ID # 19860100L3 audio
KHÓA HỌC "KINH A DI ĐÀ - CHÚ GIẢI" - Cuốn 3
...
"Khi mà tôi cảm thức cái đó là không, là luồng điển tôi có thể hòa cảm với luồng điển của đối phương, mà luồng điển của đối phương mà còn chậm trễ đi nữa, còn tăm tối, cái luồng thanh điển, từ điển của tôi lại độ cho đối phương, mà tôi không có nói là tôi độ. Tôi ngồi trước mặt họ, nghe họ nói chuyện nhưng mà tâm tôi đã độ họ và giúp họ." Giúp chỗ nào?
Giúp thẳng về phần hồn, giúp cho phần hồn, mà hành giả không hay.
Cho nên nhiều khi các bạn tu rồi, tại sao người này nó thích nói chuyện với tôi! Là luồng điển của mình đã độ được đối phương. Cho nên có sự hiện diện của mình nó thích, mà không có sự hiện diện của mình nó buồn! Nó cũng người ta, mình cũng người ta, mà người kia cũng người ta. Mà người kia tới chơi với nó không được! Là mình độ thẳng phần hồn mà không hay!
Cho nên ở đây những cái câu chữ này, những cái bài kinh kệ này, khi các bạn thiền, các bạn lấy ý nghiền ngẫm và nó sẽ chạy lọt vô trong tâm các bạn. Cái đấy là một cái hành trang tiến hóa và xây dựng trở về một triết lý sống động để cứu độ quần sanh ở tương lai.
“Phật hiệu Kim Cang ở giữa mình”, Phật hiệu, cái chữ Phật hiệu nó ở giữa mình đây này (giữa ngực), chữ Vạn.
“Hư không thanh tịnh hóa nên hình”;
“Khuyên người sớm bỏ tham sân bịnh”;
“Thần khí phải gìn giữ rất tinh”;
“Mười tháng công phu năng luyện tập”;
“Ba năm công quả khá kiên thành”: Chịu tu ở trong 3 năm là thấy tánh rồi.
“Trống lòng đầy bụng là giềng mối”: Mình làm Pháp Luân nè, cái bụng của mình... cái lòng ở trong này không có nữa; Không: chỉ giữ cái hơi ở đây thôi! Là giềng mối.
“Vạn sự quy về một chữ thanh”: Đó, Cho nên, cái Lục Tự Di Đà, người tu Vô Vi là chỉ có quan trọng 6 chữ này thôi.
Tôi nói, lúc tôi tu và tôi ngộ được 6 chữ này, còn những cái gì mà ông Tư nói những cảnh Tiên, nhà Phật, không bao giờ tôi để ý. Tôi tìm cái giềng mối để tôi đi tới.
Từ ngày mà tôi nghe ổng nói: “Nam, thật phương Nam lửa Bính Đinh”, tự nhiên tôi ghi chép cái đó hoài trong óc tôi. Bính Đinh là cái gì? mà Nam là phương Nam mới thật là có lửa? mà làm sao có lửa? Từ đó tôi đã nghĩ ngay tới chiếc xe hơi, nó có cái vis platiné nó đập. Bính Đinh, tui nói, Quoa! sao mình hiểu cái này, mình không học qua thầy bói, mà mình là người của thời đại, làm sao tôi hiểu? tôi thấy đây là cái “Mát” điển rõ ràng, rồi đêm đó tôi mới Soi Hồn, tôi Soi Hồn không có nhiều 5 phút tới 15 phút, tôi bỏ xuống theo lời ông Tư dạy, rồi tôi thiền đã nó mỏi rồi. Tôi nằm xuống, tôi trở lại thiền, tôi cũng thiền từ 5 phút tới 15 phút. Tôi làm thét, làm thét, nó nặng trì ở đây (trung tim hai chân mày) thì tôi chỉ có nhắm mắt... ngồi nhắm mắt, nhắm mắt, nhắm mắt... rồi trong này nó bắt niệm Phật. Dùng ý niệm từ từ niệm Nam Mô A Di Đà Phật... Nam Mô A Di Đà Phật, thấy cái tâm hồn nó thanh thản vô cùng, rồi tôi mới nghĩ ra, tại sao mình không nói một hai ba bốn năm sáu tới một trăm nó hay hơn? mà nói Nam Mô A Di Đà Phật nó có 6 chữ thôi!
Ông Thích Ca chưa chết, tại sao ông Thích Ca không về? Ổng chỗ nào ổng cũng đi được. Ổng có thể ghé qua ổng chơi với tôi. Tôi nghĩ là ông Thích Ca làm sao để liên lạc với tôi, chớ tôi không có khả năng liên lạc với ổng. Tôi lại nghĩ ngược như vậy! Tôi ngồi, tôi Soi Hồn, tôi niệm Phật thì không lâu thì thấy ông Thích Ca, luôn luôn ở trên đầu tôi và dạy tôi cách làm khi tôi Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định rồi tôi nằm xuống, dạy tôi vò cái mặt mà trong ý Ngài nói: “Ta sẽ cho ngươi có cái mặt giống ta”, mà bắt cái mặt tôi phải sát ở dưới đất, rồi vuốt, vuốt, vuốt, vuốt... mà lúc nào thiền rồi cũng bắt làm vậy hết. Mà khi làm rồi thì tôi thấy thanh nhẹ trong người, thấy sung sướng!
Không lâu, tôi dòm mặt mày, tôi thấy “sao lúc này thằng này coi bộ coi được” (cười...). vì hồi trước kia nói đạo người ta ghét, tới nói đạo người ta không ưa, thì mình khép ở nhà mình tu thôi!... Mà tôi tu ở trên cái gác, bà Tám ghét, cho có miếng chiếu chút xíu thôi, tôi chỉ ngủ phạm vi chút xíu. Cho nên mấy người cho tôi cái giường, tôi cũng ngủ quen rồi, cũng miếng chiếu đó thôi. Bây giờ anh có cho cái giường bao lớn, tôi cũng ngủ một góc, chớ tôi không có ngủ qua bên kia, hồi xưa tới giờ quen rồi Ngủ, nằm một chút, rồi ngồi dậy làm nữa, thì mấy người đi về nói: “Coi thằng điên nó ngồi kia kìa”! Thì mình cũng làm, làm thì trên kia cũng dạy vậy, thét mặt mày nó thay đổi, niệm Phật, niệm tới nó nhột ở chỗ này (trung tim hai chân mày), nó nhột cũng như có con ruồi nó nhói nhói ,nhói nhói... chỗ này, mà niệm Nam Mô A Di Đà Phật, niệm chừng nào thấy nó nhói nhói ,nhói nhói... mà xung quanh nó phá không thể nói được, nó lấy chổi lông gà nó thọc, nó làm cái gì đủ thứ, tôi cứ niệm Phật mà cái đầu nó cứ run run,run run vầy nè, run run mà niệm, bừng ra được rồi một cái là... đi rồi, đi ra đường Tổng Đốc Phương. Đi chỗ này chỗ nọ chơi, thây kệ, nó cứ vầy ( đầu thầy run run ) mà mình đi chơi. Rồi đi núi Thất Sơn, đi đủ các núi mà, tôi cái tánh kêu bằng liếng khỉ từ nhỏ là phải đi chơi... đi, đi chỗ này, chỗ nọ, khám phá, vô nhà băng chơi, đi các chỗ chơi, đi tới cái chỗ vợ chồng người ta ân ái mình cũng đi chơi, đi hết! Rồi đi tới cái chỗ con thú bắt đầu tiến hóa... Những con thú cũng tội nghiệp lắm, đầu sư tử, mình người ta, gánh nước làm việc, tôi cũng đứng tôi coi, có bữa tôi đi tới cái chỗ kêu bằng tụi légionnaire mà nó chết còn ở Việt Nam, nó bắn, nó bắn tôi nát xương, không còn gì hết, rồi một chập tôi nhảy vô cái restaurent tôi đứng, tôi thấy tôi còn nguyên. Hỏi chớ sao tụi này nó bắn mình không chết? lạ kỳ quá? bắn mình không chết? Tôi lại đi nữa, hết sợ rồi! Mà bây giờ làm sao? Bây giờ họ đánh mình mình làm sao đây? Niệm Phật! Nhờ cái niệm Phật đó, nó mới có cái vốn mà đi. Niệm Nam Mô A Di Đà Phật, tôi đi nữa. Đi tới một cái bãi biển đẹp thiệt đẹp, có một ông tướng, ổng nắm cây giáo, từ xa ổng tới đâm, đâm, đâm tôi... Mà ban ngày à! Tôi ngồi ở trước nhà, tôi ngồi trên bộ phản tôi niệm Phật, tôi thấy ổng tới rõ ràng, ổng đâm tôi. Tôi niệm Phật, một chập cái ổng tan mất.
