[video 19860100L16]

KHÓA HỌC KINH A DI ĐÀ – cuốn 2 -

  1. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN
  2. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (2)
  3. LUẬN ĐẠO
  4. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (3)
  5. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (4)
  6. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (5)
  7. RÚT QUẺ KINH ĐIỂN (6)
  8. KẾT LUẬN và MINH GIẢI
  9. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 7
  10. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 8
  11. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 9
  12. CHIA NHÓM TU HỌC
  13. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 10
  14. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 11
  15. THUYẾT GIẢNG KINH – Phần 12

[Ghi chú về bài chép: so sánh 15 videos - Khoa Kinh ADĐ ID# 19860100L16 với 11 audios] [Video trong Thư Viện Vô Vi Trên Mạng ID#19860100L16]

KHÓA HỌC "KINH A DI ĐÀ" - video cuốn 2 - Bao gồm những video clips sau đây:

  1. Rút Quẻ Kinh Điển: Thiền sư cho các thiền sinh bốc thăm giảng từ các cuốn kinh. Giảng "Thiên Đàng Du Ký", ngày 3/1/1986
  2. Rút Quẻ Kinh Điển (2): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Thượng Đế Giảng Chơn Lý"
  3. Luận Đạo: Thiền sư giảng về Hồn Vía tương hội.
  4. Rút Quẻ Kinh Điển (3): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Thượng Đế Giảng Chơn Lý".
  5. Rút Quẻ Kinh Điển (4): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Địa Ngục Du Ký" và "Phụ Ái Mẫu Ái"
  6. Rút Quẻ Kinh Điển (5): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Địa Ngục Du Ký", "Phụ Ái Mẫu Ái", và "Phép Xuất Hồn".
  7. Rút Quẻ Kinh Điển (6): Tiếp tục mục rút quẻ kinh điển. Giảng "Văn Tự Vô Vi", "Thiên Đàng Du Ký", "Luân Hồi Du Ký".
  8. Kết Luận và Minh Giải: Thiền Sư kết luận và minh giải những quẻ kinh điển.
  9. Thuyết Giảng Kinh – Phần 7: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 41-47, ngày 4/1/1986.
  10. Thuyết Giảng Kinh – Phần 8: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 48-53.
  11. Thuyết Giảng Kinh – Phần 9: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 53-57.
  12. Chia Nhóm Tu Học: Các thiền sinh chia nhóm tu học, học hỏi về điển.
  13. Thuyết Giảng Kinh – Phần 10: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 57-71.
  14. Thuyết Giảng Kinh – Phần 11: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 71-80.
  15. Thuyết Giảng Kinh – Phần 12: Thiền Sư Lương Sĩ Hằng tiếp tục giảng "Kinh A Di Đà," trang 80-87.

So sánh với 11 audios, bao gồm:

  1. ID# 19860103Q3: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 8A
  2. ID# 19860103Q4: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 8B
  3. ID# 19860103Q5: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 9A
  4. ID# 19860103Q6: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 9B
  5. ID# 19860104Q1: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 10A
  6. ID# 19860104Q2: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 10B
  7. ID# 19860104Q3: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 11A
  8. ID# 19860104Q4: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 11B
  9. ID# 19860104Q5: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 12A
  10. ID# 19860104Q6: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 12B
  11. ID# 19860105Q2: Khoá Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ – Thầy Giả Quẻ BĐ chọn – Cuốn 13A

[Mp3 ID# 19860103Q3 so với Video ID=19860100L16 – Rút quẻ Kinh Điển - Mở đầu, video bị thiếu 2 phút 22s so với mở đầu ID# 19860103Q3 mp3]

KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Quẻ" Bạn Đạo Chọn – Cuốn 8A

ĐT: Khổ hạnh rồi nó mới có cái trình độ; ở cái giới đó nó được hưởng cái mau lẹ đó mà phải làm việc nhiều hơn, đi họp này, đi họp kia, đi họp nọ. Chư Tiên đi họp hoài, không ngừng nghỉ; làm việc dữ lắm; nhưng mà muốn gì, có nấy: thì bây giờ Anh đi làm ở trong cái cơ sở, trong cái office của giám đốc cũng vậy; nó nhẹ hơn là cái ông gác kho; Anh thấy không? Nó khác à!

Cho nên, cái trình độ tu học trình độ không mua không bán; mọi trình độ khác nhau: trong cái tưởng nó có cái tượng; cũng như Anh Phương nói rồi đó, “Trong cái tưởng nó có cái tượng”; nhưng mà rốt cuộc tu về đạo nó khác: tu về đạo, Anh phải gọt rửa tới vô hình, vô tướng, Anh mới giải nghiệp; Anh còn hình, còn tướng, thì còn nghiệp; thấy chưa? Cho nên, phải cố gắng tu mới được.

“Vô hình vô tướng” thì Anh làm việc nhiều hơn, ứng dụng bất cứ hoàn cảnh nào, nơi nào Anh cũng tận độ được, thì Anh phải làm việc nhiều hơn, gấp triệu lần lúc Anh còn ở thế gian.

BĐ1: Dạ, đêm nay chúng con thật vô cùng hân hạnh;

ĐT: Ừ.

1: Qua Thầy, Thượng Đế đến với chúng con.

ĐT: Ừ.

1: Thì đây là cái hồng ân rất lớn lao mà chúng con đã từng ao ước.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Thì chúng con cũng xin cảm tạ ơn Thầy ; và cái buổi giảng giải hôm nay cũng đã hết giờ.

ĐT: Ừ. Cho nên, cái duyên của Thượng Đế ít khi đến ; còn khi nào mà Ngài đến với tôi là phải khóc.

BĐ1: Dạ.

ĐT: Vì hằng ngày tôi đi giảng tôi hút bao nhiêu trược, và trong cái trược đó tôi phải giải hằng đêm; và sự lo âu của Bên Trên cũng là thường độ cho tôi. Cho nên, Thượng Đế khóc là khóc con Ngài vẫn còn ô trược nhiều lắm! Có bao nhiêu đó, mà phải rơi lụy.

Tôi thấy ở đây học “Nam Mô A Di Đà Phật” nó hay hơn học cái khác. [02:22]

[Bắt đầu Video ID=19860100L16 – Rút quẻ Kinh Điển]

Rồi bây giờ cho tất cả mọi người muốn chọn học cái gì bữa nay? Đã đọc qua cuốn sách nào? Đống sách này? Thì bây giờ rút cũng như rút quẻ vậy đó; rồi ai giảng coi thử thế nào: “Bây giờ tôi muốn ‘Địa Ngục Du Ký,’ hay muốn gì mà tôi lật cái trang đó đó, Ông giảng cái trang đó đi”; Để học, để biết cái điển: cái điển là bất cứ trạng thái nào cũng có thể khai thác được hết.

Rồi bây giờ chọn; người nào muốn cuốn nào? Chớ “Kinh A Di Đà” đi sâu xuống, mà trình độ dưới này chịu không nổi, học không hiểu.

Ai muốn chọn, cứ lên chọn và, “Tôi lật, tôi chỉ cái này”; vậy thôi! [03:14]

[Phút 00:51 Video ID=19860100L16 – Rút quẻ Kinh Điển thiếu 29s so với Mp3 ID=19860103Q3 từ phút 03:14 đến 03:43]

Cuốn nào cũng được, để trong tâm người ta không có bày. Bây giờ người ta đứng dậy, người ta lấy cuốn nào đó, người ta chỉ chỗ đó; để học cho hiểu cái điển nó phục vụ mọi trạng thái chớ không phải một trạng thái. Cho nên, ở thế gian nhầm lẫn, tưởng là ông Phật chỉ làm một việc thôi! Làm tất cả mọi việc! Thì không có bỡ ngỡ nữa, và vì biết … [03:43]

[Tiếp tục Video ID=19860100L16 – Rút quẻ Kinh Điển phút 00:51]

… giá trị của điển.

Rồi, bây giờ Bác Mười chọn cái nào, chỉ cái chỗ đó.

BĐ2: Thiên Đàng Du Ký.

ĐT: Ừ; thì cứ việc lấy; đây, đây đây đây; Tính lựa Thiên Đàng mà bả nắm “Luân Hồi” thì phải lật “Luân Hồi.” Quẻ mà; quẻ! (cười)

BĐ3: Cho quay phim; xít qua chút, Bác.

ĐT: Chà! Có xếp sẵn rồi đó, hay quá; có xếp sẵn cái trang này, không ?

(Thầy đọc Hồi 30 trong “Thiên Dàng Du Ký”)

HỒI 30: LẠI DẠO CUNG ĐÔNG HOA LẮNG NGHE ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP

(Lời minh luận của Thầy: )

Chà, sướng đó, cái này nghe hay à!

Phật sống Tế Công giáng ngày 23 tháng 10 năm 1979

Thơ bách tuế quan âm quý thiếu niên

Thanh sơn lục thủy lạc vô biên

Vân hà do khả đào nhân túy

Nhất giác hoàng lương học bát tiên

Dịch

Cuộc đời quý nhất tuổi thanh xuân

Nước biếc non xanh đẹp bội phần

Chiều muộn mây trôi người túy lúy

Mộng vàng một giấc thoáng thành Tiên

Tế Phật: Tuổi thiếu niên học đạo dễ dàng thông đạt là nhờ trí tuệ minh mẫn, và vì chưa bị đời vùi dập nên ít nhiễm bụi trần ô trược, tính linh lại trong trẻo cùng phẩm hạnh thanh cao; bởi vậy nếu thiếu niên biết lo tu, đạo lớn mau thành.

Tuổi trung niên học đạo khó khăn hơn, bởi thân bị … [05:49]

[Phút 03:18 Video ID=19860100L16 – Rút quẻ Kinh Điển thiếu 1 phút 2s so với Mp3 ID=19860103Q3 từ phút 05:49 đến 06:51]

.. .gia đình sự nghiệp ràng buộc, kiếp sống nổi chìm, gông cùm tình ái, nhà ngục lợi danh, nên vượt thoát chẳng dễ dàng; do đó khốn quẫn càng thêm khốn quẫn, cho nên phải mất rất nhiều công phu mới giải tỏa nổi trận giặc mê hồn này vây bủa. Một sớm thoát được trùng vi hẳn là thành được Thần tự do, Tiên thoát tục, và Phật tự tại.

Tuổi lão niên tu đạo càng khó khăn hơn, bởi đường đời đã quá trải, nào như ăn nhậu, rượu chè, bài bạc, con hát, thứ gì cũng đam mê. Tới lúc vãn chiều xế bóng, khí huyết suy nhược, tâm có thừa nhưng sức không đủ, muốn lên cõi Trời bắt buộc phải tĩnh dưỡng.

Nếu … [06:51]

[Tếp tục Video ID=19860100L16 – Rút quẻ Kinh Điển phút 03:18]

… như ngay lúc này thấy rõ được tình đời, lập định được chí hướng, quyết tâm vượt thoát nhà ngục nhân sinh, dù thắng hay bại thì cũng thấy được gương người bạn già tới lúc phải nhắm mắt buông tay, con cái tới tuổi trưởng thành mỗi đứa một phương.

Hiện thời cái còn lại để ôm mang chỉ là trái tim vắng lặng, triền miên nghĩ về quá khứ cùng tưởng tới tương lai; khi phải vĩnh viễn lìa bỏ cuộc đời ra đi hẳn là lòng quá đỗi bàng hoàng. Do đó, phải nghĩ ngay tới việc quyết chí diệt dục tu đạo, sửa đổi sai lầm, tu bổ tâm thân. Nếu như tinh tiến không lười biếng, tất nhiên có thể thành Tiên Ông Tiên Bà. Trái lại nếu như phó thác cái thân già cho những tháng ngày còn lại, thì tới lúc lâm bệnh sẽ hết nói năng; bệnh một ngày một nặng, sẽ vô phương cứu chữa. Già mà không tu như đèn dầu trước gió có thể tắt bất kỳ lúc nào; một sớm ba tấc khí dứt đoạn, đường đi tới tối tăm, Địa Ngục hiện ra trước mắt; lúc đó hẳn là mọi việc đã quá muộn.

Bất kể kẻ già lớn bé đều là Phật; chớ bỏ phí sinh mệnh của mình; miễn là phải tuân theo luật lệ để không hại tới con đường tiến của kẻ khác là có thể lên tới được Thiên Đàng.

Bữa nay ta lại hướng dẫn Dương Sinh dạo cung Đông Hoa. Dương Sinh mau lên đài sen chuẩn bị khởi hành.

(Lời minh luận của Thầy:)

Cho nên, Bác Mười bắt cái đoạn này là trả lời cho Bác Mười những thắc mắc trong thâm tâm của Bác Mười, và Bác Mười đã thấy cái chiều hướng để đi tới. Chúng ta không còn đếm xỉa tới thất tình lục dục nữa, là dứt khoát lên Thiên Đàng. Phải cái quẻ không?

BĐ2: Mô Phật, dạ đúng vậy.

ĐT: Đúng y như tâm trạng của Bác muốn; thấy không? Rồi, bây giờ chúng ta coi...

Dương Sinh: Thưa, con đã sửa soạn xong, kính mời Ân Sư lên đường.

Tế Phật: Việc hướng dẫn Dương Sinh khiến lòng vô cùng cảm động, chúng sinh vật lộn với cuộc sống hàng ngày cuối cùng chẳng rõ được vì ai cay đắng, vì ai gian nan? Có biết bao nghiệp chướng bắt chúng sinh phải đền trả, liệu chúng sinh chẳng lo lắng sao? Một sớm trách nhiệm trả xong đã không biết hưởng ơn phước đó, lại còn trác táng rượu chè, cờ bạc, tạo thêm nghiệp ác, nên chẳng lạ gì người đời tới lúc già nua mà vẫn còn khổ lụy. Thậm chí còn có kẻ trói buộc cho tới mãi kiếp sau, là bởi kiếp này chẳng lo trả sạch nợ nần.

(Lời minh luận của Thầy:)

Cho nên, người đời không có pháp tu, làm sao biết mình mang nợ? Các Bạn có pháp tu, nay Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định. "Tối nay, tại sao tôi Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định không được? Là tôi đang mang nghiệp. nghiệp nó tràn đầy, nó choáng cái chỗ phát triển tâm của tôi, thành ra nó dội trở lại, tôi làm không được. Mà đêm đó tôi làm được thì tôi thấy tôi có cái cơ tự kiểm soát được; đó là nợ nần tôi sẽ dứt khoát lần lần. Cho nên, các bạn tu, nay tu một chút, mai tu một chút, thấy là “Tôi phải buông bỏ!” Mà buông bỏ ở đâu? Bên ngoài, làm sao buông bỏ? Trong tâm chúng ta buông bỏ, chúng ta mới dứt khoát được!

Tế Phật: Người đời há lại cam tâm làm kẻ vô trách nhiệm ư? Ta nay xin truyền cho mọi người một pháp như sau: “Biết đủ thường vui mà lại quên sầu; nhàn nhã trong bận rộn thân nhẹ nhõm dễ dàng tu”.

(Lời minh luận của Thầy: )

Việc làm nào cũng chấp nhận làm, nghịch cảnh nào đưa đến chúng ta cũng hòa tan trong nghịch cảnh đó, thì chúng ta sẽ dễ dàng tu, ta nhàn hạ trong việc làm, không có bị kẹt nữa!

Tế Phật: Người đời hãy mau mau thí nghiệm bí quyết này, nhất định sẽ được sung sướng y hệt Phật sống này. Đã tới cung Đông hoa; Dương Sinh mau xuống đài sen, tới lạy chào ra mắt đức Đông Hoa Đế Quân.

(Lời minh luận của Thầy: )

Cho nên, mỗi mỗi việc làm, sự suy tư chúng ta cảm thấy khổ, chúng ta hòa trong khổ thì chúng ta cảm thấy nhàn hạ; việc làm đưa đến chúng ta, chúng ta tưởng là nghịch cảnh? Không; chúng ta nên hòa trong việc làm đó: Chúng ta nên lắng nghe bất cứ một tiếng gì rúng động từ bên ngoài cho tới bên trong; chúng ta hòa tan với nó là chúng ta không còn bị mắc kẹt nữa, là mới thấy rõ giá trị của điển phục vụ tất cả: phục vụ nơi nơi và hòa với nơi thì mới kêu là nhàn hạ! Đó mới kêu là Phật Tâm, Phật tánh!

Chớ người phàm thấy: “Chu cha, tôi thấy cái này, tôi thích; cái kia văn chương không hay; cái nọ không tốt!” Không có cái gì không tốt hết! Tôi đã nói các bạn, bạn đi trên chiếc xe hơi không có con bù long, cái écrou nào không xài được! Chính bạn là người không xài được, chê hay khen mà thôi! Thì chấp nhận chính ta không xài được: chúng ta chưa chịu hòa; thì chúng ta muốn hòa mà chưa chịu hòa, là không được; phải hòa hẳn đi; dứt khoát đi mới có cơ hội quán thông!

Dương Sinh: Những lời ân sư than trời trách đất, người trên suốt dọc đường đã in sâu vào tâm khảm con. Thoáng cái đã tới trước cửa cung Đông Hoa. Cung Đông Hoa là thắng cảnh của cõi trời, khắp nơi đều chan chứa sức sống tươi vui, hãy vào trong cung lạy mừng và ra mắt Đông Hoa Đế Quân.

(Lời minh luận của Thầy:)

Câu này nó nhắc Vô Vi những gì? Trước khi các bạn chưa tu, chưa hành thiền, thì các bạn thấy rằng nó tối, buồn bưc trong nội tâm; mà các bạn hành thiền rồi, nó thanh nhẹ, thì thấy cái hạnh từ bi bên trong nó bộc khởi: đó là cái cảnh vui tươi, tất cả đều rưới tươi trong nội tâm. Nhờ gì? Nhờ cái Pháp Luân Thường Chuyển, mà cái pháp thủy rưới tươi trong mọi nẽo hóc, tâm can của các bạn.

Đế Quân: Lành thay! đời sống [13:46] vật chất ở thế gian đã phát triển tới mức cực thịnh, nhân loại lại đang nghiên cứu xem làm cách nào để cho đời sống con người được trường thọ. Người đời có câu nói: “Sống lâu bằng núi Nam Sơn”. Vậy thì núi Nam Sơn sống thọ được bao lâu? Hẳn là sỏi đá trên núi đó không bị hư hại, cây cối ngàn năm không chết. Người sống tại thế gian, nếu như giống ngọc đá bền vững trên núi đó, thì liệu có ích gì? Còn nếu sống xanh tươi như cây trên núi ấy thì hẳn là sinh mệnh được hưởng khí lành sớm mai, và nếu đem sánh thân đó với thân trần tục hẳn là sẽ rõ sự lợi ích như thế nào? Đây là lý do tại sao bữa nay đức Đông Hoa Mộc Công lại trình bày thêm về sự ích dụng của cây.

Các loại cây đều được thừa hưởng khí nguồn cội một cách sâu xa. Do đó, người đời đều có thể nhờ nó mà giác ngộ đạo lớn. Tôi không thể dùng lời nói nông cạn để truyền bá tinh khí Đông Hoa, giống như một cọng rau chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ mà có thể nuôi nấng được loài người. Một mẩu rễ cỏn con lại có thể cứu sống một sinh linh, cùng duy trì vạn vật dài lâu bất diệt.

Có thể thấy chỉ một lời nói ngắn ngủi thôi mà cũng có thể cảm kích vang động tới trời cao. Song sở dĩ chúng sinh không thấy được như vậy là vì chúng sinh không chịu nhìn nhận sự thật kỹ lưỡng mà thôi. Bữa nay Dương Sinh lại tới thăm cung Đông Hoa, duyên đạo thật là sâu dày. Tôi xin đem Dương Sinh đi thăm một thắng cảnh khác của Đông Hoa để tìm hiểu nguyên lai đời sống của con người và sẽ rõ tại sao lại có thể hoàn thành được sứ mệnh của trời giao phó, hầu giúp con người trở về được nguồn cội sinh mệnh của mình

Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã rủ lòng thương mà tận tình vun bồi chỉ giáo cho. Đệ tử xin hứa sẽ tận tình lắng nghe lời dạy của đức Đế Quân.

Đế Quân: Hay lắm, hãy đi theo tôi.

Dương Sinh: Đi theo đức Đế Quân, cảm thấy không khí nơi đây vô cùng trong trẻo và mát mẻ, những nổi sầu muộn nơi đáy lòng chỉ thoáng giây là tiêu tan hết, quả thực quá tuyệt vời.

(Lời minh luận của Thầy:)

Chúng ta tu Vô Vi, có nhiều người ngày hôm nay đã đạt được rồi. Khi thấy trong tâm ta sầu muộn mà nhìn cảnh, thoáng là chúng ta quán thông, và sự sầu muộn đó nó đi mất; là nhờ gì? Nhờ điển! Cho nên, Dương Sinh đi với cái gì? Với điển, mới được cùng đi với Tế Công: Luồng điển của Tế Công đã bao bọc và đưa vào đó, thì nhằm bước vào điển giới, thấy cái cảnh, ngộ được cảnh, tâm thức ngay; ngộ được cảnh, tâm thông cảm ngay. Cho nên, người tu Vô Vi phải đưa luồng điển lên trên bộ đầu, rồi từ thanh nhẹ đó chúng ta quán thông; mượn đời thuyết đạo, mượn đời quán thông nguyên lý nguồn cội.

Tế Phật: Màu xanh là thứ thần dược để biến khí và giải muộn; nó có thể dung hòa được sự khô khan cũng như ẩm thấp; cho nên kẻ yêu thích màu xanh đều là những kẻ trẻ trung hoạt bát. Cái lẽ đó quả là hợp lý đạo.

Dương Sinh: Khu vườn phía trước trồng đầy cây cối cùng hoa quả; mỗi thứ một giống, chẳng thứ nào giống thứ nào; muôn màu muôn vẻ khác nhau; mỗi cây đều có đính kèm nhãn hiệu viết rõ tên người; không hiểu ngụ ý như thế nào?

Đế Quân: Ha Ha, bữa nay tôi muốn vì người đời mà giải thích rõ sự mê lầm của cõi trần: những cây đó đều là nguyên linh của các thứ cây ở dưới trần gian: Đương thời Ngũ Lão sinh đẻ nuôi nấng các nguyên linh; Mộc Công tôi cũng chia sẻ một phần trách nhiệm. Nhân loại sinh ra đời là bắt nguồn từ cây cối và hoa cỏ.

Cây hướng “Dương” nên sức mạnh mẽ, đại diện cho nam tính; hoa hướng “Âm,” yếu đuối mau tàn tạ, đại diện cho nữ tính; chúng tượng trưng cho trạng thái nam, nữ sinh hoạt ở thế gian: chỉ cần thế gian đẻ ra được một đứa con trai, nguyên linh của cây liền nẩy mầm trên đất; nếu như sinh con gái, ắt nguyên linh của hoa cũng đơm nụ. Dưới trần nói “Rớt xuống đất”. Trên trời nói “Ra khỏi đất”.

Nguyên linh ban cho chủng tử, ở trần gian gọi là tinh và noãn. Trong lúc nuôi nấng thai nghén, bào thai cũng là lúc chủng tử được vùi trong đất; một sớm nẩy mầm cũng là lúc bào thai chào đời. Nếu như chủng tử ung thối, biến dạng hay bị tổn hại, thì bào thai cũng biến hình, chết trong bụng mẹ, hoặc bị đẻ non. Người và Trời mỗi cái hít hà đều có quan hệ hỗ tương: mỗi hơi thở đều có sự tương giao mật thiết; nguyên linh của các cây hoa trên trời đều có ảnh hưởng đến sự sinh đẻ, nuôi nấng, dạy dỗ, cùng sức khỏe của trẻ thơ dưới trần.

(Lời minh luận của Thầy:)

Đó, sự liên hệ của chúng ta là Tam Cõi, như tôi đã thường giảng cho các bạn. Các bạn không nên vội kỳ thị các bạn, và các bạn đề cao Thượng Đế, đề cao Phật, đề cao Chúa, mà quên bạn! Tất cả ở trong Bạn; mà các bạn chịu tu, chịu khai thác ra, thì Tam Giới là bạn. Cho nên, các bạn hiểu việc này, sự liên hệ không ngừng nghỉ: tâm chúng ta động thì Bề Trên đã ghi chép rồi. Nếu chúng ta làm sai mà tâm chúng ta hướng thiện, thì chư Phật chư Tiên cũng động, và hỗ trợ cho chúng ta tiến hóa.

Cho nên, sự tu hành không phải nhứt thiết mượn pháp này, mượn pháp nọ, mà nhiều người có tâm lành hướng thượng và biết được tam cõi, thì người đó cũng thành đạo và cũng về trời. Cho nên, chúng ta thấy rõ: ngày hôm nay vì chúng ta quá động loạn, ô nhiễm, rồi lần lượt tới tuổi già, không biết mình là ai. Cho nên, chúng ta mượn cái pháp để đào sâu và sử dụng khả năng sẵn có của chính mình để tìm lại thực chất của chính chúng ta: "Té ra nguyên linh của chúng ta hòa hợp với ba cõi Thiên, Địa, Nhơn rõ rệt, từ trên trời xuống thế gian: tâm ta động trên trời động.

Cho nên, một người biết tu thiền là làm hữu ích cho cả Càn Khôn Vũ Trụ. Sự liên hệ không ngừng nghỉ đó, sự thu phóng đem lại thanh giới truyền cảm cho các giới. Mà đối với người thiền mà biết tu hành tới thanh tịnh là quý biết là bao nhiêu, làm cho các nơi đều ổn định, thiên cơ được thuần thục và không có sự kích động nữa! Cho nên, người tu quan trọng.

Hôm nay Bác Mười chọn cái quẻ này để Bác Mười được thấu rõ, được hiểu được xác thân của Bác Mười là liên hệ với cả Ba Cõi, nhưng mà quá trình đã hao phí. Ngày hôm nay ăn năn sám hối và lo tu trở lại với sự chơn giác, cũng không là muộn: biết được đường đi, biết được khả năng sẵn có của chính mình, và tự sửa chữa, tự tìm con đường tự thoát, là cái điểm may cho Bác. Cho nên, Bác phải dứt tất cả thất tình lục dục tạm bợ ở thế gian không đi đến đâu, và chúng ta phải nuôi dưỡng cái phần tiến hóa không ngừng nghỉ sẵn có của chính mình.

Cho nên, Bác hôm nay được Bề Trên phúc đáp và dẫn giải thấu đáy tâm can, và ảnh hưởng tất cả bạn đạo: những người kế tiếp đây cũng sẽ đi tới cái tuổi của Bác; Bác đi trước, mọi người sẽ đồng đi, rồi chúng ta cũng đồng học; với tuổi trẻ chứa đựng không nhiều sự thổn thức, không có nhiều bằng Bác vì Bác xế chiều và tìm con đường đi. Cho nên, những cái câu giải thích trong này nó thấm thía với Bác, và Bác sẽ nhận đó mà tu. [23:19]

[Hết video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (1)” - Tương ứng Mp3 ID=19860103Q3 dừng ở phút 23:19]

--- +++ ---

- Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (2)”]

ĐT: Rồi, người nào muốn lên bói quẻ khác?

BĐ4: Thầy cho con xin phép.

ĐT: Ừ, cứ lựa cái nào cũng được; đây, để đây một đống; … [23:31]

[Phút 00:06 video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (2)” thiếu 10s so với Mp3 ID=19860103Q3 từ phút 23:31 đến 23:41]

… ở đây tới câu 15.

VẤN: Thưa Cha, nếu như vậy thì những sái quấy tội lỗi của con người có đáng được trách móc kết án … [23:41]

[Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (2]

… trước sự phán xét của công lý loài người cũng như trước công lý của Thượng Đế chăng, khi mà những sai lầm của nó đều nằm trong định luật tự nhiên và trong sự sắp xếp của ý chí Thượng Đế?

(Lời minh luận của Thầy:)

Anh này là Ảnh rành vụ này nên Ảnh lật ra cái này, đúng như thật.

ĐÁP: Này con ơi, phải nói rằng trước công lý của Thượng Đế thì những tội lỗi sái quấy của con người đáng trách mà không đáng trách. Tại sao không đáng trách? Vì Ngài hiểu tội lỗi ác trược, vốn dĩ nằm trong bản chất của tiểu hồn là một chiết thân của Ngài, nó bừng dậy khảo đảo và khống chế tiểu hồn khi tiểu hồn bị lu mờ ý chí sáng suốt.

Sự lu mờ này, do ý chí xếp đặt cuả Ngài và do sự vận chuyển của định luật Tự Nhiên. Do định luật tự nhiên vận chuyển nghĩa là sao? Là khi tiểu hồn của Thượng Đế xuống tới cõi nặng trược, ý chí sáng suốt của nó phải bị lu mờ vì chất khí nặng nề của cõi hồng trần. Do ý chí xếp đặt của Thượng Đế là sao? Là vì Thượng Đế muốn tiểu hồn Ngài bị ô nhiễm, đi vào nặng trược phải chịu mất cái sáng suốt của nó để học trược nếm trược, rồi bị ác trược khảo đảo nó, khiến nó đau khổ trầm luân, cho đến khi nó thấm nhuần cái trược, nó sẽ lần bước sang học cái thanh. Giai đoạn học thanh này là giai đoạn mà tiểu hồn sẽ vun bồi lại sự sáng suốt mà nó đã mất, cho đến khi nó đạt lại được hoàn toàn. Thế nên, Thượng Đế phải hiểu tội lỗi từ trong bản chất của tội lỗi. Để kết án nó!

(Lời minh luận của Thầy:)

Cho nên, cái chuyện mà Thượng Đế đã sắp đặt cho chúng ta xuống đây, cũng như Anh Cang nói rằng ông Trời cho tôi xuống đây. Tôi hồi trước tôi là ông Tiên mà cho xuống đây sao tôi ngu quá (cười...). Tôi lu mờ đi, nhưng mà cái lu mờ đó là xây dựng được cái dũng chí. Nó cố gắng để nó vượt qua những sự lu mờ đó! cố gắng để vượt qua những sự tối tăm đó thì nó mới trở về thanh giới được; mà khi nó trở về thanh giới nó là trọn lành!

Cho nên cái bài học của Thượng Đế đã sắp đặt có đầu có đuôi! Hoàn cảnh của các bạn đây là có đầu có đuôi. Ngày hôm nay các bạn đi đến đây tu cũng là có đầu có đuôi! Càng tu chừng nào các bạn đâu thấy thanh, càng thấy trược chớ! Thấy tôi trược quá! Thấy tôi tội lỗi nhiều quá! Thấy tôi tối tăm nhiều quá, nhưng mà cái tối tăm tôi cần thiết không? tôi không cần thiết, tôi phải tự vượt qua những sự tối tăm thì tự nhiên tôi tiến về thanh.

Đó, trong một giây phút nào các bạn rơi vào trong cái chỗ “không”? trong giờ phút tham thiền, là lúc đó các bạn đã giải tỏa và sức mạnh thật sự về với các bạn, trong mọi sự trong lành rơi vào cái “không không” trong cái giờ tham thiền; rồi lúc đó, các bạn mới thấy rằng Thượng Đế đã an bài. Thượng Đế đã dẫn các bạn đi học. Thượng Đế đã nuôi nấng và vun bồi những điểm tốt cho các bạn, qua sự điêu luyện mà chính các bạn phải tự luyện để đạt, sẵn một cơ cấu tinh vi của Ngài đã sắp đặt cho chúng sanh. Cho nên, lúc đó, các bạn chỉ chấp nhận, nhẫn hòa tu trong thanh tịnh mới cứu độ chúng sanh.

Rồi, còn ai nữa? Được không?

BĐ4: Dạ, được.

ĐT: Được, rồi! Không được, làm cái khác.

Rồi, bây giờ chú nào vô? Người ta đi tốn tiền quẻ nhiều; mình bây giờ cái quẻ này ngon lắm, quẻ trọn mà! (cười) Cái nào? Cái này hả?

BĐ5: Dạ.

ĐT: Cái này nó thì:

VẤN: Kính thưa Cha, khi sáng tạo con người thành hai hình hài người nam và người nữ, rõ ràng là Thượng Đế đã có chủ tâm cho họ có sự phối hợp với nhau. Sự kiện đó đã được ghi nhận qua cách cấu tạo thật tế nhị và tinh vi của hai cơ thể nam nữ, để hai cơ thể này có thể phối hợp với nhau hầu sinh đẻ nòi giống nhân loài. Điều đó cho thấy rằng dục của con người là thuận theo quy luật của thiên nhiên. Giờ đây, nếu bảo con người tuyệt dục vì đạo đức tu hành; như vậy, có phải là nghịch lại luật thiên nhiên và sái luật tiến hóa không? Cha nói rằng, nếu nghịch lại luật thiên nhiên tức là sái luật tiến hóa thì đây là sự hủy diệt! Vậy xin Cha giải thích.

ĐÁP: Luật thiên nhiên chính là luật tiến hóa. Nghịch lại luật thiên nhiên tức là sái luật tiến hóa và đấy sẽ là thảm họa hủy diệt. Điều này con nói rất đúng! Khi sáng tạo con người, Thượng Đế đã chủ ý rõ rệt cho sự phối hợp qua cách cấu tạo cơ thể của nam và nữ. Như vậy, rõ ràng là Thượng Đế chủ trương cho họ dục để nối giòng. Đấy là định luật tiến hóa, điều này con nói cũng đúng! Vậy tại sao lại khuyên con người phải diệt dục để tu hành hầu được tiến hóa đi lên?

Sự kiện này có vẻ mâu thuẫn, và chỗ mâu thuẫn khó hiểu này các nguồn minh triết tôn giáo, các học thuyết, hàng vạn triệu pho sách triết lý từ bao thế kỷ đã bàn bạc đủ cách đến vấn đề hết sức quan trọng cho đời sống con người này. Có học thuyết thì cổ võ đề cao, khuyến khích hưởng dục, xem dục là bản chất đẹp của con người. Có triết lý thì đả phá, ghê tởm dục như ma quỷ, coi dục như một tội lỗi xấu xa chống lại Thượng Đế. Có học thuyết thì xem dục là thú tính phải chế ngự nó để có một đời sống tiết độ đạo đức. Có triết lý thì chủ trương diệt dục để thoát vòng trầm luân tử khổ. v.v...

Tóm lại, nhân loại đã tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực mổ xẻ vấn đề này để khai thông những bế tắc cho con người, nhưng hầu như chưa làm con người thật sự thỏa mãn.

Vậy dục là gì? Cha cho con rõ, thật sự dục là bản chất của Thượng Đế, dục là Chơn Lý đó con! Dục là một nguyên lý vĩnh cửu, bất khả diệt và không thể không có được! nho giáo: tinh là cái của trời thành tựu, tinh là thể chất của tinh, dục là cái ứng dụng của tinh, cái dục không thể bỏ được, bởi nó là cái cụ thể của tinh. Dục là nguyên nhân sự hình thành của Càn Khôn Vũ Trụ là định luật bảo vệ sự tồn tại vĩnh cửu của Chơn Lý bất biến, do nguyên tắc hóa hóa sanh sanh đời đời của vạn vật.

Nếu Thượng Đế ngưng dục trong một sao đồng hồ, thì Càn Khôn này phải tan rã ngay tức khắc! Cho nên, Thượng Đế phải dục không ngừng, không nghỉ và dục vô cùng tận! Trong Càn Khôn này có ai dục bằng Thượng Đế? Thượng Đế dục ngay cả trong mỗi vi trần, trong từng vi thể, dục trong từng tế bào nguyên tử. Có nguyên tử nào mà không có sự phối hợp của lực Âm Dương? Cho nên, dục phải là chơn lý trong định luật tiến hóa luôn đó con! Thế thì tại sao lại khuyên diệt dục, khuyên từ bỏ sự phối hợp tự nhiên giữa nam và nữ? Cha sẽ cho con hiểu thêm một chút, điều mà các nguồn triết lý, học thuyết chưa giải thích rõ hơn!

Các con biết, sự thật vấn đề ở đây không phải là diệt bản chất dục, mà là phát triển thêm dục tính, học biết dục hơn, học bài dục cao hơn để tiến hóa lên cao hơn. Đức Bồ Đề Đạt Ma nói: “ Chỉ cần thấy được tánh mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải giả dối, dứt trừ mà cũng chẳng có gì mắc vào vòng dục lạc, tại sao vậy? vì tánh mình vốn thanh tịnh, dầu nó trụ ở sắc thân, ngũ uẩn”. Nho giáo nói: “Phàm người nói trị mà đòi sự khử bỏ được cái dục chính là người không có cách để đạo dẫn cái dục, mà khốn khổ ở sự dục vậy”.

Con phải học dục luôn luôn để càng lúc càng phát triển nó, cho đến khi con biết dục vô cùng tận để làm Đấng Toàn Giác Toàn Năng. Cuộc hành trình cho con xuống thế, cho đến ngày trở về là để đi học dục, từ dục trược đến dục thanh, từ dục nặng đến dục nhẹ, từ trình độ thấp tới trình độ cao, đủ mọi đẳng cấp. Cho đến khi con thật sự biết dục!

Con sẽ học cái dục của loài kim thạch, rồi cái dục của loài thảo mộc, rồi cái dục của loài thú, dục của loài người, đến cái dục của Thánh, Tiên, Phật, v.v... cho đến khi hiểu dục ở mọi khía cạnh của nó! Cho nên, con phải biết rằng, cái dục giữa con người với con người là quy luật thiên nhiên, nhưng việc từ bỏ kiểu dục này cũng là theo quy luật thiên nhiên, là thuận theo dòng tiến hóa của vũ trụ và con người đó thôi!

Thật vậy, con người đã học dục giữa nam và nữ. Giờ đây, muốn tiến hóa hơn, muốn hiểu biết hơn, muốn lên lớp cao hơn thì phải học kiểu dục cao hơn. Kiểu dục cao hơn này là gì? Đấy là công phu luyện đạo, là hành pháp môn thiền định đó con! À, điều này có vẻ bất ngờ với chúng con và có thể gây chấn động trong giới tu hành, khi Cha nói Thiền Định là một kiểu dục. Nhưng Cha phải nói sao hơn khi đấy là một hiện thực không thể chối cãi được.

Dục là gì? Là sự phối hợp giữa âm và dương để đạt đến trạng thái hòa điệu. Vậy phải chăng khi hành thiền định là con tạo điều kiện phối hợp âm dương trong bản thể? Và rồi công phu luyện đạo là gì? Là con vận chuyển đem tinh đi lên, luyện ngươn tinh hóa ra ngươn khí hiệp với ngươn thần. Tinh Khí Thần hội tụ tạo thành Xá Lợi tức Thánh Thai. Động tác đem tinh đi lên để tạo Thánh Thai phải gọi là gì, nếu không gọi là dục? Đem tinh trở xuống để tạo phàm thai ấy là dục trần, đem tinh trở lên để kết Thánh Thai, ấy là dục của Tiên Phật vậy.

À, rồi con bảo rằng từ bỏ cái dục giữa nam và nữ là nghịch luật thiên nhiên, sái luật tiến hóa? Tại con chưa biết quy luật đó thôi! Cha cho con rõ, chính hiện tại con người đang sống sái thiên nhiên, dục mà không đúng với quy luật, không theo định luật tiến hóa nên bị băng hoại và thoái bộ tinh thần như thế kỷ hôm nay đã chứng kiến. Vậy thế nào là dục theo quy luật? Dục theo quy luật, tức là kim thạch dục theo kim thạch, thảo mộc dục theo thảo mộc, loài thú có dục của loài thú, loài người có cái dục của loài người. v.v... Mỗi loài đều có kiểu dục của nó theo quy luật. Những kiểu dục ấy như thế nào? Điều này rất phức tạp tế nhị, Cha không thể tỉ mỉ nói hết ở đây được. Cha chỉ đề cập vấn đề một cách khái quát sơ lược để các con tạm có chút quan niệm. Muốn khỏi dài dòng, Cha chỉ nói từ cái dục của loài thú tiến hóa gần bằng loài người trở lên.

Ở Loài Thú: Tình cảm và sự hiểu biết còn phát triển thô sơ. Dục loài thú chỉ là sự hấp dẫn giữa con đực và con cái. Chúng không có tình yêu, không có sự suy xét, phân định, không có tình nghĩa như ở loài người. Con nào biết yêu thương, có tình nghĩa, chẳng hạn khi con mái chết, con đực buồn rầu bỏ ăn để chết theo, đây là những con thú có trình độ hiểu biết, sắp tiến hóa lên người. Tóm lại, loài thú dục theo nhu cầu đòi hỏi của bản năng sinh lý cái dục, để sinh sôi nảy nở theo chu kỳ ấn định của thiên nhiên.

Ở Loài Người: Tình cảm và sự hiểu biết phát triển sâu xa hơn. Dục loài người vì vậy mà phong phú và tế nhị hơn nhiều! Ngoài sự hấp dẫn tính dục giữa hai phái tính, con người còn có suy nghĩ, có óc phán đoán, có tình yêu, có đạo nghĩa.

Cho nên, dục ở loài người không phải chỉ là sự phối hợp giữa hai xác thể nam nữ theo bản năng sinh lý, mà gồm cả phần tâm lý nữa! Đấy là dục theo nhân đạo. Như vậy, dục đúng mức nhân đạo gồm cả yếu tố xác thể lẫn tinh thần, có tình yêu thương, có sự hiểu biết, có lòng kính trọng lẫn nhau, do đó, có sự tiết độ hơn loài thú, nên gọi rằng “phu phụ tương kính như tân” có nghĩa là: giữa vợ chồng phải lấy lễ mà đối, lấy tình mà đãi, lấy đạo nghĩa mà cư xử. Cái dục của con người tế nhị như vậy đó! Nhưng cũng vì thế mà con người được nếm nhiều hơn, hưởng nhiều hơn loài thú!

Ngoài sự rung động giữa hai thể xác còn có sự rung động giữa hai tâm hồn biết yêu thương kính trọng nhau, do đó mà đẹp đẽ và thi vị hơn thú vật. Ấy là dục theo đúng mức nhân tính. Nếu con người nào dục chỉ vì nhu cầu bản năng sinh lý, dục vô độ, vô trật tự, chỉ theo sự đòi hỏi của thể xác mà không có tình yêu và lòng kính trọng, ấy là đang dục theo kiểu của loài thú dục theo thú tính là vật dục, không phải nhân dục. Khi con người nào dục theo kiểu này tức phải thoái bộ lại trình độ tiến hóa của loài thú. Vì lúc đó dục chỉ còn là sự phối hợp để thỏa mãn giữa hai hình hài thể xác, không khác gì hai con thú trống và mái mà thôi!

Đa số nhân loại trên thế giới ngày nay, đang trên đà thoái hóa về dục tính, dục trái với thiên nhiên, trái với luật tiến hóa. Điều này phải dẫn đến bao thảm kịch nước mắt, tội ác do sự loạn dâm gây nên! Khi vật dục được cổ võ, thú tính được khuyến khích và khi con người tiêm nhiễm những tư tưởng đó, nó đâm ra khinh bỉ nhân phẩm làm người, bất cần những giá trị tinh thần, vứt bỏ trí suy tư, óc phán đoán hơn thiệt là những cái phân biệt nó với loài thú.

Nó chỉ biết nó muốn gì và phải làm sao thỏa mãn cái muốn của nó, dù sự thỏa mãn ấy có gieo đau khổ cho cá nhân khác hay cho tập thể loài người. Nó tin rằng, khi không sống theo ý nó thích, không thỏa mãn điều nó muốn, chỉ vì hy sinh cho người này kẻ kia, cho gia đình, cho xã hội, hay vì sợ quan niệm đạo đức của loài người kết án, đấy là nó đã không sống cho nó, không sống với bản chất thật của nó, nó tin rằng vậy là nó đánh mất chính nó!

Nhưng nó không nghĩ rằng nếu trong xã hội ai cũng tưởng nghĩ và hành động như nó, tức là không ai thèm nương ai, không ai biết sợ làm kẻ khác đau khổ, chỉ theo ý mình, lo thỏa mãn điều mình muốn bất chấp chung quanh, bất chấp việc đụng chạm quyền sống của kẻ khác, thì xã hội phải rối loạn lên: người này sẽ xô xát với kẻ kia để được thỏa mãn ý thích vị kỷ; con người trong một xã hội xô bồ như vậy sẽ hỗn loạn, điêu đứng, trầm luân, đau khổ, để cuối cùng, sau những tranh giành cấu xé lấn áp nhau, chà đạp lẫn nhau như ở xã hội loài thú, để được hưởng thụ.

[Hết Mp3 ID=19860103Q3 - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà - Thầy Giải "Quẻ" BĐ Chọn - Cuốn 8A - Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (2)” ngưng ở phút 20:08]

--- +++ ---

[Bắt đầu mp3 ID# 19860103Q4 - Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (2)” phút 20:08]

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Quẻ" Bạn Đạo Chọn - Cuốn 8B

[Thầy đọc tiếp “Thượng Đế Giảng Chơn Lý” do bạn đạo chọn quẻ cuả mình]

… Con người sẽ chỉ còn cảm nhận sự bi quan, sự bơ vơ, lạc lõng, chán chường, băng hoại, chẳng biết tìm đâu ra nơi nương tựa cho tâm hồn. Nãy giờ, nhân bàn đến dục tính, Cha nói qua về sự thoái bộ tinh thần của con người, vì Cha thấy hiện tại những luồng tư tưởng cổ võ cho thú tính trong con người và tin rằng thú tính ấy là tất cả bản chất thật của nó, đang được luân lưu khá thịnh hành trong những xã hội văn minh vật chất. Thật sự, con người nghĩ điều này cũng không có gì đáng trách, chỉ vì vô minh nên nó chưa biết nó là ai, nó vĩ đại đến chừng nào, bản chất thật của nó phong phú ra sao, gồm những phần gì? Nhưng rồi, có một lúc nào, trên dòng tuôn thao đăng đẳng, định luật tiến hóa sẽ ảnh hưởng giúp nó hiểu điều đó dần dần mà thôi!

Bây giờ Cha trở lại chu trình tiến hóa của tính dục. Cha đã nói đến Vật Dục rồi tiến sang Nhân Dục, biết Nhân Dục con người không thể cứ ở lại mãi chỗ này! Vì phận sự, vì nhu cầu hiểu biết của nó, nó phải tiếp tục lo tiến bước luôn luôn để tuân theo định luật tiến hóa. Nó đã học dục theo Nhân Đạo bây giờ muốn tiến hóa nữa, nó phải dục theo Thiên Đạo. Nếu cái dục theo Nhân Đạo khiến nó phải đi tìm sự phối hợp với phần Âm hay Dương ở ngoài nó, thì cái dục theo Thiên Đạo dạy nó học tìm sự phối hợp của Âm Dương ngay trong bản thể của nó. Giai đoạn này, nó không dục bên ngoài, không phóng tâm tìm đối tượng bên ngoài nữa. Đây là lúc nó phải quay vào trong, tìm đối tượng để dục bên trong.

Con người vì vô minh nên cứ đi loanh quanh tìm kiếm đối tượng đâu đâu bên ngoài nó, quay cuồng điêu đứng, để đạt cho được đối tượng mà nó vừa ý. Nếu không đạt được hoặc đạt được rồi lại khám phá ra đối tượng không đúng như mơ ước; vì chắc chắn, không bao giờ có thể đúng như mơ ước, nó lại trầm luân trong thất vọng, đau khổ, đắng cay, buồn cho số kiếp. Chìm đắm trong buồn, thương, khóc, hận, và bằng bao nhiêu lao tâm khổ trí ấy.

Con người đã chạy theo một đối tượng giả hiệu, đối tượng này không bao giờ như nó ước mong, không bao giờ thật sự hòa điệu cùng nó, để cho nó niềm hạnh phúc an lạc lâng lâng tuyệt vời! Đối tượng mà nó mong ước, thật lý tưởng và có thể hài hòa thật sự, đáp ứng tối đa nỗi khát khao lạc thú hạnh phúc vợ chồng của nó đã có sẵn ở bên trong chính nó; nhưng vì tối tăm, ngu muội, đui mù, nên đã bao lâu rồi, nó không hay, không biết!

Đây mới thật sự là “Nửa phần” khác của nó. Con người phải biết rằng nó được cấu tạo bởi phần Âm và phần Dương. Phần Dương của nó gọi là “Hồn;” phần Âm gọi là “Vía”, là cô vợ lý tưởng nhất và chỉ có cô vợ này mới có thể cùng nó đạt tới sự hòa điệu tuyệt diệu mà không có một đối tượng nào khác bên ngoài có thể mang đến cho nó.

Đấy là cô vợ thật sự mà nó phải chịu chia ly trên đoạn đường đi xuống của nó. Đấy là hiện tượng Nhất Nguyên tiến sang Nhị Nguyên! Để rồi trải bao tháng ngày biền biệt hôn trầm trong mê muội, nó đã thật sự quên mất bóng vía người xưa... Cho nên, khi nó đã thật sự mỏi mòn, quá thất vọng chán chê, không tìm thấy hạnh phúc với những gì chung quanh bên ngoài nó, con người mới chịu bắt đầu trở vào trong, để tìm về cái thế giới của chính nó.

Và khi tìm vào cái thế giới của chính nó, ấy là nó đã tình cờ dấn thân lần bước trên lối cũ để tìm gặp lại bóng hình xưa! Đấy là hiện tượng Nhị Nguyên tìm về Nhất Nguyên! Này con ơi, khi đã bắt đầu cuộc dấn thân đó, con hãy như ông chồng si tình chung thủy, ngày đêm băng ngàn vượt suối, mấy đèo cũng qua, mấy sông cũng lội, để tìm về hội ngộ người vợ thân yêu mà mình đã trót lãng quên như chưa hề gặp mặt! Sự chịu khó cố gắng “Công Phu, Công Quả, Công Trình” để vượt mọi khó khăn thử thách, trên đường tìm về của con, sẽ được đền bù xứng đáng khi gặp lại cố nhân!

Cảnh đẹp đẽ và hạnh phúc của vía hồn tương hội sẽ đáp lại quá dư, mọi nỗi nhọc nhằn mà con đã trải qua. Bằng con mắt huệ nhãn, con sẽ thấy cô vợ của con diễm kiều và lý tưởng ra sao! Cha cho rõ cảnh tương hội này không khác gì cảnh phối hợp dục giữa vợ chồng thế gian, nhưng được thật sự đầm ấm, đầy yêu thương, thơ mộng, hạnh phúc và hưởng lạc thú, hơn cái hưởng của vợ chồng thế gian muôn ngàn lần. Cảnh tượng đẹp đẽ và kỳ ảo đó, các con có thể chứng nghiệm, cảm giác một cách rõ ràng hiện thực và hết sức sống động để chúng con cảm thấy rằng những gì mà loài người đang thiết tha bám víu ở trần gian và tưởng là hạnh phúc thật chẳng khác gì bọt nước bèo mây, và chẳng đáng chút gì so với cái con đang hưởng được!

Vả chăng, dục giữa Vía Hồn, hay phần Âm và phần Dương trong bản thể của con, không những chỉ giúp con phần lạc thú, mà còn là việc tối cần để con được tiến hóa về chỗ sáng suốt giải thoát. Đấy là một kiểu dục mà Cha cổ võ hô hào cho các con tìm hưởng. Kiểu dục này giúp con khỏe mạnh sáng suốt an lạc; càng dục càng khỏe, càng mạnh càng sáng, càng tiến hóa nhanh! Sáng suốt an lạc khỏe mạnh cả thể xác lẫn linh hồn. Sớm muộn gì, con người có lúc cũng phải thức giấc sau khi đã mỏi mệt chán chê những gì bên ngoài nó, để dấn thân tìm tới cuộc hội ngộ đẹp đẽ này, vì nó phải lo phản bổn quy nguyên, âm dương hiệp nhứt để thấy lại nó thật sự!

Cho nên, người thế gian đều ngộ nhận cho rằng, Niết Bàn chỉ là trạng thái hư vô vắng lặng, Ông Phật phải diệt mọi điều ham muốn, diệt hết bản chất dục, là lạc thú quý báu của con người, để được cái trạng thái thanh tịnh như như! Trạng thái này có gì là vui? Niết Bàn hư vô có gì hấp dẫn, để phải từ bỏ những lạc thú thế gian, lạc thú tình yêu, lạc thú vợ chồng? Sự thực, Cha cho biết, Phật không bao giờ mất bản chất dục: Phật chỉ từ bỏ kiểu dục dở, mà để tìm đến kiểu dục hay hơn, để Phật hưởng hơn. Nhờ Phật biết cách dục cao hơn, nên Phật nếm lạc thú hơn chúng con muôn ngàn lần. Chính trạng thái thanh tịnh như như an lạc khiến Phật sung sướng, vui vui, hạnh phúc, sáng suốt, lâng lâng, kỳ ảo là do việc giao hợp Âm Dương trong Phật đã đạt tới sự hòa điệu đúng mức, và Phật được hưởng lạc thú của sự hòa điệu đó một cách miên viễn; nhờ Âm Dương trong Phật đã thật sự hiệp nhứt không còn chia ly nhau nữa.

