hoài, cứ hít hoài, hít hoài, thét cái nó rút lên, nó rút lên, cái bộ dương nó rút lên. Nó không có còn nghĩ đến vấn đề tình dục nữa, nó rút lên, nó hai là một. Diên Hống hòa hai tám nó là một, nó thanh tịnh rồi, nó không có bị sắc đẹp lôi cuốn nữa, nó không bị ngoại cảnh phỉnh phờ nữa. Cũng nhờ cái lửa điển đó thoát ra và hòa với chơn điển của hư không, nó mới không có động loạn.

vốn chữ Vô mỗi vật không

Từ thời vô thủy chửa phân đồng

Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết

Mới tạo Càn Khôn tỏ một vòng

Đạo lý hữu tình sanh vật cả

Mẹ Cha ân ái kết thai lòng

Vật người mới tạo rồi sau diệt

Vạn sự đều do chữ Nhứt KHÔNG.

Ông Tám giảng

Đây nói về cái định luật sanh trụ hoại diệt.

A vốn Bắc Phương Nhâm Quý thủy

Thận kia là Khảm về cung Tý

Người hay luyện đặng giữ trong mình

Vàng cứng tức nhiên sanh vật quý

Mới đặng Khảm Ly hòa Hống Diên

Tánh thông Trời Đất đồng nguyên lý

Ba nhà gom lại kết Anh linh

Xá Lợi tỏ ngời trong Nhứt khí.

Ông Tám giảng

Cho nên Tất cả cái cơ thể của chúng ta nó liên hệ với cả càn khôn vũ trụ, khi mà chúng ta tu thức được rồi, thì cái Xá Lợi là ai? Xá lợi là phần hồn, nó kết tinh rồi, thì chúng ta biết được ba cõi này là một, quy không rồi thì nhứt khí chúng ta đi ra đâu có khó khăn.

DI giữ chặt bền ba báu linh

Cung Ly dứt tưởng được thanh minh

Đấp nền luyện tập công phu gắng

Chờ lúc Trúc Cơ kết quả thành

Biệt niệm trong mình Thần mới hóa

Lấy Ly bổ Khảm khí bèn thanh

Đơn điền gom lại trong không động

Tương Hội Ba Nhà kết Thánh Anh.

Ông Tám giảng

Đó, kết Thánh Anh, là Thánh Thai đó. Người ta tu về Ông Cao Minh Thiền Sư tu hồi trước đó, Anh Nhi... kết Anh Nhi đó, còn ở đây thì mình trở về cái thánh thai.

ĐÀ ấy sắc vàng muôn kiếp ghi

Tròn vo che phủ núi Tu Di

Càn Khôn bao bọc vô hình dạng

Thế giới phủ giăng chẳng hướng gì

Sắc tốt mình vàng nào hoại nát

Tâm lành tướng hảo đủ từ bi

Công phu thuần thục lên bờ giác

Đắc quả may ra vẫn kịp thì.

PHẬT hiệu Kim Cang ở giữa mình

Hư không thanh tịnh hóa nên hình

Khuyên người sớm bỏ tham sân bịnh

Thần khí phải gìn giữ rất tinh

Mười tháng công phu năng luyện tập

Ba năm công quả khá kiên thành

Trống lòng đầy bụng là giềng mối

Vạn sự quy về một chữ THANH.

KỆ RẰNG

Giảng thành Lục Tự ấy ơn sâu

Kẻ Đạo nghe qua phải lắc đầu

Thức tánh từ đây tua gắng chí

Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu.

Ông Tám giảng

Ở trên này đọc thì nghe vậy thôi, nhưng mà các bạn luyện tu rồi, các bạn mới bình tâm. Sau khi công phu các bạn đọc từ bài một và để ngộ, đưa vào chơn tâm, lúc đó sung sướng vô cùng và các bạn có thể ôm ông Tư trong lòng, ôm đức Di Đà trong lòng.

Tại sao những chiều sâu bí mật mà con người tại thế âm u như thế đó, mà có thể khám phá được sự thanh tịnh như vậy? mà đã dày công ghi lại cho chúng ta. Mà chúng ta là người tận hưởng mà không biết cách hưởng là thiếu hành. Mà bây giờ chúng ta hành rồi chúng ta mới thấy cái cuốn sách này nó là quý và lời nói này là thật, không chỉ sai một li một tí.

