ID# 19860100Q2

KHOÁ HỌC KINH A DI ĐÀ: Vấn Ðạo - Cuốn B -

BĐ1: Kính thưa Thầy cho phép con hỏi;

ĐT: Ừ.

BĐ1: Cái phần thực hành “Nam Mô A Di Đà Phật” đối với con rất là quan trọng, không những cho con, riêng con thực hành, mà nếu có dịp, con dắt dẫn bạn bè hay những người nào con quen biết sau này thực hành.

Con thấy trong cái băng Thầy niệm, “Nam…, Mô.., A…, Di…, Đà…, Phật…;” là hết cái hơi đó Thầy mới hít không khí vô Thầy thở; Thầy bắt đầu Thầy niệm, “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật,” nữa? Hay là, bởi vì con theo cái băng của Thầy đó, con thở không kịp; bởi vì hết một hơi con không thấy Thầy ngừng, mà sao Thầy lại niệm nữa? Và làm như là Thầy không có đuối hơi?

ĐT: Cho nên, mình có hơi,

BĐ1: Dạ.

ĐT: Mình không phải là… người hơi yếu thì họ niệm, họ hít. Cũng như tui đó, tui hít vô này, hít vô một hơi này, tui niệm dài lắm: Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật; Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật; Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật. Nó dài vậy đó.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Nó tuỳ cái Pháp Luân Thường Chuyển của mỗi người; và mọi người người ta, nhiều người người ta còn ít, yếu, thì người ta đọc một hơi người ta hít một hơi.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Ờ. “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật;” không phải là mở miệng đọc;

BĐ1: Đúng rồi!

ĐT: Dùng ý niệm.

BĐ1: Dạ, dùng ý niệm; nhưng mà;

ĐT: Ờ. Cái này là tui muốn đem cái điển tui đóng góp cho các bạn để các bạn ngồi thiền, và để cho Lục Căn Lục Trần nó nghe, và trong này nó dùng ý niệm.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Anh hiểu không?

BĐ1: Dạ.

ĐT: Chớ không phải là bắt các bạn niệm như tôi. Các bạn mà niệm như tôi thì các bạn hụt hơi rồi; đâu có được!

BĐ1: Bởi vậy, con theo có một hơi, con đuối rồi!

ĐT: Đâu có được! Vì mình ý niệm, làm sao niệm ra miệng được?

BĐ1: Dạ.

ĐT: Có dặn rõ trong cuốn băng.

BĐ1: Không, không phải. Con niệm bằng ý niệm,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Nhưng mà cũng phải có thở cái hơi.

ĐT: Cũng phải thở chớ; phải thở chớ!

BĐ1: Mà con theo một hơi là con đuối rồi! Sao không thấy Thầy thở?

ĐT: Ờ. (cười) Có chớ! Dùng ý; nó phải thở chớ! Đâu có phải mở miệng.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Mở miệng đó là để nhiều người đi làm lụng về, ở hãng bị người ta kỳ thị đồ, người ta chửi, người ta mắng, buồn bực; về, vặn cái đó ngồi nghe một chặp cái nó quên cái chuyện giận thằng kia đi; thấy không?

BĐ1: Dạ.

ĐT: Rồi để mình ngồi, ở trong này cái ý mình cứ niệm, “Nam, Mô, A, Di, Đà, Phật,” mình tu. Vậy đó.

BĐ1: Dạ. Thưa, câu phụ thứ hai: nếu những người già cả mà họ không có niệm được một câu dài như vậy,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Mà họ muốn tập trung trên đỉnh đầu,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Họ có thể họ mở băng của Thầy ra họ nghe,

ĐT: Ừ.

BĐ1: Rồi họ trụ trên đỉnh; được không?

THẦY: Ừ, vậy là họ tập lần;

BĐ1: Dạ.

ĐT: Kêu họ tập lần cái ý họ.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Bởi vì cái người ý niệm nó khó lắm; tập hai, ba tháng nó mới có được;

BĐ1: Dạ. Để họ tập như vậy.

ĐT: Chớ không phải dễ đâu.

BĐ1: Họ tập như vậy rồi họ cứ trụ trên cái ý, cái ý họ niệm thôi;

ĐT: Ừ.

BĐ1: (nghe không rõ), chớ cũng không sao. Vấn đề thứ ba; hồi sáng con có nghe Thầy nói là khi mình có điển, mình muốn, à! Thâu hút đối phương, bằng cách mình nhìn, mình nhìn họ để mình cảm hoá họ. Vậy trong lúc mình nhìn, mình có điển thì mình mới cảm hoá họ đựơc?

ĐT: Khi mình Soi Hồn đầy đủ nó trì nặng ở đây (chỉ giữa hai chân mày),

BĐ1: Dạ;

ĐT: Thì mình dùng cái chỗ này (chỉ giữa hai chân mày) mình ngó thẳng cái Tam Tinh của họ. Cái này với cái này nó bắc cầu với nhau (chỉ giữa hai chân mày của Thầy và của b/đ).

BĐ1: Dạ; ngó Tam Tinh của họ?

ĐT: Ngó Tam Tinh họ thôi;

BĐ1: Dạ;

ĐT: Và ngó Tam Tinh họ một chập rồi cái mình mới nói chuyện; vừa nói, vừa ngó Tam Tinh, vừa niệm Phật. Đó.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Độ cho bệnh nhân.

BĐ1: Dạ; mình niệm Phật.

ĐT: Con nít cũng vậy.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Tốt lắm;

BĐ1: Dạ;

ĐT: Cái điển mình phóng qua thì để nó chuyển vô chỗ đó rồi nó mới chuyển cho đối phương.

BĐ1: Dạ; Như vậy cũng gọi là “Tiếp điển” nữa đó hả thầy?

ĐT: Ờ; tiếp điển; tiếp điển mà không có ai biết hết.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Mình chỉ tới thăm người bịnh, mình ngó, mình niệm Phật; “Anh bữa nay sao? Bệnh hoạn thế nào?” Họ khai làm sao, mình cứ ngó đó mình ý mình niệm Phật, ngó thẳng qua.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Không có rờ mó gì hết, nhưng mà mình đã chuyền điển rồi.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Trong lúc mà nó, người Soi Hồn đủ lực lượng rồi mới làm được.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Còn dùng cặp mắt này không được.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Dùng cái ý này,

BĐ1: Dạ.