Con người vì vô minh nên cứ bám víu, ham muốn những cái nhỏ hẹp tối tăm để chỉ được hưởng những lạc thú thật bé mọn, hưởng chẳng bao nhiêu và chẳng bao lâu! Khốn thay, cái hưởng ấy lại móc nối bao nhiêu là thứ khổ! Hưởng thú vợ chồng thì thê thằng tử phược, gánh vác gia đình con, vợ; gánh vác nợ áo cơm. Hưởng thú địa vị công danh thì công danh nó hành, địa vị nó khảo. Hưởng thú bạc tiền thì phải cực khổ, quay cuồng lo vun bồi định luật đó.

Vấn: Tại sao Thượng Đế bất diệt?

Đáp: Này con, Thượng Đế bất diệt nhưng có diệt luôn vì định luật “Sinh, Trụ, Hoại, Diệt” này trong chơn lý. Cha là chơn lý thì định luật đó phải ở trong Cha; Cha là nó luôn con. Cho nên, Cha phải có trạng thái sinh trụ hoại diệt chớ con.

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Cho nên, cái bài này Chị Phụng đã bắt, phải đúng trong tình cảnh Chị muốn biết không?

BĐ1: Dạ.

ĐT: À, đúng phải không!? Vì Chị đã từ đời qua đạo, và Chị bước sang một kỷ nguyên mới và tự hồi sinh nguyên lý âm dương, và cũng vẫn bảo tồn dục tính đời đời; mà dục tính đó là phát triển tới vô cùng; mà dục tính đó là du dương thật sự hòa ái tương thân. Cho nên, cái quẻ này Chị bắt được và trả lời tất cả những sự thắc mắc và sự mong muốn của Chị đều có sáng tỏ và đường đi; Chị cứ tự tin và tự đi; thấy chưa? [11:40]

[Hết video ID=19860100L16 – “Rút Quẻ Kinh Điển (2)” - Tương ứng mp3 ID=19860103Q4 ngưng ở phút 11:40]

[Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Luận đạo”]

ĐT: Rồi, ai muốn bắt quẻ gì cũng được.

2: Dạ, kính thưa thầy, nhân thầy đã đọc qua bài dục mà Thượng Đế đã giảng, thì trong Thượng Đế giảng Chân Lý, Thượng Đế có nói rằng nếu cần biết rõ hơn về cái thiên dục này, thì xin hỏi Phật Tám.

ĐT: Thì đúng như vậy!

BĐ2: Thì nhân tiện đây, chúng con cũng kính nhờ Thầy cho biết rõ tường tận về thiên dục giữa vía và hồn.

ĐT: Cho nên, bữa nào mà Anh thấy mặt tôi tươi như mùa xuân, là đêm hôm tôi dục lắm! (cười...); tôi với Cô Tiên đã nói chuyện với tất cả mọi người, và làm thi thơ đầy đủ: cái dục của chúng tôi về một sự ân tình cao siêu, cởi mở, thương yêu mở rộng, thi thơ phong phú, không bao giờ lạc đề khi chúng tôi đàm đạo. Cho nên, những người tu mà đạt tới cái đó, mặt mày tươi, tươi như mùa xuân.

Cho nên, cái tình dục đó, nó cũng như thế gian, chớ không có gì; nhưng mà cái sự giao cấu đó là nó nảy nở ánh sáng trên bộ đầu, hào quang càng ngày càng thanh tịnh; nhưng mà không phải đòi liên tục, nó cũng có ngày có giờ; mà đi tới cái dục đó là khi thiếu sức: khi mà Anh thiếu một phần sáng suốt nào thì cái cơ duyên đó sẽ đến, mà cái dục tính đó là vun bồi cho mình sáng suốt lên, và thấy sảng khoái, và thấy luôn luôn có nhiệm vụ làm việc trong sự cởi mở thanh cao, chớ không có bị chèn ép như ở thế gian.

Ở thế gian chèn ép chỗ nào? Vợ chồng vui trong lúc đó, muốn trong lúc đó; mà gần rồi, là hai người uể oải! Nó ngược lại với thế gian. Còn ở trên thiên đàng nó khác: khi thiếu sót thì âm dương phải tương hội; mà hội rồi là sanh, sức hồi sinh còn vô cùng hơn. Nó ngược lại cái chiều hướng ở thế gian, khỏe khoắn hơn và tươi đẹp hơn. Cho nên, Anh nhìn mặt tôi mỗi buổi sáng, “Thấy ông Tám tươi; chắc nói chuyện với cô Tiên nhiều lắm!”

Cho nên, tôi có viết cái “Tình Yêu Siêu Thoát:” chúng tôi đã nói nhiều, rất nhiều, mượn cảnh này nói, mượn cảnh kia nói; nhưng mà để các bạn đọc coi thử có cái gì cảm ứng không? Rồi tôi sẽ viết thêm; chớ chuyện của chúng tôi có nhiều lắm; ly kỳ lắm, vui lắm, thâm thúy lắm; nhưng mà bàn bạc trong tâm hồn của các Bạn, chớ không ngoài đâu, vì làm một việc cho tất cả mọi việc, hữu ích! Cái dục là tiến hóa, không phải cái dục mà thụt lùi như ở thế gian: đòi dục, hăng lắm; nhưng tới hồi đó là hết muốn làm việc rồi! Còn cái này người ta dục rồi là người ta làm việc dữ lắm, sáng suốt lắm, không có bị lụn bại.

Cho nên, các Bạn tu đi để bảo tồn cái tinh khí, và cái tinh khí đó sẽ biến hóa tới vô cùng và khai triển tâm linh; lúc đó, các Bạn không còn bị bơ vơ nữa: đi đâu cũng có cặp hết; mà làm việc lúc nào cũng trong nhàn hạ chớ không có bận rộn.

Cho nên, ở thế gian bị cái chấp; nhảy vô đạo nào đạo nấy: “Diệt dục đi mày!” Nó ra nó đứng, nó thề với Trời Phật, sợ nó đi làm bậy á; nó thề rồi qua bữa sau nó đi làm bậy nó cũng đâu có thề lại! (cười); thành ra nó diệt, nó thề với Trời Phật: [13:58]

[Phút 03:59 video ID=19860100L1 – “Luận đạo” thiếu gần 3 phút so với mp3 ID=19860103Q4 từ phút 13:58 tới phút 16:21]

“Con xin diệt dục;” mà nó lại bỏ vợ, nó lấy bà khác! Cái đó không được! Còn cái này thức tế nó như vậy; nó có cái gì nó phải nói cái nấy; nó phải đổi qua một cái cơ giới mới; chớ người ta đương dục mà mình kêu, bắt người ta ngưng dục, đâu có được! Người ta khùng đi. Nó phải tu luyện để nó đổi qua một cái thế khác thay vì cái thế kia; mà cái dục này là cái dục trường cửu. Mà cái dục này là dục tạm bợ, hủy hoại. Hai cái dục khác nhau: nó so sánh, và nó làm cái chuyện cần thiết thay vì không cần thiết.

BĐ3: Dạ, kính thưa Thầy con xin đảnh lễ Thầy.

ĐT: Ừ!

3: Con có câu hỏi, vừa kết hợp với lời Thầy giảng với thành quả do một … [16:21]

[Tiếp tục video ID=19860100L1 – “Luận đạo” phút 03:59]

… bạn đạo Nam Úc công phu luyện tập.

ĐT: Ừ.

BĐ3: Thứ nhất là con xin hỏi: Nếu khi hồn và vía thấy nhau thì khi chết ắt hẳn là được lên thiên đường; nhưng cũng có,…ngay tại bạn đạo Nam Úc, là Thầy đã nói: “Cô Tiên kia, vì thấy một nhà sư nọ mà chọc ghẹo, nên xuống trần để mà trả cái nghiệp đó;” thì con thử hỏi: Nếu Cô Tiên kia có một người chồng lý tưởng, thì tại sao còn chọc ghẹo nhà Sư ở dưới trần? Đó là câu hỏi thứ nhất; và tội tình gì khi nhà sư không bị chọc ghẹo, mà phải đi mang cái nghiệp quả đó?

Và câu hỏi thứ hai là: Một bạn đạo Nam Úc, do công phu, đã biết được sự giao hợp giữa âm và dương, lạc thú vô cùng; thì, kính thưa Thầy, đó là ấn chứng thành đạt do công phu luyện đạo, nhưng ấn chứng đó là anh ta hiểu được sự khoái cảm, rung cảm hòa điệu giữa âm và dương, chớ vẫn chưa thấy được cô Tiên? Đó là hai câu hỏi con kính trình lên Thầy.

ĐT: Cái câu đầu, Anh muốn biết cái Cô Tiên ghẹo ông Sư bị đọa xuống trần; phải không?

Đó, cái đó là hai cái ly thân, hai cái xác khác nhau, chớ không phải chung ở trong một thể xác; chung một thể xác là phân chia ra đi, rồi tái hợp, trong thể xác.

Còn hai người nó có ghẹo nhau rồi đọa xuống trần, rồi làm vợ chồng ở thế gian, cái đó có! Cái đó có, rồi tái ngộ, rồi đồng đi học đạo, rồi chung làm vợ chồng, rồi hai người mới tách ra.

Mà tu thiệt thọ rồi là hồn, vía tương hội; cái đó nó khác: cái đó nó hai cái xác không có dính liền; còn cái hồn với cái vía này là hai người đã cùng chung sống trong một cái sự mê muội hiểu lầm, mà phân tán kẻ Nam người Bắc, thì ở hai cái hướng, nhưng mà ở chung một cái Tiểu Thiên Địa; rồi tu lên mớI, hai người mới tái hội, mới ngộ nhau; lúc đó là cũng làm một lễ cưới đàng hoàng.

Ban đầu hai người, người kia, cô gái kia mà khi Anh tham thiền Anh thấy cô gái đứng trước mặt; nhưng mà Anh vẫn niệm Phật, bởi vì Anh là người tu, “Tại sao cô gái tới phỉnh tôi được?” Nhưng mà Anh niệm Phật chừng nào là Anh nhớ cô đó chừng nấy; nó có cái chỗ đó. Rồi cổ đi mất: cổ làm theo việc phận sự của cổ. Rồi một thời gian lâu Anh cứ nhớ nhung cái đó, mà muốn gặp gặp không được, phải tu nữa! Tu một thời gian lâu nữa, rồi được thanh lọc, rồi lúc đó mới là làm một cái lễ tái hôn vợ chồng; mừng!

Hồi nào tới giờ Anh tu, Anh không muốn chơi với bè bạn nữa, nhưng mà trong lúc Anh gặp rồi đó, Anh muốn làm cái bánh hay mua cái trái đồ gì đó cho anh em bạn đạo ăn chơi; nhưng mà làm cái lễ vậy thôi. Nhưng mà không có nói ra được, hay mời người ta. Như hồi đó tôi tu, gặp Cô Tiên rồi vui vẻ, chúng tôi nói chuyện vui vẻ; “Thôi, bây giờ mình làm cái lễ để ra mắt!” Mà ra mắt người phàm, nó đâu có thấy, nhưng mà thích mời bạn bè ăn chơi vui, ăn chơi vui. Mà hồi nào tới giờ người ta nói: “Thằng này ly cà phê nó không uống, mà bây giờ nó mời người ta ăn?” Nhưng mà mấy người bạn tôi cũng không biết vụ gì; “Mình mời để coi sao, để thế gian họ có thấy những cái chuyện mà hai người đối diện với họ; có thấy không; mắt phàm có thấy không?” Và thật sự họ không thấy! Đãi người này ăn, đãi người kia ăn, cũng như là tái hôn vậy đó; nó vui lắm; trong tâm hồn nó vui lắm!

Nhưng mà hai người mà gặp nhau rồi đó, lại có sự ghen tương: cô vợ thiệt ở thế gian này tới rờ là không có được! Như tôi đã nói hôm qua, nó ngứa mình lắm, bởi vì nó không có quen! Bây giờ người ta quen với một người trí thức, mà nói đâu mở đó, mà quen với một người đây nó cù lần, nó khó chịu lắm; (cười) nó không thèm chơi! Cho nên, “Tôi ngủ riêng, bà ngủ riêng; tôi ngủ riêng, tôi không có động bà nữa!” Động nó ngứa mình chịu không được, không thích.

Mà đàn bà mà thấy một tiên đồng rồi, không thích chồng mình nữa; thấy người đó nó cù lần lắm, nó không hiểu! Người ta thông minh lắm. Cho nên, có một kì tôi đi trong xe từ Chợ Lớn đi xuống Sài Gòn, mà tôi vừa lái xe, cô Tiên hỏi: “Thiên thượng nhân gian hà năng, hà sở?” Hỏi, tôi phải trả lời liền; rồi tôi cũng nói cho mấy người; tôi nói, “Bây giờ Cô Tiên hỏi tôi câu mắc quá, mà tôi lái xe, làm sao trả lời được?” Mà cổ, “Phải trả lời, có khả năng phải trả lời; chồng thì phải trả lời cho vợ chớ không có vụ mà từ chối, thấy không?” Tôi nói: “Thiên thượng nhân gian thụ năng đắc sở:” có học thì mới làm được chớ; trả lời thì cổ chịu.

Tôi lái xe, tôi cười; rồi mấy người cô thư ký ngồi xung quanh nói: “Ông này sao bây giờ mặt Ông tươi quá vậy?” Tôi nói: “Tôi vui lắm”; “Mà ông được cái gì mà ông vui?” “Thì tôi được chở mấy cô về nhà, tôi vui thôi.” Mình chỉ trả lời vậy thôi; nhưng mà mình trả lời cái này mình biết: “Thiên thượng nhân gian thụ năng đắc sở,” không học làm sao mà biết, phải học. “Trên Trời, dưới Đất cũng phải học;” cổ hỏi cái câu đó.

Cho nên, từ đó mà đi tới cái chuyện kêu bằng biết nhau nhiều, nhắc lại mấy trăm năm về trước, khóc sướt mướt mà không dám cho người ta biết mình khóc; “Khóc cái gì? Thằng này nó điên, đưa vô chợ quán bây giờ!” Ngồi khóc ghê lắm; thấy không: nhớ thương quá; mấy trăm năm không gặp, mà người ta đã phục vụ cho mình tùy theo lệnh của mình; mà mấy chục năm, bao nhiêu kiếp ở thế gian cứ hạ lệnh cho người ta làm.

Bây giờ các bạn không có biết, không có thấy cái vía, chớ cái vía ở đó chớ đâu: các Bạn sai nó làm; cái ý của Anh đang sai nó hỏi “Tôi đây nè,” là cái vía của Anh hỏi đó chớ! Đang sai: cái hồn sai cái vía làm việc 24/24 mà không hay, hành hạ không hay! Mình thương là cái mình đã hành hạ vợ mình; bao nhiêu đó, khóc ăn năn sám hối; “Thôi, từ rày về sau chúng ta đồng tu đồng tiến!” Nó thấm thía lắm; nó thâm thúy lắm; không có bút mực nào mà tả cho hết.

Rồi cái anh bạn mà nói rằng đã gặp được hồn vía mà không thấy mặt; cái đó không phải! “Lưỡng nghi hợp nhất,” cái phần con trê của ảnh rút lên, cái điển nó rút cái bộ sinh dục nó rút, nó rút lên; nó phối hợp ngay trung tim bộ đầu: sung sướng lắm, lạc thú lắm; nhưng mà không có thấy mặt. Chưa thấy đâu, vì hai luồng điển lưỡng nghi hợp nhất nó sung sướng; khi mà ngồi mà thấy nó rút rút như vậy là nó sướng vô cùng, nhẹ nhàng lắm; sướng hơn triệu lần ở thế gian giao cấu; mà không có tiêu hao; hồng hào tốt đẹp. Cái đó là ông bạn đó đi tới chỗ lưỡng nghi hợp nhất.

BĐ3: Dạ, con cảm ơn Thầy giải đáp hai câu hỏi.

Con còn thắc mắc thêm một phần nữa là: như vậy ở trên Thiên Tiên, ở trên cõi Tiên thì ở cấp bậc nào hồn và vía luôn luôn tương hội? Vì đọc qua những cốt truyện,

ĐT: Ở cõi Bồng Lai thì tương hội rồi.

BĐ3: Dạ, còn dưới Tiên, vẫn còn là cũng chưa tương hội?

ĐT: Chưa, chưa.

3: Do đó Tiên vẫn còn mắc đọa là vì,

ĐT: Cũng còn mắc đọa; ở Bồng Lai thì tương hội.

: Dạ.

ĐT: Ông đi đâu thì bà đi đó.

3: Dạ.

ĐT: Mình đi trước, có bà đi sau: vô tới Phật giới mới nhập lại một, nhập đằng sau lung, nhập lại một.

3: Dạ, kính thưa Thầy: Nếu ông đi trước, bà đi sau, hoặc bà đi trước ông đi sau, thì tại sao vị tiên nữ đó lại còn mê một nhà sư, và nhà sư không tội tình đó cũng phải vương vấn với cái nghiệp?

ĐT: Đâu có; hai cái là một mà, bởi vì nhà sư phải thuần dương, rồi cái vía kia cũng phải thuần âm; hai cái thuần âm thuần dương hợp lại là một mới nhập niết bàn.

: Dạ.

ĐT: Bởi vì định luật tiến hóa đi tới mà: người ta tu học mà; bởi vì ông cũng phải tu, mà bà cũng phải tu; “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc,” nhưng mà hai cái thuần lại hòa là một; thuần âm thuần dương hòa là một.

3: Dạ.

ĐT: Cho nên, Đức Quan Âm với Đức Di Lạc, nói đi nói lại cũng một lý thôi: hai người; mà bên ra hình đàn ông, bên ra hình đàn bà; một trình độ như nhau.

3: Dạ, con kính xin cảm ơn Thầy!

ĐT: Ừ.

BĐ4: Xin Thầy cho phép con hỏi thêm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì người tu thành đạt đó, thì hội hiệp được phần vía và hồn.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thưa Thầy, nếu mà những người thế gian không có tu thì khi qua đời rồi thì cái phần vía hồn này có hồi hiệp được không?

ĐT: Không được, không được; chỉ tu phước thôi. Người hành đạo là mới được; còn không là tu phước thôi; không làm gì được, cái đó chịu; chỉ tu phước là được, rồi phải luân hồi. Còn những người hành đạo, cố gắng rốt ráo thì họ giải tỏa được, họ mới quy hội được: nó thuần âm, thuần dương nó mới quy hội được; còn không, không thể nào cất đầu nổI; bị kẹt mà thôi.

BĐ4: Xin phép Thầy, cho con hỏi thêm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Như cái phần xác trước, cái phần trước của Thầy đó, là cái phần hồn của ông Lương Sĩ Hằng;

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì ông Lương Sĩ Hằng cũng có cái phần vía của ông Lương Sĩ Hằng;

ĐT: Ừ.

BĐ4: Nhưng mà khi cái phần hồn của Ngài Vĩ Kiên đến với cái phần xác của ông Lương Sĩ Hằng, thì cái phần hồn của Ngài Vĩ Kiên đó sẽ dùng cái phần vía nào?

ĐT: Tạm dùng cái phần vía của ông Lương Sĩ Hằng, rồi một thời gian đổi trở lại: vì cái chỗ ban giao, ban giao với nhau thôi, thì cái phần hồn kia thức giác lo đi tu; đằng này lo xong rồi mới cho trở lộn lại. Hai người ở bên kia nó trở về bên kia; còn cái bên này, trụ lại bên này. Nhưng mà trước khi trong cái ban giao đó là phải ở lại thế gian một thời gian: cái phần của ông Lương Sĩ Hằng phải ở lại thế gian một thời gian, rồi sau đó là rời khỏi luôn và đổi lại tất cả hoàn toàn của người mới; nhưng mà cũng nhìn nhận cái chuyện cũ của đằng kia; ban giao một cơ sở vậy thôi chớ không có gì!

Đây rồi, các Bạn tu thời gian đi lên, đi thấy đi vậy, rồi nó tiêu tan đi, rồi nó trở lộn lại. Rồi tới lúc mà các Bạn dẫn được cái vía đi rồi, cũng bị tiêu tan; rồi trở lại; thì cái phần trước kia nó phải hồi về với cái trước, rồi cái sau này nó thay đổi, nó trở lại tinh tấn hơn. Cái vía cũng phải tinh tấn, chớ không phải riêng tôi: là tôi đem cái phần linh hồn, linh điển xuống đây, rồi cái phần vía của linh tánh nó ngày nay đã phối hợp rồi thành ra hai cái đồng thành đạo một lượt, để cứu độ chung sanh; mắc ở trong cái thiện nghiệp đó thôi.

Rồi cái phần kia thì người ta lo người ta đi tu: hai người kia phải lo đi tu; phần nào trả về phần nấy; nhưng mà cái vía một thời gian theo cái phần hồn này nó được tinh tấn và nó trở về đôn đốc cái phần kia tu nhiều hơn để trả lại. Nó không phải màu nhiệm gì; nó rõ như ban ngày, không có cái gì màu nhiệm hết á. Nó đương nhiên phải vậy à, cũng như cơ sở làm ăn, bây giờ nó cũng bao nhiêu công chuyện đó thôi, bây giờ đổi người mới tới thì Anh phải, ... phải dạy đủ mấy công chuyện, rồi Anh bỏ Anh đi chỗ khác; người khác nó tới nó thế.

Cho nên, thay đổi hoài hoài! Các Bạn tu đi, rồi mặt mày các Bạn thay đổi hoài hoàI; mà không biết là sao? Cũng như Hiếu đó: người ta dòm thấy nó trẻ hoài à! Nó có thay đổi, nhưng mà nó đâu có biết thay đổi cái gì đâu? Mà chừng nào Anh đi lên tới trển, Anh nói: “Ồ!” Anh dòm lên, té ra, “Tôi thay đổi từng này từng này.” Lúc đó Anh mới giảng đạo được. Nó thay đổi, cũng như Anh Phương bây giờ ở chỗ trán nó cũng bắt đầu thay đổi đó, nó gom lần lần hết rồi đó; rồi sẽ thay đổi nữa; rồi chừng ít năm sau, người ta nói: “Anh Phương sao lúc này trẻ giống con trai Ảnh quá!” Nó không có già; nó phải thay đổi vậy đó.

Nó lên cao chừng nào nó phải trẻ chừng nấy; mà nó lên rồi thì nó vui, nó như con nít vậy; mình thấy hình thù mình ra có chút, đâu có lớn đâu, mà biết đủ chuyện hết, không có nặng nề nữa, mới kêu bằng “Buông bỏ;” không đánh phấn, không thoa son, nhưng mà thấy mặt, người ta dòm thoáng mặt mình “Cha này tươi đẹp!” Phải đánh phấn thoa son mới tươi đẹp chớ! Người ta dòm, tươi đẹp.

Chớ mặt tôi hồi trước đâu có hồng như vậy, mà bây giờ nó hồng! Tôi là tôi y cái hình mà tôi thấy trong lúc tôi thiền, tôi thấy y vậy đó: mặt tươi, đỏ; rồi cái tôi đứng giữa kiếng tôi chà vậy, cái thấy nó đỏ lòm, thấy nó đỏ, đỏ liền; khỏi cần bỏ son (cười); thì cái đó là mới chứng minh là cái hào quang nó xuất phát, nó chạy hoàI, chạy hoài, nó liên hệ, liên hệ với cả Càn Khôn Vũ Trụ; nó tươi.

BĐ5: Khỏi đánh phấn, phấn hồng.

ĐT: Không có đánh phấn hồng, làm vậy cái nó hồng à! Thấy không; thấy điển không?

BĐ5: Dạ.

ĐT: A, hiểu điển rồi là quý rồI; biết điển rồI, sắc đẹp sẽ có tự nhiên, không cần phải đi xin ai có sắc đẹp.

BĐ5: Con dẹp tiệm.

ĐT: Nó đâu có đẹp bằng cái này.

BĐ5: Dạ.

ĐT: Cái này tự nhiên mà; tự nhiên nó đẹp hơn! Rồi bây giờ ai?

BĐ6: Thưa Thầy, trong phần này con có cái thắc mắc.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Như anh Phương mới vừa nói hồi nãy, Thầy giảng thì phần hồn của Đức Vĩ Kiên xuống mà quên đi phần vía của Đức Vĩ Kiên.

ĐT: Đâu có quên, có sắp đặt làm sao quên được; giỡn! Đi đâu nó cũng chạy theo.

BĐ6: Phần hồn của Đức Vĩ Kiên sẽ xuống để nhập với lại phần vía của Lương Sĩ Hằng.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Thì như vậy, vì một cái công tác, vì một công chuyện mà phần hồn của Đức Vĩ Kiên đã mất chung thủy với phần vía của…

ĐT: Bởi vì khi đổi mà chiếm cái xác đó đó, mà cái xác đó phải đương sống; thấy chết nhưng mà còn hơi thở; thấy chết, thấy chết nhưng mà cái nhịp thở ở trong đó còn; chiếm là chiếm cái còn sống thì có người làm việc ở trong đó. Cho nên, xuống phải dọn lại: cũng như Anh chiếm cái nhà mà có người ở, thì Anh vô Anh phải sắp đặt; sắp đặt rồi thì mấy người đó nó đi chớ; rất dễ mà; không có gì đâu.

BĐ6: Với lại, ngoài ra cái phần này con thấy cũng có cái cách buộc cho những người đang đi tìm cái cô Tiên ở trong cái bản thể của mình.

ĐT: Ừ.

6: Là khi họ mê cô Tiên đó quá thì đâm ra quên cái cô Tiên thật ở trên trần gian.

ĐT: Nếu mà cô Tiên đó mà làm cho họ mê quá đó, thì cô Tiên đó không phải là cô Tiên. Cô Tiên sáng suốt phải hiểu Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín;:không có nên làm cho chồng mình mê, mình mới thấy con vợ đó là vợ lý tưởng; chớ con vợ mà bắt mình mê đó, là con vợ đó là con vợ con quỷ (cười), không phải Tiên; con quỷ đó, thiệt đó! Nhiều người lấy con quỷ mà không biết đâu.

BĐ5: Dạ.

ĐT: Bắt chồng mình mê mình không à; đó là quỷ, không phải là tiên; …

[Mp3 ID=19860103Q4 – cuốn 8B: thiếu một câu nói của bạn đạo, phút 34:30]

… không phải! Nói sự thật vậy đó, tôi nói sự thật vậy đó.

Rồi bây giờ Anh lên hả? Rồi; … [34:36]

[Hết video ID=19860100L16 – “Luận Đạo” – audio mp3 ID=19860103Q4 – cuốn 8B dừng ở phút 34:36] –

--- +++ ---

[Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (3)”]

(Lời minh giải của Đức Thầy:)

… chớ ai cũng chọn “Thượng Đế Giảng Chân Lý” hết á! (cười)

Không có ai dám chọn “Địa Ngục” để tôi nói chuyện cho nghe; Địa Ngục hay lắm, mà người ta không ai chọn.

BĐ7: Bởi vì ai cũng sợ hết, Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Địa Ngục buồn lắm Thầy ơi!

ĐT: Ừ.

Trần gian, các con thờ “Tam Thể Phật” mà không hiểu ba vị Phật này tượng trưng cho ba thể tính Bi, Trí, Dũng của Thượng Đế. Bên Thiên Chúa Giáo cũng vậy, thờ Chúa Ba Ngôi: Đức Chúa Cha chính là thể Trí; Đức Chúa Con ngôi tình yêu, tức thể Bi; Đức Chúa Thánh Thần là ý lực của Thượng Đế, tức thể Dũng vậy.

Các con, phần đông không hiểu Chơn Lý nên chỉ cầu Chúa, niệm Phật, niệm Thượng Đế, trong tinh thần ỷ lại vào sự cứu giúp, sự phò hộ, vì nghĩ rằng các vị Phật, Chúa ấy ở đâu đâu ngoài con, chớ không hiểu rằng các vị này đều vừa có ở ngoài Đại Vũ Trụ, vừa có cả trong bản thể con nữa! Đấy là những thể tính của Thượng Đế, mà cũng là của con; và Thượng Đế chính thật là con đó!

(Lời minh giải của đức Thầy):

Cho nên, tôi thường nói: “Các bạn cứ mong Thượng Đế ở bên ngoài, ông Phật ở bên ngoài;” nhưng mà lấy cái gì chứng minh ông Phật? Phải khối óc không? Lấy cái gì chứng minh ông Trời? Phải khối óc không? Lấy cái gì chứng minh con ma? Phải khối óc không? Tất cả là ở trong các bạn!

Chưa hiểu được điều này, mà chỉ cầu hoặc niệm để được sự phò hộ, sự cứu rỗi, đấy là còn mê tín, là vọng cầu, vọng niệm mà thôi! Đa số các con niệm Di Đà để xin Di Đà che chở, niệm Quan Âm để xin Quan Âm cứu nạn, giờ đây biết niệm danh Thượng Đế thường là cũng xin Thượng Đế cứu độ con thoát qua tai ách, v.v... ấy là những vọng cầu, vọng niệm, vọng tưởng, vì con chưa hiểu con đó thôi!

Vậy thế nào là chánh niệm? Khi con niệm Lục Tự Di Đà, con phải hiểu rằng con đang lay động, nhắc nhở, đánh thức tính sáng suốt, khơi dậy ánh sáng trong con, để con vượt lên sự tăm tối ngu muội. Đấy mới tưởng Di Đà ở đúng vị trí của Di Đà. Khi con niệm Nam Mô Đại Bi Cứu Khổ Quan Thế Âm Bồ Tát, con hiểu rằng, con đang đánh thức tính yêu thương tức thể Bi trong con.

Đánh thức nó tỉnh dậy, phát triển nó để tâm con mở rộng luôn luôn hành thiện cứu khổ, ban vui. Đấy là con biết tưởng Quan Âm đúng vị trí của Quan Âm. Khi con niệm danh Thượng Đế, con phải hiểu con cũng đang niệm chính danh con đó. Con vốn dĩ là Thượng Đế phân hồn ra thành tiểu linh quang xuống đây đi học. Con là Chủ Nhân Ông đang điều khiển cái tiểu thiên địa của con, bản chất của con y như bản chất của Đấng Tạo Hóa muôn loài và khi đọc danh hiệu này, tâm thức con hãy hòa vào tâm thức của Càn Khôn, rung động cùng một nhịp với Đại Hồn Vũ Trụ. Đấy là con biết tưởng Thượng Đế như ý Thượng Đế muốn, và con cũng đã đặt con ở đúng vị trí của con. Niệm như vậy mới là biết niệm: Đấy là chánh niệm, mà cũng là chánh kiến, chánh tín, chánh định, chánh tư duy của Phật giáo đó con.

Cha cho chúng con rõ, khi con biết chánh niệm, thì dù không cầu, không vọng sự phò hộ, chở che, cứu giúp. Con lại được hộ giúp, che chở hữu hiệu hơn, đắc lực hơn nữa; đức Bồ Đề Đạt Ma nói: “ Tất cả chúng sanh đều là Phật như mình, vậy mình chẳng phải cứu ai cả! không vị Phật nào có thể hơn mình. Vậy mình chẳng phải van xin, cầu nguyện ai cả; mỗi người là Phật cho chính mình, mỗi người là mỗi vị Phật riêng của mình và tất cả đều ta phải làm cho tới cùng để nhận ra rằng mỗi người đều tìm tàng thực tại và chơn lý duy nhất ấy”

Nho giáo nói: “ Vũ Trụ Tiện Thị Ngộ Tâm, Ngộ Tâm Tiện Thị Vũ Trụ”: Vũ Trụ chính là tâm ta, ta chính là Vũ Trụ; thấy tất cả tôn giáo đều cắt nghĩa như vậy;

Lời minh giải của đức Thầy: Cho nên, cái gì các bạn đang hành đây là như vậy. Cho nên, phải xây dựng đức tin và tin nơi khả năng của mình, thực hành một kỳ công giải tỏa cái phần lười biếng đó, mà để đi tới sự thanh cao tự đạt.

Tại sao? Lẽ dễ hiểu là vì kẻ vọng niệm phần trí tuệ chưa sáng bằng kẻ chánh niệm. Linh hồn nó yếu đuối và kém tiến hóa hơn vì chỉ biết hướng tới tha lực mà không biết tự lực, chỉ thấy sức mạnh bên ngoài mà không thấy sức mạnh có sẵn trong chính nó để biết tận dụng sức mạnh đó.

Cho nên khi con niệm để cầu được cứu giúp, điển của con không sáng bằng khi con biết chánh niệm. Vì nếu con biết chánh niệm, khi ấy điển trong bản thể con sẽ hòa cảm với khối điển sáng suốt của Càn Khôn. Niệm Di Đà thì phần điển Di Đà trong con bật sáng, chuyển động hòa với khối điển Di Đà, tức phần điển Trí của Càn Khôn. Niệm Quan Âm là phần điển Quan Âm của con sáng lên rung động, hòa cảm với khối điển Quan Âm tức phần điển Bi của Càn Khôn. Niệm danh Thượng Đế thì chơn thần con rung động, tiểu linh quang lóe sáng hòa với khối Đại Linh Quang. Nhờ đó, đứa biết chánh niệm, sẽ tự bao quanh nó một khối lượng điển lành nhiều hơn đứa vọng niệm.

Khối điển tốt lành đó sẽ che chở, hóa giải bớt cho nó điều khổ nạn do nghiệp lực khảo đảo nó, và nếu khối điển lành bao quanh, càng lớn chừng nào thì nó được hưởng sự che chở, sự hóa giải điều khổ nạn nhiều hơn chừng ấy, dù nó không cầu, không vọng sự cứu giúp phò hộ như kẻ vọng niệm. Ấy chính vì nó đã tự biết cứu, tự phò hộ, tự che chở nhờ hiểu được và biết tận dụng sức mạnh của chính nó có sẵn. Nhờ cái biết đó, mà nó đã tự bảo vệ nó hữu hiệu, trong khi kẻ vọng niệm do ít sáng hơn nên không được hưởng bằng.

Dĩ nhiên trong khi con vọng cầu sự phò hộ thì các phần điển những vị trong khối sáng suốt của Càn Khôn cũng sẽ ban rải chút điển sáng suốt xuống linh hồn con để phò hộ, cứu giúp, giải bớt khổ cho con nhờ con tưởng đến. Song, sự vọng niệm sẽ khiến con bị chậm trễ đà tiến bộ, vì Tiểu Hồn cứ có thói quen nương tựa, ỷ lại vào tha lực, chờ đợi sự giúp sức nên mãi còn yếu đuối, trí tuệ còn lâu mở, và do đó, con phải tiến hóa trì trệ mà thôi!

Tóm lại, khi con niệm Di Đà, phải thấy mình là Di Đà. Khi con niệm Quan Âm phải thấy mình là Quan Âm. Khi con niệm danh Thượng Đế, phải thấy mình là Thượng Đế và hợp nhất với Đại Hồn Vũ Trụ. Biết niệm như vậy, con vừa giúp con được tiến hóa nhanh, mau sáng suốt, vừa lại biết tự phò hộ con, bảo vệ con hữu hiệu hơn; vì nếu sáng hơn, thanh hơn chừng nào, con sẽ hóa giải hữu hiệu hơn chừng ấy

[Hết mp3 ID=19860103Q4 - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà - Thầy Giải "Quẻ" BĐ Chọn - Cuốn 8B - Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (3)” ngưng ở phút [09:52]

--- +++ ---

19860103Q5 – Mp3

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Quẻ" Bạn Đạo Chọn - Cuốn 9A

[Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (3)” phút 09:52 - Mở đầu mp3, thiếu câu: “… điều khổ nạn từ nghiệp lực…” so với video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (3)” từ phút 09:52]

ĐT: Do quả trược mà con đã gieo. Cha vừa giảng cho chúng con hiểu thêm cách thức niệm. Còn việc niệm Thượng Đế, con khỏi phải thắc mắc. Con nào biết niệm thì càng hay. Nếu còn băn khoăn, hay chưa quen, chưa hiểu, thì cứ tiếp tục niệm A Di Đà cũng được. Vì niệm Di Đà để mở sự sáng suốt; lúc nào, con đạt sáng suốt rồi, tự nhiên, con sẽ thấy được Chủ Nhân Ông là Thượng Đế đó thôi.

(Lời minh giải của đức Thầy)

Sao, đúng không? Bây giờ phải dọn mình tự cứu, tin cậy nơi thực lực của chính mình để tu; Bề Trên dặn như vậy!

[Phút 00:50 mp3 thiếu từ “Thưa Thầy” của “BĐ1” so với video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (3)” ở phút 11:05]

BĐ1: [00:50] Trước đây thì con đọc Thượng Đế giảng Chân Lý, thì Thượng Đế khuyên nên niệm danh Thượng Đế mới là niệm chính danh mình; nhưng có lần con hơi thắc mắc là khi giảng cho các bạn đạo thì Thầy lại khuyên niệm Lục Tự Di Đà; thì hôm nay con thấy cái việc thắc mắc của con được giải tỏa, là vì qua cái bài Thầy vừa đọc thì con thấy rằng: Niệm danh Thượng Đế là chánh niệm, nhưng mà trong trình độ của chúng con hiện nay, dễ có mấy ai hiểu được cái chánh niệm? Mà nếu không có được cái chánh niệm mà nhân danh Thượng Đế, chỉ là vọng niệm mà thôi! Do đó nếu vọng niệm thì khó tiến nhanh! Do đó, tùy trình độ của chúng con mà Thầy khuyên chúng con niệm Lục Tự Di Đà để mở trước, rồi sau đó mới hiểu danh Thượng Đế và niệm chánh niệm sau, mới hòa hợp với Thượng Đế.

ĐT: Cho nên, ở thế gian này, họ còn chấp lắm; hồi nào tới giờ ít có ai giới thiệu Thượng Đế, và giới thiệu một cách lu mờ và để cho họ mê tín, và không thấy Thượng Đế trong người, không thấy Thượng Đế trong tâm. Cho nên, ngày hôm nay Thượng Đế giáng lâm và để soi sáng chúng sanh, để cho chúng sanh thấy rằng “Con là ta;” Thượng Đế là ta. Cho nên, khi mà chúng ta niệm danh Thượng Đế, ta phải đi đứng đàng hoàng, phải làm việc đàng hoàng, hạnh hy sinh phục vụ phải cao, phải tự phá mê phá chấp.

Và niệm danh Di Đà cũng vậy: người hành đạo nhập Niết Bàn, thì chúng ta phải đàng hoàng chớ không có nói bậy, và không có nghĩ bậy cho người khác! Chỉ quán xuyến, thường độ cho người khác, thì mới xứng danh con Phật và con của Thượng Đế! Thì bây giờ niệm danh Phật, niệm danh Thượng Đế cũng vậy thôi! Khi chúng ta niệm A Di Đà, chúng ta là Di Đà là được rồi, không làm bậy! Ta niệm Thượng Đế ta là Thượng Đế, không làm bậy! Thượng Đế có trược có thanh, có trược có thanh; có mọi trạng thái đều của Thượng Đế hết thảy.

Cho nên, ngày hôm nay mở trí cho các Bạn rất nhiều; khi mà các Bạn cảm thức “Tôi là Thượng Đế; không phải là Thượng Đế là chánh nhưng mà tất cả cũng đều là chánh, nếu tôi trụ tâm tôi mới thấy rõ cái chánh; tôi niệm tên tôi mà tôi tưởng ông Trời là tôi cũng chánh vậy; và tôi không có nghĩ bậy cho người khác; tôi không nghi ngờ một ai, nhưng mà tôi chỉ lo sửa tôi để tiến, thì ông Trời cũng phải chứng!” Niệm là để tập trung mà thôi; mà tập trung rồi, tập trung là để hiểu tất cả cái nghĩa lý và hành sự của chúng ta thế nào: Ta niệm danh Phật, cao cả, thanh cao, chúng ta không có chấp.

Chúng ta luôn luôn nuôi dưỡng tình thương ban bố nhẫn hòa; Thượng Đế cũng vậy: Thượng Đế lắm lúc cũng phải dũng cảm, gánh vác, chớ không phải dũng cảm để chống trả mà ăn thua với người ta; dũng cảm và gánh vác để ảnh hưởng chúng sanh là Thượng Đế. Cho nên, ngày nay các bạn làm ông cha trong gia đình, cũng phải dũng cảm để gánh vác: Con mình làm bậy, ngoài kia chửi, mình cũng phải trânmình để nghe: học dũng, học nhẫn, học hòa. Mình cứu mình và ảnh hưởng xã hội, giúp con mình; đó là nhiệm vụ của Thượng Đế.

Cho nên, khi chúng ta niệm danh Thượng Đế, chúng ta phải hiểu rõ cái ý nghĩa chánh niệm, chớ không phải niệm Thượng Đế là chánh! Người ta hiểu cái gì đâu là chánh? Danh từ mà thôi; người ta chỉ biết danh từ; nhưng mà hiểu được cái ý nghĩa mới là chánh! “Hành động của Thượng Đế như vậy; hành động của đức Di Đà như vậy! Tôi phải như vậy! Nhứt định tôi đi về cái đường của Ngài, thì tôi phải như vậy thì mới thật sự là chánh niệm!”

BĐ1: Hết giờ rồi, Thầy!

ĐT: Hết giờ chưa?

BĐ1: Hết giờ rồi, xin Thầy nghỉ! [05:05]

[Hết video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (3)” tương ứng mp3 ID=19860103Q5 dừng ở phút 05:05]

--- +++ ---

ĐT: Mới có 10 giờ rưỡi à; bao nhiêu sách, chọn cái nào?

BĐ2: Không biết con tội lỗi gì…?

ĐT: À, vậy hả? [05:15]

[Bắt đầu Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” – thiếu 10s đầu là đoạn hội thoại chữ xanh ở trên]

… Đâu có biết! Tội lỗi của mọi người cũng như nhau à! Chà, gan lắm mới chọn “Địa Ngục Du Ký” hả? A, cái kiếng; quên rồi, quên đem cái kiếng rồi! Ở đây sang thì khỏi; ngục A Tì. (cười)

BĐ3: Chết rồi, sao lật ngay vậy?

ĐT: Ngục A Tì.

Dương Sinh: Thường nghe nói người đời rất sợ Ngục A Tì là bởi lý do nào?

Ngục Quan: Kẻ bị đày xuống Ngục A Tì, phần lớn đều không được siêu sinh, giống như bị tòa án ở dương gian kết án chung thân khổ sai vậy.

Dương Sinh: Ngục Quan có thể dẫn vài tội hồn ra đây để thẩm vấn lấy cung không?

Ngục Quan: Vì quý Đường phụng chỉ viết sách Địa Ngục Du Ký, nên Minh Vương đã ra lệnh cho chúng tôi được phép đem vài tội hồn ra để làm bằng chứng thôi, còn bình thường những kẻ đã bị đày tại Địa Ngục A Tì không bao giờ được thả ra. Dương sinh hãy nhìn tôi dùng phép lạ..... phóng luồng ánh sáng cực lớn vào trong ngục tức thì toàn bộ khí giới hành hình tội nhân ngưng hoạt động. Tướng Quân mau kéo cổ vài tội hồn ra.

Tướng Quân: Xin tuân lệnh.... đã kéo được tội hồn ra.

Dương Sinh: Thân thể tội hồn bị hành hạ bầy nhầy, nát như tương, máu me đầm đìa, hai tròng mắt lồi ra, không còn nhận ra hình dáng con người, thật là đáng thương.

Tế Phật: Để ta tạm thi thố pháp lực cho thần trí bọn họ tỉnh lại, giảm bớt sự đau đớn của xác thân để họ dễ bề thuật lại những hành vi phạm tội.

Dương Sinh: Diệu pháp của ân sư thật quả vô biên, thân thể tội hồn mười phần nát bấy đã hàn gắn lại được hình người tới bảy phần, chỉ còn ba phần là giống quỷ, không hiểu tại sao?

Ngục Quan: Đây là hai vị đại sư, bọn mi mau thuật lại những hành vi ác độc lúc còn tại thế để khuyên răn người đời.

Tội Hồn: Tôi lúc sống phạm vào tội bất hiếu, bình thường chỉ ham chơi bời không chịu làm việc, những khi ngửa tay xin tiền mà không được thì ngoác mồm chửi cha mắng mẹ, có khi còn tay đánh chân đá, lúc sống không chịu giữ đạo hiếu, sau khi chết bị chịu tất cả những hình phạt ở các ngục khác xong còn bị chuyển tới đày tại Ngục A Tì vĩnh viễn không được siêu sinh. Kính mong hai vị đại sư thương tình xin dùm cho tôi được thoát khỏi ngục A Tì, đầu thai làm kiếp trâu chó tôi cũng vui lòng, bởi vì ở đây quá đỗi thống khổ.

Tế Phật: Trăm đức thiện, đức “Hiếu” đứng đầu, đã không biết phụng dưỡng lại còn đánh đập cha mẹ, tội ác thật quá lớn. Tội bất hiếu luật ở âm phủ không tha, ta không có cách nào cả.

Ngục Quan: Đời có lắm kẻ vì tư dục hôn nhân, vì tư lợi tiền tài mà phản bội cha mẹ, những kẻ bất hiếu đó nếu như không sớm hối cải, sau khi chết chắc chắn sẽ bị đày xuống Ngục A Tì. Tội hồn thứ hai hãy mau cung khai.

Tội Hồn: Tôi lúc sống tham dâm hiếu sắc, nhiều lần cưỡng dâm con gái nhà lành, dụ dỗ kết thân với quả phụ cùng nhận trẻ gái mồ côi làm con nuôi để giở trò ám muội. Tôi nghĩ rằng làm như vậy là được tận hưởng hạnh phúc ở cõi đời, nào ngờ sau khi chết phải chịu lãnh đủ mọi hình phạt đau đớn, thống khổ. Cuối cùng tôi còn bị phán đày tại ngục A Tì này vĩnh viễn không được siêu sinh. Kính mong sư phụ cứu mạng tôi, nếu như tôi thoát khỏi được cảnh khổ đau này nguyện làm thân chó ngựa của ngài.

Tế Phật: Ta không cần dùng tới chó ngựa. Lúc sống hiếu sắc tham dâm, không đi đường ngay lối thẳng, muôn tội ác tội dâm đứng hàng đầu, đã bị đày đọa tại Ngục A Tì còn hối hận được sao!

Ngục Quan: Tội hồn thứ ba, hãy mau thuật lại những hành vi đen tối lúc sinh tiền.

Tội Hồn: Tôi lúc sống chuyên môn chế thực phẩm, thuốc thang rượu chè giả tạo như thuốc tây, rượu tây, rượu ta, nước tương v.v... để kiếm lời thật nhiều. Vì tham làm giàu một cách thất nhân, thất đức như vậy; cho nên, sau khi chết bị đày tại ngục A Tì. Kính mong Phật Sống Tế Công xin với Diêm Vương để Diêm Vương xá tội cho tôi, kiếp sau được lên làm người tôi hứa sẽ an phận giữ mình, kiếm tiền một cách có lương tâm.

Tế Phật: Chế rượu, thuốc giả mạo, tội ác quá lớn, không nghĩ gì tới đạo đức, mạng sống con người, thử hỏi nuốt những thứ đó vào bụng có khác gì uống thuốc độc, ngươi mất hết lương tri, hại người quá nhiều. Xử đày người tại Ngục A Tì uống nước đất đen để giải độc, mùi vị ra sao mi tự hiểu biết, còn ta hoàn toàn bất lực.

Ngục Quan: Tội hồn thứ tư hãy mau thuật lại những hành vi ác độc lúc còn tại thế.

Tội Hồn: Lúc sống tôi chuyên nghề buôn lậu, hút á phiện chích ma túy, sau vì xài tốn quá nhiều tiền tôi buôn lậu luôn cả mấy thứ này, thành một đời hại quá nhiều người. Sau khi chết Diêm Vương cả giận phán đày tôi vĩnh viễn tại địa ngục A Tì. Ở đây hàng ngày chịu thống khổ quá đỗi, hối hận lúc sống đã phạm vào tội ác quá lớn, hiện tại vô phương cứu chữa.

Tế Phật: Buôn lậu là đã phản bội luật pháp quốc gia, lại còn buôn lậu cả ma túy để làm hại đồng bào, luật dương thế chẳng tha, luật âm phủ không cứu. Phàm tại thế buôn lậu cùng nghiện ngập buôn bán ma túy tội thật quá lớn, những kẻ phạm phải tội này hãy mau mau buông dao đồ tể, làm lại cuộc đời, nếu như ngoan cố sau khi chết chắc chắn sau khi chết sẽ bị đày xuống Ngục A Tì muôn ngàn năm chẳng thể siêu sinh.

Ngục Quan: Bốn tội hồn cung khai đã xong, hy vọng người đời sau khi đọc xong sách Địa Ngục Du Ký, những ai trước đây đã trót phạm phải lỗi lầm, từ nay nếu như biết ăn năn hối cải, ta sẽ sẵn sàng tha thứ, hy vọng người đời mau mau quay đầu thức tỉnh, chớ có tham lợi lộc nhất thời mà bị sa vào đường cùng ngõ cụt.

Tế Phật: Thời giờ đã trễ, chúng ta chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

(Lời minh giải của đức Thầy: )

Đó, thì cái quẻ này đẩy mạnh cho hành giả phải thức tâm lo tu; chuyện đời gây cấn, những cái mà mình bất mãn, bắt đầu từ giờ phút này phải xóa bỏ trong tâm và giữ tâm tu; tất cả chúng sanh đồng phạm tội và phải cố gắng sửa mình để tiến hóa. Nắm sẵn Pháp trong tay, và có những lời nhắc quý báu thì chúng ta không còn nuôi hận thù; dễ tu và dễ tiến hơn; đúng không?

BĐ3: Dạ, thưa đúng.

ĐT: Ừ. [14:19]

[Phút 09:07 video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” thiếu 6s tương ứng với mp3 ID=19860103Q5 từ phút 14:19 đến 14:27]

BĐ4: Thưa Thầy, con có câu hỏi.

ĐT: Ừ.

[khúc này, cả video và mp3 đều không có vấn đạo của “BĐ4”, chuyển ngang sang “BĐ1”]

BĐ1: Xin thưa thầy, xin thưa với Thầy: vì con nhận thấy những tội lỗi…. [14:27]

[Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” Phút 09:07]

…. ở thế gian không hẳn hoàn toàn do cá nhân.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Mà hầu hết phần lớn là chịu ảnh hưởng giáo dục gia đình và xã hội; mà nếu Địa Ngục chỉ hành hình, làm tội một cá nhân thôi, thì như vậy có thật là tội nghiệp cho cá nhân đó không?

ĐT: Không phải, xã hội có tràng giang đại hải, trong rừng có tràng giang cây độc và ác thú; nhưng mà con người có linh tánh, có thể hướng thiện; nhưng mà con người không biết ăn năn, và nuôi dưỡng ác ý và khống chế đối phương; cho nên, tự mình giam mình xuống A Tì, chớ không phải ai hết: tự mình giam mình, chớ không phải xã hội; tại mình thích mà! Ở xã hội không phải có một con đường: nó nhiều con đường!

Hỏi chớ, tại sao nhóm người ở đây không chịu sát sanh; mà nhóm người khác ở cách đây một con đường là họ giết người, họ giết thú? Giết thú là cũng như giết người: phần hồn bị giết; đó. Cho nên, mỗi người một cái ý khác nhau, mà chính Địa Ngục để làm gì? Địa Ngục là một cơ hội để cho chúng sinh thức tâm; và đó là cái tình thương tối hậu của Thượng Đế giành cho những linh căn đó: Bởi những phần hồn đó mà không chịu tu, không có Địa Ngục, thì không bao giờ nó có cơ hội ăn năn. Ở thế gian cũng vậy; các con của chúng ta cũng vậy: sanh nó ra mà cha nó giảng, nó không nghe. Khi nó đụng chạm phải rồi, nó thức giác, nó mới chịu ăn năn và nó cho cái đó là xấu; thấy không?

Cho nên, Địa Ngục là một chỗ cứu, chớ không phải chỗ giết: Cái chỗ hành hình đó là cái chỗ cứu; hành hình nhồi quả cho nó có cơ hội thức tâm. Nhưng ngày hôm nay chúng ta làm người đây, chúng ta cũng bị nhồi quả chúng ta mới biết con đường tu này, bị bệnh hoạn nè, bị buồn vui lẫn lộn, làm cho tâm người ta bất ổn,… [16:41]

[Phút 11:19 video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” thiếu 10s so với mp3 ID=19860103Q5 từ phút 16:41 đến 16:51]

… chúng ta mới đi tu. Đó cũng là sự xáo trộn, vày xéo không khác gì ở dưới Địa Ngục.