Tôi mới thấy tại sao cái "Nam Mô A Di Đà Phật" mà nó hay như vậy?... Phải cho tôi biết cái ý nghĩa của "Nam Mô A Di Đà Phật", mà nó nằm ở đâu mà nó có thể cứu tôi nhiều..., qua biết bao nhiêu trạng thái, chìm tàu, đủ thứ, mà tôi thấy là tôi niệm Phật, tôi trở lại? Tôi nói "Lạ!" Lúc đó tôi bắt đầu niệm, niệm thì tôi nghe trong này lớn rộng, đầu óc tôi rộng, rộng lắm; không phải ở trong căn nhà eo hẹp! Nó rất lớn rộng!
N... A... M... nó túa sáng hết,
M...Ô... lớn rộng vô cùng, từ đó nó khai triển, khai triển, khai triển mà không có niệm mau, niệm rất chậm
N... A... M... nó văng vẳng, văng vẳng, văng vẳng. M... Ô... như tiếng ngân của chuông chùa vậy!
A... cái ý nó cứ chuyển chạy, chuyển chạy; nó thấm thía vô cùng.
Từ đó khai mở ra, mới bắt đầu nói về chơn lý, nói về sanh tử luân hồi. Rồi tôi đi, buổi trưa đó, trời nắng thiệt nắng, bước lên làm bài thơ liền! Mà hồi nào tới giờ đâu có biết làm thơ. Viết cái thơ không xong, viết cái thơ chữ Việt Nam viết không xong, mà ở đó làm thơ!
Bài thơ mà tôi thường nói, thì đem xuống cho ông Cao Minh Thiền Sư, Ông Cao Minh Thiền Sư Ổng nói: “Nó hiểu hết rồi!” Ông Tư dẫn đi liền. Tôi đem xuống cho Ông Tư, tôi nói, "Trưa này tôi ra bài thơ!" Cho nên lấy cái bài thơ đó xuống cho Ông Cao Minh Thiền Sư; ông Cao Minh Thiền Sư nói: “Thầy Tư, nó hiểu hết rồi! Ráng theo Thầy Tư tu!” Tôi cũng không mừng! Tôi còn nghi mấy ông này: “Sao mà ổng nói mình hiểu, mà hiểu là hiểu cái gì?” Cái tánh tôi luôn luôn là thắc mắc, không hiểu đâu! Tôi mới đọc lại cho ông nghe: “Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên”, tôi viết cho ổng coi, nhưng mà tôi lại đọc, tôi cũng thắc mắc, tôi nói:
TÔ LỤC CHUỐC HỒNG TỰA CẢNH TIÊN Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên.
ĐIỂM MÙI CHUA NGỌT LÒNG XAO XUYẾN Điểm mùi chua ngọt lòng xao xuyến.
SƠN TINH THỦY TÚ LUÔN PHIÊN HIỆN Sơn tinh thủy tú luân phiên hiện.
HÀ THỦY ĐỤC TRONG KHẮP CÁC MIỀN Hà thủy đục trong khắp các miền.
Cái giờ thiền của tôi, tôi thấy rõ:
“Tô lục chuốt hồng tựa cảnh tiên”: Sơn phết cho nó giống cảnh tiên vậy thôi; thế gian mà!
“Điểm mùi chua ngọt lòng xao xuyến”: Con người đi tới chỗ này chỗ nọ, chua cay đau khổ, lòng mình xao xuyến.
“Sơn tinh thủy tú luân phiên hiện”: Mình mới nhớ tới cảnh Trời, Phật hiện trong đầu óc của mình.
“Hà thủy đục trong khắp các miền”: Cái nước hồ chỗ đục chỗ trong, khắp các miền đều như vậy, ta lo âu làm gì!
THỢ VẼ HỒN THƠ GIEO Ý NGUYỆN Thợ vẻ hồn thơ gieo ý nguyện.
KHÉO KHÔN KHÔN KHÉO TÌM PHƯƠNG CHUYỂN Khéo khôn khôn khéo tìm phương chuyển.
XÂY DỰNG NGÀY KIA SẼ THẤU TRUYỀN Xây dựng ngày kia sẽ thấu truyền.
TÔ ĐIỂM SƠN HÀ THỢ KHÉO XÂY Tô Điểm Sơn Hà Thợ Khéo Xây!
Hồi đó tôi cũng không biết Ơn Trên cho tôi, hay là khả năng của tôi? Tôi làm gì có khả năng mà làm thơ! Mà làm như vậy! Kỳ lạ! Hay là mình điên rồi! Cũng không phải điên! Cái lý rất hay, thấy không! Mình dòm cái hình ông Thích Ca, mình gieo ý nguyện, và mình muốn tu, phải khéo xây, phải cố gắng để đi tới như Ngài. Đó là cái đại nguyện trong tâm nó thể hiện ra một bài thơ.
Tôi thắc mắc vô cùng, xuống Ông Tư, Ông Tư nói: “Hay! Và tôi cho bạn hay sau này bạn làm thơ hay lắm!" Tôi nói, "Làm dở ẹt, mới có một bài mà tôi ngó bộ không xong; (cười...) mà Ông nói hay!” "Vậy đó! Sau này Bạn thấy những công chuyện như thấy tivi vậy đó! Bạn không có lo âu, không phải làm thơ như tui mà phải ngồi suy nghĩ đâu! Viết lúc nào cũng được hết!" Ổng nói vậy đó! Tôi cho ông già nói láo! Tôi dốt mà! Tôi đâu có biết như Ông, mà làm sao tôi có thể làm thơ được? Tôi viết cái thơ không xong mà; làm sao tôi có thể làm thơ thi được? Cái chuyện Ông nói kỳ! Ổng nói: “Cái thơ này, Bạn đưa mấy ông đốc học cũng làm chưa có được!” Tôi nói: “Giỡn! Đốc học là phải giỏi hơn, chớ tôi đâu có biết gì mà tôi làm được!” Ổng nói: "Thiệt đó! Bạn tu có thành quả tốt lắm." Tui nói: "Ông nói, chớ tui chả có thấy cái gì hết!" Túi thì không có đồng xu, đi bộ 10 mấy cây số, nghe ông nói có mấy câu, chả được gì! Thôi tôi cũng phải về lo tu.
Từ đó bắt đầu viết thơ; về cái, viết thơ; ổng nói cái, tôi về tôi viết thơ! Tôi nhớ Anh, tôi viết thơ thăm Anh; tôi nhớ người đó tôi viết thơ thăm người đó; mà người nào trả lời, nghĩa là nắm cái thơ tôi khóc, đọc tới rách cái thơ luôn! Khóc mà nước mắt, nước mũi nhỏ tới rách cái thơ luôn, xin cái thơ khác! Viết biết bao thơ cho người ta, bạn bè này kia, kia nọ. Hồi đó tôi tu, họ khinh thị lắm, họ phá tôi; bây giờ tôi nhờ họ tôi mới đắc đạo, tôi mới biết đạo! Tôi viết thơ thăm họ, tôi cắt nghĩa chuyện trời đất, thế gian đồ này kia, kia nọ; họ nghe, họ thấy thích thú! Cái luân hồi, nghiệp quả mà tôi viết ở trong đó, tự nhiên nó mở! Mà từ hồi nào tới giờ họ quen thân với tôi, tôi đâu có biết làm cái đó!