ĐT: Ngó thẳng.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Cho nên, cái ý mà mình làm Chiếu Mình này nè, nó quen rồi đó, thì mình dùng cái ý mình chuyển cho người bịnh; dễ lắm.

BĐ1: Dạ. Còn cái tiếp điển như Thầy tiếp, thí dụ chẳng hạn không cần đối phương ở ngay mặt Thầy, ở bất cứ phương xa nào Thầy cũng tiếp được, cái đó là chuyển?

ĐT: Ừ, cái đó khác! Cái đó phải làm việc ở một cái office khác.(cười)

BĐ1: Dạ;

ĐT: Anh thấy cái vệ tinh nó lên cao không?

BĐ1: Dạ;

ĐT: Mà ở bên Mỹ nó gởi một cái thì bên này mình nghe, “A lô?” nói chuyện. Gần xịt; mà lên cao chừng nào thì gần chừng nấy.

BĐ1: Dạ;

ĐT: Ờ. Cho nên cái máy bay mà bay cao thì nó rút ngắn thời giờ hơn.

BĐ1: Dạ, kính cảm ơn Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ2: (nghe không rõ) Theo con nghĩ, hồi nẫy, sau câu hỏi của Anh Phương đó thì điển của Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống, mà có nhiều người nhận được cái điều đó, là phải không Thầy?

ĐT: Đúng; chính Thượng Đế xuống mới khóc;

BĐ2: Thì như vậy Anh Chị Em trong khoá tu học này tự cảm nhận được luồng điển của mình;

ĐT: Cái giọng nói cũng khác rồi.

BĐ2: Dạ;

ĐT: Ông này là ổng nhõng nhẽo với Thượng Đế là ông này. Thượng Đế thương dữ lắm, thành ra mới khóc!

BĐ2: Theo con nghĩ, (nghe không rõ)

ĐT: Cái giọng nói khác.

BĐ2: (nghe không rõ)

ĐT: Ừ. Giọng nói khác!

BĐ3: Thưa Thầy, nghe Thầy nói chuyện về Tiên và về cõi trên, con thấy thanh nhẹ và thấy rất là thoải mái;

ĐT: Ừ.

BĐ3: Nhưng mà con muốn hỏi Thầy một câu: Thầy nói “Pháp Lý Vô Vi,

ĐT: Ừ.

BĐ: “’Pháp Lý,’ là biết chơn lý tròn đầy và sự thật trong đó.”

ĐT: Ừ.

BĐ3: Do đó mà con nghe Thầy rất nhiều và con tỉnh ngộ rất nhiều, con cảm thấy rất là cởi mở rất nhiều. Nhưng mà có một điều, có một vài điều con cũng thấy là chưa được trọn vẹn. Như ngày hôm qua, Thầy giảng, Thầy có nói về Quan Thánh Đế Quân; rồi sau đó Thầy có nói về Tôn Ngộ Không, là cái chuyện thần tiên con thấy nghĩa là rất vui và rất thích nghe.

ĐT: Ừ.

BĐ3: Cái đó, theo con biết á, thì khi mà Tam Tạng đi thỉnh kinh đó thì trong lịch sử của Tàu chỉ có nói về Tam Tạng thôi, chớ không có nói đến Tề Thiên hay là Bát Giái gì hết. Nhưng mà con biết cái chuyện Tây Du là của một cái người đã, về Phật Giáo, đã viết ra, và đó là một cái chuyện hoàn toàn giả sử; theo con nghĩ thì không có thật, nếu có thực thì lịch sử của Trung Hoa đã ghi vào trong lịch sử. Do đó mà con nghĩ rằng không có thật, và trong chuyện đó thì có nói đến Tề Thiên; và trong cuốn “Thiên Đàng Du Ký” thì cũng có nhắc đến những vị Tề Thiên là Tôn Ngộ Không; rồi trong một vài cuốn băng thì Thầy có nói về cái Tề Thiên. Thì con không biết rằng cái Tề Thiên nhân vật đó là có thật hay không? Như vậy xin Thầy xác nhận cho con biết.

ĐT: Cái đó có chớ; có chớ. Nhưng mà Anh cũng đang nối, nối chưn Tề Thiên đó:

BĐ3: Dạ;

ĐT: Anh đi học cái Không đó, để ngộ Không; Anh đi theo Vô Vi là Anh học cái Không.

BĐ3: Dạ.

ĐT: Ở đời thì Anh thua lỗ thiệt nhưng mà Anh sẽ ngộ Không. Anh hiểu không?

BĐ3: Dạ.

ĐT: Anh ở thế gian Anh hoành hành đủ mưu kế hết nhưng rốt cuộc không làm gì được, thì Anh phải ‘Ngộ Không” Anh mới kêu bằng, “Giải thoát.”

BĐ3: Dạ thưa Thầy,

ĐT: Có chớ.

BĐ3: Sao trong cái chuyện nó nói thì,

ĐT: Không, mà, chính Ngài bây giờ, nghĩa là, ở ngay ở Hồng Kông mỗi năm mà Anh có dịp Anh đi đầu năm rằm tháng Giêng Anh qua Hồng Kông chơi thì thấy ông Tề Thiên Ổng xuống, nhập xác xuống cho Anh coi! Một cách làm cho khoa học điên đầu và không biết cách nào hết.

Ổng xuống là Ổng đi ngang lửa và Ổng đốt rần hết, đi ngang lửa; rồi ổng bước lên cái dao, những cái dao bén thiệt bén lật ngược vầy này, Ổng bước Ổng đi lên Ổng ngồi, rồi đệ tử của Ổng cùng chạy một hơi một với Ổng; mà những người đệ tử đó là hồi nào tới giờ không biết tu không biết cái gì hết, nhưng mà cái chưn y không có bị phỏng; mà khi Ổng chạy là mấy chục người chạy theo vậy đó; mà mấy chục người kia, Ổng đứng lên một cái là chạy theo vậy đó! Phim quay đàng hoàng mà!