Rồi đây các bạn nghiền ngẫm thấy. À, hồi nào tới giờ các bạn không hiểu Cung Ly là cái gì? Bính Đinh là cái gì? Rồi các bạn tu, các bạn nhắm con mắt, các bạn tưởng tới Bính Đinh, các bạn thấy có ánh sáng xuất ra, trong cái thực tập các bạn mới thấy cái điển, thấy giá trị của điển.

Nhưng bây giờ ở đây, sẵn nhân dịp này, tôi qua đây, tôi cắt nghĩa và lưu lại cuốn băng này, để cho tất cả các nơi, những người tu mà đã đạt được một phần nào, thấm thía và thấy rõ những cái bài thơ và những lời dẫn dắt này là thực tế, và đưa phần hồn về quê rõ rệt. Cho nên trong cái bài thơ cắt nghĩa rất rõ, nhưng mà người còn tâm phàm đọc vô không hiểu nó nói cái gì, như tôi đọc thì thấy: “Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh”, “Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình”. Đó! Nó ở trong tâm của con người, chớ không có ở ngoài, Người ta chỉ tất cả là ở bên trong.

“Phát ra bừng cháy cùng trời đất”, chúng ta thanh tịnh đi, chúng ta ngồi đi, thanh tịnh “Nó bừng cháy cùng Trời Đất”, nó phóng ra. Cho nên khi mà các bạn tu thiền mà được đạt tới cái điểm đó, thì con ma phải ngồi xa bạn 40 mét karê, nó không có thể gần bạn được, vì đến là nó đốt, vì ánh sáng chiếu là bóng tối phải tan là vậy.

“Lặng lẽ êm ru cả tánh tình”, khi ta ngồi ta nhắm mắt, ta không còn phải ở thế gian nữa, và cặp mắt ta nhắm rồi, thì tâm chúng ta không còn ở trong này nữa, mà ở trung tâm sinh lực càn khôn vũ trụ rồi, hướng thẳng về trung tâm sinh lực càn khôn vũ trụ, nó nhẹ nhàng vô cùng.

“Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng”, nó nhẹ nhàng như vậy, “Hiệp một chỗ thu nguyệt rạng”, cho nên những người mà đi đến cái giai đoạn đó, thi thơ, tình cảm cởi mở, sáng suốt, tác văn cũng là đầy sự cởi mở cho đối phương.

“Tản đòi nơi tợ tuyết trong xanh”: chỗ mình ngồi cũng thanh sạch như vậy.

“Khảm Ly Diên Hống hòa hai tám”: hai cái là một, trở về không không.

“Hiệp lại một nhà tợ nguyệt tinh”: ngồi đó mà ngồi trong ánh sáng, ánh sáng cả càn khôn vũ trụ, chớ không phải ngồi trong căn nhà này. Chúng ta tu là thoát ra không phải ngồi trong căn nhà này.

“Mô vốn chữ vô mỗi vật không”: khi mà các bạn thanh tịnh rồi, các bạn đi tới quán thông rồi, mọi vật đều không. Hỏi chớ cái bông này nó sẽ không, thì những cái gì mà hiển hiện hình hài, mà hiển hiện trước mặt các bạn là các bạn chỉ thấy cái chữ “không” cũng như tôi đã giảng bao nhiêu cuốn băng “quy không” để các bạn thấy. Nhưng mà ngày nay Ông Tư nhắc, thì cũng như là cái điển mà tôi đã giảng, không có khác xa. Đó, mỗi vật đều không, thì chúng ta tu thanh tịnh thì đi tới cái chỗ quán thông rồi, trong cái không mà có, mà có đó là cái tịnh của chúng ta.

“Từ đời vô thủy chửa phân đồng”;“Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết”; “Mới tạo Càn Khôn tỏ một vòng”: Đó, ta thấy là cái nhẹ làm trời, cái nặng làm đất.

“Đạo lý hữu tình sanh vật cả”: Đó đạo lý là cái luật âm dương hữu tình, nó“sanh vật cả”.

