[ID# 19860102Q3]

Khóa Huấn Luyện "KINH A DI ĐÀ" - Thầy giảng từ "THÍC CA MÂU NI" - Cuốn 5A

…..

Đức Thầy: Xong hết rồi há? Ừ, đợi nó vô luôn, đóng cửa cái rồi... Thì cái đó là thiên cơ, Anh, biết giờ nào nó xả? (cười) Phải không? Thiên cơ mà! (cười) Cho nên, nhiều người mà nói thiên cơ đó, thì mình hỏi lại, "Mỗi buổi sáng, mấy giờ, mấy phút, mấy khắc Ông đi, Ông đi ỉa?" (cười) Đố ổng nói trúng! Vậy thì mình lo tu, bảo đảm hơn! Thiên cơ, thây kệ nó; Thần, Thánh, thây kệ nó. Tâm mình cứ tiến tới cái giới đó là họ phải làm việc cho mình! Thấy chưa? Chớ đừng có nói, tôi nói, cái tự tu tự tiến này là mình tiến tới cái giới đó, an bài trật tự! Nhiều người nói, “Tự tu, tự tiến rồi đâu có ai giúp?” Kỳ thật, Thần, Thánh là phải có nhiệm vụ; Thượng Đế cũng phải có nhiệm vụ! Mà mình tới đó là Ngài phải giúp! Mà mình, chúng ta đây, có nhiệm vụ này, bây giờ chúng ta đang nói đạo này, mà người nào nhẩy vô hỏi đạo, chúng ta vui mừng này, đón tiếp này, còn nấu hủ tiếu cho ăn nữa! Phải không? Đó! Nhưng mà người đó nói, "Tui tự tầm!" À, mới gặp việc! Thấy không? Thì bây giờ mình cứ tự tầm mình đi; đi tới vô cùng, thì mình có ăn hoài hoài. Còn mà mình lười biếng, thì không có! Phải không?

Còn người nào ngoài đó nữa? Không phải hả? ...

Cho nên, hôm qua tới nay chúng ta nói Nam Mô A Di Đà Phật, rồi nói tới cái xác. Nhưng mà :

Thân người khó được” (Nhân thân nan đắc) muốn thành cái xác không phải dễ đâu, mà các bạn bây giờ có cái xác là quý lắm.

“Phật Pháp khó nghe” chúng ta mới đi học; thấy chưa? Nói "Phật pháp khó nghe"; nói nó nhẹ lắm, nói nó du dương lắm, mà nghe không vô, không có chỗ chứa! Tại sao? Tại mình thiếu thanh tịnh, không có chỗ chứa. Sách hay mà để một đống như vậy, thì nó không có trật tụ; mà có cái kệ, để như vậy là nó có trật tự; nó có chỗ chứa. Thì chúng ta phải tu, phải hành, rồi nó có trật tự, nó mới chứa. "Phật pháp khó nghe", mà lập lại trật tự là dễ nghe và dễ tiến.

“Duyên lành khó gặp”, Ðó. Hồi nào tới giờ ở Việt Nam chúng ta không có duyên lành. Ngày nay chứng minh chúng ta có duyên lành: kẻ Mỹ Tho, người Cà Mau, kẻ ngoài Bắc, người trong Nam, bây giờ cũng ngồi chung trong cái căn phòng này được; thấy chưa? Ðó! Cái "Duyên lành khó gặp", mà ngày nay chúng ta có duyên lành tái ngộ rồi, thì chúng ta bất phân tuổi tác, bất phân giai cấp, đi học đạo!

"Xứ Phật khó về"; Xứ Phật là từ bi, mà tại sao nói: "Khó về?" Tại vì chúng ta không hòa với sự từ bi, và chúng ta không có sự thanh nhẹ, làm sao bước vô sự thanh nhẹ? Cũng như một khối người ở đây, khi người khác mà tới, mà không chịu hòa với chúng ta, đâu có chịu ăn chay với chúng ta, đâu có chịu sống chung trong cảnh huynh đệ xít nhau, gần nhau, để sống để thỏ thẻ với nhau? Không, người ta không chịu, người ta phải bỏ đi! Tại họ, chớ không phải tại Phật; mà cũng không phải tại xứ Phật.

Cho nên, mặt đất này dễ sống, nhưng mà họ cho là khó sống. Thì nhờ mặt đất, nhờ sự kích động, nhờ sự thiếu thốn, họ mới khai triển tâm thức: sáng chế cái này, sáng chế cái kia, sáng chế cái nọ; họ thấy thích thú và thấy hạnh phúc, là do sự cố gắng của chính họ. Thì bây giờ chúng ta tu ở đây, chúng ta phải cố gắng; chúng ta mục đích muốn về xứ Phật, mà chúng ta cứ nói, "Xứ Phật khó về" là tại vì chúng ta không chịu về, không chịu hành, không chịu đi; làm sao về tới?

Cho nên, bốn cái khó khăn này, ông Thích Ca đã thành công: Ổng hành. "Thân người khó được," thiệt, ổng ra, ổng thấy biết bao nhiêu người bị đốt, bị này, bị giết, bị hại; nhưng mà thân của ổng đó, làm sao ổng bỏ cái thân này Ổng bước qua cái thân khác, như vậy? Không được! Thấy không? "Phật pháp khó nghe", Ổng muốn tìm cái từ bi cởi mở để cứu độ tất cả quần sanh, tránh tai nạn tại mặt đất; nhưng mà không làm sao mà hiểu được! Mà khi Ổng hiểu được, thì ổng không làm sao mà truyền bá cho chúng sanh cho nó hiểu được và nó tránh cái tánh hung hăng của nó, và để nó hướng thiện.