Cho nên, nhờ cái "Nam Mô A Di Đà Phật" mà nó mở tất cả tâm trí, nó mở từ lãnh vực này tới lãnh vực nọ. Không giờ phút khắc nào tôi không niệm Phật, ngay tới bây giờ cũng vậy, đang nói chuyện với các bạn, cái phần ở trên này ngồi trì niệm luôn luôn, nó mới phát quang ra. Cho nên khi tôi nói pháp các bạn dòm mặt tôi nó trẻ, nó tươi hơn! Niệm Phật nhiều.
Cho nên, các bạn may mắn được nắm có một cái chìa khóa để đi!
Có lý thuyết tràng giang đại hải cũng phải quy về 6 chữ.
Nghe tui đi, để niệm Phật, và tâm tư các bạn sẽ không còn tự đày đọa nữa, và sẽ mở tâm, dịu hòa thăng tiến học hỏi vô cùng!
Cho nên, tôi có những cái thư từ lai vãng, với trình độ học chữ Việt Nam tôi đâu có bao nhiêu mà tôi có thể viết như vậy! Các bạn cũng có những cuốn băng ở đây nghe lưu loát. Ai đã làm cho chúng ta lưu loát?
Chính ta có những phần thanh tịnh ở Bên Trên, căn của chúng ta; mà chúng ta bỏ xuống thế gian, rước cái trần trược ô nhiễm, thành ra động loạn nắm bút viết không thông!
Mà nếu tu trở về cái thanh cảnh thì dòm thấy mà viết, đâu cần phải suy nghĩ mà viết thơ! Tình cảnh người nào thì dòm thấy đó viết! Thành ra có thể làm biết bao nhiêu công chuyện.
Một người mà thanh nhẹ và đạt như tôi, và chúng ta mấy chục người này, chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu công chuyện cho quả địa cầu; vừa thanh lọc thanh khí của càn khôn vũ trụ, vừa tác ra những cái lời nói để cho họ thức tâm!
Cho nên chúng ta học trong một cái khóa ấm êm chung trong một căn nhà, chung một ý chí, chung một con tim, chung một đường lối; rồi chúng ta mới thật sự nắm tay làm việc ở tương lai.
Cho nên cái quan trọng: tôi nhắc các bạn là niệm Phật, vừa nói chuyện, ý tưởng Phật. Lúc nào anh cũng phải tưởng Phật mới giải được cái nghiệp tâm. Chúng ta không còn mê tín nữa, chính tôi là người trong thực hành mà đạt. Ngày nay có kiểu mẫu hiện diện ở đây cho các bạn thấy, mà các bạn không làm, thì có tu cho cách mấy cũng đi trong sự mê tín mà thôi! Mà các bạn làm rồi, các bạn đi trong sự sáng suốt không có mê tín, mà Thánh, Tiên, Phật đều nể và khen tặng các bạn. Một kỳ công, có 6 chữ đó mà làm thành một kỳ công. Cho nên 6 chữ đó là vô cùng, cái gì cũng nằm trong nguyên lý đó hết.
Chính tôi là một người đã khám phá và đã tìm ra cái manh mối rõ rệt như vậy, để đem cái đạo vào Tâm; chớ hồi nào tới giờ Đạo thì viết trong sách thôi chớ không có trong Tâm, rồi dựa trong sách nói lý, chớ cái tâm không có phát triển.
Còn mình niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" nó tròn đầy hết tam giới Thượng, Trung, Hạ rồi thì nó mới ứng dụng tam giới Thiên, Địa, Nhơn; có phải nới rộng không?
Cho nên chúng ta tu trong cái khoa học huyền bí thực tế, chớ không xạo láo và tự lường gạt nữa; không có sự tự lường gạt!
Các bạn niệm Phật nhiều chừng nào thì các bạn sẽ có kết quả bảo đảm 100%! Ai tu thây kệ, họ nói lý thuyết thây kệ; các bạn nghe “Thượng Đế giảng Chơn Lý”, nghe nó hay lắm; mà các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Các bạn đọc “Địa Ngục Du Ký” hay lắm; các bạn đem được bao nhiêu vào tâm? Sách vở tràn đầy ở đây, các bạn đem được bao nhiêu vào tâm?
Nhưng mà các bạn niệm "Nam Mô A Di Đà Phật," tất cả bao nhiêu cuốn các bạn đem vào tâm hết!
Phải dọn để có chỗ chứa! Nó cũng ở trong một nguyên lý thôi!
Đó! Cho nên trong lúc mà tôi niệm Phật và tôi được rồi, tôi lại thách người bạn tôi, người bạn tôi biết tiếng Anh, mà tôi hồi nào tới giờ không học chữ Anh. Nó nói: "Tao kêu Mày học tiếng Anh để Mày đi làm, mà Mày không chịu học, mà Mày nói Mày muốn học một chút à! Bộ Mày là Tiên, Thánh tại trần rồi sao? Vậy thì Mày ngon Mày viết thơ chữ Anh cho tao!" Tôi nói: “Tao hẹn mầy 10 ngày tao học 10 bài là viết thơ Ăng Lê! Bởi vì Mày ngu, Mày có bạn Anh trên trời mà Mày không chơi, mà Mày đi chơi mấy thằng ở dưới này! Còn tao chơi thẳng mấy thằng trên kia, tao kêu nó viết dùm cũng ngon nữa!” Thằng đó bây giờ còn sống, nó ở Texas. Ảnh nói : “Giỏi, làm đi! Tao học bao nhiêu năm, bây giờ tao làm cho RMK! Mày viết đi! Mày viết thử đi, tao trả lời Mày!” Tui nói : “Tao sợ Mày trả lời không nổi!” Viết cái thơ đầu, ảnh khen, ảnh viết cái thơ lại ảnh khen. Viết cái thơ thứ nhì, ảnh khen. Viết cái thơ thứ ba, làm thi, ảnh viết cái thơ chữ Việt Nam trở lại! Ảnh không có viết thư Ăng lê nữa! "Như vậy thua chưa? Thua chưa?" Ảnh viết thơ chữ Việt Nam trả lời; tôi làm bằng thi không! Tôi không viết cái kia, thi Ăng Lê! Mà thi Ăng Lê của tôi là thượng lục hạ bát, đọc ra hiểu! Tôi làm vậy đó! Tôi gởi cho nó!
Cho nên những người Anh, bây giờ tên Anh, cho tôi cái tên, tôi làm bài thơ cho họ. Nghĩa là 4 câu trên cũng 26 câu, cho 26 câu, như cho mấy người Việt Nam một thứ; cũng như anh George, bây giờ George Cap tôi đọc là Giáp Anh, sửa tên là Giáp Anh Tuấn đó, treo cái bài thơ đó, mỗi buổi sáng đọc rồi đi làm! Có cái gì lộn xộn đọc cái, nó hết! (cười...) Chữ Anh... tên chữ Pháp tôi làm bài chữ Pháp; mấy người bên Pháp đều có bài thơ của tôi hết; nó treo đó, có cái gì rắc rối, gây lộn cái, nó đọc cái, nó hết!
Cái đó là đồ chơi!
Còn cái thực hành là phải niệm Phật, đào sâu chân lý trong cái huyệt khuyết của nội tâm.
