Video 19860101L2
KHOÁ HỌC KINH A DI ĐÀ – cuốn 1
Bao gồm những video clips sau đây:
GHI CHÚ:
Video ID# 19860101L2 từ 1 đến 14 so sánh với 14 Mp3.
Có 2 ItemID không trùng là:
ID# 19860101Q7 – “Nhóm bạn đạo thảo luận cách hành pháp - cuốn 3A”
ID# 19860101Q8 – “Nhóm bạn đạo thảo luận cách hành pháp - cuốn 3B”
12 mp3 có trùng tương ứng 14 videos là những ItemID sau:
ID# 19860101L3, ID# 19860101Q4, ID# 19860101Q5, ID# 19860101Q6, ID# 19860102Q1, ID# 19860102Q2, ID# 19860102Q3, ID# 19860102Q4, ID# 19860102Q5, ID# 19860102Q6, ID# 19860103Q1, ID# 19860103Q2
Trang 2 trở đi là nội dung chi tiết những đoạn trùng, trùng từ đâu đến đâu…
[Bắt đầu Mp3 ID# 19860101L3 - Video ID# 19860101L2 - “Phần khai mạc” thiếu từ phút 00 đến 02:48 so với mp3 ID# 19860101L3 cuốn 1A]
KHOÁ HUẤN LUYỆN "KINH A DI ĐÀ":
KHAI MẠC KHOÁ HUẤN LUYỆN – THẦY BAN HUẤN TỪ - Cuốn 1A
B/Đ1: Dạ thưa, đây là một cái khoá đầu tiên, chúng con được nhiều ơn huệ Thầy ban cho chúng con tại Úc Châu này : thì, cái tình thương của Thầy ban cho chúng con thật là vô cùng lớn lao ; chúng con cũng xin cố gắng để hết tâm mình, có gắng bằng tình thương của chúng con, nhẫn nhịn, và học hỏi cho thật nhiều, thật tốt ; thì chúng con xin kính mời chị Tranh là Trưởng Khoá Thiền ở Úc đầu tiên. Kính xin Chị Tranh có đôi lời trình Thầy.
B/Đ2: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu, Nam Mô Đức Cao Hữu Hiền Hộ Pháp, Nam Mô Vĩ Kiên Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, vạn vật thái bình,
Kính thưa Thầy, kính thưa Quý Vị, Quý Cô Bác, Quý Anh Chị, toàn thể đạo hữu thân mến : Thật là một vinh hạnh cho toàn thể quý đạo hữu Vô Vi Úc Châu của chúng con, năm nay, năm 1986, được Thầy lại viếng thăm Úc Châu một lần nữa, lần thứ ba. Lần này Thầy đến Úc Châu với mục đích đặc biệt là để khánh thành Nhà Máy Vô Vi Plastic Úc Châu. Nhân cơ hội này, chúng con được hồng ân của đấng Cha Trời, chúng con được đặc ân của Thầy cho phép chúng con mở Khoá Huấn Luyện đặc biệt. Thưa Thầy, về phương diện hình thức thì phương tiện tổ chức của chúng con rất hạn hẹp ; về phương diện nội dung chất lượng, trình độ tu học của chúng con rất yếu kém ; nhưng một động cơ duy nhứt thúc đẩy chúng con thực hiện khoá thiền cấp tốc này là tình thương bao la như trời biển của Thầy. Chúng con, tất cả, xin chơn thành tâm nguyện đem hết khả năng và tâm trí của mình ra để lãnh hội tất cả những gì Thầy sẽ dạy giỗ chúng con trong 10 ngày sắp tới đây. Chúng con kính xin Thầy ban huấn từ khai mạc khoá huấn luyện đặc biệt. Xin kính bái. [02:47]
[Bắt đầu video 19860101L2 “Phần khai mạc”
Tương ứng với Mp3 19860101L3 cuốn 1A ở phút 02:48]
(Lời Của Ông Tám Giảng Trước Khi Đọc “Kinh A Di Đà”)
Đức Thầy : Hôm nay là ngày đầu của năm 1986 ; chúng ta đã vượt qua một năm 1985 dãy đầy thử thách trong nội tâm, chiến tranh ô trược trong nội tâm ; chúng ta mọi người đều tự voi lên, hứa hẹn với Bề Trên, tự mình mở trói cho chính mình !
Cơ duyên tại thế gây sự đau khổ, nghiệp tâm ; do ai ? Do mình đã trói buộc mình !
Và chúng ta đã phát đại nguyện tự mở trói.
Một năm, một năm qua ; càng lên cao, càng gặp nhiều thử thách. Từ năm qua, chúng ta đã vượt qua ; năm nay, nó lại đến với chúng ta !
Thì chúng ta phải nhìn xem : Nên tự trói buộc mình, hay là không ? Hay là buông bỏ để giải thoát, để trở về với nơi Chánh Giác của nội tâm mà chúng ta đã hằng mong muốn:
"Làm sao giải thoát để tôi trở về với chính tôi, tôi hiểu căn bản của tôi do đâu đến đây, rồi sẽ về đâu, để tránh những sự lầm lạc nhồi quả tại thế, và nuôi dưỡng phần dũng mãnh thanh tịnh trong chu trình tiến hóa không ngừng nghỉ của Bề Trên đã ân ban và giúp đỡ triền miên 24 trên 24, giáo dục tôi, cho tôi mang thân xác tạm bợ này, trong kích động và phản động thử tâm tôi, đẩy tôi lui về sự thanh tịnh giải thoát? Mà tôi đã làm được bao nhiêu?"
Nhân ngày đầu năm của năm 1986, chúng ta kiểm thảo lại, kiểm soát lại những hành động của quá trình, chúng ta đã tháo gỡ được bao nhiêu ; hay là chúng ta gây thêm rối trong nội tâm ? Cái bản chất đen tối của chúng ta, có vun bồi không ;hay là tự nó hạ giáng ?
Cho nên, duyên lành đến với chúng ta, chúng ta có cơ duyên Ðời lẫn Ðạo : sự tiến triển của Ðời ; mà ngày hôm nay chúng ta lại có sự tiến triển của Ðạo tâm.
Muốn học Ðạo, thì lấy gì học ? Dụng Tâm học Ðạo.
Tâm chúng ta ở đâu ? Tâm chúng ta đang bị quản lý bởi thể xác, bởi Lục Căn Lục Trần này nó bao vây chúng ta, nó đòi hỏi, nó kích động, nó tạo sự si mê làm cho chúng ta bấn loạn và không tự tiến được !
Ngày hôm nay, chúng ta tưởng Bề Trên, chúng ta biết chúng ta có Nguồn Cội ; chúng ta biết chúng ta có nơi thanh tịnh ;chúng ta biết chúng ta có quyền tự giải thoát ; thì chúng ta phải tự đi!
Cho nên, trong cái lúc đi đó, ai là người đi ? Cái gì sẽ đi ? Tâm thức chúng ta tự đi ! Tâm thức muốn được đi, phải dứt khoát Thất Tình, Lục Dục trong nội tâm của chúng ta !
Cho nên, các Bạn về đây tham dự cái Khóa Tu Học này, ghi chép trong đầu năm của 1986, các Bạn phải ý thức rõ ràng : những sách vở để trên bàn này, không nhiều thì ít các Bạn cũng nghe và cũng đọc qua rồi : "Nghịch Ðời mới về Ðạo" ! Tâm chúng ta phải dứt bỏ tất cả những trần tâm, si mê, kích động mà chính mình đã tạo cho chính mình ; nhiên hậu chúng ta mới có cơ hội học và tiến !
Nếu không, thì tự giam mình, và gút thêm nhiều gút trói buộc lấy tâm thức !
Cho nên, con đường tu học thấy nó dài, nhưng mà chúng ta phải ý thức rõ ràng, thì tự nhiên nó phải ngắn.
Cho nên, các Bạn, tại sao không có đi chùa chiền, không có đi cúng bái, mà các Bạn tu thiền để làm gì ?
Các Bạn đã ý thức rồi : "Tôi phải rút ngắn đường đi !"
Chính Ðức Phật đã thành công, những vị tiền bối đã đi trước đã thành công ; do sự cố gắng giải tỏa phiền muộn sái quấy trong nội tâm, mới thành đạo.
Ngày nay, ngày nay chúng ta noi gương gì đây ? Noi gương ai ?
Của những vị đã thành công !
Mà những vị thành công lưu lại những gì ?
Những lời nói quý báu và kỹ thuật tháo gỡ những cái nghiệp tâm của Ngài, và Ngài mới đắc đạo, hành động cho tới lý thuyết. Mà ngày nay, chúng ta đã am thức, đã hiểu rõ chưa ?
Vỏn vẹn caí Nguyên Lý “NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT”, có 6 chữ, mà có nhiều Bạn ngày hôm nay chưa đem vào tâm được !
Nhiều người niệm cho có chừng ; có nạn mới niệm !
Mà không biết đây là cái phương thức để mình giải tỏa cái nghiệp tâm.
Đây là chìa khóa để tháo gỡ những sự rắc rối trong nội tâm của chúng ta, và để cho chúng ta tiến hóa trong Ba Cõi !
Nhưng mà chưa ý thức nổi ! Thấy sách nào cũng ham, thấy chơn lý nào cũng đọc, thấy lời nói nào cũng hay, cũng theo ; thấy vị nào giáng lâm, cũng theo ! Nhưng mà hành, không có bao nhiêu !
Cho nên, ngày hôm nay chúng ta mới bắt buộc, "Mình phải phát một đại nguyện để cứu mình và cứu đời !"
Cho nên, chúng ta phải học. "Học cái gì ? Tại sao tôi phải học ? Lấy gì mà học ?"
Phải lấy sự thanh tịnh hòa với thanh tịnh, mới là học ! Mà lấy sự động loạn hòa với thanh tịnh, là không bao giờ học được !
Bên trong các Bạn có sự thanh tịnh, có sự sáng suốt ; có thanh tịnh mới có sáng suốt ; có sáng suốt mới nhận được những gì ban chiếu trong nội tâm các Bạn, kêu bằng, "Tâm tâm tương ứng" ; hiểu giá trị của luồng điển : sự nóng ấm trong cơ tạng của các Bạn đây, là Ðiển ! Không có Ðiển, không có di chuyển được !
Mà Ðiển của các Bạn, ngày hôm nay có chiều hướng trụ trên trung tim bộ đầu, để giải tiến, rồi hòa với Thanh Giới, để triền miên học hỏi Chơn Lý trong nội thức !
Nhưng mà, vì bận rộn của tình đời, so đo bởi cái miệng : nội cái ăn không, nó làm động loạn rồi ; rồi cái nói, nó động loạn thêm ; cái nghe, nó động loạn thêm ; cái thấy, nó động loạn thêm ; cái ngửi, nó cũng động loạn thêm ! Nó gút, rối như tơ vò ; lấy gì mà tháo ?
Cho nên, phải lui về thanh tịnh mới tháo được ! Nếu các Bạn không lui về thanh tịnh, không có bao giờ mà các Bạn tháo được ! Một khối tơ vò, mà Bạn không thanh tịnh, thì kỹ thuật tháo gỡ không bao giờ mở được !
Cho nên, chúng ta rất may mắn : có Ðạo đến với chúng ta ; và chúng ta có cơ hội, có phương tiện để ngồi đây đàm đạo và học hỏi từ ly từ tí : chính ta là người trách nhiệm tháo gỡ những sự phiền muộn sái quấy của nội tâm. Bệnh hoạn, chính ta đã đem vào thân ; thì chính ta là y sĩ tự trị ! Nếu chính chúng ta không biết trị bịnh cho chính chúng ta, thì có y sĩ giỏi cách mấy ở thế gian này cũng không có người nào giúp được chúng ta !
Vì cái Tánh đã ràng buộc cái Tâm : Lục Căn Lục Trần đã hoành hành, giam Chủ Nhơn Ông, làm cho Chủ Nhơn Ông khổ não, phiền muộn, sái quấy ! Ngày hôm nay, Lục Căn Lục Trần biết tu, biết nghe lệnh Chủ Nhơn Ông, ngồi tham thiền và dứt khoát trần tâm, thì Chủ Nhơn Ông mới rảnh rỗi, là phần Hồn các Bạn mới rảnh rỗi !
Cho nên, "Bệnh do tánh sanh" ; tôi đã thường nói ! Tánh hàng phục ; dẹp cái tánh sân si, dẹp cái tánh si mê, dẹp cái tánh cầu xin động loạn, qua một bên ; thì Chủ Nhơn Ông mới rảnh rỗi, tiến hóa, mới dìu tiến được Lục Căn Lục Trần ; thì cái bệnh nan y phải tiêu diệt !
Có phải "Hành" không, các Bạn ? Các Bạn đã và đang hành !
"Phải hành những chuyện gì đây ? Tôi ngồi, mỏi lưng, tôi cục cựa, đó là tôi hành ?"
Không phải !
"Tôi hành trong cái thức tu, tôi chủ trị tôi ; sự thanh nhẹ của tôi ở đâu, tôi phải lui về !"
Mà muốn lui về thì các Bạn phải học nhẫn, vô cùng nhẫn, vô cùng nhịn nhục !
Cho nên, các Bạn phải theo cái chiều hướng hít thở của trong nội tâm các Bạn, để các Bạn lắng nghe Nguyên ý “NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT” nó khai mở từ đâu đến đâu, chuyển chạy toàn thân các Bạn !
Có Tam Giới : Thượng, Trung, Hạ ; có đầy đủ.
Hỏi chớ, giới nào chúng ta đã tận tâm sắp đặt giải tiến cho nó, và giới nào chúng ta đã bỏ phế ?
Nhiều bạn, hỏi thét một hồi, "Ba giới, tôi cũng chưa có lo !"
Vậy chớ, thời gian các Bạn lưu trú học hành tại quả điạ cầu này, được bao lâu ? Giới hạn, có mấy chục năm, rồi phải ra đi !
Mà nếu các Bạn không chịu học, rồi ai là người cứu Bạn ?
Nếu các Bạn không chịu học, là các Bạn đã tự giết Bạn, mà thôi ; tự chôn sống tâm linh của các Bạn, mà thôi ! Từ sự thanh nhẹ mà đi tới sự ô trược !
Cho nên, nhiều người phản lại đạo tâm, nói, "Tôi muốn tìm hạnh phúc ! Nếu tôi tu thiền thì tôi lạnh cảm, làm sao tôi gần được vợ, con?"
Cái đó là cái sái quấy vô cùng ! Không hiểu !
Hỏi chớ, tham dục, đạt được hạnh phúc ư ? Không ! Tất cả ở thế gian đều trả lời, "Không ! Tham dục không đạt được hạnh phúc !” Nếu đạt được hạnh phúc, là mấy người điếm trong nhà điếm nó đạt được hạnh phúc rồi ; một ngày nó dục bao nhiêu lần, nó đã đạt được hạnh phúc rồi ! Tại sao chúng ta khao khát cái điều đó ?
Cho nên, chúng ta người tu trong thanh tịnh, chúng ta phải nuôi dưỡng cái chuyện cần thiết bây giờ : cái Thức Hồi Sinh vô cùng sống động trong ta, ta không nuôi dưỡng ; lại nuôi dưỡng cái chuyện trần trược tạm bợ và không đi đến đâu, để làm gì ?
Cho nên, những tuổi trẻ, chưa nếm qua mùi đời, thấy đó là quý, thấy đó là hạnh phúc ! Nhưng mà bước vào rồi, thấy, "Hạnh phúc ở đâu ? Tôi là người trên đường đi tìm hạnh phúc, mà chưa thấy hạnh phúc !"
Cho nên, dứt khoát trần tâm, lo tu, niệm, cảm thấy có hạnh phúc ! Hạnh phúc là giây phút thanh nhẹ thiêng liêng trong nội thức, nội tâm của các Bạn ; nó thể hiện triền miên thức giác, cởi mở, không bị lệ thuộc ! Đó là giây phút hạnh phúc của các Bạn.
Cho nên, trên đường đi, chúng ta phải dọn tâm. Mà muốn dọn tâm, phải có đường lối !
Cho nên, kêu các Bạn trì niệm Phật, là xây dựng chấn động lực trong nội tâm ; và quy nhứt để khai mở Lục Thông ; nhiên hậu mới hưởng được cái Thanh Quang Ðiển Lành ở Bên Trên ân chiếu cho chúng ta từ giây, phút, khắc. Từ giờ các Bạn vô Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh, không phải là chư Phật không lưu ý ! Chính các Bạn đã động chư Phật, thì chư Phật đã chiếu cho các Bạn rồi, vì trước kia chư Phật đi bằng đường lối đó ! Ngày hôm nay, các Bạn đi bằng đường lối đó, thì nó hòa hợp với chư Phật, chư Phật đâu có bỏ các Bạn ? Không bao giờ bỏ !
Cho nên, chúng ta, khi bước vào đó là chúng ta an rồi : chúng ta biết Soi Hồn, biết Pháp Luân, biết Thiền Ðịnh, là chúng ta sống trong cái tâm tư an lành của giới Niết Bàn !
Chúng ta biết, cộng đồng nhân sinh thì do sự quản lý của Thượng Ðế, ân chiếu của Thượng Ðế : Chúng ta có thể xác ; thể xác này là đại diện cho Thượng Ðế để tạo những sự kích động và phản động, nhồi quả cho tâm thức chúng ta tiến hóa.
Chúng ta đã hiểu hai nơi : Ðời, Ðạo rõ rệt : nơi làm việc về khối Trược, tiến tới Thanh ; nơi Thanh, trở về cực Thanh. Sống động vô cùng !
Cho nên, chúng ta phải học, phải trì kỳ chí thực hành ; mà phải chiến thắng lấy nội chiến của nội tâm !
Tất cả các Bạn ngồi đây đều có chiến tranh : chiến tranh trong nội tâm các Bạn nó liên hệ với Thiên Cơ, cả Càn Khôn Vũ Trụ : thời tiết thay đổi, tâm tánh thay đổi ; câu nói động loạn, tâm tánh thay đổi ; ý thức động loạn, tâm tánh thay đổi ; nó liên hệ cả Càn Khôn Vũ Trụ ! Đó là Thiên Cơ ; nằm trong tâm các Bạn, mà thôi !
Cho nên, các Bạn học một khóa cho tất cả mọi khóa ở tương lai : là tâm các Bạn dọn sạch được, mở được mọi sự gút mắc trong nội tâm, thì các Bạn hiểu tất cả, và sống với tất cả ; không còn sự Sanh, Tử hăm he nữa !
Cho nên, khi chúng ta biết được cái xác này không phải xác của ta !
Lấy gì chứng minh ?
Nếu xác này là xác của ta, ta chết, ta có cơ hội ôm nó đi chôn ! Ta không có cơ hội ôm nó đi chôn ! Thì của Ông Trời, "Của Thiên, trả Ðịa" ; ta không có cơ hội ! Nhưng mà ta có cơ hội đi với cái tâm thức của chúng ta, đi với cái sự hiểu biết mà chúng ta đã thâu lượm được trọn bao nhiêu kiếp ; ôm lấy mà đi !
Lấy gì chứng minh ?
Cho nên, ở thế gian này, có người ra đời học được bác sĩ ; người kia, cũng người ta, mà được đi học thợ mộc thôi ! Có phải trình độ khác nhau không ? Người kia, cũng người ta, mà chỉ làm nghề thợ may thôi ! Thấy rõ chưa ? Mỗi người một trình độ ; ôm lấy cái trình độ, ôm lấy cái tâm thức đó mà tiến hóa ! Một ông bác sĩ đi làm thợ may, làm không được ; ông thợ mộc, đi làm bác sĩ, làm không được ! Tại sao ? Vì cái tâm thức người ta tới đó thôi ; trình độ họ tới đó thôi. Cho nên, chứng minh các Bạn đã ôm cái tâm thức xuống quả địa cầu này, xây dựng cho quả địa cầu.
Thì mỗi người một nhiệm vụ và một công việc ; có hết ; nhưng mà lần lượt tiến hóa ; không nên nôn nóng.
Khi chúng ta hiểu được, ta tìm được cái Pháp, tìm được nguyên căn của chính chúng ta : thể xác này cấu trúc bởi siêu nhiên mà có ; và chúng ta đi tìm về con đường siêu nhiên để tự thức, để điều khiển cái khám lớn này nó đang giam Chủ Nhơn Ông, là giam ta đây ! Cái gì giam ?
Lục Căn Lục Trần ; nó lôi cuốn, nó kích động, nó phản động, nó làm cho chúng ta càng ngày càng động thêm, bước vào trong phạm vi nhỏ hẹp, so đo, và không có tiến nổi !
Cho nên, chúng ta thấy rõ rồi, phân tách rõ rệt rồi : chỉ có tự đi mà thôi !
Chủ Nhơn Ông lành, Lục Căn Lục Trần phải học, phải ủng hộ, phải xây dựng ; Chủ Nhơn Ông trì kỳ chí cương quyết tu luyện, thì chúng nó phải tuân theo !
Cho nên, ở đây, các Bạn đã đọc qua “Thiên Ðàng Du Ký,” “Ðịa Ngục Du Ký,” “Luân Hồi Du Ký,” “Nhân Gian Du Ký,” “Vấn Ðạo” ; đủ thứ ; bấy nhiêu này cũng đủ cho các Bạn đi.
Nhưng mà ngày hôm, nay vỏn vẹn có cuốn “Kinh A Di Ðà” là Chánh Kinh, Ðức Phật đã lưu lại cho chúng ta, và ông Ðỗ Thuần Hậu, người đi trước chúng ta, đã dặn dò từ câu mộc mạc để cho chúng ta hiểu rõ hơn, thay vì dùng văn tự cao siêu nói về Nho Học. Càng ngày chúng ta càng mất đường tu học về văn chương, cho nên phải nói sự mộc mạc thực tế, truyền Ðiển để tâm thức của mọi người hiểu, tự tháo gỡ, và tự tu, tự tiến.
Cho nên, hôm nay bắt đầu mở Khóa, tôi xin nhắc lại cuốn “Kinh A DI ÐÀ,” trong đó tôi sẽ phân tách ra cho các Bạn thấy rõ, và sau này các Bạn nắm cuốn đó làm Phương Chỉ Nam để các Bạn tự tu, tự tiến.
Ðây là một chìa khóa luôn luôn thường trực, và chư Phật luôn luôn tiếp Ðiển cho các Bạn, nếu các Bạn ý thức và đọc được, thực hành được đúng theo ba pháp : Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh ; thì ăn khớp với cuốn “Kinh A DI ÐÀ” này. Rồi các Bạn sẽ diện kiến chư Phật, chư Tiên, không có khó khăn !
Một kỹ thuật trong tay các Bạn, trong tủ các Bạn, trong đầu nằm các Bạn ; mà chưa bao giờ chịu đọc !
Cho nên, hôm nay chúng ta bắt đầu, chúng ta đồng học cuốn “Kinh A DI ÐÀ”. [19:22]
video 19860101L2 - “Phần khai mạc” [19:22] tương ứng với mp3 19860101L3 cuốn 1A: phút 22:33. Video thiếu so với mp3 19860101L3 cuốn 1A từ phút 22:33 đến 24:02.
[bạn đạo nói, nghe không rõ][23:05]
B/Đ3: Nam Mô Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn, Nam Mô Kim Mẫu Đại Từ Tôn, Nam Mô Đức Phật Vĩ Kiên ; kính bạch Thầy : hôm nay được duyên lớn cho con được thay mặt tất cả anh, chị, em bạn đạo Úc Châu kính chúc Thầy vui hưởng một năm mới tràn đầy hạnh ngộ. Mặc dầu Thầy bận rộn nhiều công việc, Thầy đã dành cho chúng con một ân huệ quý báu để mở lớp học Vô Vi 10 ngày tại Úc Châu. Chúng con chân thành đội ơn Thầy đã không quản ngại sự đường xá xa xôi để lo về tâm linh cho những đứa con dại khờ. Lòng ưu ái của Thầy, chúng con xin đa tạ và nguyện lo học tu tiến để khỏi phụ lòng khó nhọc của Thầy. Chúng con xin một lần nữa cảm tạ Thầy. [24:01]
Tiếp tục video 19860101L2 phút 19:28 tương ứng với mp3 19860101L3 cuốn 1A: phút 24:02
(video bị mất 2 từ “cảm ơn”)
Đức Thầy: Cảm ơn tấm lòng ưu ái của tất cả Bạn đạo Úc Châu. Chuyến đi của chúng tôi khắp các nơi là để chứng minh cho các Bạn thấy rõ : Vô Vi lúc nào cũng gần nhau. Ý trí chúng ta là vô cùng ; nếu chúng ta nuôi dưỡng ý trí thì lúc nào chúng ta cũng có cơ hội tương hội. Với tuổi tác của tôi và việc làm của tôi, không ngừng nghỉ, để cho các Bạn chứng minh rõ là phần Hồn chúng ta không ngừng nghỉ trong cơ học hỏi tiến hoá ! Những hành động này là để các Bạn ý thức ; rồi tương lai tôi không còn ở quả địa cầu này nữa, các Bạn cũng không thấy đó là xa lạ, đó là khó ! Chính là rất dễ : "Người trước đã đi và đã làm, không ngừng nghỉ đối với ta, thì ta phải không ngừng nghỉ đối với mọi người" ; thì nó mới đi trong cái cảnh du dương thăng hoa tốt đẹp ở tương lai.
Cho nên, Tiên, Phật cũng vậy : không ngừng nghỉ làm việc, vì chúng sanh ; chúng sanh cũng hướng thượng đối với Tiên,Phật, sau cơn đau khổ thử thách. Cho nên, cái hạnh mà chúng ta tái ngộ trong quả địa cầu này và đã ghi chép sách sử từ hành động tới lời nói, rồi đây huynh đệ, tỷ muội của chúng ta sẽ tay nắm tay rồi cũng đi, cũng giáo dục tất cả quần sanh ở tương lai, trong một ý trí, trong một tình thương xây dựng cởi mở, và không bao giờ chúng ta phụ bạc lấy chúng ta. Chúng ta phải giữ cái mối Đạo để sống triền miên trong sự thanh cao tốt đẹp !
Cho nên, hôm nay cũng ngày lành, tháng tốt, tôi cũng gởi lời chúc tất cả các Bạn đạo khắp Năm Châu chung hưởng tâm thân an lạc tự thức tự tiến. [26:04- mp3 19860101L3]
Kết thúc video 19860101L2 [21:36] tương ứng với mp3 19860101L3 cuốn 1A dừng ở phút 26:04
B/Đ2: Kính thưa Thầy, con xin thay mặt cho anh Hội Trưởng Hội Vô Vi Úc Châu, có lời xin chào mừng và xin có lời chúc tụng Khoá Huấn Luyện được thành công tốt đẹp. Thưa Thầy, anh Hội Trưởng có nhờ con đọc cái quyết định để trình Thầy.
“Tổng Hội Trưởng Hội Ái Hữ Vô Vi Úc Châu, Chiếu biên bản Đại Hội Vô Vi Úc Châu Kỳ 1, ngày 28, 29, 30 tháng 12, năm 1984, thành lập Tổng Hội Ái Hữu Vô Vi Úc Châu, chiếu quyết định:
Điều 1/ Nay cử đạo hữu Bùi Đông Phương đảm trách chức vụ Tổng Thơ Ký Ban Chấp Hành Tổng Hội Ái Hữ Vô Vi Úc Châu.
Điều 2/ Đạo Hữu Bùi Đông Phương có nhiệm vụ tổ chức và điều hành mọi sinh hoạt của Tổng Hội Ái Hữu Vô Vi Úc Châu, đồng thời liên lạc và phối hợp các sinh hoạt của các hội Ái Hữu Vô Vi trên thế giới.
Điều 3/ Các Phó Tổng Hội Trưởng và đương sự chiếu nhiệm vụ thi hành quyết định này.
Quyết Định, xin kính trình Đức Thầy, các hội Ái Hữu Vô Vi Mỹ, Canada, Pháp, Việt Nam ; các Hội Ái Hữu Vô Vi tại các tiểu bang Úc Châu ; để kính tường.”
Xin kính trình Thầy ; và xin mời anh Phương tiếp tục chương trình. Xin Anh kính trình Thầy các Hội Viên của các tiểu ban tham dự Khoá Huấn Luyện hôm nay.
B/Đ4: Thưa Thầy, quý Bác, Anh, Chị, Em ; Thưa Thầy, chương trình Khoá Thiền của chúng con đã thông báo với anh, chị, em, và trình qua Thầy rồi ; chúng con xin trình với Thầy tổng số các bác, các anh, chị là 47 khoá sinh, gồm 27 nam và 20 nữ. Chúng con có hội ý nhau chia ra làm 4 toán, mỗi toán có 1 anh tình nguyện làm thơ ký ghi nhận các ý kiến cũng như điều hoà việc thảo luận học tập, bài giảng. Ngoài ra, mỗi đêm sau khi tập họp tất cả các ý kiến chung, thì chúng con sẽ hội họp nhau để được nghe Thầy giảng dậy thêm những thắc mắc của chung các anh em trong bài giảng buổi sáng của Thầy. Vì đây là khoá đầu tiên, chúng con được tham dự do ân huệ lớn lao, thành ra mọi việc chúng con cố gắng thật nhiều, và học hỏi cùng nhau, và học hỏi với Thầy, để không phụ công ơn của Thầy. Con xin hết. [30:00 - mp3 19860101L3]
Bắt đầu sang video 19860101L2 “Thuyết giảng Kinh - phần 1”
Tương ứng với mp3 19860101L3 ở phút 30:07
Video thiếu so với mp3 19860101L3 từ phút 26:04 đến 30:07
Đức Thầy: Tất cả ở Úc Châu đã bước vào nề nếp ; anh em thương yêu nhau, xây dựng nhau, bầu cử nhau để làm việc ích chung, và mở đường cho nhân loại tiến hoá. Đó là một việc cao quý. Mọi người đã sống trong nhịp nhàng, trong đạo,cứu độ. Rồi đây chúng ta sẽ tiếp tục học thêm và xây dựng thêm ; Đạo Tâm càng ngày càng mở ; nhiên hậu trở về địa phương mới dẫn dắt những người mới bước vào Đạo Tâm.
Bây giờ, bây giờ chúng ta bắt đầu để nghe qua những gì mà ông Ðỗ Thuần Hậu đã lưu lại cho chúng ta trong cái Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp. Các Bạn đã đọc qua cuốn "Kinh A DI ÐÀ" do ông Nguyễn Xuân Liêm đã viết những câu về tiểu sử của Cụ Ðỗ Thuần Hậu:
Cụ ÐỖ THUẦN HẬU sanh năm 1883 tại Tỉnh Sa Ðéc, Quận Lai Vung ; thân phụ của Cụ là ông Ðỗ Hạo Cừu, làm Phó Tổng An Thới trong thời kỳ Pháp Thuộc ; thọ được 80 tuổi mới qua đời. Ngài đã lưu lại những cái bản dịch về "Kinh A DI ÐÀ," dùng Ðiển dịch Văn. Thế gian phải dùng văn dịch lý, nhưng mà ở đây dùng Ðiển dịch Văn ; nó khác. Cho nên, các Bạn đã tu về Ðiển, chúng ta dễ hiểu hơn ; nếu dùng trí thức mà để hiểu, nó hơi khó khăn.
PHẦN I : KINH A DI ĐÀ CHÚ GỈAI
Chúng ta đi thẳng vào Kinh ; không có thì giờ nói thêm giới thiệu. Các Bạn đã đọc nhiều lắm rồi. Đọc sơ đó thôi.
Gỉai Thích “KINH A DI ĐÀ” Theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Của Phật
KINH : Là 2 dây thần kinh nơi bộ đầu ta, có liên quan đến việc luyện đạo theo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật.
Từ xưa đến nay, người thế gian cho rằng quyển kinh là quyển sách. Hiểu như vậy là chưa đúng nghĩa.
Theo Pháp Lý, chữ KINH là đường kinh mạch trong thân mình ta, chỉ rõ là nhiều gân mạch bao bọc bản thể ta để cho Khí Điển chạy châu lưu dắt khí huyết điều hòa khắp châu thân.
[Ông Tám giảng]
Hỏi KINH, người ta ở trong chùa, người ta thấy cuốn kinh, người ta phải để trên bàn thờ.
Tại sao phải để ở trên bàn thờ, mà không liệng dưới đất ? Bởi vì thần kinh liên hệ ở bộ đầu ; kinh mạch, khi người ta biết cái Kinh, cái tâm của người ta tự nhiên kính trọng ; nói tới “Kinh” là kính trọng ; nó chuyển ngay sợi gân ngay trong cái Bá Hội trên bộ đầu này ; cái huyệt Kinh nó kích động liền !
Cho nên, chúng ta tu, niệm Phật ngay trung tim bộ đầu, khai kinh kệ, khai cái đường này ; Kinh là cái đường, nó mở ra, nó mới liên hệ cái thanh nhẹ ở Bên Trên.
Cho nên, các Bạn, có người đã cảm thức rồi : cái tay tôi rờ cái đầu ; mà tại sao cái đầu các Bạn nó cục cựa ? Có nhiều người cảm nhận cái đó !
Chúng ta, cái đường kinh nó đi lên, liên hệ với Thiên Xích, đi về Trung Đạo, trung dung để tiến hóa.
Cho nên, cái khí điển chạy châu lưu trong cơ thể chúng ta : chúng ta phải có ấm, chúng ta mới có sự sống. Nếu mà trong cơ tạng chúng ta lạnh, thì không có bao giờ sống được.
Có ấm đó là có Điển ! Mà cái điển nó đi đâu ? Nó vun bồi lên trên mặt các Bạn.
Cho nên, các Bạn đói bụng, trước khi đói bụng, mặt nó xanh ; mà uống nước lạnh vô, một hồi thấy nó run ; thử thì biết rồi !
Nhưng mà ngày nay chúng ta ăn cơm rồi, ăn cơm qua nấu nướng rồi, nó ấm ; mặt của chúng ta hồng !
Phải cái điển Kinh khai triển không ? Nó vun bồi, nó đi lên !
Cái Luật sanh sanh, hóa hóa : ăn cơm vô, nó biến sanh thủy ; thủy biến, sanh khí ; khí biến, sanh sắc ; sắc hườn hư ; trở về trên ! Hai đường kinh mạch tiến hóa vô cùng, hòa hợp với cả càn khôn vũ trụ ở Bên Trên !
Nó chạy châu thân chúng ta ấm áp, thì trung tim bộ đầu chúng ta lại cảm thấy thanh nhẹ. Sức quân bình, tự đạt, lúc đó ăn no rồi mới đứng dậy đi ! Bỏ đói, nằm la liệt, nằm đó ! Lúc mà ăn no rồi, đứng dậy đi !
Nó quân bình nó mới đi được ! Chiếc máy bay cũng vậy : quân bình nó mới bay được.
HUYẾT: Là một chất lỏng. Trong chất lỏng ấy có điển lộn vào tung hơi nóng ra. Bản thể con người nhờ khí điển ấy mà hô hấp hơi thở ra, vào nơi trần thế.
Trần thế có thán khí ,hợp lại sanh dưỡng khí, để cho chúng ta sống hàng ngày.
Nhờ dưỡng khí tiếp cho Ngũ Tạng để làm việc thôi thúc cho các nhu cầu của bản thể ăn, ngủ, và bài tiết. v.v...
Người có sức khỏe là nhờ bộ máy Ngũ Tạng có năng lực. Ngũ Tạng làm việc chuyển cho điển sai khiến bộ phận tiêu hóa, Đông Y gọi là Kinh Mạch ; bởi thế cho nên bản thể con người làm việc luôn luôn, từ thì giờ, phút, khắc,không bê trễ, để làm cho người có sức lực.
[Ông Tám giảng]
Đó ! Cho nên chúng ta thấy rõ rằng, mới nói về cái Huyết không à, chúng ta đã thấy cái bệnh trong mình rồi. Cái Huyết của chúng ta nó chuyển chạy châu thân chúng ta, mà nó qua ngũ tạng Tâm, Can, Tì, Phế, Thận, rồi nó làm việc không ngừng nghỉ ; mà trong đó có thanh, có trược, cho nên nó tạo ra một cái sức lực vận chuyển tiếp tế đầy đủ hết, cũng như một cơ cấu tại thế gian. Cho nên :
Cũng có thể gọi KINH là giềng mối nhà Đạo.
[Ông Tám giảng]
Đó ! Không nhờ cái đó thì cái hồn không có thức, và không hiểu ở cõi hư không còn một cảnh nữa. Cho nên, nhiều khi chúng ta tu thiền, nhắm mắt chúng ta thấy cảnh ; người được tu thanh nhẹ nhắm mắt thấy ta bước ra ! Cũng nhờ cái giềng mối đó ta làm bàn đạp, chúng ta mới đi được.
Chữ GIỀNG là một sợi dây chuyền thừa tiếp luân chuyển cho khí huyết châu lưu bản thể, cùng để xây dựng an dưỡng tinh thần trí não của ta.
Thường khi người ta gọi là “Kinh kệ.”
KỆ: Là từ mỗi kẹt hóc nào cũng có khí huyết, kinh mạch, chuyển đều từ lỗ chân lông bản thể của con người. Khí điển ấy tuần dương tế sát từ ngoài da đến thịt xương máu.
Trong bản thể con người có 3 chất huyết là : Huyết trong trắng ; Huyết đỏ tươi ; Huyết đỏ bầm ; nó phải luân phiên tuần phòng nghiêm nhặt từ ranh giới ngoài da để chống vi trùng ngoại xâm cùng vi trùng thán khí xâm nhập ngũ tạng, lục phủ bản thể ta.
Chúng ta cũng gọi là vi trùng thương hàn sốt rét ; nhưng chúng ta cũng nên hiểu rằng, sở dĩ vi trùng ngoại xâm mà nhập vào bản thể ta được là vì kẻ tuần tiễu trong mình ta bị hơ hỏng.
[Ông Tám giảng]
Đó ! Cái lực điển, cái lực mà chuyển chạy của máu huyết nó không có điều hòa, cũng như lính mà không có làm việc, không có hành quân ; hớ hỏng !
Do đó mới có sanh bệnh.
Trong lúc ngoại xâm uy hiếp bản thể ta, thì ta nghe rần rần trong mình, rùng mình rởn óc, và kinh mạch ta thiếu kém do sự ăn uống không đủ sức, đem lương thảo vào chậm trễ, không bổ túc đầy đủ cho các binh lính nơi lỗ chân lông.
Lỗ chân lông là dân sự, binh lính, nếu thiếu kém làm việc thì binh giặc ngoại xâm nó lấn vào bản thể hiếp đáp ta, sanh ra bệnh hoạn. Lúc ấy dây thần kinh cũng bất lực, yếu lực lượng, nên không thể tiếp điển Thiên Không được.
Điển Thiên Không ở trong bầu không khí. Bầu không khí có dưỡng khí. Cho nên lúc chúng ta công phu luyện đạo, chúng ta không thể tiếp xúc với điển Thiên Không được. [39:16]
Hết mp3 19860101L3 – cuốn 1A.
Đoạn dừng tương ứng với phút 09:21 ở Video 19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh - phần 1”
[bắt đầu ID# 19860101Q4] mp3
KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: Lời Thầy Trong Buổi Khai Mạc - Cuốn 1B
..... Là vì điển của chúng ta không mạnh. Nếu chúng ta hấp thụ được dưỡng khí thì điển của chúng ta trở nên mạnh sẽ tiếp xúc với điển Thiên Không dễ dàng, chừng ấy có lo chi là không có Mâu Ni Châu hay là Xá Lợi.
Mâu Ni Châu hay là Xá Lợi là một cục lửa tròn có nhiều màu sắc bay vơ vẩn trước mặt ta lúc ta công phu luyện đạo. Nếu ta dày công tu hành thì cục ngọc Mâu Ni Châu ấy biến hóa thành lớn lao sáng tỏ bay thẳng trực chỉ lên thiên đàng, không còn vơ vẩn như trước kia, làm cho trí óc ta càng ngày càng mở mang thông minh trí tuệ, bản thể ta thêm sức lực tráng kiện, có lo chi là bệnh hoạn chết yểu.
Pháp lý chúng ta gọi chữ KINH là thế.
(Ông Tám giảng:)
Cho nên khi mà chúng ta tu, chúng ta phải hiểu cái Nguyên Lý, Nguyên Lý của “Kinh kệ” khai thông từ cơ tạng của chúng ta chuyển chạy trong máu huyết cũng như một cuộc hành quân tại thế. Chúng ta xuống thế gian đây, đang chủ trị một Tiểu Thiên Ðiạ đây, là một quốc gia. Một quốc gia, chúng ta không biết lo cho nó; chúng ta chỉ lo tranh chấp thôi, lo hưởng thụ; lo hơn. Hưởng thụ, cái hưởng thụ kêu bằng lý thuyết; mà bỏ cái thể xác, sự tráng kiện của thể xác; thì cũng thất bại.
Cho nên, người tu mà không hành đúng: người ta chỉ mình làm Soi Hồn, làm Pháp Luân, mà mình không chịu làm, nói: "Tui ngồi như vầy, tôi thấy Phật là đủ rồi; tôi không có làm!" Cái đó là càng ngày cái kho lương thực của chúng ta nó càng thiếu; vì binh lính ở trong đó nó phải sử dụng. Phải phát lương; mỗi ngày các bạn phải phát lương; nếu không có lương thực cho chúng nó thì nó sanh bệnh. Cho nên, khi các bạn hiểu được giá trị của chữ "Kinh Kệ" rồi, các bạn thấy rằng chính ta đã làm cho ta bệnh. Chính ta hao phí rất nhiều: nói năng hơn thua, nó hao phí; tham dục, nó hao phí; làm ngưng trệ sự vận hành nội lực; cho nên, càng ngày chúng ta càng thiếu kém.
Cho nên, chúng ta người tu phải biết rõ "Kinh" là cái đường đi, "Kinh" là khai mở cả triệu triệu cây số trong Tiểu Thiên Ðịa của chúng ta; mà chúng ta không biết cái nguyên ý, cái chìa khóa mạch lạc để cho sự tiến hóa của Kinh Kệ trong nội tâm nội thức có cơ hội tiến đều, nhịp nhàng du dương trong nội thức, thì chúng ta là một bệnh nhân tại thế.
Cho nên, các bạn nghe qua những sự phân tách này, các bạn dòm lại các bạn, là các bạn đang bệnh; chưa mở được là đang bệnh. Phải nhìn nhận thế này! Nhìn nhận cái này rồi, chúng ta mới mượn cái kỹ thuật của Pháp Lý Vô Vi mà để trị bệnh cho chính chúng ta: đừng cho nó tắc nghẽn nữa; phải khai thông nó; vì chúng ta đã sống trong biển yêu của Thượng Ðế, đầy đủ ban bố cho chúng ta; chúng ta có quyền hít thở, tận dụng khả năng của chính mình, mà để hòa tan trong cái cơ giới sống động bất diệt của Thượng Ðế, thì các bạn thấy cái Pháp Soi Hồn nó có giá trị rồi: làm cho khối thần kinh của Trung Ương, hai mối phải tương hội, nó mới nhá lửa ra; các bạn nhắm con mắt mới thấy ánh sáng. Ðó là cái Nguyên Ðiển; mà cái Nguyên Ðiển, để mở đường cho ai? Nguyên Ðiển mở đường cho Nguyên Khí, Nguyên Linh tiến hóa.
Cho nên, Nguyên Linh xuất ra, đứng trên đám mây đó, là đi. Cho nên, cái Pháp Soi hồn của chúng ta kỳ diệu vô cùng! Các bạn tu, lo chịu khổ một chút; nghe lời tôi, các bạn làm; càng ngày nó càng trì nặng ở đây (giữa 2 chân mày) là cái luồng điển lửa các bạn đầy đủ lực lượng rồi; nó sẽ bực ra ánh sáng. Mà ngay đây (giữa 2 chân mày) nó đầy đủ lực lượng thì nó trụ ngay trên trung tim bộ đầu; nó sẽ nổ cái "Bùm!" Nó nổ lớn tiếng; nổ như bom nổ vậy đó. Thì các bạn thấy sáng cả Càn Khôn Vũ Trụ! Mà không ngờ; không ngờ các bạn làm cái Pháp này mà các bạn có thể thấy được như vậy. Có phải do một sự kỳ công?
Mà các bạn nào mới tu đây là kêu bằng "Trị bịnh." Tại sao bệnh? Mất trật tự nó bệnh. "Bây giờ tôi lập lại trật tự, tôi không còn bệnh!" Mà khi lập lại trật tự, thì nó phải có trở ngại. "Tôi dẹp con đường cũ, tôi về con đường mới, thế nào cũng phải động! Ðường làng, mở xa lộ, thì biết bao nhiêu người biểu tình! Nhưng mà rồi có xa lộ rồi, mọi người thích!" Chúng ta phải làm, phải cố gắng; cho nên phải giải thông kinh mạch cho khối óc là cái Pháp Soi hồn.
Cho nên, trong cái tuần tự kinh kệ, các bạn học cái Pháp này là trị bịnh; thực hành cái pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh, là đang trị bịnh cho các bạn mà thôi. Mà còn hằn học, nửa chừng rồi bỏ, này kia kia nọ; rồi bệnh nó tái phát! Bởi vì hồi nào tới giờ sự vận chuyển nó đưa từ cái miệng đem vô, thì trong này nó có cái nội lực để giải tỏa; mà nội lực không thực hành, thì làm sao nó lại tiến hóa nổi? Tự nhiên nó phải bệnh. "Cho nên nhiều người nói: tại sao tôi tu Pháp Lý mà tôi bệnh? Tôi đâu có làm! Cái Soi Hồn, cũng làm biếng, mà Pháp Luân cũng làm biếng; Thiền Ðịnh cũng làm biếng nữa”. Rồi ngủ một giấc, rồi nói "Tôi tu mười năm rồi!" Ðúng mười năm như vậy thì con người phải trẻ luôn luôn, không có già; khõe, ăn uống khai vị; lúc nào cũng vui tươi; mới là đúng! Nhiều người cứ nói, "Tôi tu mười năm rồi; tôi theo Ông Tám mười năm rồi!" Ông Tám đâu có dẫn mình, mà nói: "Theo Ông Tám mười năm!" Mình tự đi; mà không chịu đi! Cho nên, nhiều người nói bậy bạ lắm; không chịu thực hành.
Bây giờ, các bạn ở trong Khóa này, chúng ta là huynh đệ trong một nhà, chúng ta phải nói thật: chúng ta nhìn nhận sự lười biếng. Thực hành, mở, khai triển trong cái Khoa Học Huyền Bí mới mẻ trong quả địa cầu, trong Càn Khôn Vũ Trụ đã dành sẵn cái quyền đó cho chúng ta hưởng; chúng ta phải tận hưởng; không nên bỏ nữa! Cái của đó là cái của vô cùng. Bây giờ các bạn nói, "Chu choa, tôi bây giờ phải đi làm ăn, chớ không làm ăn, không có tiền. Nghe lời theo Ông Tám, chết cha! Nói cái điệu đó thì tu không được!" À; mà vừa đi làm đi, rồi vừa thực hành; các bạn thấy yêu đời; các bạn có sức khỏe rồi; các bạn tới sở, các bạn muốn chia sức khỏe với người khác rồi; các bạn thanh tịnh, các bạn thấy người khác đau khổ, các bạn muốn độ họ rồi! Các bạn có thừa chưa? Thấy các bạn mạnh chưa? Muốn ban ơn cho người khác rồi! Cho nên, lợi cho bạn là lợi cho tất cả. Các bạn thành đạo, là mọi người sẽ thành đạo là vậy. "Làm một việc cho tất cả mọi việc" là vậy.
Cho nên, chúng ta thấy rõ, nội cái chữ "Kinh" thôi, mà Ngài cắt nghĩa như vậy, để chúng ta ý thức cái bệnh nan y mình đã tạo, mình đã bỏ phế hai sợi thần kinh đó không cho nó giao cảm và không cho nó tiến hóa, là chính mình đã tự tắt nghẽn lấy mình mà thôi. Cho nên, mình "Sanh bệnh" là vậy. Cái tâm tánh nó không có điều hòa; ăn nói vô chừng, vô mực; nguyện với Trời, Phật cũng hành không đến; không chịu làm; không có trung tín; lời nói mình với hành động không có đi đôi, thì làm sao nó mở? Cho nên, trị bệnh cũng vậy: chúng ta đi trị bệnh với ông bác sĩ nào cũng vậy; cũng như cuộc hành quân à: bữa nay ổng cho mớ thuốc hòa; mai nữa ổng kích động; mốt này rồi ổng cho hòa; rồi bữa sau ổng xả hết: trị bệnh một cách như cuộc hành quân; chiếm cho kỳ được, và trở về tự chủ. Còn cái này của chúng ta cũng vậy.
“A DI ĐÀ”
1- Chữ A :
Trong bài sám Pháp lý có nói như vầy:
“A nhâm quý gồm thâu nơi thận” thì nghe ra rộng nghĩa quá, khó thấu đáo được, vậy xin giải thích thêm
A: Là cái hơi đưa lên do nơi trong hai trái cật hợp nhứt, thì chất nóng và chất lạnh hợp lại hóa thành một thứ nước nóng. Hơi ấy xung lên bộ đầu hóa thành chất điển. Chất điển là hơi nóng, gọi là Điển, để tiếp xúc trí hóa ta, làm cho ta được thông minh tráng kiện, tiếp viện cho Thần Hồn gọi là Chủ Nhơn Ông hóa thành Như Lai cùng La Hán mới chứng phẩm Tiên Gia.
(Ông Tám giảng:)
Nội chữ "A Nhâm Quý gồm thâu nơi Thận" là thuộc về Thủy; "Thủy, Ðiển tương giao". Ngày nay các bạn hiểu điển thì tôi mới cắt nghĩa về điển, "Thủy, điển tương giao" Có nước mới có điển, mình lấy cái dây điện bỏ dưới nước đó, thì mình rờ dưới nước, thì cái tay mình cũng bị giựt; hai cái nó tương giao.
Cho nên, khi mà chúng ta làm Pháp Luân, cái trái cật nó hợp nhứt, hai luồng điển nó tung lên cái xương sống, nó xung lên bộ đầu, thành chất điển làm ấm bộ đầu; rồi từ đó nó mới "Thanh thừa thanh" cảm thấy lạnh; cảm thấy hòa, mát, chớ không phải lạnh; ngay trung tim bộ đầu; mới gọi là "Ðiển". À. Thì nó hóa ra ta, rồi cái điển mà nó thừa tiếp với Thanh Ðiển đó, nó hiện hình cũng như người thế gian; có gì đâu? Thì, lúc đó cái thần hồn là Chủ Nhân Ông, Như lai bản tánh mình, từ hồi trước mình xuống như thế nào, mình về như vậy: mình hòa tan với các giới: mới cùng La Hán, rồi mới chứng phẩm Tiên Gia. Chúng ta người thế gian, mà không phải ở thế gian! Mình đi được mà, mình thấy mình đâu có phải ở thế gian đâu! Mà nhờ cái gì? Nhờ cái "Thủy, Ðiển tương giao" mình mượn cái trớn đó mà mình đi.
Cho nên, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển, làm nó run lên bộ đầu, rồi một chập cái nó mát, phất phất ngay trung tim ở đây (trung tim bộ đầu- Hà Đào Thành). À. Những người tu lâu, vừa tưởng là nó tới rồi! Như Bà Mười, ngồi đó, tưởng cái nó dính ở đó, nó rút chỗ đó rồi, cái điển nó rút rồi; Con Hòa, bây giờ nó đang ngồi đó, nó tưởng cái, nó rút rồi, rút ngay trên bộ đầu rồi! Thì sau Mình phải lên đó, mình mới hoà tan ở chỗ đó. Cho nên, mình học, mình "Cư Trần, nhiễm trần," bị Hồng Trần nó hút: cái máu nó hút mình; nó hút cái Thanh điển mình; nó bắt lo âu, nó bắt tình dục; nó bắt này kia, kia nọ, lo nơi tim thôi!
Mà bây giờ chúng ta tập trung lên trung tim bộ đầu thì nó hòa với cả Càn Khôn Vũ Trụ, cái tâm hòa bình, nó mở vô cùng; nó không còn chấp nữa; nó hòa tan với Càn Khôn Vũ Trụ, nó mới "Học từ bi và thực hiện từ bi;" lớn rộng rồi, không còn cái tim nhỏ nữa! Cho nên, nhiều người nghe nổ mấy tiếng rồi thì cái đầu thấy nó càng ngày càng lớn, và càng nhẹ nhàng; thấy ai cũng thương, muốn cứu độ người ta, không muốn hại ai hết; không dám ghét một người nào: hễ ghét là nó động; nó động là nó mất cái chỗ này (trung tim bộ đầu); mà giận một cái, nó cũng mất cái chỗ này (trung tim bộ đầu); sợ giận, sợ ghét lắm! Mà thực hiện cái thương yêu thì nó khác, nó cởi mở.
2 - Chữ DI :
Trong sám Pháp lý có câu :
“DI giữ bền chặt ba báu linh” nghe ra cũng rộng quá, không hiểu rõ được nên phải giải nghĩa thêm cho rành rẽ hơn.
Ba báu linh là: “Tinh, Khí, Thần”, thường trong bản thể con người, ai ai cũng có, những người biết luyện đạo đúng phép thì tinh khí thần đầy đủ sáng suốt làm cho trí não ta được minh mẫn, thần hồn ta được linh hoạt. Trong lúc chúng ta luyện đạo thì động đến tinh khí thần tiếp viện cho thần hồn phát huệ, hiểu biết quá khứ vị lai. Đó là Chủ Nhơn Ông lên phẩm chức học trò, Phật gọi là Tiên Gia.
(Ông Tám giảng:)
Các bạn lấy cái gì chứng minh giá trị của Tinh, Khí, Thần? Mỗi ngày các bạn ăn uống đầy đủ, ngủ đủ tám tiếng, khỏe mạnh; ban đêm không động loạn, không cờ bạc, không dâm dục; sáng các bạn dậy, khỏe mạnh. Phải giá trị của Tinh, Khí, Thần nó làm cho các bạn quân bình không? Sáng suốt, nói về đời, nói về thể xác thôi. Còn nói về phần hồn, chúng ta dùng cái pháp Soi Hồn mà làm cho Tinh, Khí, Thần chúng ta trụ, thì chúng ta cảm thấy cái Thanh Ðiển dồi dào.
Mà các bạn có vợ, có chồng, đêm nào mà các bạn tham gia vô tình dục, thì sáng nó mất hết: đêm đó các bạn thiền nó không có giá trị như đêm trước. Các bạn đã nhìn nhận điều này, có sự thật như vậy, vì cái Tinh Khí Thần hao, nó không trụ, cũng như nhà đèn không có điện.
Cho nên Tinh, Khí, Thần của người tu là quan trọng lắm. Cho nên những vị tu, sư ở trong chùa, tại sao Ngài chết, đốt ra có xá lợi? Vì chất Tinh Ngài trụ. Ðốt ra, như Chư Phật, chết bao nhiêu hột xá lợi còn. Nhờ cái chất Tinh nó trụ, đốt không cháy, không tiêu. Mà chúng ta tu, chúng ta lại hoang phí; ký tên đăng ký nói "Tu" mà không biết giữ cái của báu của Trời. Trời Ðất đã cấu trúc cho chúng ta một nhiên liệu xài hoài không hết, Mà không biết!
Cho nên, các bạn thức tỉnh lên đi, và thấy rõ cái này là cái quan trọng: giữ cái Tinh, Khí, Thần để vượt qua những cái bệnh nan y tại thế, chúng ta mới "Cứu đời" được. Cho nên, những người nào mà giữ được Tinh, Khí, Thần, ban đêm làm Pháp Luân Thường Chuyển, nước miếng ngọt như đường phèn: Tinh, Khí, Thần đầy đủ. Mà nước miếng lạt, hôi, đó là Tinh, Khí, Thần phân tán. Ở trong cơ tạng của chúng ta đã chứng minh như vậy; chúng ta đã thực hành và thâu được kinh nghiệm như vậy.
Cho nên, chúng ta tu, quan trọng là tập trung Tinh, Khí, Thần. Khi ta Soi Hồn cũng là tập trung Tinh, Khí, Thần; làm Pháp Luân Thường Chuyển là Tam Giới Quy Nhứt: Tinh, Khí, Thần phải trụ; còn cái thừa thãi, nó phải đi ra đại tiện và tiểu tiện, lỗ chân lông; nó không có mất sự điều hòa; luôn luôn con người trẻ trung.
Cho nên, tôi mỗi năm mỗi đến đây, các bạn nhìn tôi, thấy tôi cũng như mọi năm, không có già gì mấy; có phải không? À. Nó như vậy đó là nhờ cái gì? Nhờ biết giữ sức khỏe cho chính mình, và biết giữ cái hòa với cả Tam Giới, thành ra con người khó suy sụp; làm việc nhiều, nhưng mà nó có thừa thãi tôi mới làm việc; khi nó thiếu thì tôi cũng chả làm gì được; bởi vì tôi giữ cái đó, còn dư thừa thì tôi làm việc, tôi cứu độ chúng sanh; còn phần nào của tôi đang sử dụng thì nó phải cung cấp đầy đủ cho tôi. Cho nên, các bạn tu cái Pháp này nó lợi lộc vô cùng: đời lẫn đạo, các bạn luôn luôn giữ minh mẫn và không phải bị tiêu hao.
3 - Chữ ĐÀ :
Trong sám Pháp lý có câu :
“ĐÀ ấy sắc vàng trùm khắp cả”.
Sắc vàng trùm khắp cả là một thứ điển trong bản thể ta khi ta luyện đạo phát ra ánh sáng chói tung ra gọi là “aura”. Ánh sáng ấy gom chung quanh bộ đầu ta gọi là “auréole”. Lúc ta công phu, mắt đã nhắm kín mà vẫn thấy điển ấy có hào quang chói lọi. Nếu chúng ta cố gắng tu luyện lâu bền mà có hào quang hằng đêm, lo chi là không thành Phật.
(Ông Tám giảng:)
Trước kia các bạn chưa tu, các bạn nhắm mắt, tối hù; và thấy nó nặng trịch, và không muốn nhắm mắt, muốn mở mắt; vì sự lo âu của ngoại cảnh mà nó muốn mở mắt. Mà ngày nay các bạn tu rồi, các bạn thích nhắm mắt: cái đen, cái tối đó đó nó lớn rộng; lần lần; các bạn thích ngồi nhắm mắt, mà các bạn thấy ở trong phạm vi rộng, chớ không phải ở trong phạm vi hẹp. Soi Hồn đúng mức là thấy nó ở trong phạm vi rộng. Rồi từ đó nó tụ Tinh, Khí, Thần; phải giữ Tinh, Khí, Thần đầy đủ; mới có ánh sáng; nó rõ rệt! Hồi trước chúng ta, nghĩa là, chưa tu, kêu, “Ngồi nhắm mắt,” nó bắt mở mắt; nó sợ mất, sợ người ta phá, sợ người ta khinh, sợ người ta chửi mình, cứ mở mắt! Mà bây giờ, mình nhắm mắt là nhắm mắt; tự nhiên nó thấy ánh sáng.
Rồi những người mới tu mà Soi Hồn, trụ đươc rồi, dòm cái bóng đèn này, nhắm con mắt, thì thấy cái bóng đèn rõ ràng: thu hút liền, phóng ra liền, sáng trưng ngay lúc các bạn nhắm mắt! Nó khác hơn người thường! Rồi tương lai các bạn nhắm mắt thấy cái ánh sáng của Càn Khôn Vũ Trụ; đó mới là thật sáng! Còn cái sáng của mắt phàm này là gián tiếp, không phải trực tiếp. Ðó! Cho nên, chúng ta hiểu, "Mở mắt phàm, thấy gián tiếp; mất công!" Cho nên, nhiều người tu Pháp Lý nói, "Nhắm mắt cho rồi!” Ðể nó thấy cái trực tiếp.
Khi mà các bạn thấy được cái ánh sáng trực tiếp rồi, cái tâm các bạn nó thơ thới hằng ngày; nó sung sướng vô cùng; vui mà không biết vui cái gì; gia đình nói, "Thằng cha đó nó khùng rồi, mà sao nó vui?" Nó thấy, thấy chút sáng đó, nó sung sướng quá; nó bỏ hết, tất cả cái gì, nó bỏ hết; nó thấy cái tâm nó thơ thới; bởi vì ánh sáng thật, mà chính nó đã tìm lại, hồi sinh trong tâm thức của nó; nó mừng vô cùng! Cho nên, chúng ta người tu, tập trung Tinh, Khí, Thần, thì cái bộ đầu của các bạn phát quang; thiêng liêng nó dòm thấy cái đầu các bạn có hào quang; ông lên bà xuống thấy thích, thấy "Những vị này mới là người tu!" Cái đầu của nó phát quang không ngừng nghỉ, ở trên này tiến triển luôn luôn. Cái đó kêu bằng "Hào quang."
Cho nên, sự liên hệ không ngừng nghỉ, cái đường đi về nguồn cội là cái đường hút đi lên; cái đường tranh đấu là cái đường lôi cuốn xuống. Các bạn bây giờ giận hờn, gây lộn đó, các bạn thấy không? kéo xuống! Kỳ thị một ai, cũng kéo xuống; khinh thị một ai, các bạn cũng bị kéo xuống. Mà các bạn cứ hướng thượng đi lên, tự giải, ăn năn hối cải sám hối tâm của mình, thì nó chỉ mở đi lên mà thôi! Thì cái đó nó càng ngày càng dồi dào; gọi là gì? "Hào Quang."
Mà cái tâm của người phàm, những người làm phước, người ta hiền, người ta đâu có tu đâu? Người ta hiền, Anh tới xin gì, anh cần người ta giúp, "Anh cần gì?" người ta giúp; ai cần gì, người ta giúp. Người ta năn nỉ để người ta giúp nữa. Cái đó cũng là cái phước, là cái hào quang độ tha tại thế: cái tâm họ hiền vô cùng; cái gì họ cũng giúp; Anh cần cái gì là họ giúp; tự Anh phải cảm động. Cái đó, cũng là sức mạnh hướng thiện: thiện nghiệp. Những người mang được thiện nghiệp, họ chỉ làm những cái giúp đỡ người ta thôi; cái đó, họ cũng là hào quang xâm chiếm được tư tưởng của những người trần trược, và cởi mở cho những người trần trược. Còn người tu của chúng ta, khác! Thực hành, giải tỏa cái phần trược, mà lưu thanh, thì bộ đầu phải sáng quang! Ðó mới thật sự là hào quang.
Chữ PHẬT :
Trong sám Pháp lý có câu : “PHẬT hay thanh tịnh ở nơi mình”.
Ông Phật là người, xưa kia cũng ở dương trần như ta, nhưng có tâm tu luyện theo Pháp lý Vô Vi, do nơi 6 chữ “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” mới có đủ kinh quyền, hiểu khắp chư thiên. Người ấy truyền bá Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí để hoằng hóa chúng sanh gọi là Ông Phật.
Ông Phật có hào quang dị thường hơn người. Chữ Hán viết NHƠN ĐỨNG (亻) bằng chữ PHẤT (弗) . NHƠN ĐỨNG là người sanh sanh, hóa hóa tại thế gian, còn chữ PHẤT là gió điển lửa gọi là Hào quang. Người có hào quang gọi là PHẬT (佛), không chức tước.
Người học theo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật, tu luyện đúng mức thì trở nên thanh tịnh không còn bị Thập tam Ma khuấy nhiễu nữa.
(Ông Tám giảng:)
Là mười ba con ma nó khuấy nhiễu nữa.
Hoặc là được xuất hồn về cõi thanh tịnh bái yết Phật, nên mới nói là “Phật hay thanh tịnh ở nơi mình”.
(Ông Tám giảng:)
Cho nên, cái chữ "Phật", phải hiểu! Người thế gian, bước vào nói, "Tu Phật!" À. Thấy ông Phật, sợ; vì người ta đặt ông Phật ở trên bàn, thấy, ngó sợ quá! Lớn quá mà! Ông Phật lớn quá, thấy hết hồn! Hào quang bằng điện, mở đèn thấy hết hồn. Không có gì hết! Những cái đó là vật chất; nó thua tâm linh. Nhiều người không ý thức rõ ràng cái điều đó: vô thấy, sợ quá! Lạy ông Phật, mà sợ ông Phật. Mà biết ông Phật là từ bi, thương người, mà lại sợ ông Phật! Thì té ra, mình càng sợ thì mình ôm, mình giữ cái trược; không lưu thanh. Mình không sợ ông Phật, mình mới gần ông Phật, mình hướng về ông Phật; ông Phật thanh, thì ông Phật phải giải cho mình!
Cho nên, người đời họ ngược: họ đi chùa, tu hoài, họ sợ không à; họ không chịu tới với ông Phật; thành ra tu hoài không có gặp ông Thích Ca; chỉ gặp cái hình thôi, chớ không có gặp ông Thích Ca. Còn cái đám Vô Vi nó khác; nó phải hiểu nguyên lý của Phật: Thanh Khí Ðiển trên trời đưa xuống, xương sống đứng hấp thụ. Các bạn, phải thanh khí điển đang đưa xuống không? Xương sống đứng, đang hấp thụ không? Chữ này, chữ "Phất," là gió đó; thấy không? Nhẹ, vô danh mà! Một luồng điển Âm, và một luồng điển Dương; hít vô và thở ra. Mà người nào cũng chỉ hướng ngoại và không có trở về với căn bản mình; rồi làm sao biết Phật tâm Phật tánh ở chỗ nào? "Nhơn nhơn giai thành Phật" mà; ông Phật ổng nói ai cũng thành Phật, "Tụi bây là Phật" mà! Tại sao không chịu trở về? Ổng nói chúng ta, "Tụi bây là Phật," "Nhơn nhơn giai thành Phật" mà! Cũng hít vô, thở ra nè! Thanh điển ở trên xuống nè; xương sống đứng hấp thụ; phải không? Cái xác của mình nó phải đi một vòng cung vậy không? Rồi một cái hơi hít vô và một hơi thở ra; ông nào không có, mà bà nào lại không?