Cho nên, "Duyên lành khó gặp". Cho nên, Ổng đành Ổng phải đi tu: toàn dân hướng về Ổng. Ổng đã có duyên, nhưng mà cái duyên lành không có; toàn là cái chuyện ác ôn, chuyện khổ cực, đưa tâu lên vua: đưa trình cho những nhà chánh trị phải lo, phải sửa, thì Ổng thấy "Duyên lành khó gặp". Ổng tu, ổng sửa, ổng mang cái thân xác này cũng như cái thân xác của chúng sanh. Mà ổng sửa được hòa ái tương thân với các nơi các giới. Và mọi người tự thức được ổng là mọi người, mọi người là ổng thì cái duyên lành nó lại dễ gặp. Trong cái khó nó sẽ đi tới cái dễ.

Còn “Xứ Phật khó về”, là phải buông bỏ tất cả những sự trần tục của thế gian mới về. Chính Ngài đã thành đạt, nhưng mà ngày nay Ngài ở đâu? Ở trong tâm chúng sanh. Ở trong chỗ nào? Ở những tâm thanh sạch, ở những tâm của con người đã dứt bỏ trần tâm, và không nuôi dưỡng động loạn nữa thì tâm người đó mới có sự hiện diện của Đức Thích Ca. Thì cái thức bình đẳng Ngài luôn luôn ban rải khắp trần gian qua những cơn kích động và phản động của những người đau khổ. Rồi những người đó sẽ tận hưởng và diện kiến Ngài, và đi thẳng trong thức của Ngài học từ bi và thực hiện từ bi.

Ngày hôm nay chúng ta đang khao khát, và chúng ta muốn làm, chúng ta muốn hành, chúng ta muốn học. Đó, thì chúng ta phải giữ bình tâm và chúng ta nghĩ rằng, “Đức Thích Ca là ta, ta là Đức Thích Ca.” Ngài trước kia cũng ở trong cảnh động loạn. Ngài có nhãn quan để phán xét những chuyện ác thiện. Mà ngày hôm nay chúng ta cũng tương đồng như vậy. Chúng ta nhớ Ngài và chúng ta sống với Ngài trong giây phút chúng ta học. Ta đang ngồi ở rừng già lo tu học đây; và chúng ta thanh tịnh để tiếp cái thanh điển của Ngài và để hiểu Ngài đã dụng văn phán điển cho tâm thức của chúng sanh, dựa vào căn cứ văn tự và để độ đời.

Cho nên bữa nay chúng ta học qua cái giai đoạn “THÍCH CA MÂU NI”. Hôm qua chúng ta học Kinh A Di Đà.

Thì bây giờ “THÍCH CA MÂU NI” dựa trong văn tự

ĐÂY GIẢI VỀ CHỮ THÍCH CA MÂU NI

THÍCH : Là giải ra cho đức Di Đà hiểu.

CA : Là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh để tu.

Ông Tám giảng

Nhiều người nghe nó nghịch quá, Thích Ca là tên người ta, mà tại sao giải thích như thế này? Cho nên chữ Thích là thích giải, là mượn lấy cái luồng điển và mượn cái danh từ mà để giải cái tâm thức của chúng sanh. Cho nên để chữ “Thích” là giải ra cho đức Di Đà hiểu. “Ca” là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh.

MÂU : Là tượng trưng Pháp lý để tu trong mình.

NI : Là ngày hôm nay có Khoa học Huyền bí Pháp lý mà Ngài đã chỉ rõ cho Phật Di Đà để hoằng hóa chúng sanh dưới thế gian, còn Ngài là Thích Ca Phật Tổ chứng minh mà thôi.

Ông Tám giảng

Cho nên tại sao ông này cắt nghĩa kỳ quá? chúng ta nghe mệt óc mà không thông? Thích Ca Mâu Ni là một vị mọi người đã thờ, kính và đọc lấy danh Ngài cảm thấy tâm an mà tại sao ông này ông cắt nghĩa là : Thích là giải thích, giải ra? Đó, thì các bạn đi vô chùa, khi mà thờ Đức Thích Ca luôn luôn có những vị sư dẫn giải về đạo pháp, giải thích cái định luật sanh tử luân hồi tại thế và để cho mọi người có cơ hội thức tâm, cho nên mượn cửa thiền, mượn danh từ của Ngài mà để đem đạo vào tâm của chúng sanh.

Ca là ca tụng, tuyên truyền những cái hay cái đẹp, những cái dũng chí, Bi Trí Dũng của Ngài đã hành, thành đạo, để cho chúng sanh noi theo và đi con đường của Ngài.

MÂU : Là tượng trưng Pháp lý để tu trong mình.

Ông Tám giảng

Mâu là cái gì? Mâu Ni Châu là cái điển. Cái điển ở trong mình chúng ta. Cái chủ lực là cái điển. Cặp mắt các bạn nháy được. Cái tâm các bạn muốn nói chuyện. Đó là cái điển. Cái đó là Mâu ở bên trong, khi mà các bạn nói “Mâu…” thì cái âm thinh gồm ở bên trong này. Nó trụ, thì cái đó là mượn cái hình thức bên ngoài, mượn cái hữu vi mà phân giải cái vô vi là cái luồng điển ở bên trong. Và cái xác này là về vật chất tiến triển rờ mó được, thuộc về âm, còn cái kia thuộc về dương nó là di động, linh động, lúc nào cũng linh động.

NI: là ngày hôm nay có Khoa học Huyền bí, Pháp lý, mà Ngài đã chỉ rõ Phật Di Đà để hoằng hóa chúng sanh dưới thế gian, còn Ngài là Thích Ca Phật Tổ chứng minh.