BĐ3: Dạ, con biết như vậy, nhưng mà theo con biết cuốn sách đó viết ra thì là một cái nhân vật giả sử. Sao ông đó lại viết ra một cái nhân vật Tề Thiên có thật để mà viết ra? Con muốn là,

ĐT: Có chớ, có thật chớ! Có chỗ Tam Tạng Thỉnh Kinh chớ! Anh muốn thấy lịch sử Tam Tạng Thỉnh Kinh không?

BĐ3: Trong lịch sử thì không có nói đến cái Tề Thiên,

ĐT: Có chớ. Cái chỗ của Tam Tạng đến hiện tại bây giờ Trung Quốc người ta mới kiếm ra, bữa nào Anh muốn, mua phim coi. Người ta đi, khảo cổ đã tìm ra rồi.

BĐ3: Nhưng mà,

ĐT: Anh chưa thấy đó thôi.

BĐ3: Cái mà Trư Bát Giới và cái Sa Tăng đó, chuyện đó thì lúc còn nhỏ con rất thích; nhưng mà con không biết là cái chuyện đó có thật hay không; con thấy cái chuyện đó có vẻ là vui quá!

ĐT: Có chớ.

BĐ4: Thưa Thầy, con có đọc trong một cuốn sách nào đó,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Mà con không nhớ rõ,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Thì thường thường đó, người thế gian cho là, những người mà có ý gì, ý dân thì là ý Trời,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Mà tất cả trong tập thể quần chúng mà có cái ý niệm gì đó,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Mặc dầu cái ý niệm đó trừu tượng,

ĐT: Ừ;

BĐ4: Thì cái Trời, mà Trời cõi dưới đó, cũng có thể tạo dựng, nhờ cái ý lực đó, có thể tạo dựng nên một hình ảnh, mà dầu là giả tưởng, nhưng mà nhiều người tin như vậy đó, thì nó có thể tựu và tập họp lại thành một cái hình ảnh thực sự.

ĐT: Ừ;

BĐ4: Đó. Thì con nghỉ, đọc cái điều đó, mà không biết là, như vậy có thật như vậy không?

ĐT: Có chớ; tất cả đều có hết; có tưởng nó có tượng. Như Anh nói cái đó: “Có tưởng nó có tượng.” nhưng mà cái cõi trên có. Anh ráng tu đi, rồi Anh đi lên trên đó, Anh nói, “Muốn uống nước,” mà chỗ đó làm gì có nước? Mà có cái tách nó bay tới cho Anh; Anh thích nước trà, nó có nước trà nóng hổi cho Anh uống. Nếu Anh bước vào bậc tiên gia thì Anh khỏi phiền mà đi tìm ly nước đâu! “Tôi muốn uống nước,” là nó phải có cái ly tới. Anh thấy không?

Lấy cái gì chứng minh ở trên đó nó nhẹ nhàng như vậy? Ở đây, Anh làm cấp tổng thống đi nữa, thì Anh muốn uống nước, nháy mắt thì người ta phải đem ra rồi. Mà Anh đi làm cu ly đó, Anh muốn uống nước, nó khó lắm, Anh phải đi múc à!

Khổ hạnh rồi nó mới có cái trình độ; ở cái giới đó nó được hưởng cái mau lẹ đó mà phải làm việc nhiều hơn, đi họp này, đi họp kia, đi họp nọ. Chư Tiên đi họp hoài, không ngừng nghỉ; làm việc dữ lắm; nhưng mà muốn gì, có nấy: thì bây giờ Anh đi làm ở trong cái cơ sở, trong cái office của giám đốc cũng vậy; nó nhẹ hơn là cái ông gác kho; Anh thấy không? Nó khác à!

Cho nên, cái trình độ tu học trình độ không mua không bán; mọi trình độ khác nhau: trong cái tưởng nó có cái tượng; cũng như Anh Phương nói rồi đó, “Trong cái tưởng nó có cái tượng,” nhưng mà rốt cuộc tu về đạo nó khác; tu về đạo, Anh phải gọt rửa tới vô hình, vô tướng, Anh mới giải nghiệp; Anh còn hình, còn tướng, thì còn nghiệp; thấy chưa? Cho nên, phải cố gắng tu mới được; “Vô hình vô tướng” thì Anh làm việc nhiều hơn, ứng dụng bất cứ hoàn cảnh nào, nơi nào Anh cũng tận độ được; thì Anh phải làm việc nhiều hơn, gấp triệu lần lúc Anh còn ở thế gian.

BĐ4: Dạ, đêm nay chúng con thật vô cùng hân hạnh;

ĐT: Ừ.

4: Qua Thầy, Thượng Đế đến với chúng con.

ĐT: Ừ.

1: Thì đây là một cái hồng ân rất lớn lao mà chúng con đã từng ao ước.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì chúng con cũng xin cảm tạ ơn Thầy; và cái buổi giảng giải hôm nay cũng đã hết giờ.

ĐT: Ừ. Cho nên, cái duyên của Thượng Đế ít khi đến; khi nào mà Ngài đến với tôi là phải khóc; vì hằng ngày tôi đi giảng, tôi hút bao nhiêu trược, và trong cái trược đó tôi phải giải hằng đêm; và sự lo âu của Bên Trên cũng là thường độ cho tôi. Cho nên, Thượng Đế khóc là khóc con Ngài vẫn còn ô trược nhiều lắm! Có bao nhiêu đó, mà phải rơi lụy. Tôi thấy ở đây học “Nam Mô A Di Đà Phật” nó hay hơn học cái khác.

Rồi bây giờ, cho tất cả mọi người muốn chọn học cái gì bữa nay; đã đọc qua cuốn sách nào? Đống sách này nè, bây giờ rút cũng như rút quẻ vậy đó; rồi ai giảng coi thử thế nào! “Bây giờ tôi muốn Địa Ngục Du Ký, hay muốn gì mà tôi lật cái trang đó đó, Ông giảng cái trang đó đi!”, để biết cái điển: cái điển là bất cứ trạng thái nào cũng có thể khai thác được hết. Rồi bây giờ chọn; người nào muốn cuốn nào, chớ Kinh A Di Đà đi sâu xuống, mà trình độ dưới này chịu không nổi học, học không hiểu.