Ở trên trần gian này cũng có Địa Ngục: nhiều người khổ lắm … [16:51]

[Phút 11:19 video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” lạc vô một câu “đáng lẽ Thượng Đế xóa bỏ…” câu này mp3 ID=19860103Q5 không có (video MP sưu tầm cũng không có câu này) - Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” phút 11:21]

… mà “Không biết tại sao tôi khổ, cứ cảm thấy tôi khổ hoài?” Nhưng mà mình đã làm mình khổ mà không hay! Chừng nào thức tâm, “Chính tôi đã làm tôi khổ; thì tôi mới gỡ rối được.” Cho nên, người tu của chúng ta, càng tu càng thấy tội lỗi, càng tu càng thấy sự sai lầm của chính mình, mới gỡ rối được.

Cho nên, những cái ngục kêu bằng “Không có thể cứu chữa được”, đáng lẽ Thượng Đế xóa bỏ cái phần hồn đó, nhưng mà Thượng Đế cho nó ở ngục A Tì; nó vẫn còn sống để nó tự thức tâm; bởi vì cái phần đó không có thể nào mà cứu chữa được: nó cứng đầu cứng cổ, nó phải ở một chỗ để nó có cơ hội thức tâm; cũng là cái cơ hội cuối cùng để cứu nó, chớ không có giết nó. Thượng Đế không có giết! Hành, mà không giết; đó là lòng đại từ bi của Ngài!

BĐ1: Dạ, xin cám ơn Thầy; con thấy như trường hợp của bà Mạnh Mẫu.

ĐT: Ừ.

: Bả dọn nhà tới ba lần, bởi vì nhiều lần trước đó thì ảnh hưởng của xã hội, ảnh hưởng xấu vào trong tâm của ông Mạnh Tử.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Thì tới cái lần sau cùng, dời nhà gần trường học, thì ông mới đua đòi học hành, mới nên bậc hiền triết.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Thì cái phát triển về tâm linh, cái phát triển tốt cũng như phát triển xấu; con thấy cái phần lớn đó, là cũng ảnh hưởng phần lớn của gia đình và xã hội; thì ví dụ như cá nhân của ông Mạnh Tử mà ổng sống trong cái đám cướp bóc đó, thì chắc chắn là ổng không thể nào phát…ổng cũng theo khuynh hướng về với cái sự cướp bóc đó! Thì như vậy, con thấy rằng, nếu mà Địa Ngục mà muốn đạt được cái kết quả tốt hơn thì thay vì hành hình, phải tạo những cái khung cảnh thuận tiện giúp đỡ cho những người ở thế gian làm sao đó, để tránh được cái tội ác, thì như vậy cái sự cứu độ hay cái sự huấn luyện mới đạt được cái thành quả nó mĩ mãn, và nó hữu hiệu hơn.

ĐT: Cái chuyện của ông Mạnh Tử là nói là cái câu chuyện của một hiền mẫu thương yêu người con. Cái tánh chất người con nó hiền là hiền; có người, nhiều người, nó cũng tham gia vô ăn cướp, nhưng mà nó bỏ dao nó thành Phật; ở trên đường tìm chân lý mà Thượng Đế đã cho đầy đủ thiện duyên cho chúng sanh để tự có cơ hội ăn năn, hối cải; nhưng mà nó không ăn năn, nó đi lại ngược dòng, mà chính nó tạo tội cho nó và nó buộc nó vào trong cái khuôn khổ đó. Cũng như người ta xây dựng tốt, mà nó chỉ có phá hoại thôi! Nhưng mà một ngày nào nó đụng rồi, cũng như ở thế gian này có rất nhiều: gãy tay, gãy chân, ngồi đó nó mới chịu đọc cuốn kinh, còn không nó không đọc cuốn kinh, có năn nỉ, có lạy nó; học từ trong nhà thờ ra nhưng mà lớn rồi nó cũng là lưu manh, nó là lưu manh là lưu manh! Có không? Những người đó có không? Từ nhỏ điêu luyện trong nhà thờ, trong trường dòng, nhưng mà lớn nó vẫn lưu manh. Tôi có nhiều bạn học, tôi học trong trường dòng, tôi biết; khung cảnh đó là tốt lắm, không thế nào mà hư, theo mình thấy, nhưng nó vẫn là hư!

Cái ác ý nó đối xử với bạn cũng vậy, xấu vô cùng; rồi lớn nó là một thằng hư, thằng lưu manh; nhưng mà sau rồi nó bị đụng chạm, cái tâm thân nó bất ổn, nó mới đọc lại những cái cuốn kinh của Chúa dạy, lúc đó nó mới đi.

Cho nên, đường lối mà Anh muốn đó, là Thượng Đế đã làm hết rồi, không cách nào hơn, Thượng Đế mới lập cái Địa Ngục mà để giáo dục phần hồn, chớ Thượng Đế không có ngu hơn chúng ta; lập hết rồi! Đầy đủ điều kiện như bà con ở đây, đưa cho tới cái chỗ kêu bằng Thiên Đàng tại thế gian là xứ Úc này, thất nghiệp có tiền gởi tới ăn, chơi; không chịu tu!

Hỏi chớ xã hội này tốt hay là xấu? Xã hội tốt! Họ hưởng cái tốt mà tại sao họ đi làm cái xấu, họ đi đánh lộn, họ đi giết nhau, gây thù hận? Có không? Xã hội này có. Họ tìm xì ke, họ hút cho sướng; có phải cái tội của xã hội? Tại người thích, xã hội mới cung ứng; mà người không thích thì xã hội đâu có cung ứng! Không phải bắt buộc nó hút, không phải bắt buộc nó xài, nhưng mà nó thích, nó tìm, người thích mới làm được. Hỏi chớ, xì ke, kêu tôi với Anh đi hút? Đâu có thích! Nhưng mà người kia nó cứ đâm đầu nó đi hút; mà Anh cản nó cũng đi; nó thích thì nó phải học cái bài đó, rồi nó cũng giải tỏa.

Cho nên, Thượng Đế đã làm nhiều cái khung cảnh rất đẹp, nhiều chỗ hiền triết để độ nhân, nhưng mà chúng sanh nào đâu có học, đâu có chịu; do cái xã hội này ra đời lớn lên là đã có giáo dục rồi, giáo dục của nhà trường đâu có dạy nó làm bậy, nhưng mà lớn nó là lưu manh là lưu manh, không thể nào sửa được; rồi nó phải qua sự đụng chạm của cái bản thân, nó thấy rõ cái nghiệp thân nó, hành động nó bất chánh, nó mới chịu đi vô nhà thờ nghe ông cha giảng, vô chùa nghe ông sư thuyết pháp, nó mới tìm đường tu.

Chớ cái ý muốn của mình không có đúng và cái thực tế của Thượng Đế đã làm đầy đủ tất cả chúng sanh chỉ học trong cái định mệnh; làm người thì sống trong cái định mệnh nghèo khổ, vui buồn đó mà lần lượt để thức tâm, đã sắp đặt hết rồi! Không có cái sự mà để cho người thế gian phê phán đâu! Cuối cùng là Địa Ngục, để cứu độ chúng sanh trở về luân hồi, và làm con thú để hy sinh, hoặc có cơ duyên làm con người mà không thức tâm thì bị đọa trở lộn lại rồi mới là ăn năn.

BĐ4: Kính thưa thầy, khi mà tâm bắt đầu thức thì Địa Ngục không còn là chốn cực hình, là nơi hành hạ; mà là nơi cải huấn, giáo hóa, sửa đổi tánh linh, để ý thức rõ nghiệp quả. Do đó, Địa Ngục là thể hiện sự luân hồi, thực hiện định luật công bằng, định luật nghiệp quả, nằm trong định luật tiến hóa.

Kính thưa thầy, nếu đã nằm trong định luật tiến hóa và đánh thức tánh linh, nhận rõ mình đã sái quấy trong lúc còn sanh tiền, thì kính thưa Thầy: Nếu đã rơi vào Địa Ngục A Tì là nơi giáo huấn, thì đã là vào ngục A Tì, thì không có bao giờ ra, không có bao giờ siêu thoát, thì dù cho tánh linh có ý thức những tội lỗi của mình nhưng không được ra. Thì cái định luật tiến hóa chỗ đó nó sẽ thể hiện ở nơi nào, vì tánh linh đó mãi trong ngục A Tì, ý thức; nếu Ngọc Hoàng Thượng Đế không diệt tánh linh đó thì tánh linh đó ở trong tù còn cực khổ hơn là bị diệt; thì kính thưa Thầy: Không còn có cơ hội hồi sinh, không còn có một cơ hội tiến hóa, thì như vậy định luật tiến hóa sẽ áp dụng chỗ nào khi tánh linh đó ý thức tội lỗi của mình và muốn tu sửa?

ĐT: Cho nên, cái người mà phạm tội đó, nó quá ác và nó làm cho cái tánh linh của nó mất từ khi nó còn ở thế gian. Cho nên, nó bị giam hãm ở nơi đó, nhưng mà nó cũng là công cụ của Thượng Đế, nó cũng là công cụ của Thượng Đế. Mà khi nó được nhồi bao nhiêu năm có sự quy định của Thượng Đế rồi, rồi một lúc nào Thượng Đế sẽ chuyển nó đi một nơi nào cũng làm cái việc đó mà thôi! Nó đời đời, mãi mãi như vậy, nó sẽ làm cái việc đó mà thôi, không có làm cái hơn nữa, không có siêu sinh được và làm cái chuyện hơn, chỉ làm có bấy nhiêu đó thôi, nó cũng là cái công cụ của Thượng Đế. Cho nên Thượng Đế mới lập ra cái ngục A Tì để nuôi dưỡng nó và khi nào nhân sanh thế gian không thể dạy được thì Ngài phải chuyển nó đi dạy chúng sanh, như chúng ta đã học cái bài học này!

Hơi thở sung sướng, thanh nhẹ không muốn hòa hợp, không đoàn kết, tiêu tan hết và để cái người ngu dốt cai trị. Cái đó cũng là cái công cụ của Thượng Đế, rồi mới thức tâm, rồi mới ăn năn, rồi mới chịu ngồi gần nhau, rồi mới hợp tác, xây dựng cái cơ đồ của Ngài khôi phục! Cho nên, cái gì của Thượng Đế làm đều có quy luật mà đều hữu dụng hết, chớ không phải không hữu dụng! Ngài giam được thì Ngài dùng được, mà không biết ngày nào Ngài dùng.

Những người đó có đem đi đi nữa, rồi họ đi ra trở lại trần gian đi nữa, họ cũng ở trong cái khuôn khổ tù tội; họ đi tù liên miên, liên miên tù tội, tới ngày mà họ lãnh đạo đi nữa họ cũng như một người tù mà thôi! Khổ tới vậy! Cho nên, hành động của những người đó ở trần gian chúng ta đã thấy rồi. Họ đâu có sung sướng, họ đâu có hưởng được cái gì, khổ triền miên, mình họ phải có hoa, phải bông, phải ghẻ, phải đủ thứ hết trọi; rồi tới lúc chết, họ cũng phải đi xuống cái chỗ đó, họ không có phát triển nổi. Nó cũng là công cụ của Thượng Đế để cải tạo những chỗ nào mà Thượng Đế cần thiết, kêu bằng tội đời đời, chung thân đời đời!

[Thầy đọc Phụ Ái, Mẫu Ái]

Hiếu thảo, biết cha biết mẹ, biết trời biết đất, lúc đó đâu còn ma quỷ nữa! Tại sao không còn ma quỷ nữa? Bởi vì cái sự kiện thức của chúng ta càng ngày càng nới rộng và phát triển tới vô cùng sáng suốt, thì đâu còn ma quỷ! Tại sao lại ma quỷ? Nó ở đâu có? Cũng lòng chúng ta mà ra! Vì chúng ta sống trong sự eo hẹp, sân si, giận hờn, ghen ghét. Đó là cái bản tánh ma quỷ đó, bạn ơi!

Nếu mà các bạn vun bồi cái bản tánh ghen ghét, đó là ma quỷ chớ không có gì! Chậm lụt, sân si rồi nghĩ chuyện hại người để cho nó được vui, mà rốt cuộc nó cũng chẳng được! Đó trong sai lầm! Như người ngồi ghế ba chân rồi té cái đụi, lật lúc nào không hay cũng la um xùm nói ta đây này kia kia nọ. Đó là ma quỷ, sân si giành giựt tạo ra cái sự đau khổ cho chính mình mà thôi! Không hiểu được sự quyền năng sẵn có của chính mình và sự phát triển vô cùng tận ở tương lai, lúc đó mới thấy hạnh phúc, chỉ có người tu mới thấy rõ, người chỉ hành khổ, người sống trong khổ, tựa trong chân lý để dẫn dắt mình. Các bạn thấy chân lý là gì? Không thể rờ mó được, không bao giờ ai tiêu diệt nó được vì nó là đời đời sáng suốt!

Nó cho chúng ta có cơ hội dựa nương để tiến hóa nhưng mà chúng ta không hiểu, chúng ta bám víu vào vật chất. Chúng ta bám víu vào những sự nặng trược rồi gây ra nghiệp quả, đau khổ, chết không yên mà sống cũng không vui! Dù tạo ra được cái cơ nghiệp đồ sộ tại thế, nhưng mà cơ nghiệp đó không bền, chính người đã tạo và cả người đã ý thức.

Bây giờ các bạn có mạnh, các bạn có xài bom khinh khí, bom nguyên tử đi nữa, liệng cái đùng, thiên hạ chết hết; nhưng mà rốt cuộc ai đau khổ? Rốt cuộc còn bạn ở đó, rồi bạn cũng phải đảo điên. Bạn thấy bạn là bất chánh. Bạn làm việc không đúng. Bạn gây những sự đau khổ cho mọi người, thì ai đau khổ hơn là người biết mình đã gây sự đau khổ cho người khác.

Cho nên, chúng ta cũng vậy; chúng ta tu, nhiều khi gia đình xảy ra những sự lộn xộn giữa gia đình vợ con, chúng ta có cái ý nghĩ bất chánh để đối phó với cái tình cảnh hiện tại thì người nào đau khổ? Cái người mà đã tạo ra một cái mưu mô ám hại người khác, người đó đau khổ hơn người bị ám hại; vì người bị ám hại không có tâm, không nghĩ tới cái chuyện ám hại người ta thì nó đâu có đau khổ, mà người mưu mô đó là người đau khổ nhứt.

Cho nên, các bạn nhiều khi học hỏi tiến tới chuyên môn đủ thứ, sáng suốt hơn một người nghèo khổ nhưng mà tương đối người nghèo khổ kia lại ít ác hơn. Cái sự suy tư độc ác của những người đã ăn học được một phần sáng suốt dấu kín ở trong đó và hành động bất chánh, vụ lợi cho chính mình, quên tất cả những người hữu ích cho nhân loại, đau khổ ghê lắm!

Có nhiều người ở bên ngoài người ta dòm mặt mũi thông minh, ăn ở hiền hậu mà tại sao người này lại bị cái bịnh nan y như thế này nhưng mà trong tâm nó ác. Các bạn mắt phàm các bạn đâu có thấy cái sự ác độc của nó! Nó lái người xuống hố và đưa người đi tới cái chỗ bị nghẹt và không tiến nổi. Đó là gây tội! Cứ chỉ cho người ta một đường lối cho người ta đi xuống bùn mà không có tiến triển nổi!

Tại sao có nhiều người tu mà lại bị tội? Vì họ không có một phương pháp nào để chỉ cho người khác để tiến triển, rồi họ chỉ giữ một cái đó thôi! Họ nói tôi quảng cáo cái này là chuyện của Phật đã thành công, đường lối của Phật đã làm! Phật dặn như vậy, tôi chỉ làm như vậy! Đó là sự sai lầm các bạn ơi!

Sự tiến triển tâm linh của mọi người đều có trình độ khác nhau; cho nên, các bạn tu về Vô Vi rồi, các bạn Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, đó là tiến triển trong trình độ sẵn có của bạn, các bạn thấy không? Cho nên, tôi nói cái Pháp này là đạo pháp của các bạn. Đạo là quân bình. Bạn mở cái sự quân bình, bạn mới sáng suốt. Bạn mới thấy đường bạn đi! Còn bạn không có mở thì làm sao bạn thấy đường bạn đi, thì bạn chỉ bị kẹt mà thôi!

Cho nên, chúng ta tu về cái pháp này. Đạo của chúng ta, pháp của chúng ta, chúng ta tin nơi khả năng sẵn có của chúng ta và chúng ta khai triển tâm linh của chính chúng ta thì chúng ta mới thấy sáng suốt; mọi trình độ khác nhau thì mọi trình độ đều tiến triển chớ đâu phải bắt buộc lệ thuộc cái pháp này, không có lệ thuộc! Cái pháp này Soi Hồn rồi ổn định thần kinh và mở trược khí bộ đầu; làm Pháp Luân cũng vậy, sáng suốt ngũ tạng và đưa ngũ tạng thăng tiến lên hòa hợp với bộ đầu. Lúc đó là trong cơ quy nhứt tiến triển mới hòa hợp với sự sáng suốt của trung tâm sinh lực của Càn Khôn Vũ Trụ mới tiến tới vô cùng tận, các bạn mới thấy rõ sự công bằng!

Chính người đó tự đạt mới có công bằng; còn mình làm sao tạo sự công bằng cho người khác được! Thượng Đế đã sẵn có sự công bằng, còn người thầy tu làm sao tạo được công bằng! Cho nên, chúng ta phải hành trì rồi chúng ta mới thấy rõ giá trị của một Pháp cho muôn trình độ tiến hóa. Cho nên, các bạn tu rồi, các bạn thấy nay mở một chút, mai mở một chút. Tâm linh của các bạn rõ ràng, sự ổn định về với các bạn rõ ràng; rồi các bạn tự trách móc các bạn thì đó là cơ hội các bạn tiến!

Các bạn thấy rõ bản tánh xấu xa của các bạn, các bạn mới tiến! Minh tâm kiến tánh, không thấy cái tánh của mình làm sao thành đạo? làm sao sửa? Bạn không thấy bạn dơ làm sao bạn đi rửa, bạn chùi, bạn quét, bạn dọn cho nó sạch sẽ, cho nó tốt? Tu là gì? Các bạn thấy các đạo đều ca tụng sự sáng suốt của Trời Phật nhưng mà làm sao để cho mình đạt tới sự sáng suốt? Phải chùi rửa bằng cách nào? Phải gọt rửa bằng cách nào mới đạt tới sự tinh vi? Nó phải có cái pháp, chớ còn các bạn bị kẹt ở trong sự tri kiến eo hẹp đó rồi làm sao các bạn tiến được!

Cho nên, hành trong thanh tịnh thì các bạn mới thấy tiến, còn không hành trong thanh tịnh làm sao tiến, thành ra luôn luôn bị kẹt! Tôi tu hoài, tôi lo tôi tìm tinh tấn cho này, cho kia, cho nọ; nhưng mà tại sao tôi không ổn định. Tôi khổ tâm, cục cựa một chút là tôi thấy tôi khóc than, tôi đau khổ. Đó là vì tôi còn yếu hèn và tôi không có phương pháp nào giải tỏa sự yếu hèn đó.

Cho nên, các bạn tu pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định này rồi các bạn mới thấy các bạn đã xây dựng cho các bạn từ cái yếu hèn đi tới sự dũng cảm, sáng suốt thăng hoa tư tưởng rõ rệt hơn. Cho nên, các bạn càng tu rồi, các bạn sẽ xét, sẽ thấy rõ hơn, an tâm hơn và các bạn xác nhận rằng bao nhiêu năm hành đạo thì tôi được tiến một chút, tôi cũng thấy rõ hơn! Hỏi trước kia tôi cũng hành đạo nhưng mà tôi chẳng thấy tôi tiến. Tôi chỉ ỷ lại nơi Phật thôi, kêu Phật hộ độ tôi, làm việc cho tôi; thì tôi thấy tôi càng có tội nhiều hơn.

Cho nên, các bạn hành thiền rồi, tâm linh các bạn mở, lúc đó các bạn mới thấy giá trị sáng suốt đời đời; chính đức Phật đã đạt và bạn đã và đang đi đến đường sáng suốt và ngộ Phật rõ rệt hơn!

(Lời minh giải của đức Thầy: )

[Khúc này vẫn là lời Thầy đọc cuốn “Phụ Ái, Mẫu Ái”, chưa phải lời minh giải của khóa học này]

[Khúc này mới là lời Thầy minh luận cho cái quẻ mà chị bạn đạo đã bắt]

Thì Chị thấy bắt được cái quẻ này có nói chuyện chị không? Hả? bất hiếu! con bất hiếu thì phải chịu tội bất hiếu; mẹ lo tu thì phải lo tu, không còn lãi nhãi và không còn xin sự phù hộ nữa, đã chỉ rõ cho Chị rồi! bất hiếu thì phải chịu tội bất hiếu, Chị hiểu không? À, còn phần Chị lo tu thì lo tu, trong này dặn kỉ càng, giữ pháp là đại phước .

BĐ5: Dạ, cho xin phép con hỏi một câu hỏi thôi.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Thưa thầy, là câu hỏi này là con dự định hỏi cho một số anh em, chớ không phải riêng cho con.

ĐT: Ừ, cứ hỏi đi.

BĐ5: Là trong cái sự quan sát của con thì con thấy rằng những kẻ mà đầu óc thông minh, học rộng bằng cấp cao, nói chuyện hay, phân tách sâu sắc, lại là những kẻ mà khó tu đạo hơn những người đầu óc bình thường nhưng mà tánh tình trung hậu; thưa Thầy, xin thầy giải thích điểm này.

ĐT: Cái đó tùy duyên phước của mọi người, mình không thể nói vậy được. Bởi vì, mỗi người luân hồi tại thế, mà nhận định chuyện trước mặt, họ nói lý luận hay nhưng mà họ tu không được là vì họ không hành, cái thứ nhứt. Cái thứ nhì, cái phước họ không có đầy, không có dày, từ tiền kiếp không có tu, và Cửu Huyền Thất Tổ không có phước độ cho họ, thành ra họ không có duyên gặp đạo, họ lý luận hay nhưng mà họ không có tu được, không có duyên gặp đạo. Còn những người có duyên phước của Cửu Huyền Thất Tổ, là họ không có nói nhiều nhưng mà họ cứ đâm đầu tu, là họ thành đạo. Cái đó có; phải căn cứ trong cái duyên phước của mỗi cá nhơn.

BĐ5: Như vậy thì cái duyên phước đó là nếu ông bà mình có tu mình mới có?

ĐT: Có, có sự thúc đẩy đó. Cho nên, như các bạn trẻ vậy mà tại sao đi tìm đường tu? Trẻ, người ta nhảy disco; người ta đi tu làm cái gì? Nó có chuyện gì thúc đẩy các Bạn mới đi tu; mà cái thúc đẩy đó các bạn không thấy. À, cái duyên phước của ông bà mình để lại. Còn bây giờ, các bạn tu! Tại sao độ được Cửu Huyền Thất Tổ được siêu sinh? À, ở đây các Bạn tu thì những người bị giam cầm, bà con của ta có cái tội ở dưới Địa Ngục mừng lắm; dòm lại thấy “Con em tôi biết tu; được phước!” Nó làm phước nhiều chừng nào thì nó được cái ảnh hưởng cái luồng điển của các Bạn mới chiếu cho Cửu Huyền Thất Tổ ở bên đó đang bị đọa đày mà thức tâm, tìm đường đi tu, mà nghe Phật pháp lại lọt tai. Ở dưới địa ngục có cuộc giảng chớ, nhưng có người nghe vô, lọt tai, mà người không lọt tai. Cho nên, cái duyên phước nó liên hệ nhau; kẻ sống cũng như người chết, liên hệ với nhau hết thảy. Cho nên, cái phần nào được tu nó thúc đẩy mình, mình đi tìm đường tu. Nhiều người tuổi trẻ mà kêu đi tu là cái chuyện lạ quá! Nói đi chơi thì đúng, chớ mà đi tu thì không đúng; nhưng mà người ta khăng khăng người ta đi tu; người ta không đi chơi. Nó có sự thúc đẩy của bên kia.

BĐ6: Dạ kính thưa Thầy, dạ, trở lại câu chuyện về Địa Ngục thì con có thắc mắc như thế này.

ĐT: Ừ.

BĐ6: Đối với những người, gây tội thì họ phải sa vào Địa Ngục, sa vào A Tì, tức là nơi chốn đó nó có một nơi chốn rõ rệt; nhưng mà đối với bình thường đa số người đời, thí dụ như họ cũng còn ham ăn ham uống, hay là họ chưa có khắc phục những đòi hỏi của giác quan chẳng hạn; thành ra là bị lệ thuộc vào Lục Căn, Lục Trần, thì họ phải sa vào Địa Ngục; phải không? Hay là họ tự sa vào cái Địa Ngục mà họ tự tạo ra?

ĐT: Cho nên, Địa Ngục nó có 10 cửa. Cửa nhẹ, cửa nặng; có thứ kêu “Bằng bất chấp trời đất, bất chấp chúng sanh, quyền năng của ta là hạng nhứt.” Cái thứ đó …

[Hết mp3 ID=19860103Q5 - hóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Thầy Giải "Quẻ" BĐ Chọn - Cuốn 9A. - Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” dừng ở phút 36:07. Video dài 38:11]

--- +++ ---

19860103Q6

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Qủe" Bạn Đạo Chọn - Cuốn 9B

[Mp3 ID# 19860103Q6 thiếu 5s so với video Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” từ phút 36:07 đến 36:12 - Tiếp tục Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” phút 36:12]

ĐT: Cái thứ đó mới là ở Địa Ngục A Tì: nó có từng lớp, cửa nhẹ có, cửa nặng có, tùy theo cái tội trạng; những người bị lôi cuốn bởi Lục Căn, Lục Trần, thì khi chết thì chỉ có đi xuống Địa Ngục thôi: Lục Căn, Lục Trần làm những điều ác, bảo thủ phạm vi hẹp, tăm tối, thì chết ra là hắc bạch không phân minh; theo Lục Căn, Lục Trần, nhiều khi nó bảo mình phải trả thù; trong một kiếp người mình thế nào cũng trả thù mấy cú; cái đó là cái tội rồi, làm cho đối phương điêu đứng.

Hại người ta, thì cái người bị hại đó nó đâu có chết. Chúng ta chết, xuống Địa Ngục, thì người bị hại nó cũng ở Địa Ngục; nó sẽ thưa ta: nó vẫn còn sống. Cho nên, những người tu, biết được cái hồn bất diệt, là không làm điều sái quấy: “Hồn tôi bất diệt, mà tôi làm điều sái quấy, tôi gạt người đó, rồi bữa sau người đó thưa, tôi làm sao? Thưa thì tôi phải bị ở tù!” Thấy không?

Cái Địa Ngục là do chúng sanh muốn làm bậy thì nhập vô cái khối bậy; mà Thượng Đế sắp đặt là luôn luôn đều là tự động, trật tự: người nào tham lam thì buộc vào cái tội nào, tự động vô đó khai hết; là chính cái ý muốn của mình đã làm như vậy; và mình hại người nào thì tự nhiên cái hồ sơ nó hiển hiện trong tâm thức của chúng ta, tự nhiên khai hết.

Cho nên, có người tội nặng thì ở theo nặng, mà nhẹ thì ở theo nhẹ; nhiều người nhẹ người ta chỉ ở có 2, 3 năm người ta được đi tu rồi; người ta đi nghe giảng đạo, được đi tu rồi; người ta nghe hướng về đạo nào thì ở đó người ta kéo đi tu rồi; có người 3 năm, có người 30 năm, có người suốt cả một, mấy ngàn năm, cũng không có được phát triển nhưng mà chỉ có chờ lệnh của Thượng Đế mà làm việc thôi, là công cụ của Ngài mà thôi. [01:59]

[Hết Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (4)” – audio mp3 ID=19860103Q6 dừng ở phút 01:59]

--- +++ ---

[Bắt đầu Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (5)”]

ĐT: Lật ra, chớ không có được lựa; không có được lưa; đó, lật ra; đó; chỗ nào? Bên mặt hay bên trái, muốn? Ờ, vậy nó mới ấy chớ! Còn đứng lựa, đâu có hay!

BĐ1: Lựa không công bằng.

ĐT: Lựa không công bằng.

Tế Phật: Thân con mang đại mệnh phổ độ chúng sinh, ngày nay mới có vinh hạnh nhận lãnh thánh chức, phụng chỉ dạo ba cõi trước tác sách quý, có thể nói là kim cổ kì tài, đảm trách việc độ pháp giống đức Như Lai, vì vậy thầy cùng gánh sứ mệnh này, cho nên thầy trò mới đồng thuyền chung vượt khó khăn. Chỉ mong chúng sinh dưới gầm trời đọc thiên Du Ký này chớ có như kẻ phóng ngựa xem hoa mà phải nhớ kĩ sơ đồ chỉ dẫn để chuẩn bị cho việc lên thăm Thánh cảnh tương lai.

(Lời minh giải của đức Thầy)

Nghe cho kỹ.

[Thầy tiếp tục đọc "Thiên Đàng Du Ký"]

… Bởi vậy “Trăm nghe không bằng một thấy:” phải đích thân thấy cảnh mới có giá trị; còn không, chỉ là xem cảnh qua bản đồ, há chẳng cách biệt nhau quá xa ư? Bữa nay thầy trò mình lên đường đi thăm cảnh giới khác. Đã tới nơi.

Dương Sinh: Phía trước kiến trúc nhiều cung điện trang nghiêm, hùng vĩ vẻ cổ xưa, vàng phủ đầy đất, mây lành trùng trùng, bậc thang lớp lang, kì hoa dị thảo mọc đầy bốn phía ngắm nhìn lòng thư thái lâng lâng.

Tế Phật: Đây là điện phủ Tam Quan, bữa nay phải bái hội đức Thiên Quan Nghiêu Đế trước.

Dương Sinh: Thưa vâng, theo thầy đi lên bậc thang, thân nhẹ như lông không giống như lên thang lầu ở thế gian bước đi cảm thấy nặng nề, không hiểu tại sao?

Tế Phật: Đây là cảnh Địa Chân Không, kẻ không có nghiệp chướng mới lên tới nổi, sở dĩ khi lên tới đây con cảm thấy thân thể nhẹ nhàng là vì giới tiên phong đạo cốt có thể đi lại dễ dàng, thân tâm quả là thanh tịnh, chỉ nhún mình một cái liền băng xa cả ngàn dặm, có thể cưỡi gió đè mây, cất bước nhẹ bay. Thế nhân bình thời cũng phải luyện thứ công phu này, còn không sẽ chẳng nhúc nhích nổi, sẽ bị vô thường bắt buộc đi đường bộ.

Dương Sinh: Lời dạy của ân sư rất cao siêu. Phía trước có một ngôi điện lớn, trên có đề ba chữ “Tử Vi Cung” tức cung Tử Vi, có lẽ là nơi đức Thiên Quan Đại Đế ngự?

Tế Phật: Đó chính là nơi đức Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tích Phúc Thiên Quan Đại Đế ngự, chúng ta mau tới trước làm lễ ra mắt Ngài.

Dương Sinh: Một vị mặc áo rồng vàng ngồi trong điện, đầu đội mũ kim long, tay cầm thẻ thánh chầu trời, dung mạo uy nghi, hai bên còn có rất nhiều các tiên quan y phục chỉnh tề tỏ ý đang chờ nghinh tiếp... Đệ tử Dương Thiện Sinh lạy mừng ra mắt đức Thiên Quan Đại Đế, bữa nay đệ tử theo gót thầy tới đây, kính xin đại đế ban ân phước chỉ dạy cho.

Tiên Quan Đại Đế: Lành thay, từ chốn phàm trần mà Dương Thiện Sinh có thể lên được tới điện Thiên Quan đã là đại phước rồi, há còn cần ban ơn phước nữa sao? Dương Sinh phụng chỉ theo thầy là Tế Phật dạo thăm cõi trời hỏi đạo viết sách, phổ độ chúng sinh, lòng tôi vô cùng hoan hỉ. Tam Tào mở Thánh hội, chư vị Thánh Tiên Phật cùng nghị bàn, đức Dao Trì ban ý chỉ, đức Ngọc Đế ban ngọc chỉ, tam quan chấp thuận bữa nay mới có thể đi suốt ba cõi biên soạn sách trời.

Phàm chúng sinh dưới gầm trời sau khi đọc sách Du Ký có thể cải ác theo thiện, tu đạo lập đức, ắt tam quan có thể ban ân phước giải nguy khốn, trừ oan khiên, cho nên trọng trách mà Dương Sinh đang đảm nhận mới quá lớn lao, bữa nay tới đây quả là cuộc kì ngộ, xin mời ngồi. Tiên Quan, hãy mau dâng trà.

Dương Sinh: Đại Đế quá thương tình, đệ tử vô cùng cảm kích.

Đại Đế: Chớ ngại, ba cõi trong ngoài chỉ có đạo là độc tôn, chỉ cần tu đạo lớn, ra sức thực hành thánh đức, ắt trời người hợp nhất, thánh phàm tương đồng, chớ có e ngại.

(Lời minh giải của đức Thầy)

Nói: “ Thánh phàm tương đồng” là thánh và phàm nhơn tương đồng với nhau

Tế Phật: Xin mạn phép ngồi, Đại Đế đã ra lệnh, lễ phép không bằng tuân theo lệnh của Đại Đế.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã ban ân, đệ tử tuân lệnh xin phép được ngồi. Ngồi xuống ghế cảm giác ban đầu lạnh băng, song lần lần tinh thần thư thái nhẹ nhàng, chẳng rõ vì nguyên nhân gì?

Đại Đế: Đất này là khí của cõi trời chín khí (cửu khí), tất cả đều là bảo vật, Dương Sinh là người phàm, ngồi trên ghế quý, chín khí lưu hành cho nên có cảm giác như vậy.

Dương Sinh: Thì ra nguyên nhân là như vậy, đã ngồi xuống rồi là không muốn đứng lên, tuy không phải là ghế nệm song vẫn thấy êm ái lạ kì.

Đại Đế: Ghế này làm bằng đá quý rất cứng, song khi ngồi lại có cảm giác êm ái là vì nhờ có chân khí vận hành. Đá cứng có đời sống nên còn gọi là đá sống, từ cứng hóa mềm, từ chết sống lại, như kẻ tâm dạ sắt đá cảm hóa được thì lại trở nên hiền lành nhu nhuyễn, sức sống tự nhiên hoạt bát sinh động. Dương Sinh hiện thời ngồi trên đá song người với đá đã hợp làm một, do đó mới có cảm giác như vậy.

Dương Sinh: Thưa tại sao người và đá lại có thể hợp nhất?

Đại Đế: Xương người khi hóa cứng so với đá chẳng khác chi, nên gọi là “hóa đá”. Người chết đất vùi thành đống, cho nên người với đá vốn vẫn như nhau. Giờ Dương Sinh ngồi trên đá, phía trên có “nhân đầu”, phía dưới có “thạch đầu”, cả hai cùng hấp khí cho nên gọi là “hợp nhất”. Phàm những người ngồi yên lặng, dưới hấp khí đất (do đầu đá hút khí lên), trên hấp khí trời (do đầu người hút khí xuống), lâu sau khí dày kết thành đan, sinh ra “thạch tử” tức đá con. Hiện thời lại không giống vậy, vì Dương Sinh ngồi trên trời, dưới hấp thiên khí, trên hấp địa khí đảo điên quay tròn, lẽ siêu diệu chỉ có một mình mình chứng ngộ.

Dương Sinh: Ngồi trên trời ngó xuống đất, thân tuy đảo ngược song tâm lại tự tại, cho nên chân đạp trời đầu đội đất, một điểm hư linh treo ở giữa không trung, muôn trượng biển khổ gội tóc ô uế, thưa có đúng như vậy chăng?

Đại Đế: Đúng như vậy, người phàm chân đạp đất, người tiên chân đạp trời, thánh phàm công phu không giống nhau, kẻ đi trên không (hành vân) chân chẳng chạm đất mới là Tiên Phật, thế nhân có thể như vậy được không? Nếu như có kẻ siêu nhân có được năng lực ấy đã đắc đạo quả, có thể quan sát trái cây chẳng treo lơ lửng giữa không trung sao? Người đời tu luyện công phu, trước tiên coi nhẹ tình dục, còn nếu như không chịu buông bỏ cứ khư khư nắm lấy để trở thành quá trọng tình đa dục, lúc lên đường khí kiệt thở dốc, tới cảnh địa hư không sợ rằng tinh cùng lực kiệt, mê man muốn tắt thở. Buông bỏ tất cả, hai tay áo lộng gió trong, hai bàn tay trống rỗng, tung cánh có thể bay mau, mong chúng sinh hãy lên một tầng lầu, nhìn rõ trời đất, cảm ngộ huyền diệu. Tâm sáng như gương, tính định như thủy, ắt thiên nhãn mở, tâm có thể nhìn thấy tính trời tức là rõ thiên đạo, cưỡi gió đè mây, tự tìm được đường. Mời Dương Thiện Sinh dùng trà.

Dương Sinh: Đại Đế chỉ dạy ít lời song đã giúp đệ tử còn hơn mười năm đọc sách ở thế gian, đệ tử đã nghe thấu lẽ đạo, cảm tạ đức lớn của Đại Đế. Tách trà đặc biệt nơi thượng giới trong suốt tới đáy, cúi nhìn thấy rõ mặt mũi mình nổi trên mặt nước, giống hệt bức hình chụp... Uống xong tuy vô vị nhưng lại cảm thấy sự mát mẻ thấm vào tận tâm can.

Đại Đế: Đó là bản lai diện mục chân chính của Dương Sinh, là tự tính chân nhân (Phật), vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, nay có thể nổi trên mặt nước, đủ chứng tỏ là cao minh chân chính, đi trên mây trên nước tiêu dao tự tại. Trong nước nhìn thấy chân diện mục, miệng uống nước bản tính có thể tẩy trừ được uế khí, khai thông trí tuệ, thông thần nhập chân.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã khai thị, Đại Đế giữ địa vị đứng đầu tam quan, kính xin Đại Đế cho biết lai lịch uyên nguyên cùng tình hình thánh chức ở cõi trời?

Đại Đế: Lành thay, xin lược thuật về lai lịch đạo, để thế nhân được tỏ tường. Thuở ban đầu hỗn độn, huyền hoàng cắt chia rồi sau bắt đầu định trời đất. Lúc đó Ngũ Lão hóa làm tam đế là thiên quan, địa quan, thủy quan để cai quản lo liệu ba cõi trời, đất và nước, tra hỏi công với tội của người hầu định họa phước của chúng sinh.

Tôi là Thượng Nguyên Thiên Quan, Nhất Phẩm Nguyên Dương Huyền Đô, ngự ở giữa cung Tử Vi, trông coi về hành động thiện ác của chúng sinh, cùng nắm quyền thăng giáng chư Tiên, có biệt hiệu là Thượng Nguyên Cửu Khí Tứ Phúc Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân, từng hóa sinh làm Nghiêu Đế. Phàm các tinh tú cùng các bậc cao chân, đạo quả của họ nếu như tiến bộ hoặc thần thánh thuộc cõi trời đất phổ hóa chúng sinh, có công cứu thế phònguy sau khi được tôi coi xét chuyển trình lên Ngọc Đế để ngài căn cứ vào công đức ấy mà thăng cấp cho.

Như các chư tiên thuộc cõi trời, chư thánh thuộc cõi đất không làm tròn bổn phận, hoặc phạm lỗi, sai lầm, sau khi tôi tra xét tỏ tường, liền chuyển báo lên đức Ngọc Đế để giáng chức ngay. Trên đây là nói về thần thánh thuộc cõi trung hạ giới, còn như các vị đắc đạo cao minh, quả vị được vào cõi vô cực, không còn chịu luân hồi thì các vị đó không thuộc sự cai quản ở đây. Còn những nguyên linh thành đạo ở cõi thế gian cũng phải trải qua sự khảo hạch của Tam Quan mới được căn cứ vào công để chứng quả. Phàm nhân thiện ác đều có ghi đầy đủ trong sổ, người đời phải cầu phước tránh xa họa quyết định một trong hai đường thiện ác.

Chúng sinh nếu như vận mệnh muôn việc phần lớn không thuận, kiếp trước lại tạo nghiệp đa đoan, đời này nếu như sám hối trước Thần Thánh, phát nguyện hành thiện, Thiên Quan có thể ban phước cho họ. Nếu như có con hiếu thảo phát nguyện cầu phước thọ cho cha mẹ, lòng hiếu cảm thấu tới trời, thiên quan ắt cũng giáng phước cho người. Tam quan vốn cùng chung một thể chỉ dốc lòng thương người cứu đời, cho nên chuyên ban phước, xá tội, giải nguy, tế độ kẻ hoạn nạn khổ đau, nếu như người đời trên ứng lẽ trời, dưới thuận nhân luân ắt hễ cầu là ứng.

Dương Sinh: Lắng nghe Thiên Quan nói xong mới hay rằng phước họa do người tự chuốc, còn Thiên Quan thì lòng Tiên dạ Phật, dốc lòng ban bố ân phước cho người đời, quả là tâm trời cảm hóa người.

Đại Đế: Trời với người vốn hợp nhất, mong chúng sinh tuân theo lẽ trời, giữ đúng đạo người ắt trời và người hợp nhất, có thể tu tới quả vị cảnh giới vô cực. Bữa nay Dương Sinh tới đây tôi xin hướng dẫn đi thăm để rõ sự tình.

Dương Sinh: Xin vâng, đức Đại Đế tàng trữ quá nhiều án lệnh, việc xét xử chắc là cũng bề bộn lắm!

Đại Đế: Nhân hiện nay người đời thiện ác gần bằng nhau, may mắn là kẻ hồi tâm hướng thiện cũng nhiều, do đó việc xét xử công quả là nhiệm vụ của Thánh trao cho cũng có nhiều kết quả. Song sánh với các miền do các tào khác quản trị thì cơ quan của tôi lãnh nhiệm vụ xét xử tối hậu, cho nên thần lực lớn rộng, không hoảng hốt hoang mang. Dương Thiện Sinh đạo căn thâm hậu, bữa nay tới đây tôi mới tiết lậu một số điểm về thiên cơ, xin mở sổ để Dương Sinh xem.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế.

Đại Đế: Đây là cuốn sổ vàng ghi công quả, lật coi cẩn thận... không được đọc thành tiếng.

Dương Sinh: A, đây là bảng ghi chép công quả của môn sinh tu đạo tại bản đường:

(Lời minh giải của đức Thầy)

Ở đây đề ngày tháng vậy thôi, chớ không có gì. [19:45]

[Phút 17:43 Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (5) bị thiếu 3 phút 16s so với mp3 ID=19860103Q6 từ phút 19:44 đến 23:00]

BĐ1: Cái giờ nghĩ cũng đã tới.

ĐT: Ừ.

(Lời minh giải của đức Thầy)

Cho nên Chị bắt cái quẻ này, Chị thấy phần linh căn có nhẹ và trong giấc mơ cũng đã thấy một vài việc. Cho nên, cố gắng noi theo đó và những lời giảng dạy này và để lo tu tâm, giữ cái tâm, quan trọng! thì cái quẻ này cũng rất tốt cho về phần tu học, đừng có hướng về đời mà phạm tội 1 kỳ nữa.

BĐ1: Con thấy Dương Sinh coi bản án cũng như coi cuốn sổ trời đó.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Xin Thầy cho biết cái chữ trên đó viết dùng cái chữ gì?

ĐT: Chữ là tùy thuộc Anh người Việt Nam Anh đọc chữ Việt Nam chớ có gì đâu!

BĐ1: Dạ, cám ơn Thầy!

ĐT: Nó hiện ra cái đó, nhưng cái đó là mật, không có cho đọc ra ngoài để ngày, ngày vậy chớ không cho đọc ra ngoài; tới giờ nữa hả?

BĐ1: Dạ, xin cảm ơn Thầy!

ĐT: Sao mau quá vậy! chưa nói,

Qua đoạn khác

ĐT: Sao cái máy Melbourne này chiếu cái phim này không được hả?

BĐ2: Nó ra trắng, đen, đó Thầy.

ĐT: Hả? Trắng đen, mà rõ không?

BĐ2: Dạ, rõ, Thầy.

BĐ3: Tại vì tần số màu của cái máy này là 4.43..

ĐT: Ừ.

BĐ3: Cái máy của chị B sử dụng tần số màu là 3.58

ĐT: Của Mỹ mà, máy Mỹ mà!

BĐ3: Cái cũ, cái mới. [21:25]

[1 phút 20s không chép tiếp đoạn Thầy nói chuyện với bạn đạo]

……..

[22:45] Bây giờ chiều nay muốn…Chư Tiên muốn cái gì? Muốn cái gì, chơi cái nấy.

BĐ4: Muốn coi bói đó, Thầy. [23:00]

[Tiếp tục Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (5) - Phút 17:45]

ĐT: Hả? Muốn học Kinh A Di Đà, mà một số người học không nổi, tôi thấy học không nổi, vô không nổi; thôi, bói đi, cho tiếp tục bói đi; chiều nay cho bói luôn đi ha!

(một bạn đạo lên chọn 1 trang trong sách “Mẫu Ái” và Thầy đọc)

ĐT: “Mẫu Ái” nè!

Xét xem con trẻ xôn xao

Mẹ lo chuyển hóa ra vào giúp con

Hành trình đã sẵn đường mòn

Chờ con thực hiện sống còn đến nơi.

“Xét xem con trẻ xôn xao”: Tranh đua đủ thứ, cái gì cũng tham, cái gì cũng muốn.

(Lời minh giải của đức Thầy: ) Học cũng muốn học nhiều, mà không có chỗ chứa đó, a! Nói rồi

“Mẹ lo chuyển hóa ra vào giúp con”: Lúc đó, mẹ luôn luôn ở trong con và ngoài con, lo chuyển hóa để giúp đỡ. Phần điển của mẹ không bao giờ rời con được. Vì là thiêng liêng làm sao rời con được?

“Hành trình đã sẵn đường mòn”, “Chờ con thực hiện sống còn đến nơi”: Cuộc hành trình đã sẵn đường mòn của những người tiền bối đã thành công, cũng như Phật, Chúa ở thế gian, các vị Thiên Tiên đã thành công.

“Chờ con thực hiện sống còn đến nơi”: Để chờ con tự thực hiện, tự khai mở, tự sửa, tự tiến để đến nơi. Sự động loạn của con trẻ là sự lo âu của mẹ hiền, ước mong con sớm thức giác, thực hành cho kịp con tàu tiến hóa của nội tâm. Chiếc tàu tiến hóa không phải một chiếc tàu chực sẵn làm bằng cây, thép, sắt. Không! Nội tâm của chúng ta có cả một chiếc tàu để tiến hóa. Từ trược tới thanh, từ thanh đi tới sự sáng suốt đời đời.

“Xét xem con trẻ xôn xao”: Tranh đua đủ thứ, cái gì cũng tham, cái gì cũng muốn.

Lời minh giải của đức Thầy: Cho nên, chúng ta phải cố gắng dày công sửa mình mới được. Chứ không nên động loạn và thích những cái gì không xứng đáng, để hòa hợp dẫn tiến tâm linh của chúng ta.

Chớ xem ngoại cảnh mà lầm

Trong con có sẵn thậm thâm dịu hòa

Điển thanh thực hiện chơn đà

Hòa cùng vũ trụ chuyển qua muôn tình.

“ Chớ xem ngoại cảnh mà lầm”: Đừng cho ngoại cảnh xâm nhập chúng ta và đừng tán đồng ngoại cảnh mà không tìm cái cảnh có sẵn của nội tâm chúng ta.

“ Trong con có sẵn thậm thâm dịu hòa”: Ở sâu trong đáy lòng của con có những sự dịu hòa. Nếu mình hướng lộn vô và tìm trong thanh tịnh thì thấy rõ.

“Điển thanh thực hiện chơn đà”, “Hòa cùng vũ trụ chuyển qua muôn tình”: muôn tình điển thanh, phải thực hiện chơn đà điển thanh; đó là phát triển và đem tới một đà tiến chơn chánh. “Hòa cùng vũ trụ chuyển qua muôn tình”: Phần thanh điển chuyển hư không, chuyển qua tất cả muôn tình thế, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Sự đẹp xinh của nội tâm sẵn có, chỉ có thực hành thanh tịnh thì tự xem con mà hiểu người.

Vũ trụ là con, con là vũ trụ. Minh rồi mới hiểu vô cùng tận là gì. Sự xinh đẹp của nội tâm, mọi người đều có, mà chúng ta không hướng về nội tâm làm sao có? Lúc đó, chúng ta càng hướng về nội tâm. Càng thấy ta thì càng thấy tất cả những gì của Càn Khôn Vũ Trụ. Chính ta có, chính người có, thì chúng ta mới thấy rằng đi trong đà tiến học hỏi mới là tiến hóa. Còn nếu đi trong đà tiến kích bác, thì không bao giờ có sự tiến hóa. Chúng ta cần học hỏi nhiều hơn, nếu chúng ta không học hỏi thì làm sao mà tiến được?

Mẹ răn mẹ dạy nhớ ghi

Đời con phải học thân thì mới an

Càn Khôn Vũ Trụ luận bàn

Chờ con tiến hóa mở màn tình thương.

Lời minh giải của đức Thầy: Những sự cố gắng và phát nguyện trong nội tâm của con, ngày nay lại được thêm một sự nhắc nhở và đi đúng đường lối phát nguyện của chính con, đúng như vậy không?

BĐ4: (… không nghe rõ câu hỏi)

ĐT: Ừ!

BĐ4: Khi mà bức tượng đàn bà cười rồi, con mới thấy, con quay lại.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì bức tượng đó không còn cười nữa.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Rồi con mới thấy vậy, con bỏ con đi; trên đường con đi thì con thấy thú vật mà nó chết dữ lắm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Mà đường khó khăn dữ lắm.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì cứ đi như vậy thì một hồi con thấy bức tượng đàn bà hiện ra, cái hình đàn bà.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Mà hào quang chói lòa; còn bức tượng đàn ông, hiện ra bức tượng đàn ông thì đi về phía này không nói gì con.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Mà bức tượng đàn bà thì cười với con.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Rồi đi về cái hướng Tây Bắc.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Rồi đi một hồi, thì cười với con mà đi cái hào quang chói lọi, rồi đi về cái hướng Tây

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì con lúc đó, con mới biết mẹ, rồi con mới kêu mẹ, quá cỡ kêu.

ĐT: Ừ, đó là điển của Quan Âm mà;

BĐ4: Cám ơn Thầy!

ĐT: Ngày nay nhắc lại một lần nữa; con hiểu không?

BĐ4: Dạ.

ĐT: Lo tu, ha!

Để đó, rồi lựa đi!

(một bạn đạo lên chọn 1 trang trong cuốn “Phép Xuất Hồn” và Thầy đọc trang đó)

(cười) nói về tình duyên.

Hoàng tiếp:

“Em không hiểu đây là bờ sông Bỉ Ngạn, đã bao năm anh cùng em đã hiểu; em đã nhớ nơi bờ sông Bỉ Ngạn. Thật em mong mỏi, có lẽ là chỗ thích hợp cõi lòng của chúng ta.”

Lời minh giải của đức Thầy:

Chắc duyên sắp đến rồi!

Nguyệt Ánh Hồng cười, cho là chỗ nhứt định tỉnh trí an lòng, nhưng cũng ứa nước mắt khóc buồn tủi phận trung trinh không người an ủi.

Khi Hoàng giựt mình thức dậy, suy nghĩ biết mình chiêm bao, trong đêm nay chiêm bao rất dài có ý mơ duyên là phải, có lẽ gì chiêm bao suốt đêm, đâu có lý.

Khi Hoàng nghĩ xong, kế bữa cơm sớm mai, ăn rồi là đúng trưa, an nghỉ cũng thấy mơ mộng bầu trời quang đãng. Hoàng nằm trên ghế bố thấy đám mây sa trước mặt, có bóng cô Nguyệt Ánh bước đến chào,

Hoàng chào hỏi lại:

“Sao em biết ở đây mà đến?”

“Bao la vũ trụ, chỗ nào là không biết. Khi trước vén mây mờ ám còn được biết, nay rõ căn lại chẳng biết nữa à?”

Hoàng ngớ ngẩn ngó cô rồi nói:

“Đã 216 năm mới gặp lần thứ hai, thời gian qua hai đời con người sao cô nương còn sống?”

Để trả lời nhiều câu ngớ ngẩn quá, mà Hoàng không thấu hiểu được, Hoàng cho rằng, hay là ma quỷ đến đây để nhiễu hại giấc mơ của ta?

“Thôi cô nương chớ buông lời hóm hỉnh nữa.”