Ông Tám giảng

Nói câu này người ta đâu có hiểu cái gì đâu! (cười) Nhưng mà chỉ những người tu mà niệm Phật: Nam Mô A Di Đà Phật, thì cái luồng điển nó chạy đều trong cái cơ thể khi mà bạn niệm Nam Mô A Di Đà Phật rồi, cái âm thinh các bạn niệm nhẹ nhẹ mà nghe nó cũng như ở trong cái tòa sảnh. Nam Mô A Di Đà Phật, nó rần hết bên trong thì các bạn mới hiểu giá trị của Thích Ca Mâu Ni,

Nhưng mà cái này ông Tư - ổng căn bản mượn cái lời Thích Ca Mâu Ni tại thế mọi người cung kính mà dựa đó để đem cái huyền điển từ trên xuống mà nhập ngộ trong chơn tâm của chúng sanh đang ngồi đây và muốn nghe đạo. Đạo là nó ở bên trong chớ không có phải hình thức bên ngoài, mắt bằng xương bằng thịt khó thấy được; không thấy được, nhưng mà nó nằm ở trong cái thức.

Cho nên khi chúng ta nhắm mắt ta gom thức rồi thì chúng ta nghe chúng ta hiểu. Chúng ta hiểu cái Thích Ca Mâu Ni, giá trị của Thích Ca Mâu Ni là đem luồng điển vào tâm của chúng sanh để chúng sanh thực hành sự thanh tịnh và ngộ Ngài càng sớm càng tốt.

CỬ HƯƠNG TÁN Nghĩa là : DƯNG HƯƠNG

Người thế gian hay tạo lư hương, là một cái hộp, hay là một cái lư, đựng tro hoặc cát để cắm nhang, gọi là lư hương. Theo Kinh Di Đà có chỉ rõ nghĩa lý, thì khi đức Di Đà ngồi tịnh bắt được điển, Ngài thế cho đức Thích Ca nói ra chữ “Cử Hương Tán” là khi có Vô Vi Thánh gọi là vị cứu tinh giáng xuống nơi Hà Đào Thành là bộ đầu của ta. Ngài gọi nào là Hồn, Vía, Lục Căn, Lục Trần và các chúng sanh trong bản thể là “Nước của ta.” Thì thấy vắng mặt anh Hồn, vì Thần Hồn ở nơi trái tim thịt nhơn tạo, bởi lẽ Hồn là một vị ở nơi thiên đàng bị tội xuống thế, vào nơi bản thể con người, nhập vào trái tim xác thịt. Trái tim là một cái khám tối giam lỏng Linh Hồn. Còn ngoài trái tim thì có Lục Căn, Lục Trần bao chung quanh Ngũ Tạng để làm việc. Lục Căn, Lục Trần cũng như lính thế gian, cũng phải làm việc cho bản thể cùng giữ Linh Hồn tại khám tối. Vì vậy mà Lục Căn, Lục Trần được sai khiến và hà hiếp Linh Hồn. Linh Hồn biết rằng mình có tội nên phải tùng quyền Lục Căn, Lục Trần đè ép xúi biểu Linh Hồn làm theo những chuyện thế gian như là: hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si.

Khi Linh Hồn bị hiếp đáp cực khổ quá, chịu không nổi mới gọi Trời Phật mà than rằng:

“Ôi, ta cực khổ quá, không thể ở chốn này được”.

Lúc ấy, vị cứu tinh trên Thiên Đàng nghe Hồn than xiết mới giáng điển xuống “Hà Đào Thành” và gọi tất cả Hồn, Vía, Lục Căn, Lục Trần lại ứng hầu để tra hỏi. Ngài hỏi ai là Hồn làm chủ bản thể này, Hồn liền đến đảnh lễ vị cứu tinh và nghe Ngài phán rằng:

“Ngươi trước kia ở thiên đàng, có tội phải vào Niết Bàn sa xuống trần gian. Nay ngươi có lòng tưởng Phật, nên ta xuống đây giải thoát cho ngươi. Vậy từ đây sắp tới, ngươi phải tu hành tưởng Phật thì Phật sẽ giải cứu ngươi đem về chỗ quê cũ là xứ của Phật, nơi mà trước kia ngươi đã ở tại đó. Nhưng ngươi phải ở đây đền tội cho đủ, và tu hành luyện đạo theo pháp lý Vô Vi đây, đến khi mãn hạn tù tội thì Phật ngài sẽ rước ngươi về cõi Phật”.

Lúc ấy nào là Vía, Lục Căn, Lục Trần đồng chịu tội lỗi vì đã hà hiếp Linh Hồn. Vị cứu tinh mới bảo:

“Thôi, từ đây sắp tới Lục Căn, Lục Trần cùng Vía chuyên làm việc bản thể mà thôi. Còn Linh Hồn là chủ của chúng ngươi, chúng ngươi phải tùng quyền Linh Hồn này và coi giữ đấy, không được ép xúi theo thế gian nữa”.

Kể từ đó Linh Hồn được thong thả lo luyện đạo pháp lý công phu. Vị cứu tinh bèn trở về Thiên Đàng. Hồn càng vui vẻ, mới gọi Lục Căn, Lục Trần cùng Vía lại mà nói rằng:

“Hôm nay ta chào các ngươi, Lục Căn, Lục Trần cùng Vía nghe ta phán, và chúng ngươi phải biết mấy câu kệ của ta”.

Đố ai biết Lão là ai?

Vì phạm Thiên Nhan phải bị đày

Sớm tối công phu theo pháp lý

Mau thành Chánh Quả trở về ngay.

Ông Hồn nói tiếp cùng với Vía, Lục Căn, Lục Trần và những lỗ chân lông là dân sự trong nước của bản thể.

