[bắt đầu ID# 19860101Q4]
KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: Lời Thầy Trong Buổi Khai Mạc - Cuốn 1B
..... Là vì điển của chúng ta không mạnh. Nếu chúng ta hấp thụ được dưỡng khí thì điển của chúng ta trở nên mạnh sẽ tiếp xúc với điển Thiên Không dễ dàng, chừng ấy có lo chi là không có Mâu Ni Châu hay là Xá Lợi.
Mâu Ni Châu hay là Xá Lợi là một cục lửa tròn có nhiều màu sắc bay vơ vẩn trước mặt ta lúc ta công phu luyện đạo. Nếu ta dày công tu hành thì cục ngọc Mâu Ni Châu ấy biến hóa thành lớn lao sáng tỏ bay thẳng trực chỉ lên thiên đàng, không còn vơ vẩn như trước kia, làm cho trí óc ta càng ngày càng mở mang thông minh trí tuệ, bản thể ta thêm sức lực tráng kiện, có lo chi là bệnh hoạn chết yểu.
Pháp lý chúng ta gọi chữ KINH là thế.
(Ông Tám giảng:)
Cho nên khi mà chúng ta tu, chúng ta phải hiểu cái Nguyên Lý, Nguyên Lý của “Kinh kệ” khai thông từ cơ tạng của chúng ta chuyển chạy trong máu huyết cũng như một cuộc hành quân tại thế. Chúng ta xuống thế gian đây, đang chủ trị một Tiểu Thiên Ðiạ đây, là một quốc gia. Một quốc gia, chúng ta không biết lo cho nó; chúng ta chỉ lo tranh chấp thôi, lo hưởng thụ; lo hơn. Hưởng thụ, cái hưởng thụ kêu bằng lý thuyết; mà bỏ cái thể xác, sự tráng kiện của thể xác; thì cũng thất bại.
Cho nên, người tu mà không hành đúng: người ta chỉ mình làm Soi Hồn, làm Pháp Luân, mà mình không chịu làm, nói: "Tui ngồi như vầy, tôi thấy Phật là đủ rồi; tôi không có làm!" Cái đó là càng ngày cái kho lương thực của chúng ta nó càng thiếu; vì binh lính ở trong đó nó phải sử dụng. Phải phát lương; mỗi ngày các bạn phải phát lương; nếu không có lương thực cho chúng nó thì nó sanh bệnh. Cho nên, khi các bạn hiểu được giá trị của chữ "Kinh Kệ" rồi, các bạn thấy rằng chính ta đã làm cho ta bệnh. Chính ta hao phí rất nhiều: nói năng hơn thua, nó hao phí; tham dục, nó hao phí; làm ngưng trệ sự vận hành nội lực; cho nên, càng ngày chúng ta càng thiếu kém.
Cho nên, chúng ta người tu phải biết rõ "Kinh" là cái đường đi, "Kinh" là khai mở cả triệu triệu cây số trong Tiểu Thiên Ðịa của chúng ta; mà chúng ta không biết cái nguyên ý, cái chìa khóa mạch lạc để cho sự tiến hóa của Kinh Kệ trong nội tâm nội thức có cơ hội tiến đều, nhịp nhàng du dương trong nội thức, thì chúng ta là một bệnh nhân tại thế.
Cho nên, các bạn nghe qua những sự phân tách này, các bạn dòm lại các bạn, là các bạn đang bệnh; chưa mở được là đang bệnh. Phải nhìn nhận thế này! Nhìn nhận cái này rồi, chúng ta mới mượn cái kỹ thuật của Pháp Lý Vô Vi mà để trị bệnh cho chính chúng ta: đừng cho nó tắc nghẽn nữa; phải khai thông nó; vì chúng ta đã sống trong biển yêu của Thượng Ðế, đầy đủ ban bố cho chúng ta; chúng ta có quyền hít thở, tận dụng khả năng của chính mình, mà để hòa tan trong cái cơ giới sống động bất diệt của Thượng Ðế, thì các bạn thấy cái Pháp Soi Hồn nó có giá trị rồi: làm cho khối thần kinh của Trung Ương, hai mối phải tương hội, nó mới nhá lửa ra; các bạn nhắm con mắt mới thấy ánh sáng. Ðó là cái Nguyên Ðiển; mà cái Nguyên Ðiển, để mở đường cho ai? Nguyên Ðiển mở đường cho Nguyên Khí, Nguyên Linh tiến hóa.
Cho nên, Nguyên Linh xuất ra, đứng trên đám mây đó, là đi. Cho nên, cái Pháp Soi hồn của chúng ta kỳ diệu vô cùng! Các bạn tu, lo chịu khổ một chút; nghe lời tôi, các bạn làm; càng ngày nó càng trì nặng ở đây (giữa 2 chân mày) là cái luồng điển lửa các bạn đầy đủ lực lượng rồi; nó sẽ bực ra ánh sáng. Mà ngay đây (giữa 2 chân mày) nó đầy đủ lực lượng thì nó trụ ngay trên trung tim bộ đầu; nó sẽ nổ cái "Bùm!" Nó nổ lớn tiếng; nổ như bom nổ vậy đó. Thì các bạn thấy sáng cả Càn Khôn Vũ Trụ! Mà không ngờ; không ngờ các bạn làm cái Pháp này mà các bạn có thể thấy được như vậy. Có phải do một sự kỳ công?