Nguyệt Ánh:

“Là em đây! Thật không một ai dám làm một con yêu phá đời vẻ vang của anh đâu. Đây là duyên xưa nghĩa cũ, em đến đây để tiếp chuyện cùng anh. Số là trong lúc buồn thảm, thương mây nhớ gió, không người an ủi trong cuộc đời buồn thảm của em (cười)”.

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Thằng này nó cũng…(cười).. Tới rồi Mày ơi! (cười), tới rồi, tới rồi!

“Nhờ đó em được tu tâm dưỡng tánh quyết bỏ cõi phàm. Em được Đức Quan Âm dạy bảo, nơi anh bắt tay em lúc đó, Ơn Trên đã định cho chúng ta” (cười),

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Tới rồi, tới rồi.

“Gốc Anh là Sao Mai, còn em là Sao Hôm, nên căn kiếp trắc trở” (cười),

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Nói rõ quá mà;

“Trắc trở hơ hỏng, để làm tròn bổn phận số kiếp của con người cùng duyên nợ. Anh cùng em đều đày đọa lao tâm nhọc trí, chúng ta phải làm việc bổn phận mới được chứng quả. Vậy anh nhớ chưa? Nghi ngại chi cho mệt, để trí dưỡng nhàn tốt hơn nghĩ ngợi. Anh cùng em (cười) chung sống trong bầu không khí mát mẻ, non tiên. Chúng ta khỏi nguôi lòng dạ nữa.”

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Thôi, (cười) công chuyện nó cũng tới dần, duyên nợ nó cũng tới; ráng tu thì gặp cô vía mà không tu thì gặp cô đời, cũng bạn đạo thôi (cười)

Rồi; để đó! Vui chớ; cái quẻ này vui thiệt! (cười)

(một bạn đạo lên chọn 1 trang trong quyển Mẫu Ai, và Thầy đọc trang đó)

ĐT: Đâu, ở đâu? a, cũng “Mẫu Ái” nữa.

Thương con mẹ nhớ con hoài

Muốn con tiến hóa tận đài thanh cao

Bình tâm chuyển hóa ra vào

Nơi cao nơi thấp nơi nào cũng minh.

“Thương con mẹ nhớ con hoài”: Tình của mẹ con làm sao ly khai được.

“Muốn con tiến hóa tận đài thanh cao”: Không có người mẹ nào muốn chúng ta làm điều ác, muốn chúng ta thực hiện sự tốt đẹp.

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Đúng, ngày nay Con ra đây tu là đúng rồi.

“ Bình tâm chuyển hóa ra vào”: Chúng ta trong cái bình tâm, bình thản, thì thấy sự thâu thập cũng như sự phóng ra lời nói của chúng ta cũng là ôn tồn, hóa giải.

“ Nơi cao nơi thấp nơi nào cũng minh”: Muốn từ đời qua đạo, chỗ nào cũng được minh. Đời: sự an tâm của người mẹ đối với người con. Người mẹ luôn luôn cầu nguyện, cầu xin bề trên giúp đỡ người con để cho nó được hiểu. Để chi? Để bảo trọng lấy nó và không xảy ra những sự nguy hiểm đến bản thân nó.

Cho nên, người mẹ cao quý, người mẹ luôn luôn thực hiện tình thương trong tâm khảm của Người đối với người con. Trong giấc hôn mê cũng kêu con, gọi con, thương nhớ con. Sự tiến hóa của người con thương yêu cũng như sự tiến hóa của người mẹ, sự cảm mến chuyển hóa ấy không bao giờ xa vắng được. Thương yêu mãi mãi không bao giờ phai.

Tình mẹ và con khó phai lạt. Ngỗ nghịch cách mấy đi nữa cũng biết rằng trong lúc đó con nó nghĩ đến mẹ không nhiều thì ít. Một triệu phần một, nó cũng phải nghĩ, không nói dứt khoát bỏ mẹ được; mà mẹ không bao giờ bỏ con. Mẹ luôn luôn, luôn luôn, luôn luôn đem lại cho con nhiều hơn, mong muốn nhiều hơn để cứu độ con tôi, để giúp con tôi càng ngày càng đạt đến sự thông minh cao đẹp.

Thực hành chơn lý thanh đài

Ngày ngày thanh nhẹ dồi mài không ngưng

Tiến nhanh chuyển hóa không ngừng

Hư không chánh pháp mở từng cảm giao.

“Thực hành chơn lý thanh đài”: Chúng ta thực hành rồi, chúng ta mới thấy chơn lý là sự thanh cao đời đời.

“ Ngày ngày thanh nhẹ dồi mài không ngưng”: Khi mà hiểu được chơn lý, càng theo chơn lý, càng theo sự quân bình sáng suốt sẵn có trong bộ đầu chúng ta.

“ Tiến nhanh chuyển hóa không ngừng”: Khi mà chúng ta hiểu, thông cảm, hòa tan với chơn lý thì tiến nhanh; chuyển hóa không ngừng, luôn theo dõi trong sự sáng suốt sẵn có.

“ Hư không chánh pháp mở từng cảm giao”: Hư không, lấy cái không không mới đo lường vạn sự tại thế, đó là chánh pháp. Mở từng cảm giao: Khai thông và để lấy cái sự không động mới là có sự cảm giao vững chắc được. Nếu chúng ta động làm sao có sự cảm giao được; chúng ta lấy cái không động làm sự cảm giao. Sự thanh cao là sự đời đời của tâm linh, vui trong ổn định, tiến hóa trong nhẹ nhàng; quy về chánh pháp, hào quang chiếu diệu đời đời.

Khi mà chúng ta rõ được hào quang, thì chúng ta thấy rõ ràng, chúng ta thấy những cái gì đang chiếu rọi cho chúng ta có hơi thở, có sự nhẹ nhàng: đó là sự sáng suốt. Sự sáng suốt là do hào quang chuyển hóa; nếu không có hào quang chuyển hóa thì chúng ta không có sự sáng suốt trong tâm tư. Chúng ta cũng có hào quang trong bộ đầu chúng ta. Ta thanh tịnh, chúng ta mới rước được cái hào quang sáng suốt từ bên trên chiếu xuống cho chúng ta. Hào quang đó là hào quang vô cùng tận của Đấng Cha Lành.

“Quan Âm chuyển hóa không rời;

Dìu con tiến tới nơi nơi an toàn”: Luôn luôn giúp đỡ, luôn luôn cứu độ trong tình thương. Hành độngkhông được thì tới rơi lụy để giúp, để cho phần hồn cảm động tiến hóa.

“Bỏ đời qua đạo rõ ràng”, “Thanh cao ổn định mở màn hòa minh”: Để dìu cho chúng ta an toàn từ đời qua đạo; chán ghét thế gian, không muốn trụ lại tại thế gian; rồi lúc đó mới thấy rõ ràng bài học của thế gian đã sắp đặt cho chúng ta. Chúng ta bỏ đời qua đạo.

“Thanh cao ổn định mở màn hòa minh”: Chúng ta thanh cao ổn định mở màn sáng suốt, mở sự ô trược khai thông rồi. Sự ô trược đi rồi mới hòa minh đem sự sáng suốt hòa với sự sáng suốt ở bên trên.

Sự thương yêu vô tận của Đấng Từ Bi cảm động lòng người, giải bày hiếu thảo, hỗ trợ cho tâm linh quy nguyên thiền giác, tự ổn định trong kích động và phản động. Cho nên, cái sự cảm động đó nó dắt chúng ta phải hiền lương, phải thanh tịnh: tự ổn định trong hoàn cảnh sống hiện tại trong kích động và phản động. Nó luôn như vậy; chúng ta hiểu rõ định luật như vậy thì chúng ta mới ổn định được. Nếu không hiểu rõ sự kích động và phản động thì không bao giờ ổn định.

Cho nên, những tâm tư yếu hèn không chịu nổi sự kích động và phản động, cho nên nó phải vun bồi tự ái. Vun bồi tự ái là gì? Là người yếu hèn, chớ không phải là thông. Nếu người anh hùng, là học nhẫn mới khai thong; còn vun bồi tự ái là yếu hèn. Sự yếu hèn đó đem lại sự chậm trễ, mất hẳn sự sáng suốt. Vì sao? Vì bảo vệ sự tăm tối.

(Lời minh giải của đức Thầy: )

Đó, thì cái bài này, mà “Mẫu Ái - 2” này cũng nhắc tình thương của người mẹ hền đang mong con tiến hóa mà chính con đã đi đúng con đường tu hành, cha mẹ vui hết sức. [39:23]

Rồi; còn gì; ai nữa?

[Hết Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (5)- audio mp3 ID=19860103Q6 dừng ở phút 39:23]

--- +++ ---

[Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (6)]

(một bạn đạo khác lên chọn 1 trang trong cuốn “Văn Tự Vô Vi” và Thầy đọc phần đó)

Niết Bàn: Thế gian nghe "Niết Bàn". Chừng nào tôi mới tới Niết Bàn? Trời ơi! Ông Phật ông mới tới Niết Bàn, chớ tôi làm gì có thực tài. Thưa các bạn, các bạn không sửa các bạn làm sao mà các bạn được nhẹ. Người ta nói: “ Tôi đi 747 trên không trung, nó bay ồ ồ nhẹ quá”; mấy người mới nghe qua, nói: “ Trời ơi, chừng nào tôi có tiền tôi mới đi 747?”. Tại sao Thượng Đế lại cho cái sự bất công bình như vậy? cho kẻ có, người không; mà cái thằng có được thì cái thằng đó khổ trước, rồi nó mới được đi; mà các bạn không chịu khổ như nó làm sao các bạn đi được 747, đi được máy bay, thí dụ vậy; thấy không?

Cho nên, mình phải hành trì khổ rồi điêu luyện cho nó quân bình, rồi cái phần hồn xuất ra kêu bằng tự túc, không ỷ lại nơi ai nữa. Cũng như người con cho nó đi học ngày nay nó tự túc sống, nó không đòi hỏi gì của cha mẹ nó nữa, thì nó báo hiếu cho cha mẹ nó. Cho nên, ông Phật là người có hiếu thảo, sửa mình để trở về Niết Bàn tự túc tự sống. Cho nên, Phật chỉ tới Niết Bàn mà thôi, còn muốn học nữa phải trở về với nguồn cội, với Thượng Đế, phải trở về mọi trạng thái, còn Phật ở Niết Bàn có một trạng thái thôi, còn phải học để trở về mọi trạng thái nữa; nó mới thực hiện đại từ bi.

Người ta nói Phật là quan trọng; Phật đâu có gì quan trọng: là một con người có thanh điển, minh, định, hiểu và quân bình tư tưởng thiện ác; minh thiện, minh ác, không xưng “Ta là thiện,” rồi cũng chẳng làm điều ác, chỉ lo tu; trung dung trong tiến hóa mà thôi.

Nợ Đời, Nợ Đạo: Trong cái đời nó có cái đạo. Người phàm vì mắt trược cho nên họ không thấy. Nợ đời là nợ vợ, nợ con, nợ quần áo, đó là nợ đời; mình vay bao nhiêu từ nhỏ đến lớn, bây giờ mình làm để trả lại. Đó là nợ đời. Còn nợ đạo là mình tu, đạt đến sự sáng suốt, có hào quang được bao nhiêu thì mình phải tiến triển lên càng ngày càng nhiều, là để trả lại cho chúng sanh. “Cũng nhờ cái cơm áo này, tôi nhờ sự khắt khe này…”

[Hết mp3 ID=19860103Q6 - hóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Thầy Giải "Qủe" BĐ Chọn - Cuốn 9B]

[Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (6) dừng ở phút 03:00]

19860104Q1 audio mp3 bắt đầu - [Tiếp tục Video ID=19860100L16 – “Rút quẻ kinh điển (6) phút 03:00]

Khóa Huấn Luyện KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Quẻ" BĐ Chọn - Cuốn 10A

ĐT: … Tôi nhờ sự khắt khe này, tôi mới hiểu tôi nhiều hơn. Cho nên người tu khá lên, thì thiếu nợ cả Càn Khôn Vũ Trụ, chứ không phải thiếu nợ cha mẹ không; cho nên, ông Phật cũng thiếu nợ, mà Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng thiếu nợ, đang làm việc trong sáng suốt. Vì vậy mình làm người làm biếng thì bao giờ mới nên?

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Cho nên, Chị tu, mới tu thấy được nhẹ muốn dứt bỏ trần tâm, muốn làm sao đi tới con đường đạo gấp rút. Cái ý trong này thì trong này người ta nhắc phải kiên nhẫn chấp nhận cái hoàn cảnh đó và để tiến tới không nên nôn nóng, thanh tịnh lo tu; rồi, có phải muốn như vậy không? muốn đi nhanh hơn phải không? (cười)

(một bạn đạo lên chọn 1 trang trong Thiên Đàng Du Ký và Thầy đọc phần đó)

Cha! Cô này đi lên Trời chơi; chỗ nào? chỗ nào? Bên này!

Chế nhi bất trước, phóng nhi bất động, xử huyên vô ố, thiệp sự vô não giả, thử thị chân định.

Gò bó mà không trói buộc, buông thả mà không động loạn, ồn ào mà không đáng ghét, phiền phức mà không chán nản, đó là chân định.

Lời minh giải của đức Thầy: Bởi vì con nói: con tu hồi nào tới giờ mà tâm con không định thì bây giờ nó nhắc phải làm như vậy; làm như vậy tâm mới định, thấy không?

“Gò bó mà không trói buộc”; tôi thấy tôi đi chơi với người ta [thiếu từ “”] không! tôi không phải ở thế gian, tôi không bị trói buộc, thấy không?

Tôi “buông thả mà không động loạn”; tôi cho nó tự do nhưng mà không theo chiều hướng của họ; tôi là giải thoát, hiểu chưa?

“Ồn ào mà không đáng ghét”; thấy người ta la um sùm nhưng mà tâm tôi vẫn giữ cái thanh tịnh để phán xét những sự ồn ào, thì tôi quý sự ồn ào nhiều hơn; nhờ sự ồn ào đo cái sự thanh tịnh của tôi.

“Phiền phức mà không chán nản”; những chuyện gì phiền phức ở đời, làm bị chủ rầy đồ này kia, kia nọ; hay là bạn bè làm phiền phức nhưng mà mình không chán nản. Đây là bài học để tự tiến, được chọc nhẫn học hòa.

“Đó là chân định” là chân thật định tâm; rồi còn tu cao lên trên thì người ta giảng rằng:

Vắng lặng mà vẫn tỏa sáng

Lời minh giải của đức Thầy: là bộ đầu;

Tỏa sáng mà vẫn vắng lặng, không dùng mà dùng luôn, dùng luôn mà không dùng tức là tới được ngọn nguồn của sự vắng lặng, đó mới là tính định chân thực.

Lời minh giải của đức Thầy: Cho nên, người ta tu, người ta nói: “ Tôi phải làm nghịch tử”; người ta cho tôi ăn, nhưng mà tôi không nói cám ơn, và tôi phải làm sao cho người khác được ăn như tôi đương ăn, thì tôi mới định, thấy không? Đó, cho nên, những người tu chơn chánh họ chỉ làm thinh thôi, nhưng mà họ [thiếu từ “đạt, họ”] trả liền liền mà người thế gian dùng cái miệng môi nói cảm ơn, cám ơn nhiều lắm! nhưng mà không bao giờ trả, quỵt luôn à; còn người đạo, nó không; nó thấy cái người đó làm cao quý quá, ảnh hưởng nó, nó bắt chước và sẽ làm hơn người đó nữa; cho nên, càng tu càng tiến ở chỗ đó.

Bất dĩ thiệp sự vô não, cố cầu đa sự. Bất dĩ xử huyên ố, cưỡng cầu tựu huyên. Không khiến được sự giao tiếp vui vẻ nên sinh lắm chuyện, vì muốn một cách gượng ép nên sinh rối rắm.

Giảng: Thói quen trần trược phải luôn luôn chế ngự nó, không được thả lỏng khiến sinh ra phiền phức.

Lời minh giải của đức Thầy: Cũng như bây giờ con thấy cái áo con đương bận, chê áo xấu, cái đó là cái thói quen không tốt. Áo mình bận, mình chưa thấu hiểu; mình đi mua cái áo khác, là phung phí xài tiền, thì nó tạo ra sự phiền phức cho chính mình chớ không có gì.

Dĩ vô sự vi chân trạch, hữu sự vi ứng tích.

Lấy sự không phiền toái làm nơi trú ngụ đích thực, gặp trở ngại phải giải quyết một cách êm xuôi.

Giảng: Thấy được bản tính hư không vắng lặng mới hết ồn ào phiền toái, và chỉ có nơi đó mới là căn nhà đích thực. Trí huệ sử dụng được hết mức thì gặp trở ngại nào cũng đều qua khỏi nên gọi là “ứng tích” tức ứng hợp đúng cách.

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Con giữ cái phần vắng lặng đó luôn luôn bất cứ ở hoàn cảnh nào, thì không có cái gì kêu bằng thế gian dụ dỗ, không sợ. Thân phận con gái thanh tịnh, mà mình biết mình không phải là người phàm thì không sợ nữa và không có lo âu chuyện đó, lấy thanh tịnh để độ tha, hiểu không? đúng cái con muốn, rắc rối trong tâm, nhiều chàng hỏi quá (cười)

Rồi, bây giờ ai nữa?

(một bạn đạo khác lên chọn 1 đoạn trong Luân Hồi Du Ký và Thầy đọc đoạn đó)

ĐƯỜNG TRẦN THẾ VẪN VỐN TRUÂN CHUYÊN NHIỀU NỖI

CHUỘT HOÀNH HÀNH CUỐI CÙNG GẶP HỌA THẢM THƯƠNG

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 8 tháng 8 năm Tân Dậu (1981)

Thơ

Vi lương khí hậu cận trung thu

Phổ độ thương sinh hựu nhất chu

Du ký thiên thu giai ngọc luật

Dụng tâm nghiên độc đạo cần tu.

Chân cơ diệu lý hiện loan đàn

Thánh đức vô phi cứu thế đan

Tạp chí từ san tu phổ hóa

Gia gia bái độc đắc bình an.

Dịch

Tiết trời êm ả sắp trung thu

Cứu độ nhân gian thực nhiệm mầu

Du ký sách trời ban chánh pháp

Gắng công nghiên cứu đạo chăm tu.

Huyền cơ siêu diệu giáng trần gian

Thánh đức cứu đời quả thuốc tiên

Tạp chí từ bi truyền khắp chốn

Nhà nhà lo đạo được bình an.

Tế Phật: Ngày tháng tựa thoi đưa, một năm trôi qua mau lẹ. Tết trung thu lại trở về, ngoài vườn hoa nở đẹp, trên trời trăng tròn sáng, nhưng còn tâm của chúng sinh tròn hay khuyết? Hoặc lại giống tựa gió thu lùa thổi, khiến lá rụng tơi bời? Đệ tử Thánh Đức Đường đều là những người tu đạo. Tất cả vốn đã gắng công tôi luyện tinh thần, ngày đêm chịu đựng khổ cực, để thực hiện những công tác cứu độ người đời, lòng như trăng sáng, tính giống nước trong. Cầu chúc mọi người minh tâm kiến tánh, đạo nghiệp sáng ngời.

Dương Sinh: Cảm tạ lòng lo lắng của ân sư. Suốt năm năm trời nay, sớm tối được cùng với ân sư giao tiếp với chư vị Thánh Tiên, để hoàn thành nhiệm vụ trước tác hai cuốn sách quý Địa Ngục và Thiên Đàng Du Ký, nhờ vậy trong thời gian này, nguyên linh cùng trí tuệ của con được khai mở vô cùng. Tuy hai cuốn sách được truyền bá khắp thế giới, song con cũng gặp nhiều nguy nan.

Trong những phút giây tĩnh lặng, thường bình tâm tự kiểm thảo, khi đó mới nhận ra rằng, làm người không phải dễ, nhất là người lãnh trách nhiệm lo các công tác giúp ích nhân quần xã hội, đạo cao đức rộng hiếm hoi vô cùng. Bởi vậy nhiều lúc muốn buông bỏ tất cả, trở về ẩn tu, quên mọi việc hồng trần, để tâm hồn được tiêu dao và thanh tịnh. Song nhờ ân huệ trời cao, cùng phước đức ân sư chiếu rọi, nay lại trước tác sách Luân Hồi Du Ký, nhiệm vụ trọng đại, kính xin ân sư ban thêm linh quang trợ lực cho, để con khỏi phụ lòng trời xanh trao phó gánh nặng thiêng liêng.

Tế Phật: Dương Sinh chớ quá lo lắng. Tục ngữ có nói: “Có được xác thân người thì dễ, song làm việc người thì khó” (Sinh hữu nhân thân di, yêu vi nhân sự nan). Đường đời mà mọi người phải trải qua không bằng phẳng, thẳng tắp mà nó gập ghềnh khúc khuỷu rất khó đi. Chúng ta chỉ biết dốc tâm hoàn thành thiên chức để khỏi phụ lòng trời. Dâng trọn nhân, hiến trọn nghĩa, ngồi xe cũ lâu ắt có lúc phải mong bước xuống để đổi xe mới. Người đời gặp gỡ nhau đều là do nhân duyên tựu tán, hợp phân đều do số mệnh định trước.

Chúng ta đang hoàn thành mục đích lý tưởng, người bò lên cao nước chảy xuống thấp. Tiên Phật cứu độ chúng sinh, mây bay bốn biển, há lại chịu chôn chân tại một nơi, ôm cứng một hình tướng nào đó thôi sao? Phải thiên biến vạn hóa mới là diệu pháp vô cực vậy. Tục ngữ nói: “Tranh lý với quân tử, chớ tranh khí cùng tiểu nhân” (Dữ quân tử tranh lý, vật dữ tiểu nhân tranh khí). Đường đi mới, sứ mệnh mới. Gà vàng gáy vang, ba cõi thái hòa. Thánh đức ứng vận ra đời, hào quang tỏa chiếu muôn nơi. Thầy trò mình hãy khởi hành.

Dương Sinh: Thưa ân sư, bữa nay mình đi đâu?

Tế Phật: Tới Bình Đông phỏng vấn đám chuột.

Dương Sinh: Xin tuân lệnh, con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

Tế Phật: Đã tới nơi.

Dương Sinh: Thưa, bữa nay tại sao ân sư lại đậu xuống nóc nhà người ta? Nơi đây hình như là chốn hương thôn nhưng nhà cửa lại xây cất bằng gạch ngói, chủ nhân lại có cả truyền hình để coi.

Tế Phật: Gia đình họ Lâm đã dùng xong bữa tối, cả nhà đang tụ họp coi truyền hình, chẳng hay biết có hai vị hành giả tới thăm và họ đang ở trên nóc nhà.

Dương Sinh: Ân sư thực khéo pha trò, tính linh của thầy và con tới đây thân nhẹ như mưa, do đó mà họ không thấy. Dạo mát nơi này thật là tuyệt diệu.

Tế Phật: Chẳng phải đến nơi này dạo mát mà là để phỏng vấn đám chuột hiện nằm ở trên trần nhà, chúng không dám động đậy, sợ chủ nhân hay biết. Định thần nhìn sẽ thấy chúng hiện đang ở dưới chân thầy trò mình, chúng đang làm tổ ở đó. Thầy gỡ một miếng ngói ra, con sẽ nhìn thấy chúng.

Dương Sinh: Xin thầy nhẹ tay, rất cẩn thận kẻo chúng biết.

Tế Phật: Con yên tâm, thầy đối phó với chuột hay lắm! Lấy ngói ra rồi, con nhìn thấy không?

Dương Sinh: Quả thực là kỳ diệu, một cái ổ có bốn con chuột trong đó. Chúng nằm yên không nhúc nhích giống như tâm đang lo sợ.

Tế Phật: Chúng nằm đó đợi tới canh khuya mới bò ra lùng kiếm đồ ăn. “Chuột ơi, mi nằm đó để đợi gì vậy? Trộm lớn không làm được, chỉ chuyện lén nhặt nhạnh những đồ ăn vụn vặt trong nhà. Bữa nay ta cho các ngươi mấy hạt gạo Bồng Lai, ăn xong tính linh thức giác tới đảo Bồng Lai tu đạo”.

Dương Sinh: Ân sư niệm thần chú, những hạt gạo trắng rơi ngay vào miệng chuột, chúng nhai ngon lành.

Tế Phật: Đó là thực phẩm tiên, chẳng phải bả thuốc độc. Đợi một lát bọn chúng sẽ biến thành chuột thiêng, con có thể phỏng vấn chúng.

Dương Sinh: Ăn xong gạo Bồng Lai, chuột nghẹn ngào muốn khóc, dương đôi mắt tội nghiệp nhìn lên, lúc này chúng có thể mở miệng nói năng.

Tế Phật: Ta là Tế Phật, bữa nay hướng dẫn thánh bút Dương Sinh thuộc Thánh Đức Đường ở Đài Trung tới đây phỏng vấn các ngươi.

Chuột Giáp: Cảm tạ đức Tế Phật đã ban cho chúng con gạo thiêng, cùng xin cảm tạ Dương Sinh. Vừa rồi ăn gạo thiêng xong, một luồng hơi ấm chạy mạnh trong cơ thể, trước phải ngẩng đầu nhìn lên, sau khôi phục lại được ký ức nên thấy rõ tiền kiếp. Những hành vi kiếp trước hiển hiện trước mắt, kính xin đức Tế Phật cứu độ để con được về cõi cực lạc tây phương.

Tế Phật: Mấy hạt gạo Bồng Lai ngươi đã ăn hết rồi, sức của ngươi chỉ có thể bò lên tới nóc nhà. Còn ngươi muốn bò lên tận thiên đàng không nổi vì sức chẳng có bao nhiêu. Mong ngươi kể rõ lại những hành động tội lỗi kiếp trước cho người đời được rõ, để lập công chuộc tội cùng cải đổi lốt chuột như ý mong cầu.

Chuột Giáp: Thưa vâng, song e rằng tả không hết nổi những tội ác khi xưa. Kiếp trước tôi ngụ tại Hương Cảng, không tội ác nào không phạm phải, chẳng lo làm ăn lương thiện, chỉ lo trộm cắp, cướp bóc, lường gạt, nhậu nhẹt, ăn hút. Về sau không đủ tiền hút, bèn nhập băng buôn thuốc phiện lậu, kiếm được rất nhiều tiền, ngoài ra còn cưỡng dâm ba thiếu nữ. Vì sống đời mê muội bất lương như vậy, nên luôn luôn sợ cảnh sát bắt bớ. Sau những ngày sống hoang đàng sa ngã, một bữa nọ nhậu nhẹt say xưa xong, gây sự đánh lộn với người, bị người giết chết, hồn phách tôi bị âm binh áp giải xuống địa ngục, lãnh án mười hai năm khổ sai do Diêm Vương xử.

Mãn án phải đầu thai làm kiếp chuột đã được nửa năm, còn mấy thân quyến tôi kia, kiếp trước cũng hành động ác độc bất nhân. Làm thân chuột đời sống vô cùng mất tự do, ban ngày nằm ngủ, ban đêm mới dám hoạt động, lại còn phải lén lút tránh né, rất sợ cảnh sát, vì chỉ sơ hở một chút liền bị tóm cổ ngay.

Dương Sinh: Ở đây cũng có cảnh sát sao?

Chuột Giáp: Mèo đen cũng giống như cảnh sát giữ nhiệm vụ tuần thám trong nhà để canh chừng thực phẩm, hành tung của chúng tôi nếu như bị phát hiện mất mạng như chơi. Chủ nhân nhà này nuôi một con mèo đen khiến chúng tôi sợ hãi muôn phần. Những khi lấy lén đồ ăn đều kinh hồn tán đởm. Đời sống hiện giờ vô cùng khổ sở, phải chui rúc những chỗ tối tăm mới tạm sống yên thân. Hối hận kiếp trước phạm nhiều tội ác khiến kiếp này chịu cảnh đọa đày thê thảm. Mong người đời chớ phạm vào những lỗi lầm như tôi, để khỏi bị Diêm Vương tống giam nơi cảnh ngục tù đen tối, khổ đau này.

Dương Sinh: Con chuột thứ hai kia có thể kể lại hành động kiếp trước không?

Chuột Ất: Cảm tạ đức Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh, lòng tôi vô cùng bối rối, chẳng biết trình bày cách sao cho được chính xác. Kiếp trước tôi là kẻ sống bằng nghề cờ gian bạc lận, vì có thành tích lâu năm nên trở thành tay giang hồ khét tiếng, mở sòng bài, dùng đủ mọi thủ đoạn gian manh lừa bịp để chiêu dụ con bạc tới đánh. Các thương gia giàu có cùng các gái làng chơi sang trọng lần lượt bị lột sạch tiền bạc, của cải, tán gia bại sản.

Về sau có một chúa đảng du đảng tới bắt đóng hụi chết cho y. Tôi cự tuyệt chẳng chịu nộp tiền. Vì vậy tôi bị hắn truy sát, nên sợ phải dời đi nơi khác. Từ đó đổi tên là đảng Kim Quang chuyên tính chuyện lường gạt, dùng một chàng thanh niên giả vờ muốn tìm bạn gái, rồi đứng làm trung gian kiếm các bà, các cô có nhiều tiền giới thiệu là chàng đó giàu có lắm, khi cá cắn câu, kẻ đứng giữa tha hồ trục lợi. Cuối cùng tôi lại đem ngón nghề cờ gian bạc lận cũ ra lừa gạt phụ nữ. Nhiều kẻ tham bị tôi lột sạch tiền bạc cùng nữ trang.

Một đời chuyên sống nghề lừa gạt, tuy kiếm được nhiều tiền, song cũng ăn nhậu chơi bời hoang phí hết. Thành ra sau một kiếp tỉnh lại cũng chẳng còn chi, chẳng được gì. Tới năm bốn mươi hai tuổi bị ung thư bao tử thác. Sau khi chết âm binh tới áp giải xuống Địa Ngục, chịu đủ thứ hình phạt của thập điện Diêm Vương. Ba tháng trước đây phải đầu thai làm kiếp chuột. Tôi sống tại xó này, thật là khổ sở. Khi ăn thì rình mò lén lút, lỡ thấy bóng mèo đen thì hồn vía lên mây. Biết vậy kiếp trước gắng làm người hiền lương thì đời này đâu đến nỗi phải đày đọa khổ đau đến mức này.

Tế Phật: Kiếp trước không chịu hành động quang minh chính đại, nên kiếp này phải sống chui rúc nơi xó xỉnh tối tăm. Đời trước chuyên lừa đảo kẻ khác để giật tiền giật bạc, gây thù chuốc oán, cạnh tranh giành giựt, nên kiếp này bị mèo theo dõi canh chừng, khiến kiếm miếng ăn thực là khó khăn nguy hiểm. Đã không gắng làm người lương thiện, thì phải vui vẻ làm chuột hiền lành. Trời cao vì biết rõ tính ngươi nên mới chuyển kiếp cho ngươi làm chuột, để ngươi thích ứng cùng hoàn cảnh, hãy tự trách mình chớ có trách người.

Dương Sinh: Thưa ân sư, tại sao lại coi là chuột lớn, mà không coi là chuột con?

Tế Phật: Tuy chúng nhỏ con song quá từng trải, quá lão luyện nên phải coi là chuột lớn. Bọn chúng kiếp trước chuyên ăn người, kiếp này coi là chuột vẫn chứng nào tật nấy, vẫn lấy lén của người để ăn mà sống, chẳng chịu tu tâm sửa tính. Kiếp trước chẳng hiền lành, kiếp sau khó tránh khỏi nguy khốn. Đám chuột này ăn gạo Bồng Lai của ta, hy vọng kiếp tới được lên làm người. Dương Sinh chuẩn bị đi nơi khác để phỏng vấn loài chuột đồng.

Dương Sinh: Thưa ân sư đi tới đâu mới gặp được loài chuột này?

Tế Phật: Đến vùng quê Đại Nam, lên đài sen mau.

Dương Sinh: Thưa ân sư, con đã sẵn sàng.

Tế Phật: Hai thầy trò vừa lên đài sen thì trời bắt đầu đổ mưa, song nước mưa không làm ướt nổi pháp thân. Vì lượng nước đổ xuống nhiều, nên đồng ruộng ngập lụt, hoa màu hư hại, dân lành thống khổ. Ta cảm xúc đọc năm bài thơ với tựa đề là khuyên đời để an ủi:

Thơ:

Quang âm thành dị thệ

Nhất khứ bất trùng lai

Tao thủ không ta thán

Vấn tâm độc cảm hoài

Thiếu niên như quá khách

Mộ cảnh diệc tham ai

Nhược bất tri tu tảo

Uổng tương bạch cốt mai.

Dịch:

Ngày tháng trôi biền biệt

Một đi không trở về

Vò đầu lòng tiếc nuối

Thổn thức dạ u hoài

Tuổi trẻ nay đã mất

Xế chiều giờ thảm thay

Chẳng lo tu sớm sửa

Xương trắng uổng chôn vùi.

Thơ:

Thế sự như xuân mộng

Hoàng lương bất cửu thời

Vô đoan tâm cảm khái

Bất liệu ý hưng bi

Ninh miễn lao khổ số

Nan đào đắc thất kỳ

Minh nhân năng cảm thử

Lập đức tác tư ky

Dịch:

Việc đời như giấc mộng

Phú quý chẳng bền lâu

Vô cớ tâm hưng khởi

Chẳng dè ý chuốc sầu

Thăng trầm nếu tránh được

Cái chết có chừa đâu

Người trẻ hiểu lẽ đó

Ruộng đức lo cày bừa.

Thơ:

Thiên địa nhất nghịch lữ

Nhân sinh nhược thủy lưu

Đông tây thùy dự liệu

Nam bắc bất trường do

Phú quý hoa gian lộ

Vinh hoa thủy thượng âu

Hà tu đồ bách kế

Lao lực cảnh chiêu vưu.

Dịch:

Trời đất vốn không thuận

Kiếp người như nước trôi

Đông tây nào liệu được

Nam bắc chẳng còn hoài

Phú quý sương trên lá

Vinh hoa chim đậu bay

Cho nên lo lắm chuyện

Mệt sức chẳng hay gì.

Thơ:

Khán phá thế tình sự

Tự nhiên vạn lự san

Đã khai danh lợi tỏa

Khiêu xuất sinh tử quan

Thương hải thôi tằng lãng

Cô phong tủng diệp sơn

Trường thành Tần đế diểu

Di thính thủy sàn sàn.

Dịch:

Tình đời thấu tỏ được

Nổi khổ tự tan tành

Đập bể cùm danh lợi

Vượt ngoài cũi tử sinh

Biển xanh sóng lớp lớp

Núi thẳm lớn mông mênh

Mờ mịt thành Vạn Lý

Chỉ nghe nước cuốn quanh.

Thơ:

Sa bàn tàng cẩm tú

Vô tự diệc thành văn

Khấp quỷ kinh hào sĩ

Kính thần phục sứ quân

Hiền năng tham chuyết nhậm

Phụng điểu xuất kê quần

Thành tựu bất phàm khách

Danh thùy bách thế luân.

Dịch:

Đàn cơ giấu gấm vóc

Không chữ cũng thành văn

Quỷ khóc người kinh hãi

Thần mừng và thánh khen

Kẻ hiền cùng dự khán

Chim quý khác gà đàn

Xuất chúng mới nên việc

Tiếng thơm vạn kiếp còn.

Ngâm xong bài thơ khuyên đời thì chúng tôi tới huyện Đài Nam chuẩn bị phỏng vấn chuột ở trong các hang hóc ngoài đồng ruộng, cùng tìm hiểu sự sinh hoạt của chúng.

Dương Sinh: Ruộng ở đây quá trũng.

Tế Phật: Gặp khi mưa lớn ngập đầy nước.

Dương Sinh: Thưa, tìm hang chuột ở đâu?

Tế Phật: Không cần tìm xem chuột ở đâu vì mắt Phật của thầy liếc qua biết ngay chúng hiện ở chỗ nào rồi, bên cạnh đống đá kia chắc chắn có hang chuột.

Dương Sinh: Nhãn lực của ân sư quả là tinh, bên đống đá có hang chuột song con không thấy chuột động đậy.

Tế Phật: Có hai con chuột ẩn sâu trong hang, để thầy ban pháp Phật, chúng ắt bò ra: “Chuột ơi! chuột ơi! Dù ngươi đã ăn đủ loại hoa màu của nhà nông, nhưng chẳng có thứ nào ngon bằng cá tươi, bữa nay ta bắt hai con cá sống tặng ngươi, hãy mau ra đây nhận đi còn không ta thả nó thì tiếc lắm đấy”.

Dương Sinh: Ân sư hóa phép, trong tay có liền hai con cá tươi còn nhảy [chép sai, là từ “rãy”] đành đạch, và ném ngay vào miệng hang, chuột ngửi thấy mùi tanh, hai mắt lấm la lấm lét nhìn, con nọ nối đuôi con kia bò ra, chúng chỉ ngó mà chưa dám vồ.

Tế Phật: Hai con chuột mật nhỏ kia ơi, thấy cá sống miệng thèm chảy nước miếng song cớ sao còn sợ hãi không dám vồ lấy ăn. Đã dụ được chuột ra khỏi hang, ta thả cá về nước, chỉ cho chuột ăn gạo Bồng Lai để chúng khỏi phạm giới sát sanh. “Nước trong cá hiện, nước đục cá mất, trước mắt chỉ còn thấy gạo tiên Bồng Lai, thôi ăn đi”.

Dương Sinh: Ân sư đọc xong lời chú, hai con cá tự nhiên biến mất, chỉ thấy hai nắm gạo ở miệng hang, hương thơm xông vào mũi, chuột thèm quá liền ăn lấy ăn để. Lông chúng ướt đẫm, bụng chúng đói meo.

Tế Phật: Mưa lớn mấy ngày liền, ẩn trong hang để tránh mưa, không dám bò ra ngoài kiếm đồ ăn, do đó bụng đói cồn cào, giờ ăn no gạo lát nữa chúng sẽ thoát thai hoán cốt phục hồi linh quang, Dương Sinh có thể phỏng vấn.

Dương Sinh: Chuột vội vàng ăn hết hai vốc gạo xong liền mê đi, một phút sau thân động đậy, dần dần tỏ ra khỏe khoắn, có thể mở miệng nói năng.

Chuột Giáp: Cảm ơn hai vị ân nhân đã ban cho tôi thuốc hoàn hồn linh diệu.

Tế Phật: Ta là Phật Sống Tế Công, còn người kia là trò ngoan của ta tức thánh bút Dương Sinh thuộc Thánh Đức Đường ở Đài Trung. Hai thầy trò ta phụng chỉ trước tác sách Luân Hồi Du Ký. Bữa nay đặc biệt tới đây phỏng vấn các ngươi. Vừa rồi ta ban gạo tiên, ăn xong các ngươi liền thoát thai hoán cốt, khôi phục linh quang, như vậy là các ngươi có phước lớn. Mong các ngươi hãy thuật rõ lại những hành vi ác đức của kiếp trước cho Dương Sinh hay, để chép vào sách hầu khuyên răn người đời, làm như vậy là các ngươi tạo công chuộc tội, ngày sau có thể chuyển kiếp làm người.

Chuột Giáp: À, thì ra nguyên nhân là như vậy thực quá cảm động. Hồi nãy vợ chồng tôi ở trong hang, đột nhiên ngửi thấy mùi tanh vì bụng đói nên miệng quá thèm, trời mưa lớn mấy bữa liền, hang bị ngập nước. Chúng tôi ở trong hang tưởng là sẽ bị chết vì nước ngập, song may mắn thoát nạn. Đang lúc bị cơn đói rét hàng hạ, lại ngửi thấy mùi cá tươi ngon lành, khiến bụng càng cảm thấy đói hơn, do đó vợ chồng tôi rủ nhau bò ra xem, vừa ló đầu ra ngoài miệng hang thấy ngay hai con cá còn sống đang cựa quậy.

Chúng tôi có chút e dè nên không dám nhào tới vồ lấy ăn. Lát sau cá biến mất lại thấy hai nắm gạo hương thơm xông vào mũi, cầm lòng chẳng đặng, do đó vội vàng ăn lấy ăn để. Suốt đời chưa hề bao giờ được ăn thứ gạo ngon như vậy. Sau khi ăn no đột nhiên thấy thân mình nóng hực, đầu óc mê mẩn có cảm giác nghẹt thở, rồi lần lần cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, nhớ lại được hết những chuyện của kiếp trước, nghe lời pháp của đức Tế Phật dạy mới rõ đó là sự thực.

Tế Phật: Các ngươi bình thường chỉ bò ra khỏi hang, lượm những thức vương vãi của nhà nông ăn, còn loại gạo Bồng Lai ta đã dùng lửa tam muội rang, chỉ để dành cho những ai tu đạo mới được ăn, nên các ngươi nhờ ăn gạo này mà được thoát thai hoán cốt, vậy hãy mau thuật hết lại những chuyện kiếp trước.

Chuột Giáp: Kiếp trước chúng tôi là vợ chồng, lúc còn trẻ đã mở động mại dâm, chuyên dụ dỗ con gái nhà lành vào đường tội lỗi cùng bán gái vị thành niên cho khách làng chơi. Vợ tôi lại vốn là gái vui đâu chầu đấy, hoang đàng hư thân mất nết, còn tôi thì ham ăn biếng làm; thật là xứng đôi vừa lứa nên đã thành duyên chồng vợ, chung sống dưới một mái nhà, cùng mở ngôi hàng buôn phấn bán hương gây ra những tội ác rất ư lịch sử.

Đồng tiền bất lương chẳng giữ được lâu, cuối cùng thân mang bệnh, mới đầu tôi bị trúng gió, tay chân cứng đờ. Vợ tôi ngựa quen đường cũ, đích thân đem thịt mình bán giữa chợ đời để kiếm tiền nuôi miệng cùng mua thuốc men. Cảnh sống ngặt nghèo này kéo dài tới một lúc không chịu đựng nổi thì vợ tôi ngã bệnh nặng, chẳng còn bán mình nổi nữa, cả tinh thần lẫn thể xác đều vô cùng đau đớn. Một bữa cả hai chúng tôi đều uống độc dược quyên sinh, thi thể bị bỏ quên trong căn phòng nhỏ hơn mười ngày đã sình thối người ta mới khám phá ra và đem đi chôn.

Vợ chồng tôi một đời hại người quá nhiều, việc kinh doanh chuyên dùng thủ đoạn gian manh cùng lường gạt tiền bạc của bao kẻ khác, nên phải xin làm kiếp chuột để trả quả muôn phần thê thảm này. Sau khi chết âm binh áp giải xuống địa ngục chịu nhiều hình phạt đớn đau. Song chúng tôi còn phải đầu thai làm chuột ba kiếp liền, trốn chui rút trong các hang nhỏ hẹp tối tăm, không hề thấy ánh mặt trời, nhiều khi còn bị rắn độc xâm nhập, nước lớn tràn vào. Để có thức ăn thường phải lén bò ra khỏi hang thâu lượm thóc lúa, hoặc ngô đậu rơi vãi ngoài đồng một cách rất ư là cực khổ.

Người đời được sống giàu có sung sướng phải tự biết quý trọng giữ gìn cẩn thận, chớ để mất nó, vì hình phạt ở âm phủ khổ cực muôn phân, lại bị chuyển kiếp đầu thai làm loài thú, phải lén lút đánh cắp thực phẩm để ăn, khó mà sống nổi. Chẳng may ăn phải bả của nhà nông, lỡ trúng độc kiếm đâu ra thầy thuốc, chỉ có chết mà thôi. Như vậy đời sống vô cùng bấp bênh, mạng sống hết sức mỏng manh. Người đời sống nơi cửa cao nhà rộng, ăn mặc dư thừa, hoang phí quá nhiều, so sánh với loài chuột quả là khoảng cách giữa vực thẳm cùng trời cao.

Tế Phật: Chuột là loài phá hoại xã hội, chuột đồng phá hoại mùa màng của nhà nông, tục ngữ có câu “Chuột đồng qua đường người người kêu đánh”. Ai bảo các ngươi kiếp trước không ăn ngay ở thẳng, để kiếp này phải chịu quả báo, chỉ nên tự trách mình lầm lỗi. Rất may bữa nay được ta ban gạo tiên kiếp tới đầu thai lên làm người, phải nhớ kỹ là chớ đi đường tối ám quanh co nhỏ hẹp, mới mong tránh khỏi lại bị sa xuống hang này lần nữa.

Chuột Ất: Xin cảm tạ đức Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh, bữa nay đã ban ân huệ cho vợ chồng chúng tôi, những lời vàng ngọc khuyên nhủ đã thấm sâu vào tủy, kiếp sau nguyện lạy Phật tu hành để đền đáp công ơn hai vị. [36:09]

[Hết video ID=19860100L16 – “Rút quẻ Kinh Điển (6)” – audio mp3 ID=19860104Q1 dừng ở phút 36:09]

--- +++ ---

[Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Kết luận và minh giải”]

(Lời minh giải của đức Thầy:)

Thì chúng ta thấy ra đây, cái chuyện tu của Anh Muôn, tu tới ngày nay, muốn mọi người được tu và tâm Anh cũng muốn phổ biến cho mọi người biết rằng: Tu là quan trọng; mà ngày hôm nay lật đúng cái trang này là vạch ra tội của con người. Cho nên chúng ta từ đâu đến đây? Chúng ta là một vị Tiên giáng lâm xuống thế gian qua nhiều trạng thái, vì sự tăm tối mê muội, không… thiếu tinh thần phục vụ mà ham sanh quý tử, cho nên lâm phải cái tội.

Cho nên, ngày nay đọc rõ ràng để thấy cái tội của con người mà chuyển kiếp, chuyển kiếp như vậy, để cho mọi người có cơ hội nghe qua và thức tâm. Chính tay của người tu đã lựa cái trang này và người đó cũng đã thức tâm, cũng thấy lầm lỗi quá khứ của chính mình, rồi muốn cống hiến cho mọi người. Cho nên, trong cuốn băng này mọi người nghe qua nên thức tâm trở về con đường tu, lợi cho chính mình và mức tiến hóa không bị trì trệ.

Rồi, còn ai nữa?

BĐ1: Cái quẻ này dài quá đó Thầy!

ĐT: Bởi vì tôi tình nguyện cho mọi người sai, thì việc gì tôi cũng phải phục vụ hết, không có chối cải; rồi bây giờ muốn nói chuyện gì?

BĐ2: Nói chuyện chơi;

ĐT: Nói chuyện chơi?

BĐ2: Dạ.

ĐT: Chơi hết nổi rồi, thằng cha chuột nó chơi dữ quá; rồi bây giờ nó phải bị ở tù, mà mình dám chơi đâu (cười). Thằng cha chuột là chơi dữ quá rồi, thấy không? đó, mình mới thức tỉnh; không phải là nó làm chứa điếm nó bị tội, nhưng mà nghĩ điều hung ác, khống chế nhân công, ép buộc nhân công, hành hạ nhân công để thụ lợi cho cá nhân, cái đó cũng bị tội. Cái tội đó cũng nặng lắm, mà cái tội đó ở thế gian có thể che mắt, vì luật pháp của thế gian, nó hơ hỏng, nó không có tinh vi như Thiên Đàng; nhưng mà những cái gì chúng ta làm bậy thì Thiên Đàng mà chép là không có sai một li, cho nên lúc đó chúng ta phải bị tội.

Cho nên hiểu được, thức giác được, phải buông bỏ, phải chấp nhận, phải chịu bằng lòng trở về “Không” mới cứu tâm, cứu mạng. Cho nên, chúng sanh vẫn còn trong nhầm lẫn, mà kể cả những người tu cũng nhầm lẫn nữa; tưởng là tôi tu cao, tu giỏi, tôi có địa vị, mọi người phải sợ. Tôi phải khống chế. Tôi phải đè đầu người ta. Tôi phải ràng buộc người ta. Tôi phải bắt công lao người ta đóng góp cho tôi. Rồi tôi phải hạch điều này, hạch điều nọ, làm khổ tâm người ta.

Cho nên chúng ta, cái khối Vô Vi thấy rõ rồi, những hành động đó không có kết quả tương lai cho vị thầy cũng như vị đệ tử. Cho nên, chúng ta là bạn đạo, trao đổi, học hỏi, tiến, sửa, đóng góp; mà đóng góp cho cả Càn Khôn Vũ Trụ, ba cõi chớ không phải một cõi. Chúng ta không làm việc một cõi nữa, vì chúng ta nhớ có ông Trời ở trên đầu không thế nào gạt được. Chúng ta ở phía dưới, chúng ta ngó; thế ông Trời là ông Diêm Vương cũng gạt không được. Mà ở đời có cảnh sát mình cũng khó gạt. Thôi lo tu cho rồi, thấy không? đó!

Cho nên, nhiều người chưa hiểu chơn lý; làm sai, tưởng là tôi hưởng! Không hưởng được đâu các bạn! Không bao giờ các bạn hưởng được cái gì của ông Trời; mà ông Trời chỉ dùng bạn và giúp cho bạn tiến hóa, trong cái khổ, tiến, mới thành đạt, chớ không có cho bạn sướng đâu! Khi bạn sướng bạn phải nhớ cái khổ nhiều hơn. “Sau cái sướng này tôi sẽ khổ nhiều hơn”, thì bạn mới có ăn năn lập tức, chớ đừng tưởng sướng đó là sướng.

Cho nên, tuổi trẻ lớn lên cũng như Anh Minh bây giờ nghĩa là nói: “Chu cha! có duyên rồi, không cóvợ nữa; rồi bây giờ tôi muốn tái giá một lần nữa coi sao”; cái sướng nó làm cái khổ, Anh thấy không! Rồi tới già mới ân hận này kia kia nọ, đủ chuyện hết. Mình biết đạo, mình không đi là mình bị kẹt; mà cái đó là cái cơ cho mình tiến. Trong cái dũng chí thanh tịnh để vượt qua, m à vượt qua được là cứu biết bao nhiêu người; Biết bao nhiêu anh em đang bị lạc trên con đường đó; mà mình không lạc là mình là người sẽ cứu nó ra khỏi. Cho nên, làm một việc có ý nghĩa thì nên làm. Một việc cần thiết thì nên làm.

Cho nên, trong tâm chúng ta phải buông bỏ những sự danh lợi trong nội thức rồi chúng ta không bị rớt, rơi rớt xuống cái dung điểm mà Anh Chuột đang than vãn đây. Chính anh làm cho anh và chính anh buộc tội anh, chớ không có ai buộc tội, không có ông Phật nào buộc tội hết!

Rồi, bây giờ còn muốn nói cái gì nữa?

BĐ4: Chuyện ông Tư có nói: “Nếu mà quyết tâm tu trong 1 năm sẽ chứng nghiệm cái việc phép xuất hồn”, ông Tư nói.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Bây giờ Thầy cho tụi con biết: trong cái thời gian tu tập nước rút của Thầy đó, Thầy ăn cơm chan nước lạnh, Thầy tu; rồi bây giờ tụi con phải…

ĐT: Tôi tu đâu có 7 tháng là tui thấy tui đi chơi rồi; đâu có cái gì mà khó khăn.

BĐ4: Bây giờ hàng ngày tụi con phải làm sao?

ĐT: Nhiều người ăn cơm với nước sôi, nó đi được vậy! nó bất chấp thế gian, nhưng mà phải có điều kiện; bây giờ chuyển qua để biết Thượng Đế nhiều hơn, thì đời đạo song tu, hiểu không? thì phải làm việc phục vụ tận tâm, thì cái thức nó cũng mở à; phục vụ tận tâm, cái gì cũng phải tận tâm thì nó mở à! đừng có so đo, đừng có dựa lý này so đo, dựa lý nọ so đo là không có tiến đâu; còn cái tu kia, ăn cơm với nước sôi hành khổ, đó là tận tâm tu học, cũng tận tâm vậy! tận tâm tu học, nhưng mà điều kiện bây giờ những người ở đây làm sao có khả năng?

Qua đây có căn nhà, mua căn nhà cũng thiếu nợ, tiền đâu mà đóng, phải đi làm! Mà lúc ta đi làm, ta nghĩ ta làm cho Thượng Đế, ta làm cho ông Phật. Ông Phật độ ta thức tâm, ta muốn độ mọi người, cứ việc tận tâm không sao hết! xác này có chết cũng vui, làm đi! tận tâm mới ảnh hưởng người ta được. Ông chủ độc ác cho cách mấy mà gặp người làm công tận tâm cũng ảnh hưởng được ông chủ; phải nhớ cái này! lấy cái thiện, “Minh Vi Thiện” mới cứu đời được. Mình biết rốt cuộc mình làm thiện là mình cứu mình và cứu thiên hạ, thì tự nhiên các bạn đi được chớ có gì đâu.

