ID # 19860100L2
KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ - Cuốn 2
• Ông Tám giảng
.....
Ổng tu, ổng sửa, ổng mang cái thân xác này cũng như cái thân xác của chúng sanh. Mà ổng sửa được hòa ái tương thân với các nơi các giới. Và mọi người tự thức được ổng là mọi người, mọi người là ổng thì cái duyên lành nó lại dễ gặp. Trong cái khó nó sẽ đi tới cái dễ.
Còn “Xứ Phật khó về”, là phải buông bỏ tất cả những sự trần tục của thế gian mới về. Chính Ngài đã thành đạt, nhưng mà ngày nay Ngài ở đâu? Ở trong tâm chúng sanh, ở trong chỗ nào? Ở những tâm thanh sạch, ở những tâm của con người đã dứt bỏ trần tâm, và không nuôi dưỡng động loạn nữa thì tâm người đó mới có sự hiện diện của Đức Thích Ca. Thì cái thức bình đẳng Ngài luôn luôn ban rải khắp trần gian qua những cơn kích động và phản động của những người đau khổ. Rồi những người đó sẽ tận hưởng và diện kiến Ngài và đi thẳng trong thức của Ngài học từ bi và thực hiện từ bi.
Ngày hôm nay chúng ta đang khao khát, và chúng ta muốn làm, chúng ta muốn hành, chúng ta muốn học. Đó, thì chúng ta phải giữ bình tâm và chúng ta nghĩ rằng, Đức Thích Ca là ta, ta là Đức Thích Ca. Ngài trước kia cũng ở trong cảnh động loạn. Ngài có nhãn quan để phán xét những chuyện ác thiện. Mà ngày hôm nay chúng ta cũng tương đồng như vậy. Chúng ta nhớ Ngài và chúng ta sống với Ngài trong giây phút chúng ta học. Ta đang ngồi ở rừng già lo tu học đây, và chúng ta thanh tịnh để tiếp cái thanh điển của Ngài và để hiểu Ngài đã dụng văn phán điển cho tâm thức của chúng sanh dựa vào căn cứ văn tự và để độ đời.
Cho nên bữa nay chúng ta học qua cái giai đoạn “THÍCH CA MÂU NI”.
Hôm qua chúng ta học Kinh A Di Đà thì bây giờ
“THÍCH CA MÂU NI” dựa trong văn tự,
ĐÂY GIẢI VỀ CHỮ THÍCH CA MÂU NI
THÍCH : Là giải ra cho đức Di Đà hiểu.
CA : Là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh để tu.
• Ông Tám giảng
Nhiều người nghe nó nghịch quá, Thích Ca là tên người ta, mà tại sao giải thích như thế này? Cho nên chữ Thích là thích giải là mượn lấy cái luồng điển và mượn cái danh từ mà để giải cái tâm thức của chúng sanh. Cho nên để chữ Thích là giải ra cho đức Di Đà hiểu. Ca là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh.
MÂU : Là tượng trưng Pháp lý để tu trong mình.
NI : Là ngày hôm nay có Khoa học Huyền bí Pháp lý mà Ngài đã chỉ rõ cho Phật Di Đà để hoằng hóa chúng sanh dưới thế gian, còn Ngài là Thích Ca Phật Tổ chứng minh mà thôi.
• Ông Tám giảng
Cho nên tại sao ông này cắt nghĩa kỳ quá? chúng ta nghe mệt óc mà không thông? Thích Ca Mâu Ni là một vị mọi người đã thờ, kính và đọc lấy danh Ngài cảm thấy tâm an mà tại sao ông này ông cắt nghĩa là : Thích là giải thích, giải ra? Đó, thì các bạn đi vô chùa, khi mà thờ Đức Thích Ca luôn luôn có những vị sư dẫn giải về đạo pháp, giải thích cái định luật sanh tử luân hồi tại thế và để cho mọi người có cơ hội thức tâm, cho nên mượn cửa thiền, mượn danh từ của Ngài mà để đem đạo vào tâm của chúng sanh.
CA là ca tụng, tuyên truyền những cái hay cái đẹp, những cái dũng chí, Bi Trí Dũng của Ngài đã hành, thành đạo, để cho chúng sanh noi theo và đi con đường của Ngài.
MÂU : Là tượng trưng Pháp lý để tu trong mình.
• Ông Tám giảng
MÂU là cái gì? Mâu Ni Châu là cái điển. Cái điển ở trong mình chúng ta, cái chủ lực là cái điển: Cặp mắt các bạn nháy được. Cái tâm các bạn muốn nói chuyện. Đó là cái điển. Cái đó là Mâu ở bên trong, khi mà các bạn nói “Mâu…” thì cái âm thinh gồm ở bên trong này. Nó trụ, thì cái đó là mượn cái hình thức bên ngoài, mượn cái hữu vi mà phân giải cái vô vi là cái luồng điển ở bên trong và cái xác này là về vật chất tiến triển rờ mó được, thuộc về âm, còn cái kia thuộc về dương nó là di động, linh động, lúc nào cũng linh động.
NI: là ngày hôm nay có Khoa học Huyền bí, Pháp lý mà Ngài đã chỉ rõ Phật Di Đà để hoằng hóa chúng sanh dưới thế gian, còn Ngài là Thích Ca Phật Tổ chứng minh .
• Ông Tám giảng
Nói câu này người ta đâu có hiểu cái gì đâu! Nhưng mà chỉ những người tu mà niệm Phật: Nam Mô A Di Đà Phật, thì cái luồng điển nó chạy đều trong cái cơ thể khi mà bạn niệm Nam Mô A Di Đà Phật rồi, cái âm thinh các bạn niệm nhẹ nhẹ mà nghe nó cũng như ở trong cái tòa sảnh. Nam Mô A Di Đà Phật, nó rần hết bên trong thì các bạn mới hiểu giá trị của Thích Ca Mâu Ni,
Nhưng mà cái này ông Tư - ổng căn bản mượn cái lời Thích Ca Mâu Ni tại thế mọi người cung kính mà dựa đó để đem cái huyền điển từ trên xuống mà nhập ngộ trong chơn tâm của chúng sanh đang ngồi đây và muốn nghe đạo. Đạo là nó ở bên trong chớ không có phải hình thức bên ngoài. Mắt bằng xương bằng thịt khó thấy được, không thấy được, nhưng mà nó nằm ở trong cái thức.
Cho nên khi chúng ta nhắm mắt ta gom thức rồi thì chúng ta nghe chúng ta hiểu. Chúng ta hiểu cái Thích Ca Mâu Ni, giá trị của Thích Ca Mâu Ni là đem luồng điển vào tâm của chúng sanh để chúng sanh thực hành sự thanh tịnh và ngộ Ngài càng sớm càng tốt.
CỬ HƯƠNG TÁN
Nghĩa là : DƯNG HƯƠNG
Người thế gian hay tạo lư hương, là một cái hộp, hay là một cái lư, đựng tro hoặc cát để cắm nhang, gọi là lư hương. Theo Kinh Di Đà có chỉ rõ nghĩa lý, thì khi đức Di Đà ngồi tịnh bắt được điển, Ngài thế cho đức Thích Ca nói ra chữ Cử Hương Tán là khi có Vô Vi Thánh gọi là vị cứu tinh giáng xuống nơi Hà Đào Thành là bộ đầu của ta. Ngài gọi nào là Hồn, Vía, Lục Căn, Lục Trần và các chúng sanh trong bản thể là nước của ta, thì thấy vắng mặt anh Hồn, vì Thần Hồn ở nơi trái tim thịt nhơn tạo, bởi lẽ Hồn là một vị ở nơi thiên đàng bị tội xuống thế, vào nơi bản thể con người, nhập vào trái tim xác thịt. Trái tim là một cái khám tối giam lỏng Linh Hồn. Còn ngoài trái tim thì có Lục Căn, Lục Trần bao chung quanh Ngũ Tạng để làm việc. Lục Căn, Lục Trần cũng như lính thế gian, cũng phải làm việc cho bản thể cùng giữ Linh Hồn tại khám tối. Vì vậy mà Lục Căn, Lục Trần được sai khiến và hà hiếp Linh Hồn. Linh Hồn biết rằng mình có tội nên phải tùng quyền Lục Căn, Lục Trần đè ép xúi biểu Linh Hồn làm theo những chuyện thế gian như là: hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si.