Mà các bạn nào mới tu đây là kêu bằng "Trị bịnh." Tại sao bệnh? Mất trật tự nó bệnh. "Bây giờ tôi lập lại trật tự, tôi không còn bệnh!" Mà khi lập lại trật tự, thì nó phải có trở ngại. "Tôi dẹp con đường cũ, tôi về con đường mới, thế nào cũng phải động! Ðường làng, mở xa lộ, thì biết bao nhiêu người biểu tình! Nhưng mà rồi có xa lộ rồi, mọi người thích!" Chúng ta phải làm, phải cố gắng; cho nên phải giải thông kinh mạch cho khối óc là cái Pháp Soi hồn.
Cho nên, trong cái tuần tự kinh kệ, các bạn học cái Pháp này là trị bịnh; thực hành cái pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh, là đang trị bịnh cho các bạn mà thôi. Mà còn hằn học, nửa chừng rồi bỏ, này kia kia nọ; rồi bệnh nó tái phát! Bởi vì hồi nào tới giờ sự vận chuyển nó đưa từ cái miệng đem vô, thì trong này nó có cái nội lực để giải tỏa; mà nội lực không thực hành, thì làm sao nó lại tiến hóa nổi? Tự nhiên nó phải bệnh. "Cho nên nhiều người nói: tại sao tôi tu Pháp Lý mà tôi bệnh? Tôi đâu có làm! Cái Soi Hồn, cũng làm biếng, mà Pháp Luân cũng làm biếng; Thiền Ðịnh cũng làm biếng nữa”. Rồi ngủ một giấc, rồi nói "Tôi tu mười năm rồi!" Ðúng mười năm như vậy thì con người phải trẻ luôn luôn, không có già; khõe, ăn uống khai vị; lúc nào cũng vui tươi; mới là đúng! Nhiều người cứ nói, "Tôi tu mười năm rồi; tôi theo Ông Tám mười năm rồi!" Ông Tám đâu có dẫn mình, mà nói: "Theo Ông Tám mười năm!" Mình tự đi; mà không chịu đi! Cho nên, nhiều người nói bậy bạ lắm; không chịu thực hành.
Bây giờ, các bạn ở trong Khóa này, chúng ta là huynh đệ trong một nhà, chúng ta phải nói thật: chúng ta nhìn nhận sự lười biếng. Thực hành, mở, khai triển trong cái Khoa Học Huyền Bí mới mẻ trong quả địa cầu, trong Càn Khôn Vũ Trụ đã dành sẵn cái quyền đó cho chúng ta hưởng; chúng ta phải tận hưởng; không nên bỏ nữa! Cái của đó là cái của vô cùng. Bây giờ các bạn nói, "Chu choa, tôi bây giờ phải đi làm ăn, chớ không làm ăn, không có tiền. Nghe lời theo Ông Tám, chết cha! Nói cái điệu đó thì tu không được!" À; mà vừa đi làm đi, rồi vừa thực hành; các bạn thấy yêu đời; các bạn có sức khỏe rồi; các bạn tới sở, các bạn muốn chia sức khỏe với người khác rồi; các bạn thanh tịnh, các bạn thấy người khác đau khổ, các bạn muốn độ họ rồi! Các bạn có thừa chưa? Thấy các bạn mạnh chưa? Muốn ban ơn cho người khác rồi! Cho nên, lợi cho bạn là lợi cho tất cả. Các bạn thành đạo, là mọi người sẽ thành đạo là vậy. "Làm một việc cho tất cả mọi việc" là vậy.
Cho nên, chúng ta thấy rõ, nội cái chữ "Kinh" thôi, mà Ngài cắt nghĩa như vậy, để chúng ta ý thức cái bệnh nan y mình đã tạo, mình đã bỏ phế hai sợi thần kinh đó không cho nó giao cảm và không cho nó tiến hóa, là chính mình đã tự tắt nghẽn lấy mình mà thôi. Cho nên, mình "Sanh bệnh" là vậy. Cái tâm tánh nó không có điều hòa; ăn nói vô chừng, vô mực; nguyện với Trời, Phật cũng hành không đến; không chịu làm; không có trung tín; lời nói mình với hành động không có đi đôi, thì làm sao nó mở? Cho nên, trị bệnh cũng vậy: chúng ta đi trị bệnh với ông bác sĩ nào cũng vậy; cũng như cuộc hành quân à: bữa nay ổng cho mớ thuốc hòa; mai nữa ổng kích động; mốt này rồi ổng cho hòa; rồi bữa sau ổng xả hết: trị bệnh một cách như cuộc hành quân; chiếm cho kỳ được, và trở về tự chủ. Còn cái này của chúng ta cũng vậy.