Cho nên, tôi đã nói tu cái phương pháp này mà làm đúng trong tâm trạng của mình và thực tâm thực tình và thực thà với chính mình, không mượn lý thuyết gì hết, thực hành đi! mỗi đêm thực hành rồi ngày mai tới đâu mình tự sửa lấy mình, thì mình tự quán thông công chuyện của mình, mở mắt cũng đi được, chớ đâu phải nhắm mắt; tại sao, lấy bằng chứng gì mà mở mắt cũng đi được? thì các bạn đã từ ở trên kia xuống đây, mà giáng lâm xuống cái xác phàm, đã làm con thú, đã làm đủ chuyện, bây giờ mới lên đây nè. Thiếu gì người đã làm nhiều chuyện lắm rồi; rồi bây giờ mình lập…

[Hết Mp3 ID=19860104Q1 - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Thầy Giải "Quẻ" BĐ Chọn - Cuốn 10A]

[Video ID=19860100L16 – “Kết luận và minh giải” dừng ở phút 08:22 - Bắt đầu mp3 19860104Q2 thiếu 16s so với Video ID=19860100L16 – “Kết luận và minh giải” từ phút 08:22 đến 08:36]

[Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Kết luận và minh giải” phút 08:36]

Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Thầy Giải "Quẻ" BĐ Chọn - Cuốn 10B

ĐT: Một chút à, một sát na thôi là con thú nó biết nó tiền kiếp làm cái gì rồi. Thì bây giờ chúng ta tu gom điển và liên hệ với điển của chư Phật; hỏi chớ chúng ta có cứu được nhiều người không? chúng ta còn đem được nhiều phần ăn năn cùng đi với ta lên Côn Lôn Sơn lo tu; và trong lúc các bạn thiền đó, người nào nhẹ hơn có thể gom điển các bạn để làm cái tòa sen đem cho những người tiến hóa đi lên; về cõi thiêng liêng, người ta mừng, người ta quý Vô Vi lắm! người ta đóng góp hằng đêm chớ không phải không đâu.

Người nào cố gắng tu thì cái luồng điển của các bạn chiếu rọi lên trung tâm sinh lực Càn Khôn Vũ Trụ, làm việc nhiều lắm chớ không phải là đi chơi đâu! cái kì này là không cho đi chơi, ngay trung tim nhiều hơn; kêu để ý ngay trung tim là để làm việc cấp bách theo cái thiên ý thiên cơ thay đổi sắp tới.

Cho nên, chú ý ngay trung tim. Mọi người chỉ hướng thẳng đó để đi, mà đi lên cao rồi là thấy hết!

Tại sao chúng ta tu ta còn mong muốn nữa? Động loạn nhiều quá! Đã động loạn nhiều quá mà thanh tịnh không giữ, mà còn mong muốn.

“Bây giờ tôi mong muốn làm sao, tôi mong muốn làm sao, tôi muốn bảy tháng tám tháng; nhưng mà cái nghiệp duyên của tôi, tôi tạo nhiều quá. Cái nợ tôi, tôi down tiền, tôi mua cái nhà 25 năm chưa trả xong mà tôi muốn dứt, tôi bỏ nhà đi sao được, tôi mất uy tín không?”

Phải không? Cái đó là của mình, mình thấy rõ ràng.

Cho nên, phải trầm tĩnh lo tu để đi tới. Đó, bởi vì các bạn đã đi từ kiến thức này cho tới kiến thức nọ, các bạn phải nhìn nhận rằng từ ngày biết tu và thực hành Vô Vi các bạn đã bước qua nhiều lãnh vực kiến thức trong nội thức của các bạn rồi. Cái biết ngày hôm nay nó khác hơn cái biết hồi mới bước vào Vô Vi, nhanh lắm! so với đời các bạn tu đạo nào các bạn thấy cũng không có nhanh bằng đạo này, nhanh lắm rồi! Bây giờ đụng tới biết rồi, đụng tới hiểu rồi; thì cái đi đâu có khó khăn! giải xong nghiệp thì nhẹ nhõm đi chớ có cái gì đâu, thấy không?

BĐ1: Bạch Thầy, con tu 22 năm, mà ăn chay 24 năm mà không có kết quả gì.

ĐT: Ăn chay làm sao kết quả được.

BĐ1: Bạch Thầy, tối lần chuỗi hai, 30 xâu.

ĐT: Đâu có; Làm kiểu không!

BĐ1: Mô Phật.

ĐT: Bác học làm kiểu. Bây giờ Bác thấy không? Bác làm kiểu, làm kiểu để cho ông Phật chứng chớ không có tu; mà ngày nay Bác qua đây Bác tu, Bác thấy không!

BĐ1: Mô Phật.

ĐT: Nó khác rồi, nó khác nhiều lắm rồi.

BĐ1: Mô Phật.

ĐT: Chính Bác đã đi một đoạn đường cũng là tu, nhưng mà tu cái đó là bị vì họ làm sao mình đi vậy, chớ không hiểu cái nguyên lý.

BĐ1: Mô Phật.

ĐT: Không biết chuỗi nằm ở đâu! mà phải lấy cái chuỗi tạm để lần; chớ còn ở đây người ta co lưỡi niệm Phật, sau cái xâu chuỗi nó chạy, sáng trưng à! chữ Vạn nó mở ở đây, bàn thờ ngay đây, không có đâu. Cho nên, tới giờ là phải dậy công phu, lo tu! người nào lo tu tinh tấn thì chắc chắn nó phải đúng như vậy, không có sai.

BĐ2: Thưa Thầy, có những người muốn dứt nghiệp một cách nhanh chóng để tu.

ĐT: Không có muốn được Chị ơi.

BĐ2: Đời đạo song tu là một chuyện.

ĐT: Không có muốn được! nói tôi dứt nghiệp, tôi bỏ đi; nhưng mà keo nó vẫn dính trên 5 ngón, 10 ngón tay, không được! phải quán thông, phải gánh vác; như Thượng Đế bây giờ ổng muốn dứt nghiệp này là ông dọn một cái quả Địa Cầu tiêu không còn một mạng, ổng đâu có bỏ được.

BĐ2: Thưa Thầy, trong bạn đạo hoang mang có người khuyên nên nhẫn nhục giữ cho tròn đường đạo.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Nhưng người ta quyết tâm muốn đi tu, cứ giao hết chuyện nhà cửa con cái cho vợ. Bây giờ tôi tu trong vòng một năm như ông Tư nói, rồi tôi đắc pháp thì tôi sẽ ảnh hưởng được bà.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Thì dù bây giờ bà có chửi mắng, bà có đánh đập, bà có liếc dao để kề cổ tôi cũng cứ tu.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Thì như vậy cũng nên khuyến khích người ta, chớ đâu có trách cái Anh đó được, phải không Thầy?

ĐT: Không được, bởi vì cái trách nhiệm. Tôi đã nói rằng kinh nghiệm của những người tu Vô Vi muốn đi gấp đi lên, rồi bữa sau cũng phải trở lại và bắt đầu khởi sự đi lại. Cái luật nó vậy! duyên nghiệp mình gá rồi mình phải lãnh. Chuyện mình làm mình phải chịu; mình bỏ một người gánh không được, phải trách nhiệm là phục vụ đúng theo nguyên ý của chư Phật của Thượng Đế.

Còn ông Thích Ca ổng khác, ông Thích Ca là một ông trong một quốc gia có một ông đi tu như vậy đó thôi; bao nhiêu người nuôi ổng, bao nhiêu người nuôi gia đình ổng. Ổng ăn không hết, không còn lo nữa. Còn đây là mình thiếu trước hụt sau là cái nghiệp của mình chưa chịu giải, làm sao mình bỏ mình đi tu được! mình còn tạo tội, còn lầm lỗi làm sao mình tiến; rồi từ đó nó có thể tạo khùng cho mình nữa.

Còn cái hoàn cảnh của tôi tu khác mà! tôi có một vợ một chồng à, tôi không con cái, không có nợ nần gì hết á! dễ quá mà; thành ra, khi chọn cái xác là bắt tu luôn, từ đó giữ tu luôn nó mở cái hoàn cảnh khác. Nhiều người hoàn cảnh như vậy mà muốn bắt chước như vậy đâu có được, không được đâu! làm rồi cũng bắt trở lại à. Mình tạo ra thì mình hốt chớ không phải người khác hốt, cái luật nó như vậy; chạy đi đâu? mà có vô chùa thì cũng vậy đó thôi!

Cho nên, nhiều ông hồi trước đi làm cũng là thượng tọa đồ này kia; bỏ gia đình bận áo tu, rồi qua gặp tôi tu, ông đó tu cũng khá nói về đạo thì nói hay lắm ai nghe cũng mê, nhưng mà chưa thấy gì hết, chưa đạt cái gì hết, thành ra Ngài phải tu về Vô Vi; mà tu về Vô Vi rồi Ngài phải trở về gánh vác gia đình, thì đâu đó nó được yên ổn trở lại thay vì nó bị cắn rứt. Lúc Ngài ở trong chùa Ngài bị cắn rứt ghê lắm! không yên.

Thì từ ngày Ngài bắt được cái pháp tới Hồ Văn Em, rồi mới tu cái pháp này; tu pháp này rồi Ngài về là dẹp hết, quần áo vàng đồ dẹp hết, bởi vì không có đúng; ông Phật là ổng khổ lắm ổng mới còn cái manh vải đó, bây giờ mình bắt chước mình làm cái miếng vải như ổng có nghĩa lý gì đâu! ổng thức giác rồi ổng không có bận cái đó nữa; và ông mặc đồ thường, ổng đi làm việc, ổng nuôi con ổng thành tài, rồi ông mới thấy rõ đạo trong tâm mà chúng sanh đi sai lầm mà thôi, không nên sai lầm.

Ông Tư cũng nói rằng: Ổng nuôi, một mình ổng mà nuôi 10 người mà; nếu mà ổng không chịu sống trong gia đình mà ổng dứt khoát, ổng bỏ ổng đi tu thì gia đình ổng chết đói rồi! ổng nói rõ mà. Còn tôi đâu có bỏ gia đình đâu, tôi có hai mạng mà tôi còn không bỏ nữa mà (cười)! tôi không bỏ, tôi làm cho tới cùng; chừng nào bà đuổi tôi, tôi mới đi; chớ không tôi cứ ở lì với bà đó, tôi tu à! bà đánh tôi cũng tu à; đó, rồi làm cho gia cang đầy đủ chớ không có thiếu thốn, không phải ngửa tay đi xin tiền họ, không có vụ đó.

BĐ3: Kính thưa Thầy, Thầy cho phép con được nêu một số ý kiến trong cái vấn đề tu học của các con ngày hôm nay.

ĐT: Ừ.

BĐ3: Trong cái bước đường tu học, thì bắt đầu có ý thức. Con nhận thấy cái sự tu học của con người và con không dám nói ở các đạo giáo khác nhưng thường thì người ta hay đi lòng vòng, lòng vòng mà không đi thẳng vào cái vấn đề chính.

ĐT: Ừ.

BĐ3: Và may thay Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí ra đời và được nhờ đức ông Tư dẫn dắt và nhờ Thầy dẫn dắt. Con cảm thấy rằng mình đã nắm vững được kỷ thuật đó để bước thẳng vào đường đạo, để tự nắm vững một cái kỷ thuật thật là khoa học để tháo gỡ cái sự động loạn chính của con người của mình ở trên cái Vũ Trụ này, để tiến bước mà hầu trở về với lại đấng Cha lành. Thì nhận được điều đó, ngày hôm qua chúng con khi nghe Thầy giảng về kinh A Di Đà, đa số anh em chúng con tại đây rất là hân hoan sau khi Thầy đưa ra được cái chìa khóa và mọi người nắm vững cái chìa khóa đó.

Ngày xưa khi bước vào Pháp Lý này, nghe nói điển mọi người rất là hoang mang và hầu như không ai giải thích được thế nào là điển, thì ngày hôm qua Thầy đã hé mở cho chúng con thấy thế nào là điển và điển đó làm sao mà có được, thì vừa cái kĩ thuật vừa hé mở mọi người rất hân hoan thì bỗng nhiên cái ánh sáng đó tắt ngóm liền và ngày hôm nay chúng ta lại đi vòng vòng.

Thành thử ra, con nhận thấy rằng khi nói về điển thì ngày hôm qua Thầy đã dẫn chúng con biết điển đó từ đâu nó ra, nó phát xuất và cấu tạo như thế nào ở trong bản thể của con người, thì chúng con hân hoan chờ đón để được Thầy hướng dẫn và nắm vững cái kỷ thuật đó, hiểu rõ cái kỷ thuật đó và mình tạo cho mình một con đường đi và đồng thời mình cũng có thể mình soi đường được cho những người mới sau này.

Con hi vọng Thầy tiếp tục để hướng dẫn chúng con nắm vững cái kỷ thuật đó một cách chặt chẽ hơn là chúng ta chỉ đi vòng vòng và vọng tưởng những gì xa vời thiếu thực tế, thiếu thực tiễn; để rồi chúng ta trở thành một cái người tu hành mê tín dị đoan. Đó là một điều con hết sức tránh, kính thưa Thầy.

ĐT: Tất cả những cái gì ngày hôm qua là cái chìa khóa trao cho các bạn hết rồi, rốt cuộc là chỉ nắm cái đó mà đi; rồi cái bây giờ là để cho các bạn hiểu rằng điển là gì! thiêng liêng là gì! những cái bói, những cái lật từ trang mà đọc và nghe những cái âm thinh rúng động của tôi để coi thử các bạn đã cảm nhận được cái gì! bài học nó phải có khóa; từ cái này qua cái kia, từ cái kia qua cái nọ để cho hành giả đã học một ngày; rưới biết bao nhiêu điển trong tâm hồn của nó coi thử nó có biết sử dụng không? rồi mới chấm điểm sau, chớ không phải chuyện lòng vòng đâu, đây chuyện có trật tự.

Rồi luôn luôn sẽ mở thêm chớ không bao nhiêu vì trình độ không có; phải cho nó thấy, phải cho nó nắm, cho nó nghĩ, cho nó thức, rồi nó mới trả bài được; còn phải có ngày trả bài chớ! đâu có phải bao nhiêu đây thôi! phải hiểu chỗ này. Tất cả đều là điển, không phải là không có điển; từ giai đoạn một.

Bây giờ các bạn mở băng coi lại phải có điển không, mở tâm mở trí của mọi người ở chỗ nào, khai tâm mở trí và để con người không có chán nản trong khóa học và biết rõ mình phải đi đâu, tội là gì? phước là gì? rồi sau này mình mới trở về địa phương giáo dục người khác, chớ không phải chuyện lòng vòng mà như bạn tưởng đâu, cái đó là còn yếu quá, ráng thanh tịnh đi! để học tiếp rồi ngày mai đây sẽ có dạy thêm.

Hễ chứa được bao nhiêu thì nhét được bấy nhiêu, không chứa được có đổ trên đầu nó nó cũng bỏ, phải hiểu chỗ này. Cho nên, trong một số đông người này không có bao nhiêu người biết đạo pháp, biết điển giới; nhưng mà tôi đã hé mở đó là để tôi dò thử coi có thiện tâm để học và sẽ giao tiếp chớ không có giữ làm gì! cho nên, các bạn đừng có hiểu lầm trong chỗ đó mà lấy cái trần tâm so đo, vì trí độ chưa mở tới. Trí độ mở tới rồi mới thấy quý hóa vô cùng, vừa học bài trong lớp, nó nhiều bài rồi chúng ta mới thi được; chớ không phải một bài rồi tôi ra đăm đăm nói một chiều, rốt cuộc rồi chúng ta không có độ được ai.

Cho nên, trong mấy ngày nay các bạn đã học nhiều lắm rồi! ngồi nghe nghiền ngẫm trở lại, rồi các bạn gặp một người mới tu các bạn sẽ nói chuyện với họ. Mục đích là rèn luyện cán bộ để nói chuyện cho người mới tu; khi người đó có tội chúng ta khuyên ở đoạn nào, khi người đó có phước chúng ta khuyên vào đoạn nào! cho nên, những cuốn sách để trước mặt này đều là hữu ích cho tất cả vạn linh ba cõi, chớ không phải là của một số người u ơ đi long vòng, phải hiểu chỗ này để mà lên tu thức tâm! chớ không phải chuyện lòng vòng đâu! cái bài để học, để sau này thế gian lòng vòng ta làm sao ta độ cho thế gian tiến tới.

Khi người ta bước vô cửa thiền, họ muốn học đạo mà mình không biết đường nói, mà giảng thẳng vô kinh A Di Đà là không ai theo hết đó, nghe không nỗi, không hiểu nỗi. Nhưng mà phải có cái này, cái kia, cái nọ, rồi mới dẫn dắt họ tới. Cho nên, điêu luyện cho những người ở Thiền Đường và giữa bạn đạo và bạn đạo sự mổ xẻ rồi sau này các bạn sẽ ngồi đó thuyết rõ cho người khác nghe, và chỉ đường vạch lôi rõ rệt cái huyền vi ở chỗ nào! mật pháp nằm ở đâu! còn chưa học, còn nhiều chuyện nữa; mới có ba ngày thôi, còn bảy ngày cày nữa mà, chưa tới đâu (cười); nhiều chuyện phải học, chớ không phải bao nhiêu đó đâu mà lấy tâm đời nói, luận đạo sao được!

BĐ3: Con thành thật cám ơn Thầy đã mở cho con cái sự tăm tối mà con không có nhìn thấy.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Thì Thầy nói nếu mà ai trước đây đã đọc kinh A Di Đà rồi thì đã biết; tôi đã đọc kinh A Di Đà 3 lần trong 3 thời điểm khác nhau: 3 năm trước đây, và 6 năm, và bây giờ. Ngày hôm qua, cái đoạn mà chị Phụng lật ra đó thì khi mà ngồi nghe Thầy đọc thì hoàn toàn khác hai ba lần trước đọc kinh A Di Đà; những lần trước đọc như là những cuốn sách thường, nhưng lần này Thầy đọc cái điều tôi cảm thấy khác, rất là khó tả ra.

ĐT: Cho nên, cái khóa này là học điển và đưa hồn về điển giới; nó không phải dễ dạy, nó không phải người thường; có đào, có mổ, có dẫn, có độ, nó không phải là cái chuyện thường. Đó, sau này các bạn sẽ thấy, tới lúc mãn khóa rồi sẽ thấy: Ồ! tôi đã học nhiều, tôi đã biết nhiều. Bây giờ tôi gặp một người chưa tu tôi rất dễ, tôi rất dễ cảm hóa họ và nói cho họ hiểu sự thật là cái gì. Khóa này là dạy cán bộ để độ quần sanh chớ không phải chuyện chơi, không phải chuyện chơi đâu; rồi có ai có gì thắc mắc nữa? sớm mơi giờ nghe cái gì! học được cái gì! óc thì giới hạn, học được cái gì?

BĐ4: Thưa Thầy, cho phép con hỏi một câu.

ĐT: Ừ.

4: Con đi vòng trở lại cái vấn đề hồn và vía; khi mà hồn vía tương hội đó là đã đến Bồng Lai Tiên Cảnh; thế còn những cái phần hồn mà lên trên Côn Lôn Sơn để tu tập thì cái phần vía, thưa Thầy ở đâu?

ĐT: Cái phần mà lên Côn Lôn Sơn tu học là nhiều khi những phần hồn đi lên nhưng mà cái vía nhiều khi bị đọa, đứng ở trên dòm thấy bị hành hạ cũng có nữa. Cho nên, nhiều người người ta xuất ra người ta dòm tại sao tôi bị… đang bị hành hạ dưới Địa Ngục nè, nhưng mà cái hồn ở trên này. Tùy theo cái tội trạng, mà hai người đồng tu là hai người đồng đi.

Cho nên, chúng ta tu cái pháp này gỡ rối cái đó là quan trọng lắm! sau này hồn vía tương hội rồi hai người đồng đi; còn người thường nhiều khi cái hồn có làm phước có tu được nhưng mà cái vía sai lầm, cái vía lúc đó điều khiển và làm cho cái hồn mất thì giờ không có tiến được thì dĩ nhiên cái vía phải bị đọa; đứng ở trên dòm thấy bị đoạ, mà cũng là mình chớ không ai; nhưng mà một thời gian sau ở bên trên tu khá rồi mới tương hội, phải một thời gian sau mới tương hội được.

BĐ4: Xin cảm ơn Thầy.

ĐT: Cho nên, cái duyên ở thế gian; như các bạn xuống thế gian này nè, con trai mới lớn lên thấy người ta có vợ mình không có vợ, “Chừng nào tôi mới có vợ?” là cái bà vía bả đương đi lẩn quẩn đi tìm, chưa gặp đâu; rồi tới hồi nó gặp, cái sao tôi thích cái bà đó, thích cái cô đó; mấy cũng cưới, bất cứ giá nào cũng cưới là nó tới rồi đó! nó đúng ngày đúng giờ nó tới, nó có như vậy đó; cái duyên nó vậy.

Cho nên, tất cả đều đã điêu luyện, điêu luyện rất tinh vi của Thượng Đế; rất tinh vi không có mảy may nào sai lạc hết á. Cho nên, tin Thượng Đế; nhiều người không có thật sự tin Thượng Đế đâu, thấy ông đó ở xa quá! bởi vì Thượng Đế cắt nghĩa là: “ Thượng Đế là con”, nếu mà các bạn tin nơi ra khả năng của bạn, bạn mới thật sự tin Thượng Đế; mà không tin khả năng của bạn không bao giờ bạn với tới được Thượng Đế.

“Thượng Đế là con đó”, Ngài nói vậy! “Cha là con đó”, nói vậy; mà mình nghe còn chưa hiểu mà, thấy không? cái chuyện gần nhất mà chỉ chưa thấy mà nói cái chuyện xa nhất mà làm sao thấy được. Ông Dương Thiện Sinh nhờ ổng tu nhiều kiếp, ổng mới được cơ hội đi đến đó, mà ổng đi tới đó ổng đâu có gặp mặt Thượng Đế, ổng nghe tiếng nói thôi; đi tới Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn ổng chỉ nghe tiếng nói thôi, không gặp được, không phải dễ.

BĐ5: Dạ, thưa Thầy, con cũng trở lại cái vấn đề phần hồn phần vía.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Thì trong trường hợp chúng con đây cũng có số bạn đạo tu thanh tịnh thì cũng thấy được cái phần vía.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà làm thế nào để chúng con phân biệt được đó là vía hay là chỉ là cái mộng mị mà thôi.

ĐT: Cho nên, các bạn đã đọc… rất dễ! có tài liệu của ông Tư để đó; đọc lại cái tài liệu của ông Tư, cái đó không cần hỏi tôi nữa! rất dễ dàng; khi mà bạn là một người tu, ngồi như thế này; cô vía đến thì thấy cô gái đẹp là mình ở trong này không chịu rồi đó phải không? vì mình niệm Nam Mô A Di Đà Phật là mình tu mà đâu có chuyện con gái.

Con gái tới còn niệm Phật nhiều hơn nữa, niệm càng nhiều thấy cô đó cũng càng đứng đó không à, cổ không đi; rồi mình cũng thây kệ, không thèm ngó cổ, rồi cổ cũng không có động tới mình nữa. Cổ khóc, cổ ngồi đó cổ khóc; cổ khóc, mình càng niệm Phật nữa, niệm Phật nữa rồi cổ cũng đi mất, cổ không có trở lại;

Rồi sau một thời gian 5 tháng 6 tháng, cổ trở lại. Lúc đó thì mình thấy rõ hơn và mình thấy rằng: tôi cảm thấy có nhớ nhung. Cổ trở lại cũng như mình ân cần muốn nói chuyện mà trong lúc đó là mình lại quên niệm Phật; nó khác, nó khác rồi, quên niệm Phật, mình thấy; rồi cái cổ lại đi liền, nhớ nhung vô cùng, tại sao cứ nhớ cô đó hoài? nhưng mà mình cũng không biết cái đó là cái gì nữa, rồi mình cũng không tin ông Tư nói không biết phải không?

Rồi tôi cứ niệm Phật lo tu thôi, mỗi đêm mỗi lo công phu nhưng mà công phu xong rồi cũng nhớ cô đó, rồi đi đâu rồi cũng nhớ cô đó; rồi không lâu mới có cơ hội nói chuyện; lúc đó là thật sự chúng ta nghe âm thinh nghe lời nói thanh tao và lý tưởng vô cùng. Một hơi nói của cô đó nó thơm tho và dễ chịu trong tâm hồn của chúng ta còn hơn ta đang niệm Phật, sướng vậy (cười).

Lúc đó chúng ta mới thấy rằng sự thật ông Tư nói không sai. Tôi gặp cô này, nhưng mà bởi vì tôi tu là tôi đã dứt khoát trần tâm, không có vụ vợ mà tôi không kêu “em” làm gì! nhưng mà cổ cứ vẫn xưng “em” mà thôi, cái tánh tôi nó lạ vậy, tôi không có kêu “em” đâu; từ bà Tám tôi không có kêu “em” đâu, tôi kì lắm! không có chịu cái đó, không chịu, không chịu kêu “em”.

BĐ6: Vậy kêu bằng gì?

ĐT: Không có kêu, kêu cái tên thôi! bà Tám hả?

BĐ6: Dạ.

ĐT: Tôi kêu tên vậy thôi, quen vậy rồi! kêu tên; rồi không bao giờ tôi chịu kêu “em”, nhưng mà cô đó cổ luôn luôn cổ xưng “em” lễ độ, tôi hỏi tại sao phải xưng “em”? Bởi vì cô nói: “ Đây là một cái diệu pháp mới kêu bằng “em””, diệu pháp! mình thấy nhẹ chớ hả? cổ nói chữ “em” là một cái diệu pháp ở trần gian đó anh! tại vì anh không có để ý, bởi vì anh không có biết yêu, chê tôi là một người không biết yêu; mà kể cả nghĩa là Kim Thân ở Việt Nam nói: “ Mày chưa có biết yêu, bữa nào tao phải dẫn mày đi tới chỗ yêu mới được! chớ mày chưa biết yêu”. Bởi vậy suốt cả đời, tôi không biết kêu ai là “em” mà, không có chịu cái đó, nói: “Mày không biết yêu”.

Thì cái cô kia cổ nói: “ Anh không biết yêu, đây là diệu pháp ở thế gian”; phải cô nói hay không? mình nghĩ thấm thía. Mấy Anh thường kêu vợ bằng em đó thấy diệu pháp, kêu nó dễ chịu. Mình đi làm về mệt “Em, em cho anh miếng nước”, khỏe quá! phải không? cái diệu pháp! mà chúng ta không có biết đâu; diệu pháp để giáo dục nhân sinh, cổ cắt nghĩa thấm thía lắm!

Cho nên, nhiều câu nói cổ nói rất hay; đáng lẽ phải chào, nhưng mà mình bậc đàn anh không có chào được, ngồi coi sao; nhưng mà chấm điểm hay thiệt. Nhưng mà cổ đố tôi bao nhiêu thì tôi cũng trả lời bấy nhiêu, tới ngày nay tôi cũng chưa có thua cổ đâu; làm gì làm cũng chưa có thua, không lúc nào tôi thua; nói thiệt bây giờ có cổ đây tôi cũng nói vậy, không có thua; muốn đố gì đố, tôi không có thua. Bởi vì tôi là con người cố công tu giải thoát, chớ tôi không có chịu trì trệ, thì bất cứ cái gì tới tôi tôi cũng giải quyết được, không có vụ không giải quyết được.

Cho nên, cổ thách đố nhiều chuyện nhưng mà rốt cuộc cũng phải hàng phục vì thấy cắt nghĩa; hỏi tại sao kì nào anh cắt nghĩa cũng thông? mà chỉ cổ chịu tôi thôi, chớ còn tôi thấy rằng trình độ cổ đang tiến; nhưng mà cổ nói đây là cái sự sắp đặt của Thượng Đế, ngôi thứ có trật tự không thế nào em có quyền vượt ngôi anh được, cái luật. Cổ cho biết đây là luật, không thế nào hơn được.

Cho nên, các bạn tu đừng có sợ cô vía phỉnh các bạn nữa, hết rồi. Cổ mà chịu tu rồi là cổ không có phỉnh nữa, mà cổ không chịu tu là cô phỉnh các bạn đi nhậu nhẹt chơi bời, cổ phỉnh đó! thì chúng ta đã bị phỉnh ở thế gian rồi, ha? bởi vì cổ theo Lục Căn Lục Trần, nó đòi hỏi gì cổ theo nấy. Bây giờ cổ theo Trời cổ theo thiên ý, cổ theo Tiên Thánh, cổ đâu có làm bậy được, thấy chưa? cổ phải xuất ngôn ổn định đàng hoàng.

Cho nên, các bạn cứ tu vậy Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định mà càng ngày mặt mày càng trẻ, mà lời nói càng ngày càng ôn tồn đó là cái vía đã tiến hóa rồi, khác! cô vía thông minh rồi; đối đãi với nhân gian là cô vía nói chuyện thôi. Còn cái thức chánh chơn hồn là của phần hồn không có bị lầm lạc đâu, nhưng mà phải qua hai ba lần thử thách rồi các bạn mới nhận đây là cô vía, đây là vợ tôi; chớ không bao giờ chúng ta người tu Vô Vi mà tin càng, không có tin càng! hai ba lần thử thách rồi mới thấy, mới học.

BĐ6: Bây giờ Thầy có kêu bằng “em” chưa Thầy?

ĐT: Hả? cũng phải kêu chớ, cũng phải kêu.

BĐ7: Thưa Thầy, trong trường hợp nếu mình gặp cô vía không tu bướng bỉnh thì mình phải đối phó?

ĐT: Đâu có bướng bình, nghe Chủ Nhân Ông tu là bả phải tu, làm sao bả bướng bỉnh được; còn Chủ Nhân Ông mà cờ bạc thì bả cờ bạc hơn, chơi bời thì bả chơi bời hơn, Chủ Nhân Ông dạy bả mà. Nó thấp hơn mình một cấp.

BĐ4: Dạ, đêm nay tới đây, Thầy nói rất là siêu diệu và cũng rất là hấp dẫn.

ĐT: Ừ. (cười)

BĐ4: Mở ra cho chúng con một cái vòm trời mới.

ĐT: Ờ.

BĐ4: Vấn đề giữa cái tình cảm thế gian và cái tình cảm của thiêng liêng.

ĐT: Rồi đây Anh sẽ thấy, nó nhiều cái, ông Trời cảnh Trời không có xa Anh chỗ nào hết! nó ở trong này thôi. Nhưng ở ngoài này thì chúng ta muốn tới lúc nào tới, cách có chút xíu mà cứ lôi thôi hoài là tại vì mình động, ráng tu đi! trì kỳ chí đi! anh hùng đi! đi thẳng một đường, thấy không? [28:28]

[Hết video ID=19860100L16 “Kết luận và minh giải”. Video thiếu 2 phút 7s tương ứng với Mp3 ID=19860104Q2 từ phút 28:28 đến 30:35]

BĐ2: Còn phái nữ tu gặp mấy tài tử tới thì làm sao, Thầy?

ĐT: Cũng phải nói chuyện vậy; Trời ơi, phái nữ còn dễ cảm hơn nữa, anh đó đẹp trai mà thông minh. Anh đó đẹp trai mà thông minh lắm, thông minh lắm! chồng của mấy bà thông minh lắm, chớ không phải tầm thường đâu.

BĐ2: Nhưng mà chắc con không chịu phục.

ĐT: Hả? Tự cô không phục, lúc nào cũng phải cao hơn một chút, cái chủ là lúc nào nó cũng phải à! cái gì cái đầu là quan trọng. Ông Trời ổng sắp là có đầu có đuôi, không có thể làm ngang được; phải có đầu có đuôi. Như hồi sớm mơi, hôm qua nay mình học cái đầu, rồi bữa nay mình học cái này cái kia cái nọ nó có đuôi, có đầu có đuôi đàng hoàng; rồi lúc đó mới đi được, thấy không? chớ không phải giỡn đâu! đây là còn xương, cốt, gân, nội bộ đồ rồi cũng phải đọc, phải học hết; ra mới vững vàng người ta đập không đau, nó nhiều chuyện lắm!

BĐ8: Thầy nói vậy phái nữ mà tu là cho chàng thấp quá, vậy thì chàng sợ vợ sao?

ĐT: Hả? Đâu có phải sợ vợ. Chàng là đại diện, đại diện cho nàng; chàng là chịu sóng gió đại diện cho nàng, đâu có phải sợ. Nhưng mà bên trên kêu là kêu cái hồn chớ đâu có kêu cái vía; Thượng Đế kêu cái hồn, phải không? kêu cái hồn chớ đâu có kêu cái vía. Cho nên, cái hồn luôn luôn nó ở trên, cái vía ở dưới.

BĐ4: Chắc Anh Chị không còn điều gì để hỏi thì..

ĐT: Tới chưa?

BĐ4: Hết giờ rồi, Thầy!

ĐT: Hết giờ rồi hả? 9 giờ rưỡi rồi hả? đây con chuột. Nó biến ra các nơi, rồi các nơi nó nghe tới tình trạng con chuột; nó mới dòm nó, "Thôi! mình cũng tu cho rồi!" (cười) "Tôi cố gắng tôi đọc dài một chút." (cười) [30:35]

[Hết mp3 ID=19860104Q2 - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Thầy Giải "Quẻ" BĐ Chọn - Cuốn 10B]

--- +++ ---

[bắt đầu ID#19860104Q3]

KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải "Quẻ" & Giảng Kinh – Cuốn 11A

[Mp3 thiếu 14s đầu so với video ID=19860100L16 “Thuyết giảng kinh - Phần 7” - Bắt đầu video ID=19860100L16 “Thuyết giảng kinh - Phần 7” từ phút 00:14]

(Ông Tám giảng)

Trong các nơi mà những người lập kêu là quẻ, thấy cảnh Địa Ngục, thấy cảnh luân hồi, thấy cảnh duyên nợ, mọi người đều nghe qua thích ứng mọi hoàn cảnh đều có tham dự trong thực tâm; rồi nghĩ gì? Rốt cuộc cũng nghĩ niệm Phật. Cho nên, chúng ta đã học nguyên ý của "Nam Mô A Di Đà Phật" rồi, thì chúng ta phải sử dụng "Nam Mô A Di Đà Phật". Như trong ba ngày, các Bạn đã nghe lọt tai, và thấy rốt cuộc vỏn vẹn chúng ta nắm chìa khóa để mở tất cả những sự gút mắc của đời lẫn đạo; trong đó có chứng minh để cho mọi người thấy rằng tâm trạng của Con người đều có luồng điển: chính tay mình lựa chọn, tính lựa cuốn này, nhưng mà nó ra cuốn kia; hỏi chớ ai dắt chúng ta bỏ tay vào đó?

Cho nên, cái chuyện điển, và cộng đồng học hỏi của tánh chất của một vị Tiên giáng lâm bị đọa, bây giờ học thì bề trên phải giáng lâm để giáo dục từ li từ tí, từ hành động một, và trong một kẽ hở nào cũng có mở hết, không có để cho các Bạn kẹt. Cho nên, chúng ta học kinh A Di Đà phải hướng thượng, phải nghĩ rằng chúng ta không còn phàm tánh nữa, bỏ tất cả trở về với nguyên ý hòa đồng nhiên hậu chúng ta mới thấy rõ cái giềng mối điển quang từ bên trên quang chiếu xuống bộ đầu trung tim của mọi người.

Cho nên, trong ba ngày học hỏi, các Bạn học không ít, trong đó nó cũng có cái đường để dẫn tiến tâm linh của những người mới tu và chưa hiểu tu, cũng hé mở được một chút: cũng từ đoạn này dẫn tới đoạn kia cho nó thấy rõ rằng chơn điển là bất diệt, chính nung nấu trong tâm của nó: nó có thức, nó có hiểu, nó có biết, nó có nhận định, nó có phê phán, rốt cuộc nó phải lui về thanh tịnh; đó là nó trở về với nguyên ý "Nam Mô A Di Đà Phật:" niệm thường niệm, vô biệt niệm.

Hôm nay chúng ta tiếp tục giai đoạn nữa về kinh điển A Di Đà:

Nhứt Thời Phật Tại Xá Vệ Quốc

Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên

Phật gọi: "Di Đà ơi! Ta cho Ngươi một vườn địa đàng có đủ cây cối hoa quả vạn vật là bản thể của ngươi, Ngươi có biết chăng? Thịt Ngươi là đất của trần bởi Cha Mẹ Ngươi ở dưới đất, trần, cấu tạo xác thân này, khi Ngươi chết nó thành đất. Trong vườn của Ngươi có cây cổ thụ lớn cả, là xương sống, chân tay. Nào là gân tợ guồng lưới bao bọc bản thể ngươi. Thịt cùng xương máu, da lông nước là cỏ. Ta phú cho linh hồn Ngươi làm chủ miếng vườn địa đàng này. Ngươi là một linh hồn hay là một vì sao bị phạm tội trên thiên đàng. Nay ta phú thác vườn địa đàng này cho Ngươi giữ lấy, tự tiện làm chủ, không ai được xâm chiếm gọi là ‘Cô Độc Viên.’"

(Ông Tám giảng:)

Tất cả mọi người đang ngồi đây đều có một cái bản thể, có một cái Tiểu Thiên Địa, có một Địa Đàng đầy đủ, không thiếu thốn, mà chính mình làm chủ, mình phải chịu trách nhiệm. Nếu làm chủ không chịu trách nhiệm, thì cái vườn đó sẽ bị người ta xâm chiếm; mà chúng ta chịu trách nhiệm, chúng ta tu, chúng ta ăn năn hối cải tội trạng của chính chúng ta, chúng ta mới hướng thượng và lấy thanh khí điển từ Tam Thập Tam thiên giáng lâm xuống thế gian để hộ độ cho cái địa đàng này được sống động và thức tâm trở về với chơn giác của chính nó. Chính nó làm việc cho nó. “Cô Độc Viên” là nó phải lao động, nó phải làm việc, nó phải giáo dục nội bộ nó, chớ không phải ỷ lại, hướng ngoại và hướng theo Con đường trí thức u ơ và không tiến được; trở lại với chơn giác, sắp lại trật tự sẵn có của chính mình.

Dữ Đại Tì Khưu Tăng Thiên

Nhị Bá Ngũ Thập Nhơn Cu

Di Đà ơi! Trong vườn địa đàng của ngươi, ta đã cho 1.250 nhơn công, mỗi một cơ sở là 250 người, làm việc phụ trợ trong vườn địa đàng này, Ngươi được quyền sai khiến và sắp đặt công ăn việc làm cho chúng nó. Phân ra làm năm sở: Tâm, Can, Tì, Phế, Thận.

(Ông Tám giảng:)

Hỏi chớ các Bạn đã thấy sắp công ăn việc làm nào đâu? Các Bạn đi làm công, bị người ta sắp công ăn việc làm, chớ làm sao các Bạn sắp công việc làm bên trong. Kỳ thật, các Bạn đã sắp công việc làm bên trong: tánh kỳ thị, tánh nghi kỵ, tánh chê khen, ham mê hút thuốc, si mê đủ chuyện. Đó là mình giáo dục bên trong, rồi bên trong nó cứ hướng theo Con đường đó mà nó làm, nó theo những lý giải của Chủ Nhân Ông. Cho nên, chúng ta thấy rằng chúng ta đã sắp đặt công ăn việc làm sái, thì sự phát triển phải sái; mà chúng ta sắp đặt công ăn việc làm chánh, trật tự thì nó sẽ trở về với chánh.

Mỗi cơ sở Ngươi hãy mẫn cán dạy chúng nó làm việc cho sốt sắng, khi Ngươi công phu luyện đạo Pháp lý, thì Ngươi dạy cho nó tu hành luyện đạo như ngươi.

(Ông Tám giảng)

Đó; không có sự độc tài, không nói ta tu thì ta sẽ đánh đổ tất cả mọi người, nhưng ta tu thì mọi người sẽ được tu như ta, thì vạn linh trong đó nó mới theo chúng ta được.

Nếu Ngươi làm đầu, Ngươi hãy tu tùy chức phận của ngươi, ta gia thăng cho linh hồn Ngươi làm chủ, còn những nhơn công của ngươi, Ngươi hãy cắt, đặt công chuyện làm bổn phận của chúng nó cùng giáo huấn chúng nó tu hành luyện đạo, để cứu giúp chúng nó theo tu cùng ngươi. Khi Ngươi được đắc quả, thì nó cũng được làm bực La Hán để làm việc phụ thuộc cho ngươi. Nếu Ngươi không siêng năng tu luyện và để cho chúng nó lười biếng, ta cũng gọi chúng bây là ma, là quỷ quái. Nếu bây thực hành công phu thì ta thăng thưởng. Di Đà ơi! Ngươi có biết chăng? Trong sở tạng trái tim có 250 nhơn công để làm việc những gì Ngươi có biết chăng?

Mỗi sở có năm đoạn để làm việc, sở tâm làm việc 50 người, 10 tên để giúp cho lò lửa điển, 10 tên khác thừa tiếp cho loại kim khí, cũng giao thiệp nơi Phổi của Ngươi, lấy một thứ máu điển đỏ nơi tâm ngươi, còn một thứ nữa, máu điển xanh là phổi của Ngươi, hợp thành hóa học làm tia sáng phát điển lửa màu xanh có chất đỏ. Còn một thứ khác có 50 tên nhơn công để thừa hành làm việc căn bản điển lửa, giao thiệp với lá gan, nó cũng là lửa, trong đấy có củi. Di Đà ơi! Hãy biểu chúng nó thừa tiếp cùng viện trợ cho cơ sở lá gan, tại đây có nhơn công, sở ấy chung nhau để làm việc cho lá gan là một là lò lửa, nóng bức, khó chịu, đồng thời những nhơn công chúng nó vận động thứ lửa đỏ như màu lửa than đước.

Điển này, các Ngươi hãy thừa giúp cho điển xung lên bộ đầu bổ túc cho trí não cùng đôi mắt của Ngươi, và Vị của ngươi, cùng viện trợ cho sở Bao Tử để làm việc, lừa lọc các thứ vật chất, cho tiêu hóa vật thực của bản thể, rồi lấy các chất điển ấy phát lương cho 5 sở cùng 250 nhơn công; và phải vận động cho dân chúng trong vườn địa đàng cơm ăn, áo mặc không được thiếu sót.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên, cái việc làm ở bên trong mà nếu chúng ta không thanh tịnh, trước hết chúng ta không nắm cái chìa khóa “Nam Mô A Di Đà Phật” để lập lại trật tự; cái thức hòa đồng không mở với Càn Khôn Vũ Trụ thì nó ép lại, chúng ta đâu có thấy nhân viên của ta, và chúng ta chỉ sử dụng hạ lệnh bừa bãi. Cho nên, nhiều khi các Bạn ăn, thích ăn, ăn dữ lắm, còn không thích, ăn ít lắm. Rồi trong đó thích cãi thì cũng cãi dữ lắm, thích hơn thua dữ lắm, nhiều chuyện lắm! Cho nên làm cho ta tăm tối; là vì sao? Vì thức hòa đồng bên trong không có nông ra được, thì bên ngoài nó ép vô, động loạn, cho nên tranh cãi một cách vô lý và không cởi mở.

Cho nên, người thế gian đâu có hiểu nhiệm vụ của ta đang làm gì đây? Cho nên những người tu, tu thanh tịnh rồi thấy nhiệm vụ của mình, thấy được tia sáng khai hóa ngũ tạng, thấy nhân viên đầy đủ: nhiều khi các Bạn tham thiền nhắm mắt mà thấy những vị đứng trước mặt mà không nhìn ra ai, không quen biết. Chính nó là nhân viên của chúng ta, chúng ta đã sai khiến nó quá nhiều, động loạn quá nhiều. Ngày nay chúng ta lập trật tự; lấy cái gì để lập trật tự và thống nhứt? Chỉ lấy cái nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật truyền bá tam cõi thì nó mới thống nhứt được.

Cho nên, cái quan trọng là cái chìa khóa “Nam Mô A Di Đà Phật;” trong 3 ngày, nhắc đi nhắc lại, kêu chúng ta học cái đó, là để mượn cái đó và truyền bá cho vạn linh trong cái Tiểu Thiên Địa này, đồng học, đồng tiến như Chủ Nhơn Ông đem cái thức bình đẳng hòa đồng mới khai mở hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ; mới ảnh hưởng chúng sanh, cứu ta và cứu người.

Di Đà ơi! Còn phần Ngươi cũng có lương bổ túc, nào là vật chất hóa thanh khí, để làm việc hàng ngày cho có sức lực bổ túc mọi nơi, nếu thiếu sót thì dân chúng trong nước Ngươi rên siết. Thì sự coi sóc của Con không được siêng năng, phụ lời ta dạy. Phải ráng làm việc cho ưu tú: Sở TÂM và sở CAN là một luồng điển mạnh nhất, Con hãy ráng ra sức công phu ngày đêm cho mẫn cán. Nếu Di Đà chuyên luyện 6 chữ cho sốt sắng thì sẽ được về chốn cũ, có lo chi.

(Ông Tám giảng)

Cho nên, nhắc đi nhắc lại cũng phải sử dụng nguyên ý: đó là chìa khóa để khai minh tâm trạng của chính chúng ta. Cho nên, chúng ta đại phước được biết, được khai mở, được mổ xẻ tất cả những cái gì chúng ta đang có. Ta đang làm chủ mà không biết, thành ra trở nên tăm tối, ngu muội, tranh chấp, hướng ngoại. Kỳ thật chúng ta hướng nội rồi, chúng ta thấy công chuyện bề bộn đã bỏ từ lâu không sắp đặt. Cho nên, ngày hôm nay chúng ta phải tĩnh tâm và sắp đặt, lập lại trật tự, nó mới có sự quân bình của nội thức.

Giai Thị Đại A La Hán

Di Đà ơi! Con ráng tu cho kỹ lưỡng, bền bỉ và tưởng đến ta phải luyện đạo cho siêng năng. Nay ta cho Con được lên ngôi vị Phật, nhưng không còn bao lâu nữa Con mãn hạn tù đày trước kia, do tiền căn hậu quả; hiện nay Con được thức tánh, cố gắng tu đến đây đã gần thành Phật, nhưng Con hãy ráng hoằng hóa chúng sanh, cùng một đám đông người bên Con đây, hãy dìu dắt chúng nó luyện đạo 6 chữ Di Đà chuyên môn của ta, để cho chúng nó đi một đường thẳng rẳng như Con. Nay ta giao phó cho Con 6 chữ Di Đà là nghề chuyên môn của Con công phu luyện đạo.

(Ông Tám giảng)

Cho nên, tu tới Phật đi nữa cũng phải tiếp tục tu; mà trước kia chúng ta tại sao…chúng ta là “Nhơn nhơn giai thành Phật”, trước kia chúng ta là Phật tánh, mà ngày nay chúng ta làm người, chúng ta bị đọa xuống thế gian; chúng ta bị sa đọa, bị đày đọa; cho nên, ngày hôm nay các Bạn tu trì trệ; nói “Ông Tám tu 6 tháng, ổng xuất hồn được, mà tôi tu, tu không được!” Vì chúng ta thấy rằng tiền kiếp chúng ta đã làm sai quá nhiều.

Ngày nay chúng ta chấp nhận cái sự đày đọa này mà nhân mượn cái sự đày đọa này mà học nhẫn hòa để lo tu trì khai triển thì chúng ta cũng đi như người đi trước, chớ không có khó khăn; đừng ngồi ở đó so sánh, và đừng có kêu gọi người khác làm cho ta mà ta không làm: thì làm một vị Phật là có đủ tất cả, muốn gì được nấy thì mới là thành Phật, tự túc, tự tu. Chớ còn nếu mà cái gì cũng nhờ là đâu có phải tu Phật đâu! Tu Phật là phải cố gắng tự tu và sau này tương lai cái gì cũng có.

NAM MÔ là Soi Hồn;

A DI là Pháp Luân Thường Chuyển;

ĐÀ PHẬT là Định Thần.

(Ông Tám giảng)

Hỏi, lấy cái gì chứng minh “NAM MÔ” là Soi Hồn? Khi mà những người thanh tịnh, bộ đầu trống rỗng rồi, nói N...A...M... nó bộc lửa ra, M... Ô... thì bộ đầu nó phát quang ra, trong không mà có, nó định liền, Soi Hồn là định liền;

A DI là Pháp Luân Thường Chuyển, A …DI… là luồng điển nó chuyển ngay chỗ ngực và nó mở ngay chỗ bụng, nó làm một vòng tròn đi trở lên đầu, rồi nó cũng phát quang, nhịp nào cũng phát quang hết;

ĐÀ PHẬT là Định Thần cũng là phát quang nhẹ nhẹ thăng hoa đi lên.

Ta cho Con biết cốt giác tông chỉ nguyên chất luồng điển chánh của nó làm cho Con được có hào quang để được thông minh trí tuệ hơn người trần, cùng trừ những bệnh vi trùng sốt rét của trần. Loài vi trùng này có định luật hiện hành khổ khảo hành tội người trần, nhưng có phạm tội xuống trần mới phải bị chúng nó đàn áp bản thể.

Di Đà ơi! Con thấy chưa? Con tởn chưa? Còn một thứ nữa nơi trong mình Con để làm cho Con mê say, tù đày, bị trần thế nó đánh đập: đó là Lục Căn, Lục Trần, để coi về linh hồn của Con bị tội; Hồn Con sẽ bị giam hãm trong trái tim thịt, không thể thoát thân. Nay Con được tu hành đến đây, ta chỉ cho Con thấy chúng nó là ai, thì cũng trong bộ máy ngũ tạng, cái điển nặng, trược, đục là cốt giác của Lục Căn, Lục Trần. Ta cho nó được phá khuấy rủ ren Con cho lấm điều tội lỗi thêm hơn. Nhưng, lúc Con mới thức tánh tu luyện theo 6 chữ chuyên môn của ta, nhờ tâm thành định của con, làm cho ta được thấu đáo lòng con, thì ta bèn cho một vị Cứu tinh xuống hiện lên một thứ ánh sáng để gọi điển cặn bã của ngũ tạng tức là Ngũ trần cùng Giác tánh là bóng vía của Con hợp lại gọi là Lục Căn, và điển nặng hơn trong ngũ tạng của Con gọi là Lục Trần. Khi Con được tu thì chúng nó không xúi biểu Con mê trần làm việc xấu xa bỉ ổi nữa. Chúng nó cũng tu hành theo con, nay ta ban cho nó đầy đủ, không thiếu sót, và phong nó làm chức A La Hán.

Di Đà ơi! Nay Con được có hào quang là vị Phật, nhờ hành nghề chuyên môn 6 chữ Di Đà mà thành Phật. Phật là một vị có huyền diệu, năng biến, năng hóa, vô cực, vô biên, muốn chi được nấy. Ta phó nơi Con để coi trong bản thể, nước của con, nào là nội dung ngoại bộ, có nhơn duyên Phật A La Hán làm việc để sai biểu, biến hóa vô cùng vô tận, Con muốn chi được nấy cũng như một vị Vương tước có kho tàng để chứa những đồ mà Con cần dùng hằng ngày, áo mão tối tân sắc màu nào cũng có, muốn chi được nấy.

Từ đây thân thể của Con tuy là trần tục mà Con cũng được sung sướng lần lần, khi Con lên thiên đàng đảnh lễ hầu ta, ta cho phép mầu tự tiện, nếu Con buồn muốn cỡi rồng, phụng, hạc, cùng các loài vật khác như hùm, beo, tây tượng theo ý Con muốn thì các vị La Hán này dắt thú vật ấy đến ngay cho con, sự biến hóa ấy vô cùng vô tận. Lúc ấy Con dòm lại thì Con tự thấy mình được cỡi thú vật ấy.

Di Đà ơi! Con được tu hành gần thành Phật Đạo, thì điển Thầy ở gần bên con. Thầy thương linh hồn Con vô hạn.

Di Đà ơi! Chưa gì mà được một kho vô tận của riêng mình, muốn dùng chi cũng có, khỏi lấm trần mệt nhọc đau đớn nhức nhối nữa. Thôi! Từ đây Con ráng tu luyện, công phu ngày đêm thêm hơn, để cho điển linh hồn Con gần bên ta, ta sẽ giúp Con còn hơn cha mẹ trần cấu của bản thể Con nữa.

Lúc ấy Phật Tổ trên không trung, có tiếng nói gọi xuống:

“Còn mấy vị La Hán nẫy giờ có nghe chưa? Ta nói với Di Đà cùng ban ơn cho Di Đà là chung cho cả chúng Bây nữa. Bây được làm A La Hán, Bây phải tùng quyền Chủ; từ đây bây ăn ngay ở thật, tiếp làm việc cho Bà Chủ Bây là Tánh, Vía, Bóng, Hình, là một vị Điển Tiên Thiên. Phật Tổ cho chất điển ấy sanh sanh hóa hóa vạn vật để làm chủ chúng Bây, thế gian gọi là THẬN”.