Chỉ có niệm Phật thôi! Lục Tổ Huệ Năng đã khám phá ra. Ở thế gian này, ông Tư đã khám phá ra, tôi lại khám phá ra rõ rệt hơn cho các bạn! Sướng lắm, chúng ta đi một đường lối của Ngài!
Dốt mà biết đạo hơn biết chữ mà tạo nghiệp! Nam Mô A Di Đà Phật dễ học, biết chữ mà tạo nghiệp thua thằng dốt biết đạo đó bạn!
Hiểu chỗ này!
Cho nên cứ niệm Phật đi, rồi mọi sự sẽ qua!
Đây nói về cái cốt chỉ của Lục Tự Di Đà. Chúng ta thường khi niệm "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" mà không rõ tông chỉ của 6 chữ ấy.
• Ông Tám giảng
Không hiểu ( tông chỉ của 6 chữ ấy)
A - Chữ "NAM" là phương Nam, trước trán bản thể ta.
Lúc ta công phu, nhờ hai ngón tay trỏ và hai ngón tay giữa chận hai sợi dây gân, thường giờ phút khắc mạch nhảy theo gân chán hai, chúng ta nhờ Soi Hồn, lấy ngón tay cái bịt lỗ tai cho kín thì khí điển trong mình ta xung lên bộ đầu, làm cho ồ ạt trong đầu, rồi điển chạy theo gân qua màng tang trước trán ta, chạy vào nơi chỗ tập trung Lư Hương luyện đạo.
Phật Ngài nói, lửa Bính là than vùi bên tay mặt, còn bên tay trái gọi là lửa ngọn, người luyện đạo gọi là Điển.
Nếu chúng ta công phu bền bỉ cố gắng, điển ấy gom vào nơi tập trung Lư Hương.
Chúng ta tu lâu ngày thì điển ấy hóa sanh hột Mâu Ni Châu.
Hột Mâu Ni Châu là cục lửa tròn vo trước trán ta; lửa ấy bay vơ vẩn trước mặt ta trong lúc luyện đạo.
Nhưng ta tưởng nghĩ: đốm lửa ấy biết bay! Đó là một huyền diệu khí điển của Phật biểu ta tu nơi mình, gọi là Hào Quang, thì bạn cũng biết cho, kêu là huyền diệu của Phật!
B - Chữ "MÔ" có nghĩa là Mô giới, hay là một chất luồng điển trên Thiên Không, hợp với thán khí hóa ra dưỡng khí giúp cho hơi thở con người khỏe khoắn và thông minh trí tuệ.
Phật lại hóa sanh khí ấy, nâng đỡ, vừa giúp hỗ trợ, gọi là Điển Lành, để giúp cho điển của chúng ta lúc công phu luyện đạo thì điển của chúng ta được mạnh thêm một phần nào cho có năng lực tung ra bộ đầu, gọi là Hà Sa.
Hà Sa là một thứ điển vi tế, tựa như hột cát, ánh vàng sắc lửa.
Chúng ta cố gắng công phu lâu ngày thì những Hà Sa ấy gom lại tại nơi tập trung, hóa thành hạt Mâu Ni Châu bay vơ vẩn trước mặt ta, cũng gọi là Thần Hồn của ta xuất ra! Đó là Phật độ cho ta, chỉ là nâng đỡ cho Hồn ta.
HỒN là thứ khí điển trong bản thể, bắt từ dưới chân, nhờ ta công phu luyện đạo mà điển ấy trở nên mạnh.
Có hai thứ điển: Một thứ chất nặng để làm việc bản thể,
còn một thứ khác thì thanh hơn, bắt từ mấy sợi dây gân bao bọc bản thể ta, cùng các khớp xương.
Chỗ nào bịt nghẹt nhờ khí điển xung lên, điển mạnh kéo điển yếu, các nẻo gân làm cho chúng ta thông minh trí tuệ, từ thiện, và gom lại; khí ấy giúp cho linh hồn ta sáng suốt.
Phép đạo gọi là SOI HỒN.
Soi Hồn là soi cho trống, cho thông, điển yếu cùng chung điển mạnh rút lên bộ đầu cho mau lẹ.
C - Chữ "A" là Nhâm Quý gồm thâu nơi thận. Nhâm Quý thuộc về Tiên Thiên Thận Thủy, do nơi nước điển trong trái cật nơi thân mình ta, cũng có nghĩa là Bắc Phương Nhâm Quý Thủy.
Thủy là loại nước (liquide); liquide và air tạo ra khí điển trong khoa học đời nay. Chất lỏng ép cho bị nghẹt, nước ấy thành khói, bịt tức nổ ra thành điển lửa.
Lúc chúng ta công phu luyện đạo, nghe trên bộ đầu ta nổ lụp bụp, nhờ các sợi dây gân bao trùm bộ đầu làm cho động địa, cùng kéo khớp xương ba miếng trên bộ đầu ta tách gian ra. Công phu ít thì tách ít, công phu nhiều thì khớp xương mở ra lớn hơn một tí, ước chừng một li; cố gắng công phu được lâu thì khớp xương nẻ ra rộng hơn, nhưng không tới một phân.
D - Chữ "DI" là khí điển trên Thiên Không rọi xuống, cũng gọi là Dưỡng khí hay là Trường sanh để giúp cho ta thở khỏe khoắn. Lúc ta công phu luyện đạo hít hơi vô bụng cho đầy rồi thở ra làm cho trái tim mở hai lỗ trống thông cho được khí hồn ta trong trái tim tung lên bộ đầu. Bộ lá gan cùng bộ lá phổi và bộ bao tử, khí điển trong ba bộ phận ấy sẽ sốt sắng làm việc không bê trễ và có sức thêm hơn, nhưng nhiệm vụ mỗi bộ làm việc bổn phận không hiệp một ai, chữ Pháp gọi là détaché (nới ra). Nhờ vậy mà chúng ta không lo ra, không tham sân, không bệnh hoạn, không tưởng tượng, trở thành ngay thẳng, chân chánh, nhờ Pháp Luân Thường Chuyển mà thoát (détaché). Bởi thế người hoằng hóa Pháp lý không khuyên bạn, không thuyết pháp, không giáo huấn về sự làm lành lánh dữ. Cho nên Pháp lý gọi là một vị thuốc của Phật truyền ra, trừ bệnh tham sân, si, ái, ố; lo chi là không hiền, lo chi là không hết bệnh, nhưng nhờ sự sáng suốt của bản thể ta thông khí, tạo thành một người thông minh trí đức. Vì trong thế gian, tham sân si bỉ ổi bị mê trần, lấm trần cho đến đỗi người trị nước lên án xử tử bỏ tù, càng cai trị chừng nào, bệnh ấy càng trở nên nhiều hơn, không cản ngăn được.
Bởi thế phải nhờ chữ A DI gọi là PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN, khoa học của Phật trị bệnh tham sân mới dứt. Những người công phu luyện đạo mới trở nên hiền đức, thật là một vị thuốc thần tiên của Phật giúp đỡ cho Pháp lý ngày nay mới có.
Bởi vậy người học đạo trở nên hiền đức khỏi cần thuyết pháp. Thuyết pháp để khuyên người làm lành lánh dữ, nhưng tật bệnh ấy do sự nhiễm trần xung vào bộ phận ngũ tạng ta, nếu không có phép đuổi nó ra, răn he sao đặng?...
Pháp lý khuyên các bạn tu hành nếu có điều chi lấm trần, thì làm Pháp Luân Thường Chuyển, là một vị thuốc của Phật để trị dứt liền căn bệnh nhiễm trần không sai.
VẬY CÓ THƠ RẰNG:
“Thường Chuyển Pháp Luân” thuốc khó tầm,
Thuốc này vốn ở chốn Lôi Âm,
Nếu ai nhuốm bệnh mau trừ giải,
Càng luyện càng hay bệnh chẳng xâm."