“A DI ĐÀ”
1- Chữ A :
Trong bài sám Pháp lý có nói như vầy:
“A nhâm quý gồm thâu nơi thận” thì nghe ra rộng nghĩa quá, khó thấu đáo được, vậy xin giải thích thêm
A: Là cái hơi đưa lên do nơi trong hai trái cật hợp nhứt, thì chất nóng và chất lạnh hợp lại hóa thành một thứ nước nóng. Hơi ấy xung lên bộ đầu hóa thành chất điển. Chất điển là hơi nóng, gọi là Điển, để tiếp xúc trí hóa ta, làm cho ta được thông minh tráng kiện, tiếp viện cho Thần Hồn gọi là Chủ Nhơn Ông hóa thành Như Lai cùng La Hán mới chứng phẩm Tiên Gia.
(Ông Tám giảng:)
Nội chữ "A Nhâm Quý gồm thâu nơi Thận" là thuộc về Thủy; "Thủy, Ðiển tương giao". Ngày nay các bạn hiểu điển thì tôi mới cắt nghĩa về điển, "Thủy, điển tương giao" Có nước mới có điển, mình lấy cái dây điện bỏ dưới nước đó, thì mình rờ dưới nước, thì cái tay mình cũng bị giựt; hai cái nó tương giao.
Cho nên, khi mà chúng ta làm Pháp Luân, cái trái cật nó hợp nhứt, hai luồng điển nó tung lên cái xương sống, nó xung lên bộ đầu, thành chất điển làm ấm bộ đầu; rồi từ đó nó mới "Thanh thừa thanh" cảm thấy lạnh; cảm thấy hòa, mát, chớ không phải lạnh; ngay trung tim bộ đầu; mới gọi là "Ðiển". À. Thì nó hóa ra ta, rồi cái điển mà nó thừa tiếp với Thanh Ðiển đó, nó hiện hình cũng như người thế gian; có gì đâu? Thì, lúc đó cái thần hồn là Chủ Nhân Ông, Như lai bản tánh mình, từ hồi trước mình xuống như thế nào, mình về như vậy: mình hòa tan với các giới: mới cùng La Hán, rồi mới chứng phẩm Tiên Gia. Chúng ta người thế gian, mà không phải ở thế gian! Mình đi được mà, mình thấy mình đâu có phải ở thế gian đâu! Mà nhờ cái gì? Nhờ cái "Thủy, Ðiển tương giao" mình mượn cái trớn đó mà mình đi.
Cho nên, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển, làm nó run lên bộ đầu, rồi một chập cái nó mát, phất phất ngay trung tim ở đây (trung tim bộ đầu- Hà Đào Thành). À. Những người tu lâu, vừa tưởng là nó tới rồi! Như Bà Mười, ngồi đó, tưởng cái nó dính ở đó, nó rút chỗ đó rồi, cái điển nó rút rồi; Con Hòa, bây giờ nó đang ngồi đó, nó tưởng cái, nó rút rồi, rút ngay trên bộ đầu rồi! Thì sau Mình phải lên đó, mình mới hoà tan ở chỗ đó. Cho nên, mình học, mình "Cư Trần, nhiễm trần," bị Hồng Trần nó hút: cái máu nó hút mình; nó hút cái Thanh điển mình; nó bắt lo âu, nó bắt tình dục; nó bắt này kia, kia nọ, lo nơi tim thôi!
Mà bây giờ chúng ta tập trung lên trung tim bộ đầu thì nó hòa với cả Càn Khôn Vũ Trụ, cái tâm hòa bình, nó mở vô cùng; nó không còn chấp nữa; nó hòa tan với Càn Khôn Vũ Trụ, nó mới "Học từ bi và thực hiện từ bi;" lớn rộng rồi, không còn cái tim nhỏ nữa! Cho nên, nhiều người nghe nổ mấy tiếng rồi thì cái đầu thấy nó càng ngày càng lớn, và càng nhẹ nhàng; thấy ai cũng thương, muốn cứu độ người ta, không muốn hại ai hết; không dám ghét một người nào: hễ ghét là nó động; nó động là nó mất cái chỗ này (trung tim bộ đầu); mà giận một cái, nó cũng mất cái chỗ này (trung tim bộ đầu); sợ giận, sợ ghét lắm! Mà thực hiện cái thương yêu thì nó khác, nó cởi mở.
2 - Chữ DI :
Trong sám Pháp lý có câu :
“DI giữ bền chặt ba báu linh” nghe ra cũng rộng quá, không hiểu rõ được nên phải giải nghĩa thêm cho rành rẽ hơn.
Ba báu linh là: “Tinh, Khí, Thần”, thường trong bản thể con người, ai ai cũng có, những người biết luyện đạo đúng phép thì tinh khí thần đầy đủ sáng suốt làm cho trí não ta được minh mẫn, thần hồn ta được linh hoạt. Trong lúc chúng ta luyện đạo thì động đến tinh khí thần tiếp viện cho thần hồn phát huệ, hiểu biết quá khứ vị lai. Đó là Chủ Nhơn Ông lên phẩm chức học trò, Phật gọi là Tiên Gia.