Ai muốn chọn cứ lên chọn, và “Tôi lật, tôi chỉ cái này;” vậy thôi! Cuốn nào cũng được, để trong tâm người ta không có bày. Bây giờ người ta đứng dậy, người ta lấy cuốn nào đó, người ta chỉ chỗ đó, để học cho hiểu cái điển nó phục vụ mọi trạng thái, chớ không phải một trạng thái. Cho nên, ở thế gian nhầm lẫn, tưởng là ông Phật chỉ làm một việc thôi! Làm tất cả mọi việc! Thì không có bỡ ngỡ nữa, và biết giá trị của điển. Rồi, bây giờ Bác Mười chọn cái nào, chỉ cái chỗ đó.

BĐ5: Thiên Đàng Du Ký.

ĐT: Thì cứ việc lấy; đây, đây đây đây; Thiên Đàng mà bả nắm Luân Hồi thì phải lật Luân Hồi. Quẻ mà! Quẻ (cười)

BĐ5: Cho quay phim xít qua chút Bác.

ĐT: Chà! có xếp sẵn rồi đó, hay quá! có xếp sẵn; cái trang này ha?

(Thầy đọc hồi 30 trong Thiên Dàng Du Ký)

HỒI 30 - LẠI DẠO CUNG ĐÔNG HOA LẮNG NGHE ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

(Lời minh luận của Thầy: )

Chà, sướng đó, cái này nghe hay à!

Phật sống Tế Công giáng ngày 23 tháng 10 năm 1979

Thơ bách tuế quan âm quý thiếu niên

Thanh sơn lục thủy lạc vô biên

Vân hà do khả đào nhân túy

Nhất giác hoàng lương học bát tiên

Dịch

Cuộc đời quý nhất tuổi thanh xuân

Nước biết non xanh đẹp bội phần

Chiều muộn mây trôi người túy lúy

Mộng vàng một giấc thoát, thành Tiên

Tế Phật: Tuổi thiếu niên học đạo dễ dàng thông đạt là nhờ trí tuệ minh mẫn, và vì chưa bị đời vùi dập nên ít nhiễm bụi trần ô trược, tính linh lại trong trẻo cùng phẩm hạnh thanh cao. Bởi vậy nếu thiếu niên biết lo tu, đạo lớn mau thành.

Tuổi trung niên học đạo khó khăn hơn, bởi thân bị gia đình sự nghiệp ràng buộc, kiếp sống nổi chìm, gông cùm tình ái, nhà ngục lợi danh nên vượt thoát chẳng dễ dàng, do đó khốn quẩn càng thêm khốn quẩn; cho nên, phải mất rất nhiều công phu mới giải tỏa nổi trận giặc mê hồn này vây bủa. Một sớm thoát được trùng vi hẳn là thành được Thần tự do, Tiên thoát tục và Phật tự tại.

Tuổi lão niên tu đạo càng khó khăn hơn bởi đường đời đã quá trải, nào như ăn nhậu, rượu chè, bài bạc, con hát thứ gì cũng đam mê. Tới lúc vãn chiều xế bóng, khí huyết suy nhược, tâm có thừa nhưng sức không đủ, muốn lên cõi trời bắt buộc phải tĩnh dưỡng.

Nếu như ngay lúc này thấy rõ được tình đời, lập định được chí hướng, quyết tâm vượt thoát nhà ngục nhân sinh, dù thắng hay bại thì cũng thấy được gương người bạn già tới lúc phải nhắm mắt buông tay, con cái tới tuổi trưởng thành mỗi đứa một phương.

Hiện thời cái còn lại để ôm mang chỉ là trái tim vắng lặng, triền miên nghĩ về quá khứ, cùng tưởng tới tương lai. khi phải vĩnh viễn lìa bỏ cuộc đời ra đi hẳn là lòng quá đỗi bàng hoàng. Do đó phải nghĩ ngay tới việc quyết chí diệt dục tu đạo, sửa đổi sai lầm, tu bổ tâm thân. Nếu như tinh tiến không lười biếng tất nhiên có thể thành Tiên Ông Tiên Bà. Trái lại nếu như phó thác cái thân già cho những tháng ngày còn lại thì tới lúc lâm bệnh sẽ hết nói năng. Bệnh một ngày một nặng sẽ vô phương cứu chữa.

Già mà không tu như đèn dầu trước gió có thể tắt bất kỳ lúc nào; một sớm ba tấc khí dứt đoạn, đường đi tới tối tăm, Địa Ngục hiện ra trước mắt; lúc đó hẳn là mọi việc đã quá muộn.

Bất kể kẻ già lớn bé đều là Phật; chớ bỏ phí sinh mệnh của mình, miễn là phải tuân theo luật lệ để không hại tới con đường tiến của kẻ khác, là có thể lên tới được thiên đàng.

Bữa nay ta lại hướng dẫn Dương Sinh dạo cung Đông Hoa, Dương Sinh mau lên đài sen chuẩn bị khởi hành.

(Lời minh luận của Thầy: )

Cho nên, Bác Mười bắt cái đoạn này là trả lời cho bác Mười những thắc mắc trong thâm tâm của bác Mười, và Bác Mười đã thấy cái chiều hướng để đi tới. Chúng ta không còn đếm xỉa tới thất tình lục dục nữa, là dứt khoát lên Thiên Đàng. Phải cái quẻ không?

BĐ2: Mô Phật, dạ đúng vậy.

ĐT: Đúng y như tâm trạng của bác muốn; thấy không! Rồi, bây giờ chúng ta coi...