Khi Linh Hồn bị hiếp đáp cực khổ quá, chịu không nổi mới gọi Trời Phật mà than rằng:
“Ôi, ta cực khổ quá, không thể ở chốn này được”.
Lúc ấy, vị cứu tinh trên Thiên Đàng nghe Hồn than xiết mới giáng điển xuống “Hà Đào Thành” và gọi tất cả Hồn, Vía, Lục Căn, Lục Trần lại ứng hầu để tra hỏi. Ngài hỏi ai là Hồn làm chủ bản thể này, Hồn liền đến đảnh lễ vị cứu tinh và nghe Ngài phán rằng:
“Ngươi trước kia ở thiên đàng, có tội phải vào Niết Bàn sa xuống trần gian. Nay ngươi có lòng tưởng Phật, nên ta xuống đây giải thoát cho ngươi. Vậy từ đây sắp tới, ngươi phải tu hành tưởng Phật thì Phật sẽ giải cứu ngươi đem về chỗ quê cũ là xứ của Phật, nơi mà trước kia ngươi đã ở tại đó. Nhưng ngươi phải ở đây đền tội cho đủ, và tu hành luyện đạo theo pháp lý Vô Vi đây, đến khi mãn hạn tù tội thì Phật ngài sẽ rước ngươi về cõi Phật”.
Lúc ấy nào là Vía, Lục Căn, Lục Trần đồng chịu tội lỗi vì đã hà hiếp Linh Hồn. Vị cứu tinh mới bảo:
“Thôi, từ đây sắp tới Lục Căn, Lục Trần cùng Vía chuyên làm việc bản thể mà thôi. Còn Linh Hồn là chủ của chúng ngươi, chúng ngươi phải tùng quyền Linh Hồn này và coi giữ đấy, không được ép xúi theo thế gian nữa”.
Kể từ đó Linh Hồn được thong thả lo luyện đạo pháp lý công phu. Vị cứu tinh bèn trở về Thiên Đàng. Hồn càng vui vẻ, mới gọi Lục Căn, Lục Trần cùng Vía lại mà nói rằng:
“Hôm nay ta chào các ngươi, Lục Căn, Lục Trần cùng Vía nghe ta phán, và chúng ngươi phải biết mấy câu kệ của ta”.
Đố ai có biết Lão là ai?
Vì phạm Thiên Nhan phải bị đày
Sớm tối công phu theo pháp lý
Mau thành Chánh Quả trở về ngay.
Ông Hồn nói tiếp cùng với Vía, Lục Căn, Lục Trần và những lỗ chân lông là dân sự trong nước của bản thể.
Chúng bây có biết chưa? Ta là Hồn, trước kia bị phạm tội nên mới bị đày, nay nhờ vị Cứu tinh giải thoát và truyền cho ta có quyền sai khiến chúng bây và dạy bây tu hành theo ta, bây có biết chưa? Đây ta là: CHỦ NHƠN ÔNG được hồi chức cũ, đã đành có tội thì ta cố gắng tu hành để độ chúng bây thẳng rẳng theo con đường chánh lý. Lúc ấy Vía, Lục Căn, Lục Trần đảnh lễ Chủ Nhơn Ông và bạch rằng:
“Chúng tôi đồng quy y thọ giáo theo Ngài. Từ đây chúng tôi không cưỡng giáo lý, cũng không xúi biểu Chủ Nhơn Ông mê trần”.
Chủ Nhơn Ông mô Phật đêm ngày công phu luyện đạo làm phép Cử Hương Tán.
• Ông Tám giảng
Cho nên cái tổ chức ở trần gian chúng ta thấy rất rõ, thể xác, phần hồn của chúng ta đang bị quyến luyến, giam hãm trong cái thể xác này mà Lục Căn, Lục Trần luôn luôn hoành hành, bày biểu đủ kế hoạch. Cho nên nhiều khi các bạn ngồi đó, nó nghĩ việc này, việc kia, việc nọ, bán tín bán nghi, đời cũng bán tín bán nghi, đạo cũng bán tín bán nghi và không chịu thức giác. Cho nên nó xúi biểu, nó làm cho cái thần thức, cái phần hồn của chúng ta đắm chìm và chạy theo cái con đường bất chánh. Rồi tự bảo vệ con đường bất chánh đó mà làm cho chúng ta trở nên si mê, tranh chấp.
Hằng ngày các bạn thấy, khi mà chúng ta bỏ cái môn thiền là muốn bỏ cửa thiền, mà chúng ta về với đời là chúng ta thấy toàn là sự tranh chấp, dãy đầy trong gia cang của chúng ta đều là sự tranh chấp, ngoài xã hội là sự tranh chấp không biết nó là ai! Vì sao? Vì Lục Căn, Lục Trần nó đã buộc rồi, và Lục Căn, Lục Trần nó nói, nó điều khiển, thì chủ nhơn ông phải nghe. Vì hồi nào tới giờ chúng ta giao cho nó làm, nó hành sự. Cũng như bây giờ căn nhà hay căn tiệm các bạn làm ăn mà giao cho mấy người làm công hết thì người làm công điều khiển, chủ nhơn ông đâu có biết làm gì. Khi mà xảy ra tai nạn thì chủ nhơn ông phải gánh hết.
Đó! cho nên ngày hôm nay chúng ta không dại nữa và chúng ta thức tâm rồi, thấy rằng tôi ăn bao nhiêu, mặc bao nhiêu có chừng, và thời gian tôi giáng lâm xuống thế gian đây học hỏi đều có chừng rồi tôi phải ra đi. Thì tôi phải sử dụng và làm những điều cần thiết và không sử dụng những chuyện không cần thiết nữa. Thì lúc đó cái phần hồn mới nhẹ nhàng, Lục Căn, Lục Trần nó mới hàng phục, nó mới chịu tu.
Cho nên chúng ta thượng bất chánh hạ tắc loạn, bộ đầu các bạn mà không có phân minh, không có rõ rệt, không hiểu cái nguyên cơ, thiên xích liên hệ với trời đất, càn khôn vũ trụ thì luôn luôn bị lệ thuộc, mà trong cái lệ thuộc đó là ai làm cho chúng ta bị lệ thuộc? Lục Căn, Lục Trần nó lôi cuốn, vì cái tập quán của chúng nó và trình độ của chúng nó tới đó thôi, nó chỉ tranh đấu, thực tế, sát phạt hơn thua, đó kêu bằng là cái nguyên lý của Lục Căn, Lục Trần. Còn nó không hiểu rằng cái trường cửu bất diệt mà cứu tất cả là tha thứ và thương yêu.
Cho nên khi mà chủ nhơn ông thức tâm rồi, quyết tâm dứt khoát ra đi tu rồi, thì Lục Căn, Lục Trần phải quỳ bái và kính nể theo con đường tinh tấn của chủ nhơn ông. Học được đạo bao nhiêu, đem về truyền bá bao nhiêu nó mới thức tâm ngày đêm nó mới quy y và nó niệm Phật. Cho nên những người tu về Pháp lý thức tâm rồi thì nửa đêm nghe rõ những câu niệm Phật của vạn linh trong Tiểu Thiên Địa, đồng niệm Phật, thức tâm để kêu chúng ta dậy lo cái giờ giấc công phu là quan trọng. Đó là cái cơ tiến hóa cần thiết còn cái tiền bạc, của cải, địa vị ở thế gian đều là tạm bợ, và không mang đi được. Nó cũng là cái cơ cấu xây dựng của Thượng Đế trong cái kích động và phản động để nhồi quả cho phần hồn tiến hóa mà thôi.
Cho nên chủ nhân ông thức tâm rồi mới chịu CỬ HƯƠNG TÁN, là lo tu.
Chữ CỬ HƯƠNG TÁN nghĩa là :
CỬ : Là đề cử:
HƯƠNG : Là công phu Soi Hồn, trong đấy là chỗ tập trung. Thường khi công phu thì điển nhóm lại một chỗ tập trung chúng ta rờ nóng gọi là Lư hương.
Còn chữ TÁN : Nghĩa là Vía, Lục Căn, Lục Trần đều ưng thuận tán thành cung phụng.
• Ông Tám giảng
Đó là đi trực tiếp, còn ở đời họ “Cử Hương Tán” là thắp cây nhang đưa lên đầu, đó nhưng mà đưa lên đầu thì trong này chỉ có cầu xin không à. Mà không biết cái nghĩa lý của cây hương là lửa và nó đi lên trên cõi trên cũng như là thưa trình ở Bên Trên. Hồi xưa, người ta làm vậy là tập trung tinh thần để thưa trình với chư Phật chư Tiên con nguyện tu, chớ không phải cầu xin giàu có. Nhưng mà ngược lại, ở đây họ chỉ cầu xin may mắn ,bình an.