THẬN là điển Tiên Thiên gọi là: Thiên Nhứt Khảm. Giọt nước điển này là hột men giống, hóa sanh Trời Đất Vạn Vật thế gian gọi là “nước điển trái cật.”

Còn Tì thuộc về bao tử, là loại đất cặn của biển trùng dương; nhớt cặn ấy hóa thành bao tử của chúng Con để thâu, cùng chứa các vật chất mà bản thể Con ăn vào trong ấy; có thứ nước vàng xáo trộn, xay nghiền vật thực tiêu ra thành chất bổ để châu lưu bản thể; bản thể Con người được có sức cường tráng, mạnh khỏe cũng nhờ chất bổ ấy. Chất bổ này là một thứ lương thảo, từ trong bao tử đã có, thì các vị A La Hán trình bày cho Thận là bóng vía, gọi là “Tánh tình” của Con người, rồi nước điển ấy bắt từ trái cật chạy xung lên bộ phế là phổi, để dùng làm tiếng nói, nhưng trong đó có một thứ nước trong cực thanh, cực tịnh bổ vào trí não ta.

Di Đà ơi! Nếu Con tu được lên thiên đàng, nhưng trí Con còn khờ dại, chưa biết nghe cùng nói trên thiên không, thì Con nhờ tu hành lừa lọc bộ phổi thuộc về chất kim khí luồng điển màu xanh, tiếng kêu thanh, là cái máy nói của con. Khi Con lên thiên đàng ta dạy Con nói, và ta mở trí cho con; từ đấy Con mới biết nói chuyện cùng ta.

Còn Tì thuộc về thổ, là một nền tảng khí trược thanh, ngọn lửa đỏ bầm, là một miếng đất. Khí ấy, khi Con nhập Niết Bàn, thì Con đem theo đến một góc Trời Không, rồi Con tạo lập nơi ấy thành một miếng đất, có điển của ta phụ tiếp cho Con được làm một nước xứ sở của Con ở, rồi Con thâu các điển bản thể Con cùng các vị La Hán. Khi thâu nhập đủ, thì đất này hóa ra một nước trên thiên đàng có đủ vạn vật như hoa quả, chim Ca Lăng Tần Già, cũng gọi là Két, Sáo ca hát ngày đêm vui vẻ để giúp cho Con tu và làm việc cho Phật. Nhưng trái lại vị La Hán bao tử thuộc về Thổ (đất) để hóa sanh cây cối cỏ rác cho tươi tắn, thật là một vườn Cô Độc Viên ta đã ban cho bản thể Con dưới trần.

Đến nay nhờ Con tu hành luyện đạo, nhờ công quả ấy, Con lượm lặt tài sản của Con, Con được hưởng thú vinh quang vui sướng độc quyền. Từ đây Con được trọn quyền thong thả tự do, không còn cường quyền ác ý hại chúng, hiếp cô.

Hơn nữa, ta cho Con một thứ dưỡng khí là thứ nước Trường Sanh, Con được thâu vào trong mình con, vui tươi sung sướng, không phiền não, sức khỏe luôn luôn, không già chết. Di Đà ơi! Đó là phần thưởng trọng hệ của con, vô cùng vô tận, an hưởng đời đời!...

(Ông Tám giảng)

Cho nên, chúng ta ở thế gian đang mưu tìm cái gì đây? Tất cả mọi người đang mưu tìm hạnh phúc. Hạnh phúc là cái gì? Tìm coi thử cái chuyện đời đời bất diệt của chúng ta nằm ở đâu? Tại sao chúng ta bị luân hồi mãi mãi, di chuyển mãi mãi mà không có chỗ ngừng nghỉ, vì chúng ta chưa có chỗ quán thông. Nếu mà chúng ta thanh tịnh tu rồi, chúng ta quán thông thấy rằng chúng ta đầy đủ, chả có gì thiếu thốn, mà thực chả cần ai hỗ trợ cho chính chúng ta. Chính chúng ta là người dư giả.

Khai thông rồi chúng ta mới thấy rõ rằng, chư Phật đã hộ độ chúng ta, mà liên hệ của Phật là gì? Là cái công chuyện của cả Thượng Đế, cả Càn Khôn Vũ Trụ, có đủ các giới hỗ trợ, chớ không phải riêng Phật. Phật từ đâu mà có? Phật ra đời đã có Thượng Đế. Thượng Đế đã ban biết bao nhiêu sự sống cho vạn linh, cho chư Tiên, chư Phật có cơ hội để tu. Ngày hôm nay thức giác và muốn làm lại một cái nghề như Thượng Đế có.

Cho nên, chúng ta tu để tự túc và không có phụ lòng người Cha mến yêu của chính chúng ta. Cho nên, Phật là một người Con yêu quý nhứt của Thượng Đế. Nó biết tự túc; nó biết thăng hoa; nó biết sửa chữa. Nó biết trở về với căn bản của chính nó. Nó biết tận hưởng những gì của cha mẹ nó đã ân ban cho chính nó. Chúng ta có cha mẹ, có thể xác, có đầy đủ mà chúng ta không biết tận hưởng, rồi chúng ta hướng ngoại, đâm ra đấu tranh, làm những điều bất chánh tai hại cơ khổ và khó tiến hóa. Cho nên, ngày hôm nay chúng ta thức tâm rồi, chúng ta thấy rằng cần phải tìm ra một chìa khóa để mở những gì lố bịch trong nội tâm, nội tạng của chúng ta.

Cho nên, ngày hôm nay huynh đệ tỉ muội chúng ta đã thấm thía, đã thấy cái cơ năng khai triển trong tâm thức của chúng ta; chỉ dùng cái khoa học huyền bí là “Nam Mô A Di Đà Phật,” giữ lấy cái chuyên môn đó, giữ lấy cái chìa khóa đó mà để mở tất cả những nẻo hóc nào đang bị lố bịch ở bên trong. Và chúng ta tự khai triển tâm thức đi tới chỗ hòa đồng không phụ nguyên ý trong lành của đức Phật đã ban, của người Cha yêu quý đã sanh thành chúng ta, và tất cả tam cõi đang hỗ trợ cho tâm linh chúng ta tiến hóa. Cho nên, chúng ta phải chỉ có tu và giữ cái nguyên ý, và khai thông cái thức hòa đồng dùng ý niệm “Nam Mô A Di Đà Phật.” Khi chúng ta rành mạch đường lối để khai triển cái thức hòa đồng, nên giữ lấy mà thăng hoa tiến tới mục đích cuối cùng và tận độ chúng sanh ở tương lai. [26:23]

[Hết video ID=19860100L16 “Thuyết giảng kinh - Phần 7” - Tương ứng phút dừng của mp3 ID=19860104Q3 là 26:23]

--- +++ ---

[Bắt đầu video ID=19860100L16 “Thuyết giảng kinh - Phần 8”]

Chúng Sở Tri Thức

Di Đà ơi! Đến đây ta phong chức cho các La Hán của Con là cái trược đục Lục Căn, Lục Trần làm ra để cho Con hiểu rỏnhững cái tánh thế gian nó giảm từ từ, rồi nhờ khí điển của ta dạy Con tu hành, chúng nó cũng làm theo; mới có chức tước ấy. Nhưng ta muốn cho Con một chức phẩm hơn nữa là chức “Trưởng Lão Xá Lợi Phất,” bỏ chức phẩm “Chủ Nhơn Ông.”

(Ông Tám giảng)

Tại sao tiến lên Xá Lợi Phất? là có luồng điển rồi. Nó ở cái giới khác rồi! cho nên, nó phải có cả chức khác. Nó thanh nhẹ rồi; cho nên, nó hưởng cái chỗ đó là cái chỗ bất hoại; còn “Chủ Nhơn Ông” còn phải bị đau khổ nhiều hơn.

Hiện nay chúng nó gọi Con bằng Trưởng Lão Xá Lợi Phất có nghĩa là cục ngọc Mâu Ni Châu của con. Nay Con tu đã thành đạo cao, ta cải danh cục ngọc ấy lại là Xá Lợi, cũng gọi tên Con là Xá Lợi.

(Ông Tám giảng)

Nó không có, nó không có bị sứt mẻ nữa, và nó luôn luôn tiến hóa để học đạo.

Chữ XÁ LỢI PHẤT nghĩa là :

XÁ - Là ta cho Con phẩm tước cùng thông hiểu bao la Trời Đất biến hóa thần thông, xa đem lại gần. Như Con ngồi công phu dưới thế mà Con thấy trên trời được. Trời thì xa tít mù mà Con cũng thấy, rồi Con muốn đem cảnh trời lại gần bên Con cho rõ hơn nữa, đó là do nơi Con tầm được ngọc Xá Lợi, nhờ Con có công tu hành luyện đạo, siêng năng bền bỉ lâu năm chầy tháng làm cho cục Mâu Ni Châu già hóa nên Xá Lợi.

Di Đà ơi! Con hiểu rõ chưa? Xá Lợi là ngọc Xá Lợi của ta cho Con, luồng điển nuôi nấng Mâu Ni Châu, ngày nay thành Xá Lợi; Xá Lợi rất quý báu, tươi tốt, chói lọi [chép sai, là từ “dọi”] những sắc điển lửa. Điển lửa lâu ngày từ gần hóa xa, từ xa đem lại gần. Con được thấy bao la cõi trời cùng dưới thế gian, tất cả mọi việc Con đều hiểu rõ rồi, Con ráng tu luyện Pháp lý lâu chừng nào thì Xá Lợi ấy lên chức phẩm Xá Lợi Phật.

Di Đà ơi! Xá Lợi Phật cốt giác cặn kẽ của nó là hồn của con, là thiêng liêng của khí, do nơi khí của Trời Phật cho Con cùng cái tánh Chơn Như.

Một đám chúng bây xuống trần, bị từ Niết Bàn sa vào bản thể.

Di Đà ơi! Con hiểu chưa? Trước kia Con ở thiên đàng là quê hương của con. Con phạm tội. Nhờ Con thức tánh tu luyện đến ngày nay. Linh hồn của Con trước kia là một luồng điển thiêng liêng, cũng có nghĩa là hồn thơ, khi Con thức tánh tu luyện thì hồn ấy được làm Chủ Nhơn Ông, rồi tu lần lần Con được chức Mâu Ni Châu cho đến Xá Lợi là ngọc Xá Lợi, đó là cục ngọc đó thôi con. Rồi Con cũng tu thêm hơn nữa, ngày nay Con mới được chức Xá Lợi Phật thì huyền diệu phép tắc thua ta một phần nào thôi.

Ngày nay Con được ảnh hưởng hào quang, thì Con thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý, mỗi chuyện thế gian trần tục Con muốn thấu đáo, chỉ nhìn là biết được ngay! Đây là Con gần thành Chánh Quả Bồ Đề.

Chữ “BỒ ĐỀ” có nghĩa là dựa nương theo ta. Theo trần tục dựa kề hay nương tựa [chép sai, là từ “dựa nương”] cũng vậy, còn Bồ Đề Phật nghĩa là vị Phật này ngồi kế vị Phật kia, chữ BỒ ĐỀ là kế, hay là kề, Phật mà thôi, chớ chưa phải là Phật.

Di Đà Trưởng Lão Xá Lợi ơi! Nay ta nói cho Ngươi nghe rõ hết, và phong chức cho Con rồi. Rồi đây ta còn chỉ rõ những người tùy tùng của Con gọi là La Hán. Còn dưới bực tùy tùng của Con nữa là Ma Ha Mục Kiền Liên, cũng được một vị La Hán.

Di Đà ơi! Ma Ha là trước kia Con không tu thì nó là một Con ma, Mục Kiền Liên là đôi mắt của con, dính liếu ngang hàng, được thấy, biết, nhờ tia sáng phẩm mục, thông hiểu diệu huyền, làm một vị Phật tử của Con, để giúp Con ví như người đồ đệ lệ thuộc nơi Con.

Ma Ha Ca Diếp

Là lá gan hiệp với lá phổi, trước kia nó cũng làm ma, nếu Con tu thành Phật thì nó cũng thành Phật tử theo. Chúng nó là đồ đệ nô lệ của con.

MA HA là ma; CA là nói tụng, ca lý; DIẾP là lá.

Lá gan, lá phổi, phát lửa điển sắc xanh phải trực tiếp với đôi mắt là Ma Ha Mục Kiền Liên.

(Ông Tám giảng)

Cho nên, sự liên hệ của Con người, tại sao Con người, những vị tu hành thành đạo? Người ta dòm người ta nó: tụi này là một đám ma. Người ta dòm cặp mắt, người ta biết rồi! Tà khí xuất phát, tâm viên ý mã, động không bao giờ tịnh, dòm cặp mắt nó là biết rồi! Ma; chưa thành đạo. Cho nên, Ngài mới giảng giải, tùy chuyện mà giảng giải: có người gặp nhau họ nói chuyện ma không! Ông sư đó nói chuyện ma không! Mà từ chuyện ma nó mới giải tỏa lên lần lần Thần Tiên Thánh Phật, dẫn độ cho nó.

“Tại sao gặp ông sư này ổng cứ nói chuyện ma không, mà ổng không nói chuyện Phật! Tôi tới tôi cúng Phật mà ổng nói chuyện ma!” Vì luồng điển trược nó bao trùm hành giả. Cho nên, hành giả có đến cũng chỉ nói chuyện ma rồi từ chuyện ma giải thoát nó ra; rồi đem cái cảnh địa ngục nói cho nó nghe, cho nó thức tâm, rồi nó mới tìm hiểu sự sai lầm của nó, nó mới tu.

Cho nên, người tu của chúng ta, tu về Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí là các Bạn đang được thanh lọc từ ma giới trụ tới Thần giới, Thánh giới, Tiên giới, Phật giới, trong cơ thể các Bạn hết trọi. Cho nên, ánh sáng của cặp mắt của các Bạn mỗi kỳ mỗi khác; mỗi 3 tháng tu thì rọi lại thấy cặp mắt ở trong nó trong lành, lóng lánh nó khác; mà người nào cố công tu thì mới có, chớ còn nói danh tu mà không thực hành thì không có. Ma nó vẫn còn ma!

Cho nên, người thế gian hay sợ ma, vì bản chất của nó là ma, là yếu hèn cho nên nó sợ ma. Mà chúng ta tu rồi tại sao hết sợ ma. Mà có người hồi trước nói gan lắm, tôi không sợ ma, tôi phải đánh lộn với ma, mà nó là quỷ nó đâu có sợ ma; nhưng mà khi nó tu rồi nó bắt đầu sợ ma. Nó nhẹ rồi, lần lần nó sợ ma, kẻ hung hóa hiền, rồi nó tưởng tới thần thánh nó càng sợ ma. nó càng tưởng tới thần thánh cứu độ thì nó tu lần, nó trở về cái giới thần thánh. Cái luồng điển nó thay đổi, nó vượt cái Quỷ Môn Quan ngay trung tim giữa cái ngực này, Nó vượt qua khỏi rồi thì nó không sợ nữa, đi đâu nó cũng không sợ; rồi nó trụ đảnh rồi thì càng không sợ nữa. Bom đạn nó cũng không ngán, vì thức hòa đồng mở rồi đâu có sợ nữa; trước kia thức hòa đồng chưa mở, còn ô trược, còn lệ thuộc, còn lạy lục, pha dèm chuyện này, chuyện kia, chuyện nọ. Ngày hôm nay tu rồi, tự chủ, không! Nó chỉ biết nắm cái nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật để thức tâm và mở cái thức hòa đồng của chính nó, thì nó tự chủ. Nó chỉ khai phá và mở tâm mở trí ảnh hưởng người khác, chớ không có bao giờ mà bị lệ thuộc nữa.

Cho nên, cái chìa khóa quan trọng, các Bạn ngày đêm đã lo niệm, nhưng mà nhiều khi cũng quên, niệm một chút rồi quên, rồi nghĩ chuyện bậy bạ. Cái đó mình phải kiểm soát lại, và phải xét lại: khi chúng ta đã hứa với lương tâm, và hứa với vạn linh trong Tiểu Thiên Địa này, chúng ta phải tận tình phục vụ chúng nó, và phải thường xuyên trì niệm để độ cho chúng nó hành, vì chúng nó còn chậm trễ lắm, còn trần trược lắm. Dạy hoài, dạy một câu mà nói một triệu lần nó chưa hiểu.

Đó! cũng như các ban hiểu đạo rồi các Bạn gặp một người phàm tới hỏi đạo, các Bạn nói đi nói lại, nói nhiều lần, rồi qua bữa sau cũng hỏi nữa, “Cái câu đó là cái câu gì?” Vì sao? Vì sự trần trược nó xâm chiếm đối phương; cho nên, đối phương phải thiệt thòi ở chỗ đó; còn người tu thanh nhẹ, vừa nói là người ta hiểu rồi. Mà khi người ta hiểu rồi, người ta đã tự bước qua một giới khác rồi, người ta không còn ở giới đó nữa, và chuyện đó không cần thiết với chính họ nữa. Họ giữ chữ “Không” và họ để thăng hoa, để tiến lên. Đó, kêu bằng điển giới.

Cho nên, ngày hôm nay các Bạn vừa học, thấy rõ cái trược của chính mình, và vừa ao ước đi tới điển giới. Cho nên, muốn đạt tới điển giới là phải hành; chớ không hành không bao giờ đạt, không cách gì các Bạn có thể đạt được! Dụng lý thuyết, mượn lý thuyết, và đưa mình xuống chỗ sa lầy mà thôi! Chớ còn thực hành mới thấy, không thực hành không bao giờ thấy.

Ma Ha Ca Chiên Diên

Chữ MA HA ngụ ý rằng: Muốn làm ma hay làm Phật cũng được. Hễ mê trần, không tu, thì làm ma; còn muốn làm Phật thì phải tu.

Chữ CA CHIÊN DIÊN do nơi chim Ca Lăng Tần Già. Khí ấy hợp lại hóa thành một Con diều hâu, nói tiếng rổn rảng, bay khắp mọi nơi mau mắn, nóng nảy, hùng dũng, lại có tánh cường hào ác ý, cố ý làm hại, ưa cảm tình, ái tình, tâm lý đủ điều sanh dục tình, xúi giục cho bộ máy hóa sanh nó ưa đốc xúi làm những chuyện bỉ ổi. Người tu khó khăn tại chỗ này.

Di Đà ơi! Con hãy ráng làm Pháp Luân Thường Chuyển phân tách nó ra, để cho mỗi mỗi làm việc theo bổn phận của nó, theo về phái Thiền Tăng, gọi là “Con Diều đậu lưng Con Ngựa,” hay “Biển sóng tình khó dứt khoát.”

Di Đà ơi! Ráng từ nó ra, tránh nó ra; nhưng ta dạy Con phép “Pháp Luân Thường Chuyển” khi nào cải hóa nó không nổi, đánh đổ chúng nó không được thì nhờ Pháp Luân Thường Chuyển để lìa nó ra mới được. Vốn nó là hơi điển từ lá lách chuyển qua lá gan, trái tim, chạy qua thận thủy (trái cật). Nó đốc xúi cục men giống, xúi luôn đầu óc ta, trí não ta mê trần bỉ ổi.

(Ông Tám giảng)

Cho nên, khi các Bạn ngồi thiền tuổi trẻ nó cũng có, tới giờ ngồi thiền vô, nó kéo xuống nó dục. Đó; bây giờ phải làm sao? Nhiều người giải quyết không được. Cho nên, bây giờ tôi mới có cái phép Chiếu Minh, nằm xuống làm Chiếu Minh. Bởi vì... cái gì mà nó xúi dục? Cái nóng đó ở đâu? là nó cô động, là cái điển trược; mà chúng ta làm Pháp Luân Chiếu Minh cho nó phân tán ra lỗ chân lông, đại tiện, tiểu tiện; rồi chúng ta ngồi lại, ta làm Pháp Luân Thường Chuyển, thì nó phân tán cái lực nóng đó rồi, thì thấy nó giảm từ từ.

Những Bạn tuổi trẻ nên thử làm mới thấy rõ, chớ nhiều khi các Bạn đương làm nửa chừng mà cái tính dục nó khởi rồi thì nó cũng đòi hỏi như vậy và nó làm hung hăng hơn nữa; cái đó phải nói sự thật, là cái luồng điển nóng nó cô động và nó thúc đẩy mà thôi. Mà chúng ta giải tỏa cái luồng điển nóng đó thì nó yếu dần dần, nó không còn nữa.

Di Đà ơi! Khi Con hoằng hóa chúng sanh, phải dè dặt cẩn thận, nếu chúng sanh biết đường ấy là đường tội lỗi, máy ấy không Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín thì nên lánh nó đi. Nó là một bộ máy trong trần, để sanh hóa bản thể Con người, từ nhơn loại chí vật chất, không biết điều nhục nhã, và chỉ biết làm điều tội lỗi mà thôi, thì nó xô Di Đà phải ngã, hà huống chi chúng sanh mới tu, làm sao đánh đổ nó được.

Di Đà ơi! Khi Con hoằng hóa, nên nhắc nhở những người học đạo với con, khi Ma Chiên Diên muốn chạm đến thì chúng sanh được làm Pháp Luân Thường Chuyển của ta truyền bá, thì mới được theo chơn ta.

(Ông Tám giảng)

Cho nên, ở thế gian những người không có tu không biết làm gì hơn, chỉ lẩn quẩn trong cái vòng đó mà thôi, không có thể thoát ra. Cho nên, nợ càng ngày càng chồng chất mà không biết do đâu đến, nhiều khi trách Trời, trách Phật không công bằng; mà chính ta ngu muội mà không biết, thì ngược lại trách Trời Phật không công bằng. Đó, vì sự ham muốn mà chúng ta không khống chế được. Cho nên, ngày nay các Bạn có “Địa Ngục Du Ký.” “Địa Ngục Du Ký” vỏn vẹn dặn cái gì? Cái tội đứng đầu là cái dục tính! Hỏi chớ Ông Tư dặn cái gì? Cũng đứng đầu là dục tính! Thấy chưa? Tất cả kinh sách đều nhắc. Hỏi chớ, những người đó có điên hay là không? Không! Những người đã lâm phải những cảnh đó, bây giờ thức hồn nhắc chúng ta và kêu chúng ta và chỉ luôn cả kỹ thuật cho chúng ta để tháo gỡ cái nợ duyên có thể xảy ra bất trắc và làm cho chúng ta khổ tâm và không gỡ rối được. Cho nên, người tu chúng ta phải ý thức làm một điều hay cho chính mình và ảnh hưởng những người ở tương lai. Chớ không phải là chúng ta tu mà mù quáng nghe theo, rồi chuyện đời nói sao mình nghe vậy, rồi mình bị kẹt luôn, rồi trong lúc mà mình than thở chẳng có ai giúp mình. Cái này mình có cái phương pháp tự giúp tự cứu. Cho nên, phải thực thi cho kỳ được để tự giúp, tự cứu mình.

Ma Ha Cu Hi La

Là hơi điển lửa trong bản thể xác trần, để dùng thở và soi sáng mắt. Mắt là một ngọn đèn hợp lại, khi bản thể thác, người không tu thành ma cỏ, hơi ấy hóa ra ngọn đèn ma; còn Con tu thì ngọn đèn này hóa ra một hào quang, do nơi Pháp lý Soi Hồn biến chuyển đem lên chỗ tập trung lên bộ đầu làm ra Mâu Ni Châu giúp cho Con nên một Vị Phật.

(Ông Tám giảng:)

Hỏi chớ, chúng ta ra mồ mả xem hồn ma là cái gì? Ban đêm tối đèn vậy, các Bạn ra ngồi chỗ cái đám mả đó, các Bạn dòm thấy đóm, đóm, đóm đóm... nó bay như đom đóm. Đó là cái hồn ma: một cục đom đóm sáng bay xanh như tube néon, chút chút vậy đó. Cái đó là hồn ma, hễ cái mả nào nó còn ở đó thì thấy nó bay ở đó, mình thấy! Tối hù là mình thấy những cái đóm đó, là cái hồn ma; còn cái hào quang nó khác, Con mắt trần trược nhiều khi cũng không thấy nữa. Người thanh nhẹ mới thấy được cái hào quang.

[kết thúc ID#19860104Q3] - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Thầy Giải "Quẻ" & Giảng Kinh - Cuốn 11A - Tương ứng phút dừng của video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh - phần 8” là 16:47]

[bắt đầu ID#19860104Q4] – mp3 - Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh - phần 8” phút 17:00]

KHÓA HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: Thầy Gỉảng; BĐ Tập Truyền Pháp - Cuốn 11B

LI BÀ ĐA

Chữ LI BÀ ĐA là chức của nó, gốc nó là lò lửa Lư Hương trước trán con. Mỗi mỗi là điển trong mình con, được làm chức Phật Tử Li Bà Đa. Mỗi vị nào có điển là có chức phận Phật Tử, là nô lệ phụ thuộc của con, để biến hóa trực tiếp theo lệnh sai khiến của con, để thừa hành phận sự. Màu sắc điển của nó chói lọi, hào quang sáng chói, tinh xảo, xanh đỏ vàng trong Mâu Ni Châu, lòe qua lòe lại đủ ba sắc lửa điển để tiếp hào quang cho Con là vị Phật Di Đà, là nghề chuyên môn của Con tu hành cải hóa làm Phật, không làm ma.

Di Đà ơi! Mấy vị Phật tử này, Ma Ha Ca Diếp, là màu lửa sắc vàng đỏ, Ma Ha Ca Chiên Diên là màu lửa vàng đỏ hóa ra, bay đặng, gốc nó cũng là ma, cũng biết bay thấp thấp, do nơi điển lửa Hồn Thư của nó, gọi là một vị Tà, nghĩa là không chơn chánh; điển lửa này cùng Ma Ha Cu Hi La, trong sự bay nhờ điển hơi thở của xác do ba màu sắc nói trên.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên, có những Bạn nói “Tôi tu tôi xuất hồn, tôi đi đây, đi đó;” nhưng mà có những Bạn đã đi trong cái giới ma không à! Đi chơi mà đi trong cái giới ma nhiều lắm; rồi cũng tưởng là mình đi tới Phật đồ này kia kia nọ, không bao giờ thấy Phật đâu! Có những người đi, mà y[chép sai từ, là từ “đi”] không bao giờ thấy; thấy ma thì có, nhưng mà y không biết, nó biến cảnh này cảnh nọ. Cho nên, đàng này kêu tu trì ngay trung tim bộ đầu để xuất phát đi lên, không nên nhầm lẫn ở đó. Nhiều người đã đi mười mấy năm mà tôi khuyên trở lại, không trở lại, cứ việc đi, đi ở cái giới ma mà thôi! Cái đó không có lợi lộc. Mà mình tu thì phải tu theo Phật, chớ còn tu mà đi... nó biến cảnh này cảnh nọ... không ích gì cho chính mình. Phải thực tâm trở về không. Ta là cảnh, cảnh là ta mới được. Chớ đừng có ham, “Tôi thấy cái này cái nọ,” là các Bạn sẽ lạc vào trong cái cảnh ma mà không hay!

Vị Phật Tử Li Bà Đa là Ngọc Lưu Li [chép sai từ, là từ “ly”] nhưng còn non bé nhỏ.

Di Đà ơi! Con nhớ chăng? Chữ Li là còn non, gọi là Hà Sa: là một đóm lửa nhỏ như cát bay qua, bay lại trước trán con, rồi nhóm lại thành Mâu Ni Châu của con. Nay Con gần thành Phật thì nó là cục Ngọc Lưu Li, nó được đi theo Con làm một luồng điển, Con muốn ngó đâu thấy đó gọi là Ta bà. Còn chữ ĐA là ngó nhiều chừng nào rõ rệt chừng nấy, gọi là Phật Tử Li Bà Đa.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên cái Mâu Ni Châu nó cũng nhiều giai đoạn lắm. Khi mà nó phát ra đó, cũng là Mâu Ni Châu, mà gom lại cũng Mâu Ni Châu. Rồi thay đổi biến lên nhiều màu, mà còn lại một màu cũng là Mâu Ni Châu được thanh lọc, rồi từ đó đi lên, rồi hiểu này hiểu nọ, học đạo. Cái vòng tròn nó bay đâu cũng thấy, rồi mới trụ, rồi trở lại hình thù, mặt mày tay chân. Lúc đó mới bắt đầu đi học, học đạo. Lúc đó mới ngộ được Phật sự. Phật sự mới độ ta, cũng chưa là Phật nữa; còn phải đi tu nữa, đi lên học nữa, rồi ăn hoa quả của Phật, à, rồi đảnh lễ theo Phật, rồi nghe những lời căn dặn của đức Phật, mà trở về để lo tu trì. Rồi lúc đó mình mới đảm đương như một vị Phật, là khác rồi, là phải học nhiều nhồi quả từ đời đạo, ba cõi bị nhồi liên tục, nhưng mà tâm ta vững tin và không thay đổi, bất cứ giá nào cũng không thay đổi. Nghề chuyên môn này nắm được cứ đó mà tu trì.

Cho nên, bị phá phách, bị ma quỷ, bị bóp cổ, bị đủ thứ, ở cõi trên bị tới hà hiếp, nhưng mà cũng trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” lúc đó chúng ta nắm vững chìa khóa trong tay rồi, không bị kẹt nữa, chắc chắn nó hung cách mấy, làm cách mấy, các Bạn cứ trì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật,” rồi nó phải tan. Nhiều cảnh hùng hãi vô cùng, nghĩa là nói tới người phàm là họ có thể điên liền khi mà họ thấy; nhưng mà người tu Vô Vi tới giai đoạn đó là không sợ và có một sự thanh tịnh để ứng dụng ngay tình cảnh đó; với sự thanh tịnh sáng suốt đó làm cho đối phương phải tan rã cấp bách. Chúng ta thấy rằng cái hào quang là vô cùng tận; lúc đó mới thấy giá trị của một vị Phật.

Muốn tu trì phải hết sức dày công mới có thành đạt, chớ không phải dùng cái trí óc phàm mà muốn đạt liền! Không có! Chỉ có đi xuống làm ma làm quỷ thôi! Cho nên, chúng ta phải tu trì, sửa chữa bên trong, nhìn nhận sự sai lầm của chính mình, lập lại trật tự cho chính mình, mới thấy rõ cái điều huyền diệu của Ơn Trên thường trực ban cho chúng ta, và chúng ta phải thường trực hướng thượng để đón nhận cái thanh quang đó, mới thấy cái giá trị.

Châu Lợi Bàn Đà Già

Nghĩa là một luồng lửa trong bản thể Con, lửa trong trái cật Dương thật nóng, châu lưu bản thể Con gọi là Khí dương tinh, rất có ích khi luyện đạo hóa thành hạt Châu; mà nó cũng có thể hại Con lắm: Phải biết tu thì khí này làm cho sáng suốt trí não, rồi nó trở lại giúp cho Mục Kiền Liên, là đôi mắt ta vận động Khí điển tiếp xúc đến chỗ tập trung; luồng điển này ở tại đó lâu ngày, khi công phu đúng lực lượng hóa thành Mâu Ni Châu hay là Xá Lợi, người trần gọi là Tinh khí; nhưng nó cũng làm hại lắm, nếu chúng ta không ngay chánh thì nó đốc xúi chúng ta phải tà tâm, hay là tà dâm bỉ ổi, không còn kể phải, quấy, nhục nhã chi nữa.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên Con người nhiều khi đi tới chỗ hung hăng không còn nghĩ tới cái sự nhục nhã nữa! Mình thấy rõ cái trược nó hoành hành phần hồn rất nhiều. Cho nên người tu thanh tịnh chỉ biết lo niệm Phật và độ tha, để phải phóng cái từ điển mà độ cho đối phương bớt nóng giận; chớ chúng ta không có ùa ra mà cãi vã với họ. Chúng ta đã nắm được cái chuyên môn rồi, xây dựng cái luồng từ điển của chúng ta sẵn có. Những cái trường hợp đó xảy ra ngay trong gia cang hay ngay trong xã hội, chúng ta chỉ thầm niệm hướng thượng một hồi thì chúng ta thấy rằng cái huyền diệu của luồng hào quang thành đạt của chính chúng ta có thể hóa giải đối phương; không phải cái chuyện kêu bằng huyền bí hay là làm kinh ngạc mọi người. Vì chúng ta có tu thì chúng ta thấy cái chuyện đó thông thường: chúng ta có thể độ tha.

Còn những người không tu mà thấy ông đó chắp tay ổng niệm Phật hay là ổng trầm lặng một chút thì cái việc đó nó thay đổi, thì người ta cho đó là huyền bí, mà chúng ta đi trong huyền bí rồi thì không có cái gì kêu là quan trọng hết: đó là sự thông thường mà chưa đạt tới Phật giới đâu; chuyện tầm thường của người tu Vô Vi có thể làm được, với sự thành tâm của nó mà thôi!

Di Đà ơi! Hễ có lợi thì có hại, vì vậy mà khó thành Phật được. Lão Tử có nói “Nhãn Kiến Tâm Động” mắt thấy động lòng, nhưng Di Đà Con nên hiểu rõ, hai mắt là một bộ máy Vô Tuyến Truyền Hình, là một thứ Niết Bàn ghi tội lỗi đời đời kiếp kiếp. Khi Con thác nó cũng đem lại cho Con thấy rõ ràng những sự đã làm để nhìn nhận tội lỗi của con.

Còn câu BÀN ĐÀ GIÀ, chữ BÀN là Niết Bàn để ghi tội lỗi, chữ ĐÀ là Con Lạc Đà bên Ấn Độ cũng loại La Mã nói chung là Con Ngựa, tánh đi tới không thối lui. Giống nó là tâm trí sanh tánh; tánh đốc xúi tâm; người tu hay bị tánh, là cái vía đốc xúi tâm hồn phải đọa trần.

Di Đà ơi! Nếu người tu thức tánh, phải hiểu cặn kẽ lời ta dạy Con đây, mỗi điều hễ có lợi thì có hại; Con hãy minh trí an thần cứu xét kỹ lưỡng mới được.

(Ông Tám giảng:)

Cái gì mà ở thế gian mình thấy lợi là ngược lại nó có cái chuyện hại; phải phòng ngừa cái điều đó.

Di Đà ơi! Khi tu từ sơ thừa thì chúng nó đốc xúi khổ khảo, muốn cho ta mê trần đặng vui sướng theo nó.

Di Đà ơi! Ráng tỉnh trí an thần nghe Con, mới được theo chơn ta.

(Ông Tám giảng:)

Lúc nào có lợi là có hại, và khi mà các Bạn tu, “Tui phải khổ hạnh như thế này. Tôi ăn chay, tôi phải chấp như thế này. Tôi ăn mặn tôi phải chấp như thế này. Tôi làm việc tôi phải chấp theo thế này,” là nó bị phỉnh rồi đó! Nó đóng liền vô trong khuôn, mà khi mình đi tới đó, mình phải quán thông cái lợi hại một lượt, thì mình chỉ thường độ mà thôi, không có bị kẹt, đừng dại bước vô cái chỗ kẹt. Nói: “Tôi chấp cái này, tôi chấp cái kia, cái nọ; tôi tu, tôi phải như vậy, như vậy, tinh khiết... đôi đũa, tôi phải lau chùi 100 lần, tôi mới ăn!” Cái đó còn chấp, nó khó tánh. Khó tánh thì buộc mình vào trong cái chỗ eo hẹp và không tiến triển, càng ngày càng yếu hèn. Còn thức hòa đồng của chúng ta quán thông không có. Chuyện gì chúng ta thấy rồi, sanh trụ hoại diệt rõ ràng, trái mặt một lượt, chúng ta thấy, không có cái gì chấp!

Ông Trời chấp thì ông không có chiếu cho cả càn khôn vũ trụ. Ông Trời thanh sạch hơn chúng ta. Ổng có chỗ đại thanh tịnh thanh sạch hơn chúng ta, mà tại sao Ổng còn phải chuyển hóa luồng điển vào đống phân để được xây dựng hóa hóa sanh sanh hoa quả để nuôi dưỡng những người còn tồn tại trên mặt đất này? Ổng phải điên không? Không! Mà ổng quán thông và ổng thấy việc làm đó hữu ích đời đời và không bị tiêu diệt.

Thì khi chúng ta quán thông thì không bao giờ bị tiêu diệt. Nếu tâm chúng ta chấp thì chúng ta tâm bị thương rồi. Các Bạn tu không nên chấp, tu Vô Vi không nên chấp, tôi kêu nhẫn hòa để đi tới đi! Thì các Bạn sẽ quán thông, mà còn chấp một việc là cái tâm các Bạn bị thương rồi, làm sao Mâu Ni Châu nó xuất phát. Có hòa đồng Mâu Ni Châu nó mới xuất phát. Mà Tâm các Bạn bị thương là không có xuất phát được.

Cho nên trong kinh này cũng dạy rất rõ ràng, khi chúng ta chạm trán một cái gì chúng ta hiểu lợi hại liền. Hai cái một lượt thì chúng ta nắm sự quân bình mà đi. Đất trả lại đất, chớ đâu có đem đi được mà chấp. Chấp trong đất để làm gì; thấy không? Còn chúng ta giữ điển để đi, thì điển nào cũng được thăng hoa mà theo ta, chúng ta dìu tiến nó. Chúng ta có trách nhiệm đó mà thành ra chuyên môn khai hóa tâm trạng để tiến hóa tới vô cùng. [12:24]

[Hết video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh – phần 8” - Tương ứng mp3 ID=19860104Q4 dừng ở phút 12:24]

--- +++ ---

[ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh – phần 9”]

Nan Đà A Nan Đà

Chữ NAN ĐÀ là một thứ điển quang sắc vàng; A NAN ĐÀ là điển quang sắc xanh của trái cật; nó thuộc về thận thủy: Nước điển này có một phần trược khí, hóa sanh loài người, thì ta giúp cho nó một phần nước trên thiên đàng đem xuống, để hợp với thứ nước điển khí của Cha Mẹ Con cấu tạo thành ra Di Đà, để làm việc trong bản thể.

Chữ NAN ĐÀ là Tánh, A NAN ĐÀ là Vía, thuộc về trái cật bên mặt và bên trái của bản thể Con, nơi đường xương sống, phía trong, ngay rún. Ngày giờ phút khắc nào nó cũng cho nước đi châu lưu bản thể Con. Nước là lửa điển, trong ấy có hơi để xung theo; hơi ấy có chất dưỡng khí của ta trên thiên đàng cho xuống tựu nơi trái cật.

Di Đà ơi! Con biết chưa? Nó là chất dưỡng khí để làm nền tảng cho bản thể, thừa hành phận sự mà ta giao phó cho nó, hóa sanh rọi truyền nòi giống cho loài người; hiện giúp cho bản thể làm cho guồng máy Ngũ Tạng làm việc ăn, ngủ, bài tiết, còn một phần tiếp với dưỡng khí của ta, làm cho bản thể Con người sống lâu, mạnh khỏe dưới quyền ta sai khiến.

Di Đà ơi! Trong đấy nó có năm chất loại kim: Gang, Sắt, Thép, Vàng, Bạc, hợp lại hóa thành một chất để thâu phóng, úp mở từ phút khắc làm việc bản thể của nó và hóa sanh nó cũng như cái Magnéto của xe hơi thâu phóng lửa điển hợp thành một thứ Nam Châm (aimant) thâu phóng mạnh hơn hai trái cật, gọi là Thiên Khảm Nhứt của trần, là đầu mối mạch lạc của bản thể nhảy ra là thâu phóng do nơi trái cật, thừa tiếp cho trái tim cùng hoi hóp.

Ba đấng này để bảo trợ bản thể người sống thác, điển này thừa tiếp lệnh NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ, để giáo hóa Ngũ hành. Ta cho phẩm chức của trái cật bên trái cùng bên mặt, bửu danh là NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ gọi là Tánh Vía, để thừa hành phận sự cho tâm thần của chúng ngươi.

Khi ấy, Phật giao quyền Ngũ hành cho NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ, thừa tiếp lệnh ta để sai khiến chúng nó, và thừa hành phận sự của ta theo luồng Điển Cái sống sanh tồn cùng là thác.

(Ông Tám giảng:)

Ở đây tại làm sao người ta nói Ngọc Hoàng Thượng Đế nhỏ hơn Phật? Cho nên, Thượng Đế có nhiều giới Thượng Đế: Diêm Vương cũng là Thượng Đế; Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng là Thượng Đế; mà Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn là Hắc Bì Phật. Phải thấy chỗ này! Cái màu huyền đó không ai thay đổi được. Bạn có phóng màu trắng vô nó cũng là đen, mà sửa màu đen thành trắng không được. Cho nên tối thượng ở chỗ đó; nhưng mà người phàm không thấy, nói ông Phật kia lớn hơn. Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn khác à. Ngọc Hoàng, thiếu gì Ngọc Hoàng, chỗ nào lại không có. Cho nên, xưng danh ông vua cũng có thể xưng được Ngọc Hoàng ở thế gian cũng một Thượng Đế nhỏ mà thôi. Cho nên, nhiều người lầm. Cơ bút cũng vậy, nhập xác cũng vậy; lầm ở chỗ đó!

Mà chúng ta có pháp tu thanh tịnh, chúng ta phải giữ pháp mà đi thôi! Không có nghe ông Ngọc Hoàng đó xuống “Tôi phải quỳ, tôi phải làm cái gì;” Vô ích! “Tôi chỉ lo tu để tôi trở về với Đại Thiên Tôn, Đại Thanh Tịnh. Cái đó là cái quan trọng, cái đó là cái chánh. Còn những cái kia mà xuống có làm bùa phép đi nữa cũng chỉ giới hạn mà thôi!” Cho nên người tu Vô Vi không cần thiết suy nghĩ vấn đề đó! Nghe tài liệu để thấy, và để phán xét, lấy cái trí khôn của chúng ta thấy sự thanh tịnh của chúng ta đến đâu, và chúng ta thấy quyền năng của các nơi đang làm việc hỗ trợ cho chư Phật, chư Tiên bằng cách nào. Chúng ta thấy rõ điều đó mà chúng ta cố gắng tu và xây dựng niềm tin, tự đi, và không có còn cầu xin nữa: thực hành cho đến đích.

Thâu là sự thác đem hồn về Thiên Đàng, còn phóng là cho ra, cho sanh tồn bản thể con người cùng vận mạng.

Di Đà ơi! Bởi vậy ta hết tâm giáo hóa con, để Con hiểu rõ phận sự tu hành sáng suốt, cái guồng máy của Con người, vận mạng của nó cùng giống men chất là cốt giác nguyên chất phần nào, phò tá linh hồn Con để làm việc cho bản thể, còn Tánh, Vía, bửu pháp của nó là NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ để vận động thừa tiếp bên trong, ăn, ngủ, bài tiết, Lục Căn, phải nghe nó truyền bá. Nó là tánh tình, bóng vía của bản thể.

Còn Lục Trần cũng thừa tiếp NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ là trái cật; thừa tiếp bên ngoài là chơn tay, đầu, mình, da, lông, vật gì hoạt động. Về phần NAN ĐÀ, A NAN ĐÀ chủ mưu. Sự vận động vật chất do nơi ĐÀ RA NI ĐẾ, CHƠN LĂNG CÀNG ĐẾ, TÌ LÊ NI ĐẾ động đậy, cựa quậy, đánh đập, hung dữ, thuộc về Võ Phật, là một phần khí trược thuộc về hỏa tặc tánh hờn giận nóng nảy, tham sân.

Di Đà ơi! Con hãy dè dặt.

(Ông Tám giảng:)

Nãy giờ các Bạn nghe “Di… Đà…ơi!” Là cái phần trí của các bạn, các Bạn phải ứng nơi đó! “Di Đà ơi!” Là kêu các Bạn đó! Chớ không phải đọc cái cuốn này mà cứ nghĩ tới ông Di Đà là sái (sai) rồi! “Di Đà ơi!” Các Người phải nhận ngay những lời giáo dục đó.

Con hãy dè dặt thừa tiếp cho nó tu hành, hóa Văn Phật, Pháp lý của đức Thích Ca Mâu Ni. Nếu Con không dạy bảo nó học đạo, thì nó được kéo Con trở lại dương thế: hễ Con mê trần thì bị nó lôi cuốn, ta lấy lẽ công không bênh vực thần hồn Con được.

Di Đà ơi! Con ráng cần mẫn xem xét dạy chúng nó được theo Con về nước thiên đàng, hưởng phước đời đời. Còn Con mê trần thì cũng sang trọng vui sướng trong đời, nhưng phải nhớ đầu thai cho trần, không thể về cõi thiên đàng; dầu cho đến đỗi Con ngay thẳng tử tế đi nữa, thì Con được hưởng phước vinh huê phú quý nơi trần mà thôi; nếu Con bị mê trần thái quá, tội lỗi nhiều thì bị sa đọa, làm quỷ ma không đầu; nếu thái quá sa đọa thì bị sa thải thú vật côn trùng.

Di Đà ơi! Ta đã bao phen bảo Ngươi tu hành theo chân ta; lòng ta từ bi bác ái thương con, dạy dỗ nâng đỡ đến cùng; Con ráng tu luyện Pháp lý cho linh hồn Con khỏi đọa lạc trầm luân, nay Con được Á Phật, thì ta hết sức ân cần giúp Con. Nếu Con sa đọa thì Con bị Niết Bàn lôi cuốn nơi trần thế, lẽ công không bênh vị, hộ độ Con được.

Di Đà ơi! Ráng tu luyện theo Pháp Lý để theo chân ta về thiên đàng, Con gắn bó theo lẽ phải ngay thẳng đó con. Đây ta chỉ rõ: Trái cật làm việc cho tiên thiên bộ đầu, giúp việc cho thần Hồn điển quang về phía bên trái. Còn trái cật bên mặt, làm việc cho Tánh, Vía, Võ Phật, luồng Hỏa Hầu.

LA HẦU LA

Nghĩa là nước BA LA MẬT cũng gọi là Cam Lồ, chỉ rõ là nước miếng bản thể Con người.

HẦU là dưới cằm hầu,

LA là La Hán Bồ Tát.

Di Đà ơi! Khi Con luyện đạo lấy lưỡi co lên kề chơn răng, công phu chừng 4 tháng thì nước miếng ấy hóa ra BA LA MẬT, hay là Cam Lồ, do nơi một chất nước theo đường gân tẻ bộ đầu chạy xuống nơi chân răng hợp với cuống vị, đựng trong hầu tì Con. Đó là một chất điển trong sạch để giúp cho bản thể Con nuốt vào thành ra một thứ nước vàng Bao Tử, giúp cho nó tiêu hóa vật thực, hóa ra một chất Cam Lồ, làm cho huyết thanh khí. Hễ công phu luyện đạo thì huyết ấy xung lên mặt mày tươi tắn, da thịt mịn màng, trở thành một người trẻ trung hơn.

Di Đà ơi! Thứ Cam Lồ làm cho người được sống lâu và sức khỏe. Nếu luyện đạo được bền bỉ, thì nước ấy trở thành một hườn Diên Hống, từ trên Hà Đào Thành ngay não của ta rớt xuống phía trong hai lỗ mũi đi ngay xuống cuống họng một hườn tròn, gọi là Diên Hống.

Di Đà ơi! Đó là thuốc Trường Sanh để giúp cho Con sống lâu, sức khỏe dồi dào, bổ túc lại trong lúc Con ngoài đời làm việc cần lao. Nay Con tu, Thầy lấy chất điển trong bản thể tiếp xúc cho Con, khi Con định thần thì Diên Hống rớt xuống. Con nhớ lời Thầy dặn: “Nghiêng bộ đầu qua tay trái, rồi nuốt hườn Diên Hống ấy xuống khỏi cuống vị”. Diên Hống này tan ra trở thành nước thuốc Cam Lồ, giúp cho sự tu luyện khỏe khoắn, sống lâu dồi dào thêm nữa, cho có công quả bồi đức tu hành để đền tội nhỏ nhít, chút ít những lời lẽ vô nghì bỉ ổi của Con. Đó là tội sơ lược không đáng kể vào Niết Bàn, gọi là trừng phạt dạ của trần thế, ham ăn, nói hỗn ẩu.

(Ông Tám giảng:)

Cho nên, trong này đã dạy từ li từ tí, dạy cái Thủy từ trái cật xung lên cái não; rồi từ ở trên đem cái Diên Hống, nước Cam Lồ là cái bọt nước miếng của chúng ta. Và nền y học hiện tại cũng xác nhận rằng bọt nước miếng là trị bá bệnh trong cơ tạng. Cho nên, các Bạn đã may mắn rằng: co lưỡi răng kề răng niệm Phật và nuốt nước miếng hằng ngày; đó là đã lo trị bệnh tâm lẫn than. Kỳ diệu vô cùng.

Cho nên, càng ngày càng niệm càng nuốt nước miếng thì thấy cái mặt càng ngày càng tươi, thay đổi! Thậm chí những người mặt nám mà ngày nay tu, cố công làm đúng theo pháp mặt mày vẫn tươi và tiêu trừ tất cả những cái nám đó; nám mà thể hiện trên mặt, đó là nạn; mà chúng ta cố gắng tu rồi nó thanh lọc, không còn nám nữa, là cái nạn nó sẽ tiêu trừ. Mà trong nội tạng của chúng ta càng ngày càng nhẹ. Nhờ đâu?

Cho nên, cái pháp này là trường sanh trị bệnh mà người thực hành không trì kỳ chí làm nửa chừng thay đổi, than ván đủ chuyện. Chứ kỳ thật mà chúng ta bỏ kỳ công cho chính ta thì ta sẽ thoát nhiều cõi và không có bị lệ thuộc nữa! Rất rõ ràng tâm lẫn thân, cơ tạng các bạn. Nhiều tai nạn đáng lẽ nó xảy đến khủng khiếp nhưng mà chỉ sơ sài mà thôi! Những cái nạn lớn đó nó muốn áp đảo các Bạn, mà các Bạn có công tu rồi, nó chỉ bệnh hoạn sơ sơ, và ngưng trệ cái kỳ có thể tiến tới giây phút đó nó ngộ nạn, nhưng mà tránh khỏi. Cái chuyện đó là bất ngờ và không cần phải thầy tướng thầy bói nào hết, chỉ nhờ vào sự trật tự của chính mình mà hòa với Thanh Giới thì tự cứu rõ ràng.

Cho nên, cái phương pháp công phu này nó khai hóa nội tâm, nội tạng, từ sớ thịt, từ lỗ chân lông và không có bỏ sót một nơi nào hết. Thì cái tiểu thiên địa này biến thành cái Xá Vệ Quốc, biến hóa trở lại, trật tự rõ rệt. Lời ăn tiếng nói cũng thay đổi. Tại sao nó thay đổi? Các Bạn co lưỡi răng kề răng, hồi trước các Bạn nói xàm nhiều, thì nó kéo, nó lôi các Bạn nói bậy, nói hơn, nói thua. Mà bây giờ các Bạn co lưỡi răng kề răng niệm Phật, thì sự đối đãi giữa nhơn sanh, cái gì cần thiết thì các Bạn nói, mà không cần thiết các Bạn đâu có nói. Thành ra nó không có lầm lỗi gì nhiều, mà nó hướng thượng nó nói những câu thanh cao, cởi mở.

Cho nên, những người hướng thượng ở đây tu rồi cái điển nó rút đi lên. Pháp Lý, tại sao người có thiền theo Pháp Lý đi nói với người thường không có thiền, nói một chập có cảm tình? Vì rút cái trược của người ta đi. Ngồi đó, nói một chập nó rú;, mà nhiều người tâm nó nhẹ rồi, thì nó thấy đi tới nói với đối phương thấy ngực nặng, mà ngực nặng thì mình phải nghĩ sao? Mình hướng về cái tâm, mà mình nói về cái tâm, cái tạng tâm mình mở, mở lần, rồi trụ đảnh, đối phương nó cũng nhẹ. Đương ngồi mình thấy mình mỏi, đối diện với đối phương, mình thấy mình mỏi bên tay trái, thì mình thấy đối phương đã bị tay trái rồi. Cái trược xâm chiếm nó. Cái tà khí xâm chiếm nó. Mình nói cái chuyện nặng của tay trái thì một chập nó khai hết. Nó thấy nó bị thương chỗ đó rồi, vì cái tà khí xâm nhập nó mới sanh ra bệnh. Bất cứ một cái bệnh gì ở thế gian đều tà khí xâm nhập hết, nó mới sanh ra bệnh. Mà chúng ta tu hướng về thanh thì chúng ta rút hướng về thanh nó đâu còn nữa.