(Ông Tám giảng:)
Các bạn lấy cái gì chứng minh giá trị của Tinh, Khí, Thần? Mỗi ngày các bạn ăn uống đầy đủ, ngủ đủ tám tiếng, khỏe mạnh; ban đêm không động loạn, không cờ bạc, không dâm dục; sáng các bạn dậy, khỏe mạnh. Phải giá trị của Tinh, Khí, Thần nó làm cho các bạn quân bình không? Sáng suốt, nói về đời, nói về thể xác thôi. Còn nói về phần hồn, chúng ta dùng cái pháp Soi Hồn mà làm cho Tinh, Khí, Thần chúng ta trụ, thì chúng ta cảm thấy cái Thanh Ðiển dồi dào.
Mà các bạn có vợ, có chồng, đêm nào mà các bạn tham gia vô tình dục, thì sáng nó mất hết: đêm đó các bạn thiền nó không có giá trị như đêm trước. Các bạn đã nhìn nhận điều này, có sự thật như vậy, vì cái Tinh Khí Thần hao, nó không trụ, cũng như nhà đèn không có điện.
Cho nên Tinh, Khí, Thần của người tu là quan trọng lắm. Cho nên những vị tu, sư ở trong chùa, tại sao Ngài chết, đốt ra có xá lợi? Vì chất Tinh Ngài trụ. Ðốt ra, như Chư Phật, chết bao nhiêu hột xá lợi còn. Nhờ cái chất Tinh nó trụ, đốt không cháy, không tiêu. Mà chúng ta tu, chúng ta lại hoang phí; ký tên đăng ký nói "Tu" mà không biết giữ cái của báu của Trời. Trời Ðất đã cấu trúc cho chúng ta một nhiên liệu xài hoài không hết, Mà không biết!
Cho nên, các bạn thức tỉnh lên đi, và thấy rõ cái này là cái quan trọng: giữ cái Tinh, Khí, Thần để vượt qua những cái bệnh nan y tại thế, chúng ta mới "Cứu đời" được. Cho nên, những người nào mà giữ được Tinh, Khí, Thần, ban đêm làm Pháp Luân Thường Chuyển, nước miếng ngọt như đường phèn: Tinh, Khí, Thần đầy đủ. Mà nước miếng lạt, hôi, đó là Tinh, Khí, Thần phân tán. Ở trong cơ tạng của chúng ta đã chứng minh như vậy; chúng ta đã thực hành và thâu được kinh nghiệm như vậy.
Cho nên, chúng ta tu, quan trọng là tập trung Tinh, Khí, Thần. Khi ta Soi Hồn cũng là tập trung Tinh, Khí, Thần; làm Pháp Luân Thường Chuyển là Tam Giới Quy Nhứt: Tinh, Khí, Thần phải trụ; còn cái thừa thãi, nó phải đi ra đại tiện và tiểu tiện, lỗ chân lông; nó không có mất sự điều hòa; luôn luôn con người trẻ trung.
Cho nên, tôi mỗi năm mỗi đến đây, các bạn nhìn tôi, thấy tôi cũng như mọi năm, không có già gì mấy; có phải không? À. Nó như vậy đó là nhờ cái gì? Nhờ biết giữ sức khỏe cho chính mình, và biết giữ cái hòa với cả Tam Giới, thành ra con người khó suy sụp; làm việc nhiều, nhưng mà nó có thừa thãi tôi mới làm việc; khi nó thiếu thì tôi cũng chả làm gì được; bởi vì tôi giữ cái đó, còn dư thừa thì tôi làm việc, tôi cứu độ chúng sanh; còn phần nào của tôi đang sử dụng thì nó phải cung cấp đầy đủ cho tôi. Cho nên, các bạn tu cái Pháp này nó lợi lộc vô cùng: đời lẫn đạo, các bạn luôn luôn giữ minh mẫn và không phải bị tiêu hao.
3 - Chữ ĐÀ :
Trong sám Pháp lý có câu :
“ĐÀ ấy sắc vàng trùm khắp cả”.
Sắc vàng trùm khắp cả là một thứ điển trong bản thể ta khi ta luyện đạo phát ra ánh sáng chói tung ra gọi là “aura”. Ánh sáng ấy gom chung quanh bộ đầu ta gọi là “auréole”. Lúc ta công phu, mắt đã nhắm kín mà vẫn thấy điển ấy có hào quang chói lọi. Nếu chúng ta cố gắng tu luyện lâu bền mà có hào quang hằng đêm, lo chi là không thành Phật.
(Ông Tám giảng:)
Trước kia các bạn chưa tu, các bạn nhắm mắt, tối hù; và thấy nó nặng trịch, và không muốn nhắm mắt, muốn mở mắt; vì sự lo âu của ngoại cảnh mà nó muốn mở mắt. Mà ngày nay các bạn tu rồi, các bạn thích nhắm mắt: cái đen, cái tối đó đó nó lớn rộng; lần lần; các bạn thích ngồi nhắm mắt, mà các bạn thấy ở trong phạm vi rộng, chớ không phải ở trong phạm vi hẹp. Soi Hồn đúng mức là thấy nó ở trong phạm vi rộng. Rồi từ đó nó tụ Tinh, Khí, Thần; phải giữ Tinh, Khí, Thần đầy đủ; mới có ánh sáng; nó rõ rệt! Hồi trước chúng ta, nghĩa là, chưa tu, kêu, “Ngồi nhắm mắt,” nó bắt mở mắt; nó sợ mất, sợ người ta phá, sợ người ta khinh, sợ người ta chửi mình, cứ mở mắt! Mà bây giờ, mình nhắm mắt là nhắm mắt; tự nhiên nó thấy ánh sáng.