“Mẹ Cha ân ái kết thai lòng”: Đi vô trong cái giới thấp trược mới học được cái chuyện “Ân ái kết thai lòng”.

“Vật người mới tạo rồi sau diệt”: sanh trụ hoại diệt, thấy không, rồi hồi sinh.

“Vạn sự đều do chữ Nhứt KHÔNG”: Cho nên các bạn tu rồi các bạn thấy cái gì mà xảy ra, các bạn nghĩ về cái không trước, thì mọi việc các bạn giải quyết rất dễ, mà đâm đầu vô cái có thì nó cuống cuồng, cuống cuồng,cuống cuồng... mà không có giải quyết được.

“Vạn sự khởi đầu bởi nhứt không”: Cái việc này nó xảy ra sự cãi lộn, là trước kia đâu có sự cãi lộn! Nhưng bây giờ nó cãi lộn, rồi nó phải trở về, nó từ không ra, nó phải về không, thì chúng ta phải bình tâm cho nó qua. Nó đến rồi nó đi, thì mọi việc đều sẽ có sự sắp đặt đàng hoàng, không có lo âu. Chớ con người tu mà cứ lo từ chuyện này tới chuyện nọ, thét rồi nó động, đâu có tu được. Mình hiểu nguyên lý bởi nhứt không, sẽ về không, thì không có sự động trong nội tâm.

“A vốn Bắc Phương Nhâm Quý Thủy”; “Thận kia là Khảm về cung Tý”: Cho nên chúng ta thiền giờ Tý, để chi? Để vun bồi cái thận càng ngày càng mạnh, cái thận thủy mạnh, thì cái thần thức của chúng ta càng dồi dào, cái giờ khuya là cái giờ ly tâm, mà giờ Tý đó, là ly tâm thì được thu hút cái phần thanh điển vô và cái thận của chúng ta càng ngày càng mạnh. Cho nên những người tu thiền mà làm đúng ngày đúng giờ đâu có bị đau lưng! Không có bị đau lưng, nhưng mà nó đem lại sự thông minh, Thanh tịnh là nó đạt tới thông minh.

“Thận kia là Khảm về cung Tý”; “Người hay luyện đặng giữ trong mình”; “Vàng cứng tất nhiên sanh vật quý”; “Mới đặng Khảm Ly hòa Hống Diên”; “Tánh thông Trời Đất đồng nguyên lý”; “Ba nhà gom lại kết Anh linh”; “Xá Lợi tỏ ngời trong Nhứt Khí”: Đó, cho nên muốn hội tụ được quy nhứt, thì chúng ta phải nuôi dưỡng cái gì trước hết? Cái thận, cái bộ phận đó, là bộ phận quan trọng nhứt trong cái cơ tạng mà nhiều người không hiểu. Người đời không hiểu, cứ đem ra tìm cái tham dục làm hạnh phúc, nuôi dưỡng cái dục tính làm hạnh phúc thì nó giảm thọ. Điều thứ nhứt đối với đời, và bên đạo nó không có cái điển “Diên Hống” để khai triển, nó bị kẹt luôn luôn. À, ba nhà gom lại, thượng trung hạ hợp nhứt, đó là anh linh, lúc đó người ta chưa nói là mình hiểu cái chuyện gì rồi, cái linh tánh nó mở dồi dào vô cùng.

“Xá lợi tỏ ngời trong Nhứt Khí”: Phần hồn của chúng ta ra vô không có khó khăn.

“Di giữ chặt bền ba báu linh”; “Cung Ly dứt tưởng được thanh minh”; “Đấp nền luyện tập công phu gắng”; “Chờ lúc Trúc cơ kết quả thành” Trúc Cơ là chỗ gì? Khi chúng ta đi tới trọn lành rồi là giải thoát, bỏ hết, cái chiều hướng nó đi lên rồi, mà tới đó trụ là thành, không có trở lại thế gian nữa.

“Lấy Ly bổ Khảm khí bèn thanh”; “Đơn điền gom lại trong không động”: Khi chúng ta thiền định rồi thì cái đơn điền nó ngồi yên, khi các bạn làm Pháp Luân 6 cái rồi là ngồi yên. Lần lần, lần lần nó rút lên, cái đơn điền này, nó không có động nữa, không có cục cựa nữa, mà cái thức ở trên này (bộ đầu) nó mở.