Cho nên, những người tu Vô Vi đi thăm bệnh nhân, chỉ rước cái nặng về nhưng mà về chúng ta phải trì niệm Phật nhiều, phải làm Pháp Luân nhiều mới giải được. Có nhiều người ban đêm ngồi thiền nhắm mắt thấy ánh sang, mà bữa nay đi thăm một bệnh nhân trong nhà thương mà thấy họ bệnh nặng quá, mình thật tâm muốn cứu độ họ, tối về mất cái ánh sáng; nhưng mà mình phải chịu, vì cái thanh điển mình bỏ cho họ rồi, mình rước cái trược cho họ; mình phải về thanh lọc ít nhứt hai tuần nó mới khôi phục được; cái sự thiệt thòi đó mình cả mừng và mình học được cái dung. Vì sao? Vì mình biết đường đi, họ không biết đường đi.

Cho nên, cái Kinh này đã giải bày tất cả những cái gút mắc trong nội tạng của chính chúng ta, cho nên các Bạn cố gắng nghiên cứu và nghiền ngẫm trở lại, nghe những gì mà tôi đọc ra và tôi cộng thêm cái luồng điển của Bề Trên, rồi các Bạn từ tâm niệm Phật để nghe lại, thì các Bạn sẽ có chỗ chứa, từ từ do cái công năng công phu, và buông bỏ cái tánh trần tục, và để giáo dục Lục Căn, Lục Trần tiến hóa; thì lúc đó mới có cơ hội chứa đựng được.

Chớ bây giờ nghe thì nghe vậy, nhưng mà nói lại nói không được. Rồi tương lai các Bạn thanh nhẹ, nắm cuốn sách này đọc vừa nghe cái đó, vừa đọc cái này, rồi các Bạn mới thấy thấm thía: Đức Di Đà đã chuyển thẳng luồng điển ngay trung tim bộ đầu của các Bạn trong giờ phút tôi đang chuyển giám và đọc lại những cái kinh của Ngài đã chuyển hóa cho Ông Tư. Thì các Bạn được tận hưởng cái đó, nhưng mà vì quá trược, không có chỗ chứa; thì cố gắng tu thanh đi, rồi mới thấy cái đầu của các Bạn nó tròn vo, hào quang rõ ràng; mới thấy giá trị của thanh tịnh, thấy “Ta là cảnh, cảnh là ta; không còn động nữa.” Lúc đó mới là thật sự tu trong thanh tịnh, và không còn bơ vơ nữa.

ĐT: Bữa nay tới đây ngưng; phải không?

(30:34....)

BĐ: Dạ.

ĐT: Rồi chút nữa sẽ làm nữa. [30:28]

[Hết video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh – phần 9” - Tương ứng mp3 ID=19860104Q4 dừng ở phút 30:28 - Video ID=19860100L16 – “Chia nhóm tu học” thiếu 10s so với mp3 ID=19860104Q4, từ phút 30:28 đến 20:42]

ĐT: Bữa nay á, là học hết ngày nay rồi; ngày mai á phải lên làm Thầy. Mọi người bây giờ đề cử… [30:42]

--- +++ ---

[Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Chia nhóm tu học”]

ĐT: … người nào trước, bầu ứng cử viên, mai đi lên đây nói chuyện. Bây giờ, ờ làm danh sách hết đi; miếng giấy đâu, ghi tên đi.

BĐ1: Có danh sách hết rồi.

ĐT: Nghĩa là tất cả ở đây người ta đưa tay, người ta cử mình là mình lên à, không có nói gì hết; rồi ghi tên ai lên, dạy người mới tu; đó, rồi mấy người ở dưới lên hỏi đạo; ngồi đó, tới đây hỏi đạo. “Bây giờ tôi muốn tu Pháp Lý Vô Vi, Ông dạy tôi làm sao?” Đó, chuyện gia đình đồ, kể lễ cho y nghe, coi thử y nói làm sao;

: (…nghe không rõ.)

ĐT: Thực hành đó, ngày mai là thực hành đó; ngày mai là thực hành đó, để coi Thiền Đường nào tương lai chọn người nào, ngồi thay phiên nhau để giúp những người mới tới tu á. Chớ nói mà coi có đầu, có đuôi, có mạch lạc người ta mới nghe; còn nói tầm bậy rồi chỉ tầm bậy, gây mê tín, người ta tu trật lất, (cười), họ tới họ chửi á!

Chớ hồi trước Anh Yêm, ảnh ở bên Canada đó, ảnh nói không ai nghe tu, thì Ảnh, bắt buộc Ảnh phải nói: “ Tôi chỉ cho, tu 6 tháng thành Phật!” Thì mấy cái ông kia ổng ào ào vô tu 6 tháng không thành cái gì hết, ổng tới ổng hỏi: “Sao?” (Thầy và bạn đạo cười) Ăn thua với Anh Yêm; tôi nói, nghĩa là, “Đâu phải ăn thua với Anh Yêm được! Anh Yêm, cái tâm muốn độ người, ảnh thấy cái pháp này hay, nhưng mà nói hoài người ta không nghe, thì Ảnh mới nói, ‘Sáu tháng tu thành Phật,’. Thì mấy cha tham thành Phật, mấy cha tu, “Thì bây giờ thấy có sức khỏe, tu rồi tu luôn đi! Tu có hữu ích cho Anh, chớ đâu có hữu ích cho Anh Yêm đâu; phải không?”

Rồi có một ông Võ Thanh Vân ở San José, ổng nói “Khó nói quá! Dạy người ta tu khó nói quá;” “Tôi cho Chị cái pháp này, Chị nắm Chị coi kỹ đi! Chị tu, 6 tháng không kết quả, cứ tới đốt nhà tôi!” (Thầy và bạn đạo cười lớn) Bởi vì ảnh khôn, ảnh mua assurance hết rồi, ai dám đốt! (Thầy và bạn đạo cười lớn) Vậy mà có người ta thành! “Thiệt hả? Tôi mà tu không có gì, tới đốt nhà Anh đó!” Ông kia về ổng tu, ổng thấy có kết quả; thét rồi càng ngày càng đông. Ổng nói: “ Vậy đó, mau nhất”. Bởi “Tôi cho cái pháp này mà Anh làm không thành công đó, trong 6 tháng mà không có kết quả gì ở trong bản thể của Anh đó, thì Anh tới đốt nhà tôi!” Chỉ một cái, người ta tới; mà ảnh chỉ đông lắm á! Ảnh chỉ nói có bao nhiêu đó thôi à! Người ta không biết, té ra thằng này nó mua assurance hết rồi; đốt, nó lấy tiền mặt; sướng hơn! (cười)

BĐ2: Thưa Thầy, có cái điều khó nữa đó.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Mình nói thì người ta nghe dữ lắm.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Nhưng mà người ta hỏi, “Vậy chớ Anh tu tới giờ, Anh có sáng được cái gì chưa; có xuất hồn được chưa?”

ĐT: Ừ.

BĐ2: Mình trả lời: “Chưa có”(cười)

ĐT: Bởi vì Anh… tại vì Anh nói quá. Anh nói, “Tui hồi trước tôi bị cái bệnh gì, tánh tình tôi thế nào, nhưng mà bây giờ tôi tu tôi thấy tôi đỡ; mà bây giờ tôi có sự kiên nhẫn ngồi nói chuyện với Anh đây nè, và nói hồi nãy tới giờ Anh thông cảm rằng chính Anh phải hành cho chính Anh, thì Anh thấy rõ sự thay đổi của tôi rồi. Còn cái chuyện xuất hồn, đó là tôi có nói tôi xuất hồn thì tôi biết thôi, chớ Anh đâu có thấy hồn của tôi mà tôi nói; phải không? Thì cái chuyện đó, nói vô ích. Nhưng mà bây giờ cái kết quả tánh tình và lời ăn tiếng nói của tôi, Anh thấy thay đổi chưa?” Đó là Anh chứng minh điều đó được rồi.

BĐ2: Dạ, thưa; cái đó thì mình chinh phục người ta dễ.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Nhưng khi phát tài liệu ra đó.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Thì người ta đọc hết đi, rồi người ta sẽ mời lại, người ta sẽ hỏi thế này, thế kia, thế họ biểu mình giải thích.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Chớ không phải người ta, bởi người ta biết tu chút đỉnh rồi

ĐT: Ừ.

BĐ2: Thì người ta hỏi tới mấy cái chỗ đó, mình giải thích cho người ta, rồi cái người ta quay trở lại người ta hỏi mình;

ĐT: Ừ.

BĐ2: thì mình đâu có dám nói dóc.

ĐT: Ừ.

BĐ2: Đó. Thành ra, rồi người ta nói: “Ủa, sao Anh tu lâu rồi mà Anh chưa đạt cái gì?” Cái làm như họ cũng hơi chán.

ĐT: Thì Anh có thể đếm cái mà thành công của Anh.

BĐ2: Dạ.

ĐT: Trước kia Anh làm sao, bây giờ Anh làm sao; Anh nói Anh mới đi tới đó thôi.

BĐ2: Dạ.

ĐT: Anh thành thật với chính Anh nói, “Có bao nhiêu;” Anh đừng có nói “Tôi xuất hồn.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: Rồi Anh có thể chứng minh cho họ biết rằng: “Cái hồn tôi từ ở trên xuống đây, chớ không phải là không có đường đi;”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Tôi nhập xác rồi.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Mà tôi, vì sự bận rộn cơ thể của tôi, tôi chưa quân bình. Quân bình rồi thì nháy mắt tôi đi về Trời; chớ không lý tôi ở đây đâu!” Phải không?

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Tôi đến được là tôi đi được; không có gì đâu; mà Anh hỏi thắc mắc cái chuyện xuất hồn.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Thì Anh cũng đến đây, và Anh đang bị giam trong sự khó khăn, và không có giải quyết được; và Anh không biết ngày mai Anh sẽ đi đâu; vì đó Anh mới lập lại quân bình, lập lại sức khỏe trước hết để Anh ứng phó với hoàn cảnh hiện tại.”

BĐ2: Dạ.

ĐT: “Rồi tương lai Anh thanh tịnh là Anh đi về, chớ có cái gì đâu; thì chúng ta từ thanh tịnh giáng lâm xuống đây; thì bây giờ trong thanh tịnh thì trở về; chớ có gì đâu?”

BĐ2: Dạ.

ĐT: Có khó không? Những lời đó ở trong túi Anh có hết đó,

BĐ2: Dạ.

ĐT: Mà Anh không chịu sắp. Anh nói: “Chu cha! xuất hồn, tôi cũng chưa có xuất hồn; ông đừng hỏi vụ đó tôi sợ quá!” (bạn đạo cười) Ai mà dám tu! phải không? (cười) Thì sự thật là mình gan đầy mình: từ trên Trời mình nhảy cái ọc xuống đây là mình gan đầy mình: từ miệng giếng nhảy xuống dưới đáy giếng mà, gan đầy mình rồi mà; mà sợ gì nữa? Thấy không?

BĐ3: Dạ, thưa Thầy; nghe Thầy nói thì câu nào cũng tròn vo.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Nhưng chúng Con tới đó là bế tắc à.

ĐT: Đâu có gì đâu mà bế tắc. Cho nên, ngày mai sẽ biết bế tắc hay không! Cái thứ kì cục nó lên hỏi Anh; ngày mai lên đây ngồi, rồi nó sẽ hỏi. À!

BĐ4: Dạ, thưa Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Sydney tụi con, thì chúng con xin đề cử Anh Hữu.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Dạ, bị Anh Hữu, Con xin giới thiệu Anh Hữu với các anh em: đó là Anh Hữu phát tâm rất lớn,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Phát tâm cứu độ rất lớn, và Anh đã có nhiều kinh nghiệm,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Trong cái việc mà giảng pháp cũng như là nói đạo cho các Bạn đạo; các Bạn đạo mới tìm hiểu tìm học.

ĐT: Ừ.

BĐ4: Thì đây cũng là một cái dịp để Anh Hữu cũng được học hỏi thêm, cũng như chúng ta cũng được thu thập thêm kinh nghiệm của Anh Hữu,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Để rồi chúng ta sẽ bổ sung thêm bằng những cái buổi thảo luận,

ĐT: Ừ.

BĐ4: Bằng rút ưu khuyết điểm.

ĐT: Rồi, ghi tên Anh Hữu một cái. Rồi bây giờ Anh Hữu bầu ai? Anh Hữu cũng có quyền bầu người khác vậy.

BĐ5: Dạ, ở Melbourne, con xin bầu Anh Hiếu, mặc dầu ảnh nhỏ nhưng mà được;

ĐT: Rồi được, anh Hiếu! Ghi tên anh Hiếu, Sydney; lấy viết viết vô; anh Hiếu, anh Hữu, Sydney; rồi, Anh Hữu bầu ai?

BĐ5: Dạ, cảm ơn Anh Phương! Sự thật đáng lẽ thì Anh Phương phải lên trước.

ĐT: Trước, sau, gì? Anh được bầu thì Anh lên trước. Mình giảng đạo, không có sợ; rồi, Anh bầu ai?

BĐ5: Nhưng mà phải thành thật công nhận rằng ở cái Thiền Đường Sydney đó, Anh Phương đóng cái vai trò quan trọng là những cái buổi thảo luận đồ, đặc biệt là anh em đến không có rành cái này kia, thì Anh Phương hướng dẫn từ hồi trước tới nay mấy năm rồi.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Thì, ví dụ Anh Phương đã có nhã ý bầu con thì con cám ơn, con xin nhận để học hỏi thêm.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Nhưng mà Anh Phương cũng nên lên để học hỏi thêm với Thầy.

ĐT: Ừ.

BĐ5: Đặng mà về chỉ dẫn cho anh em cho có hiệu quả hơn.

ĐT: Rồi, ghi tên Anh Phương vô; vậy đó, dễ ợt! À; ghi tên Anh Phương; rồi.

BĐ6: Ở Melbourne, tôi xin nhường lại cho Anh Hòa và Anh Bang, có thể lên thuyết giảng được không ạ?

ĐT: Không có nhường; người ta bầu mình rồi thì không có nhường:

BĐ6:

ĐT: Mình cũng miệng, cũng nước miếng như người ta; nói đại; nó ra cái gì thì ra! (cười) Thế nào Chị Yến cũng được bầu nói đạo.

BĐ7: Xin đề nghị Chị Tranh.

BĐ8: Dạ, Con không biết nói cái gì.

ĐT: Sao không biết? Biết đi chợ nè, biết mua bánh nè, biết mua đậu hũ nè, biết xào nè, chế món này, món nọ; là đạo chớ gì nữa?

BĐ8: Dạ, con chế tùm lum.

ĐT: “Ăn vô cái nó an dạ, thanh tịnh liền!” Tại sao không biết nói cái đó? (cười)

BĐ9: Dạ, xin đề nghị Chị Tranh có thể lên thuyết giảng được?

ĐT: Rồi, Chị Tranh; ghi tên Chị Tranh vô; vậy thôi, từ từ người ta thấy hay rồi anh em tới: “Dạ, Chị làm ơn chỉ cho em tu, em bị vợ bỏ, khổ quá; Chị làm ơn cắt nghĩa!” (bạn đạo cười) Coi thử Chị cắt nghĩa làm sao; phải không? Đó; rồi Chị phải làm cho mình phấn khởi, vui lên, này kia, kia nọ. Cái mục đó quan trọng đó; phải không? Rồi Chị mới bắt đầu muốn giải tỏa những phiền muộn sái quấy giữa Anh Chị, thì phải niệm “Nam Mô A Di Đà Phật;” giá trị của “Nam Mô A Di Đà Phật” là sao, sao, sao, sao; chính bản thân Chị đã đạt như thế nào, Chị nói lại; rồi Chị chỉ cho người ta tu.

BĐ10: Dạ, thưa Cha; tụi Con ghi hết tên bỏ vô trong cái nón của Cha, Cha xào, Cha bốc ra, trúng ai người đó lên.

ĐT: Không được, không được; bởi vì, nghĩa là, cái này Bạn đạo là ông Trời mà! Ổng chỉ là phải lên, (bạn đạo cười) không phải giỡn. Rồi, bây giờ mọi người đồng ý Chị Tranh không? Đưa tay lên; ok!

BĐ10: Dạ!

ĐT: Rồi, đó; vậy là ông Trời kêu rồi, không có thay đổi.

BĐ10: Thưa Thầy, như vậy mỗi tiểu bang…

ĐT: Ờ, rồi sẽ còn nữa, còn nữa, còn nữa; (bạn đạo cười) bây giờ còn ai nữa cứ kêu lần sẽ ra à; rồi.

BĐ10: Thầy xin đề nghị chị…

ĐT: Còn cái ông mà làm Pháp Luân lắc đầu quá, chắc không ai cử? (cười)

BĐ10: Số một ở Melbourne đó Thầy.

ĐT: Số một ở Melbourne, mà ổng lắc quá người ta sợ! (Thầy cùng bạn đạo cười)

BĐ10: Anh đã có thành tích nhiều lắm rồi.

ĐT: Rồi, bầu ổng đi! Chịu không, có ai đồng ý không?

BĐ11: Dạ, đồng ý.

ĐT: Đồng ý, đồng ý, đồng ý; rồi, đưa tay, rồi ok;

BĐ10: Ghi Anh Tân vô;

ĐT: Ghi Anh Tân vô; rồi còn ai nữa? À, rồi, Chị Hai ở Perth! Rồi, đưa tay lên; ai đưa tay lên; ai đưa tay? Adelaid, Anh Sanh, Anh Sanh phải không? Anh Sanh; ai đồng ý không?

BĐ11: Dạ, đồng ý!

ĐT: Anh Sanh; thì đủ người rồi! Mỗi chỗ ít nhất hai tới ba người, bởi vì bữa nay người này đi làm, người kia đi tới, “Tôi, bây giờ tôi muốn gặp Anh Sanh. Anh Sanh nói không gặp được, thì tôi gặp Anh Quang. Ok!” Cũng như nói một thứ: dạy người ta tu; thấy không?

BĐ12: Dạ, con thưa Thầy Sydney, thưa Thầy, dì Bảy, với anh Cang.

ĐT: Ừ; ở đâu?

BĐ12: Dạ, Sydney.

ĐT: Ở Sydney? ờ; ghi tên vô. Ừ; anh Cang; có ai đồng ý không?

: Dạ!

ĐT: Bởi vì người ta dạy nhiều giới: như Anh Cang là dạy thứ, kêu bằng, thứ cựu, thứ dữ đó! Anh Cang ra dạy, hiểu không? “Đạo Anh là cái thớ gì,”

[kết thúc ID#19860104Q4 mp3 - Video ID=19860100L16 “Chia nhóm tu học” dừng ở phút 11:29]

--- +++ ---

[Bắt đầu ID#19860104Q5 audio mp3 - Tiếp tục Video ID=19860100L16 “Chia nhóm tu học” phút 11:30]

Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà:

BĐ Chọn Người Tập Truyền Pháp - Thầy Giải Kinh - Cuốn 12A

Đức Thầy: Người ta không có nói nhiều, nhưng mà người ta tu! (cười) Ừ, có hai người thôi, giỏi quá; gia tài có hai người. Ờ, có hai người thôi. Ừ, vai trò hai người; rồi. Cho hai người lên. Rồi người ta tới người ta hỏi, nghĩa là, “Em bị chồng bỏ. Bây giờ tu làm sao cho an tâm, anh Hiếu?” (bạn đạo cùng cười)

Ờ. Hả? Ừ… Cho nên, ở bên Tây người ta bị một cuộc rồi. “Tôi qua đây bơ vơ quá, nhớ quê hương; nhưng mà tới đây nghe Anh nói đạo, thích quá! Mai em tới nữa. “ Rồi qua bữa sau cái, nói, “… sao thích luôn Anh luôn;” rồi tới, “… bây giờ tu mà không gần Anh á, tu không có được!” (BĐ cười) Nó đóng đô ở ngay đó luôn. “Rồi sau phải làm sao? Giải quyết làm sao?“ Tui nói, “Không được. Mày dậy người ta tu làm sao mà mày lại cho người ta ở nhà, rồi mày, chắc là cởi mở với người ta rồi, thì bây giờ phải cưới người ta chớ sao? (bạn đạo cùngcười). Thôi, thì làm luôn cho rồi!” Giải quyết xong hết. (cười)

Ừ; phải rồi! Trưởng lão xá lợi. Đó, là mấy cụ già tới rồi, phải gặp Má Mười nói chuyện. Ờ, ở Sydney có người Tầu thì gặp chị này; chị Hoà đồng ý không? À, còn đàn ông người Tầu thì gặp ông Minh?

Ừ, đưa tay lên. Rồi, đủ rồi; nhân tài đầy đủ mà! Ờ, già nhứt và trẻ nhứt có.

Bởi vì tôi có một cái thơ gơỉ đến các thiền đường: sau này các bạn thuyết quen, và thuyết phục được tất cả bạn đạo, rồi bạn đạo sẽ gởi đi các xứ thuyết Pháp. Có không? Có nhận được cái bao thơ đó không? À, phổ biến cho tất cả bạn đạo biết cái vụ đó.

Mình phải chất vấn, phải hỏi; phải hỏi; hễ người ta tới người ta hỏi tu thôi. Kéo dài một ngày cho tới tối cũng được. Nghĩa là bây giờ học rồi, phải thi; phải thi. Thi, mà người nào đó hay nhứt là mọi người chấm điểm, chớ không phải tôi là người chấm điểm. À, “Ok, người này hay nhứt,” ghi vô; 10 người vỗ tay là 10 điểm, mà 20 người vỗ tay là 20 điểm. Nói vậy đó.

Hả? Đâu có sợ. Chị nói, “Tui nói nhiều thì không được, nhưng mà Chú muốn là tui chỉ Chú cái pháp Soi Hồn, với Pháp Luân Chiếu Minh đồ.” Chị làm ngon lành liền, có gì đâu?

Kệ; cứ thêm đi, thêm vô; nhiều người chừng nào thì phổ độ được nhiều; đâu có gì; vừa dậy được người ta tu mà vừa học nhẫn. [06:38]

[Hết video ID=19860100L16 - “Chia nhóm tu học” – audio mp3 ID=19860104Q5 dừng ở phút 06:38 - Hết video ID=19860100L16 - “Chia nhóm tu học” thiếu so với Mp3 ID=19860104Q5 tương ứng từ phút 06:38 đến 07:25]

Dậy người ta làm Pháp Luân cho đúng, dậy người ta Soi Hồn cho đúng, đó; dậy người ta niệm Phật cách nào cho nó đàng hoàng. Đơn giản mà, không có nhiều; “cái này sơ sơ thôi “ba món ăn chơi” thôi (cười) đi sau là phải gặp ông khác. (có lời bạn đạo nói) Mấy người đó làm được, anh Công làm đúng rồi, hôm trước có làm cho tôi coi rồi… trong thực hành…

Bây giờ mình tiếp tục cái kinh A Di Đà này. Thôi, đeo kiếng nặng, không cần đeo kiếng.”

[Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh – phần 10”]

Tân Đầu Lư Phả La Đọa

Nghĩa là bến đò Giang Tân, đầu và trước trán, ngay bộ đầu. Chữ là Lư Hương tập trung đó con. Chữ PHẢ là thuyền Bát Nhã. Chữ LA ĐỌA. Chữ LA là một thứ nước Cam Lồ trước kia con tu luyện đạo mà có, hiện nay gốc ở nơi sông Bỉ Ngạn.

Di Đà ơi! Nay con cố tâm luyện đạo, ta lấy nước nơi sông Bỉ Ngạn để mượn điển truyền thanh, viện trợ nước Cam Lồ giúp cho con, đem vào thận thủy là hai trái cật, bổ túc thêm sự lao nhọc làm lụng. Khi luyện đạo tu hành, nước ấy chạy thẳng vào thận thủy tiên thiên của trái cật, bổ túc sự lao tổn bản thể của con làm việc cho trần.

Nay cho con nước này thêm sức lực dồi dào, bổ túc sự mạnh mẽ sức khỏe của con, tuy là con lớn tuổi, trở lại trẻ trung hơn phần nào cho có sức luyện đạo, để hồn con theo Thầy.

Di Đà ơi! Ráng tu đó con!...

Ca Lưu Đà Di

Nghĩa là chữ CA là Thích Ca chứng minh. Chữ LƯU là để ý xem xét sự luyện đạo cho chúng sanh. Chữ ĐÀ là Thầy chúng ta gọi Di Đà. Chữ DI là truyền cho chúng sanh nào làm việc luyện đạo cố gắng. Đồng thời Thích Ca Phật Tổ cùng Thầy ta là Di Đà xem xét dạy đạo.

Ma Ha Kiếp Tân Na

Chữ MA HA :

Di Đà ơi! Khi hồn con ở thiên đàng, con sa ngã phạm tội. Thiên nhan, nhập vào Niết Bàn ở chốn trần gian. Ta giao phó cho con một bản thể có đủ điều kiện ăn, ngủ, bài tiết theo trần. Hễ xuống trần thì con mê trần. Con bị chua cay, chát, đắng, mặn, nồng, mạnh hiếp yếu, có khi bị tù đày bản thể nữa. Thì ta chắc rằng con sa đọa hồn con sẽ làm con ma luân hồi.

Nay con được suy nghĩ thức tánh, muốn trở về quê cũ của con, con chán đời, rồi con thức tánh tầm đàng theo đạo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí, nhứt tâm thành thật nguyện theo dưới chơn ta. Ta là Đại Từ Đại Bi, thương tất cả chúng sanh. Nay con luyện đạo được minh triết rồi, từ đây con không làm con ma, hiện nay là kiếp của con. Nếu con mê trần làm lầm lỗi đó con, nhờ con minh triết thức tỉnh, cố tâm luyện đạo tu hành, khỏi kiếp mê trần làm con ma...

Chữ TÂN NA là cải cựu hoán tân, hết mê tới tỉnh, hết tối tới sáng, thì con được Tân Dân chủ nghĩa theo nhà Phật, đời đạo song tu, tu tâm luyện tánh.

Ông Tám giảng

Chúng ta tu, trước kia chúng ta động loạn. Ngày nay chúng ta tu thiền rồi, chúng ta uống được linh đơn, để giải mê rồi. Cho nên nói về đạo là chúng ta thích, mà nói về đời thì cảm thấy tâm nặng, khó chịu. Tại sao? Chúng ta đã bước lên một lớp nữa rồi! Cho nên người tu đã được uống thuốc Phật để tiến hóa mà không hay. Thì chỉ có Pháp lý Vô Vi mới là đi mau như vậy, trực tiếp, và thực hành cấp tốc mới thấy rõ là từ giai đoạn trần trược, dòm lại trước khi các bạn chưa tu, các bạn đâu có hiểu cái gì. Đọc cái này ra nghe không hiểu mà bây giờ nhắc lại một chút xíu là các bạn hiểu rồi. Các bạn đã lên được một chút rồi, nghe hiểu rồi, hiểu ý rồi. Nghe những lời đó nó thấm thía và nó chạy vào tâm, và chính ta đang hành theo đường lối đó.

Di Đà ơi! Con được biết Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là đạo Khổng Tử không thể nào lầm lạc việc đời, còn đạo Phật Pháp lý Vô Vi, con cùng một tâm chí nguyện về cảnh cũ quê xưa, theo cảnh Tiên nhà Phật.

Di Đà ơi! Ta thấy con một lòng tưởng Phật, thì chữ Đại Từ Đại Bi ta ban phước lành cho con. Nay con được Lục Huệ, ta giao phó cho con phải hoằng hóa chúng sanh, giáo huấn chúng nó, vớt linh hồn nó khỏi chốn trầm mê. Ta sẽ độ cho chúng nó cùng con qua bến Giang Tân, từ mé sông Bỉ Ngạn bên có thuyền Bát Nhã đưa qua mé sông Bỉ Ngạn bên kia. Khi con vào Niết Bàn, con được ở bến Giang Tân, chữ Kinh gọi là Tân Na là một bến đò, sông Bỉ Ngạn, con được hoằng hóa chúng khỏi kiếp ma, qua đường Phật.

Di Đà ơi! Từ đây con được một lòng theo ta, dắt chúng nó qua khỏi bến trầm luân vào nơi xứ Phật, vui vẻ khỏe khoắn đời đời kiếp kiếp.

Ông Tám giảng

Cho nên chúng ta tu mà đạt tới thanh tịnh nhập định rồi mới xuất ra, xuất ra đi tới bến Bỉ Ngạn. Đi qua đó rồi, cái tâm thơ thới vô cùng. Trở về trần gian các bạn thấy rằng các bạn không có phải ở trần gian. Luôn luôn cái tâm ở nơi đó và thấy mình qua lại nơi đó mãi mãi trong tâm thức, thì cảm thấy nhẹ nhàng. Sông Bỉ Ngạn lúc nào cũng phẳng lặng, gió thanh thoát, đem lại một hồn thơ siêu việt trong nội tâm của chúng ta, thanh nhẹ vô cùng, màu sắc thanh nhã.

Bạc Câu La A Nậu Lầu Đà

Chữ BẠC CÂU LA nghĩa là: Con Ngựa Cu biết bay, biết chạy nhanh chóng, chữ CÂU là con Bồ câu, bay lên đáp xuống là nghĩa trần, chớ thật sự nó là hai trái cật Thiên Khảm Nhứt đã gắn sau lưng ngang lưng quần bản thể con. Nó là một vị Chơn Nhơn kiểm soát thừa hành ba cõi, từ thiên đàng, dương gian, âm phủ. Nó cũng bị tù đày như con mà sa nơi hắc ám bản thể của con. Nó là một thứ bảy vía. Cũng có nghĩa là điển ngũ tạng cùng hồn và vía của con, là hai dây điển, dây nóng và dây lạnh, gọi là thần kinh, để phò trợ cho con. Bảy vía này hợp nhứt, con làm đầu cai quản chúng nó. Thứ nhứt là con, còn Vía và Ngũ Tạng cộng là 6, cũng có nghĩa là Lục Căn, giao về phần con giữ bên trong bản thể, còn bên ngoài là bóng Vía tay chơn hoạt động, để cho Ngũ Tạng sai khiến, còn Tánh Vía thì làm chủ.

Tánh Vía là một đơn vị, còn Ngũ Tạng chung hết hóa ra Lục Trần.

Di Đà ơi! Sự khó khăn này, hàng ngày công phu luyện đạo, con phải làm chủ nhơn, trọn quyền không phần nào chối cãi được. Con có quyền sai khiến chúng nó, ví như một chiếc thuyền có bánh lái cùng buồm, chèo, sào đủ. Nếu con làm phải thì chúng nó phải, còn con làm quấy thì chúng nó sa đọa hơn con.

Sách KHỔNG TỬ có nói: “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”. Hễ thuận Trời thì còn, được lên thiên đàng, còn nghịch Trời là lấm nhiều tội lỗi thì giả vong là con ma.

Di Đà ơi! Con thấy chưa? Giả vong là vong hồn đó con. Hồn là khôn, Vía là dại.

Di Đà ơi! Ta chỉ Tông chỉ Pháp lý cho con biết. Đây là hai dây luồng Điển Cái của bản thể con. Nóng thì dữ tợn xúc tiến hùng hồn, đó là Hồn con. Còn dây điển lạnh là Vía của con, tánh hiền mềm dịu, cai quản Lục Trần. Vía yếu tánh bị Lục Trần xúi dục, phải bị sa đọa.

Di Đà ơi! Vì chỗ đó, ta giao quyền cho con làm chủ để sai biểu chúng nó. Nó được nương quyền hộ trợ cho con, bản thể là con thuyền Bát Nhã. Còn con là chủ chiếc thuyền, hãy cầm tay lèo tay lái, quấy phải nơi con. Có câu: “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”thuận Trời thì còn, nghịch Trời thì thác.

Di Đà ơi! Theo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật, lấy điển làm đầu, khi thác xác bỏ lại thế gian thành đất. Điển là một Khí thiêng liêng.

Di Đà ơi! Con ráng công phu luyện đạo, nay con được minh rồi, mà con được hiểu chưa? Những cái tông chỉ phép tu lấy điển mà thôi, còn xác thịt ở đâu còn đó, chết hườn lại cho đất. Còn điển là một thứ hơi bay bổng lên thiên đàng. Bây giờ đây tông chỉ của nó, tiền căn hậu quả của nó trước khi bị tội lỗi trên thiên đàng sa xuống trần gian áp vào bản thể. Câu rằng: “Thuận Trời thì sống, nghịch Trời thì thác”. Nhưng trước kia con có tội lỗi là nghịch Trời không được ở thiên đàng, tội ấy sa vào trần gian áp vào bản thể.

Di Đà ơi! Con thấy chưa? Ngũ Hành là Ngũ Tạng ở trên, còn Thiên Khảm Nhứt là ở dưới.

Di Đà ơi! Thấy chưa? Nghịch Trời đó con, con thác thành ma không thể trở lại thiên đàng. Nay con thức tánh luyện Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của ta dạy con công phu ba điểm: Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển, Định Thần, để cho điển trái cật thận thủy xung lên bộ đầu, để sắp lại cho thuận Thiên giả tồn.

Di Đà ơi! Đó là Khoa học Pháp lý của con. Thiên Khảm Nhứt ở bộ đầu gọi là Trời, rồi tới Ngũ Tạng là Ngũ Hành, tới tì là bao tử thuộc thổ. Trời có Ngũ Hành, đất có Ngũ Sắc, người có Ngũ Tạng phải là thuận Thiên giả tồn đó con. Nếu mà con công phu dày dặn, thì Hồn con được thành chức La Hán Xá Lợi. Thuận thiên là thông thiên, khi con thác hồn con được ở thiên đàng.

Chữ A NẬU LẦU ĐÀ

Chữ A là nhâm quý gồm thâu nơi thận (trái cật) là cốt giác nước điển ở trái cật xung lên bộ đầu hóa thành một chất

Chữ NẬU là nước hóa thành Cam Lồ.

Chữ LẦU là trên bộ đầu.

Chữ ĐÀ là nền tảng tại bộ đầu để cho nước lửa điển ở tại đó giúp cho linh hồn con trở nên sáng sủa, còn Lục Căn, Lục Trần, lục huệ hóa thành Xá Lợi Như Lai.

Như Thị Đẳng. Chư Đại Đệ Tử

Nghĩa là: Hết thảy mấy vị La Hán ta đã chở ở trong bản thể, nơi nào làm việc theo sở các bản thể của con thuộc bên trong, còn bên ngoài thì ta sẽ cắt nghĩa đến cho con rõ thấu.

Tịnh Chư Bồ Tát Ma Ha Tát

Chữ TỊNH là yên lặng, làm cho bản thể tưởng Phật, quên hết cả bản thể ta. Nghĩa là: Tịnh cho đến đỗi ta tưởng mình ta không không, còn một điểm Linh Hồn Chủ Nhơn Ông mà thôi. Nhưng mắt nhắm tai nghe, ta còn một chút xíu hơi thở hoi hóp để ta phá cái mê muội trong trần. Trong cái Tịnh thì mới có cái Tỉnh, tỉnh trí an thần, mới thấy cái máy huyền vi hóa ra một hào quang chói lọi do nơi điển của ta xuống giúp cho mỗi cá nhân.

Di Đà ơi! Con ráng tịnh luyện, con đừng sợ thác bỏ xác mà mê trần. Con không sợ thác là sống đó con. Sống là sống linh hồn, con thác là bỏ xác trần.

Di Đà ơi! Con biết chưa? Theo ta nào có thác, thác là bỏ xác trả lại cho đất, còn hồn là con, theo về nước Cực Lạc của ta, sung sướng thong thả biết mấy. Cực Lạc là xứ quê hương của con trước kia.

Chữ BỒ TÁT MA HA TÁT, khi ấy nơi trong Ngũ Tạng Lục Phủ của Di Đà là cốt giác điển quang của các vị Bồ Tát đang quỳ nghe Phật Tổ giảng dạy để thừa hành phận sự, đồng tu luyện với Chủ Nhơn Ông.

Lúc ấy Phật gọi Di Đà ơi! Nay con lên một vị Trưởng Lão Xá Lợi, còn các vị La Hán Bồ Tát đây đã lên chức phẩm rồi. Ta đã chỉ ba phép luyện đạo, nghề chuyên môn 6 chữ Di Đà, giao lại cho Chủ Nhơn Ông gọi là Di Đà của chúng bây, hoằng hóa chúng bây cùng chúng sanh ngoài trần. Từ đây nào Chủ Nhơn Ông cùng chúng bây phải công phu luyện đạo dày công cùng thi ân bố đức, hoằng hóa chúng sanh ngoài trần nhiều chừng nào tốt chừng nấy. Nhưng chúng bây phải cố gắng công phu luyện đạo, không được bỏ rơi phút khắc nào. Khi con đang nói chuyện, con phải nhớ ta là Thích Ca Mâu Ni chứng minh cho con.

Ta là Phật nắm luồng điển huyền vi, là luồng điển cái để cầm vận mạng cứu giúp con tu hành cho tinh tấn. Con cần mẫn thì sự tinh tấn ấy phát triển cho con, làm cho Chủ Nhơn Ông Linh Hồn minh mẫn, trong sạch, sự có ích của con dồi dào. Hễ con cố gắng là sự học hỏi của con bố hóa sáng suốt thêm hơn.

Còn các vị La Hán này, ta đã chỉ rõ phép huyền vi cho các ngươi hiểu biết rồi phải cần mẫn làm việc tài bồi bản thể, cùng phải nhớ chữ BỒ TÁT MA HA TÁT, Chủ Nhơn Ông của bây, cùng ráng cố gắng học đạo, luyện đạo Pháp lý tu hành. Con muốn làm Phật là Phật. Còn con muốn làm ma thì là Ma. Bỏ lẫn quên học tu luyện gọi là lười đó con. Đến đây ta truyền thống cho các ngươi đã rồi, thì cố gắng tu hành, còn phận sự Lục Trần là Tánh Vía của Di Đà nay đã lên chức.

Ông Tám giảng

Cho nên khi mà chúng ta tu phẳng lặng tâm hồn rồi, chúng ta nghe đức Thích Ca nói chuyện, còn thấm thía nữa. Cho nên các bạn đã Soi Hồn để làm gì? Để cho nó phẳng lặng cái thánh tâm. Cái lỗ tai của các bạn nó xa lắm, khi mà nghe víu víu ngay trung tim này (trung tim bộ đầu), rồi chư Tiên đi qua đụng mình, mình cũng nghe rõ người ta đụng như vậy thì lúc đó nó đi lên trên cao rồi. Thì Đức Thích Ca giảng đạo, chúng ta ngồi ở dưới này chúng ta nghe, nghe rất rõ ràng, rất thấm thía và mở tâm mở trí. Cái luồng điển nó truyền cảm. Cho nên hồi xưa, người ta đóng phim người ta cũng thấy rõ đức Thích Ca cứu những người của Ngài bằng một tia điển cũng như một sợi chỉ rút người ta đi lên. Thì chúng ta tu ở đây là trung tim đây (trung tim bộ đầu) có luồng điển hướng thẳng trung tâm sinh lực. Thì tưởng tới Ngài thì Ngài chiếu thì chúng ta cũng vẫn đi lên được. Cho nên cái đường lối không có sai lệch của Pháp lý Vô Vi là chỉ đường tiến hóa rõ rệt, nhưng mà do sự dày công hành tiến và tùy theo cái nghiệp duyên của mọi cá nhân mà tự thức tâm đi lên.

Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử

Nghĩa là: Ngươi có phải phò trợ của hồn Di Đà là Trưởng Lão Xá Lợi Bồ Tát không?

Lúc ấy Văn Thù Sư Lợi gọi các đảng phái chúng nó đồng ra quỳ đảnh lễ điển Phật Tổ truyền thống xuống, cùng đảnh lễ Trưởng Lão Xá Lợi Bồ Tát, gọi là Hồn Di Đà, rồi đồng quỳ nghe giáo huấn của Phật Tổ cùng Trưởng Lão Xá Lợi Di Đà.

Lúc ấy, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử bạch Phật Tổ cùng Chủ Nhơn Ông Trưởng Lão: Chúng tôi hiểu biết cặn kẽ.

Chữ VĂN : Là phải nghe lời chiều lụy Chủ Nhơn Ông Trưởng Lão.

Chữ THÙ : Là thù hiềm tánh hay mê trần oán ghét.

Chữ : Tôi là Vía phụ trợ gọi là Vợ, điển âm, ưa mưu sự gọi là làm Sư đốc xúi cho ham trần, làm hại cho chồng là Chủ Nhơn Ông hay là Trưởng Lão Xá Lợi Phật.

Chữ PHÁP VƯƠNG TỬ: Chúng tôi là một cái khí âm, gọi là Thần khí, thần khí là tông chỉ của chúng tôi, cùng thọ Phụ tinh Mẫu huyết, hai khí ấy hợp vào hóa thành chúng tôi. Các nguyên khí này gọi là Vương Tử. Vương tử là nguồn cội gốc gác của bản thể người, biết ăn, ngủ, ỉa mà thôi, cùng ham mê thất tình lục dục, gọi là mê trần, cũng tuân nơi Thượng Đế phán đoán tánh của chúng tôi, ăn của trần làm việc cho trần thì lấm lối những điều tội lỗi làm hại cho Chồng tôi là Chủ Nhơn Ông Trưởng Lão. Nay chúng tôi đã minh, nhờ Chồng chúng tôi công phu dạy đạo chúng tôi, cùng điển Thông Thiên Giáo Chủ Phật Ngài truyền thống cho Hồn Chồng tôi là Di Đà, thì từ ngày Chồng tôi tu hành Pháp lý Vô Vi, nay được tiếp xúc điển huyền vi truyền thống, thì chúng tôi hiểu rõ hộ trợ tu hành.

Nay chúng tôi phát minh tu hành theo đường Pháp lý Vô Vi.

Bạch hóa Phật Tổ cùng Chồng tôi là Trưởng Lão Xá Lợi, Di Đà, tôi là Vợ Tánh Vía, cùng bọn chúng tôi đồng tuân theo lời giáo huấn của Phật Tổ và Trưởng Lão dạy tu hành.

A Dật Đa Bồ Tát

Càn Đà Ha Đề Bồ Tát

Trưởng Lão Xá Lợi ơi! Hễ con công phu nhiều, thì điển quang trong Ngũ Tạng về bộ ăn, ngủ, ỉa của bản thể con trong ấy có khí nóng, nóng đặc biệt nhẹ nhàng êm dịu và nóng vừa vừa, nóng nồng nực, cùng thứ nóng nô nức trược đục.

Xá Lợi ơi! Lúc con luyện đạo công phu thì chất nóng của điển xung lên bộ đầu là thứ đặc biệt, nhẹ nhàng, êm dịu, biến hóa ra hào quang đặc sắc, từ chư Tiên đến Thượng Đế cùng ta nữa cũng phải luyện đạo nuôi chất nóng ấy, nó là một thứ DIỆU PHÁP LIÊN HOA, hào quang này biến hóa muôn ngàn vật liệu, nào vật chất, thú vật cùng người trong nước của con đều có đủ, con muốn chi có nấy, do nơi khí điển đặc sắc hóa thành muôn vàn vạn thứ, nó là một thứ Khoa học Huyền bí của Phật.

Xá Lợi ơi! Con ráng công phu luyện đạo, từ đây con không như người trần thế nữa, khỏi lo giàu nghèo, chức phẩm, còn hơn là triệu phú dưới thế gian, khi con muốn chi thì có trước mặt hiện diện để cho con dùng.

Xá Lợi ơi! Từ đây con không mệt nhọc, sống nhẹ nhàng, khi đến căn phần con được về xứ Phật, còn sự biến hóa thì mau lẹ làng hơn nữa. Bởi thế chữ Kinh A DẬT ĐA BỒ TÁT là khí điển nóng mới có hào quang nói trên đó, con hiểu chưa?

Còn chữ Kinh CÀN ĐÀ HA ĐẾ BỒ TÁT là: NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cho đến chư Phật thì luôn luôn có hào quang để biến hóa tất cả, từ PHẬT đến THƯỢNG ĐẾ cũng công phu nuôi dưỡng hào quang ấy, muốn chi được nấy, còn hàng chư Tiên cũng có thứ lửa trong sạch trong bản thể con người, cùng mượn những vật chất dưới trần để biến hóa, phẩm ngũ hành này không có hào quang, mượn lửa trong sạch làm ra thôi, chưa có cốt giác, chúng nó phải tu nữa mới có hào quang.

Xá Lợi ơi! Ta khuyên con cùng các chúng sanh phải dày công luyện đạo nhiều chừng nào thì hào quang rõ rệt chừng nấy.

Xá Lợi ơi! Khi con luyện đạo phải nhớ Phật Tổ là một luồng điển cái, gọi là Hào quang chánh. Khi con nhớ Phật Tổ như là Hắc Bì Phậttại thiên không, và con phải nhớ ta là hậu Tổ Thích Ca Mâu Ni tại trung thiên. Lúc ấy Phật Tổ cùng ta bố thí phóng ra chia sớt hào quang cho con và chúng sanh. Khi con hoằng hóa chúng sanh, phải nhắc nhở thường nghe con. Nhớ Phật thì Phật giúp cho, còn không nhớ đến thì công phu luyện đạo của con trở thành thể thao, nuôi vật chất bản thể mà thôi.

Ông Tám giảng

Cho nên cái này chứng minh Thượng Đế Vô Cực Đại Thiên Tôn là HẮC BÌ PHẬT, là cha muôn loài vạn vật chứng minh rất rõ ràng nhưng mà nhiều người đọc kinh không hiểu, không thấy, cái gì không có thể thay đổi được đó mới là chơn lý.

Thường Tinh Tấn Bồ Tát

Chữ THƯỜNG là: Thường hành khi đúng giờ công phu luyện đạo chớ bỏ qua.

Chữ TINH TẤN là: Khi công phu phải chính đính, kỹ lưỡng, thâu phóng vào ra hơi bình thường, không chậm mà cũng không mau, đừng để tâm xao xuyến.

Ông Tám giảng

Nhớ cái này đừng để lòng xao xuyến.

Di Đà ơi! Con đừng tưởng con đã lên phẩm chức sắc con thận trọng cho con, vì có khi bị [chép thiếu chữ “tụi”] Lục Căn, Lục Trần binh gia của con, nó gặp con đi đường sái, chúng nó thường khi rủ ren làm cho ta mê trần. Ta cũng gớm nó lắm. Nó khôn lanh quỷ quyệt cho trần.

Di Đà ơi! Con đừng tự trọng tự khinh mà bị nó. Trước kia Thầy cũng bị nó gạt gẫm nhiều lần, nhưng Thầy có chí hùng dũng, ngay thẳng, một lần thoạt chết, thoạt sống, một ý theo Phật mà thôi. Di Đà ơi! Con đừng tin lấy nó, mà cũng không cố chấp nó, thay vì chúng nó là tôi tớ trong nước của mình.

Di Đà ơi! Ráng chăm chỉ nghe lời Thầy dạy!

Còn chữ BỒ TÁT là: Công phu luyện đạo nhiều chừng nào tốt chừng nấy đó con.

Ông Tám giảng

Cho nên trong này Phật cũng có dặn rằng, nghĩa là chúng ta còn chấp nó là chúng ta khổ. Đó, thì tất cả chúng ta người tu ở trong gia đình cũng vậy. Chấp người này, chấp người kia, cũng không được, bạn đạo cũng chấp người này, chấp người kia cũng không bao giờ tiến, cho nên mình phải biết phận mình lo tu, mở, thì ở trong Lục Căn, Lục Trần, mình mới giáo dục nó rõ ràng. Nhiều khi nó quyến rũ chúng ta làm điều này là nó ở trong chấp, nó đề nghị việc này, đề nghị việc kia, đề nghị việc nọ, một ngày 24 tiếng đồng hồ nó đề nghị nhiều việc lắm, chúng ta làm sao nuôi dưỡng cái sự thanh sạch để quy không thì lúc đó mới dìu tiến được Lục Căn, Lục Trần rõ rệt hơn và dễ dãi hơn.

Giữ Như Thị Đẳng

Nghĩa là: Lúc ấy điển đức Phật phán cho Di Đà vừa rồi, còn nhớ lại, gọi Lục Căn, Lục Trần cùng chúng sanh trong nước của Di Đà cùng là bò bay máy cựa, xuất ra trước mặt đức Di Đà, thì hồn đức Di Đà quỳ xuống cùng chúng sanh của đức Di Đà để nghe lời dạy của đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Khi ấy Phật Tổ phán quở rằng: Di Đà cùng chúng sanh của mi vô lễ. Hễ học đạo phải học ăn, thì nuốt vô, thâu vô, học nói thì phóng ra, là phát ra. Học gói là ngồi đâu chỉnh tề nghiêm nhặt, gọn gàng. Học nói những câu nói ra phải chính đính, hiền từ thông dụng.

Chữ SẮC không nên ăn nói ta bà, nói phải đặc sắc, để chờ trí não trình bày mới nói ra, nhưng luồng điển ta không bao giờ chậm trễ, hàng ngày ở bên chúng sanh. Tuy là chúng sanh không thấy, chớ thật Không mà Có đó con. Nếu không ta, sao con thở được đó, nuôi dưỡng con đó.

Hiện nay chúng bây tu mà không để ý, chỗ nào ngồi, chỗ nào ăn nói, phải có trật tự. Ta đã sắm sẵn cho chúng sanh, vì tu không sáng suốt, vô trí, vô thức. Phải nghe ta trình bày chỉ dạy!

Lúc ấy Di Đà cùng chúng sanh trong nước Di Đà đảnh lễ điển đức Phật Tổ.

Chư Đại Bồ Tát Cập Thích Đề Hoàn Nhơn Đẳng

Lúc ấy điển Phật Tổ giáo đạo, mới gọi là Chư Đại Bồ Tát. Hỡi các chúng sanh ơi!

CẬP THÍCH nghĩa là: Giải rõ:

ĐỀ HOÀN NHƠN ĐẲNG nghĩa là:

Chữ ĐỀ HOÀN là phân ngôi thứ, chỗ ngồi, đâu có trật tự, phân giai cấp đã rồi. Lúc ấy Phật Tổ hỏi Di Đà cùng chúng sanh bây ơi! Bây biết chưa?

Chữ ĐẠI BỒ TÁT là chúng bây lên cấp Bồ Tát.

Chữ CẬP THÍCH nghĩa là: Phân giới hạn giai phẩm ngồi kế tiếp có thứ tự.

Chữ ĐỀ HOÀN nghĩa là: ĐỀ là đề mục, chữ HOÀN là rõ ràng hoàn toàn hiểu thấu để nghe sự giáo huấn của chư Phật dạy đạo.

Lúc ấy điển Phật Tổ nói: Di Đà cùng chúng sanh có hiểu chỗ nào mà chúng bây ngồi đây? Thế gian hay là thiên đàng?

Đồng thời Di Đà cùng chúng sanh đảnh lễ Phật Tổ bạch Phật: Chúng con nào biết được. Lúc ấy điển Phật Tổ truyền thống cho Di Đà nói ra: Các chúng sanh con ơi! Chỗ ngồi đây là chỗ dương gian và thiên đàng. Vậy chúng sanh xem thử chỗ này có đẹp đẽ nghiêm trang không?.. ngồi thong thả sung sướng không?... gió thổi mát mẻ không?... có âm nhạc ca xang không?... con thấy chỗ ngồi có ngọc ngà châu báu chiếu sáng không?... trong lòng con có vui vẻ không?

Lúc ấy Di Đà cùng chúng sanh đảnh lễ Phật Tổ bạch Phật: Mấy điều của đức Phật nói ra đều có hiện tại đây. Chúng tôi nghe âm nhạc ở đâu đem lại rõ ràng thanh nhã, cùng gió du dương vui thú biết chừng nào, ngồi đây thong thả biết bao. Trong lòng chúng con khoái trá vô cực vô biên. Chúng con dòm lên trời, thấy trời thanh mây tịnh, nước biếc mây xanh. Còn dòm ngoài sân, thì thấy bồn bông Lan Huệ tươi tắn, bông đưa theo chiều gió, vui thú biết bao.

Khi ấy điển đức Phật Tổ gọi: Hỡi chúng sanh trong nước bản thể của Di Đà ! Chúng bây đâu có biết chỗ thiên đàng hay là dương gian, vì bây chưa có huệ nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. Hiện nay ta chỉ trước cho các ngươi hiểu rõ: Trong nước của ngươi cũng như thiên đàng. Chỗ này gọi là Hội đồng để Hội nghị chư Phật hay là chư Tiên, bây có biết chăng?... Thế gian nó tạo tấm tượng ảnh Hội Đồng chư Phật, nó chỉ rõ để hiểu đó con. Nhưng những vật chất là không đúng, bề ngoài làm sao biết bề trong được. Đây ta chỉ ngay cho chúng ngươi biết, cái khối óc trên bộ đầu của Di Đà là chỗ chúng bây ngồi nãy giờ đây, có đường lên thiên đàng. Còn tại đây là diu dương của thế gian. Ngọc chiếu là đôi mắt của bộ đầu Di Đà, còn gió diu dương là hai lỗ mũi của Di Đà thở, còn âm nhạc là hai lỗ tai của Di Đà, còn bồn bông Lan Huệ là tóc râu của Di Đà. Nội hết thảy châu thân dính líu gom lên bộ đầu gọi là chữ CẬP THÍCH. Còn chữ ĐỀ HOÀN, ĐỀ là mỗi Đề mục. HOÀN là hoàn bí phép tắc vô cực vô biên.