Rồi những người mới tu mà Soi Hồn, trụ đươc rồi, dòm cái bóng đèn này, nhắm con mắt, thì thấy cái bóng đèn rõ ràng: thu hút liền, phóng ra liền, sáng trưng ngay lúc các bạn nhắm mắt! Nó khác hơn người thường! Rồi tương lai các bạn nhắm mắt thấy cái ánh sáng của Càn Khôn Vũ Trụ; đó mới là thật sáng! Còn cái sáng của mắt phàm này là gián tiếp, không phải trực tiếp. Ðó! Cho nên, chúng ta hiểu, "Mở mắt phàm, thấy gián tiếp; mất công!" Cho nên, nhiều người tu Pháp Lý nói, "Nhắm mắt cho rồi!” Ðể nó thấy cái trực tiếp.
Khi mà các bạn thấy được cái ánh sáng trực tiếp rồi, cái tâm các bạn nó thơ thới hằng ngày; nó sung sướng vô cùng; vui mà không biết vui cái gì; gia đình nói, "Thằng cha đó nó khùng rồi, mà sao nó vui?" Nó thấy, thấy chút sáng đó, nó sung sướng quá; nó bỏ hết, tất cả cái gì, nó bỏ hết; nó thấy cái tâm nó thơ thới; bởi vì ánh sáng thật, mà chính nó đã tìm lại, hồi sinh trong tâm thức của nó; nó mừng vô cùng! Cho nên, chúng ta người tu, tập trung Tinh, Khí, Thần, thì cái bộ đầu của các bạn phát quang; thiêng liêng nó dòm thấy cái đầu các bạn có hào quang; ông lên bà xuống thấy thích, thấy "Những vị này mới là người tu!" Cái đầu của nó phát quang không ngừng nghỉ, ở trên này tiến triển luôn luôn. Cái đó kêu bằng "Hào quang."
Cho nên, sự liên hệ không ngừng nghỉ, cái đường đi về nguồn cội là cái đường hút đi lên; cái đường tranh đấu là cái đường lôi cuốn xuống. Các bạn bây giờ giận hờn, gây lộn đó, các bạn thấy không? kéo xuống! Kỳ thị một ai, cũng kéo xuống; khinh thị một ai, các bạn cũng bị kéo xuống. Mà các bạn cứ hướng thượng đi lên, tự giải, ăn năn hối cải sám hối tâm của mình, thì nó chỉ mở đi lên mà thôi! Thì cái đó nó càng ngày càng dồi dào; gọi là gì? "Hào Quang."
Mà cái tâm của người phàm, những người làm phước, người ta hiền, người ta đâu có tu đâu? Người ta hiền, Anh tới xin gì, anh cần người ta giúp, "Anh cần gì?" người ta giúp; ai cần gì, người ta giúp. Người ta năn nỉ để người ta giúp nữa. Cái đó cũng là cái phước, là cái hào quang độ tha tại thế: cái tâm họ hiền vô cùng; cái gì họ cũng giúp; Anh cần cái gì là họ giúp; tự Anh phải cảm động. Cái đó, cũng là sức mạnh hướng thiện: thiện nghiệp. Những người mang được thiện nghiệp, họ chỉ làm những cái giúp đỡ người ta thôi; cái đó, họ cũng là hào quang xâm chiếm được tư tưởng của những người trần trược, và cởi mở cho những người trần trược. Còn người tu của chúng ta, khác! Thực hành, giải tỏa cái phần trược, mà lưu thanh, thì bộ đầu phải sáng quang! Ðó mới thật sự là hào quang.
Chữ PHẬT :
Trong sám Pháp lý có câu : “PHẬT hay thanh tịnh ở nơi mình”.
Ông Phật là người, xưa kia cũng ở dương trần như ta, nhưng có tâm tu luyện theo Pháp lý Vô Vi, do nơi 6 chữ “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” mới có đủ kinh quyền, hiểu khắp chư thiên. Người ấy truyền bá Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí để hoằng hóa chúng sanh gọi là Ông Phật.
Ông Phật có hào quang dị thường hơn người. Chữ Hán viết NHƠN ĐỨNG (亻) bằng chữ PHẤT (弗) . NHƠN ĐỨNG là người sanh sanh, hóa hóa tại thế gian, còn chữ PHẤT là gió điển lửa gọi là Hào quang. Người có hào quang gọi là PHẬT (佛), không chức tước.
Người học theo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật, tu luyện đúng mức thì trở nên thanh tịnh không còn bị Thập tam Ma khuấy nhiễu nữa.
(Ông Tám giảng:)
Là mười ba con ma nó khuấy nhiễu nữa.
Hoặc là được xuất hồn về cõi thanh tịnh bái yết Phật, nên mới nói là “Phật hay thanh tịnh ở nơi mình”.