Dương Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: Việc hướng dẫn Dương Sinh khiến lòng vô cùng cảm động, chúng sinh vật lộn với cuộc sống hàng ngày cuối cùng chẳng rõ được vì ai cay đắng, vì ai gian nan? Có biết bao nghiệp chướng bắt chúng sinh phải đền trả, liệu chúng sinh chẳng lo lắng sao? Một sớm trách nhiệm trả xong đã không biết hưởng ơn phước đó, lại còn trác táng rượu chè, cờ bạc, tạo thêm nghiệp ác, nên chẳng lạ gì người đời tới lúc già nua mà vẫn còn khổ lụy. Thậm chí còn có kẻ trói buộc cho tới mãi kiếp sau, là bởi kiếp này chẳng lo trả sạch nợ nần.

(Lời minh luận của Thầy: )

Cho nên, người đời không có pháp tu, làm sao biết mình mang nợ? Các Bạn có pháp tu, nay Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định. "Tối nay, tại sao tôi Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định không được? Là tôi đang mang nghiệp. nghiệp nó tràn đầy, nó choáng cái chỗ phát triển tâm của tôi, thành ra nó dội trở lại, tôi làm không được. Mà đêm đó tôi làm được thì tôi thấy tôi có cái cơ tự kiểm soát được; đó là nợ nần tôi sẽ dứt khoát lần lần. Cho nên, các bạn tu, nay tu một chút, mai tu một chút, thấy là “Tôi phải buông bỏ!” Mà buông bỏ ở đâu? Bên ngoài, làm sao buông bỏ? Trong tâm chúng ta buông bỏ, chúng ta mới dứt khoát được!

Tế Phật: Người đời há lại cam tâm làm kẻ vô trách nhiệm ư? Ta nay xin truyền cho mọi người một pháp như sau: “Biết đủ thường vui mà lại quên sầu; nhàn nhã trong bận rộn thân nhẹ nhõm dễ dàng tu”.

(Lời minh luận của Thầy: )

Việc làm nào cũng chấp nhận làm, nghịch cảnh nào đưa đến chúng ta cũng hòa tan trong nghịch cảnh đó, thì chúng ta sẽ dễ dàng tu, ta nhàn hạ trong việc làm, không có bị kẹt nữa!

Tế Phật: Người đời hãy mau mau thí nghiệm bí quyết này, nhất định sẽ được sung sướng y hệt Phật sống này. Đã tới cung Đông hoa; Dương Sinh mau xuống đài sen, tới lạy chào ra mắt đức Đông Hoa Đế Quân.

(Lời minh luận của Thầy: )

Cho nên, mỗi mỗi việc làm, sự suy tư chúng ta cảm thấy khổ, chúng ta hòa trong khổ thì chúng ta cảm thấy nhàn hạ; việc làm đưa đến chúng ta, chúng ta tưởng là nghịch cảnh? Không; chúng ta nên hòa trong việc làm đó: Chúng ta nên lắng nghe bất cứ một tiếng gì rúng động từ bên ngoài cho tới bên trong; chúng ta hòa tan với nó là chúng ta không còn bị mắc kẹt nữa, là mới thấy rõ giá trị của điển phục vụ tất cả: phục vụ nơi nơi và hòa với nơi thì mới kêu là nhàn hạ! Đó mới kêu là Phật Tâm, Phật tánh!

Chớ người phàm thấy: “Chu cha, tôi thấy cái này, tôi thích; cái kia văn chương không hay; cái nọ không tốt!” Không có cái gì không tốt hết! Tôi đã nói các bạn, bạn đi trên chiếc xe hơi không có con bù long, cái écrou nào không xài được! Chính bạn là người không xài được, chê hay khen mà thôi! Thì chấp nhận chính ta không xài được: chúng ta chưa chịu hòa; thì chúng ta muốn hòa mà chưa chịu hòa, là không được; phải hòa hẳn đi; dứt khoát đi mới có cơ hội quán thông!

Dương Sinh: Những lời ân sư than trời trách đất, người trên suốt dọc đường đã in sâu vào tâm khảm con. Thoáng cái đã tới trước cửa cung Đông Hoa. Cung Đông Hoa là thắng cảnh của cõi trời, khắp nơi đều chan chứa sức sống tươi vui, hãy vào trong cung lạy mừng và ra mắt Đông Hoa Đế Quân.

(Lời minh luận của Thầy:)

Câu này nó nhắc Vô Vi những gì? Trước khi các bạn chưa tu, chưa hành thiền, thì các bạn thấy rằng nó tối, buồn bưc trong nội tâm; mà các bạn hành thiền rồi, nó thanh nhẹ, thì thấy cái hạnh từ bi bên trong nó bộc khởi: đó là cái cảnh vui tươi, tất cả đều rưới tươi trong nội tâm. Nhờ gì? Nhờ cái Pháp Luân Thường Chuyển, mà cái pháp thủy rưới tươi trong mọi nẽo hóc, tâm can của các bạn.

Đế Quân: Lành thay! đời sống ở thế gian đã phát triển tới mức cực thịnh, nhân loại lại đang nghiên cứu xem làm cách nào để cho đời sống con người được trường thọ. Người đời có câu nói: “Sống lâu bằng núi Nam Sơn”. Vậy thì núi Nam Sơn sống thọ được bao lâu? Hẳn là sỏi đá trên núi đó không bị hư hại, cây cối ngàn năm không chết. Người sống tại thế gian, nếu như giống ngọc đá bền vững trên núi đó, thì liệu có ích gì? Còn nếu sống xanh tươi như cây trên núi ấy thì hẳn là sinh mệnh được hưởng khí lành sớm mai, và nếu đem sánh thân đó với thân trần tục hẳn là sẽ rõ sự lợi ích như thế nào? Đây là lý do tại sao bữa nay đức Đông Hoa Mộc Công lại trình bày thêm về sự ích dụng của cây.

Các loại cây đều được thừa hưởng khí nguồn cội một cách sâu xa. Do đó, người đời đều có thể nhờ nó mà giác ngộ đạo lớn. Tôi không thể dùng lời nói nông cạn để truyền bá tinh khí Đông Hoa, giống như một cọng rau chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ mà có thể nuôi nấng được loài người. Một mẩu rễ cỏn con lại có thể cứu sống một sinh linh, cùng duy trì vạn vật dài lâu bất diệt.