“Tương hội ba nhà kết Thánh Anh”: Đó, Tinh khí thần đầy đủ, lên đó là cái hồn của chúng ta. “Thánh anh” là phải ba nhà họp lại, ra tay chân đầy đủ, đi đàng hoàng không có sao hết. Nhưng mà trước hết những người mới tu phải làm Pháp Luân, Pháp Luân, Pháp Luân lấy nguyên khí giải, rồi làm tới cái lúc mà các bạn dỗ ngủ rồi, nó mê rồi, cái bụng đâu có cục cựa nữa, hết rồi. Cái đơn điền nó trụ, nó yên rồi, ở trên này ( trung tim bộ đầu) nó mở, rồi trên này thượng trung hạ, ba giới hợp nhứt rồi, nó thành hình rồi, cái thánh thai thành rồi, lúc đó là chúng ta ra đi có gì đâu!.

“Đà ấy sắc vàng muôn kiếp ghi”; “Tròn vo che phủ núi Tu Di”, là bộ đầu chúng ta, là hào quang.

“Càn khôn bao bọc vô hình dạng”; “Thế giới phủ giăng chẳng hướng gì”: nơi nào chúng ta cũng phát triển được.

“Sắc tốt mình vàng nào hoại nát”: không bao giờ hoại nát được kim thân, phần hồn.

“Công phu thuần thục lên bờ giác”; “Đắc quả may ra vẫn kịp thì”: Đó, Cho nên cái công phu là cái quan trọng, cái thực hành là cái quan trọng. Tu Vô Vi là phải thực hành. Còn người nào bám vào lý thuyết, người đó không đi tới đâu hết! Phải thực hành, chúng ta làm được cái gì nói cái nấy. Trước kia tôi nóng tánh, bây giờ tôi bớt nóng tánh. Trước kia những chuyện gì tôi phải hỏi cho thiệt ra lẽ, bây giờ tôi không cần hỏi, tôi biết, tôi nói, tôi nói bao nhiêu đó thôi! Nhờ cái gì tôi biết? Nhờ tôi hành, tôi biết. Trước kia tôi chọt chẹt, cái gì thắc mắc tôi cũng hỏi ra lẽ. Hỏi ra lẽ rồi, tánh tôi là tánh tôi, chớ lẽ đó không có giúp tôi, thấy chưa? Thì tôi cũng vẫn ở cái chỗ cô đọng, chậm tiến. Còn tôi hành rồi tôi có kết quả! Hồi trước tôi cô đọng, tôi chậm tiến, tôi hay chấp, tôi nghe cái gì tôi thắc mắc liền ở trong này, tôi không để ngoài tai và tôi không thể thấy cái đó là không! Mà ngày nay tôi nghe người ta nói cái gì tôi thấy rõ cái đó là không, thì tôi đâu cần hỏi làm chi đâu!

Khi mà tôi cảm thức cái đó là không, là luồng điển tôi có thể hòa cảm với luồng điển của đối phương, mà luồng điển của đối phương mà còn chậm trễ đi nữa, còn tăm tối, cái luồng thanh điển, từ điển của tôi lại độ cho đối phương, mà tôi không có nói là tôi độ. Tôi ngồi trước mặt họ, nghe họ nói chuyện nhưng mà tâm tôi đã độ họ và giúp họ. Giúp chỗ nào? Giúp thẳng về phần hồn, giúp cho phần hồn mà hành giả không hay. Cho nên nhiều khi các bạn tu rồi, tại sao người này nó thích nói chuyện với tôi! Là luồng điển của mình đã độ được đối phương. Cho nên có sự hiện diện của mình nó thích, mà không có sự hiện diện của mình nó buồn! Nó cũng người ta, mình cũng người ta, mà người kia cũng người ta. Mà người kia tới chơi với nó không được! Là mình độ thẳng phần hồn mà không hay!

Cho nên ở đây những cái câu chữ này, những cái bài kinh kệ này, khi các bạn thiền, các bạn lấy ý nghiền ngẫm và nó sẽ chạy lọt vô trong tâm các bạn. Cái đấy là một cái hành trang tiến hóa và xây dựng trở về một triết lý sống động để cứu độ quần sanh ở tương lai.