Chư Phật ở đâu? mà chư Phật không chịu về, trở về vị trí của chư Phật là thành gì? Thành con ma! Con ma động loạn, hướng ngoại, tranh chấp, tỵ hiềm, cống cao ngạo mạn, làm điều vô ích, không biết mình là ai. Khổ! Khổ rồi, ai nói cái gì cũng ôm hết; ôm thét, thành nghiệp! "Nữa mày lớn rồi, mày không lấy chồng, sau này già, rồi ai nuôi?" (Ðức Thầy cười) Sợ khổ quá, "Thôi, tôi cưới; gả đi!" Ðó. Ðẻ cho một đống! Không có phải "Ðể rồi con tôi nó nuôi tôi". Ðâu có đứa nào nuôi đâu. Bây giờ nó bỏ đi hết rồi; chết cũng ai chôn chớ nó đâu có chôn? Thấy không? Mấy ông thợ mả chôn, chớ nó đâu có chôn! "Con tôi không có chôn tôi". Nhưng mà cứ hy vọng, "Lớn, con chôn tôi." Không có! Toàn là đi chuyện sai lầm không à! Không biết cái chủ yếu, thành ra bị lạc; rồi mới lạc vô trong cái cảnh Luân Hồi. Cho nên, ở thế gian, người càng ngày càng đông, là bị lạc. Mà ai lạc? Chính mình lạc, thì mình phải chịu: mình muốn, là mình phải chịu à! Cho nên, nhiều cô, lấy chồng rồi cái đẻ con, "Tại Ông đó, tôi mới đẻ con!" Không phải! Rốt cuộc tại mình; tại mình muốn ổng á! mình đẻ, mình phải gánh; phải không? Rồi cái ông kia, đổ thừa, "Tại Bà đó; tại Bà liếc tôi; chớ Bà không liếc tôi, tôi đâu có theo Bà!" Nhưng mà theo, rồi bây giờ "Tôi phải đi cày; phải nuôi".
Nhưng mà cái cơ cấu của ông Trời rất hay, rất tinh vi: Ổng xây dựng cái dũng chí; Ổng thương, "Con có sai lầm, nhưng mà Cha cũng cho Con một cái khí giới để trở về với Cha". Khi mình gánh vác rồi mình mới thấy, "À, cái chuyện làm cha là quan trọng!" Rồi ta mới ra ta làm xã hội, rồi này kia, kia nọ! Làm ông cha, biết ông cha già phải chết, nhưng ông cha phải làm cái gì trước khi ông cha đi. Rồi ông cha phải tưởng tới ông Trời: còn một ông cha nữa; còn một cảnh đời đời bất diệt!
Cho nên, "Mình may mắn: mình nhảy xuống đống bùn; mình có vợ có con, như nhảy xuống một đống bùn! Mà bây giờ mình biết đạo, mình biết đường về rồi; không sợ nữa". Thấy không? Các bạn may mắn! Tôi cũng vậy; tôi là người may mắn trước. Chớ tôi, hồi trước tôi thấy là cô gái là thiên đàng; tôi thấy cô gái là hạnh phúc; cô gái là đời sống của tôi. Nhưng mà từ ngày tôi tu rồi, tôi thấy, "Không có!" Tôi thấy cô gái là khổ; nếu tôi quen một cô thì tôi thấy chia sớt một cái khổ cho cô đó."Tôi thấy mọi người đều khổ.
Bây giờ làm sao? Cương quyết tu, tôi mới tìm ra, khám phá ra cái chơn lý, sự sống trong lẽ sống mà chính mình phải tự tu. “Tu để giải thoát cho chính mình; không ai cứu mình được; chính mình là cái người tự cứu!” Cho nên, cái tu ngày hôm nay về với các bạn đây là quý lắm; quý vô cùng.
Trong lúc tôi đau khổ, tôi tìm đời và tôi không hiểu đời, tôi ôm hai chữ "Hạnh Phúc" tìm hoài chẳng ra hạnh phúc; rồi tôi muốn chết đi thôi, tôi mới ngộ được cái Pháp này. Các bạn đâu có phải đi tới tình trạng như tôi đâu? Mà được có cái Pháp này, rồi chúng ta bàn bạc sâu về cái chiều tiến hóa của Chư Phật, chúng ta lại có cơ hội sử dụng cái quyền năng sẵn có của chính mình là tha thứ và thương yêu.
Hồi trước kêu mình làm từ bi, mình nói, "Chỉ ông Phật mới làm được, chớ tôi sức mấy mà làm! Ông đừng có bày cái đó, có tội!" phải không? Bây giờ mình phải cần làm chuyện từ bi nhiều hơn: phải tha thứ và thương yêu mình mới thấy giá trị với chính mình; mình mới thật sự là quý yêu Trời, Phật; mà mình không bao giờ bỏ lời vàng của đức Phật lưu lại cho mình, lưu trữ trong tâm của chúng ta mãi mãi; quý Ngài, ôm lấy Ngài, và tiến như Ngài, thấy rõ chưa?
Cho nên, chúng ta may mắn hơn: cũng học đạo Phật, nhưng mà chúng ta may mắn hơn: được giải thích cặn kẽ, tận tình, thực tiễn trong tâm chúng ta, và thấy rõ quyền năng sẵn có của chính mình, và thực hành cho kỳ được; nay một chút, mai một chút, thì chúng ta trở về với vị trí, vì "Từ bi" không có khó khăn. Chớ đừng nói, "Từ bi, hai chữ đó là quan trọng!" "Từ bi" là hai chữ Nho mà thôi; còn chữ Việt Nam là "Thương yêu và tha thứ." Còn "Từ bi" là hai chữ Nho. (Thầy cười). Nhiều người nói, "Hai chữ 'Từ Bi' sợ lắm! ‘Từ bi’, chỉ có ông Phật mới có!" Không phải! Tha thứ và thương yêu là từ bi. Bạn bè mình chọc mình một chút mà mình giận người ta, đó là không có từ bi; thấy không? Tha thứ và thương yêu mới là từ bi.
Còn chữ “DI ĐÀ” là Phật DI ĐÀ thông hiểu 6 chữ (Nam Mô A Di Đà Phật) luyện đạo theo nghề chuyên môn của Ông, do nơi Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí. Khi Ngài thành Phật rồi, có lòng từ bi bác ái truyền bá Pháp lý Vô Vi cho người thế gian để tu làm Phật, do đó mới có cuốn Kinh A Di Đà để dạy chúng ta.
Ngài DI ĐÀ tuân theo lời PHẬT TỔ THÍCH CA MÂU NI truyền bá cho Ngài, để cho Ngài phải tiếp điển dạy lại chúng ta. Lúc chúng ta luyện đạo chính đính êm dịu, có lòng tưởng đến Ngài, thì Ngài khiến cho điển của chúng ta là linh hồn trực tiếp điển của Ngài truyền thanh. Khi xưa, lúc Ngài DI ĐÀ gần thành Phật, Ngài đắc lục huệ rồi, biết nghe và nói trên thiên không, lúc ấy Đức THÍCH CA nói đạo cho Ngài nghe, nhưng đồng thời hai Ngài cũng muốn cho công chúng được nghe nữa, nên mới ghi chú những lời Kinh Di Đà giữa đám đông đệ tử của đức Di Đà để lưu ký mà ngày nay chúng ta mới có cuốn KINH A DI ĐÀ.
Trong Kinh A DI ĐÀ nói: Tu luyện trong bản thể ta thì ta thành Phật cũng như Ngài. Môn đệ của đức DI ĐÀ nghe và chép ra theo lời nói của Ngài làm thành cuốn Kinh A DI ĐÀ, truyền bá từ đó đến nay cũng mấy ngàn năm.
(Ông Tám giảng:)
Cho nên, sự thành công của người đi trước và người kế tiếp, hai cái luồng điển truyền cảm nó hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ, thì luôn luôn muốn đưa tin lành đó cho các nơi, các giới, đồng hành để tiến tới sự giải thoát như Ðức Thích Ca và Ðức Di Ðà. Chúng ta cũng vậy: huynh đệ tỷ muội chúng ta có một cơ duyên may mắn là được hiểu tâm linh, hiểu phần hồn của chúng ta, hiểu đường lối mạch lạc để khai triển giải thoát. Thì chúng ta muốn gì đây? Muốn cho triệu triệu ức người được nghe và được hành như chúng ta, thì cộng đồng nó mới khai triển tốt đẹp, sự hiểu lầm mới được giải tỏa giữa loài người và loài người, sự đối đãi mới minh bạch.
Cho nên, người tu không bao giờ hẹp hòi; người tu mà thành đạt được, luôn luôn rộng rãi, không hẹp hòi; nhứt định cái tâm các bạn thực hành về Pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh rồi, tương lai cái tâm các bạn không bao giờ có thể bước vào trong chỗ hẹp hòi được. Khi các bạn muốn, "Ờ, giấu người này; tôi không muốn cho người biết những cái bí mật của tôi", thì cái đầu các bạn sáng liền! Vì sao? mình hướng thượng mà! Trung tâm tập mở hai cái đường kinh mạch này nó mở ra, nó liên hệ với Càn Khôn Vũ Trụ, mà giấu một cái, nó động; động một cái, nó sáng; sáng một cái, mình biết mình xấu rồi! Mình phải từ tốn nói lại cho người ta nghe.
Cho nên, sau này, các bạn giận vợ, giận con, giận trong gia đình, mới la lên cái, đầu sáng lên! Sợ quá! Thôi, năn nỉ, huề đi! Bề Trên người ta nhắc liền, "Cái người hiền không có làm những điều ác ôn!" Từ đó mình giải quyết trong một tíc tắc, chớ không phải đợi người khác nhắc mình, mình mới ăn năn. Không! Người tu Pháp Lý thấy sự sai lầm của chính mình tức khắc: sự hờn giận của mình, mình thấy liền, giải tỏa liền, trong giây phút; không phải như người thường, đợi gặp ông thầy, ông thầy mới chỉ! Không cần! Người nào mà thực tâm tu hành Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Ðịnh, là thấy sự sai lầm của mình tức khắc, không có để lâu.
.....
Đức Thầy: Nghỉ một chút. (cười). [36:00]
Hết video 19860101L2 - “Thuyết giảng Kinh-Phần 1”: 45:52 phút
tương ứng mp3 19860101L3 “Lời Thầy Trong Buổi Khai Mạc - Cuốn 1B” ngưng ở phút 36:00
Mp3 19860101L3 “Lời Thầy Trong Buổi Khai Mạc - Cuốn 1B” thiếu 2s từ phút 36:00 là câu tiếp nối câu “Nghỉ một chút”, “bị đàm nó lên”.
Để khớp với video, MP dùng bài chép của Mp3 19860101L3 “Lời Thầy Trong Buổi Khai Mạc - Cuốn 1B” tại phút 36:00 để copy bài chép của: [ID#19860101Q5] KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn 2A
Video 19860101L2 – “Vấn đạo (1)”
Bắt đầu video, Thầy nói: “… ở đây thì từ đây nói phải mở…” (có những đoạn chép không khớp với video)
Bắt đầu bài chép của [ID#19860101Q5]
KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn 2A
ĐT: Bởi vì nó nhiều cái lắm; bổ túc còn sự thắc mắc không? Muốn biết á, bổ túc luôn cho Sáu Chữ đó, cho nó xong một lần cho rồi. Hồi nẫy giờ nghe còn nhớ, hay là quên rồi, quên hết rồi? À, nhớ, nhớ chỗ nào, bây giờ nói nghe coi?
BĐ:…(nói nghe không rõ)
ĐT: Ừ, một luồng điển âm và một luồng điển dương nó lên nó tụ chỗ Bá Hội này này; thấy không? Cho nên hai bên, mình phải quy một: hai cái xuất điền nó tìm một giao điểm ngay trung tim này và trung tim này, thấy không? Nó mở ở đây, và nó mở ở đây; cho nên bắt mình nhắm mắt
Video bắt đầu từ đây, tương ứng với pm3 [ID#19860101Q5] phút 00:50
ở đây, rồi từ đây nó sẽ mở. Cái lửa có, thì cái cảnh nó mới có. Hiểu không? Hai cái xuất điểm nó tìm một giao điểm mà;bên tả, bên hữu mà; hai khối thần kinh; người ta nói, “Hai luồng, hai luồng,” nhưng mà nó hai khối thần kinh! Nó đi một sợi giây, hai cái âm, dương lên, nó hợp: tả, hữ quy một nó mới thành; nó liên kết với cái “Thiên xích,” cái khí trời.
BĐ:… ở chỗ nào thì mình không hiểu được. Còn 3 cái ngón tay chặn (không nghe rõ)
ĐT: Ừ;
BĐ: Hai luồng điển Âm, Dương không có liên hệ với cơ thể,
ĐT: Liên hệ với cơ thể chớ! Bởi vì hai cái luồng điển… cái cơ thể này là về vật chất, là để cho hai luồng điển nó di chuyển; luồng điển nó từ trong cái cơ thể này chớ! Rồi cho nên mình tu, khứ trược lưu thanh, khứ trược lưu thanh; nó xuất ra, nó mới thành một cái cơ thể như ở thế gian, mà nhỏ hơn.
BĐ: Nếu ai có hỏi hai luồng điển âm, dương đó nó ở chỗ nào trong cơ thể, thì mình không chỉ được; nhưng nói giải thích,
ĐT: Điển chớ! Người ta nói, giải thích về điển từ hồi nẫy giờ, không nghe! Về điển: điển trong cơ thể, có điển âm và điền dương, hai luồng thần kinh đó nó quy hội; thấy không? Hai luồng nó mới xuất phát đi lên trên! Chị nghe thấy rõ chỗ đó không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Điển mà!
BĐ: Dạ.
ĐT: Nẫy giờ nói về điển mà;
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái sức nóng ở bên trong đó!
BĐ: Dạ.
ĐT: À; để cho nó chuyển chạy trong cái khối thần kinh trong cơ thể! Ừ, cho nên do những cái điển đó người ta mới khám phá ra cái nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; cái chấn động; chấn động là điển; ờ, nó mới khám phá ra 6 cái luân xa đó!
BĐ:…(nói nghe không rõ)
ĐT: Ừ.
BĐ:… Nam Mô A Di Đà Phật…(nói nghe không rõ)
ĐT: Đó, đó là nó hội rồi đó: hai cái kinh mạch hội nhau rồi đó thì nó mới liên hệ, nó đi lên! Khi mà nó trụ rồi á, thì chỉ thấy ánh sáng thôi; không có sự nhịp nữa!
Mình còn yếu và mình còn dính dấp về tình dục thì nó vậy thôi.
Mà khi mà trụ rồi, nó không còn nữa; nó chỉ một bầu sáng suốt! Nhớ “Nam Mô A Di Đà Phật” thì dòm cái gì cũng nằm trong nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; cả càn khôn vũ trụ đều nằm trong nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; cây, cỏ đều nằm trong nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật”; mình mới thấy cái nguyên linh của vạn vật! Đó; mình trụ là mình mới thấy! Thấy không?
Còn nhiều người cứ còn nhịp nhịp, nhịp nhịp, nhịp nhịp như vậy là không có được! Bị yếu rồi; có hao phí; không có trụ!
Mình cố gắng, mình bớt lần lần, nó sẽ đi tới; nước miếng ngọt là rồi, nó trụ rồi đó!
BĐ: Lâu quá rồi con không có dịp đọc lại lịch sử của Đức Phật,
ĐT: Ừ?
BĐ: Nhưng mà có nhiều câu hỏi đã hỏi trong quá khứ, trong đó mới đây cũng có một vài người bạn hỏi, hình như những người bạn đó không có mặt ở đây.
ĐT: Ừ;
BĐ: Là họ nói là, nếu con không lầm, thì đằng chùa theo đằng lịch sử của đức Phật, thì Phật Di Đà có trước Phật Thích Ca?
ĐT: Ừ.
BĐ: Cho nên mới niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật.”
ĐT: Ừ.
BĐ: Rồi bây giờ mình giải thích cho họ biết là Phật Thích Ca có trước,
ĐT: Ừ.
BĐ: Giảng đạo cho Di Đà nghe.
ĐT: Ừ.
BĐ: Thì họ hỏi, “Tại sao không niệm, ‘Nam Mô Bổn SưThích Ca Mâu Ni Phật’?
ĐT: Ừ.
BĐ: Vấn đề kế nữa là, họ hỏi chớ, con nói là, “Nam Mô A Di Đà Phật” nó là cái nguyên lý chớ không phải tên của một vị Phật. Mà người theo bên Đạo Phật thì cho đó là tên của đức Di Đà, và có thờ đức Di Đà hẳn hòi;
ĐT: Ừ.
BĐ: Họ cho là đức Di Đà có trước đức Thích Ca.
ĐT: Ừ. Cho nên họ còn chưa hiểu: đức Thích Ca có trước, Ngài mới chứng cho Đức Di Đà hành đạo; cho nên, niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật” là hành đạo đó; hiểu không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn đức Thích Ca là chứng cho đức Di Đà.
BĐ: Dạ.
ĐT: À! Đó là họ, bây giờ họ là quen với ông chef, họ chơi với ông chef, không chơi với ông phó! (cười!) Họ không chơi với ông phó; ông phó là ông hành sự! Phải không?
BĐ: Dạ.
ĐT: À! Cũng như trong cái tổ chức cũng vậy: Ban Chấp Hành hành sự; thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Ông A Di Đà; đức Thích Ca nói cho ông A Di Đà nghe, ông A Di Đà hành sự;
BĐ: Dạ.
ĐT: … độ chúng sanh!
BĐ: Dạ.
ĐT: Họ không hiểu rồi họ đem gom cái quyền năng của đức Phật vô trong cái hình, mà thôi! Giới hạn!
BĐ: Dạ.
ĐT: Thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Có thờ ông Di Đà, là ông Di Đà lớn hơn hết!
BĐ: Dạ.
ĐT: Họ giới hạn cái quyền năng!
Còn ở đây mình đi về linh điển. Hai cái khác nhau:
BĐ: Dạ.
ĐT: Sống động. Còn một cái kia, đóng khung! Hai cái khác nhau.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên, cái đó phải qua một thời giải thích lâu lắm họ mới thức ra được. Họ chỉ dòm bề ngoài, họ bị tứ quan phỉnh họ là, “Ông Phật này mới thiệt, ông Phật kia không đúng!” Nhưng, hỏi chớ, “Ông nào làm ra ông Phật này?” Thì, “Ông thợ ổng làm ra ông Phật này.” Mà “Ông thợ ổng thấy ông Phật hồi nào?” “Chưa bao giờ thấy!” Hỏi, cái nào đúng? Ổng cũng chịu à!
BĐ: Dạ.
ĐT: Thấy chưa?
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn mình ở đây á, mình khai triển hai cái kinh kệ của mình trong nội tâm mình mở ra; rồi mình đi tới đảnh lễ Ngài và xác nhận Ngài, là vậy.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì cái nào chắc hơn? Thấy chưa?
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên, họ cứ ôm cái lý và họ bảo vệ cái lý, thì càng ngày nó nó càng ở trong chỗ eo hẹp và không có tiến triển được.
BĐ: Dạ
ĐT: Thành ra họ, những người hành về Pháp này, cái tâm trạng họ thế nào sau 6 tháng? Và những người hành về pháp bên kia, tâm trạng họ thế nào? Một người chấp, và một người phá chấp.
BĐ: Dạ
ĐT: Vì người này đã đi rồi, tự nhiên nó phá chấp. Còn người chấp kia mà trật khuôn khổ một chút, là không chịu!
BĐ: Dạ.
ĐT: Kêu bằng người chấp và người phá chấp.
BĐ: Dạ.
ĐT: Hai cái khác nhau! (cười).
BĐ: Dạ. Như vậy thì chữ Lục Tự, “Nam Mô A Di Đà Phật” nó là cái nguyên lý,
ĐT: Hành sự.
BĐ: Hành sự; dạ.
ĐT: Phật sự,
BĐ: Dạ
ĐT: Độ tha.
BĐ: Dạ. Còn cái, cũng …
ĐT: Cái hào quang là chánh.
BĐ: Dạ; mà nó cũng là cái tên của A Di Đà?
ĐT: Cái đó là cái chấn động, để mở.
BĐ: Dạ.
ĐT: Để mở cái đường đi;
BĐ: Dạ.
ĐT: Mà đi rồi là hào quang, chớ không có cái, “A Di Đà Phật” gì nữa hết đó!
BĐ: Dạ.
ĐT: Ở thế gian phải mượn,
BĐ: Dạ.
ĐT: Như họ mượn cái hình, họ nói đạo; họ mượn cuốn sách, họ gỉai chơn lý; hộ mượn cái micro, họ nói ra có âm thanh lớn rộng; Anh thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Mượn; thế gian là mượn! Còn ở trên kia là Chơn, Hành, Trụ; mà bất hoại! Hai cái khác nhau!
BĐ: Dạ.
BĐ:…(nói nghe không rõ) … “Nam Mô A Di Đà Phật” là phương tiện…
ĐT: Phương tiện; phương tiện để đi tới; phương tiện để đi tới, mà không có bị sai lạc! Đó là căn bản để tiến hoá đó!
BĐ:…(nói nghe không rõ)
ĐT: Ừ, cũng là tên.
BĐ:… (nghe không rõ)
ĐT: Đó; thì trùng vậy đó! Ừ, cũng như bây giờ Chị, Phạm Thị Tranh; người ta nói, “Chị Tranh” thôi chớ! Nhưng mà cắt nghĩa cái “Phạm Thị Tranh” nó lớn lắm á! Không biết cắt nghĩa thì thấy, “Phạm thị Tranh” thì “Chị Tranh,” chớ có cái gì đâu? (cười) Phải không? Rồi cắt nghĩa tới tâm tư của chị ấy, chị ấy giáng lâm xuống thế gian, “Phạm Thiên Đình giáng thế”; (cười) tôi cắt nghĩa cho nghe; phải không? Rồi, “Thị hoà tâm sự tự khen chê,” (Thầy và b/đ cười) À… “Tranh đua thế sự đều hư ảo”; phải không? (cười) “Có có, không không, phải thực hành.” Có gì đâu? Tui cắt nghĩa như vậy đó; “Phạm Thị Tranh,” tui cắt nghĩa như vậy đó; cũng được vậy!
Còn cắt nghĩa nữa nó còn rộng nữa; nó là vô cùng, chớ không phải “Phạm Thị Tranh” một chút vầy! Người ta nắm một chút lý này người ta nói hoài; thét rồi thằng này một chút à, thằng kia rồi mất, còn một chút nữa, thằng kia mất một chút; thằng này còn có một chút nữa, thành ra nó bỏ luôn! “Phạm thị Tranh” cũng mất luôn à! (cười)
Cũng như đức Di Đà cũng mất luôn! Qua tới Tây phương, đâu có ai biết ông A Di Đà là ông nào đâu? Đưa hình cho coi, nó nói “Một thằng cha đổ rác, chớ có gì đâu!” Phải không? Cũng mất luôn! Mà người hành đó, nó lại kính, luôn luôn ở trong tâm!
Cho nên, phải lấy cái thật; không lấy cái giả được; cái giả nó làm mất luôn! Phải không? Mấy ông Tây, mấy ông Úc này nó qua Đông Nam Á, “Mấy thằng cha đổ rác giống vậy, chớ gì?” Ờ, nó nói vậy đó; rồi làm sao? Bị nó thấy làm sao, nó nói vậy thôi.
Nhưng mà cái nguyên ý là sống động, bất diệt, lớn rộng vô cùng! Một cái cọng cỏ cũng có giá trị vô cùng; một hạt cát cũng có giá trị vô cùng! Mà chúng sanh chưa thức, mà thôi: đem cái hình này, khen cái hình nọ, bỏ cái hình kia; tạo kẹt cho chính mình mà không phát triển. Chớ kỳ thật là quý vô cùng: tên người nào đều có nhiệm vụ xuống thế gian hết, mà không biết; tới đó sẽ hay, chớ không biết!
BĐ:… Cho biết trước?…(nói nghe không rõ) (b/đ cười)
ĐT: Hả? Nếu cho biết trước, nó đâu có thèm làm! (b/đ cười) Chọc, nó đâu có giận! Cho nó biết trước, chọc nó, nó không giận, nó không làm!
BĐ:…(nói nghe không rõ) cái luồng điển nóng nó chạy lên tới đầu.
ĐT: Ừ.
BĐ: Mà một thời gian sau, khi mà cục sáng đó nó sáng tỏ lên rồi thì nó không còn nóng nữa;
ĐT: Ừ.
BĐ: Như vậy, nó không còn nóng nữa là tại vì hôm đó mình yếu sức mình không có thở đúng,
ĐT: Ừ.
BĐ: Hay là vì thở một thời gian, cái trình độ nó đi lên thì nó không còn nóng? Thầy cho con biết là,
ĐT: Cái nóng đó là chứng minh cho mấy người mới tu, mà thôi; còn cái người tu lâu, nó mát, chớ làm sao nóng?
BĐ: Dạ.
ĐT: Bởi vì nó hoà với thanh rồi, nó đâu còn nóng nữa?
BĐ: Dạ.
ĐT: Hoà với thanh nó xuất ra, nó quen rồi! Còn hồi mới xuất ra là cái nhẹ với cái nặng, hai cái nó nghịch lại, nó nóng;
BĐ: Dạ.
ĐT: Cọ sát mới nóng; còn nó hoà rồi, nó không có nóng nữa; hết rồi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nó mát! Nhưng mà người khác rờ thì cảm thấy nóng nóng; nhưng mà chính nó, nó không thấy nóng; nó quen rồi.
BĐ: Dạ. Cái hơi Pháp Luân Thường Chuyển của mình đó, mỗi khi mình thở, có hôm thì nó thật nóng,
ĐT: Ừ.
BĐ: Mà có hôm thì nó thật lạnh. Thành ra như vậy là cái sự nóng, lạnh đó là tuỳ theo cái,
ĐT: Cái thực phẩm ở trong nội tạng.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhiều khi ăn nhiều nó cũng có cảm thấy nóng vậy. Nhưng mà làm Pháp Luân một hồi rồi, nó hoà tan hết rồi, nó là lạnh; lạnh cũng như máy lạnh, mát, chớ không phải lạnh; không phải lạnh, mát chớ không phải lạnh.
BĐ: Dạ. Cái cảm giác mà luồng điển nó đụng lên trên tới Nê Hoàn Cung đó,
ĐT: Ừ.
BĐ: Khi mà mình ép thật sát vô đó,
ĐT: Ừ.
BĐ: Thì mình nghe nó đụng một cái “kịch” ở trên đó.
ĐT: Ừ.
BĐ: Như vậy là vì mình thở nó quá rung chuyển nó như vậy, hay là mình làm trật?
ĐT: Không phải! Khi mà nghe đụng đó, là Chị thấy đương đi lên nhưng mà nó đã đang đi ra!
BĐ: Dạ.
ĐT: Nó đã đang đi ra, nó chưa đủ lực lượng, ở trên kia nó hồi lại, nó nghịch một cái; mình đụng cái kịch, là mình thấy cái điển mình hồi lại.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nó mới kêu một cái kịch; nó lắc một cái.
BĐ: Dạ.
ĐT: Là nó hồi lại.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn yếu.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mà sau này nó mạnh rồi á, không phải hít nữa: ý nghĩ là nó đi thông suốt tuốt luốt à; cái ý nghĩ!
BĐ: Khi mà nó mạnh rồi là cái hơi ra, vô nó thật nhẹ;
ĐT: Ừ, nó nhẹ; mà cái ý nghĩ là nó đi thông suốt; nó không có bị nghịch nữa! Mà chừng nào Chị cho nó nghịch, nó mới nghịch: cắt nghẽn một cái là nó nghịch à! Như tui, bây giờ tui để cho thông suốt; rồi bây giờ tôi cắt nó một cái, là nó nghịch à! Giựt mạnh lắm! Để rồi tôi cắt thử coi. (Thầy giựt hai lần) Đó, rung hết à! Đạp một cái, chặng một cái; ở trên mình đạp một cái là rung hết cả cơ tạng.
BĐ: Như vậy là cái trình độ…(nói nghe không rõ)
ĐT: Mình điều khiển nó được! Mình điều khiển, mình đi, về, được; rõ rệt vậy. Mà nó ê cả cái đầu à, chớ không phải làm hai cái đó rồi là khoẻ đâu! Ê lắm, nặng cái đầu lắm! (cười) Nó rời trở lại mà!
BĐ:…(nói nghe không rõ)
ĐT: Làm sao mà thở mệt? Nó thông, nó đâu có mệt? Nó thông nó càng ngày càng mạnh. Cho nên, đây rồi sẽ kiểm soát cái Pháp Luân của mấy vị hết.
ĐT: Rồi, anh này hỏi; đưa tay lên hỏi?
BĐ: Dạ thưa Thầy, con tập theo cái lối hít thở, thì nó có cái hiện tượng như thế này: nó nổ từ ngang cổ nó nổ lên, lốp bốp, lốp bốp như,
ĐT: Ừ.
BĐ: Ở trong đầu thấy nó như pháo hoa,
ĐT: Ừ, ừ.
BĐ: Thì con không biết nó đi vậy nó đi tới đâu, Thầy?
ĐT: Ừ; cái đó tốt;
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái đó tốt. Anh cứ việc trụ ở đây, há, cho nó nổ nữa, nổ nữa. Nó giải cái trược khí ở trong gan Anh nó ra luôn; thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Rồi sau này nó có chẩy nước mắt Anh cũng thây kệ, cứ làm cho nó ra hết đi; lọc hết cho cái hoả Can, thì con người nó thấy rằng dễ hoà lắm; nó hết nóng. Cái đó hay lắm, cái đó quý lắm; cứ việc làm tới đi; cái hoả hầu nó đương xông lên; tông nó ra!
BĐ: Con hỏi một câu thứ hai nữa: Mỗi người có một cách tu, mà ngày hôm nay con đối diện với Thầy, con muốn xin Thầy một cái ý kiến,
ĐT: Ừ.
BĐ: Đối với cá nhân con.
ĐT: Ừ.
BĐ: Để làm như thế nào, để hành hồi như thế nào, ungm cân với con đường tu học?
ĐT: Thì con đường mà tui đang giảng này,
BĐ: Dạ.
ĐT: Là cái nguyên ý đầu tiên phải thực hành cho đúng như vậy. Và cái Pháp ở đằng này là không phải là mỗi ngừơi riêng không hành được: trình độ nào cũng sẽ phát triển theo trình độ đó. Chớ không phải nói, “Người này cao đi hành này không được”; cũng được! Mà người thấp, hành cũng được. Nhưng mà trong đó nó thanh lọc tuỳ theo cái trình độ tu nhiều kiếp, hay là mới tu.
Cho nên trình độ nào cũng có thể xử dụng cái pháp này để thanh lọc, và nó tiến hoá. Luôn luôn thích hợp; chớ không phải chọn cho người này, bỏ cho người kia. Không! Cái này, cho nên phổ biến cho đại chúng: trình độ nào tu cũng được, nhưng mà nó sẽ tiến về trình độ căn bản của nó trước, rồi nó mới đi lên.
BĐ: Thưa Thầy, như vậy thì mỗi người thực hiện một cái phương cách riêng…(nói nghe không rõ) mặc dù nó có cái căn bản…(nghe không rõ)
ĐT: Nhưng mà thực hành cái pháp này rồi, nó phải trở về cái nguyên căn của Anh. Cũng như nguyên căn của Anh thuộc về Tiên giới thì Anh trở về Tiên giới, rồi Anh mới đi về Phật giới. À. Còn Anh về nguyên căn của Thần lực, nó phải đi về Thần lực, nó mới trở về với Tiên giới.
Mà ung cái pháp này để khử trược lưu thanh thì Anh có một cái cơ hội tiến, thức, và nắm vững để mà đi. Cũng như Anh là chuyên môn về Comptable thì Anh phải trở về Comptable rồi Anh mới đi lên làm giám đốc; ví dụ vậy.
BĐ: Dạ thưa Thầy,
ĐT: Ừ.
BĐ: Ý con nói là: mình có quyền thích ứng, có nghĩa là mình thay đổi một chút về phương pháp sao để thực hành?
ĐT: Không thay đổi được! Bởi vì cái pháp này là cái phương pháp để khử trược lưu thanh. Còn về cái tâm linh của Anh đó, thì Anh sẽ nhận định trong phần sáng suốt của Anh mà để Anh tiến theo trình độ của A nh. Anh hiểu không? Anh nghe kịp cái này không?
BĐ: Nó chỉ, chỉ có một pháp thôi? Mình không thể biến chế với nó …(nói nghe không rõ)
ĐT: Biến chế không được. Anh biến chế là Anh bị sai, đi xuống rồi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Biến chế không được. Cái phương pháp này là chỉ thanh lọc; bởi vì Anh có cơ tạng như mọi người; Anh hiểu không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Không có biến chế cái gì hơn được hết; nhưng mà Anh chỉ thanh lọc, khử trược lưu thanh, là Anh trở về vị trí của Anh; rồi từ vị trí của Anh, đi nhanh lắm.
BĐ: Dạ.
ĐT: Tới lúc đó là nó tuỳ theo cái công chuyện của Anh mà làm việc.
BĐ: Dạ, xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Dạ. Đó là theo nguyên ý của Anh rồi.
BĐ: Dạ kính thưa Thầy, chúng con nẫy giờ nghe Thầy bàn, cũng như Thầy dậy, cũng như là chị Tranh nói đó, thì trong trường hợp nào mà chúng con có thể cảm nhận được cái luồng điển của tụi con đi lên?
ĐT: Ừ.
BĐ: Có thể cảm nhận được không?
ĐT: Cảm nhận được chớ! Như chị ấy, là chị ấy cảm nhận là nó đi lên đó!
BĐ: Dạ, cái phần điển mà đi phát xuất đi lên như vậy,
ĐT: Đi phát xuất đi lên, chị ấy phát xuất đi lên, chị ấy cảm nhận được đó. Một thời gian mà nó hết giật rồi đó, chị ấy thấy chị ấy bước qua một từng nữa rồi; hết giật rồi! Không có hồi trở lộn lại là chị ấy biết chị ấy bước lên một từng nữa rồi; và cứ đó mà đi tới mãi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nó nhiều từng, chớ không phải một từng.
BĐ: Còn cái phần điển này mà xuất phát đi lên đó,
ĐT: Ờ,
BĐ: Có phải là phần hồn đi không, hay là chỉ là phần Điển đơn thuần thôi?
ĐT: Không; phần hồn đi đó; phần hồn đi! Nhưng mà nó chưa, chưa minh thì nó không thấy thôi; chớ nó đang đi.
Cho nên, người tu của Vô Vi một thời gian lâu thấy, “A, tôi đứng tuốt ở trên kia tôi dòm xuống; mà tui đã đi bao nhiêu năm rồi, tui mới tới đến đây!” Tới lúc đó người ta biết, “Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời.” Lúc đó Anh thấy đứng tuốt trên kia rồi; nhưng mà mình đã đi mỗi đêm, mỗi đêm, mỗi đêm mỗi đi, đi. Mà mình chỉ có lo đi thôi.
Và những cái duyên tiền kiếp của mình đã thanh lọc xong rồi, thì mình không cần thấy những cái đó nữa. Những người hiếu kỳ á, nó phải thấy; hiếu kỳ á, “Tôi xuất ra, tui đi nhà ung lấy tiền”; hay, “Tui xuất ra tui đi đâu, đi đâu”; nó cho đi thấy cảnh này, cảnh nọ; xẹt qua, rồi mất luôn. Là độ, cho tiến!
Còn cái này, mình cứ việc lo, cặm cụi, mình cứ lấy cái tâm quyết chí mình tu, đi tới đó là ngộ rồi. Cho nên, “Tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời.” Thấy hết, mà đến tuốt xa, chớ không phải gần. Tới lúc mình thấy là thấy bản thể, thấy tất cả; thấy càn khôn vũ trụ; muốn đâu tới đó! Nó khác rồi.
Cho nên, nhiều người tu, đừng có chán! Coi thử có trì kỳ chí không? Nhiều người nói, “Ôi chu choa, tôi tu tới bây giờ tui không thấy!” Mà trong này nó tiến rõ ung, mà không thấy! Hồi trước, nói chuyện thì gây; bây giờ nói đâu mở đó! Đó, nó đang tiến rồi! Rồi mình thấy mình chấp, mình thấy mình mê; mình thấy rõ cái tánh hư tật xấu của mình; mình thấy mình tiến rồi! Mà nhiều người còn nói, “Tui chưa, tui chưa thấy cảnh; tui không chịu!” Nhưng mà cái đó là cái cảnh mình đã thấy rồi, và mình đã tự sửa rồi. À, hồi trước cái nhà mình sắp cái bàn như vầy, mà bây giờ mình tu nhẹ rồi, ra, “Tui không chịu, tui đổi cái bàn như vầy; tui đã thay đổi rồi, đổi cái hướng ungm thích hợp cái tình trạng của tôi.“ Còn, hồi nào tới giờ Anh đâu có làm décorateur, mà Anh làm được! Tới lúc mà nó trụ rồi, nó thấy cảnh khác rồi, không có giống như bây giờ. Cho nên, cái Vô Vi nó phát triển vô cùng; và có người từ hồi nào tới gìơ không biết thầy bói, không biết gì, nhưng mà sau này nói đâu, trúng đó hết. Có hết!
Cho nên, nó phát triển dữ lắm. Nó tuỳ theo cái trình độ, mà tuỳ theo cái tâm hướng của hành giả. Cho nên, ngày hôm nay tôi mới chỉ về cái Kinh A Di Đà để mọi người hướng đúng đích hơn, và đi về đảnh lễ Phật mau chóng hơn.
Chớ nhiều người hay hướng ngoại nhiều lắm: hướng về khối này, hướng về khối kia, hướng về khối nọ; và không có tự chủ. Thành ra cái Điển mình cứ thấy bữa nay gom được, mai mình phân phát hết; nó không còn! Mình gom, gom luôn, để đi lên! Một long, một dạ, để mình đi. Rồi mình sẽ cứu tất cả ở tương lai.
BĐ: Xin cảm ơn Thầy.
BĐ:Nam Mô A Di Đà Phật!
ĐT: Ừ,
BĐ: Cho con hỏi;
ĐT: Ừ,
BĐ: Con xin trở về cái vấn đề nguyên lý của “Nam Mô A Di Đà Phật,”
ĐT: Ừ,
BĐ: Là, như Thầy nói là Đức Phật Thích Ca có trước,
ĐT: Ừ,
BĐ: Ngài Di Đà;
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì như vậy thì ngài Thích Ca vẫn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mà thành Phật;
ĐT: Ừ,
BĐ:Và điều thứ ungm, con thường nghe Thầy nói về vấn đề Thượng Đề.
ĐT: Ừ,
BĐ: Như vậy “Nam Mô A Di Đà Phật,” cái nguyên lý đó với Thượng Đế, là một, hay là hai? Xin Thầy cho rõ.
ĐT: Bởi vì ngôi Thượng Đế là bao trùm đời, đạo một khối. Còn Phật á, là tu về đạo không à. Phải hiểu chỗ này.
Cho nên, Thượng Đế vẫn là cha của ông Phật, chớ không phải con của ông Phât đâu. Cho nên, nhiều người tu ông Phật rồi cái quên ông Thượng Đế! Ông kia ổng lo cả hai khối, đời, đạo; ông Thượng Đế ổng làm việc nhiều hơn ông Phật; và ổng có trách nhiệm nhiều hơn ông Phật.
Còn ông Phật là, cũng như bây giờ mình đi học Tú Tài rồi mình đi vô Đại Học: mình phải thanh lọc, trở về với căn bản thanh tịnh.
Rồi lúc đó mà Thượng Đế cần ung, thì mình cũng phải giúp, đi làm việc; nhưng mà mình có quyền sống riêng, không phải như công chức. Còn mấy ông Thần, ông Thánh là phải lệ thuộc tới Thượng Đế; và quyền của Thượng Đế sử dụng những vị đó. Còn Đức Phật thì Thượng Đế cũng có cho, và theo sự phát tâm của vị Phật nào thì Thượng Đế sẽ nhờ vị đó làm việc.
Thành ra, hai khối cũng là một, chớ không có xa cách. Ở trong cái cộng đồng của cả Càn Khôn Vũ Trụ, ông Thượng Đế cưng nhứt là ông Phật: con cưng của Thượng Đế.
BĐ: Kính thưa Thầy, cái điểm này thì con hiểu như thế này,
ĐT: Ừ;
BĐ: Con xin trình lại Thầy.
ĐT: Ừ.
BĐ: Theo, căn cứ theo “Thượng Đế giảng Chơn Lý” đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì đức Phật A Di Đà là thể trí,
ĐT: Ừ,
BĐ: Của càn khôn vũ trụ;
ĐT: Ừ.
BĐ: Tức nhiên là cái Phật A Di Đà này là có từ thuở đời đời,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì, theo con nghĩ,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì trong chúng con cũng có Phật A Di Đà trong đó,
ĐT: Có hết;
BĐ: Thì ung bạc từ thời này qua thời kia,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì cái Phật Di Đà đã có vốn sẵn từ cái khối vô cực vô biên rồi,
ĐT: Ừ,
BĐ: Nhưng cũng ung bạc với các Tiểu Hồn,
ĐT: Ừ,
BĐ: Để tiến hoá;
ĐT: Ừ,
BĐ: Còn Đức Thích Ca chỉ là một cái phần tiến hoá, trụ vào một cái cụ thể đặc thù nào đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Trong một giai đoạn nào đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Dạ; thành ra đức Phật Thích Ca cũng có thể niệm,
ĐT: Ừ,
BĐ: Danh A Di Đà Phật, mà thành Phật được.
ĐT: Ừ.
BĐ: Mà Đức Phật Thích Ca cũng có thể dậy các Phật A Di Đà khác,
ĐT: Ừ.
BĐ: Để mà thành Phật tiếp theo;
ĐT: Ừ,
BĐ: Bởi vì cái điển của đức Phật A Di Đà nó ung bạc,
ĐT: Ừ,
BĐ: Nó đời đời,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà không có trụ vào một nơi nào cụ thể.
ĐT: Ừ. Thì hồi ông Đức Thích Ca mà tu giữa rừng đó, là ổng thực hiện cái gì? Ổng thực hiện trong cái nguyên ý “Nam Mô A Di Đà Phật”;chớ thực hiện cái gì? Ổng đâu có ăn uống gì; thấy không? Cho nên, từ đó mà mới khám phá ra Lục Thông; hiểu không? Cũng nằm trong cái nguyên ý của, “Nam Mô A Di Đà Phật” thôi; tất cả nằm ở trong đó hết đó rồi!
Cho nên Đức Thích Ca, trong cái lúc truyền pháp là đức Thích Ca là Phật Tổ, chứng cho đức Thích Ca làm việc đó. Mỗi người có nhiệm vụ; mỗi người có nhiệm vụ hết à. Không phải là đức Thích Ca là lớn hơn hết; đối với giới Phật không phải lớn đâu. Ở thế gian họ hay nói,“Ông này lớn!” Ông nào cũng vậy thôi; nhưng mà mỗi ông một nhiệm vụ, mỗi ông một nhiệm vụ. Ông Di Đà ổng làm việc có hiệu lực,hành sự mà; cả Càn Khôn Vũ Trụ, chớ đâu phải ít đâu; hành sự; lớn lắm.
BĐ: Cảm ơn Thầy.
ĐT: Ừ,
BĐ: Con xin đảnh lễ Thầy.
ĐT: Ừ,
BĐ: Kính thưa Thầy, những câu hỏi con đặt ra là một phần là của một số bạn đạo của con đã đặt mà con không thể trả lời được,
ĐT: Ừ,
BĐ: Như Thầy đã nói, khi mà những luồng điển đã thông và đã chứng đắc, đã đạt Lục Thông, thì có thể kiểm soát được Ngũ Hành;
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì kính thưa Thầy, ungm tự hỏi, nếu mà đã kiểm soát được Ngũ Hành và biết là cái ung là giả tạm rồi, thì qua ung xác của Thầy vẫn còn ung thuốc,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà sao không quân bình ở trong người, thì tất cả mọi bịnh tật,
ĐT: Ừ,
BĐ: Sẽ không còn,
ĐT: Ừ,
BĐ: Để mà khỏi phải ung thuốc? Đó là câu hỏi thứ nhứt.
ĐT: Ừ, cho nên tôi còn phải làm việc rất nhiều, và tui sống ở trong cảnh đời, đạo; và trong Y Lý đó, tui nghiên cứu cho mọi người kế tiếp. Chớ kỳ thật, nói thiệt, ung thuốc, không ung thuốc của tôi, tôi chỉ ăn có một chút một ngày thôi, tôi không cần ăn cơm ba buổi; nhưng mà tui phải làm việc nhiều: đời, đạo, hai cái một lượt; thì Bề Trên cho tui. Chớ trước kia tui ở Việt Nam tui đâu có ăn ban đêm! Nếu tôi mà là người ung thuốc mỗi ngày thì trong trại cải tạo tui đã chết mất rồi!
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh thấy không? Nó đâu có cho tui viên thuốc nào tui ung đâu?
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhưng mà tui chỉ ăn cơm với nước sôi thôi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhưng bây giờ tui ăn cơm với nước sôi, mấy người chịu không? Chắc là không chịu! Thì tui phải, từ cái đời tui phải cứu người ta ra.
BĐ: Dạ.
ĐT: Rồi một số ungm cũng bắt đầu, tu nhẹ rồi họ cũng ăn cơm với một chút nước sôi; bỏ hết.
BĐ: Dạ.
ĐT: Họ tự thanh lọc. Một kỳ của họ là một tháng hay hai tháng; mà họ không cho người ta biết họ đạt được.
BĐ: Dạ, con cảm ơn Thầy câu hỏi thứ nhứt. Và đến kế tiếp là câu hỏi thứ hai.
ĐT: Ừ,
BĐ: Kính thưa Thầy, những vị mà được chúng sinh ngưỡng mộ và tôn thờ, chẳng hạn như Đức Phật Thích Ca, Đức Phật A Di Đà, Đức Chúa GiêSu,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì qua những sự giáng thế của các vị đó đều có một cái nét đặc thù,
ĐT: Ừ,
BĐ: Giả dụ như đức Phật Thích Ca xuống trần qua ngôi Hoàng Tử,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà theo những kinh sách của nhà Phật để lại là khi đức Phật xuống thế,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì tay chỉ lên trời và tay chỉ xuống đất,
ĐT: Ừ,
BĐ: Và chỉ, “Thiên thượng Thiên hạ di ngã độc tôn!”
ĐT: Ừ,
BĐ: Và Ngài bước đi trên những bước đoá hoa nở như là những cánh sen; thì,
ĐT: Ừ,
BĐ: Hoặc là đức chúa GiêSu xuống trần qua những báo hiệu của những thánh linh,
ĐT: Ừ,
BĐ: Và những tiếng ca ở trên trời vang rền,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì, kính thưa Thầy, đó có phải chăng là những huyền thoại, hay đó là một sự thực?
ĐT: Cái đó là hồi xưa cõi Trời còn thanh sạch, dễ thể hiện lắm; cái chuyện đó dễ thể hiện. Bây giờ cái bầu trời nó đã ô trược. Cho nên, các bạn thấy: những người tu về Vô Vi mà lên thanh lọc đã được thanh nhẹ rồi, thì các bạn thấy cái cảnh đó đâu có khó ung! Cảnh đó là nó thể hiện, các bạn muốn là các bạn thấy rồi, đọc lại như không; bởi vì mình đã thoát cái trần tục lôi cuốn; nó thanh nhẹ. Nhưng mà bây giờ bầu trời nó ô nhiễm, những vị đó xuống cũng làm phép, mà làm phép cho những người, như tui thấy những vị đó làm phép ở Việt Nam rất nhiều, nhưng mà đâu có ai viết thơ ra nói đâu! Chư Tiên xuống trong ung đất Viêt Nam làm biết bao nhiêu chuyện, mà tui đâu có nhận được cái thơ nào nói, “À, ông Tiên này xuống”? Tui, để tui nghe thử coi có ai nói đâu? Không có! Vì mắt phàm không có thấy! Thiếu thanh sạch, không có thấy; rồi chỉ chờ mong những cái quyền phép, những cái này kia, kia nọ.
Nhưng mà cái đó là cái lỗ thời rồi! Đã chờ đợi Mấy ngàn năm rồi, chờ đợi Jésus Christ trở lại, chờ đợi Thích Ca trở lại! Mà Thích Ca trong long chúng sanh, mà không ai thấy; Jésus Christ ở trong long tất cả chúng sanh, mà không ai thấy! Đức Di Đà ở trong ung tất cả chúng sanh, mà không ai thực hành!
Cho nên, chúng ta là người thực hành, và chúng ta sẽ khám phá sự huyền diệu đó!
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên, cái đời mới, kỳ Hạ Ngươn này mới có cái Pháp này! Để cho các bạn có cơ hội khám phá ra!
BĐ: Dạ.
ĐT: Thực hành để mình khám phá! Chớ không có phải khi thấy mà đi khoe khoang! Không có ai tin Anh đâu! Nói, “Tui thấy ông Jésus Christ xuống rồi”; đâu có ai tin! “Thằng này khùng!” Nhưng mà Anh thấy! Rồi người khác hành, mới thấy; người nọ hành, thấy Thượng Đế; người này hành, thấy chư Tiên! Té ra Cộng Đồng Long Hoa có! Thấy chưa? Mà không hành thì không có!
Cho nên, không nên ung mắt phàm mà chờ đợi, vì mắt chúng ta sẽ đui, sẽ già, sẽ yếu; và tự gạt lấy mình, mà thôi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên, bây giờ có Pháp Lý để hỗ trợ các bạn đào sâu tâm thức các bạn, để nhận rõ bi, trí, ung ở đâu; tại sao có? Rồi, cái quyền năng tự chủ của chúng sanh ở chỗ nào; chớ cứ giành nhau làm người, để làm gì? Cầu nguyện, lúc ta làm con thú, cầu nguyện, “Chết đi muôn kiếp, hy sinh 5 kiếp được làm người, tui cũng chịu!” Làm người rồi làm cái gì đây? Thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên, chúng ta tu cái này chúng ta sẽ khám phá tất cả toàn diện, và sẽ thức tâm, thấy chư Phật là bình đẳng và không có đề cao, không có đề cao, và không có đi tới!
BĐ: Dạ.
ĐT: Dẹp cái sự đề cao và đi tới; và dẹp cái sự, kêu bằng, mê muội huyền hoặc và đặt lý này lý nọ, rốt cuộc không có rớ tới đâu hết thẩy.
Chớ cái luật hoá hoá, sanh sanh trật tự không ngừng nghỉ, chúng ta đã thấy rồi: con thú thành con người rồi; con người thành Tiên, Phật, [33:14]
Hết video 19860101L2 – “Vấn đạo (1)” tương ứng phút dừng 33:14 của ID=19860101Q5 – “Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Vấn Đạo – Cuốn 2A”
có rồi. Bây giờ chúng ta ở đây làm cái gì đây? Chờ mấy ổng tới dẫn chúng ta hả? Không! Chúng ta phải hành để tiến tới; thì nó đúng hơn. Thấy con đường nào đúng thì chúng ta chọn.
Còn nói là, “Tui ngồi đây tui chờ ông Jésus Christ xuống”; hay “Tui chờ ông Phật xuống”; hay, “Tui chờ phép lạ”; [33:31]
Bắt đầu video ID=19860101L2 – “Vấn đạo (2)” – Video này thiếu từ phút 33:14 đến 33:31 so với Mp3 ID=19860101Q5 – “Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Vấn Đạo – Cuốn 2A”
thì chắc chắn là các bạn không chờ được!
BĐ: Dạ.
ĐT: Tui giám ký contrat! Không có cái cơ hội đó.
BĐ: Dạ. Con thành thật cảm ơn Thầy câu hỏi thứ hai;
ĐT: Ừ,
BĐ: Và kế tiếp là câu hỏi thứ ba.
ĐT: Ừ,
BĐ: Chúng con đã biết rõ, muốn trở về nguồn cội thì tự mình phải bước đi.
ĐT: Ừ,
BĐ: Vì đó là luật công bình
ĐT: Ừ,
BĐ: Tiến hoá.
ĐT: Ừ,
BĐ: Nếu bất cứ một sự hộ độ nào, chỉ trong giai đoạn nhứt thời để khuyến khích chúng sinh hé tâm để mở đường về với đạo, thì được;
ĐT: Ừ,
BĐ: Chớ còn nếu ông Phật, hoặc Chúa kéo á, thì mất sự công bằng,
ĐT: Chớ sao!
BĐ: Con biết như vậy. Nhưng con cũng hỏi thêm một phần là, kính thưa Thầy, Thầy xuống thế qua sự chuyển xác như có một lúc Thầy đã …
ĐT: Ừ,
BĐ: Nói chuyện cùng các bạn đạo ở Nam Úc,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì con đã thấy rằng Thầy xuống, Thầy thành đạo; nhưng mà cái sự xuống thế của Thầy cũng khác người thường,
ĐT: Ừ,
BĐ:Thì có phải chăng trong cái lúc cấp thời này, những vị xuống trần mà để cứu độ chúng sinh, là đã có ước nguyện từ trước? Và những cái, Thầy xuống Thầy hướng dẫn qua cái Pháp Lý Vô Vi; chớ còn là Thầy, có nghĩa là, nguyện độ chúng sinh là từ các vị Tiên từ trên đó xuống, thành ra Thầy, hay là những chư Phật kia, là đã đắc ở cõi Thiên Đình? Đó, do đó thì con rút ngắn câu hỏi lại là: Thầy đã đắc, và vì thương chúng sinh mà xuống độ, thành ra do đó cái sự tập của Thầy, 6 tháng đã xuất hồn, khác chúng con? Chúng con thưa Thầy rằng, Thầy đạt được, chúng con sẽ đạt được; đây không phải là một lời khoan ngôn.
ĐT: Ừ,
BĐ: Nhưng mà đó là con nguyện để cố gắng đi.
ĐT: Ừ,
BĐ: Đi theo Thầy. Thưa Thầy, anh em chúng con ở bên Nam Úc nghĩ rằng Thầy là Đại La Kim Tiên. Con biết rằng cái lối suy luận này không nên, nhưng mà vì qua những ấn chứng thấy Thầy luôn luôn mặc đồ trắng, và hướng độ anh em bên đó, thì, kính thưa Thầy, cái điều này Thầy có thể trả lời; chúng con không vọng ngoại, chúng con không ỷ lại.
ĐT: Ừ,
BĐ: Nhưng mà cái đó có phải sự thật, hay không?
ĐT: Luôn luôn các bạn tu về Vô Vi mà các bạn có nhiệm vụ, thì phải bận đồ trắng hết, chớ không có bận đồ mầu sắc. Ai cũng vây; Ông Tư cũng bận đồ trắng. Ở thế gian đặt tới cái chữ “Tiên” là nó quan trọng lắm? Tiên là trầy da tróc vẩy mới được lên tới chỗ đó! (cười) Có cái gì quan trọng đâu! Tu đi, rồi nó đến; Anh thấy không? (cười)
Anh thấy tui xuống thế khác hơn Anh; nhưng mà tui thấy cũng vậy à! Bị nhiều kiếp rồi; chúng ta đã tu nhiều kiếp, nhiều kiếp, nhiều kiếp; cứ luôn hồi, luân hồi, luân hồi! Mà cái đại nguyện của chúng ta chưa hoàn tất, chúng ta phải làm người! Cái đại nguyện của tôi cũng chưa hoàn tất, cho nên ngày nay tôi mới dẫn độ chúng sanh.
Cho nên, hôm mấy tháng trước, tui thấy tui lên thấy 5000 lẻ bao nhiêu năm đó; tui nói, “Té ra mình 5000 lẻ mấy năm! Té ra mình tu ít quá!” Ở thế gian người ta nghe 5000 mấy năm là nhiều lắm; tui thấy ít quá, bởi vì, “Bẩy ức niên mới thành cái thể xác này, mà tu có 5004năm, còn bao nhiêu năm đi chơi không à? Còn yếu! Chưa được! Phải tu nữa!” Chớ mà người ta thấy 5000 lẻ mấy năm, người ta mừng lắm! Ông Thích Ca có mấy ngàn năm, mà sao tu? Té ra mấy người mấy ngàn năm tu mới được làm con người!
Cho nên, đừng bị người ta lấy vải thưa che mắt thánh mà làm mờ ảo tâm thức của mình! Bẩy ức niên các bạn mới có cái thể xác này, mới được làm con người; mà các bạn tu mấy ngàn năm? Ít quá; không nghĩa lý gì!
Phải hiểu chỗ này, thì chúng ta thấy rằng không chán cái việc tu; mà không khen cái nào người ta thành. Không cần phải khen. Đồng đẳng với nhau hết: đều luân hồi để tu, để tiến! Còn thiếu sót, phải tiếp tục học; không có ai từ chối việc học của chính mình! Anh thấy ở thế gian, thấy rõ ràng không? Duyên nghiệp nó tới Anh, là Anh cứ đi theo bà đó Anh cưới mà Anh khổ. Đó! Chưa hết; phải không?
BĐ: Dạ; (cười) cảm ơn Thầy!
ĐT: Nó có bằng chứng, chớ không có láo được! Nói, “Tại sao, ông này ổng đẹp trai, mà cứ theo bà đó hoài; nhứt định làm rể nhà đó? Kỳ không?” Bởi chưa hoàn tất; phải học.
BĐ: Dạ, con cảm ơn Thầy những câu hỏi đã giải đáp.
ĐT: Ừ. Cái đạo cũng vậy, mà cái đời cũng một thứ thôi.
BĐ: Con xin đảnh lễ Thầy. Con xin phép hỏi Thầy 3 câu hỏi.
ĐT: Ừ,
BĐ: Câu thứ nhứt là, con thường nghĩ rằng khi công phu, nếu mình Soi Hồn lâu thì cái luồng điển nó chấn động trên đỉnh đầu,
ĐT: Ừ,
BĐ: Và giữa hai chân mày.
ĐT: Ừ,
BĐ: Và nếu mình Soi Hồn lâu thì nó sẽ chấn động lâu, và nó phát nóng, nó có thể phát sáng ở chỗ đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Cho nên con thường Soi Hồn rất lâu,
ĐT: Ừ,
BĐ: Trên dưới một tiếng đồng hồ. Do đó mà trong sách, cũng như là nhiều lần Thầy giảng á, thì Thầy nói rằng chỉ 15 phút,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mười phút là đủ. Thành ra con cũng không có, con hoang mang,
ĐT: Tôi nói từ 5 tới 15 phút,
BĐ: Dạ.
ĐT: Bởi vì Anh còn phải để dành thời giờ Anh làm những cái việc khác nữa: vì khi mà Anh dọn ở trên này rồi, 15 phút ở trên này bằng ở dưới này mấy tiếng: cao chừng nào, ngắn chừng nào, dài chừng nấy ở dưới. Anh hiểu chỗ đó không? Khi Anh làm 15 phút, ở dưới này nó làm cả một tiếng đồng hồ nó mới đáp bù bên trên.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên mình làm Pháp Luân Thường Chuyển đã chiếm bao nhiêu phút rồi; rồi còn cái Thiền Định phải gấp hai lần cái đó; bởi vì ở dưới, Lục Căn Lục Trần nó chậm hơn, mà Chủ Nhơn Ông thì thức hồn mau hơn; cho nên phải để dìu tiến Lục Căn Lục Trần; lúc đó cái thức hoà đồng nó mới mở, ánh sáng nó mới đầy đủ.
Cho nên, nhiều người cứ làm 1 tiếng đồng hồ, 2 tiếng đồng hồ Soi Hồn, rồi cái bỏ! Rồi, “Tôi mệt rồi!” Ở dưới này không làm! Rồi té ra, “Ông đi có mình Ông à, còn tụi tui, làm sao đây?” (b/đ cười) Cho nên nó mất trật tự. Cho nên, tui dặn 5 tới 15 phút, rồi mới cho cái tụi kia nó đi lên nó đồng học với mình; rồi lúc mình xuất hồn ra đi, nó mới giữ nhà cho mình. Chớ nhiều người làm thét rồi bị nhập là vậy đó; mà cãi lời tui thôi! Bị nhập!
BĐ: Dạ.
ĐT: Cứ làm 5 tới 15 phút thôi; maximum là 15 phút. Rồi Anh làm Pháp Luân, rồi Anh Thiền Định, ngồi Thiền Định lâu, anh thấy nó khác 1 tiếng đồng hồ, để dìu tiến tất cả; sau khi Anh đi, có người thay thế Anh mới được chớ! Cứ nói “Tui đi, tui đi mất cha nó rồi; bỏ hết!” (b/đ cười) Đâu có được! Caí đó trật á!
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên, ở Hồng Kông cũng có một người tu nó cũng mất luôn đó! Có cái bà đó tu sao mà, cái ông đó tu làm sao mà đi luôn; rồi bây giờ nó mạ vàng! Ở Vạn Phật Tự Hồng Kông đó; bữa nào rảnh, qua bên đó coi! Ở Việt Nam mình có anh Vân cũng vậy; cũng tu về Pháp Lý, cũng Soi Hồn quá, rồi ảnh đi luôn! Cũng ngồi, bỏ xuống rồi ngồi đó ảnh đi luôn á, không có về nữa! (cười). Ảnh cứ ngồi, chôn ngồi luôn! (cười). Anh đó ảnh tu về Pháp Lý, ảnh thương tôi tu ghê lắm mà! (b/đ cười)
Ừ, Anh làm 5 tới 15 phút; rồi phải dậy Lục Căn Lục Trần; bởi vì toàn thân của Anh, chớ không phải một chỗ thôi; phải không? Đó. Cho nên Anh phải làm lại, đúng. Cái gì tui làm là tui đã kinh nghiệm rồi, và Ông Tư đã kinh nghiệm; Ông Tư còn kêu có 5 phút thôi, mà người ta làm 4 tiếng cũng có nữa! (cười). Làm chi vậy? Rồi đổ thừa Pháp Lý! Chớ giấy trắng mực đen mà! Anh đã hiểu chỗ này không?
BĐ: Dạ, con hiểu rồi Thầy.
ĐT: Ừ.
BĐ: Dạ thưa Thầy, câu hỏi chót là: con thiền thì con hiểu rằng là, “Không, không á,” có nghĩa là hoà; con hiểu mang máng vậy thôi; không biết có đúng vậy không?
ĐT: Đúng.
BĐ: Và, “Có, có” thì mình có thể cắt nghĩa là sao?
ĐT: Hử? “Có, có” là động. (b/đ cười) Có, có phải có tranh giành chớ;
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh, lúc nào Anh cũng giữ cái “Không”; Anh thấy ông Trời đang hoà với chúng ta không? Tất cả khối nam, khối nữ, mà Ổng cứ xịt xịt có một cái hơi thôi; Ổng cứ bơm có bây nhiêu cho tụi nó hít thở, để nó thủng thẳng nó cố gắng nó hiểu nó thôi. Anh thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Ổng cứ làm việc vậy thôi hà! Ông cho tất cả. Anh thấy không? Ờ. Cho nên mình phải lấy Không mình mới hoà đồng được; cái Không nó mới đi vô các nơi. Cái không khí mà ông Trời ban mình đó, nó đi từ ngón chân cái lên tới trên óc mình nữa. Mà Ổng kiểm soát hết! Mà khi Anh giữ được cái Không, là Anh thấy hết tánh hư tật xấu của mọi người! Anh chỉ việc giúp họ trở về Không thôi. Khi Anh đạt Không,Anh mới giúp họ trở về Không. Chớ không phải Anh Không rồi Anh chê cười họ! Cái đó không được! Kỳ thị là Anh trở nên Có rồi đó! Anh thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Á. Bị động đó! Cho nên, nhiều người gặp tui là nó vui; trong tâm tư nó nhiều chuyện lắm, mà nó tới là sau này nó hết trọi; bởi vì tôi ôm cái Không, nó theo cái Không đó, nó bỏ cái “Có” của nó rồi, nó còn cái gì đâu? (cười) Rồi cho hai Không, rồi tiêu luôn! (cười)
ĐT: Ờ?
BĐ: Thưa Thầy, cho phép con được hỏi 3 câu.
ĐT: Ừ
BĐ: Câu thứ nhất là: xin hỏi và lập lại cái câu của anh bạn vừa rồi,
ĐT: Dạ.
BĐ: Là Thầy nói là, “Không, Không”
ĐT: Ừ,
BĐ: “Không, không” tức là động; à, “Không không” tức là hoà.
ĐT: Ừ, “Có” là động.
BĐ: “Có” là động. Thưa Thầy, thì chữ “Có” đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: “Trong Không mà Có”
ĐT: Ừ,
BĐ: Vậy thì chữ “Có”, mà Có là có hào quang,
ĐT: Ừ,
BĐ: Như vậy thì chữ “Có” mà có hào quang, tại sao lại động?
ĐT: Cho nên, cái “Có” mà nói hồi nẫy, là Có ở thế gian.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn Anh ở trong cái “Không mà Có” là Anh đang đi;
BĐ: Dạ.
ĐT: Không có động;
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh đang đi chớ!
BĐ: Dạ.
ĐT: Đang đi học đạo á; “Trong Không mà Có” là đang đi học đạo.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhưng mà Anh phải đi tới cực Không,
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh mới có cơ hội viếng Niết Bàn;
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh hiểu chỗ đó không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Chớ còn lúc đó nó cũng còn động: đang đi là động đó!
BĐ: Dạ.
ĐT: Trong cái “Có” đó là đang đi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Đang học đạo.
BĐ: Dạ.
ĐT: À. Cái đó là cũng là động; động ở trên Thiên Giới. Mà khi đã đại định rồi á, mới nhập Niết Bàn được.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì mới không động. Anh thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Chớ còn Anh không có động, không bao giờ Anh khao khát cái không động!