Đó! Cho nên cái Cử Hương Tán của chúng ta là thực tế. Các bạn đưa ngón tay lên Soi Hồn là tập trung cái luồng điển lửa nóng cho nó tập trung giữa chân mày. Cho nên các bạn tu một thời gian Soi Hồn nó trì nặng ngay chân mày. Đó là chúng ta thắp một cây nhang. Có người thắp 6 năm, có người thắp 6 tháng, có người thắp 3 ngày nó cũng sáng vì người đó đã thắp lâu rồi, đã tu lâu rồi.
Hương là công phu Soi Hồn, trong đấy nó phát cái thanh điển đi lên, khi mà các bạn Soi Hồn bịt như thế này là nó tán ra, nó đi ra, nó giải cái trược, nó tán ra, thường khi công phu điển nhóm lại chỗ tập trung, chúng ta rờ nóng, lư hương. Lư hương chỗ này (trung tim chân mày) nó nóng.
Còn chữ “Tán” nghĩa là Vía , Lục Căn, Lục Trần đều ưng thuận
• Ông Tám giảng
Đó! khi mà chủ nhơn ông chịu Soi Hồn là ở dưới nó sẽ êm ả lần lần, khi các bạn Soi Hồn tới 5 phút rồi đạt tới 15 phút, các bạn cảm thấy sự êm ả rồi, càng ngày càng êm ả. Cho nên có nhiều người họ soi tới một tiếng đồng hồ, họ thấy êm ả trong cơ thể là Lục Căn Lục Trần nó hàng phục. Đó! cho nên đi trực tiếp, cái kinh A Di Đà này mà theo ông Tư giải thích như này là đi trực tiếp về cái Pháp lý và khi chúng ta Soi hồn rồi nó êm ả, êm ả một chập, một chập 5 phút sau, 10 phút sau, 15 phút sau thì cảm thông ngay cái xương sống phía đàng sau này, đâu đó nó êm ả hết.
LƯ HƯƠNG SẠ NHIỆT - PHÁP GIỚI MÔNG HUÂN
Chữ Lư Hương là lò lửa.
Trong mình ta có lò lửa, nhưng người thế gian nào biết được. Lúc đức Di Đà dạy đạo, chỉ cho chúng ta biết: Ngay giữa hai chân mày, trung tim giữa sống mũi là chỗ Tam Tinh “Tinh, Khí, Thần” nhóm tại đó người luyện đạo gọi là tập trung. Nói như vậy chúng ta cũng chưa thấu đáo, duy nhờ có tu luyện, định thần ngay chỗ ấy chúng ta sẽ biết là chỗ lò lửa thật. Nếu chúng ta muốn thí nghiệm cho rõ Pháp lý, thử giơ tay đánh thật mạnh ngay giữa trán ta, thì ta thấy phát ra một tia lửa đỏ lòm, gọi là Tá Hỏa Tam Tinh (Người Pháp cho là thấy 36 ngọn đèn).
• Ông Tám giảng
Chỗ đó là chỗ hỏa, khi mà đánh bụp vô một cái là thấy tá hỏa tam tinh rồi xây xẩm mặt mày.
Khi ta luyện đạo công phu thì chỗ ấy phát nóng nhiều, còn lúc thôi luyện đạo thì không nóng.
• Ông Tám giảng
Đó, cho nên các bạn tập trung rồi, sao nó cứ nặng trì, nặng trì rồi thích nhắm mắt... mà trong lúc thích nhắm mắt nó lại thích niệm Phật nữa! Nó mới phóng ra, nó mới thấy cái lửa sức mạnh nó thế nào. Cho nên cái đệ tam nhãn này mở mà đối phương có tới chống chúng ta, chúng ta cứ ngó ngay chỗ tam tinh của những người mà chưa tập trung thì họ phải hàng phục. Họ phải nể ngay! Vì cái thần lực này là cái thần lực mạnh nhứt, chánh tông của đệ tam nhãn, rồi chỗ này (trung tim chân mày) nó xoáy, mà nó mở ra rồi thì các bạn chỉ ngó ngay, dụng cái này (trung tim chân mày) ngó ngay đối phương thì dễ hòa với họ và không có trở ngại, còn nếu mà chúng ta dùng cặp mắt thịt ngó, chúng ta còn sợ mà tập trung được cái chỗ đó ngó, là không có sợ nữa! Mà tâm chúng ta vừa niệm Phật là vừa cứu họ và cứu mình, giải, dùng hỏa trung thiên để giải cái hỏa trần trược tại thế gian. Cho nên những người tu Pháp lý khi đi thăm người bệnh hoạn, chúng ta chỉ nhìn ngay chỗ đó mà thôi, nhìn ngay trung tim chân mày, và dùng từ tâm niệm Phật và đem cái từ điển cho bệnh nhân, cho nên đến thăm nhiều lần họ cảm thấy nhẹ.
Con cái, gia đình chúng ta bệnh hoạn cũng vậy, nếu họ không tu, mình là người tu, mình phải đến nhìn họ và phải đem cái từ tâm niệm Phật để truyền cái thanh điển của chính ta đã tu luyện cho đối phương có cơ hội tự thức, còn khi mà chúng ta cứ thử nghĩa là các bạn trước kia chỗ này (trung tim chân mày) nó không nông, Soi Hồn thét nó nông cao, và nó trì nặng chỗ này (trung tim chân mày), rồi các bạn bỏ đi không có Soi Hồn, nó không có nữa, vì nó không có tập trung, nó không thành sức mạnh rồi, nếu mà Soi Hồn bỏ là khó thấy ánh sáng, mà giữ được Soi Hồn đều, đều, đều như vậy thì sau này dễ thấy ánh sáng vì nó tập trung.
Cho nên đừng có sợ khi mà nó tập trung ở đây (trung tim chân mày) nó nặng một thời gian rồi, vừa nhắm mắt là nó lên đây (giữa trán) nó nặng. Đây (giữa trán) là trung thiên, ngay chính giữa là trung thiên, cái luồng điển nó chuyển lên trung thiên rồi, rồi nó nặng ngay chỗ này (chân mí tóc), nó là bồng lai, ngay chỗ này (chân mí tóc) nó phóng thẳng vô trong cảnh tiên, mà đây, ngay trung tim đây (trung tim bộ đầu) là Phật giới. Còn nó nặng trì phía đằng sau này (Huyệt Ngọc Chẩm - ngang trung tim hai chân mày phía sau bộ đầu) là ma quỷ.
Đó! Cho nên những người tu mà bước vô cái nhà nào, mà thấy tự nhiên tôi bước vô thấy sao nó nặng ở đây (Ngọc Chẩm), nó làm cái xòa một cái nó làm tôi nặng ở đây (Ngọc Chẩm) là ma, còn quỷ nó còn mạnh hơn, nó đè ngay cái ngực tôi luôn, còn những phần thiêng liêng xuống về thanh thoát, nó không có! Chúng ta tới cũng như người thường, cảm thấy nhẹ. Phần đó là chư Thần, chư Thánh chư Tiên làm việc. À, còn mình tới mà nó áp đảo ngay chỗ này (Ngọc Chẩm), và nó làm cho cái ngực các bạn nặng, đó là ma quỷ. Chúng ta lo niệm Phật và lo rời khỏi chỗ đó, vì chúng ta không phải là loại tranh chấp, không phải là loại làm thầy, không phải loại đánh giặc, chúng ta không có ở đó.
Nhiều bạn nói: Ờ! Tôi biết cái đó, tôi trị nó. Trị không được! Không nên trị, mít lòng, chúng ta bỏ đi, niệm Phật. Thôi, tôi chỉ lo tu cho tôi mà thôi, không nên dùng cái điển của chúng ta để khắc phục cái tà, vì trình độ của chúng ta chưa có đầy đủ. Mà Trình độ đủ thì hút họ lên chớ không có đè họ. Cho nên nhiều bạn tu mới có chút điển muốn đi đè đối phương, đè con ma. Mà rốt cuộc mình thành ma, mình càng đè thì mình càng la dữ.