“Phật hiệu Kim Cang ở giữa mình”, Phật hiệu, cái chữ Phật hiệu nó ở giữa mình đây này (giữa ngực), chữ Vạn.

“Hư không thanh tịnh hóa nên hình”; “Khuyên người sớm bỏ tham sân bịnh”; “Thần khí phải gìn giữ rất tinh”;“Mười tháng công phu năng luyện tập”; “Ba năm công quả khá kiên thành”: Chịu tu ở trong ba năm là thấy tánh rồi.

“Trống lòng đầy bụng là giềng mối”: Mình làm Pháp Luân nè, cái bụng của mình... cái lòng ở trong này không có nữa. Không, chỉ giữ cái hơi ở đây thôi! là giềng mối.

“Vạn sự quy về một chữ thanh”: Đó, Cho nên cái Lục Tự Di Đà, người tu Vô Vi là chỉ có quan trọng 6 chữ này thôi. Tôi nói, lúc tôi tu và tôi ngộ được 6 chữ này, còn những cái gì mà ông Tư nói những “cảnh Tiên nhà Phật”, không bao giờ tôi để ý. Tôi tìm cái giềng mối để tôi đi tới.

Từ ngày mà tôi nghe ổng nói: “Nam, thật phương Nam lửa Bính Đinh”, tự nhiên tôi ghi chép cái đó hoài trong óc tôi. Bính Đinh là cái gì? mà Nam là phương Nam mới thật là có lửa? mà làm sao có lửa? Từ đó tôi đã nghĩ ngay tới chiếc xe hơi, nó có cái vis platiné nó đập. Bính Đinh, tui nói, Quoa! sao mình hiểu cái này, mình không học qua thầy bói, mà mình là người của thời đại, làm sao tôi hiểu? tôi thấy đây là cái “Mát” điển rõ ràng, rồi đêm đó tôi mới Soi Hồn, tôi Soi Hồn không có nhiều 5 phút tới 15 phút, tôi bỏ xuống theo lời ông Tư dạy, rồi tôi thiền đã nó mỏi rồi. Tôi nằm xuống, tôi trở lại thiền, tôi cũng thiền từ 5 phút tới 15 phút. Tôi làm thét, làm thét, nó nặng trì ở đây (trung tim hai chân mày) thì tôi chỉ có nhắm mắt... ngồi nhắm mắt, nhắm mắt, nhắm mắt... rồi trong này nó bắt niệm Phật. Dùng ý niệm từ từ niệm Nam Mô A Di Đà Phật... Nam Mô A Di Đà Phật, thấy cái tâm hồn nó thanh thản vô cùng, rồi tôi mới nghĩ ra, tại sao mình không nói một hai ba bốn năm sáu tới một trăm nó hay hơn? mà nói Nam Mô A Di Đà Phật nó có 6 chữ thôi!

Ông Thích Ca chưa chết, tại sao ông Thích Ca không về? Ổng chỗ nào ổng cũng đi được. Ổng có thể ghé qua ổng chơi với tôi. Tôi nghĩ là ông Thích Ca làm sao để liên lạc với tôi, chớ tôi không có khả năng liên lạc với ổng. Tôi lại nghĩ ngược như vậy! Tôi ngồi, tôi Soi Hồn, tôi niệm Phật thì không lâu thì thấy ông Thích Ca, luôn luôn ở trên đầu tôi và dạy tôi cách làm khi tôi Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định rồi tôi nằm xuống, dạy tôi vò cái mặt mà trong ý Ngài nói: “Ta sẽ cho ngươi có cái mặt giống ta”, mà bắt cái mặt tôi phải sát ở dưới đất, rồi vuốt, vuốt, vuốt, vuốt... mà lúc nào thiền rồi cũng bắt làm vậy hết. Mà khi làm rồi thì tôi thấy thanh nhẹ trong người, thấy sung sướng!