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh phải động trước. Bây giờ Anh Soi Hồn, Anh Pháp Luân, Anh Thiền Định; đó là Anh đang động đó: đang lọc, đang nhồi; đang lọc, đang nhồi, đang tiến; đang lọc, đang nhồi, đang tiến; đang, đang, đang giữ cái thanh, đang bỏ cái trược; Anh mới đi cao được chớ!
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì cái hoả tiễn lên cung trăng, Anh thấy không? Nó bỏ một lớp này, cái nó tung, nổ cái “Đùng!” Lớp khác nó mới đi lên trên kia được. Còn nó nổ một lớp… [45:19]
Hết Mp3 ID=19860101Q5 – “Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Vấn Đạo - Cuốn 2A” tương ứng phút dừng 11:34 ở video ID 19860101L2 “vấn đạo (2)
Bắt đầu Mp3 ID: 19860101Q6
Mở đầu Mp3, thiếu 13s so với video. Thiếu từ phút 11:35 đến 11:48 ở video ID=19860101L2 - “vấn đạo (2)”
KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: VẤN ĐẠO - Cuốn 2B -
…..
BĐ: … Được ghi cái hình của bóng của Thầy,
ĐT: Ừ.
BĐ: Cái hình đầu của Thầy, ở trong con,
ĐT: Ừ, phải rồi.
BĐ: … nhắm mắt. Như vậy, mà lại không ghi cho con cái hình sáng, mà cái hình như là một cái bóng tối ở trên tường, thưa Thầy,
ĐT: Ừ.
BĐ: Như vậy là như thế nào?
ĐT: Cái đó là Anh phải lo Anh về Anh làm Pháp Luân nhiều nữa! (b/đ đồng cười) Bởi vì một bên cảm thức, và một bên hiện.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì bây giờ làm Pháp Luân cho nó giải cái khúc ở dưới này.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho tới nó toàn thanh;
BĐ: Dạ.
ĐT: Chỉ thấy cái ánh vàng thôi.
BĐ: Dạ.
BĐ: Dạ, thưa Thầy câu thứ ba,
ĐT: Ừ,
BĐ: Là cho con được đi lại, trở lại cái câu mà hồi xưa trong cái kinh Phật và truyền khẩu lại,
ĐT: Ừ,
BĐ: Cũng có nhiều người nói rằng Đức Phật Thích Ca sinh ra không ở trong trạng thái bình thường như nhân loại,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà Ngài đi ra bằng nách. Như vậy, Thầy, có phải huyền thoại không?
ĐT: Thì bây giờ Anh thấy, Anh là ở trong thời đại văn minh, vậy đã ai thấy ông Thích Ca đi ở trong nách ra đâu? Thì chúng ta miễn phiền; cái đó là phiền não sái quấy. Nên giữ cái tâm thanh tịnh để tu. Cái cứu cánh của Ngài là thanh tịnh và sang suốt, thì ta giữ cứu cánh của Ngài, chớ còn bây giờ ta đi học cái cách chung từ trong nách chung ra đó, nó hư hết rồi. (b/đ cười) Thôi, Anh dẹp đi!
BĐ: Dạ.
ĐT: Phải không? Ổng cũng không có thích mình học cái đó! (Thầy và b/đ cười)
ĐT: Anh Hữu hỏi.
BĐ: Nam Mô A Di Đà Phật, con kính thưa Thầy.
ĐT: Ừ,
BĐ: Con xin hỏi Thầy cái trạng thái của con, đã, trong thời gian thiền định đã thấy những cái ấn chứng, như khi con nhìn, mở mắt ra nhìn, thì con thấy những cái chấu đen nó hiện, nó bay nhẩy ở trước mặt con,
ĐT: Ừ,
BĐ: Cái đó là như thế nào?
ĐT: Ừ. Cái đó là cũng còn trược nhiều lắm.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mà cái đen nó đã lớn rộng rồi thì cố gắng nữa, như tui đã cắt nghĩa hồi nẫy, sẽ thấy ánh sáng. Mình phải từ trong cái tối đi ra nó mới đạt tới ánh sáng. Cố gắng giữ thanh tịnh;
BĐ: Dạ.
ĐT: Cố gắng trì niệm Phật nhiều hơn nữa.
BĐ: Dạ, trong thời gian, khi cái bóng đen đó nó sẽ mất dần, rồi con sẽ thấy cái ánh sáng trắng ở trong cái bóng đen đó. Là như thế nào?
ĐT: Ờ, đó là đúng đó. Nó ra như mặt trăng lưỡi liềm rồi nó sẽ sáng sáng dần dần, dần dần chiếm hết cái đen. Lúc đó mình mới thấy rõ là người đạo.
BĐ: Dạ.
ĐT: Phải không? Đạo là gì? Lúc đó là nó mới, trong miệng gặp ai cũng chỉ thích nói chuyện đạo, không thích nói chuyện đời; mà ai nói chuyện đời mình nghe nặng ngực.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thích nói đạo.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái đầu nó sáng rồi.
BĐ: Dạ. Mỗi lần, nếu con bình thản con định tâm thì con thấy những cái, khi con nhắm mắt lại, thì con trụ tâm thì con sẽ thấy được cái ánh sáng, mà ánh sáng đó, khi mà con nhắm lại, thì con thấy từ nhỏ cho tới lớn, rồi có khi lớn sẽ thấy lại nhỏ. Cái trạng thái như thế nào?
ĐT: Thì cái đó là đúng rồi đó. Ngồi ở trong mà thấy lớn, rồi lớn trở về nhỏ, nó mới nhập trong này được; trở lộn lại. Khi chúng ta ra đi, thấy lớn, đi thấy cỡi hạc rồi đi tùm lum, đi chơi đồ này kia kia nọ; mà trở về thì nó phải nhỏ nó thâu vô, ngay ở trung tim bộ đầu. Trở về xác là phải thâu lại nhỏ,
BĐ: Dạ.
ĐT: Mà xuất ra thì nó lớn.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái đó đúng, về cái điển mâu ni châu nó như vậy.
BĐ: Dạ. Chớ cái bóng đen đó là không phải cái vong linh hay là cái hồn?
ĐT: Không, không, không không, không phải! Cái trược khí ở trong mình còn.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cố gắng làm một thời gian nữa rồi nó bớt ăn, cái nó hết à! Nó bớt ăn mà không chết đâu.
BĐ: Dạ. Mà mỗi lần con niệm Phật thì con, con thấy giữa chân mày thật là mát, hoặc ở trên trán, hay là trên bộ đầu, hay là ở sau lưng hai trái thận,
ĐT: Ừ.
BĐ: Mát; như vậy nó như thế nào?
ĐT: Đó, nó nằm y như trong cái mà “Nam Mô A Di Đà Phật,” tui cắt nghĩa hồi nẫy đó.
BĐ: Dạ.
ĐT: Ờ. Cho nên phải nhớ cái đó mà để giảng cho những người kế tiếp người ta bước vô tu; mình phải cắt nghĩa cái nguyên lý của “Nam” thế nào, “Mô” thế nào, “A” thế nào, “Di” thế nào, “Đà” thế nào, “Phật” thế nào; mà chính mình đã hành và phát triển và đạt như vậy. Cho nên chỉ cho những người kế tiếp cái đường lối tu, thực hành, và để họ đạt tới cái chỗ đó.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái chỗ đó là cái chỗ hạnh phúc của nội tâm.
BĐ: Dạ.
ĐT: Ừ. Hết buồn.
BĐ: Dạ. Vậy con xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Ừ.
BĐ: Kính thưa Thầy, xin hỏi một câu,
ĐT: Ừ,
BĐ: Con kể câu chuyện của, “Nam Mô A Di Đà Phật;”
ĐT: Ừ,
BĐ: Hôm rồi qua đại hội ở Huê Kỳ đó, con có dịp gặp anh Minh,
ĐT: Ừ,
BĐ: Trong nhóm bộ ba mà Long Minh Châu đó; thì ảnh có nói trước đây ảnh bị đủ thứ bịnh hết,
ĐT: Ừ,
BĐ: Và đến gặp Thầy; Thầy biểu về khai triển cái nguyên ý “Nam Mô A Di Đà Phật,”
ĐT: Ừ;
BĐ: Ảnh đã thực hành, mà ảnh niệm, “Nam” nhiêu đó thôi, một hơi một tiếng chớ không phải là một hơi sáu tiếng; thì chỉ trong vòng một thời gian ngắn mà ảnh bịnh hoạn tiêu trừ; và ảnh mở, ảnh nói mỗi lần mà ảnh niệm “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật” đó cũng như ảnh đi vô cái hư không đó,
ĐT: Ừ;
BĐ: Và ảnh hiểu nghĩa kinh đồ này kia theo chơn giác,
ĐT: Ừ;
BĐ: Chính ảnh nói ra,
ĐT: Ừ;
BĐ: Như vậy ảnh nói trong lúc thiền, tuỳ theo bản thể thích ứng của mỗi người,
ĐT: Ừ;
BĐ: Có thể buông thả lỏng không nghĩ gì hết,
ĐT: Ừ;
BĐ: Hoặc là cứ trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,”
ĐT: Ừ;
BĐ: Bởi vì trong khi mình thả lỏng đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà có nhiều cái hình ảnh này kia việc đời nó còn xâm nhập, thì cứ trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”
ĐT: Ừ;
BĐ: Chừng nó mở thông rồi thì nó mới định trở lại.
ĐT: Ừ;
BĐ: Thì Thầy có chỉ dẫn gì thêm cho tụi con trong cái điểm đó?
ĐT: Cái đó là đúng, bởi vì anh Minh, khi ảnh gặp tui là ảnh bị một con quỷ nó theo; cái mặt ảnh gớm lắm, hung hăng lắm, nóng nẩy lắm; nhưng mà cái tâm ảnh thích tu; ảnh muốn giải thoát cái đó, không cho nó trì kéo nữa. Ảnh cứ theo tui; tui chỉ khuyên ảnh có bây nhiêu đó thôi: trì niệm,
BĐ: Dạ.
ĐT: Mới là đuổi nó ra được. Sau, ảnh làm được, và ảnh đuổi nó ra hết. Cho nên mặt mày tâm trí của ảnh bây giờ thanh thản vô cùng, và thi thơ của ảnh rất siêu thoát; và ảnh giảng về những cái triết lý rất minh chánh. Cũng nhờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” mà nhờ gặp tui ở Houston. Lúc đó tui giảng ở trong vũ trường. À, rồi ổng tới ổng hỏi đủ chuyện hết. Thì tui thấy cái vị theo mà hành hạ ổng nó dữ lắm, tui chỉ chú ý và kêu phải niệm cái đó thì mới thành đạo, còn ngoài cái đó tui không có nói chuyện với anh Minh, bắt anh Minh phải làm cái điều đó. Ảnh tuân theo và ảnh làm được.
BĐ: Dạ;
ĐT: Thành ra bây giờ ảnh chỉ sống một mình thôi; có vợ, nhưng mà vợ đi lấy người khác, ảnh cũng không cần, ảnh chỉ lo tu, và ảnh độ người ta tu.
BĐ: Dạ, kính cảm ơn Thầy.
ĐT: Cho nên, cái “Nam Mô A Di Đà Phật” rất huyền diệu. Quý vị nên niệm chậm chậm như cuốn băng tui đã nói, “Nam, Mô, A…” như tui đã nói. Nó vừa đủ cái chấn động, và để giáo dục Lục Căn Lục trần, để Lục Căn Lục trần có cơ hội đồng học. Chớ mình, từ hồi nào tới giờ mình dậy nó nay một chút, mai một chút về chuyện đời; rồi bây giờ mình kêu chúng nó ào ào ào ào thét rồi nó lung túng đi! Cho nên có nhiều người bị quá khổ cho nên mới dùng cái nguyên lý niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật” ào ào, ào ào, ào ào, liên tục, để bỏ tất cả mọi sự việc, cho nó nhanh hơn. Nhưng mà rồi rồi cũng phải lập lại trật tự.
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Khi mà bình minh rồi cũng phải lập lại trật tự. Cho nên, bắt đầu vậy để ta niệm để chon ó mở đều đặn trong nội thức và Lục Căn Lục Trần có cơ hội đồng học đồng thức, vạn linh có cơ hội đồng học, thì sau này cái từ tâm của chúng ta phát khởi, cái pháp quang của diện mạo nó khai mở rồi, thì cái từ điển ban khai bất cứ chỗ nào cũng được hết, không có mê chấp nữa.
BĐ: Thì như vậy thì trong lúc thiền cũng niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật” được?
ĐT: Đó; được. Làm chậm thôi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mà khi mà nó trụ lên trung tim bộ đầu rồi đó, không cần niệm nữa; nhớ thôi. Lúc đó không có cần niệm; nhớ “Nam Mô A Di Đà Phật.” Ngay trung tim bộ đầu mà nó rút rồi đó thì chỉ nhớ thôi. Nó nhanh gấp triệu lần Anh niệm; nhớ nó nhanh hơn; còn niệm là Anh phải nhớ rồi Anh mới niệm, nó phải chậm không? Mà tới lúc mà mình niệm được ngay đỉnh đầu mà mình nhớ, “Nam Mô A Di Đà Phật,” nó nhanh gấp triệu lần mình niệm.
BĐ: Thưa Thầy, như trường hợp của con đó, mỗi lần con kề răng co lưỡi,
ĐT: Ừ;
BĐ: Niệm thì nó rút dữ lắm;
ĐT: Ừ, đó là chỗ đó, Anh cứ niệm chỗ đó đi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Sau này nó quen rồi, nó nhớ rồi. Nó nhớ rồi thì Anh mới thấy rõ cái hào quang của Anh, nó hoà đồng. Cho nên anh Yêm ảnh dùng cái ý niệm chớ không phải kêu người ta mở miệng niệm đâu. Cái ý niệm, niệm, niệm, niệm nhanh nó rút cái đầu ảnh. Khi mà ảnh nhắm con mắt ảnh niệm đó, nó rút, rút, rút rút đi lên, nó nhẹ đó. Là những người tu mà được rút đó thì đi tới chỗ nhớ, nó còn nhanh gấp triệu lần niệm.
BĐ: Dạ.
ĐT: Đó là đi tới chỗ hào quang đó, mở rồi.
BĐ: Dạ, kính cảm ơn Thày.
BĐ: Dạ, kính thưa Thầy con, như lời Thầy đã nói,
ĐT: Ừ;
BĐ: Đã nói là vấn đề Soi Hồn,
ĐT: Ừ;
BĐ: Năm phút, tối đa là, maximum là 15 phút,
ĐT: Ừ;
BĐ: Nhưng mà trong trường hợp của con, con thí nghiệm qua được,
ĐT: Ừ;
BĐ: Con Soi Hồn 5 phút thì con có thể ngồi thiền được một tiếng,
ĐT: Ừ;
BĐ: Mà con Soi Hồn khoảng chừng 15 phút, hay 20 phút, thì con ngồi được một tiếng rưỡi,
ĐT: Ừ;
BĐ: Mà trường hợp con Soi Hồn 30 phút hoặc 45 hoặc 1 tiếng thì con ngồi được hai tiếng; thì như vậy con nên chọn cái nào cho thích ứng với bản thể của con?
ĐT: Chọn cái nào mà phải ngồi thiền được lâu á, cứ việc làm; không sao.
BĐ: Dạ, xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Ừ, nhưng mà rốt cuộc là cũng chỉ có 15 phút là đủ rồi, không cần gì phải nhiều; bởi vì người ta tính hết rồi.
BĐ: Dạ, kính thưa Thầy, đêm hôm qua,
ĐT: Ừ;
BĐ: Con ngồi thiền tại đây,
ĐT: Ừ;
BĐ: Và con cũng áp dụng, “Nam Mô A Di Đà Phật” để trụ tâm,
ĐT: Ừ;
BĐ: Niệm chậm châm. Khi vào trạng thái hơi mê hơi tỉnh sao con có trước mặt con là một miếng kiếng,
ĐT: Ừ;
BĐ: Chiếu ngược lại mình, mà trong đó hiện ra, nam có nữ có,
ĐT: Ừ;
BĐ: Mà những người không quen biết,
ĐT: Ừ;
BĐ: Xin Thầy chỉ rõ,
ĐT: Cái đó là Anh bước vào chỗ Minh Cảnh Đài, mà trong đó là vạn linh của Anh nó ứng hiện vậy thôi; nhưng mà Anh không có với quen ai hết đó,
BĐ: Dạ,
ĐT: Không có quen với mặt nào hết. Vạn linh; bởi vì mỗi một bộ phận Anh có 250 vị tỳ kheo, tổng cộng 1250 vị tỳ kheo trong cái cơ tạng, và Anh thấy biết bao nhiêu mặt, mà không quen với ai hết, lạ kỳ vậy, không quen một người nào.
BĐ: Dạ,
ĐT: Nó ở trong mình mình! (cười) rồi sau này Anh mới lắng tai,
BĐ: Dạ,
ĐT: Tới giờ công phu á,
BĐ: Dạ,
ĐT: Niệm đều, lúc đó Anh mới thấy cái đèn bạch lạp sáng lên, cái bàn thờ mình nó có đầy đủ hết, mọi người giậy công phu; thì Anh khỏi cần đồng hồ, lúc đó không cần đồng hồ; dậy là 12 giờ, hay là 1 giờ, trễ lắm là 1 giờ.
BĐ: Xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Ừ.
BĐ: Thưa Thầy, (nghe không rõ) … Soi Hồn là để ổn định bộ đầu,
ĐT: Ừ;
BĐ: Từ 5 cho tới 15 phút ổn định bộ đầu,,
ĐT: Dạ;
BĐ: Tức là Thầy đi từ trên xuống dưới là (nghe không rõ)
ĐT: Ừ; trụ,
BĐ: Pháp Luân Thường Chuyển để ổn định ngũ tạng,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì Ông Tư nói là từ 6,
ĐT: Ừ;
BĐ: Sáu cái là được, nhưng mà theo Thầy thấy thì bao nhiêu lần 6 hơi mới đủ,
ĐT: Sáu hơi mà làm cho đúng á là cũng mệt lắm,
BĐ: Dạ,
ĐT: Còn hít vô thở ra chơi 6 cái, thì làm 30 cái cũng như không!
BĐ: Dạ,
ĐT: Bởi vì mình làm 6 cái cho đứng đắn thì nó chạy đều hết trong bản thể mình; lục phủ mà!
BĐ: Như vậy là đủ ổn định rồi;
ĐT: Đủ ổn định lục phủ rồi! À; rồi chị mới ngồi thiền, “Biển cho lặng minh châu mới phát” à! Lúc đó ngồi thiến, dỗ ngủ, nó đi ra.
BĐ: Nhưng mà hôm điển xuống hôm đại hội kỳ rồi thì Ông Tư nói đó, “Làm càng nhiều càng tốt; phải làm cho nhiều đi, các bạn ơi!”
ĐT: Không, làm xâu là làm nhiều cái Pháp Luân nó chạy nhiều đó, làm là làm nhiều về Chiếu Minh đó,
BĐ: Dạ,
ĐT: Ừ. Chớ còn làm cái Pháp Luân đó, đúng lực lượng là chỉ có 6 cái thôi!
BĐ: Dạ. Rồi Thầy nói ở tầng dưới này nó chậm lắm, thì như vậy là Thiền Định,
ĐT: Có Chiếu Minh, mình có Chiếu Minh;
BĐ: Khoảng bao lâu nó mới ổn định được? Nghĩa là trong cái thời gian mình thiền đó,
ĐT: Ừ;
BĐ: Thì 15 phút;
ĐT: Ừ;
BĐ: Sáu hơi thở,
ĐT: Ừ;
BĐ: Và ngồi khoảng bao lâu thì ổn định được tất cả để,
ĐT: Ngồi càng lâu càng tốt. Có nhiều người ngồi luôn một hơi là tới sáng mà người ta thấy có 15 phút hà! Cảm thấy có 15 phút, mà người ta thấy trời sáng rồi. Cái người đó là nhẹ rồi đó.
BĐ: Trong cuộc sống hàng ngày, con có phát tâm từ bi để hồi hướng cho tất cả linh hồn được siêu thoát,
ĐT: Ừ;
BĐ: Như con, con đọc Chú Vãng Sanh đó, có, có hiệu lực không Thầy?
ĐT: Cũng không có hiệu lực gì. Con phải ráng cố gắng tu;
BĐ: Dạ,
ĐT: Và cái tầm điển hào quang của mình nó phát ra, nó hoà hợp với tầm điển hào quang của nhiều vị chơn tu; rồi ở bề trên mới nắm cái đó sử dụng để hoá độ quần sanh.
BĐ: Dạ,
ĐT: Cho nên mọi người cố gắng hướng thượng tu đi, thì bề trên sẽ đem cái thanh điển của mình, cái từ tâm mình, bố thí cho cộng đồng mới được.
BĐ: Dạ,
ĐT: Ở cõi thiêng liêng người ta cũng khao khát về tu; và những vị bên kia đi thuyết giảng mà không có hào quang của cộng đồng tu học hộ độ đó, thì người ta thuyết giảng không có thuyết phục được ai.
BĐ: Dạ,
ĐT: Cho nên cái cõi thiêng liêng họ cần tu lắm;
BĐ: Dạ,
ĐT: Chớ không phải là bên thiêng liêng là tu rồi đâu! Thiêng liêng bơ vơ lắm!
BĐ: Dạ,
ĐT: Mình có cái xác ấm no này và có cơ hội tu là họ thấy họ thèm lắm.
BĐ: Dạ,
ĐT: Cho nên khi ai mà bị nhập xác rồi, không bao giờ họ đi ra.
BĐ: Dạ. Rồi còn cái trường hợp mà con, con, mỗi đêm con công phu mà con chuột đó, khi mà con công phu nó ra nó lại nó ủi ủi, nó chà chà cái chân con,
ĐT: Ừ;
BĐ: Khi đó là con ngạc nhiên, con nói, “Ủa, sao lạ? Đang ngồi thiền mà lại có cái gì cà cà nhột nhột, kỳ quá?” Con mới nhớ rằng “À, không chừng nó là con chuột;” cái con mới mở mắt thôi, chớ không có cử động.
ĐT: Ừ.
BĐ: Thì con chuột nó chạy ra một bên, cái nó kêu, nó la lên; cái con tưởng hai con nó cắn lộn.
ĐT: Ừ.
BĐ: Cái, khi con thiền xong thì con đuổi, con đuổi, con dí nó vô trong nhà bếp ở, xong tới cuối cùng con lùa nó, lấy tay lùa nó vô và dặn nó,
ĐT: Ừ,
BĐ: “Ở trong này, đừng có ra! Nếu mà muốn coi con thiền định thì mỗi tối cứ ra;” con, con không giết nó.
ĐT: Ừ.
BĐ: Tới khuya con lùa nó xong vô ở trong cái phòng giặt, rồi cái khuya đó thì con thiền xong con đi ngủ; thì sang dậy, con thấy con chuột nó chết, ngay cái chỗ con thiền;
ĐT: Ừ.
BĐ: Như caí hiện tượng đó có, có hại không Thầy?
ĐT: Tự nhiên nó chết à?
BĐ: Dạ,
ĐT: Không có bị thương, bị gì hết?
BĐ: Dạ không. Mà khi nó chết đó, thì nó ra chỗ con ngồi đó; con ngồi thiền thì trước bàn Phật,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì nó ra đó nó chết,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì hai cái chân của nó, con quan sát rất kỹ, hai chân nó sau là nó thẳng,
ĐT: Ừ,
BĐ: Còn hai cái chân trước đó, nó chắp nó ôm nó chắp cũng như mình, mình chắp tay mình xá vầy.
ĐT: Nó được cứu độ bởi từ điển của con rồi!
BĐ: Dạ; rồi con thấy vậy đó, con nói, “Thôi được, nếu mà có cái duyên lành mà cái ngày mà lâm chung biết được Ngôi Tam Bảo hoặc Phật Pháp như vậy là quý lắm!”
ĐT: Ừ,
BĐ: “Để con thay đồ, súc miệng, thay đồ xong con sẽ đọc Chú Vãng Sanh cho được siêu thoát.”
ĐT: Ừ,
BĐ: Và con lấy cái xác con chuột đó con đem chôn.
ĐT: Ừ. Như vậy tốt. Thì nó được, nó được tiến hoá rồi.
BĐ: Dạ, như vậy là tốt hả Thầy?
ĐT: Ừ, tốt; không có sao.
BĐ: Dạ,
ĐT: Mình lấy cái từ điển mình độ cho nó.
BĐ: Dạ. Vậy con xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Bởi vì con chuột là trước kia nó ác ôn lắm, bây giờ nó phải ăn năn.
BĐ: Dạ,
ĐT: Nhiều con chuột tu.
BĐ: Dạ,
ĐT: Ban đêm mình thấy trên đầu nó có cái đốm sáng, chớp cũng như đèn măng sông, nhưng toàn là những con chuột tu đó;
BĐ: Dạ,
ĐT: Không nên giết nó,
BĐ: Dạ, con không giết; con khuyên nó, con nói, “Nếu sau này đó,”
ĐT: Ngay trên trán nó có cái điểm sang đó, đó là mấy con chuột tu đó.
BĐ: Dạ. Con khuyên nó,
ĐT: Ừ,
BĐ: “Nếu sau này có tái sanh về nơi nào hoặc thế giới cao hơn thì ráng cố gắng để tìm con đường Phật pháp để tu tiến hoá.”
ĐT: Ừ; vậy cái đó tốt.
BĐ: Dạ, con xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Cho nên người ta nói, “Tận độ chúng sanh;” không phải người ta; cọng cỏ mình còn độ mà; thấy không?
BĐ: Dạ,
ĐT: Cái bông mình còn độ. Cho nên mình phải giữ được cái thức thanh tịnh mới kêu bằng “Tận độ chúng sanh.” À. Nếu con thiếu thanh tịnh, con thấy con chuột chết đi, la làng lên; phải không? Mình hiểu nó có hồn như mình; nhưng mà trong lúc nó đi, được cứu rỗi bởi cái từ điển mình đang thiền đưa nó đi; đó, thì nó sẽ được tiến hoá theo cái đại nguyện của chính nó. Nhiều người ở thế gian thấy rồi đập chết rồi này kia kia nọ; rốt cuộc đau lòng; làm chuyện đau lòng cho mình để làm gì, phải không?
BĐ: Thưa Thầy, con có một câu hỏi xin hỏi Thầy,
ĐT: Ừ,
BĐ: Là, cái trạng thái con có một cái thắc mắc là trong lúc mà thiền định đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Có đêm á thì con ngồi, lúc mà Soi Hồn xong, Pháp Luân xong rồi đến Thiền Định, định thần, thì có đêm con ngồi rất là yên; rồi có đêm con ngồi nó giống như là nó mê muốn ngủ,
ĐT: Ừ,
BĐ: Cái đầu nó cứ gật xuống,
ĐT: Ừ,
BĐ: Con cố gắng con thức để ấy nó lên, một hồi lâu lâu nữa nó gật xuống nữa; như vậy
ĐT: Cái đó là con thiếu ngủ rồi.
BĐ: Dạ,
ĐT: Nằm ngủ đàng hoàng rồi ngồi dậy ngồi thiền. Không nên làm vậy.
BĐ: Dạ,
ĐT: Làm vậy nó hại sức khoẻ. Ngủ đàng hoàng,
BĐ: Dạ,
ĐT: Dậy thiền; không sao hết. Thấy không? Trong cái cơ thể nó thiếu, nó thiếu sức khoẻ.
BĐ: Như theo Thầy nói, như vậy thì thường thường mình phải ngủ bao nhiêu tiếng để mà,
ĐT: Thường thường tuổi trẻ ít nhứt phải mất 8 tiếng đồng hồ.
BĐ: Tám tiếng? Dạ. Cảm ơn Thầy.
BĐ: Thưa Thầy, cái câu này con xin hỏi Thầy, nhưng mà nó cũng không ngoài cái ý về phần thiêng liêng.
ĐT: Ừ,
BĐ: Khi con được tin Thầy qua đây,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì con có ý nghĩ là, “Phật tiên giáng lâm xuống phàm, “
ĐT: Ừ,
BĐ: “Nhập xác phàm nghĩa là trở về cái hài nhi của đứa nhỏ, “
ĐT: Ừ,
BĐ: “…thì phải qua cái bánh xe của luân hồi hay không?”
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì con chỉ nghĩ như vậy; tự nhiên tối con nằm chiêm bao con thấy, con vừa thiền xong thì con thấy là cái vị đó, người đàn bà, mà xưng là ở tại Sydney này,
ĐT: Ừ,
BĐ: Khi mà biết được cái thắc mắc của con,
ĐT: Ừ,
BĐ: Họ mới nói là, “Chị biết được cái thắc mắc của Em. “
ĐT: Ừ,
BĐ: “… Thì Ông Tám á, thì còn lâu ngày mới qua, thì thay vì tiện dịp chị có thể trả lời cho Em biết.”
ĐT: Ừ,
BĐ: “… thì những cái mà Em thắc mắc, thì Em muốn hỏi, thì chị cũng có thể trả lời cho Em.”
ĐT: Ừ,
BĐ: “…. Thì, cái thắc mắc của Em đó, “
ĐT: Ừ,
BĐ: “… thì bất cứ giới tiên phật nào “
ĐT: Ừ,
BĐ: “… nghĩa là, giáng lâm xuống phàm như Thầy, chuyển qua cái bánh xe luân hồi đi vào.”
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì, thưa Thầy, cái chị đó nói như vầy, mà chị đó nói chị ấy tu ở tại Sydney này,
ĐT: Ừ,
BĐ: Dạ; rồi chị ấy hỏi con còn thắc mắc gì nữa không, con cảm ơn chị ấy, rồi chị ấy từ giã ra đi. Thì …
ĐT: Cho nên, tất cả thiếu gì tiên phật xuống thế gian, qua con thú, luân hồi làm con thú, rồi lập hạnh hy sinh cứu độ quần sanh, làm cây cỏ, làm đủ thứ, vạn linh, tiến lên con người; rồi mới trở về đó, mới đạt được đại thanh tịnh. Cho nên chị đó nói đúng: Tất cả là tiên gia ngồi đây; bây giờ con ma dòm thấy cũng là tiên thôi; giáng lâm xuống thế gian phải qua nhiều cảnh thử thách, nhồi quả mới xây dựng được cái dũng chí tiến hoá. Rất đúng chơn lý! Phải qua!
BĐ: Dạ,
ĐT: Còn những người mà trực tiếp đã được đi qua, thì cũng phải qua được nhiều lần rồi mới tiến lên tới chỗ đó.
BĐ: Dạ,
ĐT: Thoát lên chỗ đó; rồi mới trở lại lãnh nhiệm vụ, cũng là ở trong thể xác, cũng là trong luật Luân Hồi: trụ trong thể xác nào là theo luật luân hồi đó thôi.
BĐ: Dạ,
ĐT: Mà luân hồi tiến hoá theo trình độ. Con phải nghe chữ “Luân Hồi:” Luân hồi ở thánh giới, luân hồi ở Thần giới, luân hồi ở Phật giới, luân hồi ở Nhân Sanh, luân hồi ở con thú! Trình độ không mua không bán, phải luân hồi ở trình độ đó, đúng theo đại nguyện của người.
BĐ: Dạ,
ĐT: Cũng như kỳ này con tu con phát đại nguyện cứu độ chúng sanh,
BĐ: Dạ,
ĐT: Thì kỳ tới con phải luân hồi về cái trình độ đó, và con đi làm phước;
BĐ: Dạ,
ĐT: Không bỏ được;
BĐ: Dạ,
ĐT: Mình muốn mà!
BĐ: Dạ,
ĐT: Mình muốn là mình phải làm.
BĐ: Dạ,
ĐT: Cho nên, đọc cái “Luân Hồi Du Ký” đó, con thấy rõ là, “Luân hồi theo trình độ ý muốn của chúng sanh;”
BĐ: Dạ,
ĐT: Chớ không phải ông trời bắt mình luân hồi!
BĐ: Dạ,
ĐT: Phải hiểu chỗ này nữa.
BĐ: Dạ,
BĐ: Mô Phật! Bạch Thầy, sao ban đêm con thiền thì, lúc trước con thiền thì lúc nào con cũng không có mê,
ĐT: Ừ,
BĐ: Sau này con mê hoài.
ĐT: Ừ,
BĐ: Con mê tới sáng, Thầy!
ĐT: Tốt; nhẹ rồi đó. Làm nữa. Mê rồi mới dẹp được trần tâm.
BĐ: Mô Phật!
ĐT: Mà dẹp được trần tâm thì mới thức tiên giới, phật giới. Hiểu chưa?
BĐ: Mô Phật!
ĐT: À. Không qua cái chỗ đó thì không vượt lên được! Cho nên người ta còn khuyên mình dỗ ngủ cơ mà!
BĐ: Mô Phật! Bạch Thầy, sao con, con ngồi từ 12 giờ trưa tới 1 giờ, sao con thấy ánh sáng ban ngày khác,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà ánh sáng trong con mắt con khác?
ĐT: Khác xa lắm! Ánh sáng thật với ánh sáng giả, khác!
BĐ: Mô Phật, con đội ơn Thầy!
ĐT: Sáng, mà sáng thanh nó nhẹ tâm hồn. Mà ánh sáng mà mở mắt đó, nó nặng lắm! Nó khác.
BĐ: Con xin bạch Thầy về riêng cá nhân con đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì con đã nhận được nhiều sự nhiệm mầu.
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà hôm nay thì con được diện kiến Thầy,
ĐT: Ừ,
BĐ: Vậy con xin Thầy giải đáp cho con,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thưa Thầy, thì con bịnh nặng,
ĐT: Ừ,
BĐ: Nặng lắm,
ĐT: Ừ,
BĐ: Con nặng, bị suyễn nặng lắm Thầy,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì con được Phật Bà,
ĐT: Ừ,
BĐ: Hiện ra giữa ban ngày vậy đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Cứu tử con,
ĐT: Ừ,
BĐ: Và từ đó thì cũng hướng dẫn cho con, mỗi lần mà con tu tập,
ĐT: Ừ,
BĐ: Như cái pháp thiền này thì con cũng mới học được vài tháng nay hà Thầy.
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì trong mấy tháng nay á thì có hai lần thì con được điển của Mẹ về,
ĐT: Ừ,
BĐ: Mẹ chỉ bảo,
ĐT: Ừ,
BĐ: Như bữa hôm, bữa trước ở thiền đường của chị Tranh đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì con cũng xin Thầy giải thích giùm cho con,
ĐT: Ừ,
BĐ: Cái điều đó có thật hay không?
ĐT: Cái đó là cái sự bên trên khuyến khích, mình có cái căn tu, thì ở trên người ta hướng độ; thì cái đó cũng nằm ở trong cái cửu huyền thất tổ hướng về Đức Phật Bà mà chuyển tiếp qua cơ thể. Cho nên, mình phải lấy cái đó và xử dụng cái quyền năng tu học của chính mình để tiến tới và làm cho cửu huyền thất tổ an vui và cứu độ chúng sanh ở tương lai. Nó cũng liên hệ về Phật Giới đó, chớ không phải tà giới.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì phải giữ tâm lo tu, phải thực hành, và phải phát đại nguyện cứu độ chúng sanh, nó mới đúng.
BĐ: Dạ. Thưa Thầy con cũng nhớ rõ là hôm Mẹ về ở thiền đường đó thì,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì mấy bạn đạo cũng hỏi thăm đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Hỏi, “Làm sao mà tâm được tịnh?”
ĐT: Ừ.
BĐ: Vì khi con ngồi mà tâm động loạn nghĩ lung tung,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì Mẹ chỉ dậy là chỉ có niệm mấy chữ thôi, “Nam Mô A Di Đà Phật,”
ĐT: “Nam Mô A Di Đà Phật,”
BĐ: Là tâm con thanh tịnh.
ĐT: Đó.
BĐ: Như vậy thì điều đó nó phù hợp với Thầy.
ĐT: Đúng lắm. Cái đó đúng. Bởi vì luồng điển nó liên hệ với cửu huyền thất tổ mình, là ông bà cha mẹ đã theo đạo Phật, thì bên trên Đức Quan Âm chuyển độ, thì cũng đi một diềng mối khai triển về tâm linh mà thôi. Cho nên ngày nay ngộ được cái pháp này, thực hành đi tới.
BĐ: Dạ.
ĐT: Rồi chuyển kiếp bất cứ lúc nào, và chúng ta sẽ có nhiệm vụ làm việc nhiều hơn, mà không ngán,
BĐ: Dạ. Dạ thưa Thầy,
ĐT: Không chán ngán nữa. Đi tới mãi mãi.
BĐ: Dạ thưa Thầy, khi trong thiền thì con thấy là có những cái lúc mình nói,
ĐT: Ừ,
BĐ: Nhưng mà giống như là cái điển bên trên nói đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Chỉ dậy cho mình đó Thầy,
ĐT: Ừ,
BĐ: Chớ không phải là tự, tự mình nói được những điều đó.
ĐT: Ừ. Nhưng mà một thời gian thì phải tự chủ mới được.
BĐ: Dạ.
ĐT: Phải tự chủ, để cho cái phần hồn mình trở về cái nguyên linh sẵn có.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn cái kia mà nếu cho nói hoài, thét rồi cũng đi làm thầy thôi!
BĐ: Dạ.
ĐT: Cũng như, tui có một cuốn băng, một vị ở bên Cali cũng làm thầy mách bảo cho chúng sanh rất nhiều, và cứu độ nhiều gia đình. Nhưng mà ngày hôm nay người không muốn làm nữa, muốn xin tách ra; tui nói, “Không được; bởi vì đó là nhiệm vụ của mình; trước kia mình muốn cứu độ chúng sanh, và muốn bề trên giúp đỡ, thì bây giờ mình phải thực hiện kỳ được để đi tới cái chỗ giải thoát, và biết cái Pháp rồi, lo tu; trong tâm mình tu chớ không nghĩ làm tiền người ta.” Có nhiều người bên đó muốn làm tiền người ta.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhưng mà cô này là rầm, mùng một mới xuống độ chúng sanh mà thôi, không có làm tiền; thì mọi người rất kính nể. Và mọi người tới đó học, nghe, rồi sự cứu độ của cô, cô cũng chuyển qua học bên Vô Vi để thực hành về Pháp Lý, nó đúng đắn hơn.
BĐ: Dạ.
ĐT: Rồi chính cô ấy cũng muốn trở về đây tu; tui nói, “Không được; bởi cái nhiệm vụ nó đã có rồi, không có thay đổi được!” ”
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho nên, ráng tu để tự chủ, và mình trở về thực sự dấn thân và cứu độ chúng sanh. Có căn tu nên làm; há?
BĐ: Dạ thưa Thầy, khi con ở Việt Nam đó thì Mẹ về giáng lâm đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì Mẹ có nói là tiền kiếp của con đó, là con của Mẹ.
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì con không biết là có đúng hay không: và Mẹ cho phép là được trị bịnh.
ĐT: Ừ,
BĐ: Con có thể trị được tất cả các bịnh,
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho chúng sanh.
ĐT: Ừ,
BĐ: Mà thưa Thầy, con chưa làm được cái đại nguyện đó.
ĐT: Ừ,
BĐ: Con sẽ có khả năng làm?
ĐT: Khi mà làm thì người ta phải ứng cho mình; cũng như ở bên kia người ta làm thầy. Như chị kia, chị ấy làm thầy; chị ấy trị bịnh cho người ta hết bịnh, mà chị ấy bịnh hoài; chị bịnh lắm; chị ấy bịnh ghê lắm! Mà tới khi mà xuất ra khỏi xác rồi là chị ấy ngã, rã cả con người. Mà chị ấy trị hay lắm;
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhờ điển bên trên trị.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái đó ở đây, ở Việt Nam, có nhiều lắm rồi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhiều bạn đạo Vô Vi, cũng như anh Ba ở Gò Vấp, cũng vậy; ảnh tu nửa chừng rồi ảnh cũng chấp nhận cái đó; ảnh ra ảnh cất một cái cốc; ảnh chỉ cho một ly nước uống thôi, không có thuốc men nhiều; cho một ly nước uống hết bịnh!
BĐ: Dạ.
ĐT: Nhưng mà rốt cuộc ảnh bịnh; trong mình ảnh bị ho lao.
BĐ: Dạ.
ĐT: Ảnh cũng nói đạo dữ lắm, nhưng rốt cuộc ảnh bị bệnh ho lao.
BĐ: (nghe không rõ) người đó rất là cao,
ĐT: Ừ,
BĐ: Thì dùng cái phương pháp thiền này để khôi phục lại cái, cái tinh khí thần của cơ thể để khỏi bịnh; được không Thầy?
ĐT: Thì ảnh không làm, bởi vì ảnh đi qua bên đó rồi, lỡ thỉnh những vị đó, vị đó làm việc cả ngày cả đêm, ảnh đâu có thì giờ mà ảnh thiền!
BĐ: Dạ.
ĐT: Là ảnh bị mang cái bịnh lao là vậy đó. Nói hoài trong đầu óc ảnh đó; nói trong đầu óc; điều khiển ảnh.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì ảnh bị; không ngủ được; nó nám phổi, nó đi tới lao.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn cái này mình có cái pháp tự chủ; mình cảm ơn Bề Trên là, “Con sẽ thực hành. “ Cương quyết; và mình nói sao làlàm vậy. Mình nói lôi thôi họ cũng vật mình, vì đã chọn xác mình rồi. Hiểu chỗ đó không?
BĐ: Dạ. Kính thưa Thầy, con có một cái này cũng lâu quá rồi,
ĐT: Ừ,
BĐ: Nhưng mà cái này cũng là một cái kinh nghiệm, và chắc có lẽ con cũng, cái này con thấy con lỗi.
ĐT: Ừ,
BĐ: Khi con thiền 6 tháng, lỗ mũi con nó sổ mũi dữ lắm,
ĐT: Ừ,
BĐ: Con mới than rằng,
ĐT: Ừ,
BĐ: Con nói, “Trời ơi! Lỗ mũi sổ như vầy làm sao mà thiền nổi?”
ĐT: Ừ,
BĐ: “Phải làm sao cho nó hết cái lỗ mũi này mới được!”
ĐT: Ừ,
BĐ: Mình chỉ than,
ĐT: Ừ,
BĐ: Trong cái tư tưởng mình vậy. Cái, tối lại con nằm con thấy một người cũng mập mạp cũng như Thầy,
ĐT: Ừ,
BĐ: Măc đồ cũng lèng xèng lắm,
ĐT: Ừ,
BĐ: Người ta mới xuống người ta mới nói, “Cái bịnh xổ mũi không khó gì hết đó! Bây giờ anh chỉ cần về lấy cái gốc đậu xanh, một nửa Anh xao cho vàng,”
ĐT: Ừ,
BĐ: Một nửa Anh để vậy Anh rửa rồi Anh nấu nước cho Anh uống, nó hết à!”
ĐT: Ừ,
BĐ: Cái, nghe như vậy đó thì con thấy trong lòng con nửa muốn nửa không, nhưng mà con nghĩ lại, nếu mà mình đang tu cái pháp Thầy “Tự tu tự tiến,”
ĐT: Ừ,
BĐ: Như vậy là nhờ ơn, thì khi mà nhờ ơn, mình tu như vậy đó, thì con thấy về thiêng liêng nó khó khăn quá.
ĐT: Ừ,
BĐ: Con sợ vậy mà con từ đó tới sau con không giám ao ước mà con gì hết, con chỉ cúi đầu, mà con cũng không giám thực hiện cái đó luôn.
ĐT: Ừ,
BĐ: Và con thấy vậy con không giám nhắc nhở tới cái đó nữa.
ĐT: Ừ. Bây giờ còn xổ mũi, hết?
BĐ: Dạ thưa Thầy còn, mà ít. Nhưng mà cái đó con bây giờ con không phàn nàn, bất cứ cái gì con
ĐT: Ừ, lần lần, lần lần nó sẽ hết. Làm Pháp Luân nhiều. Cái Pháp Luân nó lọc trong cái khối óc, thét nó cũng hết à.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái dương điển nhiều.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mình làm Pháp Luân đây là cái dương điển nó sẽ vun bồi cái dương điển càng ngày càng nhiều,
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì nó sẽ hết luôn.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn ở bên kia, mình nhờ đỡ họ, rồi phải làm; mà mình không làm không được. Khi mà mình phát đại nguyện là phải làm, làm thầy á,
BĐ: Dạ.
ĐT: Là kẹt luôn.
BĐ: Dạ. Vì chỗ đó mà con thấy,
ĐT: Nhiều người bị đó! Tu nửa chừng đi làm thầy là bị hết chọi đó!
BĐ: Dạ.
ĐT: Bịnh; bởi vì ngày đêm người ta tới người ta kiếm mình đó.
BĐ: Dạ.
ĐT: Chịu không nổi. Mà đâu có được ăn! Ăn một xu là vật liền!
BĐ: Dạ.
ĐT: Thành ra sanh bịnh.
BĐ: (Nghe không rõ) … có hại không? Trường hợp mình nhờ cái Ơn Trên hoặc là Điển Trên mà để mình đi trị bịnh đó, cái điều đó nó có hại cho ...
ĐT: Không; bây giờ mình tu pháp này là vun bồi cái dương điển của mình;
BĐ: Dạ.
ĐT: Âm dương tương hội quy nhứt rồi thì cái thần lực mình nó mạnh lắm, cái hào quang mình nó mạnh lắm.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì mình cũng có thể độ người ta trị cái tâm bịnh; tâm bịnh nó giải quyết được thì thân bịnh nó hết.
BĐ: Dạ.
ĐT: Chớ nhiều người, hay thì hay vậy đó, trị thân bịnh, nhưng mà tâm bịnh độ không được, thì bữa sau nó cũng tái phát à!
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì nó kiếm ông thầy hoài; ông thầy mệt quá.
BĐ: Dạ.
ĐT: Ông thầy bịnh luôn.
BĐ: Dạ.
ĐT: Phải không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Tu không được!
BĐ: Dạ.
ĐT: Thấy không? Còn cái này là mình tu cho mình được, rồi mình sẽ chỉ đường,
BĐ: Dạ.
ĐT: Cho họ đi với mình.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Mình cứu trọn hơn.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn cái kia, cứu một chút thôi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Và bữa sau tới.
BĐ: Dạ.
ĐT: Bây giờ như chị này, đi ra cứu thì bề trên người ta chuyển liền à! Chuyển liền, rồi cho uống nước lạnh đâu hết đó; hết đó rốt cuộc rồi bà ấy bịnh.
BĐ: Dạ;
ĐT: Tới khi người ta không có trị được nữa.
BĐ: Dạ.
ĐT: Phải hy sinh! Bởi vì ở trên kia người ta nói , “Chết đi, không sao.“
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì mình cứ chờ chết thôi; mà làm việc hoài.
BĐ: Dạ.
BĐ: (Nghe không rõ) … Rồi cái trường hợp mà những cái, cái, cái xác mà về đó Thầy,
ĐT: Ừ,
BĐ: Cái đó là cũng,
ĐT: Cái đó là cái duyên của nó,
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái duyên của mỗi gia can, của cửu huyền thất tổ của nó.
BĐ: Dạ.
ĐT: Học về cái môn đó, nó chuyển về đó.
BĐ: Dạ. Thành ra như cái phần hồn á, về nhập xác đó, thường thường đó là có, có thật không Thầy?
ĐT: Có chớ! Nó về nó kể đầy đủ hết, đâu có thiếu cái gì.
BĐ: Rồi như, trường hợp như cái, con, con, nhiều khi con thanh tịnh mà con nguyện; nguyện rồi cái, cái, linh cảm. Cái có một lần con nguyện, “Nam Mô Đức Tôn Dương Sư” đó; con, con kêu, con nguyện như vậy đó,
ĐT: Ừ,
BĐ: Rồi cái, như cái trường hợp đó, có linh cảm không Thầy?
ĐT: Không, không, không, không, không nên kêu; biết thì bên trên người ta biết hết đó; mình động là người ta biết; nhưng mình làm cho cái tánh ra ỷ lại; là không có chịu xuất ra.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn ở đây, mình tu là mình trình diện,
BĐ: Dạ.
ĐT: Nó gian khổ hơn người cầu nguyện; gian khổ gấp triệu lần người cầu nguyện!
BĐ: Dạ.
ĐT: Bởi vì, muốn đi tới đó là biết bao nhiêu khảo đảo ở cõi trên.
BĐ: Dạ.
ĐT: Quỷ đánh, ma phá; nhưng mà ta vẫn đi.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì cái dũng chí nó mạnh lắm.
BĐ: Dạ.
ĐT: Không sợ nữa.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì lúc đó mới thật sự cứu độ chúng sanh.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mình thấy rõ mình cứu được;
BĐ: Dạ. Thành ra từ đây trở về sau không có cần cầu nguyện để có sự,
ĐT: Bây giờ Con chỉ lo sửa mình để cứu độ quần sanh, thì bề trên người ta sẽ chứng cho mình.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mà phải đảnh lễ Phật.
BĐ: Dạ.
ĐT: Phải xuất ra đảnh lễ Phật.
BĐ: Dạ.
ĐT: Cái đó khổ hơn những người tu thường.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thực sự khổ hạnh.
BĐ: Dạ.
ĐT: Không phải dễ gì xuất; nhưng mà mình xuất được là khổ lắm.
BĐ: Dạ.
ĐT: Lập lại quân bình mới xuất được.
BĐ: Dạ. Vậy con xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Ừ.
BĐ: Nam Mô A Di Đà Phật.
ĐT: Ừ.
BĐ: Vì thời giờ cũng eo hẹp nên xin các bạn đạo cho tui hai câu hỏi.
ĐT: Ừ,
BĐ: Câu hỏi thứ nhứt,
ĐT: Ừ,
BĐ: À, xin Thầy sác nhận giùm, là vì đây là cũng lần đầu tiên con gặp Thầy,
ĐT: Ừ,
BĐ: Trên vấn đề qua ấn chứng, thành ra con muốn phối kiểm lại coi có đúng hay không,
ĐT: Ừ,
BĐ: Quan Thánh Đế, kỳ được Thầy chứng kiếng Vô Vi ,
ĐT: Ừ,
BĐ: Con ra tới phi trường, con cũng có nhắc Thầy; vì, nói thật với Thầy, là vì con cũng chưa tin về vấn đề này lắm. Thì con được có những ấn chứng ngay sau đó, thì Thầy cho biết,
ĐT: Ừ,
BĐ: Con lập lại câu hỏi cho rõ ràng, là Thầy cho biết Bề Trên, ở bên trên đó, xác thân của Thầy có phải là nhỏ đối với Quan Thánh Đế hay không; bởi vì con thấy qua Quan Thánh Đế lớn gấp rưỡi Thầy.
ĐT: Ừ,
BĐ: Và Thầy mặc đồ trắng; còn Quan Thánh Đế mặc đồ mầu nâu, và có áo mão cân đai. Thì con cũng không biết ai, thì được biết có Thầy và Quan Thánh Đế. Thầy đi trước và Thầy mặc đồ trắng; con cũng không hiểu Thầy có mặc đồ trắng hay không?
ĐT: Ừ,
BĐ: Xin Thầy sác nhận cái ấn chứng có đúng hay không?
ĐT: Ừ.
BĐ: Cái thứ hai, câu hỏi thứ hai, là vì như các bạn đạo đã trình bầy là thấy mâu ni châu hay là thấy những cái ấn chứng từ từ diễn tiến; nhưng mà không hiểu tại sao, con có đúng hay không, hay là ở tiềm thức mà con thấy?
ĐT: Ừ.
BĐ: Là vì con xuất hồn một cách dễ dàng.
ĐT: Ừ.
BĐ: Qua những lần con đi áp dụng theo ba phương pháp.
ĐT: Ừ.
BĐ: Dạ, thưa Thầy, là sau độ chỉ có vài tháng thôi,
ĐT: Ừ.
BĐ: Là con thấy được cảnh bên trên,
ĐT: Ừ.
BĐ: Và con được vận dụng giáo dục ngay.
ĐT: Ừ.
BĐ: Khi mà con bước vào trong cái thiên đình đó,
ĐT: Ừ.
BĐ: Thì bị cửa đóng lại;
ĐT: Ừ.
BĐ: Và con cũng thắc mắc, “Ủa, tại sao không cho con vô?”
ĐT: Ừ.
BĐ: Thì con vừa thắc mắc trong tư tưởng thì ở phía trong vọng ra cho biết là con phải về học lại hai bài
ĐT: Ừ.
BĐ: Là trường chay, diệt dục.
ĐT: Ừ.
BĐ: Con thấy, rồi con bị trở về.
ĐT: Ừ.
BĐ: Thì con; đúng ra là có hai câu hỏi. Xin câu hỏi thứ ba, là, không hiểu về vấn đề ấn chứng như thế nào, thì khi con niệm bắng ý niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật,” và khi con định thần thì thôi, khi mà con bị sao lãng về chuyện đời suy nghĩ, thì đột nhiên người nó rung lên một cái,
ĐT: Ừ.
BĐ: Rồi con mới hiểu là con đang suy nghĩ đang lúc thiền định thành ra con niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” thì trở lại.
ĐT: Ừ.
BĐ: Xin Thầy cho biết ba câu,
ĐT: Cho nên, khi mà Anh thấy tui nó nhẹ nhõm và ông kia lớn hơn, là ổng có nhiệm vụ, ổng có nhiệm vụ tuần cửa trời, oai vệ ghê lắm; mà chính ổng là bảo vệ cho chính chúng ta, giúp đỡ tất cả bạn đạo Vô Vi. Ổng là đương hành; quyền ổng lớn lắm. Thấy không?
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn tui, về phần thức tâm độ đời, và bên Vô Vi là phải bận áo trắng;
BĐ: Dạ.
ĐT: Và những người, Anh không dòm lại, khi Anh đi lên được, sau này Anh đi lên được hai từng nữa, Anh thấy người Anh cũng nhỏ, không có lớn được; bên Vô Vi không có lớn; nhỏ; và tu về Phật Pháp là chỉ gom nhỏ lại; không có lớn! Còn những người đương quyền là phải lớn: Ngài không cần đánh; dòm là phải kinh hoàng! Những người có nhiệm vụ người ta làm cái việc cai quản cửa Trời, mạnh lắm; cả thế giới phải cung kính Ngài. Còn cái vấn đề mà, khi mà Anh ngồi đó mà nó mất thanh tịnh đó,
BĐ: Dạ.
ĐT: Đó là động. Phải hồi, lập lại trật tự, là niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là lập lại trật tự.
BĐ: Dạ.
ĐT: Còn khi đi vô mà cửa Trời là Anh phải có cái lịnh của Thượng Đế mới vô được.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mà muốn có cái lịnh Thượng Đế là phải trường chay diệt dục; đó là đúng; mới vô được. Lúc đó Ngài mới ban chiếu cho Anh vô, chớ không phải ai muốn vô là vô đâu!
BĐ: Dạ.
ĐT: Phải có cái chiếu lịnh của Thượng Đế mới vô được.
BĐ: Dạ.
ĐT: Thì ba cái Anh Thấy đó, rồi Anh thấy rằng cái khoa học không có thể giải đáp được. Nhưng mà cố gắng tu đi, rồi Anh sẽ rút ngắn gọn thời giờ, mà Anh phải phát tâm độ đời, Thượng Đế mới ban chiếu!
BĐ: Dạ.
ĐT: Anh hiểu chỗ này không?
BĐ: Quý vị nào mà còn câu hỏi, nên ghi lại để kỳ sau.
ĐT: Tới giờ rồi hả?
BĐ: Dạ, sắp tới giờ rồi, xin để Thầy nghỉ.
ĐT: Cho nên, bắt quý vị mất tự do 3 tiếng đồng hồ. Vậy thôi, cho nghỉ đi. (cười) [41:50]
Hết Mp3 ID=19860101Q6 - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Vấn Đạo - Cuốn 2B
Hết video ID=19860101L2 – “Vấn đạo (2)”
Bắt đầu Mp3 ID= 19860102Q1
KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ - BẠN ĐẠO ĐÀM ĐẠO - THẦY MINH GIẢI - cuốn 4A
Bạn đạo: Dạ, kính thưa Thầy, sau một buổi chiều chúng con họp toán và thảo luận bài giảng của Thầy dựa theo quyển “Kinh A Di Đà” của đức ông Tư để lại thì, xin thưa thật với Thầy, cái điều này đối với con thật vô cùng mới mẻ,
Bắt đầu Video ID=19860101L2 – “Thảo luận đạo (1)”
và cái phần hiểu biết về Điển Giới của chúng con cũng giới hạn. Thành ra anh em, tuy thảo luận rất là hăng say, rất là nhiệt thành, trình bày tất cả cái hiểu biết của mình trong thời gian tu học từ trước tới đây, đôi khi cái vấn đề cũng có thể đi ngoài những cái điều mà phạm vi đề tài, nhưng đó cũng giúp cho anh em hiểu thêm nữa. Và ngoài cái vấn đề trao đổi về học hỏi về bài giảng của Thầy, anh em còn có thêm dịp gần gũi nhau, tạo thêm cái tình cảm thông hiểu nhau và thân thiết hơn.
Chúng con, qua các toán thảo luận, thì có một số câu hỏi ; thì con xin, hôm nay có Thầy hướng dẫn, thì cái phần câu hỏi này, xin lần lượt các toán, đại diện các toán, nêu lên, trình bày từng câu một trước Thầy. Và sau đó, nếu còn thời giờ, thì hoặc là Anh Chị, các Bác, có cái điều gì thắc mắc về vấn đề điển giới hoặc là phạm vi của “Kinh Di Đà,” thì xin các Bác, các Anh, Chị nêu lên tiếp ; hoặc nếu không có ý kiến gì thêm, thì cái thời giờ còn lại cũng khá rộng rãi, nếu mà Thầy cho phép thì quý Anh Chị cũng ước mong xin Thầy tiếp tục giảng thêm nữa, để tối nay tụi con thấm nhuần.
Đó là những điều mà con xin trình thưa lên Thầy.
Đức Thầy: Đâu, ai hỏi cái gì ?
Bạn đạo: Vậy thì Toán A, anh em có câu hỏi thì xin thưa lên Thầy.
Bạn đạo: Con xin đảnh lễ Thầy ; kính thưa Thầy, sau một cuộc thảo luận, tuy chúng con tìm hiểu đọc qua văn tự, nhưng chúng con chưa có đủ thanh điển để mà hiểu rõ về điển giới, thành ra có những câu hỏi này, anh em chúng con góp ý lại.
Câu hỏi thứ nhất : Làm thế nào để rõ luồng điển âm và dương ? Luồng nào âm, và luồng nào dương ? Ý của người hỏi là, thưa Thầy, là phía bên trái hay phía bên phải ; luồng nào là âm, và luồng nào là dương ?
Đức Thầy: Cái bên âm, nó thuộc về lạnh ; dương, nó thuộc về nóng. Cho nên, con người, cơ thể con người [03:12]
Video ID=19860101L2 – “Thảo luận đạo (1)” thiếu, ngưng video ở phút 02:50
Tương ứng với đoạn dừng Mp3 ID= 19860102Q1 phút 03:12
có âm, có dương, có nóng, có lạnh ; khối âm, trược nhiều hơn ; khối dương, thanh nhiều hơn. Đó ! Thì trong cơ thể chúng ta rờ mó đây là âm, rờ mó được đây là âm ; mà sự thanh nhẹ ở bên trong, đó là dương ; phải hiểu chỗ này !
Còn cái âm, dương trong cái điển giới, khi chúng ta đang ngồi thiền, hướng thượng tưởng đi, tưởng xuất hồn đảnh lễ Phật. Trong lúc chúng ta Soi Hồn hăng say, vô, một chặp nó kéo xuống : cái dục tính nó kéo xuống, cái âm điển kéo xuống liền, nó động cái Nhâm Mạch, nó tạo dục, nó đòi hỏi ! Mà các bạn niệm Phật, nó cũng vẫn đòi hỏi ! Vì sao ? Vì mình nuôi dưỡng cái đó nhiều quá ; âm khí nó lôi cuốn.
Cho nên, tại sao một người tu một thời gian rồi tự nhiên nó đòi ăn chay ? Ăn chay, nó lại tự khắc phục được hơn cái kia ! Thì tự nó giảm bớt thịt thà, rồi nó ăn rau cỏ, cho nó nhẹ, nó ngồi thiền, nó mới tiến về dương khí ! Và từ đó, từ dương khí ngay trung tim bộ đầu, tiến về thuần dương đi lên, nó mới về đạo !
Cho nên, các Bạn cũng có cảm thức điều này : khi làm Pháp Luân Thường Chuyển một hồi, rồi cái thấy con người nó thanh nhẹ, bộ đầu nó thanh nhẹ. Bằng đầu mình làm, thấy nóng, thấy toát mồ hôi ; rồi nó nhẹ ! Đó là cái dương, cái dương khí đi lên, của trong cơ tạng. Cái âm khí, nó ra mồ hôi, nó đi. Đó ; nó tuần tự như vậy. Có âm, có dương ; có nóng, có lạnh ; bên trong.
Bạn đạo: Dạ, con cám ơn Thầy. Và đây là câu hỏi thứ hai :
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Nam, nữ, đường âm dương có khác nhau không ? Nếu khác, thì khác ra sao ? Ý của câu hỏi này là vì nam á, thì có cái vía có tính âm, gọi là nữ tính,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Còn cái hồn á là phần dương tính.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Hoặc ngược lại, về phái nữ ; thành ra do đó, kính thưa Thầy : nam, nữ, đường âm dương có khác nhau không ? Nếu có, thì khác ra sao ?
Đức Thầy: Ngược lại : nữ thì nó ngược lại ! Cho nên, đàn ông dòm đàn bà, cái dương điển nó ở bên ngoài, mà đàn ông âm nó ở bên ngoài cho nên người đàn ông dòm cô gái đi ngang, thấy thích, vì cái dương điển của mình nó liên hệ ; thấy thích, rồi thấy, đi ngang dòm mình, cái, mình thấy cái tâm nó sáng, nó nhẹ liền : dòm cái phần dương điển của nó ! Bên trong họ là âm, bên ngoài họ là dương ! Nó ngược lại như vậy thôi ; ngược của đàn ông.
Cho nên, cái người đó tới, “Tại sao tôi thấy, thấy cô đó, mà cô đi ngang, mà tôi thấy cái bàn tay cô là tôi thích rồi ?” Nó thích cái điển của nó, cái courant nó chung với nhau ! Nhưng mà, ở lâu rồi lại cãi lộn à ! Những cặp vợ chồng nói lại, “Hồi [06:39]
Video 19860101L2 thiếu so với Mp3 ID= 19860102Q1, từ phút 03:12 đến 06:39 của Mp3 ID= 19860102Q1
Tiếp tục video ID: 19860101L2 - “Thảo luận đạo (1)”
ban đầu thì Ông mê tun, Ông thích ! Bây giờ tại sao tôi nói cái gì Ông gây cái nấy ?” Bây giờ nó khác rồi : vô trong, nó khác rồi, cho nên, ông ra ông, bà ra bà.
Cho nên người ta nói, có câu: “Ông tu, ông đắc ; bà tu, bà đắc” mà để giải tiến 2 luồng điển âm, dương cho nó thuần âm, thuần dương nó mới thành đạo : đàn ông thì tu cho thuần dương ; đàn bà tu nó thuần âm. Đó ! Thuần âm, thuần dương nó mới thành đạo ; thấy không ? Mới giải nghiệp được ! Mà còn lưng chừng, là tạo nghiệp : thấy cái này thích, thấy cái kia chê, đó là tạo nghiệp ; mà thuần âm, thuần dương rồi, nó mới là giải nghiệp.
Cho nên, mọi người chúng ta tu, tại sao đàn bà cũng làm Pháp Luân Thường Chuyển, mà đàn ông cũng làm Pháp Luân Thường Chuyển ? Vậy thì chỉ cho đàn bà làm cái khác ? Mà tại sao đàn bà kêu phải làm nhiều hơn ? Vì âm khí nó trì trệ hơn, kêu làm nhiều hơn, làm mạnh hơn. Còn đàn ông mà làm một chút là thấy nó rần cả mặt, mày hết ; nó khác đi. Cho nên hai người cũng đồng làm, mà để làm chi ? Để cho nó thuần, thông Nhâm Đốc rồi, nó thuần ; thì đằng này cũng thuần ! Hai cái bánh xe cùng tiến hóa, tiến lên.
Bạn đạo: Dạ, con xin cám ơn Thầy.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Để tiếp tục câu hỏi thứ hai, vì câu hỏi thứ ba có liên hệ : như vậy, nếu vì căn cơ nghiệp quả, nếu như người đàn ông kiếp sau biến hóa thành người đàn bà vì nghiệp quả để trả nghiệp, thì như vậy đó, người nam biến ra nữ, thì luồng điển có biến ra sao không ? Ý con muốn nói : vía nó biến thế nào ?
Đức Thầy: Biến chớ ! Bởi vì, cái người mà quá hung hăng, vô phương trị ! Có cho luân hồi cũng phải giảm bớt 50 phần 100 ; được làm con người, nó phải giảm 50 phần 100 ! Cho nên, người đàn bà luôn luôn yếu hơn người đàn ông 50 phần 100 : Anh đau bụng, Anh đi chảy, mà 3 người đàn bà xô Anh, chưa chắc gì Anh ngã ! Nó yếu như vậy đó : nó giảm bớt ! Nhưng mà ý chí nó, đồng với nhau : Anh muốn lật đổ ông trời, nó cũng có quyền lật đổ ông trời ! Nhưng mà cái thể xác nó phải yếu.