(Ông Tám giảng:)
Cho nên, cái chữ "Phật", phải hiểu! Người thế gian, bước vào nói, "Tu Phật!" À. Thấy ông Phật, sợ; vì người ta đặt ông Phật ở trên bàn, thấy, ngó sợ quá! Lớn quá mà! Ông Phật lớn quá, thấy hết hồn! Hào quang bằng điện, mở đèn thấy hết hồn. Không có gì hết! Những cái đó là vật chất; nó thua tâm linh. Nhiều người không ý thức rõ ràng cái điều đó: vô thấy, sợ quá! Lạy ông Phật, mà sợ ông Phật. Mà biết ông Phật là từ bi, thương người, mà lại sợ ông Phật! Thì té ra, mình càng sợ thì mình ôm, mình giữ cái trược; không lưu thanh. Mình không sợ ông Phật, mình mới gần ông Phật, mình hướng về ông Phật; ông Phật thanh, thì ông Phật phải giải cho mình!
Cho nên, người đời họ ngược: họ đi chùa, tu hoài, họ sợ không à; họ không chịu tới với ông Phật; thành ra tu hoài không có gặp ông Thích Ca; chỉ gặp cái hình thôi, chớ không có gặp ông Thích Ca. Còn cái đám Vô Vi nó khác; nó phải hiểu nguyên lý của Phật: Thanh Khí Ðiển trên trời đưa xuống, xương sống đứng hấp thụ. Các bạn, phải thanh khí điển đang đưa xuống không? Xương sống đứng, đang hấp thụ không? Chữ này, chữ "Phất," là gió đó; thấy không? Nhẹ, vô danh mà! Một luồng điển Âm, và một luồng điển Dương; hít vô và thở ra. Mà người nào cũng chỉ hướng ngoại và không có trở về với căn bản mình; rồi làm sao biết Phật tâm Phật tánh ở chỗ nào? "Nhơn nhơn giai thành Phật" mà; ông Phật ổng nói ai cũng thành Phật, "Tụi bây là Phật" mà! Tại sao không chịu trở về? Ổng nói chúng ta, "Tụi bây là Phật," "Nhơn nhơn giai thành Phật" mà! Cũng hít vô, thở ra nè! Thanh điển ở trên xuống nè; xương sống đứng hấp thụ; phải không? Cái xác của mình nó phải đi một vòng cung vậy không? Rồi một cái hơi hít vô và một hơi thở ra; ông nào không có, mà bà nào lại không?
Chư Phật ở đâu? mà chư Phật không chịu về, trở về vị trí của chư Phật là thành gì? Thành con ma! Con ma động loạn, hướng ngoại, tranh chấp, tỵ hiềm, cống cao ngạo mạn, làm điều vô ích, không biết mình là ai. Khổ! Khổ rồi, ai nói cái gì cũng ôm hết; ôm thét, thành nghiệp! "Nữa mày lớn rồi, mày không lấy chồng, sau này già, rồi ai nuôi?" (Ðức Thầy cười) Sợ khổ quá, "Thôi, tôi cưới; gả đi!" Ðó. Ðẻ cho một đống! Không có phải "Ðể rồi con tôi nó nuôi tôi". Ðâu có đứa nào nuôi đâu. Bây giờ nó bỏ đi hết rồi; chết cũng ai chôn chớ nó đâu có chôn? Thấy không? Mấy ông thợ mả chôn, chớ nó đâu có chôn! "Con tôi không có chôn tôi". Nhưng mà cứ hy vọng, "Lớn, con chôn tôi." Không có! Toàn là đi chuyện sai lầm không à! Không biết cái chủ yếu, thành ra bị lạc; rồi mới lạc vô trong cái cảnh Luân Hồi. Cho nên, ở thế gian, người càng ngày càng đông, là bị lạc. Mà ai lạc? Chính mình lạc, thì mình phải chịu: mình muốn, là mình phải chịu à! Cho nên, nhiều cô, lấy chồng rồi cái đẻ con, "Tại Ông đó, tôi mới đẻ con!" Không phải! Rốt cuộc tại mình; tại mình muốn ổng á! mình đẻ, mình phải gánh; phải không? Rồi cái ông kia, đổ thừa, "Tại Bà đó; tại Bà liếc tôi; chớ Bà không liếc tôi, tôi đâu có theo Bà!" Nhưng mà theo, rồi bây giờ "Tôi phải đi cày; phải nuôi".
Nhưng mà cái cơ cấu của ông Trời rất hay, rất tinh vi: Ổng xây dựng cái dũng chí; Ổng thương, "Con có sai lầm, nhưng mà Cha cũng cho Con một cái khí giới để trở về với Cha". Khi mình gánh vác rồi mình mới thấy, "À, cái chuyện làm cha là quan trọng!" Rồi ta mới ra ta làm xã hội, rồi này kia, kia nọ! Làm ông cha, biết ông cha già phải chết, nhưng ông cha phải làm cái gì trước khi ông cha đi. Rồi ông cha phải tưởng tới ông Trời: còn một ông cha nữa; còn một cảnh đời đời bất diệt!