Cho nên ở Việt Nam tôi nói có câu chuyện tức cười, bà Văn Cao bả bị bệnh. Bả là bà con của ông Lâm Văn Thơ. Thì ông Lâm Văn Thơ có đệ tử xài bùa, trị tà, nghe nói cũng hay lắm. Mà bà này bả thấy có tà xâm trong mình bả, bả cứ nghi bả có tà mà bả không chịu tu, bả tu không được, bả bị phá hoài. Bởi vì tiền kiếp bà chơi bùa ngải, thì bây giờ bùa ngải nó phá bả mà bả không hay. Rồi bây giờ đi gởi đó, ông tướng ổng gởi ở đó, ổng nói nghĩa là: “Bà con tao, mầy ráng trị”. Thì ông kia ổng vẽ bùa đồ này kia kia nọ, trị nó không xuất. Con tà nó không xuất, nó cũng còn hoài. Thì ổng nói nghĩa là: “Tao cho mày hay là ông tướng gởi đó nghen! Mà mày hổng xuất tao đánh chết cha (Đức Thầy cười..). bà kia nghe mất hồn! Ông đừng đánh chớ. Tôi thiệt là cháu ông tướng mà ông đánh tôi chết còn gì. Ông lính nói: “Mày phải ra, mầy phải xuất ra, không xuất ra thì tao đánh chết (Đức Thầy cười..). Lúc đó thầy bùa bí rồi. Thầy bùa bí rồi bây giờ biết làm sao? “Ông tướng gởi mà mình không làm chắc là ổng quở”. Mà trị không xong là ổng quở, mà năn nỉ thì không được. Mà bùa phép ra hết rồi mà con ma nó nói: “Tao còn đây” (Đức Thầy cười..). Nói mày không ra là tao đánh chết, bà kia mất hồn, bỏ chạy (Đức Thầy cười..). Cái đó cũng là thầy bùa, mà thầy bùa tới đó hết phép rồi (Đức Thầy cười..).
Cho nên ở đời này nhiều thầy lắm. Cho nên chúng ta tu về Pháp lý Vô Vi không có bị cái đó, phải quyết tâm tự tu mới giải được, cái tiền kiếp chúng ta làm sái quấy thì kiếp này chúng ta phải chấp nhận mà phải tự giải, không tự giải là không có thể được. Cho nên tôi có chỉ cho bả chỉ có tu thôi, chấp nhận đi, chết bỏ. Vì ta hại người thì người hại ta, đúng rồi. Trả được kiếp này thì kiếp sau khỏi tái phát, mà không nghe! Đi thầy nào... tôi nói: Ờ, thì thầy đó hay, cứ việc đi, đi hết cả Việt Nam không có thầy nào hết. Rốt cuộc về, cũng phải tu về vô vi, không cách gì giải được hết. Bởi cái chuyện hồi xưa mà, bây giờ chúng ta phải nhận và chúng ta phải giải.
Cho nên ngày hôm nay chúng ta đi theo con đường nào mà chúng ta tu? đi theo con đường ông Thích Ca tu, ông Thích Ca tiền kiếp ổng làm hiền, ổng có tu, ngày nay ổng mới được làm Thái Tử. Mà Thái Tử ổng thấy trần gian động loạn, giết chóc, oan oan tương báo hà thời liễu, ổng thấy rõ cứ báo thù mãi mãi, ổng mới thức tâm ổng bỏ ổng đi tu. Và chính ổng chỉ có cái tu mới giải thoát, vì sự liên hệ của ổng đối với nhân dân là một, và sự đau khổ của nhân dân là ổng đau khổ, cho nên ổng tu, để ổng vạch ra con đường để mọi người theo tu và tự đi.
Cho nên chúng sanh còn hiểu lầm nhiều lắm và không chịu tự thức. Có cái gương lành đó mà không chịu tự thức, mà học để mà tự tu, rồi mê phép này, mê phép nọ, cái nào nói cũng hay hết, rốt cuộc là bị kẹt. Cho nên ngày hôm nay khoa học thay thế rồi, bây giờ anh có cây dao ở trong bụng, nó mổ lấy cây dao ra như không. Hồi xưa mà cây dao vô trong bụng là phải kiếm thầy cúng giổ bao nhiêu ngày, rồi ổng luyện phép, ổng lấy ra, thấy không! Cái đó hồi xưa cũng có nữa! Những Lưỡi lam ở trong bụng cũng lấy ra được. Cái đó hồi xưa nhưng mà ngày nay khoa học người ta thay thế hết rồi! Người ta thay thế hết.
Cho nên chúng ta bây giờ chỉ có tu và không có sợ bùa phép nữa. Sợ tâm mình động loạn, cái nền văn minh nó đưa tới cho chúng ta và chúng ta phải thực hành trong cái khoa học huyền bí và để dọn cái tâm của chúng ta để đi lên. Cho nên Đức Thích Ca đã làm và đã thành và chúng ta noi theo gương Ngài phải làm. Rồi chúng ta cũng nói chuyện cho những người khác nghe, đó là thay thế đức Thích Ca hành đạo tại thế, chớ không phải đọc danh Ngài là hành đạo. Đọc danh Ngài mà không hiểu được nghĩa lý thì đọc làm chi. Còn chúng ta đọc danh Ngài mà hiểu nghĩa lý để dẫn giải mọi người tiến tới cái kỷ thuật nào mở tâm mở trí, cái gì kêu bằng khoa học vật chất, cái gì kêu là khoa học huyền bí, mới thực hành đến nơi được.
Chữ SẠ NHIỆT Là phát ra nóng.
• Ông Tám giảng
SẠ NHIỆT cái này là chữ Tàu, nó phóng cái nóng ra.
Pháp lý cho rằng khi chúng ta ngồi tịnh luyện thì điển của bản thể đều hay, lúc ấy điển từ dưới chân chạy lên bộ đầu ta nghe rần rần, điển ấy gom vào Lư Hương, lò lửa trước trán ta.
• Ông Tám giảng
Khi chúng ta ngồi, chúng ta thấy ngồi vô, các bạn vừa ngồi vô là thấy nó ấm mình rồi, nó chạy á. Cái phương pháp Pháp lý này vô ngồi và xếp bằng rồi, tưởng niệm một cái là nó chạy rần, điển nó chạy rần “gom vào lư hương lò lửa trước trán ta”, ta Soi Hồn là nó chạy ngay chỗ đó. Cho nên thích nhắm con mắt để cho nó thanh nhẹ.
PHÁP GIỚI MÔNG HUÂN
Trong Pháp lý có phép của Phật Di Đà truyền bá cho ta luyện đạo, nhờ có điển bản thể sung vào Lư Hương lửa điển tung ra ngoài, lúc ấy trên Thiên Đàng, điển của chư Phật đều biết.
• Ông Tám giảng
Đó! chúng ta Soi Hồn thì nó phóng ra thì chư Phật phải chuyển tới cho chúng ta, cho nên khi các bạn mà Soi Hồn là chư Phật bên trên người ta biết hết rồi!
CHƯ PHẬT HẢI HỘI TẤT DIỆU VĂN
Nghĩa là đồng thời trên cảnh Phật đều hay biết chúng ta công phu luyện đạo, cho nên điển của chúng ta ở dưới thế gian phát ra động đến xứ Phật.
• Ông Tám giảng
Họ thường thường họ phát cái điển, cái nóng của họ là phát ra để trị người khác thôi. Còn đằng này chúng ta phát hướng thượng tập trung như thế này (trung tim bộ đầu), niệm Phật là nó phóng đi lên, nó động tới Phật giới, phóng đi lên. Còn những người trị tà ở thế gian là nó động thể xác của đối phương, nó đi ngang còn chúng ta phóng đi lên thì Bề Trên người ta biết rồi.
TÙY XỨ KIẾT TƯỜNG VÂN
Đồng thời điển của chư Phật trực tiếp giúp chúng ta được mau thấy chơn đạo, nhưng người tu cao thì trên trời có một đám mây nhỏ gọi là Tường vân.
• Ông Tám giảng
Cho nên các bạn khi mà nhắm mắt, xuất ra rồi, mình đứng trên đám mây đó là bay. Hồi xưa các bạn coi phim Tôn Ngộ Không, đứng trên mây một cái là nó bay xè, nó đi, rồi bây giờ, những người tu khá ngồi trên tòa sen, cái đó là đám mây chớ có gì đâu, nó cũng bay đi à.
Để tiếp viện cho người ấy dễ dàng xuất hồn, hồn ấy đứng trên đám mây.