Chớ nói, "Nam, nữ bình đẳng" là ý chí bình đẳng, chớ thể xác không có bình đẳng được ! Nó yếu hơn ! Mà người đàn bà bị hành hạ nhiều hơn : bị kinh nguyệt, bị sanh đẻ, bị này, bị kia ; để thức tâm ! Khổ hơn, trì trệ hơn, để cho sớm thức tâm. À ! Ý chí, 2 cái là 1 ; không thua ai hết ! Nó phải bị giảm ở cái khám này, cái thể xác này, giảm bớt vậy thôi ; nhưng mà, hành sự, ý chí vô cùng như nhau !
Cho nên, có Quan Âm, có Phật ; Quan Âm hiện đàn bà, vì cái đẹp cũng là sức mạnh, từ bi cũng như nhau, cũng như bên kia. Mà ông kia ổng tu thuần dương rồi, mặt ổng tươi nhẹ ; ai thấy cũng cảm mến thương yêu. Rồi bà kia tu, tươi nhẹ, ai thấy cũng trìu mến và nhớ nhung. Hai cái ý chí như nhau ; thấy chưa ? Cũng thành đạo như nhau ! Nhưng mà thể xác về quản lý ở quả Địa Cầu, có trược, có thanh, mới quản lý được tâm thức bị đọa.
Có nhiều người, kiếp trước làm chồng hà hiếp người ta quá, bây giờ làm vợ bị người ta hà hiếp lại. Hà hiếp bằng cái gì ? Nó cho đẻ mười mấy đứa thôi, mười mấy thằng đánh nó, nó cũng mệt rồi ; phải không? Ông Trời Ổng làm rất công bằng, rất tinh vi, mà không lọt được răng thưa lưới Trời : dữ gì dữ, tới đó, làm một mách là chịu không nổi rồi đó ; thấy không? Rồi mới ăn năn, đi tu ; rồi tại sao người ta nói đàn bà đi tu nhiều ? “Khổ quá mà ! Lấy chồng, ổng đi ăn, đi nhậu bia, đi chơi, còn tôi cứ ôm ba thằng này, nó mệt quá !” Chán đời mau lắm ; đi tu ! Đó ! Còn đàn ông, phải bị tai nạn, phải bị đau đớn, phải bị lường gạt, phải bị đủ thứ ; bị mọi sự phản bội nó mới đi tu, tìm đường đi tu ! Thì 2 người cũng vậy đó thôi : nhưng Ông Trời Ổng sắp đặt : có âm, có dương, có duyên, có nợ, để xây dựng cái cơ đồ tại thế gian ; xây dựng cái khám lớn, vậy thôi !
Chớ mình ở đây cũng chả hưởng được cái gì : ăn nhiều nó nói bệnh tiểu đường ; rồi ăn nhiều nó nói bệnh dư máu ; thì cũng không có hưởng được cái gì ! Toàn là học khổ, để tiến hóa, mà thôi ; như nhau ! Cho nên nam, nữ cũng bình đẳng tiến hóa. Ông Trời dòm, 2 đứa đang tiến ; nhưng mà 2 người cũng đang học bài của chính nó : tiền kiếp làm quá, bây giờ phải bớt, phải giảm, gia giảm ! Tùy theo trình độ mà dẫn tiến.
Bạn đạo: Dạ, con cám ơn Thầy. Và đây là câu hỏi thứ tư : thưa Thầy, để phân biệt về điển quang, thì điển quang của người tu và điển quang này có khác với điển nhà đèn không ? Nếu có, là khác nhau ở tần nào,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Giả dụ như : tần số, hiệu thế, hay cường độ ?
Đức Thầy: Cho nên, điển quang của bộ đầu khác hơn điển nhà đèn : điển nhà đèn mà bị điển Thiên Lôi chuyển một cái là cũng sập nhà đèn luôn ! Phải không ? Cho nên, nhà đèn luôn luôn đặt cái paratonerre rút xuống dưới đất : Thiên Lôi mà chuyển tới, nó rút, để tránh cái nhà đèn làm cái “Rầm” một cái, là cái ti vi của mình cũng tắt luôn !
Còn chúng ta, ngay trung tim bộ đầu luồng điển xuất phát đi lên rồi, lúc chúng ta tham thiền, bây giờ có Thiên Lôi đập cách mấy, nó cũng không có đụng ! Trung hòa ! Luồng điển trung hòa, kêu bằng luồng Điển Quang ; ngồi thiền mà sét đánh xuống mà mình cũng không có bị ! Nó khác đi ; nó nhẹ hơn ; nó tầng số cao hơn, nhẹ hơn ! Mà tùy theo trình độ tu: có người tu tiến tới tầng thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư, thứ năm ; thứ sáu cái, người đó nhẹ, không có sợ ; tiến tới thứ sáu là không có sợ, bom đạn xuống cũng không có sợ, “Thân ngoại thân rồi” ; cái luồng điển đó, nó không giống như cái luồng điển của thế gian.
Thế gian, phải bắt dây nhợ mới đi. Còn tới đó, mình bước qua tầng đó rồi, nó hút mình đi luôn ! Cho nên, Anh thấy, người ta lên cung trăng, 100 ký còn bao nhiêu ký ? Ý tưởng một cái là đi lên rồi ; nó hút đi ; là đối với cái xác phàm. Mà đối cái luồng điển của chúng ta, vừa nháy, là nó đi tới ! Nó nhanh như vậy, nhẹ như vậy, và sáng suốt như vậy, mới được ! Nó khác hơn cái từng số của thể xác. Thể xác là về cái luồng điển, cũng như điện nhà đèn : Anh không ăn vô, không có chua, cay, chát, đắng, ngọt, bùi, thì Anh không có điện, nói chuyện không ra tiếng ! Cũng như điện nhà đèn, vật chất. Đó ; thấy không ? Còn điện nhà đèn, nó phải dùng máy móc, cũng kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ; cọ sát, nó mới phát ra 2 sợi.
Thì cơ thể của chúng ta cũng 2 sợi : bên âm, bên dương : bên lạnh, bên nóng ; thấy không ? Con mắt phía bên tay mặt ngó, thấy xa hơn ; con mắt phía bên tay trái ngó, thấy gần hơn ; Anh thấy rõ không ? Hai luồng điển ! À. Cho nên, có mặt trăng, có mặt trời : sự liên hệ của tiểu thiên địa này có mặt trăng, có mặt trời ; con mắt phía bên tay mặt liên hệ với mặt trăng, còn con mắt phía tay trái liên hệ với mặt trời ; nó rất có trật tự ; hai trái cật cũng vậy : bên nóng, bên lạnh, liên hệ với nhau ; cho nên kêu bằng, “Tiểu thiên địa.” Mà các Bạn đã và đang ôm cái tiểu thiên địa này, mà không biết cái lý âm dương thì nó buồn lắm.
Cho nên, chúng ta tu, chúng ta khám phá ra có âm, có dương, có hồn, có vía, có vợ, có chồng, “sống đồng quan, chết đồng quách” ; thấy chưa ? Họ sống, bàn bạc với nhau, chết chung một hòm : có hồn, có vía ; đó là thực tế. Còn ở thế gian là ông ra ông, bà ra bà ! Khám này tạo khám kia để giam phần hồn, để học hỏi và tiến hóa mà thôi.
Bạn đạo: Dạ, con xin cám ơn Thầy. Thưa Thầy, đây là câu hỏi tiếp ; cái câu hỏi này đặt ra là khi Thầy có đề cập đến Thiên Lôi.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Thưa thầy, có người bị sét đánh,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Nhưng không chết ! Thì cái khu vực xung quanh rất nóng ; và nếu những ai mà đem thức ăn đưa bằng tay vào thì không thể đưa vào được, mà phải đưa qua một cái cây ! Và đất từ đó lún xuống dần, người ta gọi là “Trời trồng.”
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Thưa Thầy, chúng con có thấy những hiện tượng này, nhưng không hiểu ?
Đức Thầy: Cái đó có, ở Việt Nam, như ở Long An, có cái mả mà chôn đứng đó, là Trời trồng đó chớ ! Bởi cái tội ác của nó nhiều, và cái phần trược của nó quá nhiều, cho nên cái điển Thiên Lôi xuống, hút một cái, nó đi luôn, dính ở đó tới cháy đen ! Sau, ở Long An, có cái mả chôn đứng ! Anh đi ngang, xe đò, là Anh thấy có cái mả chôn đứng đó ; ở Long An có đó ; phải không ? Là trời trồng đó ! Nhưng mà đào sâu xuống 7 thước là thấy có cái búa Thiên Lôi ! Cái đó, làm sao tôi biết được ? Vì trước nhà chú tôi á, ở Việt Nam hồi xưa, bị đánh, cái cây tét làm hai ; mà sau, ổng đào sâu, ổng lấy cái Búa Thiên Lôi rất đẹp ! Mà những người nào bệnh hoạn, bệnh tà hay bệnh cảm đồ gì, cái đem mài, lấy cái nắp chum mài, nó khét ghê lắm ; mài, uống một cái, là nó hạ liền !
Bạn đạo: Kính thưa thầy, cái búa Thiên Lôi, chính mắt con đã được thấy,
Đức Thầy: Đó !
Bạn đạo: Là vì ở bên cạnh một cái đình miểu á, thì cái cây đa cao, nó bị đánh ngã.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Theo truyền thuyết là 3 tháng 10 ngày là cái búa nó lồi lên. Lúc đó con học khoảng lớp nhì, là lớp bốn bây giờ đó, thì thằng bạn con nó được bạn bè trong lớp 4 nói, thì nó ra, buổi sáng, nó lấy được cây búa.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Con thấy rõ tận mắt ; cây búa nó bằng đá, có màu đồng ; rất là đẹp,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Mà lúc đó con trả 10 đồng, nó không bán ! Chính mắt con thấy cây búa rẩt đẹp.
Đức Thầy: Chú tôi có cái búa rất đẹp, mài một cái là nó khét liền.
Bạn đạo: Dạ, con xin cám ơn Thầy rất nhiều. Và đây là những câu hỏi của Toán A của chúng con.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Nay con xin nhường lời lại cho toán B.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Thưa thầy, con cũng hơi tò mò,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Thì mình làm sao mà biết rõ đó là cái búa của Thiên Lôi, mà không phải đó là cái di tích của tiền sử hay thời đại đồ đồng nó lạc đâu đó, rồi bây giờ tìm ra ?
Đức Thầy: Ừ. Bởi vì đây là cái chuyện trước mặt nhà của chú tôi, mà chú tôi là người, kêu bằng, cầu cơ ! Ông đó cầu cơ là Quan Thánh xuống ! Khi mà sét đánh rồi, thì tự ổng biết. Bữa đó ổng không có đi chùa cầu cơ, mà ổng biết, ổng kêu phải đào sâu xuống lấy cái búa ! Thì tới đó, đào ra cái búa rõ ràng ! Mà sử dụng cho gia đình, và sử dụng cho mọi người. Cái đó là sự thật ở trong gia đình tôi, có nhận được cái búa đó ; bằng đá, bằng đá chớ không phải bằng sắt ; cái búa đẹp lắm, nhỏ, vầy, vầy, nó ve ở dưới ra vầy ; đẹp thật đẹp. Chính ổng đào lên, mới chứng minh rằng đó là sau cái trận sét mới có cái này, chớ không phải mướn thợ làm ! Mà mình lấy cục đá ở Đà Nẵng mà nắn thành cái búa Thiên Lôi đó, mình mài nó không có khét ! Mà cái đó, mài nó khét ghê lắm !
Bạn đạo: Thưa Thầy, cai đó Thầy giải thích theo cái kinh nghiệm mà Thầy biết,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Cũng như anh Sanh nói, là mắt ảnh thấy. Nhưng bây giờ Thầy giải thích bằng cái sự hiểu biết huyền vi của Thầy.
Đức Thầy: Là điển.
Bạn đạo:Thiên lôi là cái người vô hình, đánh cái cây không ai thấy, chỉ thấy cái luồng điển nó như vậy thôi, thì thiên lôi cũng phải dùng một cái vật chất nào đó để đánh cái cây nó tét ra, cái búa nó đi sâu ?
Đức Thầy: Nó đi cái búa xuống đất ; nó có cái đánh chớ ! Cho nên, nó xuống một luồng điển rất mạnh. Mà chỗ đó, cũng như là con quỷ, trược khí ghê lắm, đánh vô một cái nó hút, cháy luôn cả cái cây luôn ! Đó ! Những người mà có kinh nghiệm, đào thì thấy có cái búa liền ; mà khét ! Chớ cái búa đó không có bao giờ Chị ngửi mà nó không khét ! Lúc nào nắm lên ngửi cũng khét, khét nghẹt ! Mà cái sức cháy của nó là khủng khiếp vô cùng. Mà tại sao cái búa còn ? Cái đó mới thấy rằng, cái đó là cái kinh nhiệm trước mắt á, mà thấy như vậy.
Còn về nguyên điển, thì đương nhiên “Trược thì phải hút trược” rồi : cái thiên lôi là sức mạnh, giáng lâm xuống thế gian ; khối nào mà trược, hoành hành, nói “Ta đây !” thì bị hút liền ! Nhà còn sập kia mà; bị hút liền!
[Video có một câu hỏi của bạn đạo ở khúc này]
Thiếu gì búa! Người ta dụng điển làm mà : bởi nó đánh sâu xuống thì nó chỉ xuống bằng cái hình điển mà thôi ; thì dưới đó có đá, là phải thành hình một cái búa bằng đá ! Cái chiều sâu nó vậy ; quá mạnh !
Bạn đạo: Mất cây búa rồi, làm sao còn có cây khác nữa, Thầy ?
Đức Thầy: Cái búa khác, đất, đá dưới này thiếu gì ! Trong cái tưởng nó có cái tượng : cái khuôn từ ở trên đưa xuống, ép xuống, là phải có rồi : cái sức nóng mạnh, nóng vô cùng ; cái gì lại không thành ? Mà cái ý ở trên đó chuyển xuống là nó thành cái búa, để cho nhân gian thức tâm mà lượm cái búa thấy rằng, “Tà mới bị đánh !” Tại sao mọi người xung quanh không bị đánh, mà người đó bị đánh ? Thì chúng ta không nuôi dưỡng cái ý niệm tà tâm mà để phá hoại xã hội.
Cho nên, phải nuôi dưỡng sự thanh sạch hướng về thiện nghiệp để độ nhân, thì đâu có bị cái đó ! Một cái gì, hành động gì, từ các cõi làm việc đều có giáo dục và có triết lý. Nhưng mà người không bình tĩnh, không giải thích nổi thôi ; chớ nó có một triết lý rất vững, để độ nhân.
Tôi cũng thắc mắc về cái vấn đề búa thiên lôi đó : tôi tính tôi nắm cái búa thiên lôi, tôi mài cho người ta uống là tôi mừng lắm ; nắm được ! Còn, tôi nói, ngoài cái búa, Ông Tư có một cái, có một cục rễ ; các Bạn tin không ? Bây giờ, Anh bị bón hả ? Ổng mài ngược, mài ngược. Ổng lấy từ ở Lèo về ; Ổng mài ngược cho uống ; đi cầu liền ! Bạn ỉa chảy, hả ? Ổng mài như vầy ; Ổng cho mình làm mà ; Ổng nói, "Bạn không tin ? Bạn làm đi !" Bón liền !
Bạn đạo: Cục rễ ?
Đức Thầy: Cục rễ cây ! Mà sau khi Ổng đi rồi, không biết Thầy Hai có giữ cục đó không ? Cái cục đó là đưa tôi coi, rồi thử ngay, mài liền ! Ổng lấy từ ở Lèo ; hồi đó ông học nơi A Hí, A Kìa ở trên Lèo, và Ổng mang từ trên Lèo về.
Bạn đạo: Ông Tư có giải thích cái rễ cây có cái gì ở trong không, Thầy ?
Đức Thầy: Ổng nói, “Cái rễ cây, nó ở trên rừng có nhiều loại rễ cây, có thể bắt Bạn và hút máu Bạn, kẹp cho Bạn chết luôn cũng được nữa ! Nó cũng như con người, hung hăng lắm !”
Bạn đạo: Kêu bằng ngải ?
Đức Thầy: Ừ, ngải đó ! Cái loại rễ cây đó, Ổng không có nói cái tên, nhưng mà Ổng nói : “Cục rễ cây này nè, muốn ỉa chảy thì mài như thế này, mà muốn bón thì như thế này !” Mà chỉ có một khúc vầy thôi ; ổng lấy được ; rồi Ổng có nói “Nhiều cái rễ cây, đừng có tưởng nó là rễ cây, là vật vô tri ; nhưng mà nó có thể cột mình ở ngay một chỗ và tới chết luôn !”
Bạn đạo: Con có thấy người ta nuôi cái đầu ngải,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Người ta nuôi bằng con gà, bỏ con gà vô, cái cây ngải nó ăn con gà sống.
Đức Thầy: Đó, ăn chớ sao ! Nó cũng như con người vậy, mà Chị không nuôi thì một ngày, một ngày một tàn lụi ; cái thời mình không có nữa, nó không ủng hộ mình nữa. Cho nên, Mỹ qua Việt Nam bị Việt Nam nuôi ngải nhiều lắm ! (cười)
Bạn đạo: Thưa Thầy, đây là câu hỏi của toán B ;
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Mấy anh thắc mắc về Thập Tam ma ; không biết Thập Tam ma là cái gì ?
Đức Thầy: Thập Tam Ma là 13 cái huyệt nó có thể xâm nhập trong cơ thể mình, về tà khí. Những huyệt Thập Tam ma, tui chỉ cho ! Đây cũng một huyệt, đây cũng một huyệt, đây cũng một huyệt, đây cũng một huyệt ; 4 huyệt. Mười rồi, há ? Sau này cũng một huyệt ; mấy rồi ? Bẩy rồi. Đây một huyệt, đây một huyệt, rồi tới dưới chưn ; là, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 ; ngay chỗ này. Cho nên, 13 cái huyệt đó có thể xâm nhập ; bởi 13 luồng điển tà khí ở các tầng có thể xâm chiếm cơ thể, và bắt cái miệng phải nói chuyện ; mình châm một cái, nó ngưng, không nói nữa ! Là 13 cái huyệt.
Bạn đạo: Giải thích như vậy,
Đức Thầy: Bởi vì nó ở nhiều cõi trong cơ thể ! Mà cái cơ thể là cái tiểu thiên địa, nó ở những cái từng số khác nhau.
Bạn đạo: Có đoạn anh Hòa giở trong “Kinh A Di Đà,” Ông Tư nói Lục Căn Lục Trần và vía.
Đức Thầy: Thì đó ! Tụi nó ở trong cái cơ thể mình, đó ! Nó ở trong cơ thể của mình ; thì nó xâm chiếm vô lục căn lục trần và cái vía, nó mới điều khiển mà nói chuyện được. Nó chiếm cái đó ! Thì ở những cái điểm đó là cái điểm quan trọng của cái thể xác : nó ở những cái từng số đó, kêu bằng “Tà khí xâm nhập” ; Lục Căn Lục Trần là tà khí á, chớ đâu có thanh ! Cái vía cũng là tà, chớ không phải chơn đâu ! Người nào cũng có vía, mà chê “Tà,” với thích “Chơn” ! Người nào cũng có Lục Căn Lục Trần, mà chê tà ! À ! (cười)
Bạn đạo: Con cám ơn Thầy.
Đức Thầy: Ừ !
Bạn đạo: Toán C thì câu hỏi lủng củng lắm, anh em cũng cười ; nhưng mà Thầy nói thì tất cả mọi câu hỏi đều được nêu ra để mổ xẻ.
Đức Thầy: Nêu lên chơi cho vui.
Bạn đạo: Con cũng xin trình Thầy : Câu hỏi thứ nhất : Con người, nhờ có thân xác nên mới có kinh mạch. Phần thiêng liêng, không có thân xác, thì có kinh mạch không ? Và sự tu học, tiến hóa của phần thiêng liêng như thế nào ?
Đức Thầy: Cho nên, con người có cái thể xác, nó có nhiều cơ duyên tu học hơn, kích động và phản động nhiều hơn. Còn phần con ma, nó cũng có mạch lạc chớ : không có mạch lạc, nó lấy cái gì nó sống ở cõi thiêng liêng ? Nhưng mà nó thuộc về khối lạnh : nó không có được nóng ấm như cái thể xác con người ; cái mạch nó trầm, lạnh ; nó không có giống như cái mạch của con người. Cho nên, khi mà con người cảm giác con ma nhập vô, thì thấy nó lạnh từ xương sống, lạnh đằng sau ót ; vì nó là cái chất lạnh !
Còn con người không có, con người ấm, dương khí nhiều, nhờ ăn này kia, kia nọ, nó đầy đủ dương khí để nó phóng ra.
Thì còn con ma, nó chỉ có mức lạnh không : nó lúc nào cũng cô đơn ; cái tiếng nói nó cũng run rẩy, nghe nó rùng rợn lắm, buồn bã lắm ! Nó thiếu !
Còn đằng này chúng ta đầy đủ, cho nên cái mạch lạc nó khác, kinh mạch nó dồi dào.
Cho nên, con ma chiếm được thể xác là trù trì trong thể xác, và không chịu đi ; muốn ở đó, để tu, để hưởng ngũ vị chua, cay, chat, đắng, mặn, nồng ; muốn hưởng cái ngũ vị đó ! Mà nó a tùng theo cái thể xác và nó nhất định không chịu đi ; có làm cách gì nó cũng không chịu đi : mình tin Quan Âm, nó nói Quan Âm ; mình tin Chúa, nó nói Chúa ; mà muốn ăn thua, nó nói chuyện ăn thua ; nó khôn hơn con người gấp triệu lần, mánh lới đủ thứ !
Cho nên, chúng ta, may thay, đã có cái pháp khứ trược lưu thanh, giải nó ra, và tự chủ.
Chính ta trong này có ma ; mọi người đều có ma, có trược, “Thập Tam ma” ; có ma, có trược ! Mà chúng ta, từ cái duyên phước nhiều kiếp, ngày nay cái thanh lấn cái trược được, chúng ta mới làm con người để phán xét chuyện này, chuyện nọ ; nhưng mà không hành triển và không khai mở, không hướng về thanh nhẹ, thì luôn luôn bị lôi cuốn bởi Thập Tam ma nó kéo mình xuống càng ngày càng trì trệ : ngồi mà vớ vẩn như thế này ; không có đứng đắn, không có suy xét được cái gì hết ; lừ đừ không hiểu cái gì hết : cái đó là Thập Tam ma nó đang kéo mình, nó làm cho mình trì trệ, không tiến nổi.
Cho nên, cái người tu, tại sao người ta nhắc mình phải niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật” ? Để nó lần lần khôi phục và quân bình lại ; tự chủ, để hiểu rõ 6 cái Lục Tâm của chính mình, và khai triển 6 Lục Tâm đó để cho nó mở thức hòa đồng, thì cái phần tri kiến của mình nó lại nhẹ nhõm hơn và dễ cảm nhận được hơn !
Còn người thường cứ nói ăn thua : nói đi, nói lại, rồi nói chỉ cầu xin Ơn Trên và cúng lạy, xin bùa ; họ thích vì họ bị Thập Tam ma kéo ; nó bị trược ! Trược nhiều thì nó muốn cứu. Mà mình nói cái chuyện cứu, “Ui da, thì bây giờ đeo cái bùa là nó hết bệnh !” Cái đó là cái tâm lý, tin tưởng nơi cái bùa đó rồi nó hết bệnh ! Tự nó phấn đấu được mấy chục phần trăm ? Khi mà chúng ta ra chợ mua cái bông về, cũng phải khen cái bông chớ ! Khi mà thỉnh cái bùa, phải khen cái bùa ; phải tâm lý không ? À, “Cái bùa này hay lắm ; nó nhất định cứu tôi được ! Tôi thấy tôi hết rồi !” Nhưng mà không hết được ! Phải hiểu chỗ này !
Cho nên, chúng ta may mắn có cái Pháp Khứ Trược Lưu Thanh, giải nó ra, và có đường lối rõ ràng, trụ đảnh, giữ cái thanh ở trên này, không có giữ ở dưới này ! Từ cái khúc này xuống, không giữ, mà giữ ngay cái chỗ này thôi ; kêu bằng “Thoát.” Cái đó là mật tông : nó không có chiếm mình được ! Ngay chỗ Nê Hườn ; không có bị lệ thuộc ! Thành ra may cho những người biết Pháp ! Mà phải hành pháp, phải cương quyết hành mới giải tỏa được !
Còn không cương quyết hành, mà ươn ươn, đó là chỉ tạo khổ mà thôi ! Biết chết, bỏ, là ta không còn chết nữa ! Mà sợ chết, thì sự chết nó sẽ hù ! Đã, ta nói Thập Tam Ma, đâu phải 1 con ma đâu ! Nhiều giới nó có thể mở cửa, nó rước tà khí vô uy hiếp phần hồn : ta tham sanh qúy tử, sợ chết ! Khổ thêm nữa !
Cho nên, ta không còn sợ chết nữa : biết cái hồn, không có bị chết : “Tôi không có sợ ! Tôi sợ, tôi bỏ quên ý chí vô cùng của tôi, thì tôi mới bị lệ thuộc của Thập Tam Ma !”
Bạn đạo: Thưa Thầy, như vậy là cái phần âm, vì nó không có đủ âm dương, nên nó không có tu tiến được ?
Đức Thầy: Không phải ! Tự nó hao phí nhiều dương khí thành ra biến thành âm nhiều hơn dương, thì nó chỉ có cái thức, kêu bằng, “Cầu xin.” Con mắt mở, mở, cầu xin ; vậy thôi ; chớ không có biết tự chủ ! Nó mất đi rồi !
Bạn đạo: Dạ thưa Thầy, còn như Thần Tài về nói rằng Thần là cái phần điển Dương rồi,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Không phải tà.
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo: Nhưng mà sao nói cũng tu rất khó vì không có cái xác ?
Đức thầy: Vì không có cái xác ; bởi vì Thần Tài là ở trong cái trình độ lẫn lộn với nhân sinh, phải độ người, phải lãnh cái nhiệm vụ đó, cho nên Ngài xét tất cả ! Cái chuyện tu không phải dễ ; khó lắm ! Khó lắm, mà chúng ta làm được người tu như thế này là Thần Tài vui lắm rồi ! Ta không có phá bậy, thì Thần Tài không có báo cáo ! Cũng như cảnh sát vậy mà ! Nhiệm vụ của cảnh sát : hỏi chớ, cảnh sát học được lớp thứ mấy mà đi làm cảnh sát ? Ở đời này cũng biết rồi : mấy ông học, không phải, xin lỗi, học dở nhiều mới đi làm cảnh sát ! Học thiệt giỏi, không ai đi làm cảnh sát hết ; phải không ? À! (Cười...) Thì nó vậy đó thôi ! Cho nên, Ổng cũng phải còn ăn nhậu, vì chúng sinh cúng mà ! Ổng được quyền hưởng, thì ổng ăn ! Ổng ăn, chỉ ở đó hưởng hoài ; thì ổng làm Thần Tài hoài thôi !
Rồi còn người tu, nó khác hơn: người tu nó dứt khoát, nó tự chủ; nó khác hơn.
Bạn đạo: Đây là câu hỏi chót : Trong kinh A Di Đà, Ông Tư có dạy rằng “Kinh mạch là giềng mối của Đạo.” Anh chị em kính xin Thầy giải thích thêm, tại sao kinh mạch lại là giềng mối của đạo ?
Đức thầy: Kinh mạch là cái nhịp độ của toàn thân ; mà con người không có nhịp độ của toàn thân thì làm sao có thức để mà tu ? Những sự kích động và phản động là nhịp độ của toàn thân.
Rồi chúng ta mới thức: “Ồ, cái này nó hại, tôi bây giờ bị bệnh là tại tôi : tôi nhậu quá, nó bệnh ; tôi chơi bời quá, nó bệnh.” Là giềng mối của đạo : nhờ đó nó đưa mình qua đạo. Nếu không có kinh mạch, chúng ta không trụ trì trong cái thể xác có kinh mạch này đây, chúng ta khó tu. Hiểu đâu mà tu ? Kinh mạch bế tắc, bệnh hoạn phát khởi, làm cho chúng ta đau buồn ? Lúc đó chúng ta mới kêu bằng “Tu.”
À ! Cho nên, cái nhịp độ trong thể xác này là cái kinh mạch ; mà cái kích động và phản động đó để chúng ta có cơ hội thức tâm, mới là tiến về con đường đạo. Nó là giềng mối của đạo: từ đời qua đạo, trong nháy mắt, khi thức tâm. Cái sự nhịp nhàng của trong kinh mạch bây giờ là đời đó chớ ; phải không ? Bây giờ mà bắt mạch, mà mạch không chạy là, “Thôi tiêu rồi, tiêu đời tôi rồi !” Đó, phải không? “Mạch chạy thì đời tui còn ; mà đời tui thức, là từ đời tôi qua đạo rồi !” Nhờ cái đó là cái giềng mối của đạo.
Bạn đạo: Dạ kính thưa Thầy, toán D của tụi con,
Đức Thầy: Ừ, Toán D ; dữ quá rồi !
Bạn đạo: Có mấy câu hỏi. Dạ, câu thứ nhất : Trên nguyên tắc hành thiền thì chúng ta phải buông bỏ tất cả, không nghĩ điều quấy, cũng không nghĩ điều phải, thả lỏng bộ đầu, dỗ giấc ngủ để ép phần hồn sớm rời bỏ cái phần xác, mới có thể xuất hồn đi ra học đạo. Nhưng Thầy thường nói, “Trong khi thiền, các Anh hướng thượng.” Xin Thầy cho cái thí dụ cụ thể để cho chúng con rõ hơn : hướng thượng là thế nào, trong hành thiền ?
Đức Thầy: Hướng thượng là ép xác, cũng như cái câu ép xác mà anh vừa đọc ; ép cho phần hồn đi lên. Hướng thượng là chúng ta đưa nó đi lên trên, và thừa tiếp với cái thanh điển ở bên trên, và nó hút đi lên ; bởi vì chúng ta hiểu được cái nguyên năng : khi chúng ta giáng lâm xuống thế gian, bị sức hút của hồng trần là thể xác này, cho nên nó lôi cuốn chúng ta, ngày hôm nay vẫn lẩn quẩn trong thể xác này.
Mà bây giờ chúng ta tu, ta buông bỏ tất cả để chúng ta đi, vì chúng ta biết rằng từ trên kia xuống đây ; mà bây giờ chúng ta nhắm mắt, là đi ! Đó, cũng là ép cho phần hồn đi lên.
Mà khi nó hòa tan với thanh giới rồi, thì tự động rồi, đâu có cần ép nữa ? Ép là mới ban đầu tu luyện đó thôi. Một thời gian rồi là, “Tôi muốn đi” ; nhắm mắt là nó đi rồi ! Nó hòa tan với thanh khí, “Thanh hòa thanh” là nó hút đi lên.
Còn “Trược hòa trược” là nó hút đi xuống ! À ! Cho nên, những người mà bước vô tu, mới ban đầu vô tu, làm sao tu được ! “Tôi ngồi, nó nghĩ chuyện nợ nần mà tu cái gì ?” Bị trược nó hút ; thấy chưa ? Mà chúng ta làm Pháp Luân, nó giải, giải, giải thét, rồi lúc đó mới buông bỏ được, nó giải ra rồi mới buông bỏ được. Mà lúc ban đầu, chúng ta mới bước vô tu, muốn buông bỏ, buông bỏ không được! Buông bỏ sao được? Nó nhớ cái này, cái kia, cái nọ.
Cho nên, người ta bắt mình niệm Phật, người ta bắt mình niệm câu chú ; rồi người ta bắt mình làm Pháp Luân để cho nó giải lần, giải lần : kim ra kim, mộc ra mộc, thủy ra thủy, thổ ra thổ ; nó có trật tự rồi, lúc đó chúng ta mới buông bỏ ! Ở đâu đó nó có trật tự rồi, chúng ta yên rồi ; yên rồi, “Tôi buông bỏ ; khi nhắm mắt, tôi quên hết, không còn ai ở xung quanh tôi nữa ; chỉ một mình tôi. Xuất hồn đảnh lễ Phật” ; ép cho nó đi lên ! Mà nó thừa tiếp được cái thanh điển rồi, tự động rồi, lúc đó nhắm mắt là đi !
Bạn đạo: Con xin cám ơn Thầy. Như vậy thì ép đây có nghĩa là mình,
Đức Thầy: Đổi chiều hướng
Bạn đạo: Đổi chiều hướng ! Nhưng mà có phải mình tập trung niệm Phật lên đây cũng là hình thức ép ?
Đức Thầy: Cũng là hình thức ép, bởi vì là chỉ con đường đi lên. Đối với những người mới tu là phải chỉ ngay cái đường hướng đó, ngay chỗ này : mình niệm Phật ở đây, thay vì niệm Phật ở đây ; cái nào mau hơn ? Nhưng mà, ban đầu, mình muốn niệm ở đây, niệm không được ! Niệm, nó lẩn quẩn cũng có ở đây thôi à ! Rồi một thời gian sau, mình chú ý ở đây, rồi mới thật sự lên đây ; lúc đó mình mới cảm thấy rằng, “Lúc tôi niệm là nó ở trên này !” Giỏi lắm cũng mất 2, 3 năm ! Mấy người thường mà mới bước vô tu, 2, 3 năm mới có cái kết quả đó ! Cho nên, phải trì kỳ chí hướng về đó, kêu bằng “Hướng thượng.” “Thượng” là trên bộ đầu mình đây nè !
Bạn đạo: Dạ, một hình thức khác ép là, ví dụ như trong lúc nhắm mắt,
Đức Thầy: Ừ ;
Bạn đạo: Thì người ta nghĩ tới một vị, vị nào cũng vậy, chẳng hạn như nghĩ tới Thầy, trên đỉnh đầu, hay nghĩ tới Cha, trên đỉnh đầu ; cũng là hình thức ép ?
Đức Thầy: Không được ! Cái đó không được ! Cái đó, con ma nó có thể mượn ! Mình nghĩ, “Khả năng của tôi có thể xuất ra, tôi phải rời khỏi thể xác này !” Nghĩ “Tôi đi thôi !” Đừng có cần ai ở trên đầu của mình ! Không nên ; cái đó không nên ! Không nghĩ, “Một vị nào trên đầu tôi.” “Tôi xuất ra, tôi gặp vị đó, tôi mới chịu” ; thì nó khác đi ; nhẹ hơn ! Anh thấy không ?
Bạn đạo: Dạ, kính cám ơn Thầy.
Câu hỏi thứ hai là : Phật Thích Ca, lúc ngồi ở trong rừng, thành đạo nhờ tìm ra được, thực hành được, cái nguyên lý “Nam Mô A Di Đà Phật.” Như vậy, cái nguồn gốc “Nam Mô A Di Đà Phật” đó, cái nguyên lý đó, có phải là của Thượng Đế tạo ra không ?
Đức Thầy: Đúng ! Đó là của cái thức hòa đồng của đấng Đại Từ Bi ! Sản xuất bởi đại từ bi, chớ không phải từ bi ! Đại thanh tịnh mới sản xuất cái đó ra được : cứu độ chúng sanh, và để cho chúng sanh có cơ hội thức tâm và mở Lục Thông ! Của đấng Đại Từ Bi ; của Thượng Đế !
Bạn đạo: Dạ thưa, còn câu hỏi chót là nó hơi ngoài lề một chút, có tính cách tò mò, xin Thầy tha lỗi. Sớm mai này Thầy cho biết là cách đây ít tháng Thầy có dịp đi lên và dòm thấy Thầy, trong sổ, Thầy đã tu được trên năm ngàn năm! Vậy những sổ sách và những cảnh huống trên đây ra sao, Thầy có thể hé mở chút đỉnh cho anh em biết ?
Đức Thầy: Cho nên, vô được Thượng Đế, và Thượng Đế cho phép, mình mới được vô ; ban chiếu mình mới đi vô ! Đi vô đó thì lâu lâu Ngài chuyển ý cho mình tới coi, cũng như coi hồ sơ, chớ không có ai biết đi tò mò vụ đó ! Tôi cũng không để ý vụ đó, và tôi cũng không thích nói tôi tu bao nhiêu ngàn năm. Tôi thấy tôi tu 5000 lẻ 4 năm! "Cái gì dữ vậy ?" Rồi về cái, nghe ông Trời cười, Ổng nói : “Mầy, 7 ức niên mới thành con người, mà Mầy tu có 5004 năm, mà Mầy la nhiều, hả ? Tu nữa đi !" Mình mắc cở ! Là ổng dạy mình ! Chớ không phải mình hay !
Nói Anh 7 ức niên mới cấu trúc thành cái thể xác, mà bây giờ Anh tu có 5000 lẻ 4 năm ! Mắc cỡ quá ! Mới có 5000 lẻ 4 năm, ăn chung gì ? Phải không ? Ổng dạy mình, “Phải cố gắng tu nữa, chớ đừng thấy vậy là đủ !” Ổng giáo dục ! Mà bằng bằng chứng đàng hoàng. Về, mình càng cố gắng tu hơn, không thể nào bỏ đạo được ! [43:33]
Hết Mp3 ID = 19860102Q1
Hết Video ID = 19860101L2 phần Thầy giảng.
Video ID = 19860101L2 còn tiếp 47s
[bắt đầu ID# 19860102Q2]
KHÓA HUẤN LUYỆN “KINH A DI ĐÀ” : Thầy Cùng BĐ Vui Đàm Đạo - Cuốn 4B
BĐ: Con cũng muốn nhờ Thầy coi có tên ở trong sổ.
ĐT: Tôi đã nói rằng: Ông Thượng Đế chuyển ý thì Anh sẽ thấy hồ sơ của Anh, còn Thượng Đế mà không chuyển ý bởi lòng thành của Anh và cái công việc của Anh, Anh làm xứng đáng mà Thượng Đế thưởng, thì chắc là không có cho Anh thấy cái đó.
BĐ: Thưa Thầy con nhớ, nếu con nhớ không nhầm, con nhớ không rõ lắm, nhưng mà có mấy lần, Đức Kim Thân giảng trong “Thượng Đế Giảng Chân Lý” hay là trong băng gì đó, thì Đức Kim Thân có nói rằng: “Như Thầy của các con đó, [00:45]
Bắt đầu Video ID = 19860101L2 – “Thảo luận đạo (2)”
Thầy Tám đó, thì cách đây cũng mấy năm rồi, muốn vô gặp Thượng Đế, cũng bị dạt ra”; mà bây giờ thì Thầy đi ra vô như thường! Như vậy là trong mấy năm qua Thầy đã tu tiến lên?
ĐT: Bởi vì trong mấy năm qua tôi tu theo Phật thôi à, tôi không có thèm Thượng Đế! Rồi sau Thượng Đế kiếm tui, nói: “Mày phải làm việc cho Tao. Tao bây giờ ban cho Mày, bây giờ cho Mày một cái giấy phép thường trực, Mày đi ra, đi vô chơi, không sao.” Cha cho! Nói rõ ràng ở nhà Mai Ngọc Pháp đó!
BĐ: Vậy cái đó là Thượng Đế cần Thầy làm việc, Thượng Đế ban cho Thầy cái ấn?
ĐT: “Bắt đầu từ giờ phút này, tao thách Mày, Mày muốn đi làm thợ máy hay làm gì, không có thằng nào mướn hết!” Nói đúng như vậy, bởi vì tôi, kỳ này, tôi ra, tôi nói tôi đi làm thợ máy, vì tôi thích máy, tôi đi làm thợ máy, chớ tôi không có nói đạo nữa; tôi lo tôi, tôi tu, với tôi làm thợ máy. Mà đố tôi đi làm được! Làm không có được! Tôi, mục đích là ra đây, tôi đi làm thợ máy đó!
BĐ: Con nhớ trong cuốn “Thiên Đàng Du Ký” đó thì nói rằng: phải luyện cho thành Kim Thân mới qua được cái cửa đó, mới vô được Thiên Đàng. Thì nếu mà trình độ tu tập của tụi con đó thì phải không biết bao nhiêu ngàn năm để luyện được cái luồng điển mình để nó qua cái cửa Nam Thiên?
ĐT: Luyện phần Hồn, mỗi đêm mỗi tu là được; mỗi đêm mỗi làm Pháp Luân Thường Chuyển là mỗi đốt, đốt cái Hồn này để được đi lọt vô trong đó! Cho nên, cái Vô Vi nó lợi lắm, mỗi đêm mỗi Soi Hồn, mỗi Pháp Luân, là mỗi đốt đó chớ không phải để yên đâu: đốt cái trần trược, đốt cái Hồn. Rồi khi mà mình đi lên, tự nhiên thấy rớt xuống! Đó; rồi cố gắng trở lộn lại, nó hồi sinh trở lại: đang đi, thấy ngộp, chết; rồi hồi sinh trở lại! Lúc đó được đốt, điêu luyện, mới thành ra Kim Thân. Kim Thân là phần Hồn bất hoại! Không phải thể xác.
BĐ: Cũng như anh Trường nói hồi sáng đó, mới đi tới cửa bị cửa đóng lại, biểu trở về; là tại Hồn đốt chưa đủ, vô không được?
ĐT: Chưa đủ sức; rồi phải làm mấy cái kỳ nữa, ngộp muốn chết; mà khi trở về là tưởng cái xác này nó tiêu rồi, thấy khô cổ hết, nuốt nước miếng cũng không có nữa! Lúc đó là mình bị đốt tiêu rồi và được hồi sinh! Thì về chừng hai tuần là con người nó thông minh vô cùng; nó thấy nhiều chuyện lắm, chỉ biết cười, mà nụ cười cũng thay đổi, mặt mày vui! Nó khác! Con mắt nó lóng lánh, sáng suốt lắm.
BĐ: Như vậy Thầy nói nhiều khi Pháp Luân Thường Chuyển nóng cái xác lên, nó nóng cái mặt như là bị một cái luồng điển ở ngoài nó hà vô thật nóng,
ĐT: Đốt!
BĐ: Thầy nói cái đó là tại vì còn trược nhiều, hay là vì mình đốt mà nó nóng, có cảm giác như có một cái sức nóng ở ngoài nó ùa tới?
ĐT: Không có! Cái đó là do cái khí trời này thôi, áp tới là do khí trời này thôi. Còn cái đốt là đốt ngay chỗ cái phần Hồn trong lúc mình đi, mình bị rơi xuống, hay là mình bị tan rã ra, rồi hồi sinh lại; đó là bị đốt.
Còn cái đó là cái khí trời thôi, nó áp tới đây là cái khí trời nóng, cái da mình cảm giác cái đó; không phải!
Cái thức mình cảm giác thì cái hồn mới tiến. Hai cái khác nhau.
Buồn ngủ! Bây giờ toán nào nữa?
BĐ: Thầy trả lời câu của anh Hữu chưa hết; anh Hữu hỏi, trên đó cảnh ra làm sao?
ĐT: Cảnh nào, muốn cảnh nào?
BĐ: Cảnh Thầy lên coi sổ đó!
ĐT: Cho nên, tôi đã trả lời cho ảnh rồi: ảnh ráng tu thì Thượng Đế Ổng chuyển ý cho coi hồ sơ đó; có sổ sách đàng hoàng, không có giỡn đâu, Ông Trời không có giỡn đâu! Nói đâu có đó, không có giỡn. [05:09]
Mp3 ID# 19860102Q2 phút 05:09 thiếu câu hỏi của Bạn đạo
ĐT: Nữ thì bên trong âm, bên ngoài dương.
BĐ: Thưa Thầy, thuần tính âm nghĩa là nữ thuần nó trược, thành rước cái trược vào, hay sao?
ĐT: Không, thuần âm là khác, thuần âm là đường đi lên.
BĐ: Âm vẫn đi lên?
ĐT: Âm vẫn đi lên, thuần âm nó đi lên à. Cho nên, Anh đi xuất hồn thấy những cô tiên ở bên sông Bĩ Ngạn, ngoắc. Nếu những người đó không thuần âm, làm sao mà thành cô tiên mà bận áo đẹp như vậy, ngoắc mình? Mình cứ ngó mấy cái đó rồi mình đi qua luôn, mất hồn, qua khỏi sông rồi mà không biết! Mà nhờ mấy cổ; mình phải quỳ lạy cảm ơn chớ; phải không?
BĐ:Thưa Thầy, như vậy Thầy nói cái âm của ma thì như thế nào?
ĐT: Cái âm khí của ma là thuộc về trược khí; không phải âm; trược khí.
BĐ: Trược khí khác với âm khí?
ĐT: Ờ; cái trược khí. Còn thuần âm là khác: thuần âm là người ta hoàn tất rồi; Anh hiểu chưa? Còn con ma, nó thiếu nhiều bộ phận lắm: nó thiếu, nó là trược mà; la đà, la đà; nó không có thể bay cao được.
BĐ: Dạ, thưa Thầy, như vậy là Thầy phân biệt “Trược” khác với âm khí?
ĐT: Khác; âm khí khác.
BĐ: Con cám ơn Thầy.
ĐT: Còn đây là người ta nói “Thuần âm” là hoàn tất của cái tâm đạo của một người nữ giới, kêu là “Thuần âm.” Cho nên, Diêu Trì Kim Mẫu xuống, đâu có nói hung hăng được! Ngài thuần âm; “Các con ơi, các con phải về với mẹ đi, các con ơi! Ngày đêm mẹ đang trông chờ các con!” Cảm động vô cùng; lời nói của một người thuần âm độ đời đó, họ không có nói hung hăng đâu. Còn Thượng Đế, ổng nói là, “Các con liệu đó!” Biết mấy thằng đó nó dữ quá mà; Ổng mới nói, “Tam Giáo Toà sẽ xét con, xem kỹ Tam Giáo Tòa, không có xê xích một ly đó các con! Cha không cách gì can thiệp được đâu con!” Nói vậy! Chết tổ rồi! Đó. Cho nên cái tiếng âm với tiếng dương, hai cái khác.
BĐ: Thưa Thầy, xin phép cho con hỏi được một câu!
ĐT: Ừ.
BĐ: Trong sách Du Ký, các sách như là Thiên Đàng hay là Địa Ngục hoặc là Luân Hồi, Nhân Gian Du Ký, thì nói rằng: Trước khi mà con người được đầu thai lên, thì cho ăn cháo lú để mà quên hết cái chuyện tiền kiếp, và nó được tái sinh ra để mà trả nghiệp ở thế gian. Nhưng mà ở thực tế, trên cái hậu bán thế kỷ 20 này thì rất nhiều các nhóm khoa học đã tìm ra được, hay là khám phá ra được, có những người, người ta nhớ lại được kiếp của họ rõ ràng. Ví dụ như là một người phi công chết trong trận Đệ Nhị Thế Chiến, họ kể lại cái tên số máy bay, thì như vậy đâu phải là…?
ĐT: Có chớ, có một số người người ta cũng có tu, và đi tới giai đoạn đó họ bị accident rồi họ trở về, họ nhớ hết cái chuyện tiền kiếp của họ! Họ đã tiến qua một cái giai đoạn, và họ đã làm phước nhiều; cái tâm của người đó nhẹ nhàng. Rồi những người mà xuống đây để học hỏi tiến hóa, mà cho họ biết hết, nó không có ở chung với nhau, nó không chịu! Bởi vì tính ra, mẹ mà đi lấy con, sao họ lấy được! Phải không? Hai cái nghiệp duyên nó phải vay trả với nhau: hai mẹ con phải hàn gắn lại để xây dựng tình thương ở kiếp này, thì nó phải sống với nhau.
Hai người thù được sống với nhau, nếu nó biết người đó là người thù, nó giết rồI, “Mày, tiền kiếp thù tao, bây giờ Mày về đây là Mày quản lý tao, Mày hành tao đủ thứ hết!” Sớm mơi tới chiều, kiếm chuyện không hà, mà ông kia không có làm gì hết, mà bà này cứ ghen từ gà gáy tới khuya cũng ghen luôn; phải kiếm chuyện không? Mà ổng biết được tiền kiếp thì ổng giết mất; phải không? Không cho biết là lý do đó. Thành ra ổng mê cái dương điển oai hùng của bả: khi bả trừng mắt là hết hồn;
[09:32] Video ID = 19860101L2 – “Thảo luận đạo (2)” thiếu 2s: “thì thôi, làm thinh”
thì thôi, làm thinh; chớ ổng biết trong nội bộ là ổng đâm chết cho rồi, thành ra không cho biết cái bí mật đó! Mà hai người phải học; thì ông kia ổng học rồi, ổng dẹp cái tự ái, ổng hạ mình, ổng chiều vợ ổng để ổng phục vụ trong cái hoàn cảnh này. Lúc đó ổng mới thấy hoàn cảnh là ân sư, ổng mới tìm đường ổng tu.
BĐ: Thưa Thầy, có câu hỏi này là, ví dụ như cái con mắt của con người ta đó, khi mạnh là mạnh hết hai con, hoặc là khi yếu thì yếu hết hai con, nhưng mà riêng cái trường hợp của con thì con mắt trái mạnh, con mắt phải yếu. Con mắt trái có thể nhìn thẳng được, nhưng mà con mắt phải nó không được thẳng lắm. Như vậy là sao thầy?
ĐT: Cái đó là do cái thận, cái câu trả lời chắc là Anh phải biết: tại vì cái tình dục nó làm cho mình sa sút. Nhưng mà luôn luôn một bên mạnh và một bên yếu, mọi người luôn luôn có một bên mạnh, bên yếu, chớ không phải hai bên đều hết đâu; không có đều hết đâu! Bên mặt trăng thấy xa hơn, bên mặt nè, dòm thấy thấy xa, mà nhẹ nhàng, bịt bên này, dòm bên này thấy ngắn hơn, mà hơi nóng một chút, nó không có thanh nhẹ. Bên mặt khác, bên trái khác. Mà do đâu? Do hai cái trái cật; mà trái cật yếu về tình dục nhiều quá, là con mắt nó suy sụp. Ban đầu, “Bây giờ tôi coi chữ, tôi không có tình dục, tôi coi chữ, coi không cần kiếng; nhưng mà tôi tình dục chừng 3 đêm là không có kiếng, không thấy chữ! Tại sao? Thấy không? Cho nên, mình hiểu nó liên hệ với nhau; mà mình làm mất sự quân bình là mình phải gánh chịu. Có bài học đó.
BĐ: Dạ, cám ơn Thầy.
BĐ: Thưa Thầy, con chưa rõ là vấn đề người nữ, là Thầy nói phần hồn là phần âm, và vía là phần dương; như vậy là người nữ xuất hồn hay là xuất vía? Và khi mà qua cái sông Bĩ Ngạn đó, cái người đàn ông thì thấy cô tiên; như vậy người nữ lên cái sông Bĩ Ngạn đó là thấy Ông Tiên hay là thấy Bà Tiên?
ĐT: Thấy Ông Tiên chớ! Không phải là đi qua sông Bĩ Ngạn thấy Ông Tiên! Khi mà tu thiền, mà hai người hội rồi đó, mình thấy có một anh thư sinh ảnh đứng trước mặt; đẹp quá, mà làm cho mình nhớ hoài! “Cô đó, làm sao tôi nhớ hoài!” “Mà tôi lại không muốn nhớ ông xã này! Mà tôi nhớ cái ông kia hoài! Mà mặt mày tươi!” Thì lúc đó ông kia mà tới, bả không có muốn đâu! Cái này nó ghét, cái vía nó ghét.
Đàn ông cũng vậy: đàn ông mà tu, mà thấy được bà xã rồi đó, cái vía nó ghen! Khi mà bả tới, mình thấy ngứa mình lắm; tránh vậy đó! Đó, nó có cái vụ đó! Cho nên các bạn phải để ý có cái vụ đó. Sự thật như vậy: không muốn cái bà kia tới, vì cái bà này bả không có cho; tới là nó tránh né đó! Nó kỳ vậy; nó thấy ngứa lắm, nó không chịu.
BĐ: Vậy người nữ xuất là xuất hồn, hay là xuất vía? Cái người nữ xuất lên trên đó, gọi là “Xuất vía” hay là “Xuất hồn”?
ĐT: Xuất hồn chớ; xuất vía trước, rồi sau mới xuất hồn chớ! Ban đầu phải tập tành cái vía, bởi vì khi mà Chủ Nhân Ông thức tỉnh rồi lo tu, thì cái vía rảnh rang rồi, cái vía phải đi chỗ này, chỗ nọ để tìm hiểu trước, cũng như là ông thủ tướng ổng tìm đường cho ông tổng thống đi, chớ có gì đâu? Cho nên, sau này cái Hồn trụ trì rồi, hỏi cái gì thì cái vía nó báo cáo, nó lo; và hai bên sẽ đàm đạo văn chương đồ dữ lắm. Sau này các bạn tu nhẹ các bạn làm thơ thi đó, không phải phần hồn làm đâu, cái vía làm! Cái vía đi giao du nhiều, về làm thơ thi, rồi nhắc mình tu; mình hết động loạn rồi, mình không có đòi hỏi cái gì hơn hết là cái tu; là lúc đó cái vía nó tỉnh táo.
BĐ: Thưa thầy, con thì thực tế một chút, con không hỏi những chuyện đó, con hỏi về công phu, xin Thầy cho con hai câu hỏi. Cái thứ nhất là khi làm Pháp Luân Thường Chuyển, mình làm sao biết cái hơi của mình dài hoặc là hơi ngắn? Có một số bạn đạo họ nói rằng, cái hơi họ thở chưa được dài, do đó họ thở mấy chục lần!
ĐT: Cho nên, cái hơi dài hay là ngắn, con người đi về tình dục nhiều thì cái hơi phải ngắn. Mà khi mà nó thức tâm tu rồi đó, ban đầu tu là ngắn, nhưng mà lần lần nó làm nay chút, mai chút, đêm này, đêm kia, đêm nọ, lần lần lần, liên tục 2, 3năm cho hơi dài. Cái hơi, tự ý nó chuyển là nó đi dài, vô bao nhiêu cũng vô, vô, vô, vô nhẹ; một hơi dài ghê lắm, mà rất nhẹ; bằng ý; mà cái hơi đó không phải là hơi nữa, ánh sáng mà thôi. Nó cảm thấy ánh sáng như đèn neon, nó sung sướng, nó ngồi hoài, nó chỉ thấy hít vô thôi, nhưng mà cái bụng nó không cục cựa. Nó khác hơn hồi xưa rồi, cái trình độ nó nó khác rồi; nó đi thẳng, và nó mát từ xương sống xuống; nó đi vô cái, toàn là ánh sang; rồi từ đó nó mới phát ra nó thấy cảnh, nó thấy Bốn Bể, thấy này, thấy núi, thấy non; là nó định rồi! Đó là cái Pháp Luân Thường Chuyển.
Ban đầu thì vô, ai cũng hụt hơi, thiếu hơi, vì tình dục đã xài phí nhiều ngày, nhiều tháng; cái hơi nó yếu. Còn người ta còn con gái, con trai, cái hơi nó mạnh hơn; chỉ nó, nó làm mau hơn, toát mồ hôi liền. Còn những người mà có chồng, có con, thì cái hơi nó phải thở è ạch, mà nó thích thở, cho nên nó làm nhiều hơi nhiều hơn.
Sau này, hơi dài là nó làm một hơi là thấu óc rồi, đâu có làm nhiều nữa! Làm 6 hơi là thấy toát mồ hôi rồi, bừng cả mặt, hồng hào lên! Nó khác. Cho nên, cái hơi ban đầu, người nào cũng là ít, nếu người nào có vợ có chồng là phải ít; nhưng mà luyện một thời gian, khôi phục rồi, mình mới thấy rõ: “Tôi khỏe hơn trong lúc tôi 20 tuổi; tôi 50 tuổi mà tôi luyện rồi tôi thấy tôi khỏe hơn 20 tuổi!” Nó khôi phục rồi, cái nguyên khí nó khôi phục rồi, ăn ngon, ngủ yên, khỏe mạnh. Lúc đó hơi nó chạy toàn thân rồi thì nó trụ đỉnh đầu rồi, thì dùng ý chuyển là lúc đó là ánh sáng không à!
Cho nên, mỗi bữa sáng phải đứng ở ngoài trời chưởng dưỡng thanh khí, dùng cái chỗ này hít vô một lượt, là cái lúc đó những người làm Pháp Luân đầy đủ rồi mới làm được cái đó: đứng giữa trời, hít một hơi một, là hít vừa lỗ mũi và vừa ngay chỗ này, hai cái xuống một lượt một; làm 3 lần mỗi buổi sáng như vậy; và đối với những người đã chuyển được trên bộ đầu mới làm được cái đó, còn chưa chuyển được bộ đầu, làm cái đó cũng vô ích thôi.
Cho nên, chưởng dưỡng thanh khí mỗi buổi sáng thì con người nó sẽ tươi nhiều.
Cho nên, cái Pháp Luân Thường Chuyển, nó tùy theo người mới tu, người tu lâu, người cố gắng, và người không cố gắng;người cố gắng, bảo đảm cái hơi nó sẽ dài hơn và con người nó sẽ khỏe mạnh, máu huyết sẽ điều hòa, khai thông kinh mạch.
BĐ: Để rõ ràng hơn nữa, thì để nhận biết rằng cái hơi nó dài, mình có thể căn cứ vào thời gian, được không?
ĐT: Không cần, bởi vì đâu có cần phải đếm! Đếm là động rồi; không cần đếm; mà cái hơi mình bao nhiêu ở trong đó nó bị kẹt chỗ nào, và nó sẽ mở chỗ nào, mình ý thức. Bởi, “Hồi trước tôi chỉ hít có tới đó thôi, mà bây giờ tôi hít thêm, nó mở thêm.” Bởi nó mở ở trong đó nhiều đường lối, thất tầng la võng, 7 lớp gân chớ không phải ít đâu; nó phải mở đều hết thẩy, mở cho đến nỗi khi mình làm Pháp Luân mà mình thấy cái là luồng điển nó ra từ bàn tay, từ ngón tay của mình; rồi mình hít vô, mình thấy cái hơi nó sáng trong lỗ mũi mình, cái hơi vầng sáng trước mặt mình; rõ ràng! Đó!
Cho nên, một kỳ công để giải tỏa trược khí trong những cái cơ giới huyệt năng trong cơ thể; nó nhiều cái khuyết đang bị kẹt, và mình phải mở nó ra.
BĐ: Câu hỏi thứ nhì là về Thiền Định: thì khi vào Thiền Định, giữa các bạn đạo như con có hai khuynh hướng là: sau khi ngồi khoảng một tiếng đồng hồ thì chân bắt đầu mỏi và nhức. Thì có một số sẽ bằng cách là chuyển chân, rồi tiếp tục ngồi thiền; và số còn lại thì xả thiền và bắt đầu làm lại từ đầu. Thì theo Thầy, hai cái khuynh hướng đó, cái nào tốt, cái nào xấu?
ĐT: Theo tôi thấy, đường đi mà muốn đi cho tới đích, không có xả; phải hạ lệnh là, “Mày hết nhức, hết đau, tao mới cho Mày đứng dậy!” Các Bạn sẽ chiến thắng nó thử xem! Tôi là người đã chiến thắng rồi; còn hồi trước tôi ngồi mà nó đau như vậy đó tôi trách Ông Tư: “Cha già này chắc cho mình bại quá! Như bại rồi; con người không còn nghĩa lý gì nữa, chắc chết; bại rồi, không thành công!” Rồi bóp, rồi trong này vừa bóp mà vừa trách Ông Tư! Nói thiệt; tôi có gì tôi nói nấy. Rồi xong cái, tôi làm, tôi nói: “Bây giờ mình không chiến thắng, ai thay mình chiến thắng?” Ổng nói, “Bạn phải thắng cái ngứa và cái tê của Bạn, Bạn mới biết đạo!”
Chưa thắng cái ngứa và chưa thắng cái tê là cái đạo của các bạn không bao giờ có! Nó ngứa đến nỗi mà cái mặt tôi nổi cục cục y như là cùi vậy đó, nó ra tới vậy đó. Hồi trước, ăn nhậu, chơi bời; nó ra hết cái mặt! Mắc cở, không đi đâu hết. Rồi xuống hỏi ông Tư, ổng nói làm Pháp Luân cái nó hết! Sự thật, ổng nói cái gì là có cái nấy! Tôi ráng tôi làm! Nhưng mà đi, tôi phải thoa kem; kỳ quá; mà nó ngứa, ngứa khủng khiếp, ngứa tới lòng con mắt, ngứa lỗ mũi. Mà Ổng kêu: “Chỉ Niệm Phật, mà không có được gãi!” Cái đó mới là khó! Ngứa là cái dâm tánh của con người; nó ngứa gì ngứa, cứ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”! Thấy ngộ, mấy bà già nói: “Nó điên rồi, nó điên rồi!” Ngứa, ngứa, ngứa, ngứa, cho nó hết ngứa! Mừng cái, cười! Ngứa quá chừng quá đỗi, ngứa không thể chê; mà hết sức căng mình mà ngồi chịu đựng. Rồi từ đó tôi liên tưởng nghĩ tới Đức Thích Ca ngứa, Ổng than thở với ai? Ổng ra rừng, Ổng ngứa, rồi Ổng than thở với ai? Mình niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” tới đâu tới! Thét, nó hết ngứa!
Cho nên, tôi chiến thắng được cái tê với cái ngứa; tôi ngồi 3 tiếng đồng hồ như 15 phút; mà ngồi ghế đẩu, chớ các bạn còn ngồi cái này. Tôi ngồi ghế tròn vậy nè, ghế tròn có bây lớn, chớ không có bao nhiêu; thấy không thể ngồi được, mà ảnh vô, xếp chân, ảnh ngồi; ngồi luôn 3 tiếng đông hồ! Tôi nghiêm khắc với cái thể xác đó; bắt buộc phải làm; mà ăn cơm với nước sôi hay là trái cà thôi, không có cho ăn gì hết! “Mình đã muốn tự tử, thì bây giờ cho Mày ăn ít, coi thử có chết không?” Không chết; mà nó hồng hào!
Và bây giờ, tại sao tôi ăn? Là Bề Trên cho tôi ăn đó; chớ hồi trước, tôi đúng giờ nó no à! Bây giờ cho tôi ăn để bắt tôi làm việc, chớ không phải cho tôi chơi; thành ra tôi không có ăn mà đi xem cảnh, đi đồng đỏng như các bạn được! Không! Phải làm việc. Ngài dùng cái điển và cộng trược điển với thanh điển, cộng để giải nhiều giới; ngồi đâu cũng phải xuất, phải làm việc: mở mắt cũng xuất, cũng đi, cũng làm việc; không có giờ nào cho mình nghỉ ngơi được.
Cho nên, cái giờ tôi ngủ là tôi vừa nằm rồi là tôi phải đi à! Cũng phải đi công chuyện, không phải ở dưới này mà an hưởng như hồi xưa. Mà một chặp là thức dậy, đầy đủ rồi, ngủ chừng 1 tiếng, 1 tiếng mấy là thấy khỏe rồi! Cái cơ tạng nó yên rồi, mới ngồi thiền lại; cũng bắt ngồi thiền, cũng bắt Soi Hồn, cũng bắt Pháp Luân, cũng làm đủ chuyện, nhưng mà làm ngắn giờ hơn hồi xưa. Hồi xưa thì bắt buộc ngồi tới sáng luôn; hồi đó ngồi tới sáng luôn để thử thách ma quỷ tới phá, bóp cổ, hại đủ chuyện; mà cứ việc ngồi một đêm tới sáng; mà muỗi cắn cũng thây kệ, cắn cả dãy cũng thấy kệ; ngồi vậy,ở trước nhà tôi thì chỗ đó là hầm lù không à, muỗi nhiều lắm, ống cống dơ dáy lắm, tôi phải chịu; bộ phản đó có hai miếng ván đó chớ có gì đâu!
BĐ: Thì cũng trong cái nguyên lý đó, có một lần con cố gắng con chiến thắng cái nhức và cái tê đó bằng cách là con niệm Phật. Con tưởng tượng như là Lục Tự Di Đà đó như là 6 cái chữ mà đánh vào cái chỗ nhức và tê đó, thì quả thật, sau một thời gian lâu thì chỗ đó nó êm; nhưng mà sau cái bữa thiền đó, hai cái chân con tê quá, đứng không nổi luôn. Thì mặc dầu mình cảm thấy êm và có thể ngồi lâu được, nhưng có hại cho cái sức khỏe của mình, hay không?
ĐT: Không có hại. Chính tôi là người đã thắng, và anh tôi cũng đã thắng, bởi vì ảnh bắt chước tôi ảnh làm; thắng được, lên mừng quá, “Tôi tính là tôi bại rồi, mà đâu có bại!” Nhờ cái gì? Bây giờ Anh muốn hết tê, Anh nhờ cái gì? Ăn ít đi, ăn ít nó không có tê, ăn ít là nó không có tê! Bây giờ như các bạn đây, tu là phải tập nghỉ ban đêm, không ăn ban đêm; uống nước đồ, vậy; lo tập coi, tuần lễ coi, nó êm lắm, nó êm lắm; chịu khó đi! Hết sức là cái bao tử nó teo lại là cùng; không có sao, không có chết, nhưng mà ngồi thiền nó không nhức, không có bị tê.
BĐ: …con thấy, không ăn mà ngồi 3 giờ, không thấy mỏi; mà lúc ăn vô no cái, cảm thấy khỏe mạnh; mới 2 giờ, thấy nó tê rồi.
ĐT: Không được; ăn vô không được; Anh phải bớt; bởi vì chừng nào mở ở trên này rồi, ăn, không có sao: mình vừa ăn, vừa giải; nó làm kịp thời. Còn hỏi, bây giờ Anh ăn vô, chờ cái ngày ngủ, đồ, này kia, kia nọ, lâu lắm nó mới giải lên bộ đầu; thì mình phải ăn ít mình mới ngồi được lâu. Mà khi nó thông rồi thì mình vừa ăn vừa giải được rồi!
BĐ: Thưa Thầy, mấy ông bên Pháp có chỉ là khi mà Thiền Định rồi, mà nó bắt đầu tê, thì thở một cái Pháp Luân cho thiệt là sâu, thì nó sẽ hết tê. Con có áp dụng như vậy thì con thấy thở một cái thiệt sâu, thì nó chạy xuống cái chân mình, rút lên luôn; hết tê.