“Chúng bây có biết chưa? Ta là Hồn, trước kia bị phạm tội nên mới bị đày, nay nhờ vị Cứu tinh giải thoát và truyền cho ta có quyền sai khiến chúng bây và dạy bây tu hành theo ta, bây có biết chưa? Đây ta là: CHỦ NHƠN ÔNG được hồi chức cũ, đồng có tội thì ta cố gắng tu hành để độ chúng bây thẳng rẳng theo con đường chánh lý. Lúc ấy Vía, Lục Căn, Lục Trần đảnh lễ Chủ Nhơn Ông và bạch rằng:

“Chúng tôi đồng quy y thọ giáo theo Ngài. Từ đây chúng tôi không cưỡng giáo lý, cũng không xúi biểu Chủ Nhơn Ông mê trần”.

Chủ Nhơn Ông mô Phật đêm ngày công phu luyện đạo làm phép Cử Hương Tán.

Ông Tám giảng

Cho nên cái tổ chức ở trần gian chúng ta thấy rất rõ, thể xác, phần hồn của chúng ta đang bị quyến luyến, giam hãm trong cái thể xác này mà Lục Căn, Lục Trần luôn luôn hoành hành, bày biểu đủ kế hoạch. Cho nên nhiều khi các bạn ngồi đó, nó nghĩ việc này, việc kia, việc nọ, bán tín bán nghi, đời cũng bán tín bán nghi, đạo cũng bán tín bán nghi và không chịu thức giác. Cho nên nó xúi biểu, nó làm cho cái thần thức, cái phần hồn của chúng ta đắm chìm và chạy theo cái con đường bất chánh. Rồi tự bảo vệ con đường bất chánh đó mà làm cho chúng ta trở nên si mê, tranh chấp.

Hằng ngày các bạn thấy, khi mà chúng ta bỏ cái môn thiền là muốn bỏ cửa thiền, mà chúng ta về với đời là chúng ta thấy toàn là sự tranh chấp, dãy đầy trong gia cang của chúng ta đều là sự tranh chấp, ngoài xã hội là sự tranh chấp. Không biết nó là ai! Vì sao? Vì Lục Căn, Lục Trần nó đã buộc rồi, và Lục Căn, Lục Trần nó nói, nó điều khiển, thì chủ nhơn ông phải nghe. Vì hồi nào tới giờ chúng ta giao cho nó làm, nó hành sự. Cũng như bây giờ căn nhà hay căn tiệm các bạn làm ăn mà giao cho mấy người làm công hết thì người làm công điều khiển, chủ nhơn ông đâu có biết làm gì. Khi mà xảy ra tai nạn thì chủ nhơn ông phải gánh hết.

Đó! cho nên ngày hôm nay chúng ta không dại nữa và chúng ta thức tâm rồi, thấy rằng “Tôi ăn bao nhiêu, mặc bao nhiêu có chừng, và thời gian tôi giáng lâm xuống thế gian đây học hỏi đều có chừng rồi tôi phải ra đi. Thì tôi phải sử dụng và làm những điều cần thiết và không sử dụng những chuyện không cần thiết nữa.” Thì lúc đó cái phần hồn mới nhẹ nhàng, Lục Căn, Lục Trần nó mới hàng phục, nó mới chịu tu.

Cho nên chúng ta “thượng bất chánh hạ tắc loạn:” bộ đầu các bạn mà không có phân minh, không có rõ rệt, không hiểu cái nguyên cơ, thiên xích liên hệ với trời đất, càn khôn vũ trụ thì luôn luôn bị lệ thuộc, mà trong cái lệ thuộc đó là ai làm cho chúng ta bị lệ thuộc? Lục Căn, Lục Trần nó lôi cuố,, vì cái tập quán của chúng nó và trình độ của chúng nó tới đó thôi, nó chỉ tranh đấu, thực tế, sát phạt hơn thua, đó kêu bằng là cái nguyên lý của Lục Căn, Lục Trần. Còn nó không hiểu rằng cái trường cửu bất diệt mà cứu tất cả là tha thứ và thương yêu.

Cho nên khi mà chủ nhơn ông thức tâm rồi, quyết tâm dứt khoát ra đi tu rồi, thì Lục Căn, Lục Trần phải quỳ bái và kính nể theo con đường tinh tấn của chủ nhơn ông. Học được đạo bao nhiêu, đem về truyền bá bao nhiêu nó mới thức tâm. Ngày đêm nó mới quy y và nó niệm Phật. Cho nên những người tu về Pháp lý thức tâm rồi thì nửa đêm nghe rõ những câu niệm Phật của vạn linh trong Tiểu Thiên Địa, đồng niệm Phật, thức tâm để kêu chúng ta dậy lo cái giờ giấc công phu là quan trọng. Đó là cái cơ tiến hóa cần thiết. Còn cái tiền bạc, của cải, địa vị ở thế gian đều là tạm bợ, và không mang đi được. Nó cũng là cái cơ cấu xây dựng của Thượng Đế trong cái kích động và phản động để nhồi quả cho phần hồn tiến hóa mà thôi.

Cho nên chủ nhân ông thức tâm rồi mới chịu CỬ HƯƠNG TÁN lo tu.

Chữ CỬ HƯƠNG TÁN nghĩa là :

CỬ : Là đề cử.

HƯƠNG : Là công phu Soi Hồn, trong đấy là chỗ tập trung. Thường khi công phu thì điển nhóm lại một chỗ tập trung; chúng ta rờ nóng, gọi là Lư hương.

Còn chữ TÁN : Nghĩa là Vía, Lục Căn, Lục Trần đều ưng thuận tán thành cung phụng.