• Ông Tám giảng
Đó, cho nên Tường vân đó ở trước mắt chúng ta đây này, bây giờ các bạn thấy màu đen, sau này thấy màu trắng, bước ra cái là đứng đó là tự nhiên nó bay, cái ý chuyển là nó đi, mà mình nói trước là tôi xin đảnh lễ Phật là nó bay tới đó, nó không có khó khăn, nhưng mà ngày hôm nay các bạn lại có cơ hội coi phim chưởng là thấy vụ đó, như là Bát Tiên, Tôn Ngộ Không cũng đi trên mây không à! Cái chuyện đó không phải khó khăn, mà nếu cái phần điển các bạn trụ thì cái đó nó dễ dãi lắm.
THÀNH Ý PHƯƠNG ÂN
Lúc ấy chư Phật ban ân huệ cho người tu, giúp điển lửa của người tu được cường tráng hùng dũng, đi đứng bay nhảy dịu dàng lanh lẹ không khác nào chư Phật. Nếu chúng ta cố ý thành tâm luyện đạo thì có đủ Chơn Như.
• Ông Tám giảng
Có 3 cái pháp này thôi, mà thanh lọc được rồi thì các bạn thấy đầy đủ chơn như các bạn ra đi, bởi vì các bạn từ trên kia xuống mà! Xuống từ lâu rồi! Xuống mấy ngàn năm rồi ở thế gian này mà cứ đòi hỏi ở lại thôi, mà không biết đường về. Mà ngày nay, chúng ta biết đường về. Chúng ta đi chớ, còn dại dột gì nữa, cứ chờ cái xe kiểu này ra rồi hết xe kiểu khác, rốt cuộc xe nào nó cũng dùng hơi đẩy người ta đi tới thôi! Thì bây giờ chúng ta dùng điển để đi lên thiên đàng, thế gian thì dùng hơi mà ta dùng điển. Chúng ta mới nhập cục, mới lên thiên đàng được, đó là kêu bằng trở về với đầy đủ chơn như.
CHƠN NHƯ là hình bóng của ta rõ ràng trên thiên không, chẳng khác nào xác thân ta ở dưới trần gian, còn luyện đạo chưa đúng lực lượng thì chỉ thấy cảnh Trời mà thôi, ví như ánh sáng của đèn pile rọi.
• Ông Tám giảng
Chỉ rất rõ ràng cho nên cái cuốn kinh này là cuốn kinh quý báu nhứt để cho các bạn thực hành về Pháp Lý: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền định, rồi cái ánh sáng ra thế nào? lúc các bạn đi thế nào? ở đây cũng có sự dẫn dắt hết, dắt mà dựa trong cái kinh A Di Đà dắt các bạn là không có sai lạc một chút.
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT
Bởi thế chư Phật cùng đức Di Đà khuyên chúng ta phải cố gắng luyện đạo mềm dẻo. Nếu có được Mâu Ni Châu trong lò lửa phát ra thì lo chi không thành phật
• Ông Tám giảng
Cái đó có phải sự dày công của chúng ta không? chúng ta từ trên kia rớt xuống đây, từ trên miệng giếng rớt xuống đáy giếng, mà chúng ta phải tập trung tinh thần và tập trung tất cả lực lượng, chúng ta mới mong bò lên khỏi mặt giếng. Ngày hôm nay các bạn cũng như trên giếng rớt xuống dưới đáy giếng thôi, mà bây giờ các bạn dày công, tìm nhiều phương cách thực hành trong sự quân bình, thì các bạn đi lên khỏi mặt giếng không có khó khăn, nhưng mà phải phí công. Đi xuống thì dễ mà đi lên thì khó. Các bạn thử đi, đi tới cái dốc núi, bạn đi xuống dễ lắm, ai cũng đi được hết, mà tới hồi đi lên là khó.
Cho nên đi lên có cái khó một chút nhưng mà cố gắng, tin tưởng rằng ta sẽ lên khỏi chân núi, ta sẽ ở trên đỉnh núi, thì mới là đi tới giải thoát. Chớ nhiều người tu nửa chừng, tôi chán quá, tu này tiêu hao quá, tu cái này thiệt thòi quá. Thiệt thòi cái gì? Cái gì mà bạn có, mà bạn nói bạn thiệt thòi, thậm chí cái xác của bạn đang có đây cũng là không phải của bạn nữa, bạn có bao giờ chết mà đi chôn cái xác của các bạn được? Không! Thì không có cái gì các bạn có mà sao các bạn nói là thiệt thòi.
Cho nên nói tôi tu cái này thua lỗ và thiệt thòi. Nói cái đó là ngu xuẩn và tăm tối không hiểu cái nguyên lý của Trời Phật. Tu cái này là để tôi giải tỏa cái sự ô trược tạm bợ không có giá trị và tôi trở về với sự chơn giác đời đời của chính tôi, tôi đâu có thiệt thòi! Tôi lợi tất cả cho chính tôi chớ tôi đâu có thiệt thòi. Tại sao tôi dám nói câu thiệt thòi, nhiều người nói tu Vô Vi thiệt thòi! Không phải thiệt thòi đâu các bạn! Các bạn làm sao rửa được trần tâm của các bạn, mà có đường lối của Vô Vi các bạn mới có cơ hội rửa trần tâm của các bạn, các bạn mới lợi lộc đời đời, đâu có thiệt thòi
Cho nên đừng có sai lầm trong đó, mà sai một li đi một dặm, nó kéo các bạn xuống đời đời trong chỗ tối tăm và không có lối thoát, rồi các bạn mê, mê sự từ bi, thích sự từ bi mà không bao giờ chịu hy sinh làm sao có từ bi, mới hy sinh một chút là nói thua lỗ rồi, thiệt thòi rồi! Cái đó là cái trần tâm tăm tối, phải mau mau thức tâm và trở về sự chơn giác của chính mình.
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT
Bởi thế chư Phật cùng đức Di Đà khuyên chúng ta phải cố gắng luyện đạo mềm dẻo.
• Ông Tám giảng
Mềm dẻo là bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể qua được, cái cứng cáp đó là cái tạm bợ mà cái mềm dẻo là cái thông qua tam cõi。
Nếu có được Mâu Ni Châu trong lò lửa phát ra thì lo chi không thành Phật
• Ông Tám giảng
Thấy rõ không? Một kỳ công ta làm là cho ta, đâu phải làm cho người khác, đừng có dòm bề ngoài mà thấy sự thiệt thòi mà mất cái chơn tâm là chỉ có xuống địa ngục khóc mà thôi! Chúng ta thấy rõ rồi, phải thực hành cho kỳ được.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Lúc ấy Thích Ca Phật Tổ chứng minh thì giờ phút khắc mà chúng ta luyện đạo theo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật.
VẬY CÓ THƠ RẰNG:
Di Đà sáu chữ ấy ơn sâu
Kẻ Đạo nghe qua phải lắc đầu
Thích chí từ đây tua gắn bó
Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu.
Mâu Ni Châu vốn ở trong mình
Luyện đạo Soi Hồn lọc khí tinh
Miệng niệm mãn đời không thể có
Huyền vi nhờ Điển Đạo càng minh.
• Ông Tám giảng
Đó, “Di Đà sáu chữ ấy ơn sâu”, Nam Mô A Di Đà Phật, tại sao nói là ơn sâu? Cái người đi trước, con người là bị bao vây, đóng khung một chỗ, không biết con đường để thoát thân. Ngày hôm nay Bề Trên đã chuyển vận thanh điển và để cho chúng sanh học để hiểu được nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật để khai lục thông trở về thức hòa đồng đời đời sẵn có ở bên trên, nơi lớn rộng vô cùng và không bao giờ bị tiêu diệt.
Cho nên nhờ cái sự sáng suốt chỉ điểm cho chúng ta, chúng ta nhờ trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật, chúng ta mới thoát được cái trần tâm. Đó là cái ơn đó là vô cùng, làm sao chúng ta có thể thoát trần tâm và tránh cái tham dục ở thế gian, người nào cũng có trần tâm và tham dục, mà chúng ta dùng trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật rồi. Lần lần các bạn cảm thấy tôi bớt, tôi không thích, tôi mở rồi, tôi bỏ rồi. Mà bỏ cái đó rồi các bạn lấy cái gì, lấy được cái thức hòa đồng thì các bạn sẽ có nhiều hơn. Cho nên, do đó chúng ta mới thấy cái ơn sâu của cái nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật để dẫn tiến tâm linh của chúng ta. Cho nên đời đời chúng ta không quên cái Nam Mô A Di Đà Phật, vì nó là cái chìa khóa của tam cõi.