ĐT: Cái đó là Chị được nhẹ, mới vậy; chớ mấy người kia, kêu thở xuống, cái nó ép đau, họ la làng! Những người đã tu lâu thì được, có thể dùng ý đó chuyển được; và những người ăn chay, ăn ít, không sao đâu, nó không có tê đâu; ăn ít nó không có tê.
ĐT: Kính thưa Thầy, như lúc trước vì con thời trẻ con chạy xe, cũng như xe đua, con té nhiều quá, hồi lúc đó còn khỏe, nó không đau cái chân, nhưng về già rồi, nó ép-phê, làm như cái nghiệp. Thì lúc trước con có thể ngồi được hai giờ, nhưng lúc sau tự nhiên ngồi tới một giờ là thấy bung rồi! Như vậy có thể là con đóng cái ghế, lấy cái chân cột vô được không?
ĐT: Không có. Thì bây giờ Anh về Anh ăn Hải Sâm á; thiếu cái chất nhớt trong đó nó đau thôi, không có gì hết; bớt tình dục, ăn Hải Sâm, là nó hết.
BĐ: Thưa Thầy, câu hỏi thứ hai là: tại sao mà có lúc vô Niệm Phật, chưa nguyện nữa là quên hết à; không có biết mình sẽ làm cái gì, Nguyện, Soi Hồn hay Pháp Luân, Thiền Định nữa!
ĐT: Cái đó tốt, cái đó tốt; Anh nên bình thản như vậy để nó đi lên. Học đạo nó càng ngày trụ hóa rồi nó tiến lên.
BĐ: Con tưởng con quên hết à; nó rơi vào tình trạng rắc rối chớ.
ĐT: Không có rắc rối đâu; nó nhẹ.
BĐ: Dạ, cám ơn Thầy.
ĐT: Nó nhẹ. Cho nên, cái của Anh là cái đầu gối đó, Anh phải coi chừng vấn đề đầu gối, là phải ăn cái Hải Sâm cho cái đầu gối nó bớt; nấu cho thiệt rục, ăn nó bớt, nó mau lắm.
BĐ: Thưa thầy khóa Thầy là khóa huấn luyện đặc biệt, mà không dám nói ra.
ĐT: Cứ nói đại đi; tới giờ là tôi bỏ tôi đi; không nói.
BĐ: Kính thưa Thầy, tại vì con nghe nói là ngài Địa Tạng là con gái, nhưng mà tu một thời gian, đến cái ngày mà Ngài đã đạt được đạo rồi, thì Ngài cũng là ngang hàng với lại dương.
ĐT: Ta tu về cái Tâm Phật thì như nhau, chớ có cái gì đâu. Tui nói ý chí đàn bà với đàn ông, một thứ à!
BĐ: Dạ, hồi nãy thì con nghe nói à tại đàn bà nghiệp lực quá, nó giảm xuống?
ĐT: Nghiệp lực là nó giảm trong cái thể xác thôi, chớ cái ý chí cũng vậy à, ý chí chị đâu có thua ai; nhưng mà cái xác thôi. Chị phải ôm lấy cái khổ đó mà để thức tâm lo tu; Chị thấy chưa?
BĐ: Con cám ơn thầy.
BĐ: Thưa Thầy, Thầy chỉ dạy cho con: con có coi cuốn “Luân Hồi Du Ký,” à, chắc có lẽ “Luân Hồi Du Ký;” Phật Tế Công nói: “Trong cái cơ thể chúng ta có con chó, mà chúng ta không ăn; mà chúng ta ăn thịt chó làm chi?” Là cái đó là cái gì, Thầy?
ĐT: Con chó, có chớ, con chó điên á, ai cũng có con chó điên ở chỗ yết hầu. Con chó điên nó mới về trời, mà mình diệt nó được, mình ăn là diệt nó được, là mình về trời. Con chó điên hay cãi! Diệt nó được rồi là về trời. Cho nên, ông Tế Công ăn chó điên chớ không phải chó không điên đâu; ổng ăn chó điên, ăn con chó này.
BĐ: Thưa Thầy, cho con hỏi: hồi nãy Thầy có nói là, “Pháp Luân Thường Chuyển là ánh sáng vô như đèn néon.” Mà con xin hỏi Thầy, cái đó nó gián đoạn vào thời gian nào? Hay là nó liên tục khi những người đã đạt được cái đó rồi?
ĐT: Đạt được cái đó là liên tục.
BĐ: Nhưng con, có thời gian nó vô như vậy, nhưng mà ánh sáng nó mờ hơn, mà con được một, hai lần, rồi thôi à; hết!
ĐT: Bớt ăn đi, nó mới trở lại.
BĐ: Cảm ơn Thầy.
ĐT: Bớt ăn, nó trở lại. Bởi vậy tại sao: “Ma nhất trượng, Phật nhất xích” Tối nhiều hơn, mà sáng ít hơn? Thì tại đồ ăn, chớ không có gì hết; nó làm chưa xong; phải không? Rồi bây giờ mình bớt, cái nó sáng hết! Cho nên, người tu mà người ta tham thiền ở một chỗ, người ta không có ăn nhiều đâu; chút là đủ rồi, để người ta giữ cái ánh sáng. Ngày ăn ba bữa, mà còn la đói bụng nữa!
BĐ: Dạ, con có câu hỏi này, con xin mạo muội hỏi Thầy: cái Dục đó, theo như con biết, thì cũng là đặc tính của Thượng Đế; ở trong con người thì cũng có Dục, nhưng mà cái Dục theo như thế này: nếu mình dục trong xác thể, nhưng mà cái ý chí của mình không có bị dục, thì có thể gọi là dục hay không?
ĐT: Cho nên, cái thể xác mà dục là nó liên hệ vào, nó lôi cuốn cái ý mình, từ cái thanh trở nên dục. Còn người mà xuất ra, thân ngọai thân rồi, thì thể xác dục là chỉ cho điều hòa, chớ họ không nghĩ tới dục. Còn người ở thế gian mà cái hồn còn giam trong thể xác, nói, “Tui, và bây giờ tôi nghĩ chuyện tu, và tu không dục!” Cái đó liên hệ là một, nó liên hệ là một. Còn người mà thân ngoại thân rồi, người ta điều hòa; nhưng mà cái điều hòa nó khác; cái dục nó khác, chớ không phải dục như ở thế gian: Hồn, Vía tương hội, dục: nó cũng vậy, nó cũng sung sướng vậy, nó cũng thoải mái vậy; nhưng mà mặt mày nó tươi, thể xác nó không có bị suy yếu.
Còn người phàm, lấy cái thể xác, thì tạo cho cái Hồn bị mờ luôn! Hai cái nó đang bị kẹt. Cũng như cái Hồn mà ở trong cáikhám bị dột, thì cái Hồn đâu có yên! Còn người ta Hồn, Vía tương hội rồi, người ta dục tự nhiên, càng ngày càng tươi. Hồn Vía tương hộI, càng ngày càng tươi, càng thông minh thêm, sung sướng vô cùng, không có cái gì hết. Cho nên, nhiều người tu mà tới nó nhiếp cái con trê rồi, nó thấy nó sung sướng lắm: Hồn, Vía tương hội, nó sung sướng ghê lắm; Lưỡng Nghi hợp nhất, nó sung sướng ghê lắm.
Cho nên, đừng có nói là “Cái ý tôi riêng, nhưng mà cái xác đâu có ăn chung gì!” Vẫn hại, tự nhiên; thử làm coi. Cái cơ cấu, cái trường học để mình ngồi học, mà mình phá hoại cái trường học, là không có chỗ tiến, không có chỗ tiến đâu. Cho nên, vợ chồng đều giới hạn: cái nhân đạo giữa vợ chồng, không có cấm, vì giới hạn, tự nó giới hạn, automatic: hồi mới cưới thì khác, mà lâu rồi tự nhiên automatic, nó giới hạn. Đừng có bày rằng lấy cái dục mà đi trao cho người khác nữa, là mình hại; phải không? Cái nhân đạo của ông Trời, không có cấm: vợ chồng mà; mà vợ chồng, nó luôn luôn tự nó giới hạn: hồi ban đầu mới cưới thì đòi hỏi dữ lắm, nhưng mà một thời gian rồi, nhiều khi hai, ba tháng không ngó nhau cũng có nữa; tự nó, automatic, nó giới han, nó điều hòa.
BĐ: Thưa Thầy, con có cái câu hỏi: con có nghe cái cuộn băng của anh Nguyễn Huỳnh Chung ở bên Mỹ, ảnh hướng dẫn về cái phương pháp công phu, thì nói: "Nếu mà bạn ăn nhiều, ví dụ như một ngày ăn ba bữa, thì bạn nên làm pháp luân Chiếu Minh ba lần.” Thì so sánh cái đó với lại ý của Thầy khuyên hồi nãy, là Thầy khuyên là nên ăn một bữa thôi, thì hai cái thì nên làm cái nào?
ĐT: Đối với người tu mà nhẹ, làm việc rãnh rỗi và không có đi lao động nặng, nên ăn một bữa; nó mau hơn.
BĐ: Dạ.
ĐT: Mau nhiều lắm. Còn ăn ba buổi mà làm Pháp Luân ba lần, nó cũng mau; nó có cơ hội giải. Cho nên, những người đi lao động ăn một ngày ba buổi, “Tôi làm pháp luân Chiếu Minh ba lần, tôi có sức khỏe vậy; và cái đạo, tôi cũng tiến;” phải không? Vì “Tôi lo giải nó, và tôi không có cho nó hoành hành; tôi đi, bắt nó đi theo Thiên ý thay vì tự động nó phát triển; tự động nó phát triển, nó đem vô tình dục. Còn đằng này, Bạn hít thở; hít thở, thì đem nó ra một mớ rồi; phải không? Đem nó ra một mớ rồi.
BĐ: Cảm ơn Thầy.
BĐ: Thưa Thầy: “Tinh, khí, thần:” tinh của người đàn ông là tinh dịch; còn của người đàn bà là cái gì, Thầy?
ĐT: Cũng vậy thôi, nó cũng có chất tinh vậy, cũng có chớ.
BĐ: Có phải là noãn không?
ĐT: Đó, cái noãn, nhớt của nó là tinh đó, một thứ, cũng vậy. Nếu mà không có chất tinh, làm sao cái xương nó sống được; thấy không?
BĐ: Con thấy khi con mà Pháp Luân càng nhiều, con có muốn ăn nhiều cũng không được nữa Thầy. Ăn một chén là mắc no rồi.
ĐT: Phải rồi; thở Pháp Luân đầy đủ là mình ăn được thanh khí điển, ăn trực tiếp thay vì gián tiếp. Cho nên, chị Thuần ở bên Canada, chị không có ăn ban đêm nữa, chị quen rồi; khi mà ăn một, hai trái nho đồ vậy, chơi vậy thôi; còn không có ăn cơm nữa; nó quen rồi, nó hết đói. Mà y ngồi 4-5 tiếng đồng hồ; ngồi 4-5 tiếng đồng hồ được đó, không có sao hết, không có tê.
BĐ: Còn 10 phút nữa; Quý Vị mà không có gì để hỏi thì để Thầy nghỉ; ngày mai Thầy bận cả ngày.
ĐT: Giờ về lo đi ngủ; đêm khuya coi có nhận được cái gì, có măng-đa hay là money order?
BĐ: Xin phép Thầy, cho con hỏi thêm một câu nữa: cái này là một cái hiện tượng khoa học, mà bởi vì con cũng có đi học, cũng muốn biết coi sự liên hệ giữa khoa học phổ hình và khoa học Vô Vi nó như thế nào? Đó là cái hiện tượng sao chổi Haley nó sẽ xuất hiện trong cái vòm trời của quả đất; thì đó là một sự kiện về khoa học: thì tính toán như thế nào đó, chu kỳ như thế nào đó, nó sẽ trở lại. Nhưng mà về phương diện Khoa Học Vô Vi của Pháp Lý Vô Vi, chúng ta sẽ hiểu cái đó như thế nào, Thầy?
ĐT: Cái đó là chuyện ở dưới này mà, của bên Thiên Cơ nó sẽ có những cuộc biến chuyển của bên khối Địa Tiên; chớ không phải tu Vô Vi! Đâu có mắc mớ Vô Vi về cái chuyện đó đâu! Khối Địa Tiên nó phải có cuộc thay đổi; mà nó ra lộ liễu như vậy thì có thay đổi chánh trị cả thế giới; cái đó là bên mấy ông Địa Tiên ổng rành hơn tui; nói dóc chơi vậy thôi chớ không có gì.
BĐ: Dạ thưa Thầy! Ở trong phần định nghĩa về huyết trong phần Kinh A Di Đà, nói như thế này, “Huyết là một chất lỏng, trong chất lỏng ấy có điển lộn vào, tung hơi nóng ra; bản thể con người nhờ khí điển ấy mà hô hấp hơi thở ra vào nơi trần thế.” Xin Thầy giải thích rõ cái phần này: cái điển mà lộn vào ở trong cái chất lỏng đó, thì cái điển này như thế nào?
ĐT: Cái đó dễ ợt à: Anh cắt miếng thịt heo; lúc Anh cắt ra, thấy nó đỏ, há, có máu chớ gì nữa. Mình bỏ đó một chặp là nó bầm à; cái điển nó ly khai rồI; thấy cái điển không? Cái điển của miếng thịt heo nó ly khai rồi; cái huyết, máu nó, cái huyết nó bầm ra.
BĐ: Phải chăng cái điện ở đây là dưỡng khí hả Thầy; đó là oxygen chăng?
ĐT: Ờ, đó là oxygen đó.
BĐ: Vậy thì đúng như của con nghĩ.
ĐT: Cho nên, khi mà chúng ta cắt miếng thịt, liệng, một chặp nó hết tươi à: cái phần thanh nó đi ra, cái điển; rồi bây giờ, về cây cỏ: tại sao cây cỏ có thể lớn được? Nhờ cái điển nó mới lớn được; không có điển nó không lớn; cái điển siêu nhiên có, nó mới lớn; hoa quả, cây cối lớn cũng nhờ cái điển; chớ không phải tự nó lớn. Cho nên, mình tu ở đây là nói rằng tự tu, tự tiến: ngắm cái chỗ này, cho cái điển nó trụ ở đây, thì mình sẽ được thừa tiếp ở bên trên rút. Ở trên là thường trực ân độ cho chúng ta, cho nên rút chúng ta đi lên được.
BĐ: Chúng con xin cảm ơn Thầy đã dìu dắt chúng con trong suốt ngày nay.
ĐT: Thôi bây giờ, thành thật cảm ơn bạn đã cho nhiều câu hỏi; chính tôi cũng đã học không ít. No nê rồi; tôi đi ngủ. [39:50]
Hết Mp3 ID# 19860102Q2
Hết Video ID# 19860101L2 – “thảo luận đạo (2)”
Bắt đầu Mp3 [ID# 19860102Q3]
KHÓA HUẤN LUYỆN “KINH A DI ĐÀ” - Cuốn 5A
…..
Đức Thầy: Xong hết rồi há? Ừ, đợi nó vô luôn, đóng cửa cái rồi... Thì cái đó là thiên cơ, Anh, biết giờ nào nó xả? (cười)Phải không? Thiên cơ mà! (cười) Cho nên, nhiều người mà nói thiên cơ đó, thì mình hỏi lại, "Mỗi buổi sáng, mấy giờ, mấy phút, mấy khắc [00:50]
Bắt đầu Video ID# 19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh – Phần 2”
Ông đi, Ông đi ỉa?" (cười) Đố ổng nói trúng! Vậy thì mình lo tu, bảo đảm hơn! Thiên cơ, thây kệ nó; Thần, Thánh, thây kệ nó. Tâm mình cứ tiến tới cái giới đó là họ phải làm việc cho mình! Thấy chưa? Chớ đừng có nói, tôi nói, cái tự tu tự tiến này là mình tiến tới cái giới đó, an bài trật tự! Nhiều người nói, “Tự tu, tự tiến rồi đâu có ai giúp?” Kỳ thật, Thần, Thánh là phải có nhiệm vụ; Thượng Đế cũng phải có nhiệm vụ! Mà mình tới đó là Ngài phải giúp! Mà mình, chúng ta đây, có nhiệm vụ này, bây giờ chúng ta đang nói đạo này, mà người nào nhẩy vô hỏi đạo, chúng ta vui mừng này, đón tiếp này, còn nấu hủ tiếu cho ăn nữa! Phải không? Đó! Nhưng mà người đó nói, "Tui tự tầm!" À, mới gặp việc! Thấy không? Thì bây giờ mình cứ tự tầm mình đi; đi tới vô cùng, thì mình có ăn hoài hoài. Còn mà mình lười biếng, thì không có! Phải không?
Còn người nào ngoài đó nữa? Không phải hả? ... [02:00]
Video ID#19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh-Phần 2” dừng ở phút 01:07 thiếu 7s, là dòng chữ xanh dưới đây:
Cho nên, hôm qua tới nay chúng ta nói “Nam Mô A Di Đà Phật,” rồi nói tới cái xác. [02:07] Nhưng mà :
“Thân người khó được” (Nhân thân nan đắc) muốn thành cái xác không phải dễ đâu, mà các bạn bây giờ có cái xác là quý lắm.
“Phật Pháp khó nghe” chúng ta mới đi học; thấy chưa? Nói "Phật pháp khó nghe"; nói nó nhẹ lắm, nói nó du dương lắm, mà nghe không vô, không có chỗ chứa! Tại sao? Tại mình thiếu thanh tịnh, không có chỗ chứa. Sách hay mà để một đống như vậy, thì nó không có trật tụ; mà có cái kệ, để như vậy là nó có trật tự; nó có chỗ chứa. Thì chúng ta phải tu, phải hành, rồi nó có trật tự, nó mới chứa. "Phật pháp khó nghe", mà lập lại trật tự là dễ nghe và dễ tiến.
“Duyên lành khó gặp”, Ðó. Hồi nào tới giờ ở Việt Nam chúng ta không có duyên lành. Ngày nay chứng minh chúng ta có duyên lành: kẻ Mỹ Tho, người Cà Mau, kẻ ngoài Bắc, người trong Nam, bây giờ cũng ngồi chung trong cái căn phòng này được; thấy chưa? Ðó! Cái "Duyên lành khó gặp", mà ngày nay chúng ta có duyên lành tái ngộ rồi, thì chúng ta bất phân tuổi tác, bất phân giai cấp, đi học đạo!
"Xứ Phật khó về"; Xứ Phật là từ bi, mà tại sao nói: "Khó về?" Tại vì chúng ta không hòa với sự từ bi, và chúng ta không có sự thanh nhẹ, làm sao bước vô sự thanh nhẹ? Cũng như một khối người ở đây, khi người khác mà tới, mà không chịu hòa với chúng ta, đâu có chịu ăn chay với chúng ta, đâu có chịu sống chung trong cảnh huynh đệ xít nhau, gần nhau, để sống để thỏ thẻ với nhau? Không, người ta không chịu, người ta phải bỏ đi! Tại họ, chớ không phải tại Phật; mà cũng không phải tại xứ Phật.
Cho nên, mặt đất này dễ sống, nhưng mà họ cho là khó sống. Thì nhờ mặt đất, nhờ sự kích động, nhờ sự thiếu thốn, họ mới khai triển tâm thức: sáng chế cái này, sáng chế cái kia, sáng chế cái nọ; họ thấy thích thú và thấy hạnh phúc, là do sự cố gắng của chính họ. Thì bây giờ chúng ta tu ở đây, chúng ta phải cố gắng; chúng ta mục đích muốn về xứ Phật, mà chúng ta cứ nói, "Xứ Phật khó về" là tại vì chúng ta không chịu về, không chịu hành, không chịu đi; làm sao về tới?
Cho nên, bốn cái khó khăn này, ông Thích Ca đã thành công: Ổng hành. "Thân người khó được," thiệt, ổng ra, ổng thấy biết bao nhiêu người bị đốt, bị này, bị giết, bị hại; nhưng mà thân của ổng đó, làm sao ổng bỏ cái thân này Ổng bước qua cái thân khác, như vậy? Không được! Thấy không? "Phật pháp khó nghe", Ổng muốn tìm cái từ bi cởi mở để cứu độ tất cả quần sanh, tránh tai nạn tại mặt đất; nhưng mà không làm sao mà hiểu được! Mà khi Ổng hiểu được, thì ổng không làm sao mà truyền bá cho chúng sanh cho nó hiểu được và nó tránh cái tánh hung hăng của nó, và để nó hướng thiện.
Cho nên, "Duyên lành khó gặp". Cho nên, Ổng đành Ổng phải đi tu: toàn dân hướng về Ổng. Ổng đã có duyên, nhưng mà cái duyên lành không có; toàn là cái chuyện ác ôn, chuyện khổ cực, đưa tâu lên vua: đưa trình cho những nhà chánh trị phải lo, phải sửa, thì Ổng thấy "Duyên lành khó gặp". Ổng tu, ổng sửa, ổng mang cái thân xác này cũng như cái thân xác của chúng sanh. Mà ổng sửa được hòa ái tương thân với các nơi các giới. Và mọi người tự thức được ổng là mọi người, mọi người là ổng thì cái duyên lành nó lại dễ gặp. Trong cái khó nó sẽ đi tới cái dễ.
Còn “Xứ Phật khó về”, là phải buông bỏ tất cả những sự trần tục của thế gian mới về. Chính Ngài đã thành đạt, nhưng mà ngày nay Ngài ở đâu? Ở trong tâm chúng sanh. Ở trong chỗ nào? Ở những tâm thanh sạch, ở những tâm của con người đã dứt bỏ trần tâm, và không nuôi dưỡng động loạn nữa thì tâm người đó mới có sự hiện diện của Đức Thích Ca. Thì cái thức bình đẳng Ngài luôn luôn ban rải khắp trần gian qua những cơn kích động và phản động của những người đau khổ. Rồi những người đó sẽ tận hưởng và diện kiến Ngài, và đi thẳng trong thức của Ngài học từ bi và thực hiện từ bi.
Ngày hôm nay chúng ta đang khao khát, và chúng ta muốn làm, chúng ta muốn hành, chúng ta muốn học. Đó, thì chúng ta phải giữ bình tâm và chúng ta nghĩ rằng, “Đức Thích Ca là ta, ta là Đức Thích Ca.” Ngài trước kia cũng ở trong cảnh động loạn. Ngài có nhãn quan để phán xét những chuyện ác thiện. Mà ngày hôm nay chúng ta cũng tương đồng như vậy. Chúng ta nhớ Ngài và chúng ta sống với Ngài trong giây phút chúng ta học. Ta đang ngồi ở rừng già lo tu học đây; và chúng ta thanh tịnh để tiếp cái thanh điển của Ngài và để hiểu Ngài đã dụng văn phán điển cho tâm thức của chúng sanh, dựa vào căn cứ văn tự và để độ đời.
Cho nên bữa nay chúng ta học qua cái giai đoạn “THÍCH CA MÂU NI”. Hôm qua chúng ta học Kinh A Di Đà.
Thì bây giờ “THÍCH CA MÂU NI” dựa trong văn tự [07:56]
Mp3 phút 07:56 và video phút 06:59 đều không có dòng chữ xanh dưới đây. (chép từ sách in thì có dòng này)
ĐÂY GIẢI VỀ CHỮ THÍCH CA MÂU NI
THÍCH : Là giải ra cho đức Di Đà hiểu.
CA : Là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh để tu.
• Ông Tám giảng
Nhiều người nghe nó nghịch quá, Thích Ca là tên người ta, mà tại sao giải thích như thế này? Cho nên chữ Thích là thích giải, là mượn lấy cái luồng điển và mượn cái danh từ mà để giải cái tâm thức của chúng sanh. Cho nên để chữ “Thích” là giải ra cho đức Di Đà hiểu. “Ca” là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh.
MÂU : Là tượng trưng Pháp lý để tu trong mình.
NI : Là ngày hôm nay có Khoa học Huyền bí Pháp lý mà Ngài đã chỉ rõ cho Phật Di Đà để hoằng hóa chúng sanh dưới thế gian, còn Ngài là Thích Ca Phật Tổ chứng minh mà thôi.
• Ông Tám giảng
Cho nên tại sao ông này cắt nghĩa kỳ quá? chúng ta nghe mệt óc mà không thông? Thích Ca Mâu Ni là một vị mọi người đã thờ, kính và đọc lấy danh Ngài cảm thấy tâm an mà tại sao ông này ông cắt nghĩa là : Thích là giải thích, giải ra? Đó, thì các bạn đi vô chùa, khi mà thờ Đức Thích Ca luôn luôn có những vị sư dẫn giải về đạo pháp, giải thích cái định luật sanh tử luân hồi tại thế và để cho mọi người có cơ hội thức tâm, cho nên mượn cửa thiền, mượn danh từ của Ngài mà để đem đạo vào tâm của chúng sanh.
Ca là ca tụng, tuyên truyền những cái hay cái đẹp, những cái dũng chí, Bi Trí Dũng của Ngài đã hành, thành đạo, để cho chúng sanh noi theo và đi con đường của Ngài.
MÂU : Là tượng trưng Pháp lý để tu trong mình.
• Ông Tám giảng
Mâu là cái gì? Mâu Ni Châu là cái điển. Cái điển ở trong mình chúng ta. Cái chủ lực là cái điển. Cặp mắt các bạn nháy được. Cái tâm các bạn muốn nói chuyện. Đó là cái điển. Cái đó là Mâu ở bên trong, khi mà các bạn nói “Mâu…” thì cái âm thinh gồm ở bên trong này. Nó trụ, thì cái đó là mượn cái hình thức bên ngoài, mượn cái hữu vi mà phân giải cái vô vi là cái luồng điển ở bên trong. Và cái xác này là về vật chất tiến triển rờ mó được, thuộc về âm, còn cái kia thuộc về dương nó là di động, linh động, lúc nào cũng linh động.
NI: là ngày hôm nay có Khoa học Huyền bí, Pháp lý, mà Ngài đã chỉ rõ Phật Di Đà để hoằng hóa chúng sanh dưới thế gian, còn Ngài là Thích Ca Phật Tổ chứng minh.
• Ông Tám giảng
Nói câu này người ta đâu có hiểu cái gì đâu! (cười) Nhưng mà chỉ những người tu mà niệm Phật: Nam Mô A Di Đà Phật, thì cái luồng điển nó chạy đều trong cái cơ thể khi mà bạn niệm Nam Mô A Di Đà Phật rồi, cái âm thinh các bạn niệm nhẹ nhẹ mà nghe nó cũng như ở trong cái tòa sảnh. Nam Mô A Di Đà Phật, nó rần hết bên trong thì các bạn mới hiểu giá trị của Thích Ca Mâu Ni,
Nhưng mà cái này ông Tư - ổng căn bản mượn cái lời Thích Ca Mâu Ni tại thế mọi người cung kính mà dựa đó để đem cái huyền điển từ trên xuống mà nhập ngộ trong chơn tâm của chúng sanh đang ngồi đây và muốn nghe đạo. Đạo là nó ở bên trong chớ không có phải hình thức bên ngoài, mắt bằng xương bằng thịt khó thấy được; không thấy được, nhưng mà nó nằm ở trong cái thức.
Cho nên khi chúng ta nhắm mắt ta gom thức rồi thì chúng ta nghe chúng ta hiểu. Chúng ta hiểu cái Thích Ca Mâu Ni, giá trị của Thích Ca Mâu Ni là đem luồng điển vào tâm của chúng sanh để chúng sanh thực hành sự thanh tịnh và ngộ Ngài càng sớm càng tốt.
CỬ HƯƠNG TÁN Nghĩa là : DƯNG HƯƠNG
Người thế gian hay tạo lư hương, là một cái hộp, hay là một cái lư, đựng tro hoặc cát để cắm nhang, gọi là lư hương. Theo Kinh Di Đà có chỉ rõ nghĩa lý, thì khi đức Di Đà ngồi tịnh bắt được điển, Ngài thế cho đức Thích Ca nói ra chữ “Cử Hương Tán” là khi có Vô Vi Thánh gọi là vị cứu tinh giáng xuống nơi Hà Đào Thành là bộ đầu của ta. Ngài gọi nào là Hồn, Vía, Lục Căn, Lục Trần và các chúng sanh trong bản thể là “Nước của ta.” Thì thấy vắng mặt anh Hồn, vì Thần Hồn ở nơi trái tim thịt nhơn tạo, bởi lẽ Hồn là một vị ở nơi thiên đàng bị tội xuống thế, vào nơi bản thể con người, nhập vào trái tim xác thịt. Trái tim là một cái khám tối giam lỏng Linh Hồn. Còn ngoài trái tim thì có Lục Căn, Lục Trần bao chung quanh Ngũ Tạng để làm việc. Lục Căn, Lục Trần cũng như lính thế gian, cũng phải làm việc cho bản thể cùng giữ Linh Hồn tại khám tối. Vì vậy mà Lục Căn, Lục Trần được sai khiến và hà hiếp Linh Hồn. Linh Hồn biết rằng mình có tội nên phải tùng quyền Lục Căn, Lục Trần đè ép xúi biểu Linh Hồn làm theo những chuyện thế gian như là: hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si.
Khi Linh Hồn bị hiếp đáp cực khổ quá, chịu không nổi mới gọi Trời Phật mà than rằng:
“Ôi, ta cực khổ quá, không thể ở chốn này được”.
Lúc ấy, vị cứu tinh trên Thiên Đàng nghe Hồn than xiết mới giáng điển xuống “Hà Đào Thành” và gọi tất cả Hồn, Vía, Lục Căn, Lục Trần lại ứng hầu để tra hỏi. Ngài hỏi ai là Hồn làm chủ bản thể này, Hồn liền đến đảnh lễ vị cứu tinh và nghe Ngài phán rằng:
“Ngươi trước kia ở thiên đàng, có tội phải vào Niết Bàn sa xuống trần gian. Nay ngươi có lòng tưởng Phật, nên ta xuống đây giải thoát cho ngươi. Vậy từ đây sắp tới, ngươi phải tu hành tưởng Phật thì Phật sẽ giải cứu ngươi đem về chỗ quê cũ là xứ của Phật, nơi mà trước kia ngươi đã ở tại đó. Nhưng ngươi phải ở đây đền tội cho đủ, và tu hành luyện đạo theo pháp lý Vô Vi đây, đến khi mãn hạn tù tội thì Phật ngài sẽ rước ngươi về cõi Phật”.
Lúc ấy nào là Vía, Lục Căn, Lục Trần đồng chịu tội lỗi vì đã hà hiếp Linh Hồn. Vị cứu tinh mới bảo:
“Thôi, từ đây sắp tới Lục Căn, Lục Trần cùng Vía chuyên làm việc bản thể mà thôi. Còn Linh Hồn là chủ của chúng ngươi, chúng ngươi phải tùng quyền Linh Hồn này và coi giữ đấy, không được ép xúi theo thế gian nữa”.
Kể từ đó Linh Hồn được thong thả lo luyện đạo pháp lý công phu. Vị cứu tinh bèn trở về Thiên Đàng. Hồn càng vui vẻ, mới gọi Lục Căn, Lục Trần cùng Vía lại mà nói rằng:
“Hôm nay ta chào các ngươi, Lục Căn, Lục Trần cùng Vía nghe ta phán, và chúng ngươi phải biết mấy câu kệ của ta”.
Đố ai biết Lão là ai?
Vì phạm Thiên Nhan phải bị đày
Sớm tối công phu theo pháp lý
Mau thành Chánh Quả trở về ngay.
Ông Hồn nói tiếp cùng với Vía, Lục Căn, Lục Trần và những lỗ chân lông là dân sự trong nước của bản thể.
“Chúng bây có biết chưa? Ta là Hồn, trước kia bị phạm tội nên mới bị đày, nay nhờ vị Cứu tinh giải thoát và truyền cho ta có quyền sai khiến chúng bây và dạy bây tu hành theo ta, bây có biết chưa? Đây ta là: CHỦ NHƠN ÔNG được hồi chức cũ, đồng có tội thì ta cố gắng tu hành để độ chúng bây thẳng rẳng theo con đường chánh lý. Lúc ấy Vía, Lục Căn, Lục Trần đảnh lễ Chủ Nhơn Ông và bạch rằng:
“Chúng tôi đồng quy y thọ giáo theo [17:37]
Video ID#19860101L2- “Thuyết giảng Kinh-Phần 2” thiếu 43s - phút 16:48 so với Mp3 ID=19860102Q3 từ phút 17:37 đến 18:20
Ngài. Từ đây chúng tôi không cưỡng giáo lý, cũng không xúi biểu Chủ Nhơn Ông mê trần”.
Chủ Nhơn Ông mô Phật đêm ngày công phu luyện đạo làm phép Cử Hương Tán.
• Ông Tám giảng
Cho nên cái tổ chức ở trần gian chúng ta thấy rất rõ, thể xác, phần hồn của chúng ta đang bị quyến luyến, giam hãm trong cái thể xác này mà Lục Căn, Lục Trần luôn luôn hoành hành, bày biểu đủ kế hoạch. Cho nên nhiều khi các bạn ngồi đó, nó nghĩ việc này, việc kia, việc nọ, bán tín bán nghi, [18:20]
[Video tiếp tục ở đoạn này:]
đời cũng bán tín bán nghi, đạo cũng bán tín bán nghi và không chịu thức giác. Cho nên nó xúi biểu, nó làm cho cái thần thức, cái phần hồn của chúng ta đắm chìm và chạy theo cái con đường bất chánh. Rồi tự bảo vệ con đường bất chánh đó mà làm cho chúng ta trở nên si mê, tranh chấp.
Hằng ngày các bạn thấy, khi mà chúng ta bỏ cái môn thiền là muốn bỏ cửa thiền, mà chúng ta về với đời là chúng ta thấy toàn là sự tranh chấp, dãy đầy trong gia cang của chúng ta đều là sự tranh chấp, ngoài xã hội là sự tranh chấp. Không biết nó là ai! Vì sao? Vì Lục Căn, Lục Trần nó đã buộc rồi, và Lục Căn, Lục Trần nó nói, nó điều khiển, thì chủ nhơn ông phải nghe. Vì hồi nào tới giờ chúng ta giao cho nó làm, nó hành sự. Cũng như bây giờ căn nhà hay căn tiệm các bạn làm ăn mà giao cho mấy người làm công hết thì người làm công điều khiển, chủ nhơn ông đâu có biết làm gì. Khi mà xảy ra tai nạn thì chủ nhơn ông phải gánh hết.
Đó! cho nên ngày hôm nay chúng ta không dại nữa và chúng ta thức tâm rồi, thấy rằng “Tôi ăn bao nhiêu, mặc bao nhiêu có chừng, và thời gian tôi giáng lâm xuống thế gian đây học hỏi đều có chừng rồi tôi phải ra đi. Thì tôi phải sử dụng và làm những điều cần thiết và không sử dụng những chuyện không cần thiết nữa.” Thì lúc đó cái phần hồn mới nhẹ nhàng, Lục Căn, Lục Trần nó mới hàng phục, nó mới chịu tu.
Cho nên chúng ta “thượng bất chánh hạ tắc loạn:” bộ đầu các bạn mà không có phân minh, không có rõ rệt, không hiểu cái nguyên cơ, thiên xích liên hệ với trời đất, càn khôn vũ trụ thì luôn luôn bị lệ thuộc, mà trong cái lệ thuộc đó là ai làm cho chúng ta bị lệ thuộc? Lục Căn, Lục Trần nó lôi cuố,, vì cái tập quán của chúng nó và trình độ của chúng nó tới đó thôi, nó chỉ tranh đấu, thực tế, sát phạt hơn thua, đó kêu bằng là cái nguyên lý của Lục Căn, Lục Trần. Còn nó không hiểu rằng cái trường cửu bất diệt mà cứu tất cả là tha thứ và thương yêu.
Cho nên khi mà chủ nhơn ông thức tâm rồi, quyết tâm dứt khoát ra đi tu rồi, thì Lục Căn, Lục Trần phải quỳ bái và kính nể theo con đường tinh tấn của chủ nhơn ông. Học được đạo bao nhiêu, đem về truyền bá bao nhiêu nó mới thức tâm. Ngày đêm nó mới quy y và nó niệm Phật. Cho nên những người tu về Pháp lý thức tâm rồi thì nửa đêm nghe rõ những câu niệm Phật của vạn linh trong Tiểu Thiên Địa, đồng niệm Phật, thức tâm để kêu chúng ta dậy lo cái giờ giấc công phu là quan trọng. Đó là cái cơ tiến hóa cần thiết. Còn cái tiền bạc, của cải, địa vị ở thế gian đều là tạm bợ, và không mang đi được. Nó cũng là cái cơ cấu xây dựng của Thượng Đế trong cái kích động và phản động để nhồi quả cho phần hồn tiến hóa mà thôi. [21:35]
[Video thiếu 3s – phút 20: 27 là đoạn chữ màu xanh này:]
Cho nên Chủ Nhân Ông thức tâm rồi mới
[Video tiếp tục từ đoạn này:]
chịu CỬ HƯƠNG TÁN lo tu.
Chữ CỬ HƯƠNG TÁN nghĩa là : CỬ : Là đề cử. HƯƠNG : Là công phu Soi Hồn, trong đấy là chỗ tập trung. Thường khi công phu thì điển nhóm lại một chỗ tập trung; chúng ta rờ nóng, gọi là Lư hương. Còn chữ TÁN : Nghĩa là Vía, Lục Căn, Lục Trần đều ưng thuận tán thành cung phụng.
• Ông Tám giảng
Đó là đi trực tiếp. Còn ở đời họ “Cử Hương Tán” là thắp cây nhang đưa lên đầu, đó, nhưng mà đưa lên đầu thì trong này chỉ có cầu xin không à. Mà không biết cái nghĩa lý của cây hương là lửa và nó đi lên trên cõi trên cũng như là thưa trình ở Bên Trên. Hồi xưa, người ta làm vậy là tập trung tinh thần để thưa trình với chư Phật chư Tiên “Con nguyện tu”; chớ không phải cầu xin giàu có; nhưng mà ngược lại, ở đây họ chỉ cầu xin may mắn, bình an.
Đó! Cho nên cái Cử Hương Tán của chúng ta là thực tế. Các bạn đưa ngón tay lên Soi Hồn là tập trung cái luồng điển lửa nóng cho nó tập trung giữa chân mày. Cho nên các bạn tu một thời gian Soi Hồn nó trì nặng ngay chân mày. Đó là chúng ta thắp một cây nhang. Có người thắp 6 năm, có người thắp 6 tháng, có người thắp 3 ngày nó cũng sáng, vì người đó đã thắp lâu rồi, đã tu lâu rồi.
“Hương” là công phu Soi Hồn, trong đấy nó phát cái thanh điển đi lên; khi mà các bạn Soi Hồn bịt như thế này là nó tán ra, nó đi ra, nó giải cái trược, nó tán ra.
thường khi công phu điển nhóm lại chỗ tập trung, chúng ta rờ nóng. Lư hương, lư hương chỗ này (trung tim chân mày) nó nóng.
Còn chữ “Tán” nghĩa là Vía, Lục Căn, Lục Trần đều ưng thuận
• Ông Tám giảng
Đó! khi mà chủ nhơn ông chịu Soi Hồn là ở dưới nó sẽ êm ả lần lần, khi các bạn Soi Hồn tới 5 phút, rồi đạt tới 15 phút, các bạn cảm thấy sự êm ả rồi, càng ngày càng êm ả. Cho nên có nhiều người họ soi tới một tiếng đồng hồ, họ thấy êm ả trong cơ thể, là Lục Căn Lục Trần nó hàng phục. Đó! cho nên đi trực tiếp. Cái kinh A Di Đà này mà theo ông Tư giải thích như này là đi trực tiếp về cái Pháp lý và khi chúng ta Soi hồn rồi nó êm ả, êm ả một chập, một chập 5 phút sau, 10 phút sau, 15 phút sau thì cảm thông ngay cái xương sống phía đàng sau này, đâu đó nó êm ả hết. [24:29]
[Hết video ID# 19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh – Phần 2” Tương ứng phút dừng 24:29 của Mp3 ID=19860102Q3]
Bắt đầu video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh- Phần 3”
LƯ HƯƠNG SẠ NHIỆT PHÁP GIỚI MÔNG HUÂN
Chữ Lư Hương là lò lửa.
Trong mình ta có lò lửa, nhưng người thế gian nào biết được. Lúc đức Di Đà dạy đạo, chỉ cho chúng ta biết: Ngay giữa hai chân mày, trung tim giữa sống mũi là chỗ Tam Tinh “Tinh, Khí, Thần” nhóm tại đó người luyện đạo gọi là tập trung. Nói như vậy chúng ta cũng chưa thấu đáo, duy nhờ có tu luyện, định thần ngay chỗ ấy chúng ta sẽ biết là chỗ lò lửa thật. Nếu chúng ta muốn thí nghiệm cho rõ Pháp lý, thử giơ tay đánh thật mạnh ngay giữa trán ta, thì ta thấy phát ra một tia lửa đỏ lòm, gọi là Tá Hỏa Tam Tinh (Người Pháp gọi là “Thấy 36 ngọn đèn”).
• Ông Tám giảng
Chỗ đó là chỗ hỏa, khi mà đánh bụp vô một cái là thấy tá hỏa tam tinh rồi, xây xẩm mặt mày.
Khi ta luyện đạo công phu thì chỗ ấy phát nóng nhiều, còn lúc thôi luyện đạo thì không nóng.
• Ông Tám giảng
Đó, cho nên các bạn tập trung rồi, sao nó cứ nặng trì, nặng trì, rồi thích nhắm mắt... mà trong lúc thích nhắm mắt nó lại thích niệm Phật nữa! Nó mới phóng ra, nó mới thấy cái lửa sức mạnh nó thế nào. Cho nên cái đệ tam nhãn này mở mà đối phương có tới chống chúng ta, chúng ta cứ ngó ngay chỗ tam tinh của những người mà chưa tập trung, thì họ phải hàng phục, họ phải nể ngay! Vì cái thần lực này là cái thần lực mạnh nhứt, chánh tông của đệ tam nhãn, rồi chỗ này (trung tim chân mày) nó xoáy, mà nó mở ra rồi thì các bạn chỉ ngó ngay, dụng cái này (trung tim chân mày) ngó ngay đối phương thì dễ hòa với họ và không có trở ngại. Còn nếu mà chúng ta dùng cặp mắt thịt ngó, chúng ta còn sợ mà tập trung được cái chỗ đó ngó, là không có sợ nữa! Mà tâm chúng ta vừa niệm Phật là vừa cứu họ và cứu mình: giải, dùng hỏa trung thiên để giải cái hỏa trần trược tại thế gian. Cho nên những người tu Pháp lý khi đi thăm người bệnh hoạn, chúng ta chỉ nhìn ngay chỗ đó mà thôi, nhìn ngay trung tim chân mày, và dùng từ tâm niệm Phật và đem cái từ điển cho bệnh nhân; cho nên đến thăm nhiều lần họ cảm thấy nhẹ.
Con cái, gia đình chúng ta bệnh hoạn cũng vậy, nếu họ không tu, mình là người tu, mình phải tới nhìn họ và phải đem cái từ tâm niệm Phật để truyền cái thanh điển của chính ta đã tu luyện cho đối phương có cơ hội tự thức, còn khi mà chúng ta cứ thử nghĩa là các bạn trước kia chỗ này (trung tim chân mày) nó không nông, Soi Hồn thét nó nông cao, và nó trì nặng chỗ này (trung tim chân mày). Rồi các bạn bỏ đi không có Soi Hồn, nó không có nữa, vì nó không có tập trung, nó không thành sức mạnh rồi, nếu mà Soi Hồn bỏ là khó thấy ánh sáng, mà giữ được Soi Hồn đều, đều, đều như vậy thì sau này dễ thấy ánh sáng vì nó tập trung.
Cho nên đừng có sợ; khi mà nó tập trung ở đây (trung tim chân mày) nó nặng một thời gian rồi, vừa nhắm mắt là nó lên đây (giữa trán) nó nặng. Đây (giữa trán) là trung thiên, ngay chính giữa là trung thiên, cái luồng điển nó chuyển lên trung thiên rồi, rồi nó nặng ngay chỗ này (chân mí tóc), nó là bồng lai, ngay chỗ này (chân mí tóc) nó phóng thẳng vô trong cảnh tiên, mà đây, ngay trung tim đây (trung tim bộ đầu) là Phật giới. Còn nó nặng trì phía đằng sau này là ma quỷ.
Đó! Cho nên những người tu mà bước vô cái nhà nào, mà thấy tự nhiên tôi bước vô thấy sao nó nặng ở đây (Ngọc Chẩm), nó làm cái xòa một cái nó làm tôi nặng ở đây (Ngọc Chẩm) là ma, còn quỷ nó còn mạnh hơn, nó đè ngay cái ngực tôi luôn, còn những phần thiêng liêng xuống về thanh thoát, nó không có! Chúng ta tới cũng như người thường, cảm thấy nhẹ. Phần đó là chư Thần, chư Thánh chư Tiên làm việc. À, còn mình tới mà nó áp đảo ngay chỗ này (Ngọc Chẩm), và nó làm cho cái ngực các bạn nặng, đó là ma quỷ. Chúng ta lo niệm Phật và lo rời khỏi chỗ đó, vì chúng ta không phải là loại tranh chấp, không phải là loại làm thầy, không phải loại đánh giặc, chúng ta không có ở đó.
Nhiều bạn nói: “Ờ! Tôi biết cái đó, tôi trị nó.” Trị không được! Không nên trị, mít lòng, chúng ta bỏ đi, niệm Phật. Thôi, tôi chỉ lo tu cho tôi mà thôi, không nên dùng cái điển của chúng ta để khắc phục cái tà, vì trình độ của chúng ta chưa có đầy đủ. Mà Trình độ đủ thì hút họ lên, chớ không có đè họ. Cho nên nhiều bạn tu mới có chút điển muốn đi đè đối phương, đè con ma. Mà rốt cuộc mình thành ma, mình càng đè thì mình càng la dữ.
Cho nên ở Việt Nam tôi nói câu chuyện tức cười: bà Văn Cao bả bị bệnh. Bả là bà con của ông Lâm Văn Thơ. Thì ông Lâm Văn Thơ có đệ tử xài bùa, trị tà, nghe nói cũng hay lắm. Mà bà này bả thấy có tà xâm trong mình bả, bả cứ nghi bả có tà mà bả không chịu tu, bả tu không được, bả bị phá hoài. Bởi vì tiền kiếp bà chơi bùa ngải, thì bây giờ bùa ngải nó phá bả, mà bả không hay. Rồi bây giờ đi gởi đó, ông tướng ổng gởi ở đó, ổng nói nghĩa là: “Bà con tao, mầy ráng trị”. Thì ông kia ổng vẽ bùa đồ này kia kia nọ, trị nó không xuất, con tà nó không xuất, nó cũng còn hoài. Thì ổng nói nghĩa là: “Tao cho mày hay là ông tướng gởi đó nghen! Mà mày hổng xuất tao đánh chết cha (Đức Thầy cười..). bà kia nghe mất hồn! Ông đừng đánh chớ. Tôi thiệt là cháu ông tướng mà ông đánh tôi chết còn gì. Ông lính nói: “Mày phải ra, mầy phải xuất ra, không xuất ra thì tao đánh chết (Đức Thầy cười..). Lúc đó thầy bùa bí rồi. Thầy bùa bí rồi bây giờ biết làm sao? “Ông tướng gởi mà mình không làm chắc là ổng quở rồi!”. Mà trị không xong là ổng quở, mà năn nỉ thì không được. Mà bùa phép ra hết rồi mà con ma nó nói: “Tao còn đây” (Đức Thầy cười..). Nói mày không ra là tao đánh chết, bà kia mất hồn, bỏ chạy (Đức Thầy cười..). Cái đó cũng là thầy bùa, mà thầy bùa tới đó hết phép rồi (Đức Thầy cười..).
Cho nên, ở đời này nhiều thầy lắm. Cho nên, chúng ta tu về Pháp lý Vô Vi không có bị cái đó. Phải quyết tâm tự tu mới giải được, cái tiền kiếp chúng ta làm sái quấy thì kiếp này chúng ta phải chấp nhận. Mà phải tự giải, không tự giải là không có thể được. Cho nên tôi có chỉ cho bả chỉ có tu thôi, chấp nhận đi, chết bỏ. Vì ta hại người thì người hại ta, đúng rồi. Trả được kiếp này thì kiếp sau khỏi tái phát, mà không nghe! Đi thầy nào... tôi nói: “Ờ, thì thầy đó hay, cứ việc đi!” Đi hết cả Việt Nam không có thầy nào hết. Rốt cuộc về, cũng phải tu về vô vi, không cách gì giải được hết. Bởi cái chuyện hồi xưa mà, bây giờ chúng ta phải nhận và chúng ta phải giải.
Cho nên ngày hôm nay chúng ta đi theo con đường nào mà chúng ta tu? đi theo con đường ông Thích Ca tu, ông Thích Ca tiền kiếp ổng làm hiền, ổng có tu, ngày nay ổng mới được làm Thái Tử. Mà Thái Tử ổng thấy trần gian động loạn, giết chóc, “Oan oan tương báo hà thời liễu,” ổng thấy rõ cứ báo thù mãi mãi, ổng mới thức tâm ổng bỏ ổng đi tu. Và chính ổng chỉ có cái tu mới giải thoát, vì sự liên hệ của ổng đối với nhân dân là một, và sự đau khổ của nhân dân là ổng đau khổ, cho nên ổng tu, để ổng vạch ra con đường để mọi người theo tu và tự đi.
Cho nên chúng sanh còn hiểu lầm nhiều lắm và không chịu tự thức. Có cái gương lành đó mà không chịu tự thức, mà học để mà tự tu. Rồi mê phép này, mê phép nọ, cái nào nói cũng hay hết, rốt cuộc là bị kẹt. Cho nên ngày hôm nay khoa học thay thế rồi: bây giờ anh có cây dao ở trong bụng, nó mổ lấy cây dao ra như không. Hồi xưa mà cây dao vô trong bụng là phải kiếm thầy cúng giổ bao nhiêu ngày, rồi ổng luyện phép, ổng lấy ra, thấy không! Cái đó hồi xưa cũng có nữa! Những là lưỡi lam ở trong bụng cũng lấy ra được. Cái đó hồi xưa nhưng mà ngày nay khoa học người ta thay thế hết rồi! Người ta thay thế hết. Cho nên chúng ta bây giờ chỉ có tu và không có sợ bùa phép nữa. Sợ tâm mình động loạn. Cái nền văn minh nó đưa tới cho chúng ta và chúng ta phải thực hành trong cái khoa học huyền bí và để dọn cái tâm của chúng ta để đi lên.
Cho nên Đức Thích Ca đã làm và đã thành và chúng ta noi theo gương Ngài phải làm. Rồi chúng ta cũng nói chuyện cho những người khác nghe, đó là thay thế đức Thích Ca hành đạo tại thế, chớ không phải đọc danh Ngài là hành đạo. Đọc danh Ngài mà không hiểu được nghĩa lý thì đọc làm chi. Còn chúng ta đọc danh Ngài mà hiểu nghĩa lý để dẫn giải mọi người tiến tới cái kỷ thuật nào mở tâm mở trí, cái gì kêu bằng khoa học vật chất, cái gì kêu là khoa học huyền bí, mới thực hành đến nơi được.
Chữ SẠ NHIỆT Là phát ra nóng.
• Ông Tám giảng
SẠ NHIỆT cái này là chữ Tàu: phóng cái nóng ra.
Pháp Lý cho rằng khi chúng ta ngồi tịnh luyện thì điển của bản thể đều hay, lúc ấy điển từ dưới chân chạy lên bộ đầu ta nghe rần rần, điển ấy gom vào Lư Hương, lò lửa trước trán ta.
• Ông Tám giảng
Khi chúng ta ngồi, chúng ta thấy ngồi vô, các bạn vừa ngồi vô là thấy nó ấm mình rồi, nó chạy á. Cái phương pháp Pháp lý này vô ngồi và xếp bằng rồi, tưởng niệm một cái là nó chạy rần, điển nó chạy rần À, “gom vào lư hương lò lửa trước trán ta”, ta Soi Hồn là nó chạy ngay chỗ đó. Cho nên thích nhắm con mắt để cho nó thanh nhẹ.
PHÁP GIỚI MÔNG HUÂN
Trong Pháp lý có phép của Phật Di Đà truyền bá cho ta luyện đạo: nhờ có điển bản thể sung vào Lư Hương lửa điển tung ra ngoài. Lúc ấy trên Thiên Đàng, điển của chư Phật đều biết.
• Ông Tám giảng
Đó; chúng ta Soi Hồn thì nó phóng ra, thì chư Phật phải chuyển tới cho chúng ta. Cho nên khi các bạn mà Soi Hồn là chư Phật bên trên người ta biết hết rồi!
CHƯ PHẬT HẢI HỘI TẤT DIỆU VĂN
Nghĩa là đồng thời trên cảnh Phật đều hay biết chúng ta công phu luyện đạo. Cho nên điển của chúng ta ở dưới thế gian phát ra động đến xứ Phật.
• Ông Tám giảng
Họ thường thường họ phát cái điển, cái nóng của họ là phát ra để trị người khác thôi. Còn đằng này chúng ta phát hướng thượng tập trung như thế này (trung tim bộ đầu), niệm Phật là nó phóng đi lên, nó động tới Phật giới, phóng đi lên.
Còn những người trị tà ở thế gian là nó động thể xác của đối phương, nó đi ngang còn chúng ta phóng đi lên thì Bề Trên người ta biết rồi.
TÙY XỨ KIẾT TƯỜNG VÂN
Đồng thời điển của chư Phật trực tiếp giúp chúng ta được mau thấy chơn đạo. Nhưng người tu cao thì trên trời có một đám mây nhỏ gọi là Tường vân.
• Ông Tám giảng
Cho nên các bạn khi mà nhắm mắt, xuất ra rồi, mình đứng trên đám mây đó là bay. Hồi xưa các bạn coi phim Tôn Ngộ Không, đứng trên mây một cái là nó bay xè, nó đi. Rồi bây giờ, những người tu khá ngồi trên tòa sen, cái đó là đám mây chớ có gì đâu, nó cũng bay đi à.
Để tiếp viện cho người ấy dễ dàng xuất hồn, hồn đứng trên đám mây.
• Ông Tám giảng
Đó, cho nên Tường vân đó ở trước mắt chúng ta đây này, bây giờ các bạn thấy màu đen, sau này thấy màu trắng, bước ra cái là đứng đó là tự nhiên nó bay, cái ý chuyển là nó đi rồi, mà mình nói trước là tôi xin đảnh lễ Phật là nó bay tới đó, nó không có khó khăn, nhưng mà ngày hôm nay các bạn lại có cơ hội coi phim chưởng là thấy vụ đó, như là Bát Tiên, Tôn Ngộ Không, cũng đi trên mây không à! Cái chuyện đó không phải khó khan. Mà nếu cái phần điển các bạn trụ thì cái đó nó dễ dãi lắm.
THÀNH Ý PHƯƠNG ÂN
Lúc ấy chư Phật ban ân huệ cho người tu, giúp điển lửa của người tu được cường tráng hùng dũng, đi đứng bay nhảy dịu dàng lanh lẹ không khác nào chư Phật. Nếu chúng ta cố ý thành tâm luyện đạo thì có đủ Chơn Như.
• Ông Tám giảng
Có 3 cái pháp này thôi, mà thanh lọc được rồi thì các bạn thấy đầy đủ chơn như: các bạn ra đi, bởi vì các bạn từ trên kia xuống mà! Xuống từ lâu rồi! Xuống mấy ngàn năm rồi ở thế gian này mà cứ đòi hỏi ở lại thôi, mà không biết đường về. Mà ngày nay, chúng ta biết đường về. Chúng ta đi chớ, còn dại dột gì nữa, cứ chờ cái xe kiểu này ra, rồi hết xe kiểu khác, rốt cuộc xe nào nó cũng dùng hơi đẩy người ta đi tới thôi! Thì bây giờ chúng ta dùng điển để đi lên thiên đàng. Thế gian thì dùng hơi mà ta dùng điển. Chúng ta mới nhập cục, mới lên thiên đàng được, đó là kêu bằng trở về với đầy đủ chơn như.
CHƠN NHƯ là hình bóng của ta rõ ràng trên thiên không, chẳng khác nào xác thân ta ở dưới trần gian. Còn luyện đạo chưa đúng lực lượng thì chỉ thấy cảnh Trời mà thôi, ví như ánh sáng của đèn pile rọi.
• Ông Tám giảng
Chỉ rất rõ ràng! Cho nên cái cuốn kinh này là cuốn kinh quý báu nhứt để cho các bạn thực hành về Pháp Lý: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền định, rồi cái ánh sáng ra thế nào? Lúc các bạn đi thế nào? Ở đây cũng có sự dẫn dắt hết; dắt mà dựa trong cái Kinh A Di Đà dắt các bạn là không có sai lạc một chút.
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT
Bởi thế chư Phật cùng đức Di Đà khuyên chúng ta phải cố gắng luyện đạo mềm dẻo. Nếu có được Mâu Ni Châu trong lò lửa phát ra thì lo chi không thành Phật.
• Ông Tám giảng
Cái đó có phải sự dày công của chúng ta không? Chúng ta từ trên kia rớt xuống đây, từ trên miệng giếng rớt xuống đáy giếng, mà chúng ta phải tập trung tinh thần và tập trung tất cả lực lượng, chúng ta mới mong bò lên khỏi mặt giếng. Ngày hôm nay các bạn cũng như trên giếng rớt xuống dưới đáy giếng thôi, mà bây giờ các bạn dày công, tìm nhiều phương cách thực hành trong sự quân bình, thì các bạn đi lên khỏi mặt giếng không có khó khăn, nhưng mà phải phí công. Đi xuống thì dễ mà đi lên thì khó. Các bạn thử đi, đi tới cái dốc núi, bạn đi xuống dễ lắm, ai cũng đi được hết, mà tới hồi đi lên là khó.
Cho nên đi lên nó có cái khó một chút nhưng mà cố gắng, tin tưởng rằng “Ta sẽ lên khỏi chân núi, ta sẽ ở trên đỉnh núi,” thì mới là đi tới giải thoát. Chớ nhiều người tu nửa chừng, tôi chán quá, tu này tiêu hao quá, tu cái này thiệt thòi quá. Thiệt thòi cái gì? Cái gì mà bạn có, mà bạn nói bạn thiệt thòi, thậm chí cái xác của bạn đang có đây cũng là không phải của bạn nữa, bạn có bao giờ chết mà đi chôn cái xác của các bạn được? Không! Thì không có cái gì các bạn có, mà sao các bạn nói là thiệt thòi?
Cho nên, nói “Tôi tu cái này thua lỗ và thiệt thòi!” Nói cái đó là ngu xuẩn và tăm tối không hiểu cái nguyên lý của Trời Phật. "Tu cái này là để tôi giải tỏa cái sự ô trược tạm bợ không có giá trị và tôi trở về với sự chơn giác đời đời của chính tôi, tôi đâu có thiệt thòi! Tôi lợi tất cả cho chính tôi chớ tôi đâu có thiệt thòi. Tại sao tôi dám nói câu 'thiệt thòi'?” nhiều người nói "Tu Vô Vi thiệt thòi!" Không phải thiệt thòi đâu các bạn! Các bạn làm sao rửa được trần tâm của các bạn, mà có đường lối của Vô Vi các bạn mới có cơ hội rửa trần tâm của các bạn, các bạn mới lợi lộc đời đời, đâu có thiệt thòi! Cho nên đừng có sai lầm trong đó, mà sai một li đi một dặm, nó kéo các bạn xuống đời đời trong chỗ tối tăm và không có lối thoát.
[hết băng ID# 19860102Q3]
Tương ứng đoạn dừng của video ID# 19860101L2 – Thuyết giảng Kinh – Phần 3” ở phút 18:15
[bắt đầu ID#19860102Q4] - Mp3.
Tiếp tục video ID# 19860101L2 – Thuyết giảng Kinh – Phần 3” đang dừng ở phút 18:15
KHÓA HUẤN LUYỆN “KINH A DI ĐÀ” - Cuốn 5B
• Ông Tám giảng
Rồi các bạn mê, mê sự từ bi, thích sự từ bi, mà không bao giờ chịu hy sinh, làm sao có từ bi: mới hy sinh một chút là nói "thua lỗ" rồi, "thiệt thòi" rồi! Cái đó là cái trần tâm tăm tối! Phải mau mau thức tâm trở về sự chơn giác của chính mình!
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT
Bởi thế chư Phật cùng đức Di Đà khuyên chúng ta phải cố gắng luyện đạo mềm dẻo:
• Ông Tám giảng
"Mềm dẻo" là bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể qua được; cái cứng cáp đó là cái tạm bợ, mà cái mềm dẻo là cái thông qua tam cõi.
Nếu có được Mâu Ni Châu trong lò lửa phát ra thì lo chi không thành Phật
• Ông Tám giảng
Thấy rõ không? Một kỳ công ta làm là cho ta, đâu phải làm cho người khác, đừng có dòm bề ngoài mà thấy sự thiệt thòi mà mất cái chơn tâm là chỉ có xuống địa ngục khóc mà thôi! Chúng ta thấy rõ rồi, phải thực hành cho kỳ được.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Lúc ấy Thích Ca Phật Tổ chứng minh thì giờ phút khắc mà chúng ta luyện đạo theo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật.
VẬY CÓ THƠ RẰNG:
Di Đà sáu chữ ấy ơn sâu
Kẻ Đạo nghe qua phải lắc đầu
Thích chí từ đây tua gắn bó
Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu.
Mâu Ni Châu vốn ở trong mình
Luyện đạo Soi Hồn lọc khí tinh
Miệng niệm mãn đời không thể có
Huyền vi nhờ Điển Đạo càng minh.
• Ông Tám giảng
Đó, “Di Đà sáu chữ ấy ơn sâu”, Nam Mô A Di Đà Phật, tại sao nói là ơn sâu? Cái người đi trước, con người là bị bao vây, đóng khung một chỗ, không biết con đường để thoát thân. Ngày hôm nay Bề Trên đã chuyển vận thanh điển và để cho chúng sanh học để hiểu được nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật để khai lục thông trở về thức hòa đồng đời đời sẵn có ở bên trên, nơi lớn rộng vô cùng và không bao giờ bị tiêu diệt.
Cho nên nhờ cái sự sáng suốt chỉ điểm cho chúng ta, chúng ta nhờ trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật, chúng ta mới thoát được cái trần tâm. Đó là cái ơn đó là vô cùng, làm sao chúng ta có thể thoát trần tâm và tránh cái tham dục ở thế gian, người nào cũng có trần tâm và tham dục, mà chúng ta dùng trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật rồi. Lần lần các bạn cảm thấy tôi bớt, tôi không thích, tôi mở rồi, tôi bỏ rồi. Mà bỏ cái đó rồi các bạn lấy cái gì, lấy được cái thức hòa đồng thì các bạn sẽ có nhiều hơn. Cho nên, do đó chúng ta mới thấy cái ơn sâu của cái nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật để dẫn tiến tâm linh của chúng ta. Cho nên đời đời chúng ta không quên cái Nam Mô A Di Đà Phật, vì nó là cái chìa khóa của tam cõi.
“Kẻ đạo nghe qua phải lắc đầu”, người tu đều thấy rõ nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật, bái phục vô cùng, không có cách gì cứu con người ra khỏi khổ ngoài nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật.
“Thích chí từ đây tua gắng bó”, bây giờ chúng ta phải lấy cái đó làm chánh, mà cố gắng niệm, cố gắng trì niệm cho cái thức hòa đồng nó mở, thế gian ai cũng mong thế giới đại đồng, nhưng mà tâm ta chưa hòa đồng làm sao đạt được thế giới đại đồng.
“Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu”, khi chúng ta công phu phải nghiêm chỉnh, thực thi 3 pháp cho đầy đủ, một phút cũng phải nghiêm chỉnh, rồi lần lần nó đi lâu, chớ không phải, nhiều người nói tôi muốn vô tôi ngồi một ngày. Đâu có được! Tôi được 1 phút hay 1 phút, tôi được 5 phút hay 5 phút, rồi tôi sẽ đi tới, chính tôi sẽ khai thông tôi và tôi sẽ tái chiếm những cái cơ sở thanh tịnh của chính tôi có từ nghìn xưa chớ không phải mới đây.
“Mâu Ni Châu vốn ở trong mình”,“Luyện đạo Soi Hồn lọc khí tinh”, đó! Nó vốn ở bên trong chớ đâu, mà nếu chúng ta luyện đạo khứ trược lưu thanh rồi thì nó lọc khí tinh. Lúc đó nó là đi tới chỗ tinh vi, một luồng hơi sáng suốt ở trong mình cũng như đức Thích Ca trước kia tu cũng có cái Thiên Xích một đường thẳng ngay trung tim bộ đầu rút thẳng lên trên không trung, mà khi Ngài muốn chuyển độ một người nào cũng chỉ phóng cái luồng điển đó để rút cái phần thanh điển của hành giả, mà đưa hành giả tới cái chỗ ngộ và chư Phật chỉ độ chúng ta ở chỗ đó, trong giây phút mà thanh tịnh đó, chư Phật chỉ truyền một luồng điển xuống mà rút chúng ta thẳng tới cái chỗ ngộ Tâm.
Cho nên phải do sự công phu cố gắng và nghiêm chỉnh thực hành trong giờ công phu, còn không thôi đừng tu, tôi ngồi kiểu ngồi chơi ngồi nghĩ bậy, đừng thèm, vô là phải chấp hành cho đúng. Trong giây phút tôi Soi Hồn, Soi Hồn cho đúng, làm Pháp Luân, Pháp Luân cho đúng, Thiền Định, Thiền Định cho chững chạc. Ông phật ngồi sao tôi ngồi vậy Thà thì giờ ngắn, hơn là các bạn làm dài mà èo uột không tiến triển.