Ông Tám giảng

Đó là đi trực tiếp. Còn ở đời họ “Cử Hương Tán” là thắp cây nhang đưa lên đầu, đó, nhưng mà đưa lên đầu thì trong này chỉ có cầu xin không à. Mà không biết cái nghĩa lý của cây hương là lửa và nó đi lên trên cõi trên cũng như là thưa trình ở Bên Trên. Hồi xưa, người ta làm vậy là tập trung tinh thần để thưa trình với chư Phật chư Tiên “Con nguyện tu”; chớ không phải cầu xin giàu có; nhưng mà ngược lại, ở đây họ chỉ cầu xin may mắn, bình an.

Đó! Cho nên cái Cử Hương Tán của chúng ta là thực tế. Các bạn đưa ngón tay lên Soi Hồn là tập trung cái luồng điển lửa nóng cho nó tập trung giữa chân mày. Cho nên các bạn tu một thời gian Soi Hồn nó trì nặng ngay chân mày. Đó là chúng ta thắp một cây nhang. Có người thắp 6 năm, có người thắp 6 tháng, có người thắp 3 ngày nó cũng sáng, vì người đó đã thắp lâu rồi, đã tu lâu rồi.

“Hương” là công phu Soi Hồn, trong đấy nó phát cái thanh điển đi lên; khi mà các bạn Soi Hồn bịt như thế này là nó tán ra, nó đi ra, nó giải cái trược, nó tán ra.

thường khi công phu điển nhóm lại chỗ tập trung, chúng ta rờ nóng. Lư hương, lư hương chỗ này (trung tim chân mày) nó nóng.

Còn chữ “Tán” nghĩa là Vía, Lục Căn, Lục Trần đều ưng thuận

Ông Tám giảng

Đó! khi mà chủ nhơn ông chịu Soi Hồn là ở dưới nó sẽ êm ả lần lần, khi các bạn Soi Hồn tới 5 phút, rồi đạt tới 15 phút, các bạn cảm thấy sự êm ả rồi, càng ngày càng êm ả. Cho nên có nhiều người họ soi tới một tiếng đồng hồ, họ thấy êm ả trong cơ thể, là Lục Căn Lục Trần nó hàng phục. Đó! cho nên đi trực tiếp. Cái kinh A Di Đà này mà theo ông Tư giải thích như này là đi trực tiếp về cái Pháp lý và khi chúng ta Soi hồn rồi nó êm ả, êm ả một chập, một chập 5 phút sau, 10 phút sau, 15 phút sau thì cảm thông ngay cái xương sống phía đàng sau này, đâu đó nó êm ả hết.

LƯ HƯƠNG SẠ NHIỆT PHÁP GIỚI MÔNG HUÂN

Chữ Lư Hương là lò lửa.

Trong mình ta có lò lửa, nhưng người thế gian nào biết được. Lúc đức Di Đà dạy đạo, chỉ cho chúng ta biết: Ngay giữa hai chân mày, trung tim giữa sống mũi là chỗ Tam Tinh “Tinh, Khí, Thần” nhóm tại đó người luyện đạo gọi là tập trung. Nói như vậy chúng ta cũng chưa thấu đáo, duy nhờ có tu luyện, định thần ngay chỗ ấy chúng ta sẽ biết là chỗ lò lửa thật. Nếu chúng ta muốn thí nghiệm cho rõ Pháp lý, thử giơ tay đánh thật mạnh ngay giữa trán ta, thì ta thấy phát ra một tia lửa đỏ lòm, gọi là Tá Hỏa Tam Tinh (Người Pháp gọi là “Thấy 36 ngọn đèn”).

Ông Tám giảng

Chỗ đó là chỗ hỏa, khi mà đánh bụp vô một cái là thấy tá hỏa tam tinh rồi, xây xẩm mặt mày.

Khi ta luyện đạo công phu thì chỗ ấy phát nóng nhiều, còn lúc thôi luyện đạo thì không nóng.

Ông Tám giảng

Đó, cho nên các bạn tập trung rồi, sao nó cứ nặng trì, nặng trì, rồi thích nhắm mắt... mà trong lúc thích nhắm mắt nó lại thích niệm Phật nữa! Nó mới phóng ra, nó mới thấy cái lửa sức mạnh nó thế nào. Cho nên cái đệ tam nhãn này mở mà đối phương có tới chống chúng ta, chúng ta cứ ngó ngay chỗ tam tinh của những người mà chưa tập trung, thì họ phải hàng phục, họ phải nể ngay! Vì cái thần lực này là cái thần lực mạnh nhứt, chánh tông của đệ tam nhãn, rồi chỗ này (trung tim chân mày) nó xoáy, mà nó mở ra rồi thì các bạn chỉ ngó ngay, dụng cái này (trung tim chân mày) ngó ngay đối phương thì dễ hòa với họ và không có trở ngại. Còn nếu mà chúng ta dùng cặp mắt thịt ngó, chúng ta còn sợ mà tập trung được cái chỗ đó ngó, là không có sợ nữa! Mà tâm chúng ta vừa niệm Phật là vừa cứu họ và cứu mình: giải, dùng hỏa trung thiên để giải cái hỏa trần trược tại thế gian. Cho nên những người tu Pháp lý khi đi thăm người bệnh hoạn, chúng ta chỉ nhìn ngay chỗ đó mà thôi, nhìn ngay trung tim chân mày, và dùng từ tâm niệm Phật và đem cái từ điển cho bệnh nhân; cho nên đến thăm nhiều lần họ cảm thấy nhẹ.