Có thể thấy chỉ một lời nói ngắn ngủi thôi mà cũng có thể cảm kích vang động tới trời cao. Song sở dĩ chúng sinh không thấy được như vậy là vì chúng sinh không chịu nhìn nhận sự thật kỹ lưỡng mà thôi. Bữa nay Dương Sinh lại tới thăm cung Đông Hoa, duyên đạo thật là sâu dày. Tôi xin đem Dương Sinh đi thăm một thắng cảnh khác của Đông Hoa để tìm hiểu nguyên lai đời sống của con người và sẽ rõ tại sao lại có thể hoàn thành được sứ mệnh của trời giao phó, hầu giúp con người trở về được nguồn cội sinh mệnh của mình

Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã rủ lòng thương mà tận tình vun bồi chỉ giáo cho. Đệ tử xin hứa sẽ tận tình lắng nghe lời dạy của đức Đế Quân.

Đế Quân: Hay lắm, hãy đi theo tôi.

Dương Sinh: Đi theo đức Đế Quân, cảm thấy không khí nơi đây vô cùng trong trẻo và mát mẻ, những nổi sầu muộn nơi đáy lòng chỉ thoáng giây là tiêu tan hết, quả thực quá tuyệt vời.

(Lời minh luận của Thầy:)

Chúng ta tu Vô Vi, có nhiều người ngày hôm nay đã đạt được rồi. Khi thấy trong tâm ta sầu muộn mà nhìn cảnh, thoáng là chúng ta quán thông, và sự sầu muộn đó nó đi mất; là nhờ gì? Nhờ điển! Cho nên, Dương Sinh đi với cái gì? Với điển, mới được cùng đi với Tế Công: Luồng điển của Tế Công đã bao bọc và đưa vào đó, thì nhằm bước vào điển giới, thấy cái cảnh, ngộ được cảnh, tâm thức ngay; ngộ được cảnh, tâm thông cảm ngay. Cho nên, người tu Vô Vi phải đưa luồng điển lên trên bộ đầu, rồi từ thanh nhẹ đó chúng ta quán thông; mượn đời thuyết đạo, mượn đời quán thông nguyên lý nguồn cội.

Tế Phật: Màu xanh là thứ thần dược để biến khí và giải muộn; nó có thể dung hòa được sự khô khan cũng như ẩm thấp; cho nên kẻ yêu thích màu xanh đều là những kẻ trẻ trung hoạt bát. Cái lẽ đó quả là hợp lý đạo.

Dương Sinh: Khu vườn phía trước trồng đầy cây cối cùng hoa quả; mỗi thứ một giống, chẳng thứ nào giống thứ nào; muôn màu muôn vẻ khác nhau; mỗi cây đều có đính kèm nhãn hiệu viết rõ tên người; không hiểu ngụ ý như thế nào?

Đế Quân: Ha Ha, bữa nay tôi muốn vì người đời mà giải thích rõ sự mê lầm của cõi trần: những cây đó đều là nguyên linh của các thứ cây ở dưới trần gian: Đương thời Ngũ Lão sinh đẻ nuôi nấng các nguyên linh; Mộc Công tôi cũng chia sẻ một phần trách nhiệm. Nhân loại sinh ra đời là bắt nguồn từ cây cối và hoa cỏ.

Cây hướng “Dương” nên sức mạnh mẽ, đại diện cho nam tính; hoa hướng “Âm,” yếu đuối mau tàn tạ, đại diện cho nữ tính; chúng tượng trưng cho trạng thái nam, nữ sinh hoạt ở thế gian: chỉ cần thế gian đẻ ra được một đứa con trai, nguyên linh của cây liền nẩy mầm trên đất; nếu như sinh con gái, ắt nguyên linh của hoa cũng đơm nụ. Dưới trần nói “Rớt xuống đất”. Trên trời nói “Ra khỏi đất”.

Nguyên linh ban cho chủng tử, ở trần gian gọi là tinh và noãn. Trong lúc nuôi nấng thai nghén, bào thai cũng là lúc chủng tử được vùi trong đất; một sớm nẩy mầm cũng là lúc bào thai chào đời. Nếu như chủng tử ung thối, biến dạng hay bị tổn hại, thì bào thai cũng biến hình, chết trong bụng mẹ, hoặc bị đẻ non. Người và Trời mỗi cái hít hà đều có quan hệ hỗ tương: mỗi hơi thở đều có sự tương giao mật thiết; nguyên linh của các cây hoa trên trời đều có ảnh hưởng đến sự sinh đẻ, nuôi nấng, dạy dỗ, cùng sức khỏe của trẻ thơ dưới trần.

(Lời minh luận của Thầy:)

Đó, sự liên hệ của chúng ta là Tam Cõi, như tôi đã thường giảng cho các bạn. Các bạn không nên vội kỳ thị các bạn, và các bạn đề cao Thượng Đế, đề cao Phật, đề cao Chúa, mà quên bạn! Tất cả ở trong Bạn; mà các bạn chịu tu, chịu khai thác ra, thì Tam Giới là bạn. Cho nên, các bạn hiểu việc này, sự liên hệ không ngừng nghỉ: tâm chúng ta động thì Bề Trên đã ghi chép rồi. Nếu chúng ta làm sai mà tâm chúng ta hướng thiện, thì chư Phật chư Tiên cũng động, và hỗ trợ cho chúng ta tiến hóa.

Cho nên, sự tu hành không phải nhứt thiết mượn pháp này, mượn pháp nọ, mà nhiều người có tâm lành hướng thượng và biết được tam cõi, thì người đó cũng thành đạo và cũng về trời. Cho nên, chúng ta thấy rõ: ngày hôm nay vì chúng ta quá động loạn, ô nhiễm, rồi lần lượt tới tuổi già, không biết mình là ai. Cho nên, chúng ta mượn cái pháp để đào sâu và sử dụng khả năng sẵn có của chính mình để tìm lại thực chất của chính chúng ta: "Té ra nguyên linh của chúng ta hòa hợp với ba cõi Thiên, Địa, Nhơn rõ rệt, từ trên trời xuống thế gian: tâm ta động trên trời động.