“Huyền vi nhờ điển đạo càng minh”. Tiến tới huyền vi là chỗ mắt phàm không thấy, nhờ điển thì cái đạo nó càng minh, nó càng ngày càng nới rộng, thánh tâm càng ngày càng mở, thấy rõ chiều hướng tiến hóa của nội tâm.
Đây là lời của ông Tư.
Thưa Các Bạn
Trước kia tôi học đạo Vô Vi của Ông Cao Minh Thiền Sư truyền bá, nhưng Ông có thể giảng 6 chữ Di Đà dạy phép luyện đạo công phu mới có, chớ chẳng phải lấy miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật để Phật giúp cho.
Có câu: “Khẩu khai thần khí tán” nghĩa là nói hao hơi, thần khí yếu hết, lòng ta bê bối không thể nghĩ ra một lẽ nào, sanh mệt mỏi, nhưng nó cũng có ích cho người để dỗ ngủ không lo ra. Còn theo Pháp lý, thì hễ tu phải luyện đạo, làm phép Soi Hồn, hễ học đạo thì phải hành đạo.
Thưa các bạn nghĩ cho! Sự tu hành đêm ngày cố gắng công phu thì điển chạy mới thông, thì Mâu Ni Châu mới phát ra. Phật Tổ Thích Ca dạy Đức Di Đà học đạo theo Huyền bí của Phật, thì sự cực nhọc ngày đêm gắn bó mới có Mâu Ni Châu, nhưng Phật Tổ Ngài biết người thế gian mê muội u ám theo cõi trần.
Lúc đức Di Đà ngồi thiền định, đồng thời Đức Thích Ca chỉ rõ Khoa học Huyền bí của Phật cho đức Di Đà vừa tịnh và nói cho chúng sanh nghe cách luyện đạo ở trong mình bản thể ta. Trong cuốn Di Đà mỗi câu đều chỉ rõ thân ta chỗ nào là Khoa học Huyền bí, mảy may đều không sót, ta mới rõ biết thâu điển gom lại để cho Mâu Ni Châu phát hiện, vì Đức Phật trước kia cũng làm như trong cuốn Di Đà này mà đắc quả, chẳng phải lấy chữ phò hộ mà Phật độ.
Cho nên chúng ta ráng cố gắng, phải lấy Khoa học Huyền bí của Phật mà luyện đạo, thì sẽ thành đạo cũng như Phật Tổ Ngài vậy, ai ai cũng tu được, cho đến đỗi bò bay máy cựa, ngu xuẩn đi nữa mà chí tâm luyện đạo của Phật Ngài thì được đạo. Tu thì phải học luyện, hễ mình bỏ qua không luyện đạo là không đắc đạo, cho đến đỗi Phật Tổ cùng chư Phật phải luyện đạo hàng ngày giờ phút khắc. Vừa làm việc cũng vừa tu, vì máy huyền vi bao la rộng lớn, phải làm việc và tu hành, không phải làm Ông Tiên, Ông Phật chơi bời cho thong thả. Ví như anh học trò cũng muốn cho đỗ đạt thành tài, nhưng lười biếng không chăm học, thì làm sao kết quả được. Bởi thế Phật không vị ai, cũng không ăn hối lộ mà ban cho ai phẩm chức. Phật Ngài chứng minh do theo sức mình tu mà thôi.
Đây 6 chữ Di Đà, chúng tôi xin trao ra đây cho quý bạn xem và suy nghĩ nghiên cứu. Phép Vô Vi cũng từa tựa như Pháp lý nhưng canh cải chút ít mà thôi.
LẤY NGHĨA CHÁNH SÁU CHỮ
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
XIN DỊCH RA ĐÂY QUÝ BẠN TƯỜNG LÃM
NAM thuộc Cung Ly lửa Bính Đinh
MÔ là chỉ rõ vật vô hình
A gồm Nhâm Quý an nơi thận
DI giữ bền chặt ba báu linh.
ĐÀ ấy sắc vàng trùm khắp cả
PHẬT hay thanh tịnh ở nơi mình
Hống Diên hai tám hòa nên một
Rồng cọp thâu về tợ nguyệt tinh.
GIẢI NGHĨA:
NAM thật phương Nam lửa Bính Đinh
Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình
Phát ra hừng cháy cùng Trời Đất
Lặng lẽ êm ru cả tánh tình.
• Ông Tám giảng
Xuất phát ra nó mới êm. Mà cô đọng, tin tưởng và cô đọng, ôm lấy nó là không có bao giờ mà nó êm được hết.
Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng
Tản đòi nơi tợ tuyết trong xanh
Khảm Ly Diên Hống hòa hai tám
Hiệp lại một nhà tợ Nguyệt tinh.
• Ông Tám giảng
Cái này tại sao nói là: hiệp lại một nhà? Đó! “Thật phương Nam lửa Bính Đinh”, Bính Đinh là sanh hỏa, cũng như hai cái vis platiné mà nó nhịp lại là sanh hỏa Bính Đinh.
“Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình”,“Phát ra hừng cháy cùng trời đất”, cũng như chiếc xe hơi, chúng ta thấy chiếc xe hơi nó có cái vít lửa, nó mới phát ra. Còn chúng ta ở nơi cái tam tinh này nó cũng có cái vít lửa nó phát ra. Mà nếu ta không tập trung thì không có mở ra được, mà khi mà nó phát ra rồi, cái lửa nóng trong cái cơ thể của các bạn mà nó phát ra rồi thì nó êm rồi, con người đâu còn sân nữa!
Cho nên các bạn Soi Hồn, các bạn làm Pháp Luân nó phát ra rồi cái thì thôi, thấy nó êm rồi. Cái chuyện đáng cãi, đáng gây nhưng mà rồi bây giờ mình không gây nữa, không chấp nữa. Nó thanh tịnh rồi, cái thượng trung hạ là một, cái khối đầu này là tiến về thiên đàng mà từ rún sắp xuống là làm cái gì? Tham dục ở thế gian là tạo ra cái cơ đồ nhà cửa xây dựng đồ này kia kia nọ ở thế gian, nó cũng như cái…(nghe không rỏ)
Hai cái lưỡng nghi đó nó hợp nhứt, nó mới là thanh tịnh. Chớ tại sao chúng ta phải làm Pháp Luân Thường Chuyển, hít một vòng, hít vào, hít hoài, cứ hít hoài, hít hoài, thét cái nó rút lên, nó rút lên, cái bộ dương nó rút lên. Nó không có còn nghĩ đến vấn đề tình dục nữa, nó rút lên, nó hai là một. Diên Hống hòa hai tám nó là một, nó thanh tịnh rồi, nó không có bị sắc đẹp lôi cuốn nữa, nó không bị ngoại cảnh phỉnh phờ nữa. Cũng nhờ cái lửa điển đó thoát ra và hòa với chơn điển của hư không, nó mới không có động loạn.
MÔ vốn chữ Vô mỗi vật không
Từ thời vô thủy chửa phân đồng
Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết
Mới tạo Càn Khôn tỏ một vòng
Đạo lý hữu tình sanh vật cả
Mẹ Cha ân ái kết thai lòng
Vật người mới tạo rồi sau diệt
Vạn sự đều do chữ Nhứt KHÔNG.
• Ông Tám giảng
Đây nói về cái định luật sanh trụ hoại diệt.
A vốn Bắc Phương Nhâm Quý thủy
Thận kia là Khảm về cung Tý
Người hay luyện đặng giữ trong mình
Vàng cứng tức nhiên sanh vật quý
Mới đặng Khảm Ly hòa Hống Diên
Tánh thông Trời Đất đồng nguyên lý
Ba nhà gom lại kết Anh linh
Xá Lợi tỏ ngời trong Nhứt khí.
• Ông Tám giảng
Cho nên Tất cả cái cơ thể của chúng ta nó liên hệ với cả càn khôn vũ trụ, khi mà chúng ta tu thức được rồi, thì cái Xá Lợi là ai? Xá lợi là phần hồn, nó kết tinh rồi, thì chúng ta biết được ba cõi này là một, quy không rồi thì nhứt khí chúng ta đi ra đâu có khó khăn.
DI giữ chặt bền ba báu linh
Cung Ly dứt tưởng được thanh minh
Đấp nền luyện tập công phu gắng
Chờ lúc Trúc Cơ kết quả thành
Biệt niệm trong mình Thần mới hóa
Lấy Ly bổ Khảm khí bèn thanh
Đơn điền gom lại trong không động
Tương Hội Ba Nhà kết Thánh Anh.
• Ông Tám giảng
Đó, kết Thánh Anh, là Thánh Thai đó. Người ta tu về Ông Cao Minh Thiền Sư tu hồi trước đó, Anh Nhi... kết Anh Nhi đó, còn ở đây thì mình trở về cái thánh thai.
ĐÀ ấy sắc vàng muôn kiếp ghi
Tròn vo che phủ núi Tu Di
Càn Khôn bao bọc vô hình dạng
Thế giới phủ giăng chẳng hướng gì
Sắc tốt mình vàng nào hoại nát
Tâm lành tướng hảo đủ từ bi
Công phu thuần thục lên bờ giác
Đắc quả may ra vẫn kịp thì.
PHẬT hiệu Kim Cang ở giữa mình
Hư không thanh tịnh hóa nên hình
Khuyên người sớm bỏ tham sân bịnh
Thần khí phải gìn giữ rất tinh
Mười tháng công phu năng luyện tập
Ba năm công quả khá kiên thành
Trống lòng đầy bụng là giềng mối
Vạn sự quy về một chữ THANH.
KỆ RẰNG
Giảng thành Lục Tự ấy ơn sâu
Kẻ Đạo nghe qua phải lắc đầu
Thức tánh từ đây tua gắng chí
Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu.
• Ông Tám giảng
Ở trên này đọc thì nghe vậy thôi, nhưng mà các bạn luyện tu rồi, các bạn mới bình tâm. Sau khi công phu các bạn đọc từ bài một và để ngộ, đưa vào chơn tâm, lúc đó sung sướng vô cùng và các bạn có thể ôm ông Tư trong lòng, ôm đức Di Đà trong lòng.
Tại sao những chiều sâu bí mật mà con người tại thế âm u như thế đó, mà có thể khám phá được sự thanh tịnh như vậy? mà đã dày công ghi lại cho chúng ta. Mà chúng ta là người tận hưởng mà không biết cách hưởng là thiếu hành. Mà bây giờ chúng ta hành rồi chúng ta mới thấy cái cuốn sách này nó là quý và lời nói này là thật, không chỉ sai một li một tí.
Rồi đây các bạn nghiền ngẫm thấy. À, hồi nào tới giờ các bạn không hiểu Cung Ly là cái gì? Bính Đinh là cái gì? Rồi các bạn tu, các bạn nhắm con mắt, các bạn tưởng tới Bính Đinh, các bạn thấy có ánh sáng xuất ra, trong cái thực tập các bạn mới thấy cái điển, thấy giá trị của điển.
Nhưng bây giờ ở đây, sẵn nhân dịp này, tôi qua đây, tôi cắt nghĩa và lưu lại cuốn băng này, để cho tất cả các nơi, những người tu mà đã đạt được một phần nào, thấm thía và thấy rõ những cái bài thơ và những lời dẫn dắt này là thực tế, và đưa phần hồn về quê rõ rệt. Cho nên trong cái bài thơ cắt nghĩa rất rõ, nhưng mà người còn tâm phàm đọc vô không hiểu nó nói cái gì, như tôi đọc thì thấy: “Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh”, “Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình”. Đó! Nó ở trong tâm của con người, chớ không có ở ngoài, Người ta chỉ tất cả là ở bên trong.
“Phát ra bừng cháy cùng trời đất”, chúng ta thanh tịnh đi, chúng ta ngồi đi, thanh tịnh “Nó bừng cháy cùng Trời Đất”, nó phóng ra. Cho nên khi mà các bạn tu thiền mà được đạt tới cái điểm đó, thì con ma phải ngồi xa bạn 40 mét karêcarrés, nó không có thể gần bạn được, vì đến là nó đốt, vì ánh sáng chiếu là bóng tối phải tan là vậy.
“Lặng lẽ êm ru cả tánh tình”, khi ta ngồi ta nhắm mắt, ta không còn phải ở thế gian nữa, và cặp mắt ta nhắm rồi, thì tâm chúng ta không còn ở trong này nữa, mà ở trung tâm sinh lực càn khôn vũ trụ rồi, hướng thẳng về trung tâm sinh lực càn khôn vũ trụ, nó nhẹ nhàng vô cùng.
“Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng”, nó nhẹ nhàng như vậy, “Hiệp một chỗ thu nguyệt rạng”, cho nên những người mà đi đến cái giai đoạn đó, thi thơ, tình cảm cởi mở, sáng suốt, tác văn cũng là đầy sự cởi mở cho đối phương.
“Tản đòi nơi tợ tuyết trong xanh”: chỗ mình ngồi cũng thanh sạch như vậy.
“Khảm Ly Diên Hống hòa hai tám”: hai cái là một, trở về không không.
“Hiệp lại một nhà tợ nguyệt tinh”: ngồi đó mà ngồi trong ánh sáng, ánh sáng cả càn khôn vũ trụ, chớ không phải ngồi trong căn nhà này. Chúng ta tu là thoát ra không phải ngồi trong căn nhà này.
“Mô vốn chữ vô mỗi vật không”: khi mà các bạn thanh tịnh rồi, các bạn đi tới quán thông rồi, mọi vật đều không. Hỏi chớ cái bông này nó sẽ không, thì những cái gì mà hiển hiện hình hài, mà hiển hiện trước mặt các bạn là các bạn chỉ thấy cái chữ “không” cũng như tôi đã giảng bao nhiêu cuốn băng “quy không” để các bạn thấy. Nhưng mà ngày nay Ông Tư nhắc, thì cũng như là cái điển mà tôi đã giảng, không có khác xa. Đó, mỗi vật đều không, thì chúng ta tu thanh tịnh thì đi tới cái chỗ quán thông rồi, trong cái không mà có, mà có đó là cái tịnh của chúng ta.
“Từ đời vô thủy chửa phân đồng”;“Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết”; “Mới tạo Càn Khôn tỏ một vòng”: Đó, ta thấy là cái nhẹ làm trời, cái nặng làm đất.
“Đạo lý hữu tình sanh vật cả”: Đó đạo lý là cái luật âm dương hữu tình, nó“sanh vật cả”.
“Mẹ Cha ân ái kết thai lòng”: Đi vô trong cái giới thấp trược mới học được cái chuyện “Ân ái kết thai lòng”.
“Vật người mới tạo rồi sau diệt”: sanh trụ hoại diệt, thấy không, rồi hồi sinh.
“Vạn sự đều do chữ Nhứt KHÔNG”: Cho nên các bạn tu rồi các bạn thấy cái gì mà xảy ra, các bạn nghĩ về cái không trước, thì mọi việc các bạn giải quyết rất dễ, mà đâm đầu vô cái có thì nó cuống cuồng, cuống cuồng,cuống cuồng... mà không có giải quyết được.
“Vạn sự khởi đầu bởi nhứt không”: Cái việc này nó xảy ra sự cãi lộn, là trước kia đâu có sự cãi lộn! Nhưng bây giờ nó cãi lộn, rồi nó phải trở về, nó từ không ra, nó phải về không, thì chúng ta phải bình tâm cho nó qua. Nó đến rồi nó đi, thì mọi việc đều sẽ có sự sắp đặt đàng hoàng, không có lo âu. Chớ con người tu mà cứ lo từ chuyện này tới chuyện nọ, thét rồi nó động, đâu có tu được. Mình hiểu nguyên lý bởi nhứt không, sẽ về không, thì không có sự động trong nội tâm. [24:09]
[Hết video ID# 19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh - Phần 3”
Tương ứng Mp3 ID=19860102Q4 dừng ở phút 24:09]
Bắt đầu video ID# 19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh - Phần 4”
KHÓA HUẤN LUYỆN “KINH A DI ĐÀ”
“A vốn Bắc Phương Nhâm Quý Thủy”; “Thận kia là Khảm về cung Tý”: Cho nên chúng ta thiền giờ Tý, để chi? Để vun bồi cái thận càng ngày càng mạnh, cái thận thủy mạnh, thì cái thần thức của chúng ta càng dồi dào, cái giờ khuya là cái giờ ly tâm, mà giờ Tý đó, là ly tâm thì được thu hút cái phần thanh điển vô và cái thận của chúng ta càng ngày càng mạnh. Cho nên những người tu thiền mà làm đúng ngày đúng giờ đâu có bị đau lưng! Không có bị đau lưng, nhưng mà nó đem lại sự thông minh, Thanh tịnh là nó đạt tới thông minh.
“Thận kia là Khảm về cung Tý”; “Người hay luyện đặng giữ trong mình”; “Vàng cứng tất nhiên sanh vật quý”; “Mới đặng Khảm Ly hòa Hống Diên”; “Tánh thông Trời Đất đồng nguyên lý”; “Ba nhà gom lại kết Anh linh”; “Xá Lợi tỏ ngời trong Nhứt Khí”: Đó, cho nên muốn hội tụ được quy nhứt, thì chúng ta phải nuôi dưỡng cái gì trước hết? Cái thận, cái bộ phận đó, là bộ phận quan trọng nhứt trong cái cơ tạng mà nhiều người không hiểu. Người đời không hiểu, cứ đem ra tìm cái tham dục làm hạnh phúc, nuôi dưỡng cái dục tính làm hạnh phúc thì nó giảm thọ. Điều thứ nhứt đối với đời, và bên đạo nó không có cái điển “Diên Hống” để khai triển, nó bị kẹt luôn luôn. À, ba nhà gom lại, thượng trung hạ hợp nhứt, đó là anh linh, lúc đó người ta chưa nói là mình hiểu cái chuyện gì rồi, cái linh tánh nó mở dồi dào vô cùng.
“Xá lợi tỏ ngời trong Nhứt Khí”: Phần hồn của chúng ta ra vô không có khó khăn.
“Di giữ chặt bền ba báu linh”; “Cung Ly dứt tưởng được thanh minh”; “Đấp nền luyện tập công phu gắng”; “Chờ lúc Trúc cơ kết quả thành” Trúc Cơ là chỗ gì? Khi chúng ta đi tới trọn lành rồi là giải thoát, bỏ hết, cái chiều hướng nó đi lên rồi, mà tới đó trụ là thành, không có trở lại thế gian nữa.
“Lấy Ly bổ Khảm khí bèn thanh”; “Đơn điền gom lại trong không động”: Khi chúng ta thiền định rồi thì cái đơn điền nó ngồi yên, khi các bạn làm Pháp Luân 6 cái rồi là ngồi yên. Lần lần, lần lần nó rút lên, cái đơn điền này, nó không có động nữa, không có cục cựa nữa, mà cái thức ở trên này (bộ đầu) nó mở.
“Tương hội ba nhà kết Thánh Anh”: Đó, Tinh khí thần đầy đủ, lên đó là cái hồn của chúng ta. “Thánh anh” là phải ba nhà họp lại, ra tay chân đầy đủ, đi đàng hoàng không có sao hết. Nhưng mà trước hết những người mới tu phải làm Pháp Luân, Pháp Luân, Pháp Luân lấy nguyên khí giải, rồi làm tới cái lúc mà các bạn dỗ ngủ rồi, nó mê rồi, cái bụng đâu có cục cựa nữa, hết rồi. Cái đơn điền nó trụ, nó yên rồi, ở trên này ( trung tim bộ đầu) nó mở, rồi trên này thượng trung hạ, ba giới hợp nhứt rồi, nó thành hình rồi, cái thánh thai thành rồi, lúc đó là chúng ta ra đi có gì đâu!.
“Đà ấy sắc vàng muôn kiếp ghi”; “Tròn vo che phủ núi Tu Di”, là bộ đầu chúng ta, là hào quang.
“Càn khôn bao bọc vô hình dạng”; “Thế giới phủ giăng chẳng hướng gì”: nơi nào chúng ta cũng phát triển được.
“Sắc tốt mình vàng nào hoại nát”: không bao giờ hoại nát được kim thân, phần hồn.
“Công phu thuần thục lên bờ giác”; “Đắc quả may ra vẫn kịp thì”: Đó, Cho nên cái công phu là cái quan trọng, cái thực hành là cái quan trọng. Tu Vô Vi là phải thực hành. Còn người nào bám vào lý thuyết, người đó không đi tới đâu hết! Phải thực hành, chúng ta làm được cái gì nói cái nấy. Trước kia tôi nóng tánh, bây giờ tôi bớt nóng tánh. Trước kia những chuyện gì tôi phải hỏi cho thiệt ra lẽ, bây giờ tôi không cần hỏi, tôi biết, tôi nói, tôi nói bao nhiêu đó thôi! Nhờ cái gì tôi biết? Nhờ tôi hành, tôi biết. Trước kia tôi chọt chẹt, cái gì thắc mắc tôi cũng hỏi ra lẽ. Hỏi ra lẽ rồi, tánh tôi là tánh tôi, chớ lẽ đó không có giúp tôi, thấy chưa? Thì tôi cũng vẫn ở cái chỗ cô đọng, chậm tiến. Còn tôi hành rồi tôi có kết quả! Hồi trước tôi cô đọng, tôi chậm tiến, tôi hay chấp, tôi nghe cái gì tôi thắc mắc liền ở trong này, tôi không để ngoài tai và tôi không thể thấy cái đó là không! Mà ngày nay tôi nghe người ta nói cái gì tôi thấy rõ cái đó là không, thì tôi đâu cần hỏi làm chi đâu!
Khi mà tôi cảm thức cái đó là không, là luồng điển tôi có thể hòa cảm với luồng điển của đối phương, mà luồng điển của đối phương mà còn chậm trễ đi nữa, còn tăm tối, cái luồng thanh điển, từ điển của tôi lại độ cho đối phương, mà tôi không có nói là tôi độ. Tôi ngồi trước mặt họ, nghe họ nói chuyện nhưng mà tâm tôi đã độ họ và giúp họ. Giúp chỗ nào? Giúp thẳng về phần hồn, giúp cho phần hồn mà hành giả không hay. Cho nên nhiều khi các bạn tu rồi, tại sao người này nó thích nói chuyện với tôi! Là luồng điển của mình đã độ được đối phương. Cho nên có sự hiện diện của mình nó thích, mà không có sự hiện diện của mình nó buồn! Nó cũng người ta, mình cũng người ta, mà người kia cũng người ta. Mà người kia tới chơi với nó không được! Là mình độ thẳng phần hồn mà không hay!
Cho nên ở đây những cái câu chữ này, những cái bài kinh kệ này, khi các bạn thiền, các bạn lấy ý nghiền ngẫm và nó sẽ chạy lọt vô trong tâm các bạn. Cái đấy là một cái hành trang tiến hóa và xây dựng trở về một triết lý sống động để cứu độ quần sanh ở tương lai.
“Phật hiệu Kim Cang ở giữa mình”, Phật hiệu, cái chữ Phật hiệu nó ở giữa mình đây này (giữa ngực), chữ Vạn.
“Hư không thanh tịnh hóa nên hình”; “Khuyên người sớm bỏ tham sân bịnh”; “Thần khí phải gìn giữ rất tinh”;“Mười tháng công phu năng luyện tập”; “Ba năm công quả khá kiên thành”: Chịu tu ở trong ba năm là thấy tánh rồi.
“Trống lòng đầy bụng là giềng mối”: Mình làm Pháp Luân nè, cái bụng của mình... cái lòng ở trong này không có nữa. Không, chỉ giữ cái hơi ở đây thôi! là giềng mối.
“Vạn sự quy về một chữ thanh”: Đó, Cho nên cái Lục Tự Di Đà, người tu Vô Vi là chỉ có quan trọng 6 chữ này thôi. Tôi nói, lúc tôi tu và tôi ngộ được 6 chữ này, còn những cái gì mà ông Tư nói những “cảnh Tiên nhà Phật”, không bao giờ tôi để ý. Tôi tìm cái giềng mối để tôi đi tới.
Từ ngày mà tôi nghe ổng nói: “Nam, thật phương Nam lửa Bính Đinh”, tự nhiên tôi ghi chép cái đó hoài trong óc tôi. Bính Đinh là cái gì? mà Nam là phương Nam mới thật là có lửa? mà làm sao có lửa? Từ đó tôi đã nghĩ ngay tới chiếc xe hơi, nó có cái vis platiné nó đập. Bính Đinh, tui nói, Quoa! sao mình hiểu cái này, mình không học qua thầy bói, mà mình là người của thời đại, làm sao tôi hiểu? tôi thấy đây là cái “Mát” điển rõ ràng, rồi đêm đó tôi mới Soi Hồn, tôi Soi Hồn không có nhiều 5 phút tới 15 phút, tôi bỏ xuống theo lời ông Tư dạy, rồi tôi thiền đã nó mỏi rồi. Tôi nằm xuống, tôi trở lại thiền, tôi cũng thiền từ 5 phút tới 15 phút. Tôi làm thét, làm thét, nó nặng trì ở đây (trung tim hai chân mày) thì tôi chỉ có nhắm mắt... ngồi nhắm mắt, nhắm mắt, nhắm mắt... rồi trong này nó bắt niệm Phật. Dùng ý niệm từ từ niệm Nam Mô A Di Đà Phật... Nam Mô A Di Đà Phật, thấy cái tâm hồn nó thanh thản vô cùng, rồi tôi mới nghĩ ra, tại sao mình không nói một hai ba bốn năm sáu tới một trăm nó hay hơn? mà nói Nam Mô A Di Đà Phật nó có 6 chữ thôi!
Ông Thích Ca chưa chết, tại sao ông Thích Ca không về? Ổng chỗ nào ổng cũng đi được. Ổng có thể ghé qua ổng chơi với tôi. Tôi nghĩ là ông Thích Ca làm sao để liên lạc với tôi, chớ tôi không có khả năng liên lạc với ổng. Tôi lại nghĩ ngược như vậy! Tôi ngồi, tôi Soi Hồn, tôi niệm Phật thì không lâu thì thấy ông Thích Ca, luôn luôn ở trên đầu tôi và dạy tôi cách làm khi tôi Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định rồi tôi nằm xuống, dạy tôi vò cái mặt mà trong ý Ngài nói: “Ta sẽ cho ngươi có cái mặt giống ta”, mà bắt cái mặt tôi phải sát ở dưới đất, rồi vuốt, vuốt, vuốt, vuốt... mà lúc nào thiền rồi cũng bắt làm vậy hết. Mà khi làm rồi thì tôi thấy thanh nhẹ trong người, thấy sung sướng!
Không lâu, tôi dòm mặt mày, tôi thấy “sao lúc này thằng này coi bộ coi được” (cười...). vì hồi trước kia nói đạo người ta ghét, tới nói đạo người ta không ưa, thì mình khép ở nhà mình tu thôi!... Mà tôi tu ở trên cái gác, bà Tám ghét, cho có miếng chiếu chút xíu thôi, tôi chỉ ngủ phạm vi chút xíu. Cho nên mấy người cho tôi cái giường, tôi cũng ngủ quen rồi, cũng miếng chiếu đó thôi. Bây giờ anh có cho cái giường bao lớn, tôi cũng ngủ một góc, chớ tôi không có ngủ qua bên kia, hồi xưa tới giờ quen rồi Ngủ, nằm một chút, rồi ngồi dậy làm nữa, thì mấy người đi về nói: “Coi thằng điên nó ngồi kia kìa”! Thì mình cũng làm, làm thì trên kia cũng dạy vậy, thét mặt mày nó thay đổi, niệm Phật, niệm tới nó nhột ở chỗ này (trung tim hai chân mày), nó nhột cũng như có con ruồi nó nhói nhói ,nhói nhói... chỗ này, mà niệm Nam Mô A Di Đà Phật, niệm chừng nào thấy nó nhói nhói ,nhói nhói... mà xung quanh nó phá không thể nói được, nó lấy chổi lông gà nó thọc, nó làm cái gì đủ thứ, tôi cứ niệm Phật mà cái đầu nó cứ run run,run run vầy nè, run run mà niệm, bừng ra được rồi một cái là... đi rồi, đi ra đường Tổng Đốc Phương. Đi chỗ này chỗ nọ chơi, thây kệ, nó cứ vầy ( đầu thầy run run ) mà mình đi chơi. Rồi đi núi Thất Sơn, đi đủ các núi mà, tôi cái tánh kêu bằng liếng khỉ từ nhỏ là phải đi chơi... đi, đi chỗ này, chỗ nọ, khám phá, vô nhà băng chơi, đi các chỗ chơi, đi tới cái chỗ vợ chồng người ta ân ái mình cũng đi chơi, đi hết! Rồi đi tới cái chỗ con thú bắt đầu tiến hóa... Những con thú cũng tội nghiệp lắm, đầu sư tử, mình người ta, gánh nước làm việc, tôi cũng đứng tôi coi, có bữa tôi đi tới cái chỗ kêu bằng tụi légionnaire mà nó chết còn ở Việt Nam, nó bắn Mitraillette, nó bắn tôi nát xương, không còn gì hết, rồi một chập tôi nhảy vô cái restaurent tôi đứng, tôi thấy tôi còn nguyên. Hỏi chớ sao tụi này nó bắn mình không chết? lạ kỳ quá? bắn mình không chết? Tôi lại đi nữa, hết sợ rồi! Mà bây giờ làm sao? Bây giờ họ đánh mình mình làm sao đây? Niệm Phật! Nhờ cái niệm Phật đó, nó mới có cái vốn mà đi. Niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tôi đi nữa. Đi tới một cái bãi biển đẹp thiệt đẹp, có một ông tướng, ổng nắm cây giáo, từ xa ổng tới đâm, đâm, đâm tôi... Mà ban ngày à! Tôi ngồi ở trước nhà, tôi ngồi trên bộ phản tôi niệm Phật, tôi thấy ổng tới rõ ràng, ổng đâm tôi. Tôi niệm Phật, một chập cái ổng tan mất.
Tôi mới thấy tại sao cái Nam Mô A Di Đà Phật mà nó hay như vậy?... Phải cho tôi biết cái ý nghĩa của Nam Mô A Di Đà Phật, mà nó nằm ở đâu mà nó có thể cứu tôi nhiều..., qua biết bao nhiêu trạng thái, chìm tàu, đủ thứ, mà tôi thấy là tôi niệm Phật, tôi trở lại? Tôi nói lạ, lúc đó tôi bắt đầu niệm, niệm thì tôi nghe trong này lớn rộng, đầu óc tôi rộng, rộng lắm không phải ở trong căn nhà eo hẹp, nó rất lớn rộng. N... A... M... nó túa sáng hết, M...Ô... lớn rộng vô cùng, từ đó nó khai triển, khai triển, khai triển mà không có niệm mau, niệm rất chậm N... A... M... nó văng vẳng, văng vẳng, văng vẳng. M... Ô... như tiếng ngân của chuông chùa vậy! A... cái ý nó cứ chuyển chạy, chuyển chạy, nó thấm thía vô cùng. Từ đó khai mở ra, mới bắt đầu nói về chơn lý, nói về sanh tử luân hồi. Rồi tôi đi, buổi trưa đó, trời nắng thiệt nắng, bước lên làm bài thơ liền. Mà hồi nào tới giờ đâu có biết làm thơ. Viết cái thơ không xong, viết cái thơ chữ Việt Nam viết không xong, mà ở đólàm thơ! [39:56 Chép thiếu 4s]
Bài thơ mà tôi thường nói, thì đem xuống cho ông Cao Minh Thiền Sư, Ông Cao Minh Thiền Sư Ổng nói: “Nó hiểu hết rồi!”. Ông Tư dẫn đi liền. Tôi đem xuống cho Ông Tư, tôi nói trưa này tôi ra bài thơ.
[40:16 chép thiếu 14s (Mp3 ID=19860102Q4 audio nhỏ hơn so với video). Đoạn chép thiếu so với videoID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh-Phần 4” là từ phút 16:04 đến 16:18]
Cho nên lấy cái bài thơ đó xuống cho Ông Cao Minh Thiền Sư, ông Cao Minh Thiền Sư nói: “Thầy Tư, nó hiểu hết rồi, ráng theo Thầy Tư tu”. Tôi cũng không mừng, tôi còn nghi mấy ông này: “Sao mà ổng nói mình hiểu, mà hiểu là hiểu cái gì?”. Cái tánh tôi luôn luôn là thắc mắc, không hiểu đâu! Tôi mới đọc lại cho ông nghe: “Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên”, tôi viết cho ổng coi, nhưng mà tôi lại đọc, tôi cũng thắc mắc, tôi nói:
Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên.
Điểm mùi chua ngọt lòng xao xuyến.
Sơn tinh thủy tú luân phiên hiện.
Hà thủy đục trong khắp các miền.
Cái giờ thiền của tôi, tôi thấy rõ: “Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên”, sơn phết cho nó giống cảnh tiên vậy thôi. Thế gian mà! “Điểm mùi chua ngọt lòng xao xuyến”, con người đi tới chỗ này chỗ nọ, chua cay đau khổ, lòng mình xao xuyến. “Sơn tinh thủy tú luân phiên hiện”, mình mới nhớ tới cảnh Trời Phật, hiện trong đầu óc của mình. “Hà thủy đục trong khắp các miền”, cái nước hồ chỗ đục chỗ trong, khắp các miền, đều như vậy, ta lo âu làm gì!
Thợ vẻ hồn thơ gieo ý nguyện.
Khéo khôn khôn khéo tìm phương chuyển.
Xây dựng ngày kia sẽ thấu truyền.
Tô Điểm Sơn Hà Thợ Khéo Xây!
Hồi đó, tôi cũng không biết ơn trên cho tôi, hay là khả năng của tôi? Tôi làm gì có khả năng mà làm thơ! Mà làm như vậy! Kỳ lạ! Hay là mình điên rồi? Cũng không phải điên! Cái lý rất hay, thấy không! Mình dòm cái hình ông Thích Ca, mình gieo ý nguyện, và mình muốn tu, phải khéo xây, phải cố gắng để đi tới như Ngài. Đó là cái đại nguyện trong tâm nó thể hiện ra một bài thơ.
Tôi thắc mắc vô cùng, xuống Ông Tư, Ông Tư nói: “Hay”, và tôi cho bạn hay sau này bạn làm thơ hay lắm! “Tôi nói làm dở ẹt, mới có một bài mà tôi ngó bộ không xong (cười...) mà ông nói hay!” Vậy đó, sau này bạn thấy những công chuyện như thấy tivi vậy đó! Bạn không có lo âu, không phải làm thơ như tui mà phải ngồi suy nghĩ đâu! Viết lúc nào cũng được hết! Ổng nói vậy đó! Tôi cho ông già nói láo, tôi dốt mà tôi đâu có biết như ông, mà làm sao tôi có thể làm thơ được. Tôi viết cái thơ không xong mà, làm sao tôi có thể làm thơ thi được, cái chuyện ông nói kỳ. Ổng nói: “Cái thơ này, bạn đưa mấy ông đốc học cũng làm chưa có được”. Tôi nói: “Giỡn! Đốc học là phải giỏi hơn, chớ tôi đâu có biết gì mà tôi làm được”.
[hết băng ID# 19860102Q4].....
[Hết Mp3 ID# 19860102Q4 Tương ứng video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh-Phần 4” dừng ở phút 20:02]
[bắt đầu ID# 19860102Q5] Mp3 thiếu 10s so với video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh-Phần 4” từ phút 20:02 đến 20:12
KHÓA HUẤN LUYỆN “KINH A DI ĐÀ” - Cuốn 6A
.....
Bắt đầu video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh-Phần 4” từ phút 20:12
Túi thì không có đồng xu, đi bộ mười mấy cây số, nghe ông nói có mấy câu, chả được gì! Thôi tôi cũng phải về lo tu.
Từ đó bắt đầu viết thơ. Về cái viết thơ, Ổng nói cái tôi về tôi viết thơ, tôi nhớ anh tôi viết thơ thăm anh, tôi nhớ người đó tôi viết thơ thăm người đó. Mà người nào trả lời, nghĩa là nắm cái thơ tôi khóc, đọc tới rách cái thơ luôn! Khóc mà nước mắt, nước mũi nhỏ tới rách cái thơ luôn, xin cái thơ khác. Viết biết bao thơ cho người ta, bạn bè này kia kia nọ, hồi đó tôi tu, họ khinh thị lắm, họ phá tôi. Bây giờ tôi nhờ họ tôi mới đắc đạo, tôi mới biết đạo. Tôi viết thơ thăm họ, tôi cắt nghĩa chuyện trời đất, thế gian đồ này kia kia nọ. Họ nghe, họ thấy thích thú, cái luân hồi, nghiệp quả mà tôi viết ở trong đó, tự nhiên nó mở, mà từ hồi nào tới giờ họ quen thân với tôi, tôi đâu có biết làm cái đó.
Cho nên nhờ cái Nam Mô A Di Đà Phật mà nó mở tất cả tâm trí, nó mở từ lãnh vực này tới lãnh vực nọ. Không giờ phút khắc nào tôi không niệm Phật, ngay tới bây giờ cũng vậy. Đang nói chuyện với các bạn, cái phần ở trên này ngồi trì niệm luôn luôn, nó mới phát quang ra. Cho nên khi tôi nói pháp các bạn dòm mặt tôi nó trẻ, nó tươi hơn, niệm Phật nhiều.
Cho nên các bạn may mắn được nắm có một cái chìa khóa để đi, có lý thuyết tràng giang đại hải cũng phải quy về 6 chữ. Nghe tui đi, để niệm Phật và tâm tư các bạn sẽ không còn tự đày đọa nữa và sẽ mở tâm, dịu hòa thăng tiến học hỏi vô cùng.
Cho nên tôi có những cái thư từ lai vãng, với trình độ học chữ Việt Nam tôi đâu có bao nhiêu mà tôi có thể viết như vậy, các bạn cũng có những cuốn băng ở đây nghe lưu loát. Ai đã làm cho chúng ta lưu loát? Chính ta có những phần thanh tịnh ở Bên Trên, căn của chúng ta, mà chúng ta bỏ xuống thế gian, rước cái trần trược ô nhiễm thành ra động loạn, nắm bút viết không thông, mà nếu tu trở về cái thanh cảnh thì dòm thấy mà viết, đâu cần phải suy nghĩ mà viết thơ. Tình cảnh người nào thì dòm thấy đó viết, thành ra có thể làm biết bao nhiêu công chuyện.
Một người mà thanh nhẹ và đạt như tôi, và chúng ta mấy chục người này, chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu công chuyện cho quả địa cầu, vừa thanh lọc thanh khí của càn khôn vũ trụ, vừa tác ra những cái lời nói để cho họ thức tâm. Cho nên chúng ta học trong một cái khóa ấm êm chung trong một căn nhà, chung một ý chí, chung một con tim, chung một đường lối. Rồi chúng ta mới thật sự nắm tay làm việc ở tương lai.
Cho nên cái quan trọng: tôi nhắc các bạn là niệm Phật, vừa nói chuyện, ý tưởng Phật. Lúc nào anh cũng phải tưởng Phật mới giải được cái nghiệp tâm. Chúng ta không còn mê tín nữa, chính tôi là người trong thực hành mà đạt. Ngày nay có kiểu mẫu hiện diện ở đây cho các bạn thấy, mà các bạn không làm, thì có tu cho cách mấy cũng đi trong sự mê tín mà thôi! Mà các bạn làm rồi, các bạn đi trong sự sáng suốt không có mê tín, mà Thánh, Tiên, Phật đều nể và khen tặng các bạn. Một kỳ công, có 6 chữ đó mà làm thành một kỳ công.
Cho nên 6 chữ đó là vô cùng, cái gì cũng nằm trong nguyên lý đó hết. Chính tôi là một người đã khám phá và đã tìm ra cái manh mối rõ rệt như vậy, để đem cái đạo vào Tâm, chớ hồi nào tới giờ Đạo thì viết trong sách thôi chớ không có trong Tâm, rồi dựa trong sách nói lý, chớ cái tâm không có phát triển. Còn mình niệm Nam Mô A Di Đà Phật nó tròn đầy hết tam giới Thượng Trung Hạ rồi, thì nó mới ứng dụng tam giới Thiên Địa Nhơn, có phải nới rộng không?
Cho nên chúng ta tu trong cái khoa học huyền bí thực tế, chớ không xạo láo và tự lường gạt nữa. Không có sự tự lường gạt, các bạn niệm Phật nhiều chừng nào thì các bạn sẽ có kết quả bảo đảm 100%, ai tu thây kệ, họ nói lý thuyết thây kệ. Các bạn nghe “Thượng Đế giảng Chơn Lý”, nghe nó hay lắm! Mà các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Các bạn đọc “Địa Ngục Du Ký” hay lắm! Các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Sách vở tràn đầy ở đây các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Nhưng mà các bạn niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tất cả bao nhiêu cuốn các bạn đem vào tâm hết, phải dọn để có chỗ chứa, nó cũng ở trong một nguyên lý thôi!
Đó! Cho nên trong lúc mà tôi niệm Phật, và tôi được rồi, tôi lại thách người bạn tôi, người bạn tôi biết tiếng Anh, mà tôi hồi nào tới giờ không học chữ Anh. Nó nói: tao kêu mầy học tiếng Anh để mầy đi làm, mà mầy không chịu học, mà mầy nói mầy muốn học một chút à! Bộ mầy là Tiên Thánh tại trần rồi sao? Vậy thì mầy ngon mầy viết thơ chữ Anh cho tao! Tôi nói: “Tao hẹn mầy 10 ngày tao học 10 bài là viết thơ Ăng Lê, bởi vì mầy ngu, mầy có bạn Anh trên trời mà mầy không chơi, mà mầy đi chơi mấy thằng ở dưới này, còn tao chơi thẳng mấy thằng trên kia, tao kêu nó viết dùm cũng ngon nữa”. Thằng đó bây giờ còn sống, nó ở Texas. Ảnh nói : “ giỏi làm đi”. “Tao học bao nhiêu năm, bây giờ tao làm cho RMK”. “Mầy viết đi... mầy viết thử đi, tao trả lời mầy!”. Tui nói : “Tao sợ mầy trả lời không nổi!”. Viết cái thơ đầu, ảnh khen, ảnh viết cái thơ lại ảnh khen. Viết cái thơ thứ nhì, ảnh khen. Viết cái thơ thứ ba, làm thi, ảnh viết cái thơ chữ Việt Nam trở lại, ảnh không có viết thư Ăng lê nữa, như vậy thua chưa? thua chưa? Ảnh viết thơ chữ Việt Nam trả lời, tôi làm bằng thi không! Tôi không viết cái kia, thi Ăng Lê! Mà thi Ăng Lê của tôi là thượng lục hạ bát, đọc ra hiểu, tôi làm vậy đó! Tôi gởi cho nó!
Cho nên những người Anh, bây giờ tên Anh, cho tôi cái tên, tôi làm bài thơ cho họ. Nghĩa là 4 câu trên cũng 26 câu, cho 26 câu, như cho mấy người Việt Nam một thứ, cũng như anh George, bây giờ George Cap tôi đọc là Giáp Anh, sửa tên là Giáp Anh Tuấn đó, treo cái bài thơ đó, mỗi buổi sáng đọc rồi đi làm. Có cái gì lộn xộn đọc cái nó hết (cười...). Chữ Anh... tên chữ Pháp tôi làm bài chữ Pháp. Mấy người bên Pháp đều có bài thơ của tôi hết! Nó treo đó, có cái gì rắc rối, gây lộn cái nó đọc, cái nó hết. Cái đó là đồ chơi! Còn cái thực hành là phải niệm Phật, đào sâu chân lý trong cái huyệt khuyết của nội tâm. Chỉ có niệm Phật thôi! Lục Tổ Huệ Năng đã khám phá ra. Ở thế gian này, ông Tư đã khám phá ra, tôi lại khám phá ra rõ rệt hơn cho các bạn, sướng lắm, chúng ta đi một đường lối của Ngài. Dốt mà biết đạo hơn biết chữ mà tạo nghiệp, Nam Mô A Di Đà Phật dễ học, biết chữ mà tạo nghiệp thua thằng dốt biết đạo đó bạn! Hiểu chỗ này! Cho nên cứ niệm Phật đi, rồi mọi sự sẽ qua! [09:26]
Mp3 không ché từ phút 09:26 đến 10:13.
Đoạn không chép tương ứng video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh-Phần 4” từ phút 29:22 đến 29:52 - video
Đây nói về cái cốt chỉ của Lục Tự Di Đà. Chúng ta thường khi niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT mà không rõ tông chỉ của 6 chữ ấy.
• Ông Tám giảng
Không hiểu ( tông chỉ của 6 chữ ấy)
A - Chữ NAM là phương Nam, trước trán bản thể ta. Lúc ta công phu, nhờ hai ngón tay trỏ và hai ngón tay giữa chận hai sợi dây gân, thường giờ phút khắc mạch nhảy theo gân chán hai, chúng ta nhờ Soi Hồn, lấy ngón tay cái bịt lỗ tai cho kín thì khí điển trong mình ta xung lên bộ đầu, làm cho ồ ạt trong đầu, rồi điển chạy theo gân qua màng tang trước trán ta chạy vào nơi chỗ tập trung Lư Hương luyện đạo.
Phật Ngài nói, lửa Bính là than vùi bên tay mặt, còn bên tay trái gọi là lửa ngọn, người luyện đạo gọi là Điển. Nếu chúng ta công phu bền bỉ cố gắng, điển ấy gom vào nơi tập trung Lư Hương. Chúng ta tu lâu ngày thì điển ấy hóa sanh hột Mâu Ni Châu.
Hột Mâu Ni Châu là cục lửa tròn vo trước trán ta. Lửa ấy bay vơ vẩn trước mặt ta trong lúc luyện đạo. Nhưng ta tưởng nghĩ, đốm lửa ấy biết bay, đó là một huyền diệu khí điển của Phật, biểu ta tu nơi mình, gọi là Hào quang, thì bạn cũng biết cho, kêu là huyền diệu của Phật.
B - Chữ MÔ có nghĩa là Mô giới, hay là một chất luồng điển trên thiên không, hợp với thán khí hóa ra dưỡng khí giúp cho hơi thở con người khỏe khoắn và thông minh trí tuệ. Phật lại hóa sanh khí ấy, nâng đỡ, vừa giúp, hỗ trợ, gọi là Điển lành để giúp cho điển của chúng ta lúc công phu luyện đạo, thì điển của chúng ta được mạnh thêm một phần nào, cho có năng lực tung ra bộ đầu gọi là Hà Sa. [12:55]
Hết video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh-Phần 4”
Hà Sa là một thứ điển vi tế, tựa như hột cát, ánh vàng sắc lửa. Chúng ta cố gắng công phu lâu ngày, thì những Hà Sa ấy gom lại tại nơi tập trung hóa thành hạt Mâu Ni Châu bay vơ vẩn trước mặt ta, cũng gọi là Thần hồn của ta xuất ra, đó là Phật độ cho ta, chỉ là nâng đỡ cho hồn ta.
HỒN là thứ khí điển trong bản thể, bắt từ dưới chân, nhờ ta công phu luyện đạo mà điển ấy trở nên mạnh. Có hai thứ điển: Một thứ chất nặng để làm việc bản thể, còn một thứ khác thì thanh hơn, bắt từ mấy sợi dây gân bao bọc bản thể ta, cùng các khớp xương, chỗ nào bịt nghẹt nhờ khí điển xung lên, điển mạnh kéo điển yếu, các nẻo gân làm cho chúng ta thông minh trí tuệ, từ thiện, và gom lại, khí ấy giúp cho linh hồn ta sáng suốt, phép đạo gọi là SOI HỒN.
Soi Hồn là soi cho trống, cho thông, điển yếu cùng chung điển mạnh rút lên bộ đầu cho mau lẹ.
C - Chữ A là Nhâm Quý gồm thâu nơi thận. Nhâm Quý thuộc về Tiên Thiên Thận Thủy, do nơi nước điển trong trái cật nơi thân mình ta, cũng có nghĩa là Bắc Phương Nhâm Quý Thủy. Thủy là loại nước (liquide) liquide và air tạo ra khí điển trong khoa học đời nay.
Chất lỏng ép cho bị nghẹt, nước ấy thành khói, bịt tức nổ ra thành điển lửa. Lúc chúng ta công phu luyện đạo, nghe trên bộ đầu ta nổ lụp bụp nhờ các sợi dây gân bao trùm bộ đầu làm cho động địa cùng kéo khớp xương ba miếng trên bộ đầu ta tách gian ra, công phu ít thì tách ít, công phu nhiều thì khớp xương mở ra lớn hơn một tí, ước chừng một li, cố gắng công phu được lâu thì khớp xương nẻ ra rộng hơn nhưng không tới một phân.
D - Chữ DI là khí điển trên thiên không rọi xuống, cũng gọi là Dưỡng khí hay là Trường sanh để giúp cho ta thở khỏe khoắn. Lúc ta công phu luyện đạo hít hơi vô bụng cho đầy rồi thở ra làm cho trái tim mở hai lỗ trống thông cho được khíhồn ta trong trái tim tung lên bộ đầu. Bộ lá gan cùng bộ lá phổi và bộ bao tử, khí điển trong ba bộ phận ấy sẽ sốt sắng làm việc không bê trễ và có sức thêm hơn, nhưng nhiệm vụ mỗi bộ làm việc bổn phận không hiệp một ai, chữ Pháp gọi là détaché (nới ra).
Nhờ vậy mà chúng ta không lo ra, không tham sân, không bệnh hoạn, không tưởng tượng, trở thành ngay thẳng, chân chánh, nhờ Pháp Luân Thường Chuyển mà thoát (détaché). Bởi thế người hoằng hóa Pháp lý không khuyên bạn, không thuyết pháp, không giáo huấn về sự làm lành lánh dữ.
Cho nên Pháp lý gọi là một vị thuốc của Phật truyền ra, trừ bệnh tham sân, si, ái, ố, lo chi là không hiền, lo chi là không hết bệnh, nhưng nhờ sự sáng suốt của bản thể ta thông khí, tạo thành một người thông minh trí đức. Vì trong thế gian, tham sân si bỉ ổi bị mê trần lấm trần cho đến đỗi người trị nước lên án xử tử bỏ tù, càng cai trị chừng nào, bệnh ấy càng trở nên nhiều hơn, không cản ngăn được.
Bởi thế phải nhờ chữ A DI gọi là PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN, khoa học của Phật trị bệnh tham sân mới dứt. Những người công phu luyện đạo mới trở nên hiền đức, thật là một vị thuốc thần tiên của Phật giúp đỡ cho Pháp lý ngày nay mới có.
Bởi vậy người học đạo trở nên hiền đức khỏi cần thuyết pháp. Thuyết pháp để khuyên người làm lành lánh dữ, nhưng tật bệnh ấy do sự nhiễm trần xung vào bộ phận ngũ tạng ta, nếu không có phép đuổi nó ra, răn he sao đặng?...
Pháp lý khuyên các bạn tu hành nếu có điều chi lấm trần, thì làm Pháp Luân Thường Chuyển, là một vị thuốc của Phật để trị dứt liền căn bệnh nhiễm trần không sai.
VẬY CÓ THƠ RẰNG:
“Thường Chuyển Pháp Luân” thuốc khó tầm,
Thuốc này vốn ở chốn Lôi Âm,
Nếu ai nhuốm bệnh mau trừ giải,
Càng luyện càng hay bệnh chẳng xâm.
E - Chữ ĐÀ có nghĩa là một nền tảng cứng rắn, bực Chơn Tiên mới có, gọi là Hào quang. Nhưng hào quang nó ở nơi bản thể ta, hễ tu luyện 6 chữ Di Đà thì khí điển trong mình do chất thanh tịnh, hóa ra hào quang, tia sáng phát xung lên bộ đầu ngưng trệ tụ họp tại bộ đầu. Lúc đến giờ công phu thì điển hào quang của Phật bay xuống trợ giúp cho ta, làm cho hào quang của ta được tươi sáng. Nhờ điển hào quang của Phật làm nền tảng giúp ta gọi là chữ ĐÀ. Khi chúng ta luyện đạo, nhờ nó mà được một phẩm Phật, là một Môn đệ của Phật đã nhìn nhận.
Nhưng chúng ta ráng cố gắng công phu dày dặn, thì điển của chúng ta chạy từ Lư Hương tập trung từ từ đi lên tại trán ta, nơi mí tóc, thì chúng ta thấy nơi chân mí tóc phát ra ánh sáng màu vàng tựa nắng mặt Trời, chúng ta cũng nên mừng, đó là phẩm Tiên. Theo chữ Hán viết, NHƠN (亻) bằng chữ SƠN (山) gọi là chữ Tiên (仙), chiết tự ra: Chữ NHƠN là người, chữ SƠN là Sơn căn, mí tóc trước trán ta.
Nhưng có câu:
Đà ấy sắc vàng trùm khắp cả.
Tròn vo che phủ núi Tu Vi.
Chữ Tu là râu mày, chữ Vi là Vô Vi, nhưng ở trong mình ta có hào quang phát ra thấy sáng mà chúng ta rờ bắt không được, không đụng chạm được, chỉ nghĩa Không mà Có. Màu sắc ấy tốt tươi không bao giờ hoại nát, do nơi cục ngọc Mâu Ni Châu của ta biến hóa ra hào quang ấy.
G - Chữ PHẬT gọi là người có hào quang chớ không có chức sắc tên tuổi chi, vì Ngài đại từ, đại bi muốn chi được nấy, sanh sanh hóa hóa vạn vật, bởi thế Ngài không lãnh chức sắc nào hết, Ngài trọng hào quang của Ngài là cục ngọc Mâu Ni Châu quý báu ở trong mình Ngài, cho nên mỗi khi Ngài công phu tu luyện trau dồi cho cục ngọc Mâu Ni Châu làm nền tảng cứng rắn không phai lợt, làm cho linh hồn Ngài nhẹ nhàng ở chốn thiên đàng hưởng thú vinh quang.
Nhưng khi Ngài đi đứng nằm ngồi, không bỏ chữ niệm Phật, gọi là tu tịnh, cho nên mỗi vị Phật ngồi thì ngồi ngay, đôi mắt ngó lim dim khác hơn người trần. Mắt lim dim ấy để thừa cơ biến hóa, làm việc cho cõi nhà Phật cùng thế gian âm phủ. Tuy là Ngài thong thả, cũng phải làm việc và tu hành. Lúc Ngài ở thiên đàng cũng cố gắng trực định, còn chúng ta là Môn đệ của Phật phải mẫn cán hơn để công phu luyện đạo.
Luyện đạo là xếp bằng ngồi ngay thẳng, xương sống và bộ đầu trực chỉ không nên cong vẹo, mặt thì ngó ngay rồi lim dim dỗ ngủ cũng như vị Phật gọi là Định thần, trong lúc ấy sẽ phát Mâu Ni Châu và hào quang. Nếu công phu dày công lâu chừng nào tốt chừng nấy, rồi Mâu Ni Châu ấy lững đững lờ đờ khỏi đầu ta trên không, đợi chúng ta công phu lâu ngày thì các mối điển nào là chân tay mình mẩy mặt mày tai miệng mũi mắt. Điển ấy bay lên kết tụ hội cộng đồng hình bóng của ta.
Đã có hình dạng xong rồi, nhưng chúng ta còn thơ ấu, chưa biết đi, đứng ăn nói, nằm ngồi, gọi là Tiên đồng. Trong Vô Vi pháp nói là Anh nhi phát hiện, rồi chúng ta cũng cứ công phu, kể từ đấy Anh Nhi bản thể ta lên trên không, khỏi bộ đầu, từ từ khôn ngoan, thấy cảnh Bồng Lai. Khi chúng ta định thần mà thấy cảnh Bồng Lai rồi, thì lo chi là chẳng nên vị Tiên Phật.
Tới đây Pháp lý được chỉ rõ: Quý bạn chúng ta ráng chung sức cùng nhau chọn một con đường thẳng rẳng để đến thiên đàng hưởng phúc vô cực vô biên.
• Ông Tám giảng
Cho nên những lời phân giải về Nam Mô A Di Đà Phật, nó là vô cùng khai triển, mà các bạn chịu công phu thực hành rồi, các bạn mới thấy rằng: lui về thanh tịnh, chúng ta mới chứa được cái nguyên ý này, mà còn thiếu thanh tịnh ở trong mê chấp, thì cái nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật nó đi trật đường rầy và không có tiến.
Cho nên mọi người tu phải nhớ trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật để lập lại con đường rõ rệt, và chúng ta đã thấy rõ rằng, từ 7 ức niên mới kết tụ thành cơ thể con người tại thế gian, cấu trúc bởi siêu nhiên mà có, nó lâu ngày giờ lắm, nó mới giáng hạ xuống trần gian. Khối này khối kia, từ mọi trạng thái, mới kết tập thành một cái thể xác. Rồi còn chúng ta trở về thì chúng ta làm thế nào mà được trở về? Phải gom tụ tất cả những luồng điển của chúng ta, nó cũng từ mọi trạng thái mà lọc trở về thanh nhẹ [26:09]
ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh – Phần 5” từ phút 13:05 thiếu 31s so với Mp3 ID=19860102Q5 tương ứng từ phút 26:09 đến 26:40.
tinh vi, rồi kết tập thành hình thù mới đi lên, mới đi ra được, kêu là xuất hồn.
Cho nên đòi hỏi ngày giờ tu trì của các bạn, mà tu cái gì? Tu, ngồi một đống là tu ư? Không! Tâm niệm mới tu, tâm các bạn thành và hành cho đúng đường lối, rõ cái đường lối quy nguyên và khai mở giềng mối của đạo tâm là Nam Mô A Di Đà Phật, mà trì [26:40]
Tiếp tục video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh – Phần 5”
niệm chừng nào thì các bạn được quy hội sự thanh nhẹ.
Sự thanh nhẹ nó đem lại cho các bạn những cái gì? Mọi trạng thái trở về thanh nhẹ thì các bạn trở nên thông minh, cái sự thông minh lạ thường, sự thông minh từ hồi nào tới giờ các bạn không có thể tưởng tượng được các bạn có sự thông minh đó! Và hiện tại tất cả bạn đạo khắp năm châu đã có nhiều người đã đạt, nói cái chuyện tầm thường là làm thơ thi mà thôi! Xưa kia không biết làm, ngày nay đã làm được, xưa kia không biết nghĩ chân lý là tròn, ngày nay thuyết chân lý rất tròn trịa, cái đó do đâu? Phải do sự dày công của hành giả mà khai thông mọi trạng thái của trong cái cơ tạng Tiểu Thiên Địa này mới quy hội về cái nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật.
Cái Nam Mô A Di Đà Phật không phải dạy một góc mà dạy cho tất cả, vì thức hòa đồng cho tất cả và khai mở quán thông tất cả, nó mới định. Cho nên chúng ta đã nhầm lẫn xuống thế gian bị phỉnh bởi tứ quan, ngũ tạng, nó đã đã bị xâm nhập, cư trần nhiễm trần nhiều năm, nhiều tháng, nhiều kỳ, chúng ta tưởng đó là thật.
Ngày hôm nay chúng ta biết kỹ thuật tháo gỡ rồi, thì chúng ta phải nắm cái chìa khóa đó để tháo gỡ. Chìa khóa đó là gì? Là nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật, mà nguyên lý, tại sao phải niệm Nam Mô A Di Đà Phật? mà thay vì niệm một hai ba bốn năm sáu. Nam Mô A Di Đà Phật là cái chấn động lực nó khác hơn một hai ba bốn năm sáu, như tôi đã thường thuyết. Bây giờ nói lại cho rõ để cho các bạn ngồi đây và tự nghiệm, cái ý các bạn tưởng chữ N... A... M... nó đi dài lắm, rồi nó sẽ có nơi xuất và có nơi trụ là ngay trung tâm chân mày. M...Ô... nó đi lên trung tim bộ đầu và xuất phát ra để thực hiện cái hòa tan với cả càn khôn vũ trụ. A... nó chuyển chạy một vòng của đốc mạch lên trụ trên khối óc, D... I... tinh khí thần trụ, cái chữ “Vạn” nó mới chuyển được là pháp tâm. Đ... À... là nó phóng quang ra tất cả lỗ chân lông, khối óc và hòa hợp với thanh điển Bên Trên đang hội nhập trong cơ thể của chúng ta. P... H... Ậ... T... các bạn nói “Phật” thì nó quy ngay chỗ lỗ rún, là mình biết mình, “Tứ hải quy gia”, khi lìa bụng mẹ chúng ta đã có trời đất rồi, mà chúng ta không biết.
Bây giờ, chúng ta càng ngày càng tu, hiểu việc mình, hiểu tiểu thiên địa này, hiểu một nơi trụ hóa bất diệt, đời đời của tâm linh mà chính ta là chủ, thì cái điểm linh quang chúng ta là chủ. Chúng ta mới nắm được cái chủ quyền điều khiển và mở, tận mở cái thức hòa đồng cứu độ quần sanh. Chư Phật chư Tiên đã hành đã thành, chúng ta là người kế tiếp, bước vào phải hành, không nên cầu xin. Nếu cầu xin thì mướn họ hành cho ta, thì ta tu làm gì!? Ta phải tu chớ ta không mướn người khác tu cho ta, thì cái này mới đi đến mục đích.
Nhiều người nói rằng tu hành không tụng kinh, không thắp nhang, không lạy Phật làm sao biết đạo. Nhưng mà những người đó chưa hiểu đạo ở đâu? Đạo trong tâm chớ không phải đạo ở trên bàn thờ, không phải đạo ở trên cây nhang, mà không phải đạo ở ngoài đường. Đạo trong tâm! Bây giờ chúng ta phải làm thế nào? Chúng ta phải tu tâm, phải sửa tâm, chúng ta phải biết cái mạch lạc của tâm nó nằm ở đâu? Cho nên nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật, ông Tư đã cắt nghĩa rất rõ ràng, đã đào sâu để cho mình đọc và tự thức và tùy theo cái trình độ thực hiện công phu của Pháp lý Vô Vi rồi các bạn dọn, mới ứng, mới trụ, mới nhận được cái luồng điển đó.
Cho nên nhiều bạn nghe điển, điển, đâu có hiểu điển, mà không có niệm Phật làm sao biết điển. Các bạn niệm Phật rồi, bạn thấy sự huyền diệu rõ ràng, tâm trí các bạn thay đổi, cái nội thức nó được mở, sáng suốt tự nhiên, thấy mọi sự việc kích động nguy hiểm trước mắt ta. Chúng ta thấy vạn sự khởi đầu là không. Tâm chúng ta không động, mà việc nào nó sẽ trở về việc nấy rõ rang, rồi đâu sẽ vào đấy. Cho nên chúng ta được có cơ hội an nhiên tự tại. Khoa học, xã hội đã cho chúng ta thấy cuộc sống từ xa xưa khó khăn. Người này phá người kia, người kia phá người nọ.
Bây giờ người ta tôn trọng nhân quyền. Chúng ta được tiến một bước rồi. Ai muốn tu thì cứ ngồi an nhiên đó lo tu, không đói không khổ nữa, chỉ có thiếu tu mà khổ. Mà nếu chúng ta bằng lòng tu thì chúng ta là một người giải nghiệp, thì không còn khổ nữa. Nghiệp là đi xuống và rước vào, thì nó lấn áp chúng ta là nghiệp. Còn người chưa tu thì người đó còn nghiệp. Là Lục Căn, Lục Trần nó đang chỉ huy chủ nhơn ông. Nó ép chủ nhơn phải làm điều này điều nọ, phải nhậu nhẹt, phải đi chơi bời mà làm cái chuyện không hữu ích, phải tranh đua, phải giành đất nước, nhưng mà đất nước của nó nó bỏ. Đất nước của chúng sanh là gì? “Cái Tâm”, mà bỏ “Tâm” đâu còn nước. Bỏ “Tâm”, rồi tham tiền tham bạc làm bậy, giết hại đồng bào không hay, nguy hại tới tấp mà không biết. Tâm không có!
Cho nên những người làm chánh trị phải biết tu thân, tề gia, bình thiên hạ, mới là một người chánh trị chơn chánh. Còn hô hào không trách nhiệm, rồi đẩy người ta vô chỗ chết, cái đó là đi tới chỗ tự sát. Vì các bạn biết được phần hồn là bất diệt, thì chúng ta có cơ hội tu bổ cho phần hồn càng ngày càng cường tráng mạnh lên hơn, để cứu độ chúng sanh trở về Phật Quốc là một nơi bất diệt trường tồn, giữ định luật hóa hóa sanh sanh không ngừng nghỉ. Cái đó mới là đường lối trường cửu và cần thiết cho chúng sanh phải hành.
Cho nên nhiều người không hiểu làm sái quấy, rồi lương tâm bị cắn rứt. Tới lúc chết bị đọa địa ngục chỉ biết khóc mà thôi, khổ vô cùng! Cái này ngày hôm nay chúng ta đại phước, được biết được cái nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật, rồi chúng ta phải đào sâu mọi sự việc của những người đi trước để lại như Kinh A Di Đà, mà Kinh A Di Đà, những chữ nghĩa càng ngày càng thất lạc, vì thời đại thay đổi, thiên cơ thay đổi. Trước kia học Nho, hiểu Nho mà bây giờ nó đổi lại thấp hơn, khó hiểu, cho nên Ông Tư mới mượn cái nghĩa phàm mà dẫn các bạn trở về đạo.
MA HA THẬP THÍCH
Nghĩa là trong bản thể con người có ba phần gọi là Cơ sở quyết liệt của điển huyền diệu tinh thông Pháp Thần.
1. Tạng Tâm.
2. Tạng Can.
3. Tạng Thận.
• Ông Tám giảng
Ba tạng quan trọng.