E - Chữ "ĐÀ" có nghĩa là một nền tảng cứng rắn, bực Chơn Tiên mới có, gọi là Hào quang. Nhưng hào quang nó ở nơi bản thể ta, hễ tu luyện 6 chữ Di Đà thì khí điển trong mình do chất thanh tịnh, hóa ra hào quang, tia sáng phát xung lên bộ đầu ngưng trệ tụ họp tại bộ đầu. Lúc đến giờ công phu thì điển hào quang của Phật bay xuống trợ giúp cho ta, làm cho hào quang của ta được tươi sáng. Nhờ điển hào quang của Phật làm nền tảng giúp ta gọi là chữ ĐÀ. Khi chúng ta luyện đạo, nhờ nó mà được một phẩm Phật, là một Môn đệ của Phật đã nhìn nhận.
Nhưng chúng ta ráng cố gắng công phu dày dặn, thì điển của chúng ta chạy từ Lư Hương tập trung từ từ đi lên tại trán ta, nơi mí tóc, thì chúng ta thấy nơi chân mí tóc phát ra ánh sáng màu vàng tựa nắng mặt Trời, chúng ta cũng nên mừng, đó là phẩm Tiên. Theo chữ Hán viết, NHƠN (亻) bằng chữ SƠN (山) gọi là chữ Tiên (仙), chiết tự ra: Chữ NHƠN là người, chữ SƠN là Sơn căn, mí tóc trước trán ta.
Nhưng có câu:
Đà ấy sắc vàng trùm khắp cả.
Tròn vo che phủ núi Tu Vi.
Chữ Tu là râu mày, chữ Vi là Vô Vi, nhưng ở trong mình ta có hào quang phát ra thấy sáng mà chúng ta rờ bắt không được, không đụng chạm được, chỉ nghĩa Không mà Có. Màu sắc ấy tốt tươi không bao giờ hoại nát, do nơi cục ngọc Mâu Ni Châu của ta biến hóa ra hào quang ấy.
G - Chữ PHẬT gọi là người có hào quang chớ không có chức sắc tên tuổi chi, vì Ngài đại từ, đại bi muốn chi được nấy, sanh sanh hóa hóa vạn vật, bởi thế Ngài không lãnh chức sắc nào hết, Ngài trọng hào quang của Ngài là cục ngọc Mâu Ni Châu quý báu ở trong mình Ngài, cho nên mỗi khi Ngài công phu tu luyện trau dồi cho cục ngọc Mâu Ni Châu làm nền tảng cứng rắn không phai lợt, làm cho linh hồn Ngài nhẹ nhàng ở chốn thiên đàng hưởng thú vinh quang.
Nhưng khi Ngài đi đứng nằm ngồi, không bỏ chữ niệm Phật, gọi là tu tịnh, cho nên mỗi vị Phật ngồi thì ngồi ngay, đôi mắt ngó lim dim khác hơn người trần. Mắt lim dim ấy để thừa cơ biến hóa, làm việc cho cõi nhà Phật cùng thế gian âm phủ. Tuy là Ngài thong thả, cũng phải làm việc và tu hành. Lúc Ngài ở thiên đàng cũng cố gắng trực định, còn chúng ta là Môn đệ của Phật phải mẫn cán hơn để công phu luyện đạo.
Luyện đạo là xếp bằng ngồi ngay thẳng, xương sống và bộ đầu trực chỉ không nên cong vẹo, mặt thì ngó ngay rồi lim dim dỗ ngủ cũng như vị Phật gọi là Định thần, trong lúc ấy sẽ phát Mâu Ni Châu và hào quang. Nếu công phu dày công lâu chừng nào tốt chừng nấy, rồi Mâu Ni Châu ấy lững đững lờ đờ khỏi đầu ta trên không, đợi chúng ta công phu lâu ngày thì các mối điển nào là chân tay mình mẩy mặt mày tai miệng mũi mắt. Điển ấy bay lên kết tụ hội cộng đồng hình bóng của ta.
Đã có hình dạng xong rồi, nhưng chúng ta còn thơ ấu, chưa biết đi, đứng ăn nói, nằm ngồi, gọi là Tiên đồng. Trong Vô Vi pháp nói là Anh nhi phát hiện, rồi chúng ta cũng cứ công phu, kể từ đấy Anh Nhi bản thể ta lên trên không, khỏi bộ đầu, từ từ khôn ngoan, thấy cảnh Bồng Lai. Khi chúng ta định thần mà thấy cảnh Bồng Lai rồi, thì lo chi là chẳng nên vị Tiên Phật.
Tới đây Pháp lý được chỉ rõ: Quý bạn chúng ta ráng chung sức cùng nhau chọn một con đường thẳng rẳng để đến thiên đàng hưởng phúc vô cực vô biên.
• Ông Tám giảng
Cho nên những lời phân giải về Nam Mô A Di Đà Phật, nó là vô cùng khai triển, mà các bạn chịu công phu thực hành rồi, các bạn mới thấy rằng: lui về thanh tịnh, chúng ta mới chứa được cái nguyên ý này, mà còn thiếu thanh tịnh ở trong mê chấp, thì cái nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật nó đi trật đường rầy và không có tiến.
Cho nên mọi người tu phải nhớ trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật để lập lại con đường rõ rệt, và chúng ta đã thấy rõ rằng, từ 7 ức niên mới kết tụ thành cơ thể con người tại thế gian, cấu trúc bởi siêu nhiên mà có, nó lâu ngày giờ lắm, nó mới giáng hạ xuống trần gian. Khối này khối kia, từ mọi trạng thái, mới kết tập thành một cái thể xác. Rồi còn chúng ta trở về thì chúng ta làm thế nào mà được trở về? Phải gom tụ tất cả những luồng điển của chúng ta, nó cũng từ mọi trạng thái mà lọc trở về thanh nhẹ tinh vi, rồi kết tập thành hình thù mới đi lên, mới đi ra được, kêu là xuất hồn.
Cho nên đòi hỏi ngày giờ tu trì của các bạn, mà tu cái gì? Tu, ngồi một đống là tu ư? Không! Tâm niệm mới tu, tâm các bạn thành và hành cho đúng đường lối, rõ cái đường lối quy nguyên và khai mở giềng mối của đạo tâm là Nam Mô A Di Đà Phật, mà trì niệm chừng nào thì các bạn được quy hội sự thanh nhẹ.
Sự thanh nhẹ nó đem lại cho các bạn những cái gì? Mọi trạng thái trở về thanh nhẹ thì các bạn trở nên thông minh, cái sự thông minh lạ thường, sự thông minh từ hồi nào tới giờ các bạn không có thể tưởng tượng được các bạn có sự thông minh đó! Và hiện tại tất cả bạn đạo khắp năm châu đã có nhiều người đã đạt, nói cái chuyện tầm thường là làm thơ thi mà thôi! Xưa kia không biết làm, ngày nay đã làm được, xưa kia không biết nghĩ chân lý là tròn, ngày nay thuyết chân lý rất tròn trịa, cái đó do đâu? Phải do sự dày công của hành giả mà khai thông mọi trạng thái của trong cái cơ tạng Tiểu Thiên Địa này mới quy hội về cái nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật.
Cái Nam Mô A Di Đà Phật không phải dạy một góc mà dạy cho tất cả, vì thức hòa đồng cho tất cả và khai mở quán thông tất cả, nó mới định. Cho nên chúng ta đã nhầm lẫn xuống thế gian bị phỉnh bởi tứ quan, ngũ tạng, nó đã đã bị xâm nhập, cư trần nhiễm trần nhiều năm, nhiều tháng, nhiều kỳ, chúng ta tưởng đó là thật.