Cho nên, một người biết tu thiền là làm hữu ích cho cả Càn Khôn Vũ Trụ. Sự liên hệ không ngừng nghỉ đó, sự thu phóng đem lại thanh giới truyền cảm cho các giới. Mà đối với người thiền mà biết tu hành tới thanh tịnh là quý biết là bao nhiêu, làm cho các nơi đều ổn định, thiên cơ được thuần thục và không có sự kích động nữa! Cho nên, người tu quan trọng.

Hôm nay Bác Mười chọn cái quẻ này để Bác Mười được thấu rõ, được hiểu được xác thân của Bác Mười là liên hệ với cả Ba Cõi, nhưng mà quá trình đã hao phí. Ngày hôm nay ăn năn sám hối và lo tu trở lại với sự chơn giác, cũng không là muộn: biết được đường đi, biết được khả năng sẵn có của chính mình, và tự sửa chữa, tự tìm con đường tự thoát, là cái điểm may cho Bác. Cho nên, Bác phải dứt tất cả thất tình lục dục tạm bợ ở thế gian không đi đến đâu, và chúng ta phải nuôi dưỡng cái phần tiến hóa không ngừng nghỉ sẵn có của chính mình.

Cho nên, Bác hôm nay được Bề Trên phúc đáp và dẫn giải thấu đáy tâm can, và ảnh hưởng tất cả bạn đạo: những người kế tiếp đây cũng sẽ đi tới cái tuổi của Bác; Bác đi trước, mọi người sẽ đồng đi, rồi chúng ta cũng đồng học; với tuổi trẻ chứa đựng không nhiều sự thổn thức, không có nhiều bằng Bác vì Bác xế chiều và tìm con đường đi. Cho nên, những cái câu giải thích trong này nó thấm thía với Bác, và Bác sẽ nhận đó mà tu.

Rồi, người nào muốn lên bói quẻ khác?

BĐ4: Thầy cho con xin phép.

ĐT: Ừ, cứ lựa cái nào cũng được; đây, để đây một đống; ở đây tới câu 15.

VẤN: Thưa Cha, nếu như vậy thì những sái quấy tội lỗi của con người có đáng được trách móc kết án trước sự phán xét của công lý loài người cũng như trước công lý của Thượng Đế chăng, khi mà những sai lầm của nó đều nằm trong định luật tự nhiên và trong sự sắp xếp của ý chí Thượng Đế?

(Lời minh luận của đức Thầy)

Anh này là Ảnh rành vụ này nên Ảnh lật ra cái này, đúng như thật.

ĐÁP: Này con ơi, phải nói rằng trước công lý của Thượng Đế thì những tội lỗi sái quấy của con người đáng trách mà không đáng trách. Tại sao không đáng trách? Vì Ngài hiểu tội lỗi ác trược, vốn dĩ nằm trong bản chất của tiểu hồn là một chiết thân của Ngài, nó bừng dậy khảo đảo và khống chế tiểu hồn khi tiểu hồn bị lu mờ ý chí sáng suốt.

Sự lu mờ này, do ý chí xếp đặt cuả Ngài và do sự vận chuyển của định luật Tự Nhiên. Do định luật tự nhiên vận chuyển nghĩa là sao? Là khi tiểu hồn của Thượng Đế xuống tới cõi nặng trược, ý chí sáng suốt của nó phải bị lu mờ vì chất khí nặng nề của cõi hồng trần. Do ý chí xếp đặt của Thượng Đế là sao? Là vì Thượng Đế muốn tiểu hồn Ngài bị ô nhiễm, đi vào nặng trược phải chịu mất cái sáng suốt của nó để học trược nếm trược, rồi bị ác trược khảo đảo nó, khiến nó đau khổ trầm luân, cho đến khi nó thấm nhuần cái trược, nó sẽ lần bước sang học cái thanh. Giai đoạn học thanh này là giai đoạn mà tiểu hồn sẽ vun bồi lại sự sáng suốt mà nó đã mất, cho đến khi nó đạt lại được hoàn toàn. Thế nên, Thượng Đế phải hiểu tội lỗi từ trong bản chất của tội lỗi. Để kết án nó!

(Lời minh luận của Thầy:)

Cho nên, cái chuyện mà Thượng Đế đã sắp đặt cho chúng ta xuống đây, cũng như Anh Cang nói rằng ông Trời cho tôi xuống đây. Tôi hồi trước tôi là ông Tiên mà cho xuống đây sao tôi ngu quá (cười...). Tôi lu mờ đi, nhưng mà cái lu mờ đó là xây dựng được cái dũng chí. Nó cố gắng để nó vượt qua những sự lu mờ đó! cố gắng để vượt qua những sự tối tăm đó thì nó mới trở về thanh giới được; mà khi nó trở về thanh giới nó là trọn lành!

Cho nên, cái bài học của Thượng Đế đã sắp đặt có đầu có đuôi! Hoàn cảnh của các bạn đây là có đầu có đuôi. Ngày hôm nay các bạn đi đến đây tu cũng là có đầu có đuôi! Càng tu chừng nào các bạn đâu thấy thanh, càng thấy trược chớ! Thấy tôi trược quá! Thấy tôi tội lỗi nhiều quá! Thấy tôi tối tăm nhiều quá, nhưng mà cái tối tăm tôi cần thiết không? tôi không cần thiết, tôi phải tự vượt qua những sự tối tăm thì tự nhiên tôi tiến về thanh.

Đó, trong một giây phút nào các bạn rơi vào trong cái chỗ “không”? trong giờ phút tham thiền, là lúc đó các bạn đã giải tỏa và sức mạnh thật sự về với các bạn, trong mọi sự trong lành rơi vào cái “không không” trong cái giờ tham thiền; rồi lúc đó, các bạn mới thấy rằng Thượng Đế đã an bài. Thượng Đế đã dẫn các bạn đi học. Thượng Đế đã nuôi nấng và vun bồi những điểm tốt cho các bạn, qua sự điêu luyện mà chính các bạn phải tự luyện để đạt, sẵn một cơ cấu tinh vi của Ngài đã sắp đặt cho chúng sanh. Cho nên, lúc đó, các bạn chỉ chấp nhận, nhẫn hòa tu trong thanh tịnh mới cứu độ chúng sanh.