“Kẻ đạo nghe qua phải lắc đầu”, người tu đều thấy rõ nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật, bái phục vô cùng, không có cách gì cứu con người ra khỏi khổ ngoài nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật.
“Thích chí từ đây tua gắng bó”, bây giờ chúng ta phải lấy cái đó làm chánh, mà cố gắng niệm, cố gắng trì niệm cho cái thức hòa đồng nó mở, thế gian ai cũng mong thế giới đại đồng, nhưng mà tâm ta chưa hòa đồng làm sao đạt được thế giới đại đồng.
“Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu”, khi chúng ta công phu phải nghiêm chỉnh, thực thi 3 pháp cho đầy đủ, một phút cũng phải nghiêm chỉnh, rồi lần lần nó đi lâu, chớ không phải, nhiều người nói tôi muốn vô tôi ngồi một ngày. Đâu có được! Tôi được 1 phút hay 1 phút, tôi được 5 phút hay 5 phút, rồi tôi sẽ đi tới, chính tôi sẽ khai thông tôi và tôi sẽ tái chiếm những cái cơ sở thanh tịnh của chính tôi có từ nghìn xưa chớ không phải mới đây.
“Mâu Ni Châu vốn ở trong mình”,“Luyện đạo Soi Hồn lọc khí tinh”, đó! Nó vốn ở bên trong chớ đâu, mà nếu chúng ta luyện đạo khứ trược lưu thanh rồi thì nó lọc khí tinh. Lúc đó nó là đi tới chỗ tinh vi, một luồng hơi sáng suốt ở trong mình cũng như đức Thích Ca trước kia tu cũng có cái Thiên Xích một đường thẳng ngay trung tim bộ đầu rút thẳng lên trên không trung, mà khi Ngài muốn chuyển độ một người nào cũng chỉ phóng cái luồng điển đó để rút cái phần thanh điển của hành giả, mà đưa hành giả tới cái chỗ ngộ và chư Phật chỉ độ chúng ta ở chỗ đó, trong giây phút mà thanh tịnh đó, chư Phật chỉ truyền một luồng điển xuống mà rút chúng ta thẳng tới cái chỗ ngộ Tâm.
Cho nên phải do sự công phu cố gắng và nghiêm chỉnh thực hành trong giờ công phu, còn không thôi đừng tu, tôi ngồi kiểu ngồi chơi ngồi nghĩ bậy, đừng thèm, vô là phải chấp hành cho đúng. Trong giây phút tôi Soi Hồn, Soi Hồn cho đúng, làm Pháp Luân, Pháp Luân cho đúng, Thiền Định, Thiền Định cho chững chạc. Ông phật ngồi sao tôi ngồi vậy Thà thì giờ ngắn, hơn là các bạn làm dài mà èo uột không tiến triển.
“Huyền vi nhờ điển đạo càng minh”. Tiến tới huyền vi là chỗ mắt phàm không thấy, nhờ điển thì cái đạo nó càng minh, nó càng ngày càng nới rộng, thánh tâm càng ngày càng mở, thấy rõ chiều hướng tiến hóa của nội tâm.
Đây là lời của ông Tư.
THƯA CÁC BẠN
Trước kia tôi học đạo Vô Vi của Ông Cao Minh Thiền Sư truyền bá, nhưng Ông có thể giảng 6 chữ Di Đà dạy phép luyện đạo công phu mới có, chớ chẳng phải lấy miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật để Phật giúp cho.
Có câu: “Khẩu khai thần khí tán” nghĩa là nói hao hơi, thần khí yếu hết, lòng ta bê bối không thể nghĩ ra một lẽ nào, sanh mệt mỏi, nhưng nó cũng có ích cho người để dỗ ngủ không lo ra. Còn theo Pháp lý, thì hễ tu phải luyện đạo, làm phép Soi Hồn, hễ học đạo thì phải hành đạo.
Thưa các bạn nghĩ cho! Sự tu hành đêm ngày cố gắng công phu thì điển chạy mới thông, thì Mâu Ni Châu mới phát ra. Phật Tổ Thích Ca dạy Đức Di Đà học đạo theo Huyền bí của Phật, thì sự cực nhọc ngày đêm gắn bó mới có Mâu Ni Châu, nhưng Phật Tổ Ngài biết người thế gian mê muội u ám theo cõi trần.
Lúc đức Di Đà ngồi thiền định, đồng thời Đức Thích Ca chỉ rõ Khoa học Huyền bí của Phật cho đức Di Đà vừa tịnh và nói cho chúng sanh nghe cách luyện đạo ở trong mình bản thể ta. Trong cuốn Di Đà mỗi câu đều chỉ rõ thân ta chỗ nào là Khoa học Huyền bí, mảy may đều không sót, ta mới rõ biết thâu điển gom lại để cho Mâu Ni Châu phát hiện, vì Đức Phật trước kia cũng làm như trong cuốn Di Đà này mà đắc quả, chẳng phải lấy chữ phò hộ mà Phật độ.
Cho nên chúng ta ráng cố gắng, phải lấy Khoa học Huyền bí của Phật mà luyện đạo, thì sẽ thành đạo cũng như Phật Tổ Ngài vậy, ai ai cũng tu được, cho đến đỗi bò bay máy cựa, ngu xuẩn đi nữa mà chí tâm luyện đạo của Phật Ngài thì được đạo. Tu thì phải học luyện, hễ mình bỏ qua không luyện đạo là không đắc đạo, cho đến đỗi Phật Tổ cùng chư Phật phải luyện đạo hàng ngày giờ phút khắc. Vừa làm việc cũng vừa tu, vì máy huyền vi bao la rộng lớn, phải làm việc và tu hành, không phải làm Ông Tiên, Ông Phật chơi bời cho thong thả. Ví như anh học trò cũng muốn cho đỗ đạt thành tài, nhưng lười biếng không chăm học, thì làm sao kết quả được. Bởi thế Phật không vị ai, cũng không ăn hối lộ mà ban cho ai phẩm chức. Phật Ngài chứng minh do theo sức mình tu mà thôi.
Đây 6 chữ Di Đà, chúng tôi xin trao ra đây cho quý bạn xem và suy nghĩ nghiên cứu. Phép Vô Vi cũng từa tựa như Pháp lý nhưng canh cải chút ít mà thôi.
LẤY NGHĨA CHÁNH SÁU CHỮ
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
XIN DỊCH RA ĐÂY QUÝ BẠN TƯỜNG LÃM
NAM thuộc Cung Ly lửa Bính Đinh
MÔ là chỉ rõ vật vô hình
A gồm Nhâm Quý an nơi thận
DI giữ bền chặt ba báu linh.
ĐÀ ấy sắc vàng trùm khắp cả
PHẬT hay thanh tịnh ở nơi mình
Hống Diên hai tám hòa nên một
Rồng cọp thâu về tợ nguyệt tinh.
GIẢI NGHĨA:
NAM thật phương Nam lửa Bính Đinh
Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình
Phát ra hừng cháy cùng Trời Đất
Lặng lẽ êm ru cả tánh tình.
• Ông Tám giảng
Xuất phát ra nó mới êm.
Mà cô đọng, tin tưởng và cô đọng, ôm lấy nó là không có bao giờ mà nó êm được hết.
Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng
Tản đòi nơi tợ tuyết trong xanh
Khảm Ly Diên Hống hòa hai tám
Hiệp lại một nhà tợ Nguyệt tinh.
• Ông Tám giảng
Cái này tại sao nói là: hiệp lại một nhà? Đó! “Thật phương Nam lửa Bính Đinh”, Bính Đinh là sanh hỏa, cũng như hai cái vis platinés mà nó nhịp lại là sanh hỏa Bính Đinh.
“Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình”,“Phát ra hừng cháy cùng trời đất”, cũng như chiếc xe hơi, chúng ta thấy chiếc xe hơi nó có cái vít lửa, nó mới phát ra. Còn chúng ta ở nơi cái tam tinh này nó cũng có cái vít lửa nó phát ra. Mà nếu ta không tập trung thì không có mở ra được, mà khi mà nó phát ra rồi, cái lửa nóng trong cái cơ thể của các bạn mà nó phát ra rồi thì nó êm rồi, con người đâu còn sân nữa!