Không lâu, tôi dòm mặt mày, tôi thấy “sao lúc này thằng này coi bộ coi được” (cười...). vì hồi trước kia nói đạo người ta ghét, tới nói đạo người ta không ưa, thì mình khép ở nhà mình tu thôi!... Mà tôi tu ở trên cái gác, bà Tám ghét, cho có miếng chiếu chút xíu thôi, tôi chỉ ngủ phạm vi chút xíu. Cho nên mấy người cho tôi cái giường, tôi cũng ngủ quen rồi, cũng miếng chiếu đó thôi. Bây giờ anh có cho cái giường bao lớn, tôi cũng ngủ một góc, chớ tôi không có ngủ qua bên kia, hồi xưa tới giờ quen rồi Ngủ, nằm một chút, rồi ngồi dậy làm nữa, thì mấy người đi về nói: “Coi thằng điên nó ngồi kia kìa”! Thì mình cũng làm, làm thì trên kia cũng dạy vậy, thét mặt mày nó thay đổi, niệm Phật, niệm tới nó nhột ở chỗ này (trung tim hai chân mày), nó nhột cũng như có con ruồi nó nhói nhói ,nhói nhói... chỗ này, mà niệm Nam Mô A Di Đà Phật, niệm chừng nào thấy nó nhói nhói ,nhói nhói... mà xung quanh nó phá không thể nói được, nó lấy chổi lông gà nó thọc, nó làm cái gì đủ thứ, tôi cứ niệm Phật mà cái đầu nó cứ run run,run run vầy nè, run run mà niệm, bừng ra được rồi một cái là... đi rồi, đi ra đường Tổng Đốc Phương. Đi chỗ này chỗ nọ chơi, thây kệ, nó cứ vầy ( đầu thầy run run ) mà mình đi chơi. Rồi đi núi Thất Sơn, đi đủ các núi mà, tôi cái tánh kêu bằng liếng khỉ từ nhỏ là phải đi chơi... đi, đi chỗ này, chỗ nọ, khám phá, vô nhà băng chơi, đi các chỗ chơi, đi tới cái chỗ vợ chồng người ta ân ái mình cũng đi chơi, đi hết! Rồi đi tới cái chỗ con thú bắt đầu tiến hóa... Những con thú cũng tội nghiệp lắm, đầu sư tử, mình người ta, gánh nước làm việc, tôi cũng đứng tôi coi, có bữa tôi đi tới cái chỗ kêu bằng tụi légionnaire mà nó chết còn ở Việt Nam, nó bắn, nó bắn tôi nát xương, không còn gì hết, rồi một chập tôi nhảy vô cái restaurent tôi đứng, tôi thấy tôi còn nguyên. Hỏi chớ sao tụi này nó bắn mình không chết? lạ kỳ quá? bắn mình không chết? Tôi lại đi nữa, hết sợ rồi! Mà bây giờ làm sao? Bây giờ họ đánh mình mình làm sao đây? Niệm Phật! Nhờ cái niệm Phật đó, nó mới có cái vốn mà đi. Niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tôi đi nữa. Đi tới một cái bãi biển đẹp thiệt đẹp, có một ông tướng, ổng nắm cây giáo, từ xa ổng tới đâm, đâm, đâm tôi... Mà ban ngày à! Tôi ngồi ở trước nhà, tôi ngồi trên bộ phản tôi niệm Phật, tôi thấy ổng tới rõ ràng, ổng đâm tôi. Tôi niệm Phật, một chập cái ổng tan mất.