Rồi, còn ai nữa? Được không?

BĐ4: Dạ, được.

ĐT: Được, rồi! Không được, làm cái khác.

Rồi, bây giờ chú nào vô? Người ta đi tốn tiền quẻ nhiều; mình bây giờ cái quẻ này ngon lắm, quẻ trọn mà! (cười) Cái nào? Cái này hả?

BĐ5: Dạ.

ĐT: Cái này nó thì:

VẤN: Kính thưa Cha, khi sáng tạo con người thành hai hình hài người nam và người nữ, rõ ràng là Thượng Đế đã có chủ tâm cho họ có sự phối hợp với nhau. Sự kiện đó đã được ghi nhận qua cách cấu tạo thật tế nhị và tinh vi của hai cơ thể nam nữ, để hai cơ thể này có thể phối hợp với nhau hầu sinh đẻ nòi giống nhân loài. Điều đó cho thấy rằng dục của con người là thuận theo quy luật của thiên nhiên. Giờ đây, nếu bảo con người tuyệt dục vì đạo đức tu hành; như vậy, có phải là nghịch lại luật thiên nhiên và sái luật tiến hóa không? Cha nói rằng, nếu nghịch lại luật thiên nhiên, tức là sái luật tiến hóa, thì đây là sự hủy diệt! Vậy xin Cha giải thích.

ĐÁP: Luật thiên nhiên chính là luật tiến hóa. Nghịch lại luật thiên nhiên tức là sái luật tiến hóa và đấy sẽ là thảm họa hủy diệt. Điều này con nói rất đúng! Khi sáng tạo con người, Thượng Đế đã chủ ý rõ rệt cho sự phối hợp qua cách cấu tạo cơ thể của nam và nữ. Như vậy, rõ ràng là Thượng Đế chủ trương cho họ dục để nối giòng. Đấy là định luật tiến hóa. Điều này con nói cũng đúng! Vậy tại sao lại khuyên con người phải diệt dục để tu hành hầu được tiến hóa đi lên?

Sự kiện này có vẻ mâu thuẫn, và chỗ mâu thuẫn khó hiểu này, các nguồn minh triết tôn giáo, các học thuyết, hàng vạn triệu pho sách triết lý từ bao thế kỷ đã bàn bạc đủ cách đến vấn đề hết sức quan trọng cho đời sống con người này. Có học thuyết thì cổ võ đề cao, khuyến khích hưởng dục, xem dục là bản chất đẹp của con người. Có triết lý thì đả phá, ghê tởm dục như ma quỷ, coi dục như một tội lỗi xấu xa chống lại Thượng Đế. Có học thuyết thì xem dục là thú tính phải chế ngự nó để có một đời sống tiết độ đạo đức. Có triết lý thì chủ trương diệt dục để thoát vòng trầm luân tử khổ; v.v...

Tóm lại, nhân loại đã tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực mổ xẻ vấn đề này để khai thông những bế tắc cho con người, nhưng hầu như chưa làm con người thật sự thỏa mãn.

Vậy dục là gì? Cha cho Con rõ, thật sự dục là bản chất của Thượng Đế, dục là Chơn Lý đó Con! Dục là một nguyên lý vĩnh cửu, bất khả diệt và không thể không có được! Nho giáo: tinh là cái của trời thành tựu, tinh là thể chất của tinh; dục là cái ứng dụng của tinh, cái dục không thể bỏ được, bởi nó là cái cụ thể của tinh. Dục là nguyên nhân sự hình thành của Càn Khôn Vũ Trụ, là định luật bảo vệ sự tồn tại vĩnh cửu của Chơn Lý bất biến, do nguyên tắc hóa hóa sanh sanh đời đời của vạn vật.

Nếu Thượng Đế ngưng dục trong một sao đồng hồ, thì Càn Khôn này phải tan rã ngay tức khắc! Cho nên, Thượng Đế phải dục không ngừng, không nghỉ, và dục vô cùng tận! Trong Càn Khôn này có ai dục bằng Thượng Đế? Thượng Đế dục ngay cả trong mỗi vi trần, trong từng vi thể, dục trong từng tế bào nguyên tử: có nguyên tử nào mà không có sự phối hợp của lực Âm Dương? Cho nên, dục phải là chơn lý trong định luật tiến hóa luôn đó con! Thế thì tại sao lại khuyên diệt dục, khuyên từ bỏ sự phối hợp tự nhiên giữa nam và nữ? Cha sẽ cho con hiểu thêm một chút, điều mà các nguồn triết lý, học thuyết, chưa giải thích rõ hơn!

Các con biết, sự thật vấn đề ở đây không phải là diệt bản chất dục, mà là phát triển thêm dục tính, học biết dục hơn, học bài dục cao hơn để tiến hóa lên cao hơn. Đức Bồ Đề Đạt Ma nói: “Chỉ cần thấy được tánh, mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải giả dối, dứt trừ, mà cũng chẳng có gì mắc vào vòng dục lạc. Tại sao vậy? Vì tánh mình vốn thanh tịnh, dầu nó trụ ở sắc thân (nghe không rõ…). ”. Nho giáo nói: “Phàm người nói trị, mà đòi sự khử bỏ được cái dục, chính là người không có cách để đạo dẫn cái dục, mà khốn khổ ở sự dục vậy.”

Con phải học dục luôn luôn để càng lúc càng phát triển nó, cho đến khi Con biết dục vô cùng tận để làm Đấng Toàn Giác Toàn Năng. Cuộc hành trình cho Con xuống thế cho đến ngày trở về là để đi học dục: từ dục trược đến dục thanh, từ dực nặng đến dục nhẹ, từ trình độ thấp đến trình độ cao, đủ mọi bản chất, cho đến khi Con thực sự biết dục. Con phải …

kết thúc ID 19860100Q2


----
vovilibrary.net >>refresh...