Cho nên các bạn Soi Hồn, các bạn làm Pháp Luân nó phát ra rồi cái thì thôi, thấy nó êm rồi. Cái chuyện đáng cãi, đáng gây nhưng mà rồi bây giờ mình không gây nữa, không chấp nữa. Nó thanh tịnh rồi, cái thượng trung hạ là một, cái khối đầu này là tiến về thiên đàng mà từ rún sắp xuống là làm cái gì? Tham dục ở thế gian là tạo ra cái cơ đồ nhà cửa xây dựng đồ này kia kia nọ ở thế gian, nó cũng như cái…(nghe không rỏ)
Hai cái lưỡng nghi đó nó hợp nhứt, nó mới là thanh tịnh. Chớ tại sao chúng ta phải làm Pháp Luân Thường Chuyển, hít một vòng, hít vào, hít hoài, cứ hít hoài, hít hoài, thét cái nó rút lên, nó rút lên, cái bộ dương nó rút lên. Nó không có còn nghĩ đến vấn đề tình dục nữa, nó rút lên, nó hai là một. Diên Hống hòa hai tám nó là một, nó thanh tịnh rồi, nó không có bị sắc đẹp lôi cuốn nữa, nó không bị ngoại cảnh phỉnh phờ nữa. Cũng nhờ cái lửa điển đó thoát ra và hòa với chơn điển của hư không, nó mới không có động loạn.
MÔ vốn chữ Vô mỗi vật không
Từ thời vô thủy chửa phân đồng
Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết
Mới tạo Càn Khôn tỏ một vòng
Đạo lý hữu tình sanh vật cả
Mẹ Cha ân ái kết thai lòng
Vật người mới tạo rồi sau diệt
Vạn sự đều do chữ Nhứt KHÔNG.
• Ông Tám giảng
Đây nói về cái định luật sanh trụ hoại diệt.
A vốn Bắc Phương Nhâm Quý thủy
Thận kia là Khảm về cung Tý
Người hay luyện đặng giữ trong mình
Vàng cứng tức nhiên sanh vật quý
Mới đặng Khảm Ly hòa Hống Diên
Tánh thông Trời Đất đồng nguyên lý
Ba nhà gom lại kết Anh linh
Xá Lợi tỏ ngời trong Nhứt khí.
• Ông Tám giảng
Cho nên Tất cả cái cơ thể của chúng ta nó liên hệ với cả càn khôn vũ trụ, khi mà chúng ta tu thức được rồi, thì cái Xá Lợi là ai? Xá lợi là phần hồn, nó kết tinh rồi, thì chúng ta biết được ba cõi này là một, quy không rồi thì nhứt khí chúng ta đi ra đâu có khó khăn.
DI giữ chặt bền ba báu linh
Cung Ly dứt tưởng được thanh minh
Đấp nền luyện tập công phu gắng
Chờ lúc Trúc Cơ kết quả thành
Biệt niệm trong mình Thần mới hóa
Lấy Ly bổ Khảm khí bèn thanh
Đơn điền gom lại trong không động
Tương Hội Ba Nhà kết Thánh Anh.
• Ông Tám giảng
Đó, kết Thánh Anh, là Thánh Thai đó. Người ta tu về Ông Cao Minh Thiền Sư tu hồi trước đó, Anh Nhi... kết Anh Nhi đó, còn ở đây thì mình trở về cái thánh thai.
ĐÀ ấy sắc vàng muôn kiếp ghi
Tròn vo che phủ núi Tu Di
Càn Khôn bao bọc vô hình dạng
Thế giới phủ giăng chẳng hướng gì
Sắc tốt mình vàng nào hoại nát
Tâm lành tướng hảo đủ từ bi
Công phu thuần thục lên bờ giác
Đắc quả may ra vẫn kịp thì.
PHẬT hiệu Kim Cang ở giữa mình
Hư không thanh tịnh hóa nên hình
Khuyên người sớm bỏ tham sân bịnh
Thần khí phải gìn giữ rất tinh
Mười tháng công phu năng luyện tập
Ba năm công quả khá kiên thành
Trống lòng đầy bụng là giềng mối
Vạn sự quy về một chữ THANH.
KỆ RẰNG
Giảng thành Lục Tự ấy ơn sâu
Kẻ Đạo nghe qua phải lắc đầu
Thức tánh từ đây tua gắng chí
Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu.
• Ông Tám giảng
Ở trên này đọc thì nghe vậy thôi, nhưng mà các bạn luyện tu rồi, các bạn mới bình tâm, sau khi công phu, các bạn đọc từ bài một và để ngộ, đưa vào chơn tâm, lúc đó sung sướng vô cùng và các bạn có thể ôm ông Tư trong lòng, ôm đức Di Đà trong lòng!
Tại sao những chiều sâu bí mật mà con người tại thế âm u như thế đó, mà có thể khám phá được sự thanh tịnh như vậy? Mà đã dày công ghi lại cho chúng ta? Mà chúng ta là người tận hưởng, mà không biết cách hưởng là thiếu hành!
Mà bây giờ chúng ta hành rồi chúng ta mới thấy cái cuốn sách này nó là quý và lời nói này là thật, không chỉ sai một li một tí.
Rồi đây các bạn nghiền ngẫm thấy: À, hồi nào tới giờ các bạn không hiểu Cung Ly là cái gì? Bính Đinh là cái gì? Rồi các bạn tu, các bạn nhắm con mắt, các bạn tưởng tới Bính Đinh, các bạn thấy có ánh sáng xuất ra!
Trong cái thực tập các bạn mới thấy cái điển, thấy giá trị của điển.
Nhưng bây giờ ở đây, sẵn nhân dịp này, tôi qua đây, tôi cắt nghĩa và lưu lại cuốn băng này, để cho tất cả các nơi, những người tu mà đã đạt được một phần nào, thấm thía và thấy rõ những cái bài thơ và những lời dẫn dắt này là thực tế và đưa phần hồn về quê rõ rệt.
Cho nên trong cái bài thơ cắt nghĩa rất rõ, nhưng mà người còn tâm phàm đọc vô không hiểu nó nói cái gì!
Như tôi đọc thì thấy: “Nam thật phương Nam lửa Bính Đinh”, “Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình”. Đó! Nó ở trong tâm của con người, chớ không có ở ngoài! Người ta chỉ tất cả là ở bên trong.
“Phát ra bừng cháy cùng trời đất”, chúng ta thanh tịnh đi, chúng ta ngồi đi, thanh tịnh “Nó bừng cháy cùng Trời Đất”, nó phóng ra.
Cho nên khi mà các bạn tu thiền mà được đạt tới cái điểm đó, thì con ma phải ngồi xa bạn 40 mét carrés, nó không có thể gần bạn được vì đến là nó đốt, vì ánh sáng chiếu là bóng tối phải tan, là vậy.
“Lặng lẽ êm ru cả tánh tình”, khi ta ngồi ta nhắm mắt, ta không còn phải ở thế gian nữa, và cặp mắt ta nhắm rồi, thì tâm chúng ta không còn ở trong này nữa, mà ở trung tâm sinh lực càn khôn vũ trụ rồi, hướng thẳng về trung tâm sinh lực càn khôn vũ trụ, nó nhẹ nhàng vô cùng.
“Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng”, nó nhẹ nhàng như vậy, “Hiệp một chỗ thu nguyệt rạng”, cho nên những người mà đi đến cái giai đoạn đó, thi thơ, tình cảm cởi mở, sáng suốt, tác văn cũng là đầy sự cởi mở cho đối phương.
“Tản đòi nơi tợ tuyết trong xanh”: chỗ mình ngồi cũng thanh sạch như vậy.
“Khảm Ly Diên Hống hòa hai tám”: hai cái là một, trở về không không.
“Hiệp lại một nhà tợ nguyệt tinh”: ngồi đó mà ngồi trong ánh sáng, ánh sáng cả càn khôn vũ trụ, chớ không phải ngồi trong căn nhà này. Chúng ta tu là thoát ra không phải ngồi trong căn nhà này.