Nếu chúng ta thành Phật, chúng ta muốn chi được nấy, do ba tạng này, chánh đáng của điển mà Phật kể ra cho chúng sanh biết, tất cả ở bản thể của mỗi người luyện đạo, quý báu duy nhất, thành thật cùng chăng? Do tu luyện ba tạng này được thông thì sự sáng suốt thấy từ mặt đất đến thiên đàng, ngồi đây thấy kia, chỗ xa đem lại gần, gọi là Điển. Sự thâu thập này không khác chi một cái ống dòm. Nếu các bạn cố gắng luyện đạo dầu lâu hay mau, có tâm chí bền bỉ thì lo chi không thành Phật. Còn người mê trần không tu, làm nhiều tội lỗi, khi thác thành ma, vì lúc ở tại dương thế chẳng tu hành.
Bởi thế chữ Ma Ha là thành Ma, thì làm nhiều điều khổ sở, nào là
1) Không chỗ nương dựa, phải ẩn theo cội cây bóng tối.
2) Đói khát phải ăn trùng dế cùng đất.
3) Chịu dưới quyền sai khiến hành hạ của Thổ địa Thần kỳ ngăn cấm.
4) Không tự do.
5) Không quần áo mặc.
6) Chịu nắng lửa mưa dầu.
7) Bị quỷ ăn hiếp.
8) Không rời nấm mả phần mộ, phải chịu sự hôi thối của bản thể, đi đến đâu thì mùi hôi thối ràng buộc.
9) Phải bị tội lệ lúc còn sống bị mê trần lâm bệnh thất tình lục dục cùng tham sân, si, ố, nộ.
10) Bị đày đọa khổ sở, mãn tù tội được đầu thai để trả quả nghiệp chướng luân hồi.
Khi ấy, Phật muốn vớt những người ở trần, cho khỏi lâm các điều ấy, khỏi làm ma chướng nữa, mới bày ra Kinh là luồng điển để cho người ở trần thức tánh tu hành luyện đạo, khỏi làm ma chướng lúc thác.
Còn người sống tại dương gian được giác ngộ tu hành đánh đổ ma chướng bỉ ổi, giải thoát cường hào ác ý, nhờ luyện đạo theo ba phương pháp sau đây:
1. Soi Hồn.
2. Pháp Luân Thường Chuyển.
3. Định Thần.
Ba số này, người tu luyện đặng trở nên hiền và thành Tiên thành Phật. Nhờ ba tạng này, Phật Ngài bảo chúng ta, biết gom thần định tánh, thần hồn đã hiểu rõ sự tội lỗi ăn năn, cải tánh diệt danh, nhờ tu hành thì vị Điển Cứu tinh soi xuống truyền bá và điểm đạo, cùng phân phẩm bậc cho Hồn, Hồn mới thức tánh hiểu biết, sai khiến Vía phải khâm phục Hồn.
Vía cũng thức tánh cai trị Lục Căn, Lục Trần phải tuân theo quyền lực Phật pháp, mới truyền bá cho Thập Tam Ma Chướng đều phải tuân Phật pháp, thì người tu trở nên hiền, được thông minh, được tránh những điều hung dữ bỉ ổi, không lầm lạc ở dương thế.
TÓM TẮT
Trong tam tạng: Tâm, Can, Thận, ba ngôi chánh này TÂM là một cái lò lửa điển, cũng như một cái nhà đèn, CAN cũng là lửa hùng dũng nóng bức, THẬN là thứ nước mát. Khi Phật bày ra Pháp lý này, lấy chất nóng trong ba tạng này gọi là Điển của bản thể ta, làm cho phối hiệp với chất điển của Phật trên thiên đàng, hóa thành một vị cao Ngôi: Thần, Thánh, Tiên được thông hiểu quá khứ vị lai dưới thế gian cùng thiên đàng, do nơi cơ quan là nguồn máy của ngũ tạng bản thể ta.
Phật Ngài lấy điển ấy làm cho ta hóa sanh một vị Cao Thượng Phẩm Tước, nhờ vậy chúng ta trở nên hiền, thông minh, làm lành lánh dữ, sáng kiến để trừng phạt Lục Căn, Lục Trần gọi là Lục tặc, không dám xâm phạm xúi biểu linh hồn ta nữa. Ta có quyền hành trị chúng nó.
Từ đây ta mới biết có người có ta (người ta). Hễ người thì mê trần, còn ta thì thức tỉnh rồi mới làm Tiên, làm Phật. Người là thể xác trần, mê trần thuộc tánh, còn ta là hồn điển mới được minh, cai trị bọn chúng. [42:11]
Hết video ID=19860101L2 - “Thuyết giảng Kinh-Phần5”
Tương ứng Mp3 ID=19860102Q5 dừng ở phút 42:11
Bắt đầu video ID=19860101L2- “Thuyết giảng Kinh-Phần 6”
• Ông Tám giảng
Cho nên chúng ta tu về ba cái tạng nó liên hệ ở đâu? Thượng, trung, hạ, chúng ta có bộ đầu, có bộ ngực, có ở dưới bộ sinh dục, mà ai chỉ huy ba cái đó. Tâm, Can, Thận, ba bộ phận quan trọng lắm, mà chúng ta làm Pháp Luân Thường Chuyển... Tại sao tôi làm Pháp Luân Thường Chuyển, hồi trước tôi chưa làm Pháp Luân Thường Chuyển thì tôi thấy tánh tôi nóng, mà tôi làm được Pháp Luân Thường Chuyển rồi, cái tánh tôi nó dịu, là vì cái hỏa can nó rời đi, nó dời lần đi, mà nhiều người khi mà làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi ngồi thiền nó lại chảy nước mắt là cái trược ở trong gan được thanh lọc. Cái gan mà được thanh lọc thì con người nó bớt nóng tánh, bớt nóng tánh thì nó mới chấp nhận trở về cái thiền, mà càng thiền, càng làm Pháp Luân thì cái thận nó mới giải cái phần trược, ô dục của hạ giới, rồi nó mới ngược cái chiều nó cung cấp lên trên.
Cho nên những người làm Pháp Luân Thường Chuyển nhiều tại sao nó lại lãnh cảm và nó không có hướng về tình dục nữa? vì cái chỗ cung cấp nó hướng thượng, nó đi trở lộn lên thay vì nó đi trở lộn xuống. Hồi trước nó không biết, nó không có sử dụng cái Pháp Luân Thường Chuyển là nó bị cô đọng, nó sân si, ham dục, bây giờ nó điều hòa ba bộ phận đó thì không có sân si, không còn ham dục nữa, .....
Hết Mp3 ID=19860102Q5
video ID=19860101L2 - “Thuyết giảng Kinh-Phần 6” dừng ở phút [01:52]
[bắt đầu ID# 19860102Q6]..... Mp3
KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ - Cuốn 6B
Mp3 thiếu 3s so với video phút 01:52 đến 01:55 - video ID=19860101L2 - “Thuyết giảng Kinh-Phần 6”
Mà muốn trị bệnh, bệnh do tánh sanh, kẻ hung hóa hiền, cái bệnh nó mới hết, hung thì cái bệnh nó càng ngày càng gia tăng, nó làm cái thần kinh càng ngày càng yếu, mà hiền thì cái thần kinh càng ngày càng dịu, vì nó được nghỉ ngơi, còn người hung nghĩ tới, hành cho cái thần kinh rối loạn, ngũ tạng bất an.
Cho nên chúng ta được cái pháp này là giải tỏa ba bộ phận đó điều hòa, mà ngày hôm nay chúng ta lại được tập trung ngay trung tim bộ đầu và để giải tỏa đem cái phàm tâm, luồng điển của phàm tâm trụ về chơn tâm. Cho nên sự liên hệ nó lớn rộng, nó thấy cái tiểu thiên địa này hòa hợp với cả càn khôn vũ trụ, nó mới thấy giá trị của Đại Thanh Tịnh là của đấng Từ Bi, của Thượng Đế, của vị Đại Thanh Tịnh, của Hắc Bì Phật đã chuyển độ chúng sanh. Chúng sanh mới có cơ hội hướng thượng, để tìm một lối thoát cho chính mình. Cái hồn này là từ trên xuống, thì chúng ta từ cái thể xác này mà giải tỏa cho phần hồn được đi lên, rồi lên đâu? Cũng lên tam giới, cũng thượng trung hạ, chỗ nào cũng nằm trong cái nguyên lý thượng trung hạ mà ở giới nhẹ và giới nặng.
Cho nên ở thế gian đã cho chúng ta thấy biểu hiện, có người được phước, thấy nó sống nhàn hạ, nó có tiền nó dễ dãi, còn người nghèo làm suốt ngày. Đó, nó cũng có ba giới tại xã hội. Xã hội loài người nó có ba giới thể hiện trước mắt chúng ta, nhưng mà người đạo dòm vô: ba giới là một. Người nào cũng học cái bài học đó để thức tâm mà thôi. Người có phước có tiền rồi cũng ôm cái khổ, và thức tâm đi tu. Mà người nghèo lao động khổ cực cũng chán đời qua đạo. Đó! còn người hiền thì họ cũng phải thấy rõ cái đời là ác ôn mà họ tự đi tu.
Đó! Cho nên chúng ta tu đây là giải tỏa ba cái tạng quan trọng, mà chúng ta đang cai quản và không lo cho nó. Mà ngày hôm nay chúng ta tu là chúng ta biết lo và sắp đặt. Mà chúng ta lấy cái gì để giáo dục nó. Chúng ta lấy cái nguyên khí cả càn khôn vũ trụ để khai mở ba tạng này hòa đồng với nguyên khí càn khôn vũ trụ, cho nên ba cái tạng này là lớn của ông Trời, chớ không phải của người phàm.
Cho nên chúng ta hướng thượng mà giải tỏa, đó là chúng ta mới thấy rõ ta là con ông Trời. Mà chúng ta hòa tan với ông Trời là chúng ta phải làm việc ông Trời. Chúng ta phải thực hiện từ bi và đi tới đại từ bi cũng như Ngài, hy sinh vô cùng, một cử một động của chúng ta lưu lại tại thế gian để cứu những người kế tiếp, mà nếu một cử một động của chúng ta mà so đo là người kế tiếp không có ngó nghĩ tới chúng ta.
Cho nên chúng ta, người tu Vô Vi chỉ có lời chớ không có lỗ. Nhiều người nói tu Vô Vi nó lỗ, nó thiệt thòi, không đâu các bạn! Không có thiệt thòi, chỉ lời thêm thôi! Các bạn mở được cái trần trược, cái thối tha, cái dơ dáy, cái chậm tiến, cái ngu muội của các bạn, vứt đi, bỏ đi, thì tự nhiên các bạn sẽ đi tới chỗ sáng suốt vô cùng. Cho nên chúng ta đi ngay trong tâm tạng của chúng ta, chớ không có đi bên ngoài. Cho nên người ta tu, tu về lý thuyết bên ngoài, nghe lý Chúa hay, ôm khóc, nghe lý Phật hay, ôm khóc. Nhưng mà không hành! Chúng ta hành, rồi sự cảm thức của chúng ta mới rúng động tất cả mọi người. Cho nên cái tu của Vô Vi là trực tiếp, còn cái tu u ơ, đọc hát là gián tiếp, mà hao phí, cuối cùng không thành đạt.
Cho nên chúng ta đã học rất kỹ về nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật. Mọi người phải hiểu rõ cái giá trị đó và nắm cái đó để đi, hễ nắm được cái đó là sẽ khám phá tất cả. Bảo đảm các bạn sẽ khám phá tất cả không còn ngu muội nữa và sự thông minh vô cùng của chư Phật sẽ đóng góp cho các bạn chớ không phải người phàm đâu! Phi thường lắm! Các bạn đạt được thanh tịnh rồi là nó đi tới chỗ phi thường tâm giác, chớ không phải đơn giản. Sau này các bạn phải sợ các bạn. Ô! Tôi hồi trước tôi ngu như vậy nhưng mà tại sao bây giờ tôi thông minh như thế này, mà tôi không tin. Làm được bài thơ đó rồi bắt làm, cũng một cái đề tài đó rồi các bạn vẫn làm 20 bài thơ, cũng đề tài đó mà các bạn làm được. Hồi trước các bạn rặn một bài mà rặn không được... Nhờ cái gì? Nhờ cái Nam Mô A Di Đà Phật mà nó khai thông, cái thức hòa đồng nó mở, thì cái trí tuệ của các bạn càng ngày càng thanh cao. Hồn thơ của các bạn càng ngày càng dồi dào và lý thuyết rất vững, đi đúng tâm trạng của mọi người, chúng ta mới lãnh cái nhiệm vụ dẫn tiến tâm linh. [05:57]
Không có đoạn chép từ phút 05:37 đến 07:51 của Mp3 ID=19860102Q6
Không có đoạn chép từ phút 07:45 đến 09:37 của video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh – Phần 6
Lúc đức Di Đà công phu luyện đạo, lúc ấy Ngài đang ngồi giữa đám đông người, nơi cội cây miền núi, nhờ tàng cây lớn, Ngài dựa nương nơi cội cây ấy gọi là cây Bồ Đề.
BỒ có nghĩa là bồ bịch dựa nương.
• Ông Tám giảng
Ngồi đó dựa đó.
ĐỀ là thuyết đề mục để tu hành luyện đạo. Đến khi đức Di Đà nhập Niết Bàn thành Phật thì tất cả Môn đệ cảm mến đức tánh của Ngài. Nhiều lần đến dưới chỗ cội cây Bồ Đề này để nhớ và tưởng Ngài, vì thương nhớ Phật, kẻ thì lượm lá đem về thờ, gọi là Lá Bồ Đề, kẻ thì lượm hột làm chuỗi đeo, gọi là chuỗi Bồ Đề. Khi người tu hành tưởng nhớ đến công đức của Phật khi xưa chịu khổ sở với Môn đệ, để truyền bá 6 chữ Di Đà Pháp lý luyện đạo, thì tay lần chuỗi Bồ Đề.
Hiện nay tích ấy còn lưu lại nơi người tu nhà thiền, khi tụng kinh niệm Phật hay là tưởng Phật thì tay lần chuỗi Bồ Đề từ hột đặng rèn lòng buộc chặt không cho phóng tâm, để tu hành không lo ra việc thế tục, vì hễ ở trần phải mến trần, mà nếu mến trần không thể tu.
SAU ĐÂY TÔI XIN CẮT NGHĨA VỀ
KHỞI ĐẦU CUỐN KINH A DI ĐÀ :
Như Thị Ngã Văn
Nói về tông chỉ của nhà Phật, khi đức Thích Ca thấy đức Di Đà ngồi tựa cội cây công phu luyện đạo theo Pháp lý thì Phật Tổ mới cho điển truyền tin, lúc ấy đức Di Đà gom thần nhập định quên cả bản thể, làm cho điển bản thể được thông thiên thăng hành, đồng thời trực tiếp điển của đức Thích Ca truyền bá, chỉ rõ cơ quan cùng gân thịt xương máu, mỗi mỗi trong bản thể đều có khí điển để làm việc cho những nhu cầu xác thịt (ăn, ngủ, bài tiết. v.v...) theo trần, Ngài nhận biết, cũng vì điển bản thể làm việc theo trần, làm cho con người cứ theo đó mà mê trần, mỗi ngày sự sáng suốt của con người phải bớt dần. Hễ con người càng bị lấm trần, thì không thể thông minh được.
Đức Thích Ca thương xót chúng sanh, bèn điều độ, lấy điển ngũ tạng gom lại tập trung nơi trước trán để làm một cái máy thông thiên, nhưng máy ấy gom cả lực lượng điển quang bản thể ta, trở nên điển hồn, lên phẩm làm Chủ Nhơn Ông, Xá Lợi, cùng Thông Thiên Giáo Chủ.
Đức Thích Ca đã chỉ rõ các mối điển hết rồi nhưng còn sợ người trần không hiểu thấu, mới chỉ trong bản thể của đức Di Đà có những tạng nào làm việc ra sao mà được ráp thành một guồng máy khoa học tinh xảo để hóa thành phụ trợ cho một linh hồn, phép tắc vô cực vô biên để làm một cái phép huyền diệu bay thẳng thăng thiên qua Bỉ Ngạn đến Bồng Lai và Niết Bàn đảnh lễ Phật.
Đức Phật Tổ buộc Phật Di Đà công phu luyện đạo để Ngài hiểu rõ tông chỉ, đồng thời cũng phát thanh ra giữa công chúng cho mỗi người hiểu lấy để cho dễ công phu luyện đạo.
Tông chỉ là nguồn cội, cốt giác của điển sanh sanh hóa hóa trước kia, làm cho mỗi người biết ăn biết ngủ, biết bài tiết và có trí thức thông minh hơn. Nhưng Phật Tổ Ngài bố đức từ bi hộ độ, muốn cho mỗi người đều thành Phật, lấy phép điển trong mình gom góp lại, sắp đặt cơ quan con người đủ thông minh trí tuệ, thần thông biến hóa, khỏi đi đứng, nhờ điển tiếp truyền, đại hùng đại lực cũng như Ngài, muốn đến đâu thì hình bóng người bay đến đó, hóa các phép như Ngài, thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý. Bởi thế Ngài đặt để đầu cuốn Kinh câu: “NHƯ THỊ NGÃ VĂN” để cho đức Di Đà nghe và nói ra cho rõ căn bản Pháp lý mà thực hành.
Chữ NHƯ : Là Như Lai, nghĩa là trên không mà có tiếng nói đến bộ đầu Di Đà.
Chữ THỊ : Là hiển hiện rõ ràng.
Chữ NGÃ : Là ta, là linh hồn của Di Đà ở tại bộ đầu .
Chữ VĂN : Là mắt thấy tai nghe, miệng lại nói ra giữa đám đông người.
• Ông Tám giảng
Cho nên một chữ “Như Thị Ngã Văn” này là cái ý muốn của Đức Thích Ca, mà người truyền pháp cũng vậy. Muốn đem những cái gì tinh vi độ chúng sanh, mà chúng sanh ở thế gian làm sao độ? vì nó không biết cái điển tâm ở nơi nào, nên ngày hôm nay những bạn đạo Vô Vi dùng trung tim bộ đầu, đó là điển tâm, điển tâm các bạn tập trung đó hướng thượng, thì chư Phật truyền pháp, truyền điển ngay cho chúng ta, pháp thủy rưới tươi trên đầu của chúng ta càng ngày càng thanh nhẹ, lúc đó trong cái thức của các bạn nghe chớ không phải nghe người ta nói xào xào trong lỗ tai cái đó là tà, còn cái thức của các bạn nhận kêu bằng tâm tâm tương ứng. Khi mà nhắm con mắt như vậy, đương ngồi thanh tịnh, không biết gì mà cảm thức một triết lý vô cùng sâu rộng mà không bao giờ mình có thể nghĩ được đó là tâm tâm tương ứng, chư Phật đã truyền bá ngay trung tim bộ đầu của chúng ta.
Cho nên người tu Vô Vi nó may mắn nhứt chỉ trụ tâm ngay trung tâm bộ đầu để có cơ hội tâm tâm tương ứng với chư Phật, mà do cái công phu dày công hành đạt. Trung tim bộ đầu đầy đủ điển thì rất dễ dãi, Ngài răn dạy chúng ta trong nháy mắt, chúng ta hiểu hết, không phải mất thì giờ nói như âm thinh tôi nói ở đây, không có sử dụng cái đó, ý Ngài chuyển là chúng ta hiểu liền, cái đó kêu bằng tâm tâm tương ứng.
Cho nên nhiều người tu không hiểu, nói điển này tới đầu tôi, điển kia tới đầu tôi, điển nọ tới đầu tôi, cái đó là trật, mình phải mở cái hào quang sẵn có của chính mình hướng thượng, rồi lúc đó Bên Trên mới chiếu hòa cái hào quang của Ngài cho chúng ta, phóng cho chúng ta một chút, thì chúng ta hiểu theo sự tri giác trình độ của chúng ta, chúng ta biết đấy là ai, ai đang về với chúng ta, ai đang giáo dục chúng ta, ai đang đem thanh quang hộ độ chúng ta. Mở tâm mở trí vô cùng, nhưng mà muốn cái đó phải hành, phải thân ngoại thân, thì phải hành, mà hành cái gì? Đêm hành, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển là lọc cái tinh vi, rồi nó mới lên tới trung tâm, mới đi tới chỗ “Như Thị Ngã Văn”, nghe rõ, thấy rõ, hành rõ, kêu bằng tâm tâm tương ứng.
Cho nên nhiều người muốn, tôi tu, tôi ngồi này kia kia nọ, để tôi nghĩ Thượng Đế, để Thượng Đế tâm tâm tương ứng với tôi. Không có được! Phải có cái cách xuất phát ra, nhiên hậu mới có cơ hội tâm tâm tương ứng. Bây giờ chúng ta ở thế gian này, nhập vô cái xác này, chúng ta nghe tiếng trần, xe hơi nè, người ta nói chuyện nè, cái tần số đó, thấy không! Bây giờ chúng ta muốn nghe cái tần số nhẹ hơn thì chúng ta phải mở chỗ này (trung tim bộ đầu) để được nghe cái tần số nhẹ hơn, mà tần số nhẹ hơn người ta không có nói như chúng ta. Người ta họp, gặp mặt họp cái rồi, người ta biết hết cái công chuyện rồi. Chuyển điển cái biết rồi đâu có phải nói năng như ở thế gian đâu! Nó mất thì giờ, chậm trễ lắm!
Cho nên mang cái xác phàm mà lý luận ở thế gian là chậm trễ lắm. Một cuộc họp của chư Tiên, của Địa Tiên, người ta họp xong hết mọi sự, Thượng Đế gom họp xong hết mọi sự, mà ở đây 10 năm chưa thấy cục cựa, nó chậm lắm. Nói văn minh hô hào tùm lum hết, mà 10 năm chưa thấy cái chuyện đó xảy ra, nó kỳ cục vậy đó! Người ta mau nhiều quá mà mình chậm nhiều quá, mà bây giờ mình lấy cái gì chứng minh cái mau. Phải cái ý nghĩ của mình mau không? Mà chuyển ở dưới này, động cái cơ tạng này rồi mới nói ra, rồi ngồi đó bàn hoài, bàn hoài, bàn hoài, rồi gom trở lại có một chút à!. Họp đó! Bàn, bàn, ông này bàn, bà này bàn, bàn, bàn, bàn tùm lum, rồi gom có một chút xíu, mà nói tới mấy ngày, mà kết luận có một chút xíu! Thấy chưa! Còn đằng kia người ta tin cậy lẫn nhau hết rồi, người ta bay tới họp là rồi xong hết cái việc đó, mỗi người đều có việc hết trọi.
Cho nên người ta làm việc nhiều hơn thế gian, mà liền liền, còn ở thế gian gặp một cuộc họp lâu lắm, rồi cãi vã, rốt cuộc không ra cái gì, rồi về trong tâm cũng chưa có yên. Còn đằng kia người ta yên, người ta làm tới. Cho nên cái nền siêu văn minh có những người nào dự? Những người tu xuất hồn mới có cơ hội tham gia vô cái siêu văn minh của Thượng Đế, phải làm liền liền, cấp bách, chớ không có phải để trì trệ như hiện tại. Cái này là cái văn minh của Di Đà đã có lâu rồi, nhưng mà ở đây người ta mới đi theo mà theo chưa được gì hết trọi. Tu cũng tu chưa xong, mà cái đám Vô Vi này tương lai cố gắng nghe theo tôi trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật, rồi lần lần đọc cái Kinh này mới thấy rõ, thấy đã có lâu rồi! Cái chữ “Như Thị Ngã Văn” này là cái siêu văn minh. Một chút xíu là biết rồi, chớ không phải đợi mà giải thích cả mấy tiếng đồng hồ mà không hiểu cái gì hết trọi, là có phải chúng ta thấy sự trì trệ không? Thượng trung hạ chưa đồng nhứt thì không hiểu, mà thượng trung hạ hợp nhứt rồi, nháy mắt là hiểu rồi. Đó! kêu là thanh tịnh. Nhiều người nói thanh tịnh. Ông Tám cứ nói thanh tịnh, làm sao thanh tịnh? Quy hội nó mới thanh tịnh.
Cho nên các bạn phải làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi nó mới lọc ra. Cái trược nó theo cái trược, cái thanh nó theo cái thanh, nó có trật tự nó mới quy hội, nó mới thanh tịnh được. Cho nên thấy rốt cuộc phải hành không! Cho nên không có dùng lý thuyết. Pháp lý không có đi thuyết pháp là chỗ đó. Ông Tư nói như vậy! Chỉ bạn đạo thực hành rồi mới nói chuyện với nhau mới được, không thực hành là không có giá trị, nói rõ ở trong này.
Cho nên nhiều người xưng là tôi tu Pháp lý Vô Vi, rồi đi nói ào ào. Các bạn không nên nghe. Các bạn hỏi, chớ anh thiền cho tôi coi, anh làm được mấy tiếng. Cứ hỏi thực hành vậy thôi! Mọi người đều thực hành thì chúng ta làm được việc lớn mà dễ hiểu nhau, nhanh chóng, thông cảm, mà lúc nào cũng minh bạch và tin cậy lẫn nhau.
Cho nên người thế gian không tin cậy lẫn nhau, biết bao nhiêu cái hội ở thế gian này, như hội người Việt Nam từ Mỹ qua tới bên này không có tin cậy nhau, họp, họp rồi cũng gây lộn hà! Không xài! Tại sao? Nó không tin cậy, bởi vì nó sợ mất, sợ hư. Chớ kỳ thật nó đâu có mất, đâu có hư. Vô Vi mới thấy rõ! Tôi có cái gì đem tới đây mà tôi sợ mất! Mà tôi có tình thương, còn anh kia cũng có tình thương, mà tình thương chúng tôi hòa đồng thì chúng tôi tin cậy với nhau, không có sao, không có mất. Của của Ông Trời, mà tôi đâu có đem đi được đâu, mà tôi sợ mất! Của thiên trả cho địa, cái xác này cũng của ông Trời, mà của thiên trả cho địa, tôi có đem đi được đâu mà tôi sợ mất, thì tự nhiên cái sự tin cậy của mình là sự tin cậy của Thượng Đế. Và sự tin cậy của mình là đang quản thúc đối phương, đối phương ăn cắp được không? Thét nó mắc cở chớ! Nó trả lại, nó lỡ ăn cắp 10 đồng nó còn trả lại 100 nữa là khác. Không có lo! Đừng có sợ cái đó! Các bạn sẽ có hết, tu Vô Vi rồi các bạn sẽ có hết!
Các bạn là giàu hơn tỉ phú, nói vậy đó! Tỉ phú còn lo, chớ các bạn không có lo. Cái ông giàu ổng nói: “Tôi giàu, rồi tôi hết lo”, nhưng mà cái ông giàu đó lo nhiều hơn, mà các bạn hết lo. Có phải các bạn giàu hơn ông tỉ phú không? Phải không? Mà hỏi các bạn đói không? Không! Không có thiếu cái gì hết! Cho nên đức Phật đã nói bao nhiêu ngàn năm trước mà người ta không chịu hành. Ngày nay mình may mắn được cái pháp này để hành. Hành để khai thông ba cái tạng của mình đi, thì ba cái tạng mình khai thông được rồi, bạn bè mình khai thông ba tạng rồi nó hiền, nó không có ăn cướp của mình nữa, mình tin cậy, rồi mình làm nên sự nghiệp, thấy chưa! Nháy mắt là nên sự nghiệp. Cho nên cái lòng tin là phải thực hành, mà không thực hành là không có tin nổi. Anh đi ra đời, anh ra nói một đường, nó nói một ngả, họp một chập rồi gây lộn, không có yên đâu!
B/Đ: (Không nghe rõ)
THẦY: Tới giờ chưa? Cho học trò đi uống nước hả? Vậy, thôi. Được mấy trang? (cười) Bởi vì tui ăn cơm no, phải khổ hơn các bạn. Muốn ăn chén cơm của ông Trời á, phải làm việc nhiều; mà ăn ít, Ổng không cho. (b/đ cười) Ổng nói, “Mày là thứ ngon hơn mấy thằng kia, thì mấy thằng kia ăn nhiều hơn, mày ăn một chút mà mày phải làm việc nhiều hơn; mày muốn ăn nhiều, mày phải làm việc nhiều hơn nữa! (cười) Ông đó khôn lắm; Ổng là đại thương gia, mà đại ba xạo, mà đại đầu tư! Khó lắm. Tui nói Ổng hoài vậy chớ! Mình không chịu vô á thì mình không có tiến. Tui cũng như hết đường đi rồi. Tui không bị nhồi thì tui không có tiến; mà nhồi chừng nào thì tôi tiến chừng nấy. Tui nói Ổng mấy bữa, mấy, mấy tuần trước tui cũng nói, “Thôi tui, bây giờ tui đi làm thợ máy đi; tui không học nữa!” Ổng nói, “Mày đi thử coi người ta mướn mày không?” Tui muốn đi làm thợ máy cho anh Trí đó. Tui nghỉ, không thèm đi; đi làm thợ máy. Ổng nói, “Mày đi thử, nó có dám mướn mày không?” (cười)
B/Đ: (Không nghe rõ)
THẦY: Hả? (cười) Nó kỳ quá mà! Nó nói từ Việt Nam tới bây giờ, mà tui không có làm được cái gì hết đó. Chớ còn tui thường ra là tui computer cũng giỏi lắm đó! Tui muốn đi học cái đó mà! Không có đi được!
B/Đ: (Không nghe rõ)
THẦY: Hả? (cười) Phải mắc làm cái này!
Hết video ID=19860101L2 – “Thuyết giảng Kinh – Phần 6
Hả? (cười) Thợ máy chớ! Tui bây giờ thợ máy đồ, Anh bàn máy với tui, tui nói à! (Thầy cùng b/đ cười) Nó không mướn đâu!
[kết thúc 19860102Q6]..........
Hết Mp3 ID= 19860102Q6
Bắt đầu Mp3 ItemID=19860103Q1
Bắt đầu Video ID=19860101L2 – Vấn đạo (3)
[19860103Q1]
KHÓA HUẤN LUYỆN “KINH A DI ĐÀ” : Vấn Đạo - Cuốn 7A
.....
BĐ: Kính thưa Thầy, Thầy cho phép thì con xin hỏi,
THẦY: Ừ.
BĐ: Thích Ca Mâu Ni Phật, nếu cắt nghĩa theo Đức Ông Tư thì đức Thích Ca phật tổ đắc đạo có tên thật là gì? Vì trong Kinh A Di Đà, “Thích” là giải nghĩa, “Ca” là ca tụng, “Mâu” là mâu ni châu,
THẦY: Ừ.
BĐ: Và “Ni” là chính mình,
THẦY: Ừ.
BĐ: Như vậy Thích Ca Mâu Ni Phật đã chiếu điển cho đức A Di Đà,
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì chính vị chiếu điển đó,
THẦY: Ừ.
BĐ: Pháp danh phật là gì?
THẦY: Ừ.
BĐ: Thí dụ như đức Ông Tư đã đắc quả vị Phật,
THẦY: Ừ.
BĐ: Là Phật Bảo Tạng,
THẦY: Ừ.
BĐ: Và Thầy là đức Phật Vĩ Kiên,
THẦY: Ừ.
BĐ: (nghe không rõ)
THẦY: Ừ. Đó là tất cả những danh từ cũng như mượn cây gậy mà chỉ đường cho người ta đi;
BĐ: Dạ.
THẦY: Cũng như chữ “Thích” là giải thích; còn Ông Tư là “Bảo Tạng,” là chỉ cái Pháp Luân Thường Chuyển, bảo tạng; còn tui, người ta nói, “Vĩ Kiên,” là vĩ đại kiên cố, là để dành cho tất cả mọi người tu. Và tên “Thích Ca” cũng cho tất cả chúng sanh chớ không phải riêng Thích Ca; vì Thích Ca có hình thù, Thích Ca là vô danh, không phải là hữu danh! Nếu mà Thích Ca thành đạo, giữ là tên “Thích Ca,” là không phải phật! Phật là vô danh; phật không có danh; nhưng mà thế gian phải mượn cái hình thù, vì chậm trễ, để cho thế gian hiểu cái đó, giá trị đó là cái gì, và nung nấu ý trí trở về gì? Trở về Không, cũng như Thích Ca; Thích Ca là vô danh; nhưng mà thế gian phải hữu danh. Anh hiểu chỗ đó không?
BĐ: Dạ.
THẦY: À. Đặt đó để cho những người sơ căn đi tới: “Vậy chớ, tui tu tui theo ông nào?" "Tui dựa cái lý nào? Tui theo cái đó tui mới truy tầm ra cái chơn lý mà để tui mượn cái cây gậy đó để trở về Không.” A Di Đà cũng vậy; cũng cho mượn cái danh từ ở thế gian thôi! Mà tên của Anh cũng vậy: có ý nghĩa cao siêu về Không hết! Tất cả chúng sanh, danh từ của chúng sanh, đều là mượn cây gậy tại thế, rồi bỏ cái đó, đi trở về Không, mới là thành Phật. Thì tất cả đều vô danh.
BĐ: Dạ; con kính cảm ơn Thầy. Câu hỏi thứ hai: trong trang 31 có hai câu thơ, “Đà, ấy sắc vàng muôn kiếp ghi,”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Tròn vo che phủ Núi Tu Di.”
THẦY: Ừ.
BĐ: Và cũng thì hai câu thơ trong trang 35,
THẦY: Ừ.
BĐ: “Đà, ấy sắc vàng trùm khắp cả, ”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Tròn vo che phủ Núi Tu Vi”
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì ở tại đây,
THẦY: Ừ.
BĐ: Con tự hỏi, “Tròn vo che phủ Núi Tu Di”
THẦY: Ừ.
BĐ: Rồi lại là, “Núi Tu Vi”?
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì phải chăng là do xếp chữ lộn? Hoặc là Núi Tu Di là một cái núi ở bên Tầu? Rồi ở dưới này là Núi Tu Vi, là ở đây người ta dùng chữ khác nhau?
THẦY: Cho nên, ở đây nói về cái nghĩa lý đó là cái, trên đầu; trên đầu của chúng ta, người tu Vô Vi, khi mà Anh xuất ra, hay là Anh thanh nhẹ, thấy cái đầu Anh đầy núi hết đó; nhiều cảnh núi; mà cái hào quang nó bao vây đây này: cái mầu vàng hào quang nó bao vây cái núi Tu Di ở trên này. Mà “Tu Di,” “Tu Vi,” cái đó là sắp lộn chữ, cái đó người in cũng có. Nhưng mà cái đó chữ nghĩa, không nghĩa lý gì. Mà thực hành, chúng ta, cái núi của chúng ta là ngay chỗ khối óc này, nhiều núi lắm: cái tiểu thiên địa có chỉ rõ cho các bạn thấy, cái núi, khi mà các bạn nhắm mắt thấy bay là đà đi tới núi này núi nọ là ở trên này, đó; núi này núi nọ, Núi Tu Di. Đó! Cái hào quang nó bao trùm hết thẩy. Nhưng mà cái núi Tu Di này có thể nói về cái càn khôn, chớ không phải cái núi ở bên Tầu đâu! (Thầy chỉ trên đầu) Núi chỗ này; cái núi ở đây, đây là cái Sơn Đình; ở trong này là núi! Thấy không?
BĐ: Dạ.
THẦY: Cho nên, cái hào quang chúng ta bao. Cho nên, người tu, trong đó có nói rõ Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, nó mới đi lên trên, rồi nó mới bao, “Ấy sắc vàng bao trùm khắp cả,” cái tiểu thiên địa này.
BĐ: Dạ. Kính thưa Thầy, trong này sau đó có giải,
THẦY: Ừ.
BĐ: Nghĩa như thế này. “Chữ ‘Tu’ là râu mày,
THẦY: Ừ.
BĐ: Chữ ‘Vi’ là Vô Vi.
THẦY: Ừ.
BĐ: “Như ở trong mình ta có hào quang phát ra thấy sáng,”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Chúng ta rờ bắt không được, “
THẦY: Ừ.
BĐ: “Không (nghe không rõ) được; ý nghĩa không, mà có. Mầu sắc ấy tốt tươi không bao giờ hoại nát,”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Do nơi cục ngọc mâu ni châu của ta biến hoá ra hào quang ấy.”
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì, kính thưa Thầy, ở dưới này là, “Núi Tu Vi” có nghĩa là “Tu” là râu, và “Vi” là Vô Vi.
THẦY: Ừ. Thì nó cứ tuỳ theo cái chữ đó; tuỳ theo cái giai đoạn mà cắt nghĩa; kêu bằng, mượn danh từ mà để chỉ thanh điển, mà thôi.
BĐ: Dạ. Cảm ơn Thầy.
THẦY: Chớ không có gì hết.
BĐ: Thưa Thầy, câu hỏi thứ ba là câu hỏi phụ. Trong câu thơ ở trang 31 thì, “Công phu thuần thục lên bờ giác;” con tự cho là tạm hiểu ý nghĩa này;
THẦY: Ừ.
BĐ: “Đắc quả may ra vẫn kịp thì.”
THẦY: Ừ.
BĐ: Đã đắc quả rồi mà còn, “May ra”?
THẦY: Đắc quả thì may ra vẫn kịp thì; là tới đó mình được đi rồi! Mà phải đắc quả cơ mới được; chớ tu tới đó mới có thấy nhẹ tưởng ta đắc đạo rồi; là trật rồi. Phải tu cho đắc quả mới là kịp thì. Phải cố gắng nữa. Cho nên, các bạn muốn xả thiến, tui nói, “Ngồi rang một chút nữa rồi mới xả thiền.”
THẦY: Chớ đừng có nói, “Tu vạy đủ rồi!” Không có đủ đâu. Hiểu không?
BĐ: Dạ.
THẦY: Thì chúng ta ở đây là cắt nghĩa về điển, cho nên danh từ là mượn thôi, chớ kỳ thật nói về điển không à! Khi mà các bạn ý thức là điển, là nó phải tròn vo; lúc nào cắt nghĩa nó cũng tròn vo hết.
BĐ: Dạ.
THẦY: Cho nên, giữ cái tròn và cái không đó,
BĐ: Dạ.
THẦY: Là các bạn hiểu nghĩa lý của Kinh Di Đà. Mà còn không hiểu điển á, đọc vô là nó bực tức.
BĐ: Dạ.
THẦY: Dùng cái trí thức mà đọc cái này là nó hư hết trọi; không được.
BĐ: Dạ.
THẦY: Dùng điển. Khi mà các bạn vô, bước vô là, “Tui ở điển giới, tui không còn thể xác nữa; tui nghĩ về điển giới; giớiđiển nó tròn, không bị đứt và không bị mất.” Thì lúc đó tui cắt nghĩa mới rõ ràng, dễ hơn. Lấy cái Không trước; dễ hiểu và dễ nhận.
BĐ: Dạ.
THẦY: Còn lấy cái trí thức mà xét về văn tự á, là không được; không hiểu ông này ổng nói cái gì. Nhưng mà kỳ thật ổng nói từ trang một; các bạn phải theo rõi từ câu trên, câu dưới; mà ngồi, mình nghiền ngẫm, cứ đọc và nghiền ngẫm, nó chạy vô, nó chạy vô trong mình; nó chạy; nhiều bạn đọc một chập nó thấy nó, nó, nó rần rần cái đầu, nó thét nó thấy nó buồn ngủ. Đọc một chập nó buồn ngủ á; nó rút à. Đó là cái điển đó; chứng minh cái điển, chớ không phải cái văn tự; văn tự này không nghĩa lý gì. Ổng chỉ mượn như cây gậy để đề ra mà thôi; còn luồng điển trật tự từ ở trên xuống; rất có trật tự; và nếu chúng ta thanh là chúng ta thấy cái đầu nó sáng; và đọc cái này nó thấy càng sáng.
BĐ: Dạ. Con xin cảm ơn Thầy.
THẦY: Ừ.
BĐ: Và ở đây á, sau khi Thầy giảng, “Ma ha thập thích,”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Là gồm có ba tạng,”
THẦY: Ừ.
BĐ: Tạng tâm, tạng gan, và tạng thận. “Thì bởi thế, ‘Ma ha là tạng Tâm, tạng Gan, và tạng Thận.”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Thì bởi thế, dưới này chữ ‘Ma ha’ là thành ma.”
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì con kính xin Thầy giảng câu này mà có một người hỏi con, mà con không thể nào trả lời được.
THẦY: Ừ.
BĐ: Là, “Cao Đài Tiên Ông,”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Đại Bồ Tát, Ma Ha Tát.” Theo con nghĩ,
THẦY: Ừ.
BĐ: Đó là danh từ, gọi chung là “Thượng Đế.”
THẦY: Ừ, ừ.
BĐ: Nhưng mà, như vậy cái chữ, “Ma ha” này và chữ “Ma ha tát” bên kia, nó khác nhau như thế nào, thưa Thầy?
THẦY: Cái này nó khác. Cái này tui đã nói Anh rồi: mượn danh từ phân thanh trược.
BĐ: Dạ.
THẦY: Còn cái kia là khác: cái kia người ta giảng về Kinh, mà dùng cái tiếng âm thinh đó để dẫn tiến đệ tử đọc kinh để cái tâm được nhẹ. Còn cái này mượn cái đó mà phân thanh trược cho thấy. Cái bên kia khác ạ! Cái bên kia Anh phải đọc nghê ngha cho nó đẹp á! Cái câu Anh đọc, “Ma ha tát,” Anh cũng phải nhẹ nhàng đi theo cái điệu đó để cho mở tâm; bên kia cũng mượn mà lập thành cái văn từ để cho Anh đọc thành kinh, ngâm nga để giải cho cái tâm nhẹ, mà mọi người đứng xung quanh nghe cũng nhẹ nữa, rồi bắt trước đọc theo; là đọc kinh nó vậy đó! Còn cái đằng này khác: cái này mượn cái này mà mổ sẻ cái lý điển; cái lý điển khác ạ! Phân thanh, trược để thấy rõ. Mà mở cái lý điển, nó khác. Cho nên, khi Anh tu mà thanh nhẹ rồi, Anh đọc mới thấy rõ cái lý điển nó đang chạy trong tâm can của Anh; thấy ba giới quan trọng. Mà thanh tịnh đương đọc rồi mới thấy, “Ba cái này quan trọng!” Rồi dòm lên cả càn khôn vũ trụ, cũng ba cái đó quan trọng! Rồi nhân gian đều ba cái đó là quan trọng. Thấy không? Rồi cái giới ma cũng quan trọng chớ không phải không quan trọng: có trựơc, có thanh; rất rõ ràng. Đó, rồi lúc đó chúng ta mới thức trọn vẹn của chơn lý; nhờ cái đó mà chúng ta thức trọn vẹn chơn lý.
BĐ: Dạ.
THẦY: À. Còn chấp cái này, bỏ cái kia là không, không thức; bởi vì luồng điển nó phải tròn; mà Anh cứ đi tới trong điển là nó phải tròn. Ờ; còn cái đằng kia là phải sắp, nếu mà Anh trật một chữ là cái kinh nó không có nghĩa lý; mà đọc nó không có hay; người ta đọc người ta phải ngâm nga cơ mà; mà mọi ngừơi ngồi xung quanh mà thắp nhang, mà rồi đánh chuông lên, ai nghe cũng nhẹ hết; mà nhẹ trong thời đó thôi; trở về không được nhẹ. Còn cái này mình hành từ trong cái nặng mà mình đạt tới cái nhẹ, thì mình tiến tới cái điển giới, thì cái lý của mình nó sáng hơn. Còn cái kia nó phải mất sau cái thời kinh. Còn ở đây nó sẽ còn, mà khai triển hơn nữa sau thời công phu. Hai bên khác nhau.
BĐ: Dạ. Con kính xin cảm ơn Thầy.
THẦY: Ừ.
BĐ: Đó là những câu hỏi con có.
THẦY: Ừ.
BĐ: Dạ, xin hết.
THẦY: Cho nên tui đã nói đọc kinh A Di Đà là để những người tu có điển mới đọc; nhưng mà ngày hôm nay đem ra dậy cái này là mục đích muốn dậy cho những người sơ căn nữa, và những người tu lâu nữa, hiểu cái nguyên ý của “Nam Mô A Di Đà Phật;” rồi học thêm một phần lý giải của Đức Di Đà mà phổ hoá trong cái điển. Mà đối với những người có điển á, thì cảm thấy cái đầu nó nhẹ nhàng lắm, thấy sung sướng khi nghe được băng giải qua âm thinh của tôi. Rồi đối với những người trí thức, học văn, thì họ nghe họ không chịu, bởi vì họ đâu có biết điển giới là cái gì; họ nghe, không chịu, “Nó khó chịu quá!” Cho nên tui phải pha chế thêm một phần về trí thức: ví dụ này, ví dụ kia, ví dụ nọ, để phần trí thức cũng lần lần sẽ am hiểu và thấy rõ nguyên căn của mình đang trụ trong điển giới của cơ hình; cơ hình của con người trí thức mà không có điển thì khối óc không có sáng lạn; phải có điển là Tinh, Khí, Thần. À; phải có cái phần đó mới minh được lý thuyết và học lý thuyết. Đó.
BĐ: Dạ.
THẦY: Cho nên, ngồi đây mà cắt nghĩa về cái Kinh A Di Đà nó nhiều chuyện khó, là nó đòi hỏi từ cái người không biết gì, và người trí thức, và người có điển, và người mập mờ trong điển; phải cắt nghĩa. Cho nên các bạn, rồi đây các bạn sẽ nghe lại cuốn băng tui đều cũng có phần hết, cho người nào có phần, nghe, hiểu, nhưng mà chưa rớ tới. Rồi hành, lúc đó rớ tới, mới thấy rằng, “Ổng đã lo cho mình, và cắt nghĩa rất rõ ràng!”
BĐ: Dạ.
THẦY: Khi mà trình độ đi tới thì các bạn ngồi nghe thấy rồi; nửa đêm các bạn cứ ngồi vặn băng đi, nghe đi, nó đi tới đâu các bạn nghe thấy rồi; thấy có; thấy cái phần điển nó làm cho mình được nhẹ chỗ nào; tâm mình đang bấn loạn mà nghe qua những cái lời giảng dậy như thế này, giảng giải như thế này, mình thấy cái tâm mình nó nhẹ rồi. Thì cái gì làm mình nhẹ? Phải lời nói? Không phải! Cái điển; cái âm thinh đó nó có cái điển; mà cái điển trùng hợp với cái điển của mình nó mới rút đi lên. Cho nên, Vô Vi là rút ra chớ không có ép xuống.
BĐ: Dạ.
THẦY: Ép xuống nó khác! Không có ép xuống. Ép xuống là nó ra một tràng uy nghi, xưng danh “Thượng Đế,” uy nghi, đặt những câu thơ uy nghi, mọi người phải trầm lặng hết để nghe những sự uy nghi đó; thành ra chính nó không phát triển và không đứng lên được; chỉ nghe thôi; ở hiền vậy thôi. Còn cái này, không; cái này đi đến để tìm ra chơn lý. Mà trước hết muốn đi đến á, phải giải toả cái trược khí, mà tìm thanh khí, rồi trở về với trược điển, thanh điển; lúc đó mới minh được cái đạo pháp. Cho nên chúng ta đi tắt là Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định; là để chi? Làm việc ở bên trong; không có làm việc bên ngoài. Soi Hồn là làm việc bên trong đó: khai mở cái trược ở bên trong và lưu cái thanh ở bên trong. Làm Pháp Luân Thường Chuyển thì khai, giải cái trược ở bên trong và lưu cái thanh ở bên trong. Thì “Lưỡng nghi hợp nhứt,” nó mới thành ra ánh sáng của đạo vàng trong nội tâm. Thì chúng ta có hành cái này, dễ hiểu; cắt nghĩa ra, biết. Còn có ai có gì thắc mắc nữa không?
BĐ: Dạ kính thưa Thầy, dạ từ lâu con nghe Thầy nói trong một cuốn băng,
THẦY: Ừ?
BĐ: Là anh em bạn đạo ở Canada sáng nào cũng lo uống lít nước, rồi nằm thở, rồi sau đó ăn uống thì tính sau,
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì con cũng được lời khuyên tu của anh Phước cũng khuyên uống nước,
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì con cũng uống; sang nào con cũng uống vậy. Dạ, thì cũng lâu lắm rồi. Sáng nay thì gặp một số anh em bạn đạo, chẳng hạn như anh Hữu, với một người nữa, nói rằng ảnh uống có 21 ngày, Thầy khuyên uống có 21 ngày; con không biết làm sao; tại vì trong cuốn băng Thầy nói ở Canada đó, Thầy nói uống như vậy, nằm thở để lọc hạ giới; mà nó cũng lâu lắm.
THẦY: Ừ.
BĐ: Mà nay con nghe anh em họ nói Thầy khuyên uống có 21 ngày thôi; con rất thắc mắc không biết làm sao?
THẦY: Cho nên cái đó tôi đã in ra giấy tờ, uống 21 ngày. Cho nên tui kêu mỗi buổi sáng uống nước; trong cái giấy, có đề cái đó. Uống 21 ngày, rồi mình nghỉ. Rồi một thời gian mình uống lại. Mà có nhiều người uống liên tục cũng không có sao. Tuổi trẻ uống liên tục không có sao; nó giải nhiệt; có gì đâu.
BĐ: Dạ.
THẦY: Sợ mấy người già người ta uống (cười) nhiều quá nó hàn bao tử. Chớ ở trong đó người ta có đề bao nhiêu ngày, bao nhiêu ngày; có đề hết. Chớ đâu có gì. Mà nhiều người người ta uống luôn à! Có nhiều người người ta uống tới mấy năm trời, đâu có sao.
BĐ: Dạ, con cũng uống trên một năm rồi.
THẦY: (cười) Tuổi trẻ, đâu có sao! Nó giải nhiệt. Không có ăn đồ nó bị lở miệng đồ, vậy thôi; thanh niên mà!
BĐ: Thưa Thầy, nếu mà uống 21 ngày rồi nghỉ đó,
THẦY: Ừ.
BĐ: Thì cái thời gian uống lại thì chừng bao lâu uống lại lần nữa, Thầy?
THẦY: Thì, mình thấy mình thích thì mình uống lại. Bởi vì nếu mà cái miệng mình ăn phức tạp, đồ chiên, đồ nhậu nhiều quá thì mình phải uống.
BĐ: Dạ.
THẦY: Còn bình thường mình ăn đồ mà mát thì thôi, mình đâu có cần uống. Nó điều hoà thôi.
BĐ: Dạ.
THẦY: Ờ. Còn nếu mà ăn đồ nhiều quá, ăn tiệc tùng nhiều quá, ăn mỡ đồ nhiều, mình uống, lọc. Cái đó là lọc, cũng như rửa nhà; không có gì đâu. Mà uống mỗi lần phải uống 21 ngày;
BĐ: Dạ.
THẦY: Rồi ngưng.
BĐ: Cảm ơn thầy.
THẦY: Dạ.
BĐ: Kính thưa Thầy,
THẦY: Ừ.
BĐ: Trong cái phần nói về phần hồn thì, “Khi mà hồn đã được tự do luyện đạo theo Pháp Lý công phu, thì hồn này mới gọi lục căn lục trần cùng vía lại mà nói rằng,”
THẦY: Ừ.
BĐ: “Hôm nay ta chào các ngươi, Lục Căn Lục Trần cùng Vía nghe theo ta phán, và chúng ngươi phải biết mấy câu kệ của ta, ‘Đố ai có biết lão là ai? Vi phạm Thiên Nhan phải bị đầy.’” Vậy trong phần này, con thắc mắc vì cái phần hồn đã phạm những tội gì mà bị đầy?
THẦY: Phạm chớ! Không phạm, sao bị Lục Căn Lục Trần nó sai khiến? Liệng một cái, “Ạch” xuống cơ mà! Bây giờ xuống đây các bạn đang phạm tội đó chớ các Bạn không phạm tội thì các bạn đi ra đi vô dễ dãi rồi. Bị bao vây bởi Lục Căn Lục Trần, nó sai khiến, tánh ý nó điều khiển mình, nó làm cho mình bực bội. Bị tội mới bị giam ở trong cái tiểu thiên địa này; cái tiểu thiên địa này là cái khám mà! Mà từ ngày thức giác rồi thì bề trên chư Phật chiếu cho, mình mới tỉnh giậy, mình mới thấy rằng, “À, các ngươi phải nghe lời ta!” Thì ông Chủ Nhân Ông ổng tu rồi. Phạm tội nhiều lắm chớ! Nhiều tội lắm: cướp của, giết người, đủ thứ; luân hồi ở tù biết bao nhiêu kiếp, ngày nay mới được ngồi đây. Mà chưa xong, chưa thấy rõ mình;
BĐ: Dạ,
THẦY: Chưa biết mình tiền kiếp làm cái gì.
BĐ: Dạ,
THẦY: Không phải người hiền đâu.
BĐ: Dạ,
THẦY: Ác lắm đó! Ăn gì cho thiệt ngon, nấu gì cho thiệt chín; đủ thứ muốn không à! Tội nặng lắm. Cho nên tui nói rằng, “Chúng ta là một tội hồn chưa hoàn tất.” Còn đang ở trong cái xác này chưa biết bữa nào xẩy ra đại nạn. Cho nên chỉ có tu, tháo gỡ lần lần, tu thì Bề Trên xoá liền, mà chúng ta cứ tháo gỡ, nay một chút, mai một chút thì không có bị tội. Bịnh là tội đó; nhiều cái bịnh nặng lắm: bị tội đó! Mà không hay; tưởng “Tôi ở hiền.” Tội nặng lắm; từ tiền kiếp, tội nặng lắm. Bây giờ phải chịu, mà để có cơ hội thức tâm ăn năn hối cải lo tu.
BĐ: Thưa Thầy, cái ý con là cái phạm tội này là phạm tội ở trên Thiên Đình?
THẦY: Phạm tội Thiên Đình đó; bởi vì Thiên Đình gởi xuống thế gian để làm việc, mà xuống đây, nghĩa là, enjoy, hưởng thụ. Tội đó! Tham dục; tạo nghiệp. Tội đó!
BĐ: Như vậy là từ trên thiên đình không có bị tội, mà chỉ vì giao cái nhiệm vụ,
THẦY: Chớ sao! Là chứng minh là phần hồn không phải ở thế gian tạo, cái câu này đó!
BĐ: Dạ,
THẦY: Phần hồn này là tội, cái người vô tội mà xuống đây làm nhiệm vụ, mà không tròn nhiệm vụ, thành tội. Tạo nghiệp đó! Chớ đừng có nói, “Tui coi hồ sơ toà án, tui không có tội!” Có tội!
BĐ: Dạ,
THẦY: Có tội mới không thấy rõ mình! (cười)
BĐ: Nếu mà có tội ở trên Thiên Đình, vậy thì ở trên Thiên Đình cũng có luật pháp; vậy cái luật pháp ở trên Thiên Đình là sao, Thầy?
THẦY: Luật pháp ở trên Thiên Đình là kêu bằng, “Cứu độ quần sanh.” Luật pháp ở trên Thiên Đình là phải lo tu tịnh chơn chánh, chuyên cần chơn chánh, chớ không có làm bậy bạ. Mà xuống thế gian rồi, người ta bợ lên cái, ham, thích, làm bậy; cho nên sanh tội. Nội cái tình dục không này, cũng tạo biết bao nhiêu tội không!
BĐ: Dạ,
THẦY: Mình đẻ một mớ con, rồi mình cưng con, rồi đánh nước này, đánh nước kia, đánh nước nọ, rồi tạo tội; cứ cuống cuồng luân hồi tại thế mãi mãi; mà không có giải thoát được. Mà trước kia là một vị tiên rõ ràng! Cho nên, quý vị mà tu giải thoát, tu về cái pháp này, thì con ma nó nói, “Chư tiên đó chớ!” Nó thấy rõ chư tiên! Mà chư tiên phạm tội, phải mang xác phàm! Chớ đâu có phải, đâu có phải tầm thường đâu.
BĐ: Dạ,
THẦY: Bất cứ kinh kệ nào cũng xác nhận là phần hồn ở đây không có thể chế tạo được mà! Từ ở trên xuống! Tại sao? Bây giờ Anh, nói về Bồng Lai Tiên Cảnh, cảnh đẹp, Anh thích không? Thích chớ! Sạch sẽ, Anh thích không? Vốn Anh chỗ đó! Thơm tho Anh thích không? Vốn Anh ở chỗ đó, Anh phải thích chỗ đó! Nhưng mà chưa về được, vì ta đang bị ôm bởi sự trần trược; và sự trần trược đang bao vây chúng ta.
BĐ: Dạ,
THẦY: Cho nên chúng ta mượn cái kỹ thuật tu để tháo gỡ sự trần trược, trở về sự thanh cao. Cho nên từ ngày tu, chưa tu thì mình ăn nói hung hăng; tu rồi, tự nhiên mình xuất ngôn hiền lành. Nó đi tới nhẹ rồi đó! Mà tu rồi, mình thấy mình thương tất cả mọi người: nó nhẹ rồi; quý tất cả mọi người; là mình thấy mình nhẹ rồi;
BĐ: Dạ,
THẦY: Rồi mình đối với những người mà chưa biết tu á, họ muốn hơn thua, họ muốn chèn ép người khác. Còn mình không có cái ý chèn ép một ai hết. Mình có cái ý xây dựng. Thì mình thấy mình bước được một bước, tiến tới một giai đoạn nhẹ rồi.
BĐ: Dạ,
THẦY: Mới thấy rõ, “Ta không phải là người ở đây!” Cho nên, càng tu càng thấy cái quyền năng tha thứ và thương yêu của chính mình, mới học từ bi được; biết tha thứ, biết thương yêu mới học từ bi và thực hiện từ bi được.
BĐ: Dạ,
THẦY: Chớ Anh tưởng Anh là ông gì ở đây? Ông tiên đó chớ! Ông tiên (cười) giáng trần mà bị kẹt tới bây giờ; đi không được. Phải không?
BĐ: Dạ,
THẦY: Đi đâu bị khối trược nó cứ bám theo. Cái xác Anh là khối trược chớ gì nữa? “Ma nhứt trượng, phật nhứt xích.” Nó cứ bám theo à! (b/đ cười) Nó không có thả ổng đâu! Chừng nào mà Ông lo cho nó đầy đủ rồi, nó thả. Nó thức tâm hết rồi, tự nhiên mình muốn đi đâu mình đi. Lúc đó là sống nó nhàn hạ rồi. Cho nên, mình tu là nó phải có cái giá trị ở chỗ đó.
BĐ: Dạ,
THẦY: Mới thấy rõ nhiệm vụ. Lúc đó mới quỳ trước mặt Thượng Đế mà khóc lóc và xin lỗi; là hứa, trước khi xuống thế gian đã hứa với Ngài làm cái gì, nhưng mà bây giờ không chịu làm! Ăn, đi chơi bời! Trước, tui cũng bị; tui quỳ gần nửa ngày với Ổng mà tui khóc;
BĐ: Dạ,
THẦY: Bởi vì trước đây mình nhớ và mình hứa đi xuống đây làm cái gì. Xuống đây chỉ đi chơi! Không làm cái gì hết!
BĐ: Dạ,
THẦY: Sau, trở về gặp được, là khóc. Mình thấy mình sai lầm!
BĐ: Dạ,
THẦY: Bây giờ mình phải ăn năn lo tu, lo cứu mình để độ tha.
BĐ: Dạ,
THẦY: Cho nên dốc long tu. Cho nên, các Bạn ra đây các bạn sẽ gặp à, hễ đi lên được là lẩn quẩn lẩn quẩn đi chơi; thấy cái nhà đẹp lẩn quẩn đi chơi; rồi nó hút vô đó là ứ hơi! Nhắc lại cái tuồng cũ, thấy mình đứng đó, “Trước khi đi mày hứa gì; bây giờ mày làm sao;” hiện ra hết! “Bây giờ mày đi đâu?” Khóc nửa ngày mà!
BĐ: Dạ,
THẦY: Những anh hùng này kia, kia nọ, mà lên tới đó, thôi, khóc; không có nói được cái câu gì hết. Chỉ quỳ ở đó thôi!
BĐ: Dạ,
THẦY: Cho nên, tới trước mặt Thượng Đế là chỉ có quỳ và không có được nói cái gì hết. Chắc chắn là mình có lỗi. Một triệu phần trăm là mình có lỗi; không có nói được cái gì hết.
BĐ: Dạ,
THẦY: Ở thế gian sai Thượng Đế, chê Thượng Đế, này kia kia nọ chớ, đi lên trên đó rồi sẽ biết! Cái hào quang Ngài chiếu một cái rồi, bẩy mươi hai diệu tướng của Ngài chiếu một cái rồi đó là chỉ có khai thôi à! Không có đánh đập!
BĐ: Dạ,
THẦY: Cho nên, các bạn tu thanh nhẹ rồi, những người phàm ở thế gian mà quen bạn rồi, tự nó khai hết trọi hết công chuyện của nó cho bạn nghe. Bạn thấy cái điển nó thế nào. Cái điển của mình là người phàm tu luyện được mà đối phương nó còn khai; hỏi chớ, ông Thượng Đế còn cách nào? Tự nhiên trong ruột gan mình phải được phơi bầy hết trọi rồi; tự nhiên khai hết.
BĐ: Dạ,
THẦY: Khi xuống tới diêm Vương cũng khai hết à; bởi vì ông đó ổng thế Thượng Đế mà! Mà ông đó là ổng cứu! Ông Diêm Vương đó, ổng không có ác đâu; ổng cho mình ở tù đó rồi xong rồi mình ăn năn hối cải mình mới được luân hồi trở lại. Biết được Địa Ngục là ông Diêm Vương là người tốt, không phải người xấu; mà ổng giữ luật công bằng.
BĐ: Dạ,
THẦY: Khi anh luân hồi rồi Anh trở lại, Anh chết rồi Anh trở lại thế gian, Anh xin cái gì ổng cho cái nấy: cho theo ý muốn của mình!
BĐ: Dạ,
THẦY: Mình muốn sung sướng, ổng cho sung sướng: làm con heo sung sướng nhứt: người ta nấu, mình ăn; rồi mìnhphải hy sinh! Sung sướng nhứt rồi! Phải không? Xin cái gì, cho cái nấy.
BĐ: Dạ,
THẦY: Đó; cho nên ở thế gian hay muốn lắm, “À, tui muốn có cái này, tui muốn có cái kia!” Tui tu, bây giờ tui không giám muốn. Tui có giám muốn đâu! Hỏi con Bê, nó ở gần một bên mà tui đâu có giám mà, “Ờ, Con cho Ba xin” cái gì; không gíam đâu! Chừng nào nó cho thì tui ăn; không cho thì thôi. (cười) Sợ lắm; dễ làm tội lắm!
Đoạn này có câu nói của bạn đạo: “Có cái nón đội cũng mất tiêu”.
Ờ, mắc tiêu cũng không giám kêu nó! Nó ở bên phòng chớ đâu! Tui đâu có giám kêu.
BĐ: (b/đ cười)
THẦY: Thôi, không có thôi, ráng chịu. Nó không cho! (b/đ cười) Mình ráng chịu. Nó, nó, nó khoẻ quá thành ra ngủ không được; nó mát cái chỗ này á, nó không ngủ đước; nó khoẻ quá không có cái gì, thì cũng không giám qua đó kêu. Cho nên, nhiều khi nửa đêm tui lụi cụi tui giậy tui làm việc, rồi nó thấy tội, nó qua giúp. Hồi trước chị thanh Nguyên hay là chị Truyền cũng vậy. Tui không có giám kêu một người nào. Không có, “A, mày phải làm cho tao cái này.” Không! Tui dậy tui đánh máy; rồi mấy người nghe cốc cốc cốc cốc, tội nghiệp, qua nói, “Thôi, để tui đánh máy; Ông ngồi Ông nói đi. Ờ.” Phát tâm làm thì tui chịu. Còn sai người ta, tui không chịu. Tui làm cas đêm không à! Một, 2 giờ khuya là tui giậy tui đánh máy rồi. Thành ra bữa hôm tới đó, thì qua bà này ngủ bên phòng đó rồi; tính qua làm việc mà thấy hai người ngủ, mình không giám; phải tôn trọng họ; trở về phòng (Thầy và b/đ cười) Không giám. Ờ; chớ giờ đó là giờ tui làm việc đó; tui phải đánh máy thơ từ. Cho nên, không giám động ai hết. Càng biết luật á, thì phải càng đi đúng đèn xanh, đèn đỏ, hơn. Càng không biết luật á, thì dòm không có xe chạy lên chạy xuống, mình chạy ngang! (Thầy và b/đ cười) Phải không?
BĐ: Dạ! (Thầy và b/đ cười)
THẦY: Càng quen ông lớn chừng nào á, lại càng phải giữ luật chừng nấy. Chớ nói, “Tui quen ông Thượng Đế, tui muốn làm gì thì làm!” Đâu có được! Tội còn nặng gấp triệu người không biết Thượng Đế.
BĐ: Dạ!
THẦY: Nó không phải giỡn đâu! Cho nên, cái tinh thần cứu độ, tuyệt đối phải giữ. Nếu mà quen được Thượng Đế, tin Thượng Đế, cái tinh thần cứu độ và hy sinh phải trọn vẹn mới được chứng minh. Còn tinh thần cứu độ phục vụ mà thiếu sót á, không bao giờ Thượng Đế chứng minh! [28:32]
Hết video ID=19860101L2 – Vấn đạo (3)
Bắt đầu video ID=19860101L2 – Vấn đạo (4)
Rồi, ai có gì thắc mắc nữa?
BĐ: Dạ, thưa Thầy, trong cái phần đó, con vẫn còn có một cái thắc mắc.
THẦY: Rồi, Anh nói tới!
BĐ: Là thế này:
THẦY: Rồi!
BĐ: Mỗi một con người ở trên trái đất này coi như là một tiểu thượng đế,
THẦY: Ừ.
BĐ: Bây giờ ở đây, “Ông hồn,” đây là nói chung cả loài người, hay là một cá nhân?
THẦY: “Ông hồn,” tiểu hồn, là của cá nhân; mà đại hồn là cả loài người.