Ngày hôm nay chúng ta biết kỹ thuật tháo gỡ rồi, thì chúng ta phải nắm cái chìa khóa đó để tháo gỡ. Chìa khóa đó là gì? Là nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật, mà nguyên lý, tại sao phải niệm Nam Mô A Di Đà Phật? mà thay vì niệm một hai ba bốn năm sáu. Nam Mô A Di Đà Phật là cái chấn động lực nó khác hơn một hai ba bốn năm sáu, như tôi đã thường thuyết. Bây giờ nói lại cho rõ để cho các bạn ngồi đây và tự nghiệm, cái ý các bạn tưởng chữ N... A... M... nó đi dài lắm, rồi nó sẽ có nơi xuất và có nơi trụ là ngay trung tâm chân mày. M...Ô... nó đi lên trung tim bộ đầu và xuất phát ra để thực hiện cái hòa tan với cả càn khôn vũ trụ. A... nó chuyển chạy một vòng của đốc mạch lên trụ trên khối óc, D... I... tinh khí thần trụ, cái chữ “Vạn” nó mới chuyển được là pháp tâm. Đ... À... là nó phóng quang ra tất cả lỗ chân lông, khối óc và hòa hợp với thanh điển Bên Trên đang hội nhập trong cơ thể của chúng ta. P... H... Ậ... T... các bạn nói Phật thì nó quy ngay chỗ lỗ rún, là mình biết mình, “Tứ hải quy gia”, khi lìa bụng mẹ chúng ta đã có trời đất rồi, mà chúng ta không biết.
Bây giờ, chúng ta càng ngày càng tu, hiểu việc mình, hiểu tiểu thiên địa này, hiểu một nơi trụ hóa bất diệt, đời đời của tâm linh mà chính ta là chủ, thì cái điểm linh quang chúng ta là chủ. Chúng ta mới nắm được cái chủ quyền điều khiển và mở, tận mở cái thức hòa đồng cứu độ quần sanh. Chư Phật chư Tiên đã hành đã thành, chúng ta là người kế tiếp, bước vào phải hành, không nên cầu xin. Nếu cầu xin thì mướn họ hành cho ta, thì ta tu làm gì!? Ta phải tu chớ ta không mướn người khác tu cho ta, thì cái này mới đi đến mục đích.
Nhiều người nói rằng tu hành không tụng kinh, không thắp nhang, không lạy Phật làm sao biết đạo. Nhưng mà những người đó chưa hiểu đạo ở đâu? Đạo trong tâm chớ không phải đạo ở trên bàn thờ, không phải đạo ở trên cây nhang, mà không phải đạo ở ngoài đường. Đạo trong tâm! Bây giờ chúng ta phải làm thế nào? Chúng ta phải tu tâm, phải sửa tâm, chúng ta phải biết cái mạch lạc của tâm nó nằm ở đâu? Cho nên nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật, ông Tư đã cắt nghĩa rất rõ ràng, đã đào sâu để cho mình đọc và tự thức và tùy theo cái trình độ thực hiện công phu của Pháp lý Vô Vi rồi các bạn dọn, mới ứng, mới trụ, mới nhận được cái luồng điển đó.
Cho nên nhiều bạn nghe điển, điển, đâu có hiểu điển, mà không có niệm Phật làm sao biết điển. Các bạn niệm Phật rồi, bạn thấy sự huyền diệu rõ ràng, tâm trí các bạn thay đổi, cái nội thức nó được mở, sáng suốt tự nhiên, thấy mọi sự việc kích động nguy hiểm trước mắt ta. Chúng ta thấy vạn sự khởi đầu là không. Tâm chúng ta không động, mà việc nào nó sẽ trở về việc nấy rõ rang, rồi đâu sẽ vào đấy. Cho nên chúng ta được có cơ hội an nhiên tự tại. Khoa học, xã hội đã cho chúng ta thấy cuộc sống từ xa xưa khó khăn. Người này phá người kia, người kia phá người nọ.
Bây giờ người ta tôn trọng nhân quyền. Chúng ta được tiến một bước rồi. Ai muốn tu thì cứ ngồi an nhiên đó lo tu, không đói không khổ nữa, chỉ có thiếu tu mà khổ. Mà nếu chúng ta bằng lòng tu thì chúng ta là một người giải nghiệp, thì không còn khổ nữa. Nghiệp là đi xuống và rước vào, thì nó lấn áp chúng ta là nghiệp. Còn người chưa tu thì người đó còn nghiệp. Là Lục Căn, Lục Trần nó đang chỉ huy chủ nhơn ông. Nó ép chủ nhơn phải làm điều này điều nọ, phải nhậu nhẹt, phải đi chơi bời mà làm cái chuyện không hữu ích, phải tranh đua, phải giành đất nước, nhưng mà đất nước của nó nó bỏ. Đất nước của chúng sanh là gì? “Cái Tâm”, mà bỏ “Tâm” đâu còn nước. Bỏ “Tâm”, rồi tham tiền tham bạc làm bậy, giết hại đồng bào không hay, nguy hại tới tấp mà không biết. Tâm không có!
Cho nên những người làm chánh trị phải biết tu thân, tề gia, bình thiên hạ, mới là một người chánh trị chơn chánh. Còn hô hào không trách nhiệm, rồi đẩy người ta vô chỗ chết, cái đó là đi tới chỗ tự sát. Vì các bạn biết được phần hồn là bất diệt, thì chúng ta có cơ hội tu bổ cho phần hồn càng ngày càng cường tráng mạnh lên hơn, để cứu độ chúng sanh trở về Phật Quốc là một nơi bất diệt trường tồn, giữ định luật hóa hóa sanh sanh không ngừng nghỉ. Cái đó mới là đường lối trường cửu và cần thiết cho chúng sanh phải hành.
Cho nên nhiều người không hiểu làm sái quấy, rồi lương tâm bị cắn rứt. Tới lúc chết bị đọa địa ngục chỉ biết khóc mà thôi, khổ vô cùng! Cái này ngày hôm nay chúng ta đại phước, được biết được cái nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật, rồi chúng ta phải đào sâu mọi sự việc của những người đi trước để lại như Kinh A Di Đà, mà Kinh A Di Đà, những chữ nghĩa càng ngày càng thất lạc, vì thời đại thay đổi, thiên cơ thay đổi. Trước kia học Nho, hiểu Nho mà bây giờ nó đổi lại thấp hơn, khó hiểu, cho nên Ông Tư mới mượn cái nghĩa phàm mà dẫn các bạn trở về đạo.
MA HA THẬP THÍCH
Nghĩa là trong bản thể con người có ba phần gọi là Cơ sở quyết liệt của điển huyền diệu tinh thông Pháp Thần.
1. Tạng Tâm.
2. Tạng Can.
3. Tạng Thận.
• Ông Tám giảng
Ba tạng quan trọng.
Nếu chúng ta thành Phật, chúng ta muốn chi được nấy, do ba tạng này, chánh đáng của điển mà Phật kể ra cho chúng sanh biết, tất cả ở bản thể của mỗi người luyện đạo, quý báu duy nhất, thành thật cùng chăng? Do tu luyện ba tạng này được thông thì sự sáng suốt thấy từ mặt đất đến thiên đàng, ngồi đây thấy kia, chỗ xa đem lại gần, gọi là Điển. Sự thâu thập này không khác chi một cái ống dòm. Nếu các bạn cố gắng luyện đạo dầu lâu hay mau, có tâm chí bền bỉ thì lo chi không thành Phật. Còn người mê trần không tu, làm nhiều tội lỗi, khi thác thành ma, vì lúc ở tại dương thế chẳng tu hành.
Bởi thế chữ Ma Ha là thành Ma, thì làm nhiều điều khổ sở, nào là
1) Không chỗ nương dựa, phải ẩn theo cội cây bóng tối.
2) Đói khát phải ăn trùng dế cùng đất.
3) Chịu dưới quyền sai khiến hành hạ của Thổ địa Thần kỳ ngăn cấm.