“Mô vốn chữ vô mỗi vật không”: khi mà các bạn thanh tịnh rồi, các bạn đi tới quán thông rồi, mọi vật đều không. Hỏi chớ cái bông này nó sẽ không, thì những cái gì mà hiển hiện hình hài, mà hiển hiện trước mặt các bạn là các bạn chỉ thấy cái chữ “không” cũng như tôi đã giảng bao nhiêu cuốn băng “quy không” để các bạn thấy. Nhưng mà ngày nay Ông Tư nhắc, thì cũng như là cái điển mà tôi đã giảng, không có khác xa. Đó, mỗi vật đều không, thì chúng ta tu thanh tịnh thì đi tới cái chỗ quán thông rồi, trong cái không mà có, mà có đó là cái tịnh của chúng ta.
“Từ đời vô thủy chửa phân đồng”;“Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết”; “Mới tạo Càn Khôn tỏ một vòng”: Đó, ta thấy là cái nhẹ làm trời, cái nặng làm đất.
“Đạo lý hữu tình sanh vật cả”: Đó đạo lý là cái luật âm dương hữu tình, nó“sanh vật cả”.
“Mẹ Cha ân ái kết thai lòng”: Đi vô trong cái giới thấp trược mới học được cái chuyện “Ân ái kết thai lòng”.
“Vật người mới tạo rồi sau diệt”: sanh trụ hoại diệt, thấy không, rồi hồi sinh.
“Vạn sự đều do chữ Nhứt KHÔNG”: Cho nên các bạn tu rồi các bạn thấy cái gì mà xảy ra, các bạn nghĩ về cái không trước, thì mọi việc các bạn giải quyết rất dễ, mà đâm đầu vô cái có thì nó cuống cuồng, cuống cuồng,cuống cuồng... mà không có giải quyết được.
“Vạn sự khởi đầu bởi nhứt không”: Cái việc này nó xảy ra sự cãi lộn, là trước kia đâu có sự cãi lộn! Nhưng bây giờ nó cãi lộn, rồi nó phải trở về, nó từ không ra, nó phải về không, thì chúng ta phải bình tâm cho nó qua. Nó đến rồi nó đi, thì mọi việc đều sẽ có sự sắp đặt đàng hoàng, không có lo âu. Chớ con người tu mà cứ lo từ chuyện này tới chuyện nọ, thét rồi nó động, đâu có tu được. Mình hiểu nguyên lý bởi nhứt không, sẽ về không, thì không có sự động trong nội tâm.
“A vốn Bắc Phương Nhâm Quý Thủy”; “Thận kia là Khảm về cung Tý”: Cho nên chúng ta thiền giờ Tý, để chi? Để vun bồi cái thận càng ngày càng mạnh, cái thận thủy mạnh, thì cái thần thức của chúng ta càng dồi dào, cái giờ khuya là cái giờ ly tâm, mà giờ Tý đó, là ly tâm thì được thu hút cái phần thanh điển vô và cái thận của chúng ta càng ngày càng mạnh. Cho nên những người tu thiền mà làm đúng ngày đúng giờ đâu có bị đau lưng! Không có bị đau lưng, nhưng mà nó đem lại sự thông minh, Thanh tịnh là nó đạt tới thông minh.
“Thận kia là Khảm về cung Tý”; “Người hay luyện đặng giữ trong mình”; “Vàng cứng tất nhiên sanh vật quý”; “Mới đặng Khảm Ly hòa Hống Diên”; “Tánh thông Trời Đất đồng nguyên lý”; “Ba nhà gom lại kết Anh linh”; “Xá Lợi tỏ ngời trong Nhứt Khí”: Đó, cho nên muốn hội tụ được quy nhứt, thì chúng ta phải nuôi dưỡng cái gì trước hết? Cái thận, cái bộ phận đó, là bộ phận quan trọng nhứt trong cái cơ tạng mà nhiều người không hiểu. Người đời không hiểu, cứ đem ra tìm cái tham dục làm hạnh phúc, nuôi dưỡng cái dục tính làm hạnh phúc thì nó giảm thọ. Điều thứ nhứt đối với đời, và bên đạo nó không có cái điển “Diên Hống” để khai triển, nó bị kẹt luôn luôn. À, ba nhà gom lại, thượng trung hạ hợp nhứt, đó là anh linh, lúc đó người ta chưa nói là mình hiểu cái chuyện gì rồi, cái linh tánh nó mở dồi dào vô cùng.
“Xá lợi tỏ ngời trong Nhứt Khí”: Phần hồn của chúng ta ra vô không có khó khăn.
“Di giữ chặt bền ba báu linh”; “Cung Ly dứt tưởng được thanh minh”; “Đấp nền luyện tập công phu gắng”; “Chờ lúc Trúc cơ kết quả thành” Trúc Cơ là chỗ gì? Khi chúng ta đi tới trọn lành rồi là giải thoát, bỏ hết, cái chiều hướng nó đi lên rồi, mà tới đó trụ là thành, không có trở lại thế gian nữa.
“Lấy Ly bổ Khảm khí bèn thanh”; “Đơn điền gom lại trong không động”: Khi chúng ta thiền định rồi thì cái đơn điền nó ngồi yên, khi các bạn làm Pháp Luân 6 cái rồi là ngồi yên. Lần lần, lần lần nó rút lên, cái đơn điền này, nó không có động nữa, không có cục cựa nữa, mà cái thức ở trên này (bộ đầu) nó mở.
“Tương hội ba nhà kết Thánh Anh”: Đó, Tinh khí thần đầy đủ, lên đó là cái hồn của chúng ta. “Thánh anh” là phải ba nhà họp lại, ra tay chân đầy đủ, đi đàng hoàng không có sao hết. Nhưng mà trước hết những người mới tu phải làm Pháp Luân, Pháp Luân, Pháp Luân lấy nguyên khí giải, rồi làm tới cái lúc mà các bạn dỗ ngủ rồi, nó mê rồi, cái bụng đâu có cục cựa nữa, hết rồi. Cái đơn điền nó trụ, nó yên rồi, ở trên này ( trung tim bộ đầu) nó mở, rồi trên này thượng trung hạ, ba giới hợp nhứt rồi, nó thành hình rồi, cái thánh thai thành rồi, lúc đó là chúng ta ra đi có gì đâu!.
“Đà ấy sắc vàng muôn kiếp ghi”; “Tròn vo che phủ núi Tu Di”, là bộ đầu chúng ta, là hào quang.
“Càn khôn bao bọc vô hình dạng”; “Thế giới phủ giăng chẳng hướng gì”: nơi nào chúng ta cũng phát triển được.
“Sắc tốt mình vàng nào hoại nát”: không bao giờ hoại nát được kim thân, phần hồn.
“Công phu thuần thục lên bờ giác”; “Đắc quả may ra vẫn kịp thì”: Đó, Cho nên cái công phu là cái quan trọng, cái thực hành là cái quan trọng. Tu Vô Vi là phải thực hành. Còn người nào bám vào lý thuyết, người đó không đi tới đâu hết! Phải thực hành, chúng ta làm được cái gì nói cái nấy. Trước kia tôi nóng tánh, bây giờ tôi bớt nóng tánh. Trước kia những chuyện gì tôi phải hỏi cho thiệt ra lẽ, bây giờ tôi không cần hỏi, tôi biết, tôi nói, tôi nói bao nhiêu đó thôi! Nhờ cái gì tôi biết? Nhờ tôi hành, tôi biết. Trước kia tôi chọt chẹt, cái gì thắc mắc tôi cũng hỏi ra lẽ. Hỏi ra lẽ rồi, tánh tôi là tánh tôi, chớ lẽ đó không có giúp tôi, thấy chưa? Thì tôi cũng vẫn ở cái chỗ cô đọng, chậm tiến. Còn tôi hành rồi tôi có kết quả! Hồi trước tôi cô đọng, tôi chậm tiến, tôi hay chấp, tôi nghe cái gì tôi thắc mắc liền ở trong này, tôi không để ngoài tai và tôi không thể thấy cái đó là không!
Mà ngày nay tôi nghe người ta nói cái gì tôi thấy rõ cái đó là không, thì tôi đâu cần hỏi làm chi đâu! Khi mà tôi cảm thức cái đó là không, là luồng điển tôi có thể hòa cảm với luồng điển của đối phương, mà luồng điển của đối phương mà còn chậm trễ đi nữa, còn tăm tối, cái luồng thanh điển, từ điển của tôi lại độ cho đối phương, mà tôi không có nói là tôi độ. Tôi ngồi trước mặt họ, nghe họ nói chuyện nhưng mà tâm tôi đã độ họ và giúp họ. Giúp chỗ nào? Giúp thẳng về phần hồn.
.....