Con cái, gia đình chúng ta bệnh hoạn cũng vậy, nếu họ không tu, mình là người tu, mình phải tới nhìn họ và phải đem cái từ tâm niệm Phật để truyền cái thanh điển của chính ta đã tu luyện cho đối phương có cơ hội tự thức, còn khi mà chúng ta cứ thử nghĩa là các bạn trước kia chỗ này (trung tim chân mày) nó không nông, Soi Hồn thét nó nông cao, và nó trì nặng chỗ này (trung tim chân mày). Rồi các bạn bỏ đi không có Soi Hồn, nó không có nữa, vì nó không có tập trung, nó không thành sức mạnh rồi, nếu mà Soi Hồn bỏ là khó thấy ánh sáng, mà giữ được Soi Hồn đều, đều, đều như vậy thì sau này dễ thấy ánh sáng vì nó tập trung.

Cho nên đừng có sợ; khi mà nó tập trung ở đây (trung tim chân mày) nó nặng một thời gian rồi, vừa nhắm mắt là nó lên đây (giữa trán) nó nặng. Đây (giữa trán) là trung thiên, ngay chính giữa là trung thiên, cái luồng điển nó chuyển lên trung thiên rồi, rồi nó nặng ngay chỗ này (chân mí tóc), nó là bồng lai, ngay chỗ này (chân mí tóc) nó phóng thẳng vô trong cảnh tiên, mà đây, ngay trung tim đây (trung tim bộ đầu) là Phật giới. Còn nó nặng trì phía đằng sau này là ma quỷ.

Đó! Cho nên những người tu mà bước vô cái nhà nào, mà thấy tự nhiên tôi bước vô thấy sao nó nặng ở đây (Ngọc Chẩm), nó làm cái xòa một cái nó làm tôi nặng ở đây (Ngọc Chẩm) là ma, còn quỷ nó còn mạnh hơn, nó đè ngay cái ngực tôi luôn, còn những phần thiêng liêng xuống về thanh thoát, nó không có! Chúng ta tới cũng như người thường, cảm thấy nhẹ. Phần đó là chư Thần, chư Thánh chư Tiên làm việc. À, còn mình tới mà nó áp đảo ngay chỗ này (Ngọc Chẩm), và nó làm cho cái ngực các bạn nặng, đó là ma quỷ. Chúng ta lo niệm Phật và lo rời khỏi chỗ đó, vì chúng ta không phải là loại tranh chấp, không phải là loại làm thầy, không phải loại đánh giặc, chúng ta không có ở đó.

Nhiều bạn nói: “Ờ! Tôi biết cái đó, tôi trị nó.” Trị không được! Không nên trị, mít lòng, chúng ta bỏ đi, niệm Phật. Thôi, tôi chỉ lo tu cho tôi mà thôi, không nên dùng cái điển của chúng ta để khắc phục cái tà, vì trình độ của chúng ta chưa có đầy đủ. Mà Trình độ đủ thì hút họ lên, chớ không có đè họ. Cho nên nhiều bạn tu mới có chút điển muốn đi đè đối phương, đè con ma. Mà rốt cuộc mình thành ma, mình càng đè thì mình càng la dữ.

Cho nên ở Việt Nam tôi nói câu chuyện tức cười: bà Văn Cao bả bị bệnh. Bả là bà con của ông Lâm Văn Thơ. Thì ông Lâm Văn Thơ có đệ tử xài bùa, trị tà, nghe nói cũng hay lắm. Mà bà này bả thấy có tà xâm trong mình bả, bả cứ nghi bả có tà mà bả không chịu tu, bả tu không được, bả bị phá hoài. Bởi vì tiền kiếp bà chơi bùa ngải, thì bây giờ bùa ngải nó phá bả, mà bả không hay. Rồi bây giờ đi gởi đó, ông tướng ổng gởi ở đó, ổng nói nghĩa là: “Bà con tao, mầy ráng trị”. Thì ông kia ổng vẽ bùa đồ này kia kia nọ, trị nó không xuất, con tà nó không xuất, nó cũng còn hoài. Thì ổng nói nghĩa là: “Tao cho mày hay là ông tướng gởi đó nghen! Mà mày hổng xuất tao đánh chết cha (Đức Thầy cười..). bà kia nghe mất hồn! Ông đừng đánh chớ. Tôi thiệt là cháu ông tướng mà ông đánh tôi chết còn gì. Ông lính nói: “Mày phải ra, mầy phải xuất ra, không xuất ra thì tao đánh chết (Đức Thầy cười..). Lúc đó thầy bùa bí rồi. Thầy bùa bí rồi bây giờ biết làm sao? “Ông tướng gởi mà mình không làm chắc là ổng quở rồi!”. Mà trị không xong là ổng quở, mà năn nỉ thì không được. Mà bùa phép ra hết rồi mà con ma nó nói: “Tao còn đây” (Đức Thầy cười..). Nói mày không ra là tao đánh chết, bà kia mất hồn, bỏ chạy (Đức Thầy cười..). Cái đó cũng là thầy bùa, mà thầy bùa tới đó hết phép rồi (Đức Thầy cười..).

Cho nên, ở đời này nhiều thầy lắm. Cho nên, chúng ta tu về Pháp lý Vô Vi không có bị cái đó. Phải quyết tâm tự tu mới giải được, cái tiền kiếp chúng ta làm sái quấy thì kiếp này chúng ta phải chấp nhận. Mà phải tự giải, không tự giải là không có thể được. Cho nên tôi có chỉ cho bả chỉ có tu thôi, chấp nhận đi, chết bỏ. Vì ta hại người thì người hại ta, đúng rồi. Trả được kiếp này thì kiếp sau khỏi tái phát, mà không nghe! Đi thầy nào... tôi nói: “Ờ, thì thầy đó hay, cứ việc đi!” Đi hết cả Việt Nam không có thầy nào hết. Rốt cuộc về, cũng phải tu về vô vi, không cách gì giải được hết. Bởi cái chuyện hồi xưa mà, bây giờ chúng ta phải nhận và chúng ta phải giải.