Tôi mới thấy tại sao cái Nam Mô A Di Đà Phật mà nó hay như vậy?... Phải cho tôi biết cái ý nghĩa của Nam Mô A Di Đà Phật, mà nó nằm ở đâu mà nó có thể cứu tôi nhiều..., qua biết bao nhiêu trạng thái, chìm tàu, đủ thứ, mà tôi thấy là tôi niệm Phật, tôi trở lại? Tôi nói lạ, lúc đó tôi bắt đầu niệm, niệm thì tôi nghe trong này lớn rộng, đầu óc tôi rộng, rộng lắm không phải ở trong căn nhà eo hẹp, nó rất lớn rộng. N... A... M... nó túa sáng hết, M...Ô... lớn rộng vô cùng, từ đó nó khai triển, khai triển, khai triển mà không có niệm mau, niệm rất chậm N... A... M... nó văng vẳng, văng vẳng, văng vẳng. M... Ô... như tiếng ngân của chuông chùa vậy! A... cái ý nó cứ chuyển chạy, chuyển chạy, nó thấm thía vô cùng. Từ đó khai mở ra, mới bắt đầu nói về chơn lý, nói về sanh tử luân hồi. Rồi tôi đi, buổi trưa đó, trời nắng thiệt nắng, bước lên làm bài thơ liền. Mà hồi nào tới giờ đâu có biết làm thơ. Viết cái thơ không xong, viết cái thơ chữ Việt Nam viết không xong, mà ở đó làm thơ! Bài thơ mà tôi thường nói, thì đem xuống cho ông Cao Minh Thiền Sư, Ông Cao Minh Thiền Sư Ổng nói: “Nó hiểu hết rồi!”. Ông Tư dẫn đi liền. Tôi đem xuống cho Ông Tư, tôi nói trưa này tôi ra bài thơ. Cho nên lấy cái bài thơ đó xuống cho Ông Cao Minh Thiền Sư, ông Cao Minh Thiền Sư nói: “Thầy Tư, nó hiểu hết rồi, ráng theo Thầy Tư tu”. Tôi cũng không mừng, tôi còn nghi mấy ông này: “Sao mà ổng nói mình hiểu, mà hiểu là hiểu cái gì?”. Cái tánh tôi luôn luôn là thắc mắc, không hiểu đâu! Tôi mới đọc lại cho ông nghe: “Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên”, tôi viết cho ổng coi, nhưng mà tôi lại đọc, tôi cũng thắc mắc, tôi nói:

Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên.

Điểm mùi chua ngọt lòng xao xuyến.

Sơn tinh thủy tú luân phiên hiện.

Hà thủy đục trong khắp các miền.

Cái giờ thiền của tôi, tôi thấy rõ: “Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên”, sơn phết cho nó giống cảnh tiên vậy thôi. Thế gian mà! “Điểm mùi chua ngọt lòng xao xuyến”, con người đi tới chỗ này chỗ nọ, chua cay đau khổ, lòng mình xao xuyến. “Sơn tinh thủy tú luân phiên hiện”, mình mới nhớ tới cảnh Trời Phật, hiện trong đầu óc của mình. “Hà thủy đục trong khắp các miền”, cái nước hồ chỗ đục chỗ trong, khắp các miền, đều như vậy, ta lo âu làm gì!

Thợ vẻ hồn thơ gieo ý nguyện.

Khéo khôn khôn khéo tìm phương chuyển.

Xây dựng ngày kia sẽ thấu truyền.

Tô điểm sơn hà thợ khéo xây!

Hồi đó, tôi cũng không biết ơn trên cho tôi, hay là khả năng của tôi. Tôi làm gì có khả năng mà làm thơ! Mà làm như vậy! Kỳ lạ! Hay là mình điên rồi! Cũng không phải điên! Cái lý rất hay, thấy không! Mình dòm cái hình ông Thích Ca, mình gieo ý nguyện, và mình muốn tu, phải khéo xây, phải cố gắng để đi tới như Ngài. Đó là cái đại nguyện trong tâm nó thể hiện ra một bài thơ.

Tôi thắc mắc vô cùng, xuống Ông Tư, Ông Tư nói: “Hay”, và tôi cho bạn hay sau này bạn làm thơ hay lắm! “Tôi nói làm dở ẹt, mới có một bài mà tôi ngó bộ không xong (cười...) mà ông nói hay!” Vậy đó, sau này bạn thấy những công chuyện như thấy tivi vậy đó! Bạn không có lo âu, không phải làm thơ như tui mà phải ngồi suy nghĩ đâu! Viết lúc nào cũng được hết! Ổng nói vậy đó! Tôi cho ông già nói láo, tôi dốt mà tôi đâu có biết như ông, mà làm sao tôi có thể làm thơ được. Tôi viết cái thơ không xong mà, làm sao tôi có thể làm thơ thi được, cái chuyện ông nói kỳ. Ổng nói: “Cái thơ này, bạn đưa mấy ông đốc học cũng làm chưa có được”. Tôi nói: “Giỡn! Đốc học là phải giỏi hơn, chớ tôi đâu có biết gì mà tôi làm được”.

[hết băng ID# 19860102Q4].....


----
vovilibrary.net >>refresh...