Cho nên, "Mình may mắn: mình nhảy xuống đống bùn; mình có vợ có con, như nhảy xuống một đống bùn! Mà bây giờ mình biết đạo, mình biết đường về rồi; không sợ nữa". Thấy không? Các bạn may mắn! Tôi cũng vậy; tôi là người may mắn trước. Chớ tôi, hồi trước tôi thấy là cô gái là thiên đàng; tôi thấy cô gái là hạnh phúc; cô gái là đời sống của tôi. Nhưng mà từ ngày tôi tu rồi, tôi thấy, "Không có!" Tôi thấy cô gái là khổ; nếu tôi quen một cô thì tôi thấy chia sớt một cái khổ cho cô đó."Tôi thấy mọi người đều khổ.
Bây giờ làm sao? Cương quyết tu, tôi mới tìm ra, khám phá ra cái chơn lý, sự sống trong lẽ sống mà chính mình phải tự tu. “Tu để giải thoát cho chính mình; không ai cứu mình được; chính mình là cái người tự cứu!” Cho nên, cái tu ngày hôm nay về với các bạn đây là quý lắm; quý vô cùng.
Trong lúc tôi đau khổ, tôi tìm đời và tôi không hiểu đời, tôi ôm hai chữ "Hạnh Phúc" tìm hoài chẳng ra hạnh phúc; rồi tôi muốn chết đi thôi, tôi mới ngộ được cái Pháp này. Các bạn đâu có phải đi tới tình trạng như tôi đâu? Mà được có cái Pháp này, rồi chúng ta bàn bạc sâu về cái chiều tiến hóa của Chư Phật, chúng ta lại có cơ hội sử dụng cái quyền năng sẵn có của chính mình là tha thứ và thương yêu.
Hồi trước kêu mình làm từ bi, mình nói, "Chỉ ông Phật mới làm được, chớ tôi sức mấy mà làm! Ông đừng có bày cái đó, có tội!" phải không? Bây giờ mình phải cần làm chuyện từ bi nhiều hơn: phải tha thứ và thương yêu mình mới thấy giá trị với chính mình; mình mới thật sự là quý yêu Trời, Phật; mà mình không bao giờ bỏ lời vàng của đức Phật lưu lại cho mình, lưu trữ trong tâm của chúng ta mãi mãi; quý Ngài, ôm lấy Ngài, và tiến như Ngài, thấy rõ chưa?
Cho nên, chúng ta may mắn hơn: cũng học đạo Phật, nhưng mà chúng ta may mắn hơn: được giải thích cặn kẽ, tận tình, thực tiễn trong tâm chúng ta, và thấy rõ quyền năng sẵn có của chính mình, và thực hành cho kỳ được; nay một chút, mai một chút, thì chúng ta trở về với vị trí, vì "Từ bi" không có khó khăn. Chớ đừng nói, "Từ bi, hai chữ đó là quan trọng!" "Từ bi" là hai chữ Nho mà thôi; còn chữ Việt Nam là "Thương yêu và tha thứ." Còn "Từ bi" là hai chữ Nho. (Thầy cười). Nhiều người nói, "Hai chữ 'Từ Bi' sợ lắm! ‘Từ bi’, chỉ có ông Phật mới có!" Không phải! Tha thứ và thương yêu là từ bi. Bạn bè mình chọc mình một chút mà mình giận người ta, đó là không có từ bi; thấy không? Tha thứ và thương yêu mới là từ bi.
Còn chữ “DI ĐÀ” là Phật DI ĐÀ thông hiểu 6 chữ (Nam Mô A Di Đà Phật) luyện đạo theo nghề chuyên môn của Ông, do nơi Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí. Khi Ngài thành Phật rồi, có lòng từ bi bác ái truyền bá Pháp lý Vô Vi cho người thế gian để tu làm Phật, do đó mới có cuốn Kinh A Di Đà để dạy chúng ta.
Ngài DI ĐÀ tuân theo lời PHẬT TỔ THÍCH CA MÂU NI truyền bá cho Ngài, để cho Ngài phải tiếp điển dạy lại chúng ta. Lúc chúng ta luyện đạo chính đính êm dịu, có lòng tưởng đến Ngài, thì Ngài khiến cho điển của chúng ta là linh hồn trực tiếp điển của Ngài truyền thanh. Khi xưa, lúc Ngài DI ĐÀ gần thành Phật, Ngài đắc lục huệ rồi, biết nghe và nói trên thiên không, lúc ấy Đức THÍCH CA nói đạo cho Ngài nghe, nhưng đồng thời hai Ngài cũng muốn cho công chúng được nghe nữa, nên mới ghi chú những lời Kinh Di Đà giữa đám đông đệ tử của đức Di Đà để lưu ký mà ngày nay chúng ta mới có cuốn KINH A DI ĐÀ.
Trong Kinh A DI ĐÀ nói: Tu luyện trong bản thể ta thì ta thành Phật cũng như Ngài. Môn đệ của đức DI ĐÀ nghe và chép ra theo lời nói của Ngài làm thành cuốn Kinh A DI ĐÀ, truyền bá từ đó đến nay cũng mấy ngàn năm.