Cho nên ngày hôm nay chúng ta đi theo con đường nào mà chúng ta tu? đi theo con đường ông Thích Ca tu, ông Thích Ca tiền kiếp ổng làm hiền, ổng có tu, ngày nay ổng mới được làm Thái Tử. Mà Thái Tử ổng thấy trần gian động loạn, giết chóc, “Oan oan tương báo hà thời liễu,” ổng thấy rõ cứ báo thù mãi mãi, ổng mới thức tâm ổng bỏ ổng đi tu. Và chính ổng chỉ có cái tu mới giải thoát, vì sự liên hệ của ổng đối với nhân dân là một, và sự đau khổ của nhân dân là ổng đau khổ, cho nên ổng tu, để ổng vạch ra con đường để mọi người theo tu và tự đi.

Cho nên chúng sanh còn hiểu lầm nhiều lắm và không chịu tự thức. Có cái gương lành đó mà không chịu tự thức, mà học để mà tự tu. Rồi mê phép này, mê phép nọ, cái nào nói cũng hay hết, rốt cuộc là bị kẹt. Cho nên ngày hôm nay khoa học thay thế rồi: bây giờ anh có cây dao ở trong bụng, nó mổ lấy cây dao ra như không. Hồi xưa mà cây dao vô trong bụng là phải kiếm thầy cúng giổ bao nhiêu ngày, rồi ổng luyện phép, ổng lấy ra, thấy không! Cái đó hồi xưa cũng có nữa! Những là lưỡi lam ở trong bụng cũng lấy ra được. Cái đó hồi xưa nhưng mà ngày nay khoa học người ta thay thế hết rồi! Người ta thay thế hết. Cho nên chúng ta bây giờ chỉ có tu và không có sợ bùa phép nữa. Sợ tâm mình động loạn. Cái nền văn minh nó đưa tới cho chúng ta và chúng ta phải thực hành trong cái khoa học huyền bí và để dọn cái tâm của chúng ta để đi lên.

Cho nên Đức Thích Ca đã làm và đã thành và chúng ta noi theo gương Ngài phải làm. Rồi chúng ta cũng nói chuyện cho những người khác nghe, đó là thay thế đức Thích Ca hành đạo tại thế, chớ không phải đọc danh Ngài là hành đạo. Đọc danh Ngài mà không hiểu được nghĩa lý thì đọc làm chi. Còn chúng ta đọc danh Ngài mà hiểu nghĩa lý để dẫn giải mọi người tiến tới cái kỷ thuật nào mở tâm mở trí, cái gì kêu bằng khoa học vật chất, cái gì kêu là khoa học huyền bí, mới thực hành đến nơi được.

Chữ SẠ NHIỆT Là phát ra nóng.

Ông Tám giảng

SẠ NHIỆT cái này là chữ Tàu: phóng cái nóng ra.

Pháp Lý cho rằng khi chúng ta ngồi tịnh luyện thì điển của bản thể đều hay, lúc ấy điển từ dưới chân chạy lên bộ đầu ta nghe rần rần, điển ấy gom vào Lư Hương, lò lửa trước trán ta.

Ông Tám giảng

Khi chúng ta ngồi, chúng ta thấy ngồi vô, các bạn vừa ngồi vô là thấy nó ấm mình rồi, nó chạy á. Cái phương pháp Pháp lý này vô ngồi và xếp bằng rồi, tưởng niệm một cái là nó chạy rần, điển nó chạy rần À, “gom vào lư hương lò lửa trước trán ta”, ta Soi Hồn là nó chạy ngay chỗ đó. Cho nên thích nhắm con mắt để cho nó thanh nhẹ.

PHÁP GIỚI MÔNG HUÂN

Trong Pháp lý có phép của Phật Di Đà truyền bá cho ta luyện đạo: nhờ có điển bản thể sung vào Lư Hương lửa điển tung ra ngoài. Lúc ấy trên Thiên Đàng, điển của chư Phật đều biết.

Ông Tám giảng

Đó; chúng ta Soi Hồn thì nó phóng ra, thì chư Phật phải chuyển tới cho chúng ta. Cho nên khi các bạn mà Soi Hồn là chư Phật bên trên người ta biết hết rồi!

CHƯ PHẬT HẢI HỘI TẤT DIỆU VĂN

Nghĩa là đồng thời trên cảnh Phật đều hay biết chúng ta công phu luyện đạo. Cho nên điển của chúng ta ở dưới thế gian phát ra động đến xứ Phật.

Ông Tám giảng

Họ thường thường họ phát cái điển, cái nóng của họ là phát ra để trị người khác thôi. Còn đằng này chúng ta phát hướng thượng tập trung như thế này (trung tim bộ đầu), niệm Phật là nó phóng đi lên, nó động tới Phật giới, phóng đi lên.

Còn những người trị tà ở thế gian là nó động thể xác của đối phương, nó đi ngang còn chúng ta phóng đi lên thì Bề Trên người ta biết rồi.

TÙY XỨ KIẾT TƯỜNG VÂN

Đồng thời điển của chư Phật trực tiếp giúp chúng ta được mau thấy chơn đạo. Nhưng người tu cao thì trên trời có một đám mây nhỏ gọi là Tường vân.

Ông Tám giảng

Cho nên các bạn khi mà nhắm mắt, xuất ra rồi, mình đứng trên đám mây đó là bay. Hồi xưa các bạn coi phim Tôn Ngộ Không, đứng trên mây một cái là nó bay xè, nó đi. Rồi bây giờ, những người tu khá ngồi trên tòa sen, cái đó là đám mây chớ có gì đâu, nó cũng bay đi à.

Để tiếp viện cho người ấy dễ dàng xuất hồn, hồn đứng trên đám mây.