4) Không tự do.
5) Không quần áo mặc.
6) Chịu nắng lửa mưa dầu.
7) Bị quỷ ăn hiếp.
8) Không rời nấm mả phần mộ, phải chịu sự hôi thối của bản thể, đi đến đâu thì mùi hôi thối ràng buộc.
9) Phải bị tội lệ lúc còn sống bị mê trần lâm bệnh thất tình lục dục cùng tham sân, si, ố, nộ.
10) Bị đày đọa khổ sở, mãn tù tội được đầu thai để trả quả nghiệp chướng luân hồi.
Khi ấy, Phật muốn vớt những người ở trần, cho khỏi lâm các điều ấy, khỏi làm ma chướng nữa, mới bày ra Kinh là luồng điển để cho người ở trần thức tánh tu hành luyện đạo, khỏi làm ma chướng lúc thác.
Còn người sống tại dương gian được giác ngộ tu hành đánh đổ ma chướng bỉ ổi, giải thoát cường hào ác ý, nhờ luyện đạo theo ba phương pháp sau đây:
1. Soi Hồn.
2. Pháp Luân Thường Chuyển.
3. Định Thần.
Ba số này, người tu luyện đặng trở nên hiền và thành Tiên thành Phật. Nhờ ba tạng này, Phật Ngài bảo chúng ta, biết gom thần định tánh, thần hồn đã hiểu rõ sự tội lỗi ăn năn, cải tánh diệt danh, nhờ tu hành thì vị Điển Cứu tinh soi xuống truyền bá và điểm đạo, cùng phân phẩm bậc cho Hồn, Hồn mới thức tánh hiểu biết, sai khiến Vía phải khâm phục Hồn.
Vía cũng thức tánh cai trị Lục Căn, Lục Trần phải tuân theo quyền lực Phật pháp, mới truyền bá cho Thập Tam Ma Chướng đều phải tuân Phật pháp, thì người tu trở nên hiền, được thông minh, được tránh những điều hung dữ bỉ ổi, không lầm lạc ở dương thế.
TÓM TẮT
Trong tam tạng: Tâm, Can, Thận, ba ngôi chánh này TÂM là một cái lò lửa điển, cũng như một cái nhà đèn, CAN cũng là lửa hùng dũng nóng bức, THẬN là thứ nước mát. Khi Phật bày ra Pháp lý này, lấy chất nóng trong ba tạng này gọi là Điển của bản thể ta, làm cho phối hiệp với chất điển của Phật trên thiên đàng, hóa thành một vị cao Ngôi: Thần, Thánh, Tiên được thông hiểu quá khứ vị lai dưới thế gian cùng thiên đàng, do nơi cơ quan là nguồn máy của ngũ tạng bản thể ta.
Phật Ngài lấy điển ấy làm cho ta hóa sanh một vị Cao Thượng Phẩm Tước, nhờ vậy chúng ta trở nên hiền, thông minh, làm lành lánh dữ, sáng kiến để trừng phạt Lục Căn, Lục Trần gọi là Lục tặc, không dám xâm phạm xúi biểu linh hồn ta nữa. Ta có quyền hành trị chúng nó.
Từ đây ta mới biết có người có ta (người ta). Hễ người thì mê trần, còn ta thì thức tỉnh rồi mới làm Tiên, làm Phật. Người là thể xác trần, mê trần thuộc tánh, còn ta là hồn điển mới được minh, cai trị bọn chúng.
• Ông Tám giảng
Cho nên chúng ta tu về ba cái tạng nó liên hệ ở đâu? Thượng, trung, hạ, chúng ta có bộ đầu, có bộ ngực, có ở dưới bộ sinh dục, mà ai chỉ huy ba cái đó. Tâm, Can, Thận, ba bộ phận quan trọng lắm, mà chúng ta làm Pháp Luân Thường Chuyển... Tại sao tôi làm Pháp Luân Thường Chuyển, hồi trước tôi chưa làm Pháp Luân Thường Chuyển thì tôi thấy tánh tôi nóng, mà tôi làm được Pháp Luân Thường Chuyển rồi, cái tánh tôi nó dịu, là vì cái hỏa can nó rời đi, nó dời lần đi, mà nhiều người khi mà làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi ngồi thiền nó lại chảy nước mắt là cái trược ở trong gan được thanh lọc. Cái gan mà được thanh lọc thì con người nó bớt nóng tánh, bớt nóng tánh thì nó mới chấp nhận trở về cái thiền, mà càng thiền, càng làm Pháp Luân thì cái thận nó mới giải cái phần trược, ô dục của hạ giới, rồi nó mới ngược cái chiều nó cung cấp lên trên.
Cho nên những người làm Pháp Luân Thường Chuyển nhiều tại sao nó lại lãnh cảm và nó không có hướng về tình dục nữa? vì cái chỗ cung cấp nó hướng thượng, nó đi trở lộn lên thay vì nó đi trở lộn xuống. Hồi trước nó không biết, nó không có sử dụng cái Pháp Luân Thường Chuyển là nó bị cô đọng, nó sân si, ham dục, bây giờ nó điều hòa ba bộ phận đó thì không có sân si, không còn ham dục nữa, cái lý do trị bệnh, mà muốn trị bệnh, bệnh do tánh sanh, kẻ hung hóa hiền, cái bệnh nó mới hết, hung thì cái bệnh nó càng ngày càng gia tăng, nó làm cái thần kinh càng ngày càng yếu, mà hiền thì cái thần kinh càng ngày càng dịu, vì nó được nghỉ ngơi, còn người hung nghĩ tới, hành cho cái thần kinh rối loạn, ngũ tạng bất an.
Cho nên chúng ta được cái pháp này là giải tỏa ba bộ phận đó điều hòa, mà ngày hôm nay chúng ta lại được tập trung ngay trung tim bộ đầu và để giải tỏa đem cái phàm tâm, luồng điển của phàm tâm trụ về chơn tâm. Cho nên sự liên hệ nó lớn rộng, nó thấy cái tiểu thiên địa này hòa hợp với cả càn khôn vũ trụ, nó mới thấy giá trị của Đại Thanh Tịnh là của đấng Từ Bi, của Thượng Đế, của vị Đại Thanh Tịnh, của Hắc Bì Phật đã chuyển độ chúng sanh. Chúng sanh mới có cơ hội hướng thượng, để tìm một lối thoát cho chính mình. Cái hồn này là từ trên xuống, thì chúng ta từ cái thể xác này mà giải tỏa cho phần hồn được đi lên, rồi lên đâu? Cũng lên tam giới, cũng thượng trung hạ, chỗ nào cũng nằm trong cái nguyên lý thượng trung hạ mà ở giới nhẹ và giới nặng.
Cho nên ở thế gian đã cho chúng ta thấy biểu hiện, có người được phước, thấy nó sống nhàn hạ, nó có tiền nó dễ dãi, còn người nghèo làm suốt ngày. Đó, nó cũng có ba giới tại xã hội. Xã hội loài người nó có ba giới thể hiện trước mắt chúng ta, nhưng mà người đạo dòm vô: ba giới là một. Người nào cũng học cái bài học đó để thức tâm mà thôi. Người có phước có tiền rồi cũng ôm cái khổ, và thức tâm đi tu. Mà người nghèo lao động khổ cực cũng chán đời qua đạo. Đó! còn người hiền thì họ cũng phải thấy rõ cái đời là ác ôn mà họ tự đi tu.
Đó! Cho nên chúng ta tu đây là giải tỏa ba cái tạng quan trọng, mà chúng ta đang cai quản và không lo cho nó. Mà ngày hôm nay chúng ta tu là chúng ta biết lo và sắp đặt. Mà chúng ta lấy cái gì để giáo dục nó. Chúng ta lấy cái nguyên khí cả càn khôn vũ trụ để khai mở ba tạng này hòa đồng với nguyên khí càn khôn vũ trụ, cho nên ba cái tạng này là lớn của ông Trời, chớ không phải của người phàm.