BĐ: Như vậy ở đây, trong cái cuốn sách này dùng chữ, “Ông hồn,” đây là đại hồn, hay là tiểu hồn?
THẦY: Tiểu hồn.
BĐ: Tiểu hồn?
THẦY: Ông hồn; tiểu hồn.
BĐ: Như vậy, nếu tiểu hồn,
THẦY: Ừ.
BĐ: Coi như là lúc trước tiên là ở trên Thiên Đình,
THẦY: Ừ.
BĐ: Mà nhận nhiệm vụ của Thượng Đế xuống đây để làm việc,
THẦY: Ừ.
BĐ: Nhưng không làm tròn, mà mệ trần,
THẦY: Ừ.
BĐ: Không trở về, thành ra đắc tội.
THẦY: Ừ.
BĐ: Như vậy thì bây giờ trên cái đất này có hàng tỷ tỷ người, tức là có hàng tỷ tỷ tiểu hồn,
THẦY: Ừ.
BĐ: Như vậy họ nhận cái nhiệm vụ gì từ Thượng Đế xuống đây,
THẦY: Ừ.
BĐ: Mà từ tỷ tỷ tiểu hồn?
THẦY: Ừ. Thì có; có nhiệm vụ hết trọi; chớ nếu không có nhiệm vụ, ai xây nhà cho Anh ở đây này?
BĐ: Dạ!
THẦY: Ai làm xe hơi cho Anh đi? Ai may áo cho Anh mặc? Mỗi người nó có cái nhiệm vụ. Rồi còn cái nhiệm vụ mà đối với Thượng Đế, nhiệm vụ hy sinh và cứu độ. Nhưng mà nó không hy sinh; nó vụ lợi; nó mang tội.
BĐ: Dạ.
THẦY: Nó chỉ lo cho cá nhân nó thôi, nó không cần biết người khác. Rồi nó còn hạ lịnh giết người khác nữa; hại người ta; đốt nhà người ta; giết vợ giết con người ta. Cái đó nó có tội chớ.
BĐ: Dạ!
THẦY: Anh thấy không? Thấy nó ăn bận ngon lành, đi xe hơi, nhưng mà cái tâm của nó ác lắm. Về buôn bán cũng vậy: “Làm cho nó xập đi; cho tán gia bại sản đi; giết hết cả gia đình nó,” nó mới chịu. Có chớ! Có tội chớ, sao không có tội? Chớ mỗi một cái tội khác nhau! Cho nên, Anh có thời giờ Anh đọc cái “Địa Ngục Du Ký” Anh thấy cái tội, có chớ. Không có, lấy gì giam, lấy gì xử?
BĐ: Dạ!
THẦY: Mà chính mình cũng có tội, mà chưa tới lúc xử đó chớ! Không nhiều thì ít mình cũng có tội; chưa đến lúc xử mình; xử rồi thì mình khai; hồ sơ nắm vững ở đó chớ đâu có bỏ được!
BĐ: Những cái người ở trên Thiên Đình, nếu mình muốn bước vào Thiên Đình đó, thì phải thật thanh nhẹ?
THẦY: Chớ sao?
BĐ: Và taị sao đã đạt được như vậy rồi, lên Thiên Đình lại còn mang những cái trần trược đó để rồi phạm tội đối với lại Thượng Đế để rồi bị đầy xuống đây?
BĐ: Những người mà phạm tội ở thế gian mà được lên Thiên Đình rồi đó, không có giám tái phạm đâu. Cho nên, cho nó học một khoá ở thế gian rồi, nó lên đó nó mới chịu cộng tác với Thượng Đế; mà chỉ thừa lệnh của Thượng Đế mà thôi. Cho nên, nhiều người ở thế gian tu phước, thành thần; cứ làm ông thổ thần hoài à! Tới đó rồi ông thượng Đế ổng cho làm việc là mừng quá rồi; ở đó làm ông thổ thần hoài! Bởi vì chức vụ của ông Thượng Đế không là an ninh đầy đủ, không có bị thất bại. Thành ra người ta không cần tiến; đó là người ta tu rồi; mà tu trong cái giới đó, giới thần; mà thực thi cái quyền năng của Thượng Đế để thức tâm loài người; và những người tà gian gặp Ngài phải kính nể và phải thức tâm. Đó là nằm trong cái ý của Thiên Ý!
BĐ: Dạ!
THẦY: Chớ đâu có trở lại đó rồi trở lại làm người; không! “Trước kia làm người; nay tui được làm vị tiên gia.” Đó; nhiều vị đã nói rồi, “Trước kia tui cũng làm người như các vị; vì tu tui mới được làm tiên gia!”
BĐ: Dạ!
THẦY: “Trước kia tui là một người phàm, ngày nay tui là một vị phật, cũng nhờ tu.” Mà những người đó không có bị trở lộn lại. Mà những người từ ở trên đó mà tách rời bởi Thượng Đế, rồi thấy nhẹ nhõm, chán; sung sướng quá, chán! Rồi dòm ở dưới thế gian này thấy nhiều người nó cần mình, rồi mình nhẩy xuống, cũng như là liến khỉ, xuống chọc chơi! À, chọc thét rồi này kia kia nọ, rồi gá duyên, rồi cái ở lại, bị kẹt luôn! Rồi hoá hoá, sanh sanh; bị kẹt rồi sanh ra ác ý. Nó không ngờ thế gian mà động loạn cho đến nỗi phải chém giết; thì lúc đó những người đó phải lấy cái trí thông minh của họ tạo bùa, tạo phép. Cho nên bùa phép đem xuống thế gian để giết người. Những cái khí giới đó ngay ở Nam Vang, ở Lào, đã xử dụng rất nhiều; ở Thái bây giờ cũng vậy nữa. Đâu có cần súng ống.
BĐ: Dạ!
THẦY: Nó giết cả gia đình người ta! Nó biết tên tuổi của Anh, rồi nó làm chú, bùa chú, mỗi đêm nó mỗi tụng, mỗi làm cho Anh đau chỗ này, đau chỗ nọ. Tui có một người bạn ở Việt Nam, chia gia tài anh em mà không xong, rồi mấy anh em đó, nó ôm hết của người ta, rồi mấy anh em giận, đi qua Thái cầu bùa; bùa mà bên Thái, khi tới giờ mà người ta cúng đó, người ta đánh một cái chuông, đánh cái “Bùm,” mà là cái ngực nghe cái “Bục” liền, nó nhào lăn ra. Con một Hán gian của người Tầu ngày xưa đó, giầu có lắm, ở Việt Nam đó, mà nó không có cách gì chữa hết. Xuống gặp Ông Tư, Ông Tư cũng nói, “Không; vì Bạn quá tham, Bạn phải trả cái của lại cho anh em, thì cái bùa đó mới không có hiệu nghiệm.” Mà đúng giờ á, đúng 11, 12 giờ á, là bên kia người ta cúng lên cái người ta đánh cái, “Bùng!” là ngực nó nghe cái trống lớn lắm, nó phải nhào xuống. Mà nói gì nói, nó cũng nhứt định không chịu. Bây giờ không biết ra làm sao; tui không hiểu. Rồi cái, nó muốn tu cái pháp này. Ông Tư nói, “Tu cái Pháp này mà không bỏ cái đó thì tu không được! Bởi vì Bạn ôm cái này và muốn tu cái pháp kia để giải; giải cái gì? Ôm cái này, làm sao giải được? Của thì Bạn không giải, mà bùa thì nó bám Bạn, nó đánh Bạn. Không cách nào cứu được!”
BĐ: Dạ!
THẦY: Cho nên, những vị tiên xuống trần đểlàm nhiều điều tốt cho thế gian, nhưng mà những người đó đem ra bán mà ăn, thành ra mang tội nhiều lắm. Ngay cả bên Tầu là nhiều nhứt: những vị tiên xuống, làm sách bói đồ này kia kia nọ, rồi đè đầu người ta lấy tiền. Những vị đó bị hết. Chớ trước tiên là ở bên Tầu; như đệ tử của Lưu Bá Ôn đồ, nhiều lắm, biết quá khứ, biết vị lai đồ, biết nhiều lắm. Nhưng mà làm bậy hết!
BĐ: Dạ!
THẦY: Thành ra bị. Không có mấy người chơn đâu! Xuống trần bị hết. Cho nên, hỏi, hồi trước, Trung Hoa có phải tự do không? Sung sướng không? Hưởng thụ! Nhưng mà vì quá thái cho nên bị xụp đổ. Cũng kể cả Việt Nam nữa cũng vậy: hồi đó cũng tự do, nhưng mà quá thái: năm thê bẩy thiếp, nhà lầu, tùm lum. Không kể thằng dân! Thì phải bị đoạ. Cũng một vị tiên vậy! Xuống trần để độ tha, nhưng mà hại tha! Đâu có được! Thì phải bị đại nạn.
BĐ: Con xin cảm ơn Thầy.
BĐ: Kính thưa Thầy, qua sự giải đáp của Thầy về những vị tiên xuống trần bị mê trần, nhiễm trần, và bị đoạ. Vì các chư tiên xuống trần qua bào thai, mặc dù mục đích là xuống để cứu thế giúp cuộc sống của chúng sinh tốt đẹp hơn. Nhưng mà con, qua nhận xét của con, vì các vị đó xuống trần qua bào thai, xuống trần vì có (không nghe rõ) của người mẹ và người cha, thì mất dần cái tính cách tinh anh, do đó những sự nhận xét và phán xét những nhận thức lúc còn là vị tiên trên Thiên Đình xuống không còn sáng suốt nữa, thì vì cái sự nhiễm trược của những vị tiên xuống trần qua hình thức chào đời, lọt lòng từ người mẹ, thì do đó con thiết nghĩ rằng tại sao Thượng Đế cử người xuống mà để làm lu mờ tính linh anh luôn của những vị tiên xuống trần, để cho đến nỗi họ mê trần, vì họ không thức được? Như chúng con nghĩ, những vị tiên đó xuống có tính cách mất dần linh anh và sáng suốt, thì cái tội đó có phải chăng, có được nhẹ giảm đi chăng? Và có phải chăng rằng Thượng Đế có thể cách nào mà để làm khi xuống trần các vị tiên vẫn còn sáng suốt như ở trên Thiên Đường? Thì kết quả có tốt đẹp hơn chăng?
THẦY: Khi xuống trần, những vị tiên có tu thì vô trong một cái gia cang đạo đức. Đạo đức, cái gia đình đó đạo đức cho nên sanh ra có cơ hội ăn học; hồi xưa đó, học thông minh lắm, làm tới Thượng Thơ, làm quan lại; đâu có phải tầm thường. Vẫn còn sáng suốt; và cái ý nguyện của Ngài là cứu độ nhân dân; và thi thơ lưu loát, không có bị tắc nghẽn. Nhưng mà cư trần, nhiễm trần; ở thế gian quyền thế càng ngày càng bành trướng bao vây, hạnh hy sinh càng ngày càng mất, là do nhân dân ngu muội nhiều quá rồi phục vụ, đề cao vị đó, “Có một, không hai;” rồi giao hết trọn quyền ở trong tay. Thì Ngài cũng vẫn sáng suốt, sáng suốt để mà cai trị. Nhưng mà càng cai trị thì càng làm lợi cho chính cá nhân, và không biết cái cách chia sẻ và điêu luyện cho toàn dân tiến tới như mình. Cái lỗi đó là sai! Vì ở thế gian phong chức mà! Ông quan không có chơi với dân; ông quan khác, dân khác. Nó không chịu hoà đồng với dân.
BĐ: Dạ!
THẦY: Còn ông tiên xuống thế gian thì phải cho nó qua cái chỗ ô trược để nó thấy người dân nó bị nhập cái xác phàm là nó ở ô trược, và nó không bị ở cái gia đình nó nuôi nấng nó và cho đề cao nó, nó không có chịu hoà tan với cái giới ô trược, để nó đem cái phần sáng suốt dẫn người ta từ cái trược đi tới cái thanh. Đó.
BĐ: Dạ!
THẦY: Thành ra từ đó nó mới ô nhiễm; vì bưng bít, này kia, kia nọ, nó tạo ra cái tánh độc tài. Nó cũng thấy có sự sáng suốt của nó, vị sự sáng suốt của nó, ra một cái lệnh là tất cả mọi người phải nghe, nó có phải sáng suốt không?
BĐ: Dạ!
THẦY: Nó vẫn xử dụng sáng suốt. Mả cái sáng suốt đó lần lần, lần lần nó quên Thượng Đế, vì nó thấy nó đã tạo được một cảnh thiên đàng tại thế gian rồi, cho nó rồi. Cũng như Tần Thuỷ Hoàng đó, tạo được một cảnh cho nó rồi, không bao giờ chết, “Vạn Lý Trường Thành,” chận hết, không có ai tới được! Thấy nó ngon không? Sáng suốt nó bành trướng như vậy đó. Ngày hôm nay người ta còn đi thăm Vạn Lý Trường Thành, vì người ta không thấy rằng cái người đó nó thấy rằng nó đã bành trướng một cái sáng suốt tại thế; nhưng mà sáng suốt nó bị giới hạn.
BĐ: Dạ!
THẦY: Cho nên, lịch sủ lưu lại để cho chúng sanh thấy rằng sự bành trướng của một vị tiên ông đó bị giới hạn bởi Thượng Đế, vì cái mạng môn của y, tới thời kỳ, phải ly khai.
BĐ: Dạ.
THẦY: Thì nó làm được Vạn Lý Trường Thành, mà y không hưởng được Vạn Lý Trường Thành. Thì cái quyền đó ông trời nắm rồi. Y phải bị đoạ; y phải mang tội.
BĐ: Dạ.
THẦY: Còn nếu mà y làm như Thượng Đế, Thượng Đế tạo mặt trăng mặt trời chiếu cho chúng sanh, chiếu tất cả, không phải chiếu cho một người; tình thương của Thượng Đế ban cho tất cả, hơi thở của Thượng Đế ban cho tất cả, ở trong cái chỗ hôi thúi cũng như chổ thanh sạch; thì y không có bị xụp đổ.
BĐ: Dạ.
THẦY: Cho nên, những vị đó xuống thế gian làm thầy, đều thất bại hết. Không làm thầy, không làm tổ, nhưng mà làm bạn trao đổi, thì có quyền. Cho nên, tui luôn luôn tuyên bố với các bạn, “Tui là bạn đạo mà thôi; không phải thầy;” nhưng mà các bạn, vì cái thói xưa, hồi xưa, cứ kêu, “Thầy.” Nhưng mà tui cũng nói rằng “Các bạn đạo là thầy của tiểu thiên địa thì ‘Tao’ với ‘Mày,’ một thứ thôi,” để cho nó hiểu rõ cái nguyên lý là chúng ta bình đẳng trao đổi, để nghiên cứu để đi lên. Nó càng thân mật hơn, cởi mở hơn, và dễ dãi hơn.
BĐ: Dạ.
THẦY: Thấy rõ không? Để tránh những cái sai lầm mà chính chúng ta có thể tạo cho ta. Nếu bây giờ Bạn đề cao tui, mọi người đề cao tui, phục vụ cho tui, tui ham ăn, ham nhậu, ham chơi bời, các bạn cũng phục vụ luôn, thì tui chết. Phải không? Cái gì tui cũng giới hạn, Anh thấy không? Tui ăn 5 phút tới 10 phút là hết rồi; không có cho ăn nhiều; không có được tham lam. Phải quản lý như vậy. Chớ còn mấy ông kia á, ngồi chễm chệ, món này thưởng thức rồi tới món nọ, rồi ngồi, này kia, kia nọ, ăn một bữa ăn mấy tiếng đồng hồ. Tui, 5 tới 10 phút là hết rồi! Trễ lắm là 10 phút là phải xong bữa ăn chớ tui không có cho ăn nhiều nữa. Tụi dưới này không có làm được nhiều việc, cho chút đó thôi; êm; nó không có tham lam được; nó không có quá độ. Cho nên, tương lai các bạn có thành đạo cũng phải giới hạn.
.....[19860103Q1]
Hết Mp3 ID=19860103Q1
Video ID=19860101L2 – “Vấn đạo (4)” dừng ở phút 14:55
19860103Q2 Mp3
KHÓA HUẤN LUYỆN “KINH A DI ĐÀ - Vấn Đạo - Cuốn 7B
Tiếp tục Video ID=19860101L2 – “Vấn đạo (4)” từ phút 14:56
Mp3 19860103Q2 thiếu 4s so với video từ phút 14:56 đến 15:00
ĐT: Cái đó là cái phần quan trọng; đừng có ôm vô mà khổ, ôm vô mà tự đầy! Chớ nói, “Tui, bây giờ tui làm thầy, tui sướng lắm;” đồ, này kia, kia nọ. Không! Tui nói thiệt các bạn, tui ra đây tui chưa một ngày nào tui đi mua cái áo bận! Không giám nói; họ cho thì tui đeo tui bận, mà họ lấy thì chắc phải chịu ở truồng, không có nói gì nữa! (cười) Tui không có mua cái gì hết! Chuyện của chúng sanh; và chúng sanh nuôi dưỡng tui một ngày, tui làm việc cho chúng sanh một ngày, mà làm phải tận tình, tận tâm, chớ không có cái gì cho cá nhân tui hết.
BĐ1: Dạ, con xin kính cảm ơn Thầy, à, câu giải đáp đó.
ĐT: Ừ.
BĐ1: Và thưa Thầy, câu hỏi kế tiếp.
ĐT: Ừ.
BĐ1: Từ ngày Phật Thích Ca ra đời,
ĐT: Ừ.
BĐ1: Và Ngài đã dùng huệ nhãn nhìn rõ từ cái ngày, cho tới ngày mạt pháp là, một số là mấy ngàn năm. Thì kính thưa Thầy, biết rõ ràng thời hoằng Pháp cho tới ngày mạt Pháp là trải qua ba, ba thời. Như vậy, Thiên Đình đã rõ sự diễn tiến của thế gian theo luật Sinh, Trụ, Hoại, Diệt; thì trong thời gian đó trên Thiên Đình tiếp tục gởi những vị tiên, những vị phật xuống trần để cứu trần, cứu dân chúng, cứu chúng sanh; thì, kính thưa Thầy, vì là, Thượng Đế là đấng toàn năng và toàn giác, mà vẫn, mà vẫn để những vị xuống trần thất bại, và không thể làm cho chúng sanh vô minh thức được! Mặc dầu qua cuốn “Thượng Đế Giảng Chơn Lý,” con đã hiểu được phần nào;
ĐT: Ừ.
BĐ1: Thiên cơ thì chúng con không hiểu nổi, nhưng mà con tự hỏi là làm sao, bao nhiêu vị tiên xuống trần mà tiếp tục bị đoạ, tiếp tục bị đoạ; thì tại sao không đưa những vị có khả năng hơn xuống trần để đạt thành công; cũng như ở trong trần, nếu bổ một vị trưởng ty đó không có khả năng thì phải nhắm vị có khả năng hơn để mà người đó hoàn thành công tác?
ĐT: Ừ.
BĐ1: Kính thưa Thầy.
ĐT: Cho nên, Tam Giới là sắp đặt bởi Thượng Đế; mà Tam Giới á, ở thế gian còn có luật đi đường, mà Thượng Đế không có luật á thì không có ai kêu bằng, “Thượng Đế!” Tam Giới đều có luật: ở trên, đến lúc nào mới gởi xuống Trung Thiên; rồi Trung Thiên đến lúc nào mới gởi xuống thế gian, cõi âm. Đó. Thì để chi? Để qua sự điêu luyện. Mà vì chúng sanh hiện tại, ông Trời Ổng thấy con Ổng thức tâm chớ: hồi Ổng đẻ nó ra, sanh nó ra, có chút xíu à, có cục máu có chút xíu à, Ổng bỏ một giọt máu thôi; rồi lần lần nó thành cái hình thù có bây lớn; hồi trước nó không biết nói à, mà bây giờ nó biết nói; rồi nó không biết học hỏi, bây giờ nó biết học hỏi; nó không biết lấy vợ lấy con, nó không biết thay thế thiên hành đạo, nó không biết thế ông Trời để giữ luật hoá hoá, sanh sanh; bây giờ nó biết rồi. Ổng thấy nó đang tiến rồi; Ổng thấy nó đang tiến, nhưng mà luật lúc nào Ổng cũng sắp sẵn: “Mày làm bậy thì cho mày học bài nặng một chút;” chớ Ổng không có đoạ đâu. Nói “Đoạ” là mình ở thế gian thấy thằng đó nó xuống địa ngục đoạ, chớ thằng đó nó xuống địa ngục rồi, nó chịu tội rồi nó cũng luân hồi trở lộn lại.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Cho nên, mình thấy cái cơ cấu thiên cơ hoá hoá, sanh sanh biến chuyển vô cùng, là đều có sắp đặt hết! Cho nên, “Sai một ly, đi một dậm;” đi lâu hơn, nhưng mà cũng trở về được.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Anh thấy không?
BĐ1: Dạ.
ĐT: Thì những vị có khả năng, và những vị không có khả năng đều phải qua cái trường thi này. Hỏi, những vị có khả năng ở đâu? Bây giờ Anh đi vô quốc hội, Anh ứng cử Anh làm nghị sĩ đi; Anh học giỏi lắm, học chánh trị giỏi lắm, mà ứng cử kỳ nào nó cũng không có ai mà bỏ phiếu cho Anh hết đó! Mà cái thằng ngốc kia đó, nó mà học thi dở hơn Anh nhưng mà ra có người ta bỏ phiếu! Hỏi chớ, những vị tài giỏi xuống trần ở đâu? Những vị đó không có hiện trong xác thân; những vị đó chọn nhân tài cho thế gian: người đó nó ra, nó đứng u ơ nó nói tầm bậy tầm bạ, nó nói; cũng như hồi trước ông, ông, ông Carter ổng, ổng nói về Thượng Đế không à, mà ổng được làm tổng thống. Phải không?
BĐ1: Dạ.
ĐT: Còn nhiều ông nói rành về chánh trị hơn thua, không có ai bầu hết. Nhiều ông nghị sĩ nói không ra cái gì hết, người ta bầu ổng: là chư tiên người ta làm việc chung với cái khối này. Cho nên cái quần tiên hội là cái quốc hội; một quốc gia nào cũng có cái quần tiên hội; có cái quốc hội là quần tiên hội. Mà những vị có tài xuống thay Thượng Đế chọn.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Những vị đó thường có xuống cơ, xuống cơ bút ở Cao Đài; xuống; cầu là xuống. Những vị đó Thượng Đế chuyển xuống để làm, lập lại trật tự cho quả địa cầu.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Có chớ; có những vị rất có khả năng; mà những vị đó có khả năng, mà chọn những vị qua thể xác có khả năng, rồi có đạo đức, Ngài mới ứng chuyển phía sau đó để cho người đó được: ra, nói đâu có người ta tin đó. Anh thấy, cũng mắt, mũi, tai, miệng, cũng học trong lớp đó, mà cái ông đó ra nói người ta nghe, mà ông kia nói, không có người ta nghe.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Anh thấy không?
BĐ1: Dạ.
ĐT: Có hết; có người có khả năng xuống; không có khả năng, rồi trong cái cơn nhồi quả để dẫn tiến tới đạo pháp; đều có trật tự.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Cho nên, chúng ta ngu thiệt, nhưng mà kỳ thật chúng ta đã khôn thiệt: Hồi chúng ta ra đời chúng ta biết gì đâu? Ngày nay chúng ta biết tranh cãi và nói đạo pháp. Nhiều người nghe chúng ta khôn lắm; nhưng mà bây giờ chúng ta thấy đạo pháp rồi, chúng ta thấy cái biển rộng quá, chúng ta thấy vẫn còn ngu. Biết được ngu và chịu ngu người đó mới có tiến, có cơ hội học và có cơ hội tiến. Cho nên, chúng ta đang ở trong cái giới ngu; mà các Bạn đi lên tới cao cách mấy các Bạn cũng thấy các Bạn ngu. Các Bạn thấy rằng cái cơ cấu của Thượng Đế đã lập sự công bằng tiến hoá của tâm linh không ngừng nghỉ và rất có trật tự.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Chớ mình, người phàm, nói, “Ông Thượng Đế Ổng sanh người ta xuống đây làm chi? Sanh xuống đây làm con người, rồi gây lộn rồi này kia, kia nọ; rồi bữa sau Ổng xuống Ổng kêu nó về nguồn cội. Ổng làm gì mâu thuẫn vậy?” [07:48]
Video Video ID=19860101L2 – “Vấn đạo (4)” ngưng ở phút 22:35.
Video thiếu 34s so với Mp3 ID=19860103Q2 từ phút 07:48 đến 08:22
Không phải đâu. Ổng làm có trật tự: giờ nào Ổng xuống Ổng nhắc, và giờ nào Ổng thả trôi để cho mình tự đi. Thiếu gì người đã nghe lời Thượng Đế giảng; thiếu gì người đã biết rằng, “Ta đang sống với Thượng Đế;” nhưng mà bao giờ gặp được Thượng Đế? Chỉ có người thật sự tâm đạo mới thấy được, có sự tiếp xúc với Ngài được; mà nếu không có tinh tấn, không bao giờ tiếp xúc với Ngài được! Cho nên, chúng ta [08:22]
Tiếp tục video Video ID=19860101L2 – “Vấn đạo (4)” phút 22:36
kẹt đầu này, kẹt đầu nọ; mà nhờ cái kẹt với cái tức đó chúng ta mới tiến; nhờ sự động loạn, sự kích động đó chúng ta mới thức tâm và thấy giá trị của Ngài nhiều. Và chúng ta thấy, “Ta là con của Ngài;” Ngài đã tha thứ chúng ta rất nhiều, thương yêu chúng ta rất nhiều, để chờ chúng ta trở về với Ngài.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Và ta đối xử với một bạn đạo khắt khe, không được! Chúng ta phải thế Thiên hành đạo, phải tha thứ và thương yêu bạn đạo ta; một ngày nào người bạn đạo đó sẽ về với chúng ta và đem cống hiến những chuyện hay ho và xây dựng cho chúng ta. Rồi muốn làm chánh trị đi nữa cũng vậy, cũng phải biết tha thứ và thương yêu, thì chúng ta biến kẻ thù thành bạn, chớ không biến bạn thành kẻ thù.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Chúng ta thấy rõ chưa? Ở Việt Nam chúng ta biến bạn thành kẻ thù, thành ra càng ngày chúng ta bị cục nước đá càng ngày càng tan, và không tiến nổi! Bây giờ chúng ta tu chúng ta biến kẻ thù thành bạn, thì chúng ta phải có cái siêu năng đó để thường độ tâm thức của bạn ta, Bạn ta mới thức tâm. Chớ chúng ta không nên dùng cái gì mà áp chế và đè nén họ, thì biến Bạn thành thù, thì chúng ta làm chánh trị cái gì; tu cái gì? Chuốc lấy sự thảm bại, mà không hay!
BĐ1: Dạ.
ĐT: À. Cho nên, người tu Vô Vi, trước kia chúng ta động loạn, chúng ta thấy người bạn đối xử chúng ta không tốt, chúng ta không chơi. Ngày nay chúng ta mở ra được rồi, chúng ta thấy, “Thằng đó nó cũng có khả năng như tôi! Vì không có ai chỉ nó thôi! Tôi chỉ nó mở ra rồi nó sẽ làm việc như tôi!” Thì cái bàn tay của các Bạn càng ngày cáng dài, đường đi các Bạn càng ngày càng thênh thang và không có bị tắc nghẽn nữa.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Thấy rõ chưa? Cho nên, các Bạn học cái khoá tu Vô Vi này, một khoá cho tất cả các khoá. Các Bạn cố gắng tu, nghe những lời giảng của tôi, và thực hành cho đúng, dù các Bạn không thành phật, tương lai các Bạn luân hồi cũng làm một vị lãnh đạo, chớ không phải tầm thường; vì mình đi về cái trật tự của cả càn khôn vũ trụ để dìu tiến tâm linh. Có trách nhiệm! Mỗi người tu chúng ta càng tu càng thấy có trách nhiệm đối với chúng sanh, đối với nhân loại; chớ không phải chúng ta ăn, chơi, đâu; tưởng ngồi nhắm mắt vầy, ăn, chơi, đâu. Không! Có trách nhiệm đối với nhân loại: Chúng ta có cái áo bận, chúng ta có trách nhiệm phải hoàn trả cái áo này, công ơn của mọi người may, mặc cho chúng ta; chúng ta có miếng ăn no ấm, chúng ta phải có trách nhiệm phải trả lại. Vậy khi chúng ta ý thức được rồi, chúng ta phải có trách nhiệm đối với tất cả, chúng ta mới có cơ hội tiến hoá.
BĐ1: Dạ.
ĐT: Cho nên, các Bạn học cái khoá học tu của Vô Vi là trở về với căn bản của nội thức và liên hệ với Thượng Đế, thì các Bạn mới làm được nhiều điều trong một lúc mà không có bị tắc nghẽn.
BĐ: (nghe không rõ)
ĐT: Ừ, ông Đạo Dừa, tui không có liên lạc với ổng. Nghe nói ổng bây giờ cũng còn ở Cần Thơ; hôm trước có người qua nói ổng ở Cần Thơ; chưa chết; có người đồn ổng chết, nhưng mà có người, mới mấy tuần trước người ta nói ổng ở Cần Thơ.
BĐ: (nghe không rõ)
ĐT: Ừ.
BĐ2: Thưa Thầy Con xin có một thắc mắc,
ĐT: Ừ.
BĐ2: Xin Thầy giải đáp. Trong cái lịch sử Phật giáo đó,
ĐT: Ừ.
BĐ2: Thì đức Phật Thích Ca đắc đạo, thì kể từ ngày đắc đạo thì kinh sách được truyền cho tới ngày hôm nay. Thì con thấy rằng Thầy là một vị phật mà nói rõ ràng về Thượng Đế, về đấng tạo hoá; còn trong tất cả các kinh sách trong Phật Giáo thì con không tìm thấy đức Phật, trong một giai đoạn nào đó, Đức Phật không có nói rõ ràng cha của mình là đấng tạo hoá. Vì thế cho nên đa số anh em Phật tử hiểu lầm và cho rằng Thượng Đế thì nhỏ hơn vị Phật.
ĐT: Ừ.
BĐ2: Và, tại sao bên Tây Phương đó thì đức Chúa Jésus Christ Ngài truyền đạo thì Ngài nhận rằng đấng Chúa Trời là cha của muôn loài vạn vật. Cũng như ngày hôm nay Thầy là một vị phật xác định rõ ràng với nhân loại, “Chúng ta có một vị chúa tể càn khôn sinh ra muôn loài vạn vật.” Xin Thầy giải đáp cho con. Cảm ơn Thầy.
ĐT: Thì đúng như vậy. Những người tu về bên, [13:40]
[Mp3 thiếu 4s so với video phút 27:54 đến 27:58]
trong cái giáo lý của nhà Phật mà thôi thì người ta chỉ hiểu trong cái phạm vi đó thôi. Còn trước khi, lịch sử, chúng ta là con người có khối óc có sự thông minh, chúng ta đọc lịch sử, trước khi ông Thích Ca ra đời, đã có ông Trời chưa? Khi ông, khi ông Thích Ca ra đời, đã có ông Trời chưa?
BĐ2: Dạ, có rồi.
ĐT: Có rồi. Vậy thì ta hiểu rồi, chớ gì nữa? À! (Thầy và b/đ cùng cười) Khi ông Thích Ca ra đời, có ông vua cha và có mẹ ông Thích Ca chưa? Có rồi!
BĐ2: Dạ.
ĐT: Ta hiểu rồi. Rồi họ vẽ ra đi trên bông sen đồ, này kia, kia nọ, là cái đó cái chuyện mình không có thấy; phải không; các Bạn phải nói là các Bạn không có thấy; phải không?
BĐ2: Dạ.
ĐT: Rồi bây giờ là các Bạn thấy cái gì? Thấy cái tâm các bạn; cái tâm của các Bạn giống ông Thích Ca ở chỗ nào? Thấy người ta đau khổ, thấy người người ta hà hiếp, Bạn chịu không được. Phải không? Bạn thấy ông Thích Ca trong tâm Bạn rồi: Ông Thích Ca Ổng thấy cái đó Ổng chịu không được. Bạn cảm thấy sự sung sướng cha mẹ thương yêu nuôi dưỡng các Bạn cho các Bạn đầy đủ cung nga mỹ nữ, Bạn thích; cái đó ông Thích Ca có, các Bạn có. Thấy chưa?
BĐ2: Dạ.
ĐT: À. Rồi bây giờ, tại sao ông Thích Ca ổng đi tu? Ổng thấy cái quyền năng chánh trị nắm trong tay, nhứt hô bá ứng, nhưng mà không làm gì được! Ổng thấy người dân bịnh, cứu nó không được, nó phải chết! Ổng thấy ổng thái tử bất lực. Mà dòm người dân rồi đó ổng dòm lại ổng á thì cũng chết như người dân! “Bây giờ làm sao đây; làm sao cứu người dân?” Chớ quyền chánh trị nắm trong tay, bỏ là nguy hiểm lắm; tiền bạc, cung nga mỹ nữ, món ăn ngon, vật lạ, mà đi nhịn đói là nguy hiểm lắm; thiếu vitamin đâu có được! Thấy không?
BĐ2: Dạ.
ĐT: Nhưng mà Ngài chấp nhận, vì ngài thấy rõ rằng, “Ta mới là cứu mọi người! Vì mắt, mũi, tai, miệng như nhau, ngũ tạng như nhau, mà ta giám hy sinh, và ta không bị chết, và giải thoát được, thì mọi người sẽ noi theo đường ta mà đi!” Vì sao? Mỗi người đều có khối óc, có sự dũng mãnh, có khả năng, sống trong lẽ sống hiện tại, không có người nào thua ông Thích Ca hết; chỉ cung phụng nuôi Thích Ca không à, chớ Thích Ca chưa nuôi người ta mà!
BĐ2: Dạ.
ĐT: Ngài thấy Ngài yếu hơn dân, cho nên Ngài mới đi tu. Đi tu, tại sao không tìm minh sư để chỉ đường cho mình tu cho ngon lành, mà đi, đi, đi ra ngoài rừng để làm gì? Vì Ngài dòm mọi trạng thái Ngài đều thương yêu, cây cỏ Ngài cũng quý mến, vạn vật đều tinh vi! Thì Ngài muốn học cái gì? Học của tất cả, Ngài mới học, chớ học của một người, Ngài không học. Ngài suy tư rất nhiều, “Phải bỏ cung nga mỹ nữ, ra rừng ngồi tu!” Rừng đâu phải chỗ thanh tịnh. Trong cung vua mới là thanh tịnh chớ? “Tôi không cho người lai vãng là tôi thanh tịnh chớ gì?” Nhưng mà chỗ rừng già là mọi người tự do lai vãng, ma quỷ có thể phá Ngài, muỗi ruồi có thể cắn Ngài, thú dữ có thể hại Ngài. Nhưng mà Ngài lấy cái gì để sống nơi đó? Có phải Ngài lấy cái tâm sống ở đó không? Nếu Ngài lấy cái xác sống nơi đó là Ngài phải bỏ chạy liền; trong một đêm là Ngài phải bỏ chạy! Ngài lấy cái tâm sống ở đó.
BĐ2: Dạ.
ĐT: Ngày nay các Bạn ở đâu đây? Các Bạn đang ở trong rừng già: trong gia cang, sự động loạn của xã hội; các Bạn lấy cái tâm các Bạn mới có thể sống với xã hội! Các Bạn biết cái giá trị của cái tâm của các Bạn bất diệt, thì các Bạn cũng đang tham thiền như Ngài ở ngoài rừng: bao nhiêu sự chọc phá, bao nhiêu sự kích động và phản động hăm he, tử thần lai vãng trong trí óc của các Bạn; coi như không!
BĐ2: Dạ.
ĐT: Cho nên, Ngài đã thành công. Khi Ngài đạt pháp Ngài mới trở về nói lại cho nhân gian biết. Mà Ngài đã chứng minh rằng, “Có cha mẹ mới có ta, có trời đất mới có ta:” Ngài về Ngài còn đưa vua cha cơ mà, lúc vua cha lâm chung chết, Ngài còn hỏi, “Cái gì, cái mão trên đầu của Ngài, Ngài cần không;” của vua cha, “Ngài cần không?” Là chi? Chỉ cái trung tâm điển quang của vua cha, khi vua cha nghĩ đến trung tâm điển quang thì luồng điển của Ngài mới rút được vua cha. Thấy Ngài độ rõ ràng, Ngài báo hiếu rõ ràng không? Không có cha, Ngài về báo hiếu ai? Cái đó không cần Phật Giáo giảng, không cần kinh kệ; hành động đã cho các Bạn thấy rồi. Tại sao các Bạn còn mê muội trong kinh kệ, trong lời giảng trong kinh? Lời giảng trong kinh là dẫn Bạn đi mà thôi, rọi đường cho Bạn tiến mà thôi! Còn cái chuyện đã rồi, Đức Thích Ca nói làm gì? Chính các Bạn sanh tiền có cha, có mẹ, mới có bạn; có trời, có đất, mới có Bạn chớ!
BĐ2: Dạ.
ĐT: Cái đó khỏi cần cắt nghĩa! Lại kỳ thị ông Thượng Đế! Phải mình ngu xuẩn không; mình tăm tối không? Cái chuyện vẽ ra của mình mà còn không chịu nhận, mà phủ nhận cái chuyện đó! Phải mình tội lỗi tăm tối không? Để nói, “Tôi Phật Giáo, không có nhìn nhận ông Thượng Đế.” Cha, ngon quá; không nhìn nhận ông Thượng Đế? Thì khổ thêm! (cười) Thì theo ông Phật, coi thử ông Phật phù hộ được mấy ngày? Rồi cũng khóc hu hu à! Cho nên, một cái trận biến chuyển của Việt Nam mới thấy rõ: “Theo ai bây giờ? Rốt cuộc ta phải ra đi, theo ta.” Vỏn vẹn chỉ có tâm hồn đem ra đây thôi: cái vốn của các bạn, của chúng ta, chỉ có cái hồn, cái sự sáng suốt của chúng ta, mà thôi; không có cái gì hết.
BĐ2: Dạ.
ĐT: Cái vốn các Bạn đó; ra đi. Rồi bây giờ phải vun bồn cái vốn đó, cái vốn đó bất diệt, cái vốn đó có hồi sinh: chúng ta thấy thất bại, chết đi, không còn sống, tiêu diệt; nhưng mà chúng ta ngày nay hồi sinh, ngồi đây chúng ta nói chuyện! Rồi còn anh em chúng ta chết biển, chết này, chết kia, chết nọ, nó cũng hồi sinh ở một nơi thiêng liêng khác, rồi nó cũng có cơ hội luân hồi như chúng ta! Nếu không có cơ hội luân hồi thì quả địa cầu này đâu có người càng ngày càng đông? Có chớ! Mắt, mũi, tai, miệng, có sự hiện diện hết. Chúng ta thấy rõ rồi.
BĐ2: Dạ.
ĐT: Cho nên, đạo lý là đạo lý; chơn lý là chơn lý; không thay đổi! Không thể cắt chỗ này mà thêm chỗ kia được! Sự thật là sự thật! Có người nói, “Ông Thích Ca từ trong cái nách ra!” Cái nách cũng cái xác thúi thôi; mà ở chỗ nào cũng từ trong cái xác thúi mà ra thôi; đâu phải cái hay đâu! Mà ca tụng cái đẹp, mà không có nói thật cái chơn lý, thành ra nó méo hết! Chơn Lý không tròn, [21:34]
Hết video ID=19860101L2 – “vấn đạo (4)”
[Bắt đầu video ID=19860101L2 – “Vấn Đạo (5)” – video thứ 14
Video ID=19860101L2 – “Vấn Đạo (5)” lặp lại những đoạn của Video ID=19860101L2 – “Vấn Đạo (4)”
Phút thứ 04:25 của Video ID=19860101L2 – “Vấn Đạo (5)” mới bắt đầu tương ứng với bài chép của Mp3]
làm sao Đạo được phát triển? Đạo không phát triển! Chơn Lý phải tròn Đạo mới phát triển.
BĐ2: Dạ.
ĐT: Cho nên phải tu thêm đi: chúng ta là người ngu muội không biết cái tiền sử nhiều, nhưng mà biết có cái tâm; giữ cái tâm để tu và tiến. Dù cho bom nguyên tử xuống đi nữa, các Bạn cũng giữ cái tâm mà để lên một cái chỗ tốt hơn, nếu các Bạn thanh tịnh. Còn các Bạn sài phí nhiều quá, chắc hắc bạch không phân minh, thì ma quỷ nó rước Bạn chớ không có ai rước Bạn hết. Rồi; còn gì nữa?
BĐ3: Dạ, kính thưa Thầy, cái điểm chúng con muốn kính nhờ Thầy giải rõ thêm là,
ĐT: Ừ.
BĐ3: Ở vào cái giai đoạn của đức Phật Thích Ca đã thành đạo, thì đức Thích Ca ít có dịp nói về Thượng Đế, về cái vị mà chúa tể của càn khôn,
ĐT: Ừ.
BĐ3: Thì phải chăng đức Phật Thích Ca chưa hiểu rõ được điều đó, hay là vì cái trình độ của dân chúng nên đức Phật Thích Ca chưa tiện nói rõ về Thượng Đế?
ĐT: Đối với cái chuyện cần thiết trước mặt thì Phật Thích Ca cho thấy mà thôi; mà trong đó cũng có cái ngụ ý của Thượng Đế hết; tại vì người ta không biết cắt nghĩa kinh; chớ câu nào đâu mà không có nói Thượng Đế? Có trong đó hết! Có cái nguồn sanh, có cái nguồn tử, có hoá hoá sanh sanh, có luân hồi; là ông Thích Ca đã nói hết rồi! Tại sự phán xét ngu xuẩn của con người mà không thấy ông Thích Ca nhìn nhận có Thượng Đế! Thích Ca nhìn nhận có Thượng Đế! Có rõ ràng! Bây giờ cứ lấy kinh ra đọc đi, rồi tui cắt nghĩa cho!
BĐ3: Dạ.
ĐT: Có trong đó; tại người ta không thấy! Sanh, tử, luân hồi; Thích Ca còn giải nghiệp cho chúng sanh; cho chúng sanh thấy sự sai lầm của chính họ, nghiệp duyên của chính họ; có nói mà! Tại chúng sanh không hiểu, mê muội: “Chỉ có ông Phật là lớn nhứt thôi!” Nhưng mà ông Phật không có bao giờ nói, “Ta là lớn nhứt!”
BĐ3: Dạ.
ĐT: Ổng đã nói rằng, “Thiên thượng nhân gian duy ngã độc tôn.” Hỏi chớ, các Bạn là cái gì đây? Cây cỏ, hoa quả trồng cho các Bạn ăn; không khí cho các Bạn hưởng. Phải tôn một mình Bạn không? Bạn có phần không? Lời nói của ông Thích Ca, Bạn có phần không? “Thiên thượng nhân gian duy ngã độc tôn:” chúng ta đương đồng hưởng như Thích Ca! Ngài đã nói cái thức bình đẳng, mà chúng sanh chỉ nói là, “Chỉ có một mình tao thôi, không có thằng nào hết!” Nhưng mà cuối cùng Ngài đã nói sự sai lầm, vì sợ sự khôn lanh của nhân gian bán đạo ăn, cho nên đức Phật đã nói, “Nhân nhân giai thành phật!” Có hết: cuối cùng người nào cũng phải trở về thành Phật. Chớ Ngài đâu có phải nói, “Một mình tao là phật!” đâu? Không! Thì những người đem đóng khung Thích Ca và cho Thích Ca là một vị độc tài. Sai rồi! Một vị cách mạng tâm linh thật sự, mở đường cho chúng sanh tiến hoá; mà chúng sanh không chịu đi như Ngài mà để ngộ Ngài. Chỉ có bây nhiêu đó thôi!
BĐ3: Dạ.
ĐT: Cho nên, rồi đây Ngài sẽ xuống ở Tây phương: Ngài sẽ xuống xác Tây phương và Ngài sẽ cắt nghĩa trở lại cho chúng sanh hiểu: chính chúng sanh bỏ Ngài; và Ngài đã vạch đường chúng sanh đi, chúng sanh không chịu đi!
BĐ3: Dạ, xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Cho nên, các Bạn học trong sách vở mà đầu óc nông cạn, không thấy! Bình tâm đi, tu đi, đọc lại, thấy hết.
BĐ3: Dạ.
ĐT: Trước khi đức Thích Ca ra đã có hết rồi. Vậy ai là chủ? (cười)
BĐ3: Cảm ơn Thầy.
ĐT: Ừ.
BĐ3: Trong số bài giảng, cũng như cái buổi giảng hồi sáng này,
ĐT: Ừ.
BĐ3: Thì Thầy có nói rằng ngoài cái nói chuyện với những người mà đối diện với Thầy đó, Thầy còn phải độ trực tiếp phần hồn,
ĐT: Ừ.
BĐ3: Của những người đó;
ĐT: Ừ.
BĐ3: Thì, nếu có thể được thì xin Thầy cho biết thêm Thầy độ, làm sao Thầy độ, và độ như thế nào?
ĐT: Ừ.
BĐ3: Phương thức Thầy độ ra sao?
ĐT: Cho nên, những người đã nghe qua lời nói của tôi, trong lòng tê tái: đó là tôi nói chuyện với cái phần hồn họ rồi. Họ cảm thấy tê tái, sung sướng, nhẹ nhàng và, “Tui nhìn Ông Tám, tui thấy Ông Tám trẻ chung, tui thấy Ông Tám vui hoà trong tâm hồn tôi; tui thấy Ông Tám đang ở trong tôi!” Là tôi với cái hồn đang nói chuyện. Thấy không?
BĐ3: Dạ.
ĐT: Độ trực tiếp cho phần hồn cảm thấy nhẹ nhàng,
BĐ3: Dạ.
ĐT: Hiểu chơn lý một cách rõ rệt, tự thức tâm, và nguyện ăn năn, “Tui sẽ tu, tui sẽ về với Thích Ca; tui sẽ cùng đi với Ông Tám; tui sẽ về với Cha yêu dấu của tui. Tui, tui đang sống trong biển yêu của Thượng Đế; tui phải trở về; tui thấy chúng sanh đang phủ nhận, phủ nhận tình thương của Thượng Đế, không biết Thượng Đế là ai! Thượng Đế luôn luôn trong chúng ta, mà chúng sanh quên! Chúng sanh phủ nhận; chúng sanh tự cao; chúng sanh quên. Chính Ngài đã lo lắng cho chư phật, Ngài đã lo lắng cho chư tiên; nhưng đều là phủ nhận! Nhưng mà sự sáng suốt của Ngài không bao giờ mất; sự sáng suốt của Diêu Trì Kim Mẫu không bao giờ phai trong lòng của người mẹ ở thế gian: thương yêu tất cả, đem các con Ngài phải trở về với quê Mẹ. Chớ mỗi người dân đều có một giống da, phải trở về với căn bản của chính mình; không thể quên quê hương, quên sứ sở, là quên nguồn cội. Cho nên, chúng ta tu là phải hoà tất cả, và không bao giờ phụ nữa!
BĐ3: Dạ.
ĐT: Phải hiểu điều này. Đức Phật Thích Ca, trước khi rời thế, Ngài cũng phải rơi luỵ, trước khi rời thế, vì thấy rõ chúng sanh quá mê muội, quên nguyên căn, quên nguồn cội, và tạo khổ cho chính mình, bệnh hoạn triền miên không có cách tháo gỡ.
BĐ3: Dạ.
ĐT: Cho nên luồng điển Thượng Đế luôn luôn giáng lâm thế gian, độ chúng sanh bằng hình thức rơi luỵ, rúng tâm hồn của mọi người, và nói thẳng trong tâm hồn của mọi người nẫy giờ, “Phải biết trở về với chính các Con; không nên bê trễ nữa; thật tâm các Con có hồn, phải sống với Chơn Hồn; không nên xa luỵ vì phàm tâm mà đau khổ.” Tu không chịu tu; bán tín, bán nghi tạo trì trệ; tâm thân bất ổn, khổ triền miên.
BĐ3: Dạ.
ĐT: Kết luận là, tội chúng ta vẫn còn; để trả lời cái câu, “Tội,” hồi nẫy. Các Bạn có gì thắc mắc nữa?
BĐ4: Kính thưa Thầy, lúc nẫy khi mà giảng Kinh A Di Đà á, Thầy có nói là khi đọc Kinh á thì không dùng cái phàm trí để mà hiểu cái ý nghĩa của cái, cái chữ, mà phải dùng, mà phải đọc Kinh bằng điển. Vậy con xin kính Thầy giải thích và hướng dẫn cái phương pháp làm thế nào để đọc Kinh A Di Đà bằng điển? Xin cảm ơn Thầy.
ĐT: Cho nên, Kinh A Di Đà đã hạn chế một số người xem, cho nên ngày nay tôi thấy rằng nếu để mãi như vậy không biết chừng nào các Bạn mới có điển để xem. Cho nên tôi phải ra công và thêm một chút điển để giải thích cho các Bạn, cũng như dắt lần dắt lần các Bạn đi tới cửa Đạo và hiểu Đạo hơn. Cho nên, phải có công phu, thực tình thực hành Pháp Lý Vô Vi, Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, mới nhận được luồng điển đó, tự mình xuất phát ra, thì sự cảm hoá bề trên mới hướng độ cho mình được. Cho nên, phải thực hành rồi mới đọc cái Kinh đó được. Nhưng mà bây giờ có cơ hội nghe lại cuốn băng này, thì không nhiều thì ít cũng góp được cho các bạn, và có thể thông hiểu được một phần. Rồi mình công phu mình sẽ hiểu trọn lành hơn; lúc đó mình nắm Kinh đọc được.
BĐ4: Kính thư Thầy cho phép con hỏi;
ĐT: Ừ.
BĐ4: Cái phần thực hành, “Nam Mô A Di Đà Phật” đối với con rất là quan trọng, không những cho con riêng con thực hành, mà nếu có dịp, con dắt dẫn Bạn bè hay những người nào con quen biết sau này thực hành.
ĐT: Ừ.
BĐ4: Con thấy trong cái băng Thầy niệm, “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật;” là hết cái hơi đó Thầy mới hít không khí vô Thầy thở; Thầy bắt đầu Thầy niệm, “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật,” nữa? Hay là, bởi vì con theo cái băng của Thầy đó, con thở không kịp; bởi vì hết một hơi con không thấy Thầy ngừng, mà sao Thầy lại niệm nữa? Và làm như là Thầy không có đuối hơi?
ĐT: Cho nên, mình có hơi,
BĐ4: Dạ.
ĐT: Mình được, người làm Pháp Luân nhiều thì không phải mà niệm rồi hít nữa; người họ yếu thì họ niệm, họ hít. Cũng như tui đó, tui hít vô này, hít vô một hơi này, tui niệm dài lắm: Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật; Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật; Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật. Nó dài vậy đó.
BĐ4: Dạ.
ĐT: Nó tuỳ cái Pháp Luân Thường Chuyển của mỗi người; và mọi người người ta, nhiều người người ta còn ít, yếu, thì người ta đọc một hơi người ta hít một hơi.
BĐ4: Dạ.
ĐT: Ờ. “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật;” không phải là mở miệng đọc;
BĐ4: Đúng rồi!
ĐT: Dùng ý niệm.
BĐ4: Dạ, dùng ý niệm; nhưng mà;
ĐT: Ờ. Cái này là tui có hơi thì tui muốn đem cái điển tui đóng góp với các Bạn để các Bạn ngồi thiền, và để cho Lục Căn Lục Trần nó nghe, và trong này nó dùng ý niệm.
BĐ4: Dạ.
ĐT: Anh hiểu không?
BĐ4: Dạ.
ĐT: Chớ không phải là bắt các Bạn niệm như tôi. Các Bạn mà niệm như tôi thì các Bạn hụt hơi rồi; đâu có được!
BĐ4: Bởi vậy, con theo có một hơi, con đuối rồi!
ĐT: Đâu có được! Vì mình ý niệm, làm sao niệm ra miệng được?
BĐ4: Dạ.
ĐT: Có dặn rõ trong cuốn băng.
BĐ4: Không, không phải. Con niệm bằng ý niệm,
ĐT: Ừ.
BĐ4: Nhưng mà cũng phải có thở cái hơi.
ĐT: Cũng phải thở chớ; phải thở chớ!
BĐ4: Mà con theo một hơi là con đuối rồi! Sao không thấy Thầy thở?
ĐT: Ờ. (cười) Có chớ! Dùng ý; nó phải thở chớ! Đâu có phải mở miệng.
BĐ4: Dạ.
ĐT: Mở miệng đó là để nhiều ngừơi đi làm lụng về, ở hãng bị người ta kỳ thị đồ, người ta chửi, người ta mắng, buồn bực; về, vặn cái đó ngồi nghe một chặp cái nó quên cái chuyện giận thằng kia đi; thấy không?
BĐ4: Dạ.
ĐT: Rồi để mình ngồi, ở trong này cái ý mình cứ niệm, “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật,” mình tu. Vậy đó.
BĐ4: Dạ. Thưa, câu phụ thứ hai: nếu những người già cả mà họ không có niệm được một câu dài như vậy,
ĐT: Ừ.
BĐ4: Mà họ muốn tập trung trên đỉnh đầu,
ĐT: Ừ.
BĐ4: Họ có thể họ mở băng của Thầy ra họ nghe,
ĐT: Ừ.
BĐ4: Rồi họ trụ trên đỉnh; được không?
ĐT: Ừ, vậy là họ tập lần;
BĐ4: Dạ.
ĐT: Kêu họ tập lần cái ý họ.
BĐ4: Dạ.
ĐT: Bởi vì cái người ý niệm nó khó lắm; tập hai, ba tháng nó mới có được;
BĐ4: Dạ. Để họ tập như vậy.
ĐT: Chớ không phải dễ đâu.
BĐ4: Họ tập như vậy rồi họ cứ trụ trên cái ý, cái ý họ niệm thôi;
ĐT: Ừ.
BĐ4: (nghe không rõ), chớ cũng không sao. Vấn đề thứ ba; hồi sáng con có nghe Thầy nói là khi mình có điển, mình muốn, à,
ĐT: Ừ.
BĐ4: Thâu hút đối phương, bằng cách mình nhìn,
ĐT: Ừ.
BĐ4: Mình nhìn họ để mình cảm hoá họ. Vậy trong lúc mình nhìn, mình có điển thì mình mới cảm hoá họ đựơc?
ĐT: Khi mình Soi Hồn đầy đủ nó trì nặng ở đây (chỉ giữa hai chân mày),
BĐ4: Dạ;
ĐT: Thì mình dùng cái chỗ này (chỉ giữa hai chân mày) mình ngó thẳng cái Tam Tinh của họ. Cái này với cái này nó bắc cầu với nhau (chỉ giữa hai chân mày của Thầy và của b/đ).
BĐ4: Dạ; ngó Tam Tinh của họ?
ĐT: Ngó Tam Tinh họ thôi;
BĐ4: Dạ;
ĐT: Và ngó Tam Tinh họ một chập rồi cái mình mới nói chuyện; vừa nói, vừa ngó Tam Tinh, vừa niệm Phật. Đó.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Độ cho bệnh nhân.
BĐ4: Dạ; mình niệm Phật.
ĐT: Con nít cũng vậy.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Tốt lắm;
BĐ4: Dạ;
ĐT: Cái điển mình phóng qua thì để nó chuyển vô chỗ đó rồi nó mới chuyển cho đối phương.
BĐ4: Dạ; Như vậy cũng gọi là “Tiếp điển” nữa đó hả thầy?
ĐT: Ờ; tiếp điển; tiếp điển mà không có ai biết hết.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Mình chỉ tới thăm người bịnh, mình ngó, mình niệm Phật; “Anh bữa nay sao? Bệnh hoạn thế nào?” Họ khai làm sao, mình cứ ngó đó mình ý mình niệm Phật, ngó thẳng qua.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Không có rờ mó gì hết, nhưng mà mình đã chuyền điển rồi.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Trong lúc mà nó, người Soi Hồn đủ lực lượng rồi mới làm được.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Còn dùng cặp mắt này không được.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Dùng cái ý này,
BĐ4: Dạ.
ĐT: Ngó thẳng.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Chớ phải cái ý mà mình làm Chiếu Mình này này, nó quen rồi đó, thì mình dùng cái ý mình chuyển cho người bịnh; dễ lắm.
BĐ4: Dạ. Còn cái tiếp điển như Thầy tiếp, thí dụ chẳng hạn không cần đối phương ở ngay mặt Thầy, ở bất cứ phương xa nào Thầy cũng tiếp được, cái đó là chuyển?
ĐT: Ừ, cái đó khác! Cái đó phải làm việc ở một cái office khác. (cười)
BĐ4: Dạ;
ĐT: Anh thấy cái vệ tinh nó lên cao không?
BĐ4: Dạ;
ĐT: Mà ở bên Mỹ nó gởi một cái thì bên này mình nghe, “Allo?” nói chuyện. Gần xịt; mà lên cao chừng nào thì gần chừng nấy.
BĐ4: Dạ;
ĐT: Ờ. Cho nên cái máy bay mà bay cao thì nó rút ngắn thời giờ lắm.
BĐ4: Dạ; dạ kính cảm ơn Thầy.
ĐT: Ừ.
BĐ5: (nghe không rõ) Theo con nghĩ, hồi nẫy, sau câu hỏi của anh Phương đó thì điển của Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống, mà có nhiều người nhận được cái điều đó, là phải không Thầy?
ĐT: Đúng; chính Thượng Đế xuống mới khóc;
BĐ5: (nghe không rõ) Như vậy anh chị em trong khoá tu học này tự cảm nhận được luồng điển của mình;
ĐT: Cái giọng nói cũng khác rồi.
BĐ5: Dạ;
ĐT: Ông mà là ông nhõng nhẽo của Thượng Đế là ông này. Thượng Đế thương dữ lắm, thành ra mới khóc!
BĐ5: Theo con nghĩ, (nghe không rõ)
ĐT: Cái giọng nói khác.
BĐ5: (nghe không rõ)
ĐT: Ừ. Giọng nói khác!
BĐ6: Thưa Thầy, còn ít phút để mà được hỏi Thầy một câu.
ĐT: Ừ.
BĐ6: Thưa Thầy, nghe Thầy nói chuyện về Thiên và về cõi trên, con thấy thanh nhẹ và thấy rất là thoải mái;
ĐT: Ừ.
BĐ6: Nhưng mà con muốn hỏi Thầy một câu: Thầy nói “Pháp Lý Vô Vi,
ĐT: Ừ.
BĐ6: “’Pháp Lý,’ là biết chơn lý tròn đầy và sự thật trong đó.”
ĐT: Ừ.
BĐ6: Do đó mà con nghe Thầy rất nhiều và con tỉnh ngộ rất nhiều, con cảm thấy rất là cởi mở rất nhiều. Nhưng mà có một điều, có một vài điều con thấy chưa được trọn vẹn: như ngày hôm qua Thầy giảng, Thầy có nói về Quan Thánh Đế Quân; rồi sau đó Thầy có nói về Tôn Ngộ Không, là cái chuyện thần tiên con thấy nghĩa là rất vui và rất thích nghe.
ĐT: Ừ.
BĐ6: Cái đó, theo con biết á, thì khi mà Tam Tạng đi thỉnh kinh đó thì trong lịch sử của Tầu chỉ có nói về Tam Tạng thôi, chớ không có nói đến Tề Thiên hay là Bát Giái gì hết. Nhưng mà con biết cái chuyện Tây Du là của một cái người đã, về Phật Giáo, đã viết ra, và đó là một cái chuyện hoàn toàn giả sử; theo con nghĩ thì không có thật; nếu có thực thì lịch sử của Trung Hoa đã ghi vào trong lịch sử.
Do đó mà con nghĩ rằng không có thật, và trong chuyện đó thì có nói đến Tề Thiên; và trong cuốn “Thiên Đàng Du Ký” thì cũng có nhắc đến những vị Tề Thiên và Tôn Ngộ Không; rồi trong một vài cuốn băng thì Thầy có nói về cái Tề Thiên, Tôn Ngộ Không đó; thì con không biết rằng cái Tề Thiên nhân vật đó là có thật, hay không? Như vậy xin Thầy sác nhận cho con biết.
ĐT: Cái đó có chớ, có chớ; nhưng mà Anh cũng đang nối, nối chưn Tề Thiên đó!
BĐ6: Dạ;
ĐT: Anh đi học cái Không đó, để ngộ Không; Anh đi theo Vô Vi là Anh học cái Không.
BĐ6: Dạ.
ĐT: Ở đời thì Anh thua lỗ thiệt n,hưng mà Anh sẽ ngộ Không. Anh hiểu không?
BĐ6: Dạ.
ĐT: Anh ở thế gian, Anh hoành hành đủ mưu kế hết; nhưng rốt cuộc không làm gì được, thì Anh phải “ngộ Không,” Anh mới kêu bằng, “Giải thoát.”
BĐ6: Dạ thưa Thầy,
ĐT: Có chớ!
BĐ6: Sao trong cái chuyện nó nói thì,
ĐT: Không! Mà chính Ngài bây giờ, nghĩa là, ở ngay ở Hồng Kông mỗi năm mà Anh có dịp Anh đi đầu năm rầm tháng Giêng, Anh qua Hồng Kông chơi thì thấy ông Tề Thiên Ổng xuống, nhập xác xuống cho Anh coi; một cách làm cho khoa học điên đầu và không biết cách nào hết! Ổng xuống là Ổng đi ngang lửa và Ổng đốt rần hết; đi ngang lửa, rồi ổng bước lên cái dao, những cái dao bén thiệt bén lật ngược vầy này, Ổng bước Ổng đi lên Ổng (nghe không rõ); rồi đệ tử của Ổng cùng chạy một hơi một với Ổng! Mà những người đệ tử đó là hồi nào tới giờ không biết tu, không biết cái gì hết, nhưng mà cái chưn y không có bị phỏng, mà khi Ổng chạy là mấy chục người chạy theo vậy đó; mà mấy chục người kia, Ổng đứng lên một cái là chạy theo vậy đó! Phim quay đàng hoàng mà; cho khoa học gia nghiên cứu mà!
BĐ6: Dạ, con biết như vậy; nhưng mà theo con biết, cuốn sách đó viết ra thì là một cái nhân vật giả sử. Sao ông đó lại viết ra một cái nhân vật Tề Thiên có thật để mà viết ra? Con muốn là,
ĐT: Có chớ, có thật chớ! Có chỗ Tam Tạng Thỉnh Kinh chớ! Anh muốn thấy lịch sử Tam Tạng Thỉnh Kinh không?
BĐ6: Trong lịch sử thì không có nói đến cái Tề Thiên,
ĐT: Có chớ! Cái chỗ của Tam Tạng đến hiện tại bây giờ Trung Quốc người ta mới kiếm ra! Bữa nào Anh muốn, mua phim coi! Người ta đi, Khảo Cổ đã tìm ra rồi.
BĐ6: Nhưng mà,
ĐT: Anh chưa thấy đó thôi.
BĐ6: Cái mà Chư Bát Giới và cái Sa Tăng đó, chuyện đó thì lúc còn nhỏ con rất thích; nhưng mà con không biết là cái chuyện đó có thật hay không? Con thấy cái chuyện đó có vẻ là vui quá!
ĐT: Có chớ.
BĐ3: Thưa Thầy, con có đọc,
ĐT: Ừ;
BĐ3: Trong một cuốn sách nào đó,
ĐT: Ừ;
BĐ3: Mà con không nhớ rõ,
ĐT: Ừ;
BĐ3: Thì thường thường đó, người thế gian cho là, những người mà có ý gì, ý dân thì là ý Trời,
ĐT: Ừ;
BĐ3: Mà tất cả trong tập thể quần chúng mà có cái ý niệm gì đó,
ĐT: Ừ;
BĐ3: Mặc dầu cái ý niệm đó trừu tượng,
ĐT: Ừ;
BĐ3: Thì cái Trời, mà Trời cõi dưới đó cũng có thể tạo dựng, nhờ cái ý lực đó có thể tạo dựng nên một hình ảnh,
ĐT: Ừ;
BĐ3: Mà dầu là giả tưởng, nhưng mà nhiều người tin như vậy đó, thì nó có thể tựu và tập họp lại thành một cái hình ảnh thực sự.
ĐT: Ừ;
BĐ3: Đó. Thì con đọc cái điều đó, mà không biết là như vậy có thật như vậy, không?
ĐT: Có chớ! Tất cả đều có hết: có tưởng nó có tượng; như Anh nói cái đó, đó: “Có tưởng, nó có tượng.”
BĐ3: Dạ;
ĐT: Chúng ta có tưởng rồi nó mới làm ra cái ly này, này; nhưng mà cái cõi trên, có! Anh ráng tu đi, rồi Anh đi lên trên đó, Anh nói, “Muốn uống nước,” mà chỗ đó làm gì có nước; mà có cái tách nó bay tới cho Anh! Anh thích nước trà, nó có nước trà nóng hổi cho Anh uống! Nếu Anh bước vào bậc tiên gia thì Anh khỏi phiền mà đi tìm ly nước đâu! “Tôi muốn uống nước,” là nó phải có cái ly tới cho Anh! Anh thấy không?
BĐ3: Dạ.
ĐT: Lấy cái gì chứng minh ở trên đó nó nhẹ nhàng như vậy? Ở đây, Anh làm cấp tổng thống đi nữa, thì Anh muốn uống nước, nháy mắt thì người ta phải đem ra rồi. Mà Anh đi làm cu li đó, Anh muốn uống nước, nó khó lắm, Anh phải đi múc à! …..
[Hết Mp3 ID=19860103Q2]
[Video ID=19860101L2 – “Vấn Đạo (5) dài 29:48 phút. Chỗ này dừng ở phút 27:14]
Hết 14 videos của ID=19860101L2 – Khóa học Kinh A Di Đà