Ông Tám giảng

Đó, cho nên Tường vân đó ở trước mắt chúng ta đây này, bây giờ các bạn thấy màu đen, sau này thấy màu trắng, bước ra cái là đứng đó là tự nhiên nó bay, cái ý chuyển là nó đi rồi, mà mình nói trước là tôi xin đảnh lễ Phật là nó bay tới đó, nó không có khó khăn, nhưng mà ngày hôm nay các bạn lại có cơ hội coi phim chưởng là thấy vụ đó, như là Bát Tiên, Tôn Ngộ Không, cũng đi trên mây không à! Cái chuyện đó không phải khó khan. Mà nếu cái phần điển các bạn trụ thì cái đó nó dễ dãi lắm.

THÀNH Ý PHƯƠNG ÂN

Lúc ấy chư Phật ban ân huệ cho người tu, giúp điển lửa của người tu được cường tráng hùng dũng, đi đứng bay nhảy dịu dàng lanh lẹ không khác nào chư Phật. Nếu chúng ta cố ý thành tâm luyện đạo thì có đủ Chơn Như.

Ông Tám giảng

Có 3 cái pháp này thôi, mà thanh lọc được rồi thì các bạn thấy đầy đủ chơn như: các bạn ra đi, bởi vì các bạn từ trên kia xuống mà! Xuống từ lâu rồi! Xuống mấy ngàn năm rồi ở thế gian này mà cứ đòi hỏi ở lại thôi, mà không biết đường về. Mà ngày nay, chúng ta biết đường về. Chúng ta đi chớ, còn dại dột gì nữa, cứ chờ cái xe kiểu này ra, rồi hết xe kiểu khác, rốt cuộc xe nào nó cũng dùng hơi đẩy người ta đi tới thôi! Thì bây giờ chúng ta dùng điển để đi lên thiên đàng. Thế gian thì dùng hơi mà ta dùng điển. Chúng ta mới nhập cục, mới lên thiên đàng được, đó là kêu bằng trở về với đầy đủ chơn như.

CHƠN NHƯ là hình bóng của ta rõ ràng trên thiên không, chẳng khác nào xác thân ta ở dưới trần gian. Còn luyện đạo chưa đúng lực lượng thì chỉ thấy cảnh Trời mà thôi, ví như ánh sáng của đèn pile rọi.

Ông Tám giảng

Chỉ rất rõ ràng! Cho nên cái cuốn kinh này là cuốn kinh quý báu nhứt để cho các bạn thực hành về Pháp Lý: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền định, rồi cái ánh sáng ra thế nào? Lúc các bạn đi thế nào? đây cũng có sự dẫn dắt hết; dắt mà dựa trong cái Kinh A Di Đà dắt các bạn là không có sai lạc một chút.

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT

Bởi thế chư Phật cùng đức Di Đà khuyên chúng ta phải cố gắng luyện đạo mềm dẻo. Nếu có được Mâu Ni Châu trong lò lửa phát ra thì lo chi không thành Phật.

Ông Tám giảng

Cái đó có phải sự dày công của chúng ta không? Chúng ta từ trên kia rớt xuống đây, từ trên miệng giếng rớt xuống đáy giếng, mà chúng ta phải tập trung tinh thần và tập trung tất cả lực lượng, chúng ta mới mong bò lên khỏi mặt giếng. Ngày hôm nay các bạn cũng như trên giếng rớt xuống dưới đáy giếng thôi, mà bây giờ các bạn dày công, tìm nhiều phương cách thực hành trong sự quân bình, thì các bạn đi lên khỏi mặt giếng không có khó khăn, nhưng mà phải phí công. Đi xuống thì dễ mà đi lên thì khó. Các bạn thử đi, đi tới cái dốc núi, bạn đi xuống dễ lắm, ai cũng đi được hết, mà tới hồi đi lên là khó.

Cho nên đi lên nó có cái khó một chút nhưng mà cố gắng, tin tưởng rằng “Ta sẽ lên khỏi chân núi, ta sẽ ở trên đỉnh núi,” thì mới là đi tới giải thoát. Chớ nhiều người tu nửa chừng, tôi chán quá, tu này tiêu hao quá, tu cái này thiệt thòi quá. Thiệt thòi cái gì? Cái gì mà bạn có, mà bạn nói bạn thiệt thòi, thậm chí cái xác của bạn đang có đây cũng là không phải của bạn nữa, bạn có bao giờ chết mà đi chôn cái xác của các bạn được? Không! Thì không có cái gì các bạn có, mà sao các bạn nói là thiệt thòi?

Cho nên, nói “Tôi tu cái này thua lỗ và thiệt thòi!” Nói cái đó là ngu xuẩn và tăm tối không hiểu cái nguyên lý của Trời Phật. "Tu cái này là để tôi giải tỏa cái sự ô trược tạm bợ không có giá trị và tôi trở về với sự chơn giác đời đời của chính tôi, tôi đâu có thiệt thòi! Tôi lợi tất cả cho chính tôi chớ tôi đâu có thiệt thòi. Tại sao tôi dám nói câu 'thiệt thòi'?” nhiều người nói "Tu Vô Vi thiệt thòi!" Không phải thiệt thòi đâu các bạn! Các bạn làm sao rửa được trần tâm của các bạn, mà có đường lối của Vô Vi các bạn mới có cơ hội rửa trần tâm của các bạn, các bạn mới lợi lộc đời đời, đâu có thiệt thòi! Cho nên đừng có sai lầm trong đó, mà sai một li đi một dặm, nó kéo các bạn xuống đời đời trong chỗ tối tăm và không có lối thoát.

[hết băng ID# 19860102Q3]


----
vovilibrary.net >>refresh...