Cho nên chúng ta hướng thượng mà giải tỏa, đó là chúng ta mới thấy rõ ta là con ông Trời. Mà chúng ta hòa tan với ông Trời là chúng ta phải làm việc ông Trời. Chúng ta phải thực hiện từ bi và đi tới đại từ bi cũng như Ngài, hy sinh vô cùng, một cử một động của chúng ta lưu lại tại thế gian để cứu những người kế tiếp, mà nếu một cử một động của chúng ta mà so đo là người kế tiếp không có ngó nghĩ tới chúng ta.
Cho nên chúng ta, người tu Vô Vi chỉ có lời chớ không có lỗ. Nhiều người nói tu Vô Vi nó lỗ, nó thiệt thòi, không đâu các bạn! Không có thiệt thòi, chỉ lời thêm thôi! Các bạn mở được cái trần trược, cái thối tha, cái dơ dáy, cái chậm tiến, cái ngu muội của các bạn, vứt đi, bỏ đi, thì tự nhiên các bạn sẽ đi tới chỗ sáng suốt vô cùng. Cho nên chúng ta đi ngay trong tâm tạng của chúng ta, chớ không có đi bên ngoài. Cho nên người ta tu, tu về lý thuyết bên ngoài, nghe lý Chúa hay, ôm khóc, nghe lý Phật hay, ôm khóc. Nhưng mà không hành! Chúng ta hành, rồi sự cảm thức của chúng ta mới rúng động tất cả mọi người. Cho nên cái tu của Vô Vi là trực tiếp, còn cái tu u ơ, đọc hát là gián tiếp, mà hao phí, cuối cùng không thành đạt.
Cho nên chúng ta đã học rất kỹ về nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật. Mọi người phải hiểu rõ cái giá trị đó và nắm cái đó để đi, hễ nắm được cái đó là sẽ khám phá tất cả. Bảo đảm các bạn sẽ khám phá tất cả không còn ngu muội nữa và sự thông minh vô cùng của chư Phật sẽ đóng góp cho các bạn chớ không phải người phàm đâu! Phi thường lắm! Các bạn đạt được thanh tịnh rồi là nó đi tới chỗ phi thường tâm giác, chớ không phải đơn giản. Sau này các bạn phải sợ các bạn. Ô! Tôi hồi trước tôi ngu như vậy nhưng mà tại sao bây giờ tôi thông minh như thế này, mà tôi không tin. Làm được bài thơ đó rồi bắt làm, cũng một cái đề tài đó rồi các bạn vẫn làm 20 bài thơ, cũng đề tài đó mà các bạn làm được. Hồi trước các bạn rặn một bài mà rặn không được... Nhờ cái gì? Nhờ cái Nam Mô A Di Đà Phật mà nó khai thông, cái thức hòa đồng nó mở, thì cái trí tuệ của các bạn càng ngày càng thanh cao. Hồn thơ của các bạn càng ngày càng dồi dào và lý thuyết rất vững, đi đúng tâm trạng của mọi người, chúng ta mới lãnh cái nhiệm vụ dẫn tiến tâm linh.
Lúc đức Di Đà công phu luyện đạo, lúc ấy Ngài đang ngồi giữa đám đông người, nơi cội cây miền núi, nhờ tàng cây lớn, Ngài dựa nương nơi cội cây ấy gọi là cây Bồ Đề.
BỒ có nghĩa là bồ bịch dựa nương.
• Ông Tám giảng
Ngồi đó dựa đó.
ĐỀ là thuyết đề mục để tu hành luyện đạo. Đến khi đức Di Đà nhập Niết Bàn thành Phật thì tất cả Môn đệ cảm mến đức tánh của Ngài. Nhiều lần đến dưới chỗ cội cây Bồ Đề này để nhớ và tưởng Ngài, vì thương nhớ Phật, kẻ thì lượm lá đem về thờ, gọi là Lá Bồ Đề, kẻ thì lượm hột làm chuỗi đeo, gọi là chuỗi Bồ Đề. Khi người tu hành tưởng nhớ đến công đức của Phật khi xưa chịu khổ sở với Môn đệ, để truyền bá 6 chữ Di Đà Pháp lý luyện đạo, thì tay lần chuỗi Bồ Đề.
Hiện nay tích ấy còn lưu lại nơi người tu nhà thiền, khi tụng kinh niệm Phật hay là tưởng Phật thì tay lần chuỗi Bồ Đề từ hột đặng rèn lòng buộc chặt không cho phóng tâm, để tu hành không lo ra việc thế tục, vì hễ ở trần phải mến trần, mà nếu mến trần không thể tu.
SAU ĐÂY TÔI XIN CẮT NGHĨA VỀ
KHỞI ĐẦU CUỐN KINH A DI ĐÀ :
Như Thị Ngã Văn
Nói về tông chỉ của nhà Phật, khi đức Thích Ca thấy đức Di Đà ngồi tựa cội cây công phu luyện đạo theo Pháp lý thì Phật Tổ mới cho điển truyền tin, lúc ấy đức Di Đà gom thần nhập định quên cả bản thể, làm cho điển bản thể được thông thiên thăng hành, đồng thời trực tiếp điển của đức Thích Ca truyền bá, chỉ rõ cơ quan cùng gân thịt xương máu, mỗi mỗi trong bản thể đều có khí điển để làm việc cho những nhu cầu xác thịt (ăn, ngủ, bài tiết. v.v...) theo trần, Ngài nhận biết, cũng vì điển bản thể làm việc theo trần, làm cho con người cứ theo đó mà mê trần, mỗi ngày sự sáng suốt của con người phải bớt dần. Hễ con người càng bị lấm trần, thì không thể thông minh được.
Đức Thích Ca thương xót chúng sanh, bèn điều độ, lấy điển ngũ tạng gom lại tập trung nơi trước trán để làm một cái máy thông thiên, nhưng máy ấy gom cả lực lượng điển quang bản thể ta, trở nên điển hồn, lên phẩm làm Chủ Nhơn Ông, Xá Lợi, cùng Thông Thiên Giáo Chủ.
Đức Thích Ca đã chỉ rõ các mối điển hết rồi nhưng còn sợ người trần không hiểu thấu, mới chỉ trong bản thể của đức Di Đà có những tạng nào làm việc ra sao mà được ráp thành một guồng máy khoa học tinh xảo để hóa thành phụ trợ cho một linh hồn, phép tắc vô cực vô biên để làm một cái phép huyền diệu bay thẳng thăng thiên qua Bỉ Ngạn đến Bồng Lai và Niết Bàn đảnh lễ Phật.
Đức Phật Tổ buộc Phật Di Đà công phu luyện đạo để Ngài hiểu rõ tông chỉ, đồng thời cũng phát thanh ra giữa công chúng cho mỗi người hiểu lấy để cho dễ công phu luyện đạo.
Tông chỉ là nguồn cội, cốt giác của điển sanh sanh hóa hóa trước kia, làm cho mỗi người biết ăn biết ngủ, biết bài tiết và có trí thức thông minh hơn. Nhưng Phật Tổ Ngài bố đức từ bi hộ độ, muốn cho mỗi người đều thành Phật, lấy phép điển trong mình gom góp lại, sắp đặt cơ quan con người đủ thông minh trí tuệ, thần thông biến hóa, khỏi đi đứng, nhờ điển tiếp truyền, đại hùng đại lực cũng như Ngài, muốn đến đâu thì hình bóng người bay đến đó, hóa các phép như Ngài, thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý. Bởi thế Ngài đặt để đầu cuốn Kinh câu: “NHƯ THỊ NGÃ VĂN.”
.....
[19860100L3]