(Ông Tám giảng:)
Cho nên, sự thành công của người đi trước và người kế tiếp, hai cái luồng điển truyền cảm nó hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ, thì luôn luôn muốn đưa tin lành đó cho các nơi, các giới, đồng hành để tiến tới sự giải thoát như Ðức Thích Ca và Ðức Di Ðà. Chúng ta cũng vậy: huynh đệ tỷ muội chúng ta có một cơ duyên may mắn là được hiểu tâm linh, hiểu phần hồn của chúng ta, hiểu đường lối mạch lạc để khai triển giải thoát. Thì chúng ta muốn gì đây? Muốn cho triệu triệu ức người được nghe và được hành như chúng ta, thì cộng đồng nó mới khai triển tốt đẹp, sự hiểu lầm mới được giải tỏa giữa loài người và loài người, sự đối đãi mới minh bạch.
Cho nên, người tu không bao giờ hẹp hòi; người tu mà thành đạt được, luôn luôn rộng rãi, không hẹp hòi; nhứt định cái tâm các bạn thực hành về Pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh rồi, tương lai cái tâm các bạn không bao giờ có thể bước vào trong chỗ hẹp hòi được. Khi các bạn muốn, "Ờ, giấu người này; tôi không muốn cho người biết những cái bí mật của tôi", thì cái đầu các bạn sáng liền! Vì sao? mình hướng thượng mà! Trung tâm tập mở hai cái đường kinh mạch này nó mở ra, nó liên hệ với Càn Khôn Vũ Trụ, mà giấu một cái, nó động; động một cái, nó sáng; sáng một cái, mình biết mình xấu rồi! Mình phải từ tốn nói lại cho người ta nghe.
Cho nên, sau này, các bạn giận vợ, giận con, giận trong gia đình, mới la lên cái, đầu sáng lên! Sợ quá! Thôi, năn nỉ, huề đi! Bề Trên người ta nhắc liền, "Cái người hiền không có làm những điều ác ôn!" Từ đó mình giải quyết trong một tíc tắc, chớ không phải đợi người khác nhắc mình, mình mới ăn năn. Không! Người tu Pháp Lý thấy sự sai lầm của chính mình tức khắc: sự hờn giận của mình, mình thấy liền, giải tỏa liền, trong giây phút; không phải như người thường, đợi gặp ông thầy, ông thầy mới chỉ! Không cần! Người nào mà thực tâm tu hành Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh, là thấy sự sai lầm của mình tức khắc, không có để lâu.
.....
Đức Thầy: Nghỉ một chút. (cười). Để làm sao, nó ngập ngừng chỗ nào, để y như vậy đó; không có được người nào xen vô một cái gì hết. Những người tu mà có điển rồi, đọc là hiểu à; những người tu mà có điển á, nằm một chỗ mà đọc cái này, nó thấm thía; đọc đi đọc lại, đọc đi đọc lại, đọc đi đọc lại, thấy cái điển nó mở cái tâm! À; hễ có điển rút bộ đầu á, càng ngày nó càng tiến thêm; không có thụt lùi. Một ông á thì giảng về điển, mà một ông á, viết á, thì ổng nghe về chữ, (cười) về lý đó, trí thức mà! Ông này nói, “Thích Ca,” ổng nói chữ ‘Thích’ là ‘giải;’ ông kia ổng nói, “Giải gì? Thích là họ của người ta chớ ông nói ‘Giải’ gì?” Cúp liền… cúp máy! (cười)
Rồi, nói nhỏ. Hồi nẫy nói lớn quá? Hồi nẫy Anh không mở lớn cho tui? Tui tưởng cái máy của Anh không xài được. Mấy phút nữa hả? Mấy phút nữa Anh kêu tui nghe! Tui nói quá lớn đi! Cái gió nó vô. Cái này gió nó vô nó làm mà. Ừ, để người ta vô rồi đã.
Xếp vầy cũng lộn à: Hồi nẫy để tui ngồi trong kia; chỗ này người ta ra, vô, người ta không có mắc cở trong lúc giảng; nghĩ đi vô, người ta sợ quá người ta không dám vô; đứng ngoài kia bịnh, người ta đổ thừa mình! Hôm qua nghe nói cũng vậy, mà bữa nay cũng vậy à! (cười)
Không cần, nhưng mà để họ ra vô họ dễ chịu một chút, biết không? Nhiều người người ta, mắc tam đại sự, họ đi cái vụt, họ chạy ra; không đi từ đây qua đây đâu, khổ lắm. (cười)
Bữa sau phải sắp cái này cho người ta, để người ta, nhiều khi người ta mắc tiểu, người ta đi dễ dãi; biết không? Chớ người ta vô đây, bắt người ta ngồi hai tiếng đồng hồ, người ta chịu nổi đâu; phải không? Người ta muốn đi, đi dễ. Xắp ngang như vầy, để tôi ngồi ở trong này cũng được, ở góc xó này cũng được; để người ta dễ đi ra, vô. Ừ, để người ta đi tiêu, đi tiểu, nó dễ; biết không? Tiêu, tiểu người ta dễ.