Chữ NHƠN ĐẲNG là chúng bây nhóm ngồi tại đây đều có giới hạn. Trong Pháp lý nói là Hà Đào Thành trong khối óc của con người, khi công phu, chúng bây ngồi luyện đạo thấy bá vạn hà sa, như hột cát sáng chói bay qua lại trước mặt. Cái tông chỉ của nó ở trong óc bản thể của con người. Có nhiều hột cát dính líu, nhờ luyện đạo thì hột cát ấy hóa ra như vì sao, bay qua lại sáng chói vô cực vô biên. Nhờ sự tu hành luyện đạo Pháp lý Vô Vi, thì mấy cái hột ấy hóa ra lửa điển gọi là Hà Sa. Khi công phu già dặn, nhiều thì những hột Hà Sa bay ra ngoài gom lại, biến hóa ra ngọc của con người gọi là Mâu Ni Châu.

[Kết thúc ID#19860104Q5] ..... Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà - Cuốn 12A - [Video ID=19860100L16 dừng ở phút 36:19]

--- +++ ---

[bắt đầu ID# 19860104Q6] Mp3 - Tiếp tục video ID=19860100L16 phút 36:19]

Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà - Cuốn 12B

… Rồi trong khối bộ đầu có một cái lỗ tại mỏ ác gọi là Đề Hoàn.

Chữ NHƠN ĐẲNG là một chỗ ấy. Cái khối hay là cái chất của Cha Mẹ, phụ tinh mẫu huyết cấu tạo khởi đầu nan, ví như cái hột trống của trứng gà trứng vịt tại nơi tròng đỏ. Chỗ ấy luyện đạo nếu được Huệ rồi xuất Hồn đi ngay đó. Đó là thế gian hóa thiên đàng. Còn ngay chỗ tập trung trước trán của ta, có một cái đường rạn nứt. Ngay đấy có một cái lỗ nhỏ bằng hột cát. Tại đấy có một cái ổ váng nhện bằng sợi gân nhỏ như sợi tóc làm ra, là tông chỉ của Cha Mẹ ráp thành bộ xương gọi là dương gian hóa thiên đàng.

Vô Lượng Chư Thiên, Đại Chúng Cu

Chữ VÔ LƯỢNG CHƯ THIÊN có nghĩa là: Hết thảy các đẳng chúng sanh tại đây đã có phẩm giá được làm việc cho Phật, cho nên ta mừng. Trước mặt đây chúng bây là một vị A La Hán. Ngày giờ đến đây s ẽ theo gót ta mà làm việc cho Phật.

Chữ ĐẠI CHÚNG CU có nghĩa là: Phật kêu tất cả chúng sanh phải biết người ngồi đây là Di Đà dạy biểu chúng ngươi về 6 chữ Khoa học Huyền bí của Phật, tục gọi là Phật Di Đà, làm nghề Khoa học đó mà thành Phật, nay truyền lại cho bây. Chúng sanh hiểu biết chưa?... Chớ thật nó là Trưởng Lão Xá Lợi, là nhờ nó luyện phép của ta mà được chức phẩm ấy.

Nhĩ Thời Phật Cáo Trưởng Lão Xá Lợi Phất

Chữ NHĨ THỜI PHẬT CÁO là: Lỗ tai nghe ngày giờ này, Phật gọi là Trưởng Lão Xá Lợi.

Chữ TRƯỞNG LÃO XÁ LỢI có nghĩa là: Tu già dặn gọi Trưởng Lão, mới có Mâu Ni Châu, chói lọi hào quang lâu năm rồi.

Chữ XÁ LỢI là: Phật giúp cho theo luồng điển cái, cũng có nghĩa là NHƯ LAI.

Chữ XÁ là bỏ cho, chữ LỢI là Mâu Ni Châu.

Lúc ấy Phật Tổ gọi: Trưởng Lão Xá Lợi ơi! Từ đây con được gọi là: Di Đà Phật, là làm nghề Khoa học, 6 chữ mà thành Phật. Khi con nhập Niết Bàn, ta phải cho con hay, trước mắt chúng sanh nó cũng tùng quyền theo con để làm việc, là khi con nhập Niết Bàn về Tây Phương làm việc với hàng chư Phật. Hiện nay ta gọi ngươi là Xá Lợi.

Chữ TÙNG THỊ TÂY PHƯƠNG nghĩa là: Phật cho Xá Lợi được Lục Huệ. Khi Trưởng Lão Xá Lợi Phất muốn gọi ta điều chi, cùng các hàng chư Phật trên trung thiên cùng thiên không, tức thì có điển trên thiên cung giáng xuống để giáo huấn con cùng độ con cho khỏi tai nạn. [03:41]

[Hết video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh - phần 10” - mp3 ID=19860104Q6 dừng ở phút 03:41]

Bắt đầu video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh - phần 11”

Ông Tám giảng

Cho nên chúng ta tu có luồng điển ở bộ đầu và khai thông xuất ra được rồi, thì các bạn không xa lạ gì trong ba cõi hết. Đâu nhắc thì mình đến liền. Cho nên từ xưa đến nay con người đâu có khả năng đó, mà những người tu Pháp lý có khả năng như vậy. Nhưng mà phải nhiều ngày nhiều giờ khai ba từng, thượng trung hạ trong cái thể xác này. Rồi trụ trên bộ đầu, rồi mới thừa tiếp ba từng bên trên đi lên. Thì lúc đó động đâu thì mình mở đó, nhắc đâu thì mình đến đó. [mp3: chép thiếu 3s từ phút 04:18 đến 04:21] Mà các bạn trở về đại định rồi. Thì các bạn thấy rằng các cuộc họp nào ở đâu các bạn tới trong nháy mắt không có xa.

Cho nên cái câu chuyện mà muốn làm giáo chủ tại thế gian nó không phải khó khăn. Nó có thể nói hé một chút thiên cơ là mọi người theo, mà theo để làm gì? Những vị đã xuống đây nói về thiên cơ rốt cuộc đạt được những cái gì? Không đạt được cái gì hết. Gieo cho một đống người theo tu trong tin tưởng và chờ ngày hồi sinh trở lại mà thôi. Rốt cuộc rồi chết dần chết mòn mà không thấy đạo. Cái đó là cái chuyện trì trệ! Còn đây chúng ta đã nắm cái kỹ thuật tu học và rõ cái nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật thì mỗi bạn có thể trở về cái chuyên môn sẵn có mà đức Di Đà đã thành công.

Những vị đã đi trước đã thành công mà các bạn cũng trở về với nghề chuyên môn đó thì các bạn đi tới đích, kể cả kỹ thuật là cái pháp. Chớ từ xưa những vị giáo chủ giáng lâm xuống thế gian nói thì nghe hay lắm nhưng mà ai hành được! Không có cơ hội cho người ta hành. Không có cái pháp nào mà chỉ cho người ta hành tỉ mỉ từ tâm lẫn thân.

Cho nên ngày hôm nay chúng ta đạt được tỉ mỉ từ tâm lẫn thân, để tự hành và tự phán xét, tự thấy rõ sự sai lầm của chính mình mới có cơ hội ăn năn sám hối. Còn hồi xưa kia là nhiều người, người ta đi tới chùa, người ta ăn năn sám hối, mà ăn năn sám hối cho có chừng... Tôi đọc cho có chừng, nhưng mà ngày mai tôi cũng tái phạm nữa! Còn tại sao tu Pháp lý nó không tái phạm được! Vì tần số nó đã đi lên rồi, nó thay đổi bên trong, tần số điển quang mê chấp nó không còn nữa thì nó không cần thiết làm. Bởi vì nó dòm nó hiểu rồi, nó quán thông rồi, nó không có bị lệ thuộc. Bị lệ thuộc nó mới sai, còn nó quán thông nó đâu có bị sai. Cho nên các bạn định rồi, là các bạn không có bị sai, mà thiếu định thì bị. Cho nên nhiều người tu cái Pháp lý đã dặn kỹ. Thiêng liêng giáng lâm thây kệ họ. Mình có pháp tu lo tu. Mà đi theo quỳ lạy rồi theo o bế đồ này kia kia nọ, rồi nhập vô trong đó. Rốt cuộc rồi mất, không thiền được.

Còn cái pháp thiền này, mình cứ giữ mình thiền. Mình ảnh hưởng, mình học khá thì mình có thể giúp cho ba cõi, chớ không phải là mình lệ thuộc ở trong ba cõi. Cho nên cố gắng tu và không có lệ thuộc. Cho nên từ đức Phật Di Đà rồi tiến tới Xá Lợi là gì? Là điểm linh quang chớ có gì! Các bạn tu ở đây, các bạn cũng hiểu được Thượng Đế Giảng Chơn Lý cũng thấy rõ bạn là một điểm linh quang chiết từ Thượng Đế mà ra! Rồi bây giờ có phải quy nguyên trở về điểm linh quang không? Lúc đó là nhẹ nhõm rồi! Nó sáng chói vô cùng, muốn đi đến đâu đi, ai nhắc là mình tới... Mình cứu người ta mình không có kể công, liền liền mà không có kể công! Mới thật sự là Phật tâm.

Cho nên cứ việc hành đi! Nên nhớ, cái tâm các bạn là cái điển tâm. Tâm của con người Vô Vi không phải phàm tâm! Không phải tâm của những người mà làm việc ở thế gian đâu! Không phải cái tâm đó. Trung tim bộ đầu mới là cái chơn tâm của người tu Vô Vi. Đó, nó mới liên hệ với cái hào quang của đức Phật. Mình tưởng tới Ngài thì mình thấy ngay trên đầu mình chớ không có đi đâu hết. Thì tất cả những cái gì Ngài chuyển cho chúng ta tiến tới trong sự sáng suốt hóa độ quần sanh bất cứ nơi nào và không có run rẩy trong nội tâm nữa! Lúc nào cũng sáng suốt vì sự ứng chiếu liên tục, thanh sạch, chớ không có phải là cũng như là ông lên bà xuống, hành hạ người ta rồi không đưa người ta đi đến đâu.

Cho nên các bạn phải hiểu Vô Vi có nhiều cuốn băng. Ông này xuống xưng Thượng Đế. Ông nọ xuống xưng Thượng Đế. Ông này xưng Lão Sư, nhưng mà tôi đã minh luận rõ ràng. Chúng ta có pháp cứ tu, không phải những vị đó làm gì cho chúng ta được. Và chúng ta sẽ hành triển và khai mở lên thì tất cả sẽ hoan hô chúng ta. Chưa chắc gì họ đi cao hơn những người có công tu của Vô Vi.

Cho nên phải hiểu rõ cái này mà thực hành và tự phá mê chấp, không nên tạo cái mê! Tưởng là ông Trời xuống khen tôi, tôi mừng! Không được! Ổng khen là ổng hại. Ổng ban ổng cũng hại nữa! Mà mình hành là mình được! Phải nhớ chỗ này! Ổng cho, Cha cho cái này là con khổ suốt cả mấy kiếp chưa xong.

À! Cũng như bây giờ những người nhà quê, mà tới đây tôi cho cái máy, biết đường nào rờ? thấy không! Ông Trời, ổng tinh vi hơn người thế gian. Ổng cho một cái chúng ta không biết đường nào rờ. Mấy năm mới rờ xong cái máy đó! Cái đó còn khổ nữa! Ta hành để ta tháo gỡ cái ngiệp chướng trong nội tâm của chúng ta để chúng ta tiến, thì chúng ta mới thấy giá trị của Phật. Chúng ta mới thấy giá trị của người Cha kính yêu, chớ kỹ thuật ở trên đó nó cao lắm, nó không phải như ở đây đâu! Ở đây luận xét trí phàm không có chỗ chứa. Chớ trên kia người ta nháy mắt là người ta hiểu hết rồi. Người ta cho mình một cái mình chết rồi, mình không biết đường nào mở đâu.

Cho nên, hành để đi tới mới có dịp mở, mà ôm lấy cái đó không có làm gì mở. Cũng như bây giờ mấy ông Phật mà đốt chết cho bạn cái hột Xá Lợi, bạn cứ đem cái hột Xá Lợi bạn thờ, bạn có biết cái giá trị của Xá Lợi là cái gì? Một sự dày công của người hành đạo nó mới có cái đó, nuôi dưỡng được cái tinh khí thần, lúc đốt nó mới có cái đó. Rồi mình có làm cái đó không? Có ích gì cho mình không? Để thờ!... Để làm gì? Nhờ sự phù hộ!... Té ra mình học cái tánh tăm tối và lợi dụng, trí tuệ càng ngày càng thấp kém và không khai triển. Làm con ma chớ làm cái gì! Thờ ông Phật mà mình thành con ma. Thì thờ làm chi! Phải không? Mà tôi biết được ông Phật mà tôi hành như ông Phật. Tôi thành ông Phật thì tôi nên hành! Chớ, tôi thờ ông Phật mà tôi thành con ma thì tôi thờ để làm gì! Tự nhiên tôi là con ma rồi, mà tôi thờ ông Phật mà tôi thành con ma, tôi không làm như vậy! Bởi tôi ỷ lại mà, cái gì cũng sai ông Phật làm, tôi không làm! Tôi thiếu tiền thiếu bạc xin Phật cho con chút tiền để qua ngày. Thì tôi đâu cần làm, thì tôi làm sao tôi phát triển.

Cho nên mình tu cái này là đại phước. Tự cởi mở những sự rối ren của nội tâm và rốt cuộc mình gom tụ luồng điển Xá Lợi của mình để đi về với Phật, nhanh nhẹn vô cùng, nói là chúng ta tới, khỏi phiền hà, cho nên người tu Vô Vi giúp đỡ ai không có kể công, làm là làm, giúp là giúp. Bởi vì nó biết nó sống trọn lành với chính nó. Nó có tất cả những cái gì nó có thể có, thì nó chỉ ban bố mà thôi! Cho nên các bạn tu cái pháp này, phải nhớ rằng tự tu tự tiến thì Bề Trên sẵn sàng ân độ, đức Phật tánh chất đó. Chúng ta tưởng Ngài là chúng ta trở về tự tu tự tiến, chắc chắn là Ngài độ chúng ta và không có bỏ chúng ta. [11:49]

[mp3 không chép đoạn từ 11:49 đến 16:30 - tương ứng đoạn không chép của video từ đến 07:55 đến 12:00 - Cả video và audio đều lặp lại một đoạn 30s Thầy đọc KADĐ]

[Tiếp tục video ID=19860100L16 phút 12:30 - Tiếp tục Mp3 ID=19860104Q6 phút 17:00]

Hữu Thế Giới Danh Viết Cực Lạc

Nghĩa là: Xá Lợi ơi! Trên thiên đàng gọi là chốn Cực Lạc vui vẻ vô cùng, mỗi mỗi đều có cơ sở.

Chữ HỮU THẾ GIỚI nghĩa là: Cơ Sở trên Trời.

Chữ DANH VIẾT nghĩa là: Mỗi chỗ nào cũng có Phật Tiên làm việc điển. Tuy là ngồi thong thả, chớ để sai khiến điển quang làm việc, còn mấy vị Phật thì cai quản mấy luồng điển, biến hóa vô song, sanh sanh hóa hóa vạn vật.

Chữ CỰC LẠC là siêng năng vui vẻ làm việc trong cơ sở.

Kỳ Độ Hữu Phật Hiệu A Di Đà

Chữ KỲ ĐỘ nghĩa là: Lúc nào cũng có Phật, phẩm nhỏ tùng phẩm lớn, tuân lệnh chăm chỉ làm việc.

HỮU PHẬT nghĩa là: Mỗi phẩm cũng đều là Phật, thì nhờ điển 6 chữ Di Đà Khoa học của ta.

Ông Tám giảng

Cho nên cái trật tự, chúng ta tu rồi, chúng ta thấy rõ cái trật tự. Trước kia chúng ta tranh chấp, lấy cái tâm phàm làm trật tự. Mỗi một việc cằn nhằn, la lô um sùm, mà việc thì chỉ nhích có một chút thôi. Cái bàn nhích có một chút mà nói đủ thứ hết, người ta cũng chưa chịu làm. Còn cái phần điển nó khác. Khi các bạn ngồi đó mà tâm các bạn tưởng thì nó đã làm việc rồi, cái luồng điển ở trên bộ đầu. Cho nên những người tu có điển, có căn tu nó rút cái bộ đầu. Nó rút rõ ràng như vậy, nó rút rồi lên điêu luyện, điêu luyện rồi thừa tiếp bên trên quy không. Lúc đó muốn làm cái gì thì chuyển một chút là rồi. Công việc xong trong nháy mắt. Cho nên những việc chuẩn y hay là giúp đỡ người nào, hứa một tiếng là nó làm rồi. Nhưng mà nhiều khi nó sẽ xảy ra xuống thế gian 5, 6 tháng có khi 5, 6 năm nó mới xảy ra. Vì quá nhẹ, trên đó ta quyết định một chút thì ở dưới này lâu lắm mới thành tựu.

Những cái cơ biến chuyển từ ngày tôi ra đây, tới Manila tôi có làm 4 câu thơ bằng Ăng Lê mà thế giới sẽ thay đổi, chuyển về thiên cơ thay đổi, thời tiết này kia kia nọ. Bốn câu thơ đó, tới ngày nay mới thấy rõ chút đỉnh, thay đổi động đất đồ này kia kia nọ, mà bao nhiêu năm trước, 1978 tôi ra, tôi giảng ở cái chỗ đó, là cũng một thiền đường của người tổ chức về quốc tế. Những người du lịch tới đó chơi và học thiền theo cái kiểu mới. Trước khi thiền thì nhảy disco một chập rồi mới vô ngồi thiền cho khỏe. Cái lề lối của họ như vậy, rồi họ mời tôi giảng. Tôi giảng, tôi có viết ra 4 câu thơ như đã in trong cuốn sách meditation (thiền).

Nhưng mà mọi chuyện của Bên Trên chúng ta thấy như vậy. Nhiều người đem cái thiên cơ xuống nói, chỗ này sập, chỗ kia hư, chỗ nọ tiêu, nhưng mà không có ngày giờ, nói không đúng, không thể nào đúng, tính không được. Cho nên, Bên Trên làm gì cũng mau lẹ, cái giới đó nó thanh nhẹ, làm gì nó cũng mau lẹ. Cho nên ngày hôm nay tiến triển tới computer, máy điện não. Bấm một cái là nó biết rồi. Nó biết dân số người nào, tánh tình sao nó ghi vô đó hết rồi, mà cũng còn chậm hơn trên kia. Đó, cho nên chúng ta tu về điển giới mới kịp thời trở về cái siêu văn minh của Thượng Đế ở kỳ tới.

Kim Hiện Tại Thuyết Pháp

Chữ KIM là loại Ngũ Sắc vàng cũng gọi là Ngũ Hành. Theo khoa học, nó là năm thứ đèn của năm Tạng, hóa ra điển quang. Đó là huyền diệu của ta để cho chúng ngươi sai khiến.

Chữ THUYẾT PHÁP là tông chỉ nguồn cội nguyên chất của điển. Khi khoa học của ta chế tạo, thì trở thành ra thứ hào quang chớp nhoáng vô cực vô biên. Những phẩm làm việc muốn chi được nấy, gọi là Khoa học Huyền bí Pháp của Phật, để sanh sanh hóa hóa vạn vật biến hóa vô cực vô biên, ngày giờ phút khắc làm việc. Các phẩm Phật nhờ điển này có dưỡng khí trường sanh, lúc thâu phóng hơi ra vào thì sống kiếp kiếp đời đời, lo chi đói cơm khát nước, lo chi chết chóc, lo chi quần áo mũ nón đều sẵn có đủ cho các phẩm, lo chi là nghèo giàu như dưới thế gian mà phải cực lòng đổ mồ hôi xót con mắt, đó là phép của Phật.

Xá Lợi Phất! Bỉ Độ Hà Cố

Danh Vị Cực Lạc

Lúc ấy Trưởng Lão Xá Lợi Phất quỳ đảnh lễ Phật Tổ, bạch Phật Tổ.

Chữ XÁ LỢI PHẤT có nghĩa là :

Chữ XÁ Là bỏ hay là cho.

Chữ LỢI Là Như Lai.

Chữ PHẤT Là Gió, Điển, Lửa.

Chữ BỈ ĐỘ Là trao đưa.

Chữ HÀ CỐ Là nguyên chất, gốc gác của điển

Chữ DANH VỊ CỰC LẠC là: Trên thiên đàng thì dùng hai luồng điển cái nóng và lạnh để chiếu xuống thế gian, mỗi mỗi đều có đo lường phân tích lực lượng của điển, làm cho thong thả vui vẻ, để nuôi những chúng sanh bầu trời thế giới các đẳng nhơn vật. Nào là vi trùng, bò bay, máy cựa, cũng nhờ điển này làm căn bản tông chỉ của nó.

Xá Lợi ơi! Con có hiểu chưa? Ta chỉ rành rẽ đó, thì chốn thiên đàng gọi là Cực Lạc, có nghĩa là: Điển này chạy thấu đáo bao trùm Trời Phật, mỗi mỗi đều hộ độ, cho đến ngọn rau cây cỏ cũng nhờ điển này, gọi là chốn Cực Lạc là bao trùm vui vẻ, các chỗ cùng cơ sở hễ gặp điển này đều hưởng sự sanh sống vui vẻ gọi là Cực Lạc.

Ông Tám giảng

Cho nên chúng ta những bạn đạo Vô Vi, những người tu nhẹ, xuất đi nhẹ rồi, ra cây bông cũng muốn đứng nói chuyện với nó, vì sự reo mừng của nó. Cọng cỏ cây hoa cũng reo mừng, mà có thể nói một vài câu cho nó nghe được. Chuyển điển cho nó, cho nên những bạn cứ thử, bạn trồng một cây bông ở trong gia đình. Mỗi ngày bạn thiền rồi, bạn lấy cái tay bạn vuốt nó thôi. Một cây bạn vuốt, một cây bạn không ngó nghĩ tới nó. Thì mỗi cuối tháng bạn thấy cái cây mà bàn tay của bạn được vuốt vô nó khác, nó tươi nhiều lắm. Lúc đó các bạn mới chứng minh, các bạn mới thấy điển là cái gì, giá trị của điển là thế nào.

Kỳ Quốc Chúng Sanh

Chữ KỲ QUỐC là bao trùm một nước từ âm phủ, thế gian cho đến thiên đàng, làm việc thông dụng cũng nhờ hai luồng điển cái của Hắc Bì Phật, rồi cũng nhờ Thích Ca Mâu Ni hậu tổ, cùng hàng chư Phật mỗi mỗi làm việc bao la thế giới, lúc sanh hóa, lúc nuôi dưỡng gọi là Kỳ Quốc Chúng Sanh.

Vô Hữu Chúng Khổ, Đản Thọ Chư Lạc

Chữ VÔ HỮU CHÚNG KHỔ nghĩa là: Sự sinh sống vui vẻ quên cực khổ.

Chữ ĐẢN THỌ CHƯ LẠC nghĩa là: Mỗi mỗi loại nào cũng vui vẻ, nhờ sự hưởng khí trường sanh của ta, các nẻo đều có điển trường sanh đem tới viện trợ cho chúng nó từ nhơn vật cho đến côn trùng vạn vật cùng rau cỏ cũng hưởng khí trường sanh của ta, thì nó được vui vẻ. Vui vẻ là quên sầu não, lo buồn, quên cực khổ.

Cố Danh Cực Lạc

Xá Lợi ơi! Chữ CỰC LẠC là sự sống vui vẻ tươi tắn của nó.

Hựu Xá Lợi Phất!

Cực Lạc Quốc Độ

HỰU XÁ LỢI PHẤT nghĩa là: Chữ HỰU là hơn nữa, XÁ LỢI là điển lửa Mâu Ni Châu hay là Như Lai. Tông chỉ cốt giác làm ra sự vui vẻ gọi là xứ Cực Lạc.

Chữ QUỐC ĐỘ là: Mỗi cơ sở hộ độ dưỡng khí trường sanh, rồi nó cũng làm việc theo chỗ của nó, từ cực nhọc cho đến sung sướng gọi là Cực Lạc. Hễ có khó mới có khôn, hết tù tội ra thong thả.

Xá Lợi ơi! Còn những chỗ trong bản thể con, nào là Lục Căn, Lục Trần, tả bành chất, hữu bành cư, trung bành mạng, Lục Căn, Lục Trần thuộc về ngũ tạng hóa ngũ hành là năm thứ lửa điển. Còn bành chất, bành cư, bành mạng, gọi là Tòa Tam Pháp, mạng môn tướng hỏa, tông chỉ của nó là Tim, Gan, Phổi. Còn điển của nó làm chủ là hai trái cật sanh ra nước điển, để độ cho bản thể của con. Chỗ nào cũng có điển lửa, rồi hóa sanh hộ độ dưỡng khí bao trùm bản thể.

Bản thể là nước của con cũng như trên thiên đàng vậy. Trên thiên đàng cũng như cõi dương gian, cũng hoa quả vạn vật, rau cỏ. Còn trong bản thể con cũng y như trên trời cùng thế gian gọi là nước của con. Bởi thế Phật gọi là Tiểu Thiên Địa. Mỗi bản thể con người con vật cũng thế. Rồi đây ta cũng kể những tông chỉ tíc tắc trong bản thể của con cũng có mấy vị chức phẩm cùng dân sự gọi là chúng sanh của con. Trong nước bản thể của con đều có hưởng thọ sanh sống vui tươi, mỗi mỗi đều hưởng cực khổ, thanh nhàn khoái lạc. Hễ có cực khổ thì có thanh nhàn, có buồn tủi mới có vui tươi.

Từ thiên đàng cho tới thế gian đều hưởng ứng. Còn sự say mê tội lỗi, say mê là vui sướng thái quá, mê trần, rồi bị cực khổ. Cực khổ là tù tội đó con.

Đây ta kể ra sau: Trong bản thể của con, từ sợi râu, sợi tóc bao la, mỗi mỗi đều hưởng ứng như mấy lời nói của ta.

Xá Lợi ơi! Con muốn tu hành theo ta, thì phải công phu luyện đạo kỹ lưỡng. Mỗi cái đều có tông chỉ, không một chỗ nào sai sót. Con ráng nghiên cứu mỗi mỗi luồng điển và tông chỉ của nó. Con được biết Khoa học Huyền bí của ta truyền dạy 6 chữ Di Đà biến hóa vô cực vô song. Hàng ngày con phải nghiên cứu lấy, để luyện đạo công phu nương theo gót ta về thiên đàng.

Xá Lợi ơi! Cực khổ lắm đó con.

Thất Trùng Lan Thuẫn

Chữ THẤT TRÙNG là 7 thứ vi trùng, do nơi Ngũ Hành năm tạng đủ màu sắc. Chữ TRÙNG là vi trùng chúng sanh trong bản thể của con.

LAN THUẪN là tóc, lông, râu, chân mày. Trong ấy có 7 chỗ cơ sở chánh của nó. Trong mình con chỗ nào lông dài hơn lông thường thì là cơ sở chánh của nó. Chúng nó tuân lời phẩm La Hán gọi là 7 Vía, 5 khóm Ngũ Hành cùng hơi điển nóng và điển lạnh theo các sợi dây gân bao bọc bản thể, để phụ trợ ngoài lớp da chơn lông. Trong đấy có nước trong là bồi bổ phân hướng cho chúng nó. Khi con được đắc quả thì nó cũng nhơn vật nô lệ phụ trợ cho con canh tuần nghiêm nhặt đánh đổ ngoại xâm. Khi nào có thương hàn sốt rét là kẻ thù áp vào bản thể của con, chúng nó phải giữ bờ cõi ranh rấp trong nước của con. Nó có tánh ghét kẻ xâm lăng lấn hiếp.

Xá Lợi ơi! Con thấy chưa? Khi con bị thương hàn sốt rét, vi trùng ngoại xâm áp vào. Dân của con yếu sức, cự không nổi. Từ mình mẩy da thịt con nổi óc chống cự, hoặc là lập kho đồn trú bao vây. Thì kẻ ngoại xâm nó phải gom lại làm cho da thịt con u nần ung thư nhức mỏi. Bản thể con khó chịu. Bởi thế phải ăn uống bồi bổ sức lực, gọi là lương hướng viện trợ cho chúng nó có sức mạnh mẽ hơn, thì bản thể của con được an lành.

Thất Trùng La Võng

Chữ THẤT TRÙNG có nghĩa như trên.

LA VÕNG là giềng chài mặt lưới bao bọc bản thể của con. Giống nó là một thứ gân hay là một luồng dây thép, gọi là một luồng sóng điện của điển, phút khắc nào cũng làm việc luôn luôn không ngưng trệ, để tiếp cho ba thứ huyết trong trắng, đỏ tươi, đỏ bầm. Trong huyết ấy có một chất lỏng hay là điển, tông chỉ của nó để giúp cho da, thịt, xương, máu.

Thất Trùng Hàng Thọ

Chữ THẤT TRÙNG đã giải nghĩa như trên, do nơi 7 phẩm vía con làm đầu.

HÀNG THỌ gọi là cây cối, có hàng thẳng rẳng.

Xá Lợi ơi! Con có biết chăng? Bộ đầu là Núi non, xương sống là cây Hàng Thọ, là 2 thứ hàng cây. Còn tay chân là 4 thứ. Một thứ nữa là bộ sanh hóa cộng là 7 thứ, nương chiều theo 7 vía của con, giúp đỡ cho nó có sức mạnh mẽ, hùng dũng, hùng cường để giữ cho bản thể trong nước của con. Trong đấy có mỡ, tủy, là thứ dầu khoa học. Tông chỉ luồng điển do nơi đó mà ra. Các thứ cây này là rường cột, trại tù, giam linh hồn của con trước kia bị đày đọa.

Xá Lợi ơi! Con được hiểu chưa? Khi linh hồn con sa vào đấy, thì trần thế gọi là Hài nhi. Chớ [chép thiếu từ “sự”] thật là trại tù để giam con, nhưng nhờ nó che chở nắng mưa sương tuyết, để cho linh hồn con nương theo đấy từ 100 năm trở lại. Thì sự tù tội phạt nhiều hay ít tùy theo Thiên Đình sở định. Niết Bàn của con, nó cũng là một thứ tông chỉ bản thể để cho linh hồn con nương dựa, chờ đến khi mãn hạn. Trại này gọi là bản thể hư nát, mục mạc. Tông chỉ của trại này là đất cát của Hắc Bì Phật Tổ hóa sanh, bởi thế phải trả lại cho đất. Còn linh hồn thì thuộc về Điển Quang Thiên Đàng, thì trả lại cho xứ Phật. Xứ Phật là tông chỉ của quê hương linh hồn con ở.

Giai Thị Tứ BửuChâuTáp. Vi Nhiễu Thị Cố Bỉ Quốc, Danh Vị Cực Lạc

Chữ GIAI THỊ TỨ BỬU CHÂU TÁP nghĩa là: Khi linh hồn con lỗi sẽ bị đày vào xác thân bản thể. Trong bản thể có ba thứ điển. Điển là nước máu thứ trong trắng, thứ đỏ tươi, thứ đỏ bầm, hợp chung lại để làm việc cho bản thể. Trong bản thể là trại giam của con cho chu đáo. Nay con thức tánh thì linh hồn của con là một thứ điển lửa thanh. Rồi con luyện đạo Pháp lý Vô Vi, con được lấy một phần huyết trong của bản thể để phụ trợ cho linh hồn điển của con. Hơn nữa con luyện đạo Pháp Luân Thường Chuyển, lọc lấy nguyên chất huyết đỏ tươi của bản thể phụ trợ cho linh hồn con. Khi con được thành chánh quả thì thâu góp điển ấy lên thiên đàng.

Hồn của con là chánh đáng tông chỉ. Còn huyết của bản thể, thứ trong, cùng đỏ tươi là một thứ trược. Khi con về thiên đàng rồi, nó hóa thành một thứ đất nước cơ sở để cho con ở làm việc. Còn các thứ điển mỡ, tủy, xương sẽ hóa ra núi non, cây cối bao la cùng rau cỏ, bông hoa, làm một cái xứ sở hợp về Tây Bắc, là chỗ góc trời trống lỏng, tạm bợ nơi đó là một nước của con để làm việc cho Phật, gọi là tu tạo nền tảng đó con.

Đất nước của con, con độc quyền tự do ăn ở và sai khiến đồ đệ của con. Con thong thả luôn, cũng như ta lúc trước. Bởi thế chữ tu là nền tảng bồi bổ cho linh hồn sung sướng, gọi là Cực Lạc Quốc Độ. Đó là tông chỉ của con.

Ông Tám giảng

Cho nên chúng ta tu đây là nay lọc một chút, mai lọc một chút, rồi mới kêu bằng tự tu tự tiến, tự lực cánh sanh, trở về. Hỏi chớ đi về xứ Phật, Phật trống đó mà, đâu có chỗ đất đai gì! Nhưng mà chúng ta đã làm sẵn đây rồi chúng ta trở về đó, cũng có cảnh, cũng có nơi ở, có chỗ ngự, chỗ làm việc, đầy đủ hết thảy. Cho nên Phật không có nương tựa, và không có nhờ ai hết, kêu bằng tự tu tự tiến, và tự lực cánh sanh.

Chữ VI NHIỄU THỊ CỐ BỈ QUỐC DANH VỊ CỰC LẠC

nghĩa là: Chữ TU là trau dồi, sửa đổi, lập lại nền tảng trên thiên đàng.

Xá Lợi ơi! Con có hiểu chưa? Trời thì ba góc đặt có đủ nhân viên làm việc. Còn góc trống thiếu ấy để dành cho những linh hồn nào thức tánh trở về quê hương tự tu tự lập gọi là một nước. Thiên Đàng Cực Lạc của con. Con có công phu thì chư Phật ban chỗ trống ấy cho con, để tự tu tự tạo, tự lập cơ sở trong thành. Con mới rảnh rang thong thả để làm việc, chớ Phật Trời không tư vị. Hễ có làm có ăn. Có tu mới thành Phật mới về cõi Trời được mà chiếm cứ.

Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc Quốc Độ Hữu Thất Bửu Trì. Bát Công Đức Thủy

Chữ HỰU XÁ LỢI PHẤT, XÁ LỢI PHẤT là điển của đức Di Đà quỳ xuống đảnh lễ bạch Phật: Nếu vậy thì con bị tù tội cực khổ, con thức tánh tu hành về đến đây cũng còn cực khổ hơn? Lúc ấy luồng điển Phật Tổ nói: Đây là ta chỉ cái tông chỉ con được khỏi tù tội mà thức tánh tu hành. Thì con lập nền tảng của con có sẵn. Con đã tạo rồi, gọi là Cực Lạc, sao lại than cực?...

Xá Lợi ơi! Khi con ở thế gian con tu là tạo lập, để khi về thiên đàng con gom góp đem theo sẵn có, con nào cực khổ nữa. Đây ta chỉ nghĩa thêm cho Xá Lợi biết ngũ hành là ngũ tạng, hơi điển nóng cùng lạnh, do nơi hai trái cật cùng trái tim đó là bảy chỗ nước quý báu của con.

BÁT CÔNG ĐỨC THỦY là con được thâu thứ điển tám hướng của bản thể con để đem về Cực Lạc.

Chữ BÁT CÔNG ĐỨC THỦY nghĩa là: Nước mắt, nước mũi, nước miếng, hợp với nước ngũ tạng đã chia ra hợp thành tám thứ nước báu, nhờ con tu hành mới lấy được, cái tông chỉ nó đã chỉ đây rồi. Nhưng điển nước này nó biến hóa vô song huyền diệu vô hồi. Con muốn chi có nấy để cho con cần dùng phép Phật cho con biến hóa vô song. Sự huyền diệu biến hóa khi con được lên thiên đàng con sẽ hiểu.

Đây ta xin chỉ tắt một lời thì con sẽ hiểu rõ được tại làm sao con xuất hồn bay bổng về thiên đàng có phải là BÁT CÔNG ĐỨC THỦY hợp với tám hướng của Trời Đất bao la. Trời là một Đấng Cao Thượng rộng rãi bao la. Khi con muốn đi là trong một khắc thì đầy đủ tám hướng, lại có chỗ biến hóa, thâu hay là phóng. Ví như con đang ngồi công phu luyện đạo con muốn cõi trời đặng gần bên con, thì huyền diệu ấy đem lại để cho con thấy rõ gọi là Thâu. Còn phóng là con thấy thiên nhiên trời đất cao xa, con bay là đến cũng như dưới thế gian trò chơi, con nhảy là tới.

Sung Mãn Kỳ Trung

Chữ SUNG MÃN có nghĩa là: Những lỗ hổng trong khớp xương đều có nước nhớt, trong có váng nhện như kiến, thường thường chiếu năm sắc sáng chói như hào quang.

Chữ KỲ TRUNG là: Trong lỗ hổng khớp xương, trong xương nhiều lỗ tựa như cọng sen. Bởi thế Phật Ngài cho là trong giếng có sen năm sắc, cốt chỉ của nó. Khi chúng ta soi hồn thông điển rồi, thì điển ấy chạy tuốt lên bộ đầu gom lại hóa Hà Sa, Mâu Ni Châu. Phật Ngài cho là Tòa Sen. Khi chúng ta xuất hồn thì chất này nặng hơn các chất khác. Nó là nền tảng để ta đứng mà bay.

Nền tảng là khí trược nặng hơn một chút để tiếp xúc, nhưng khí nặng nề, chúng ta thâu những khí nhẹ của bản thể cha mẹ sanh để phụ trợ cho việc công phu luyện đạo. Lúc ấy bản thể thiếu, không đủ sức, thì nhờ ta làm Pháp Luân Thường Chuyển, thâu dương khí trên tiên thiên, đổi thế cho cái trược khí bản thể. Nó cũng có bổ ích cho những người tu để xuất hồn, còn trong bản thể thì nhờ dưỡng khí bổ túc để giúp sự sống sức khỏe trường tồn.

Trì Để Thuần Dĩ Kim Sa Bố Địa

Nghĩa là: Trong ao mấy thứ nhớt nói trên ấy, nữa sau hóa thành một thứ đất trong trắng sạch sẽ, nhờ công phu đã lừa lọc. Lúc ta được nhập Niết Bàn thì đem đất ấy về trên thiên đàng để dùng làm nền tảng, cất dinh trại để cho dân sự chúng ta ở. Thì đất ấy cốt chỉ của nó là xương nhớt của bản thể người. Người tu thì mỗi món gì ở nơi bản thể ta đều quý báu trọng dụng. Nhưng đất này chất nó biến hóa ra ngũ sắc long lanh trên mặt đất để làm nền tảng cho ta cất nhà, dinh thự xây dựng, thì trước mắt ta dòm thấy, gọi là cát Ngũ Sắc...

[kết thúc ID# 19860104Q6].....[Hết video ID=19860100L16 - “Thuyết giảng kinh – phần 11”Hết mp3]

--- +++ ---

bắt đầu ID# 19860105Q2] mp3

KHOÁ HUẤN LUYỆN KINH A DI ĐÀ: Thầy Giải Kinh - Bạn Đạo Thảo Luận - Cuốn 13A -

[Bắt đầu video ID=19860100L16 - “Thuyết giảng kinh – phần 11”]

Ông Tám giảng

Cho nên thường khi các bạn tu có nhiều người, giữa trưa đứng dòm lên mặt trời thấy đóm, đóm, đóm, đóm... ngũ sắc, mở mắt mà thấy. Rồi đến lúc chúng ta tham thiền chúng ta cũng thấy, mà thấy cả một vòm trời trước ngực của chúng ta, đóm đóm sáng, những cái đó nó thể hiện cho chúng ta thấy. Cho nên khi mà các bạn thấy những cái đóm sáng đó, không có gì trở ngại hết. Nó là sạn cát, và chúng ta sau này gom được đi lên đó mới là cất dinh trại để ở được.

Tứ Biên Giai Đạo

Nghĩa là: Trong bốn phương hướng dinh thự của chúng ta đều có đường đi tứ hướng.

Kim Ngân, Lưu Li,

Pha Lê Hiệp Thành

Nghĩa là: Đất ấy nó cũng có hào quang như mình. Lâu chừng nào càng chói chừng nấy, chiếu ra như Ngọc Lưu Li Pha Lê. Hột cát ấy lâu ngày chừng nào lớn chừng nấy. Hiện nay người đương công phu công dày thì sự sáng chói trước mặt gọi là Hà Sa bay qua bay lại. Tông chỉ của Hà Sa là khí của xương nhớt mà hóa thành, ở trong bản thể ta biến ra.

Thượng Hữu Lầu Các, Diệc Dĩ Kim Ngân, Lưu Li, Pha Lê, Xa Cừ, Xích Châu Mã Não, Nhi Nghiêm Sức Chỉ

Nghĩa là: Dinh thự, lầu các đều có ngọc ngà châu báu gắn lên đẹp đẽ. Nhưng tông chỉ của nó Phật Ngài nói ra và chỉ đạo:

Này Xá Lợi ơi! Lúc con công phu luyện đạo, làm theo Khoa học Huyền bí của ta, nào là Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển và Định Thần. Con cố gắng học tập lâu ngày thì những khí điển bản thể gom lại tề tựu nơi bộ đầu Hà Đào Thành, thì biến hóa hào quang ngũ sắc, do ngọc ngà châu báu nói trên là tông chỉ của nó.

Trì Trung Liên Hoa

Nghĩa là: Khi ấy trong Hà Đào Thành, mấy lỗ hổng đều có khí điển tập trung ngũ sắc, lâu ngày biến hóa Tòa Sen. Trong mỗi lỗ hổng khớp xương trên bộ đầu đều có chẽn dừng, để khí ngưng trệ nhóm đọng lâu ngày hóa nên khí ngũ sắc rực rỡ. Khí đọng ấy thừa tiếp cho hào quang ngũ sắc, cũng là một thứ tông chỉ hào quang.

Ông Tám giảng

Cho nên khi các bạn ngồi tham thiền và thấy những cái cảnh này, cảnh nọ, đẹp vô cùng, xanh biếc, các màu. Nó ở đâu? nó ở những cái khớp xương của chúng ta nó lóng lánh, lóng lánh, lóng lánh, lóng lánh.... nó ra ngay chỗ cái hiệp tích đó. Các bạn thấy trăm hoa đua nở, màu mè tươi đẹp, xinh tươi vô cùng. Không phải như cái màu ở đây, cái màu xanh, chớ cái màu này là cái màu chết nó không có sống động. Những cái màu đó nó sống động, chớp nhoáng, chớp nhoáng nó sáng. Bây giờ các bạn thấy con cá, cái xương của con cá nó còn lóng lánh mà! Huống hồ gì những cái chất nhớt trong khớp xương của chúng ta, nó đủ màu sắc.

Cho nên cái hình của tiểu thiên địa có vẽ ra, hình tiểu thiên địa của Lục Tổ Huệ Năng cũng có vẽ ra. Trước kia cũng có một cái hình đó cũng có vẽ ra. Các bạn thấy sự phân tách ở trong đó, nó là một cái tiểu thiên địa mà chính chúng ta thiếu thanh tịnh và không sử dụng nơi sẵn có của chính mình. Cho nên những người tu về Pháp lý mà đạt pháp rồi, nhiều người không muốn nói chuyện với ai hết, và hầu như người ta làm phách, đưa cái đó mình nói đẹp, nhưng họ nói một chập rồi họ chê, vì họ thấy cái kia đẹp hơn! Họ đã thấy, họ đã chứng kiến mà không có thể nói với người thế gian được!

Họ “ờ” vậy thôi chớ họ không có thấy cảm thức gì hết. Cho nên cái sự thích của họ, dòm là thấy cái tâm nó trong lành, nó thông suốt, đầu óc người ta nhẹ nhàng. Còn ở đây cái dàn cảnh mấy, cho đẹp, cho cách mấy đi nữa, rốt cuộc thấy cũng là nặng trược, một khối trược mà thôi! Cho nên chúng ta càng ngày càng tu càng khám phá được sự huyền bí khoa học ở bên trong, chuyển biến không ngừng nghỉ trong tâm thức của chúng ta, và trong ngũ tạng cơ thể quý báu này. Cho nên các bạn mới tu, ban đầu tu thì è ạch, nhưng mà sau này. ăn cũng phải sửa đổi, tắm rửa cũng sửa đổi, đi đứng cũng phải sửa đổi, lời ăn tiếng nói cũng sửa đổi.

Khi mà mình gặp những vị ở trên đó rồi thì cái chuyện gì mình cũng phải thay đổi, là sự ảnh hưởng. Như các bạn ở Việt Nam, ăn nói khác, mà qua xứ Úc rồi, các bạn thấy cái văn minh của người ta cởi mở hơn, các bạn phải cởi mở. Còn các bạn lên được bồng lai tiên cảnh càng cởi mở nữa. Các bạn có thể đàm đạo với bất cứ cây cối, bất cứ bông hoa thảo mộc nào. Các bạn cũng có thể nói chuyện được hết. Nó vui vẻ vô cùng, kêu bằng bồng lai tiên cảnh. Cho nên cái chuyện này không phải là một chuyện kỳ lạ, nhưng mà đã có sắp đặt trong tiểu thiên địa của mọi người. Nhưng mà con người xuống trần mê trần và vì tội của chúng ta. Chúng ta phải bị đày đọa và phải học, học nhẫn, học hòa. Càng nhẫn thì càng thấy ta hơn. Mà càng thấy ta thì thấy cái tiên cảnh rất rõ rang, trong ta chớ không có ngoài ta. Cho nên ráng tu để tự đạt, mới tận hưởng thái bình trong nội tâm.

Đại Như Xa Luân: Thanh Sắc, Thanh Quang, Huỳnh Sắc, Huỳnh Quang, Xích Sắc, Xích Quang, Bạch Sắc, Bạch Quang, Vi Diệu Hương Khiết

Xá Lợi ơi! Khi con công phu làm theo Khoa học Pháp Luân Thường Chuyển của ta, thì những Ngọc Ngũ Sắc nói trên nhờ tông chỉ ta góp khí ấy hợp vào gọi là Mâu Ni Châu là hột ngọc Kim Cang hóa thành. Tông chỉ của Mâu Ni Châu là hào quang ngũ sắc huyền diệu biến hóa vô song, khi nhỏ khi lớn, khi mất khi còn, khi đen tối, khi tỏ rạng, mùi hương bay thơm bát ngát. Tóm tắt là sự huyền diệu biến hóa vô cực vô biên.

Ông Tám giảng

Cho nên các bạn, nhiều người tu, cũng có nhiều người ngồi thiền tới mê rồi thì trong căn phòng này, nó không có mùi trầm, nhưng mà tự nhiên nó phưởng phất mùi trầm thanh nhẹ trong lỗ mũi chúng ta. Là chúng ta đã đi tới chỗ đó rồi, mới được hưởng cái đó. Cái nào đi? cái phần thanh nhẹ tri giác của cái Mâu Ni Châu đã đi đến đó, hưởng ngay chỗ đó mà trong lúc mọi người không có ngửi được cái mùi hương trầm thanh nhẹ đó.

Xá Lợi ơi! Chúng ta nhờ nơi ấy luyện đạo may thành chánh quả. Thế gian ưa nhạo báng: Chưa tu, trí còn thấp, thấy nhiều câu kinh của ta rồi cắt nghĩa không rõ, ngạo báng, nói nhiều điều tội lỗi, nhưng ta cũng đại từ đại bi cho nó.

Bởi nó còn mê trần, rồi nói theo câu kinh của ta: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức”. Chúng nó nhạo báng nói rằng: Phật mê sắc đẹp. Chứ sự thật tông chỉ của nó là màu sắc là tông chỉ của hào quang, thơm tho, ngọt dịu vô cùng. Không màu sắc làm sao biến hóa các nhơn loại cùng vạn vật. Những vật chi cũng do nơi khí điển này mà nuôi hóa chúng nó, cho đến đỗi rau, cỏ, cây cối trong rừng cùng vật chất. Các thứ mọi mặt đều phải có nó là ngũ sắc hào quang để nuôi dưỡng.

Xá Lợi ơi! Con thấy chăng? Dưới thế gian, tia vàng ánh nắng chói sáng rạng ngời chiếu xuống thế gian trong góc kẹt, hoa quả rau cỏ đều hưởng ứng.

Xá Lợi Phất! Cực Lạc Quốc Độ Thành Tựu Như Thị Công Đức Trang Nghiêm

Khi ấy đức Di Đà quỳ xuống bạch với Phật Tổ: Con xin đảnh lễ Phật Tổ độ con cùng chứng minh cho con. Thì từ đây sắp tới con cố gắng công phu luyện đạo tu hành nghiêm trang tề chỉnh, để cho đức Phật độ con từ trong khoé hóc bản thể hóa thành công đức trang nghiêm.

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật Quốc Độ Thường Tác Thiên Nhạc, Huỳnh Kim Vi Địa, Trú Dạ Lục Thời

Lúc ấy đức Di Đà đảnh lễ bạch Phật: Chúng con nhờ Phật hộ độ Khoa học Huyền bí mà đem những khí thanh bản thể của con nhóm tựu lại thành một khóm, gom các điển thanh cùng trung điển trong bản thể của con, nào là ruột, gan, da, thịt, xương, máu, gom góp các thứ trong bản thể của con, biết ăn, ngủ, ỉa tại dương trần. Bộ máy ấy của thế gian, nay nhờ đức Phật dạy Khoa học Huyền bí công phu luyện đạo, ngươn khí ấy hóa vào Hà Đào Thành bộ đầu, hợp nhứt với khí tiên thiên của Phật độ chúng con.

Nay con được phép huyền diệu của Phật cứu độ con hườn hồn, tăng phước thọ. Trở nên một cái hình ảnh trong thế gian gọi là xuất hồn bay thẳng thiên đàng. Sự nhanh chóng hơn cái máy bay của thế gian tạo. Thì sự công đức trang nghiêm của con học đạo. Con nguyện từ đây cố gắng tu hành luyện đạo. Nhưng khác một điều, trong lúc luyện đạo, con nghe trong bộ đầu con rần rần, ồ ồ, cùng kêu tiếng thanh thế tí ti là thế nào? Xin Phật cho con rõ thêm?...

Vũ Thiên Mạng Đà La Hoa Kỳ Độ Chúng Sanh

Chữ VŨ THIÊN MẠNG là: Khí điển quang hóa bông sen tại thiên đàng sắc màu rực rỡ.

Di Đà ơi! Khi con lên thiên đàng thì con thấy hoa sen sáng chói. Cốt chỉ của nó là hào quang chiếu ra muôn trượng, Phật phóng xuống thế gian để hộ độ cho những người tu hành, giúp cho Mâu Ni Châu, linh hồn được minh mẫn sáng chói.

Di Đà ơi! Ngày nay con có hào quang là điển Phật Tổ cùng ta ban hành, khi con công phu luyện đạo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật ban hành cho những người luyện đạo. Thì điển trong bản thể của người tiếp xúc hợp với điển thiên đàng hộ độ giúp cho người có thiện tâm chánh đáng. Chớ sự công bình Phật không bỏ ai một tí nào. Có câu: “Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng”.

Công thì giúp cho, Tội thì phạt. Cái tông chỉ của ĐÀ LA HOA là nền tảng căn bản điển quang hóa ngũ sắc hoa. Để chiếu giám cho những người có công tưởng Phật nhờ Khoa học Huyền bí hóa hào quang muôn dặm.

Thường Dĩ Thanh Đán, Các Dĩ Y Các Thành Chúng Diệu Hoa Cúng Dường Tha Phương Thập Vạn Ức Phật

Chữ CÚNG DƯỜNG THA PHƯƠNG là: Tâm chí quyết lòng theo Phật, thì điển quang thấu đến thiên đàng. Chư Phật từ trung chí thượng cùng không không đều thấu đáo.

Chữ THẬP VẠN ỨC PHẬT là: Lúc ấy chư Phật hội cộng đồng nơi Hà Đào Thành của chúng sanh luyện đạo.

Xá Lợi ơi! Con có biết chăng? Lòng của con cố ý tưởng đến ta, ta nào có bỏ. Thì lúc ấy các điển chư Phật nhóm tại bộ đầu, gọi là Hội Cộng Đồng.

Tức Dĩ Thực Thời Hườn Đáo Bổn Quốc Phạn Thực Kinh Hành

Chữ TỨC DĨ THỰC THỜI là: Trong thì giờ lúc ấy.

Chữ HƯỜN ĐÁO BỔN QUỐC là: Lúc ấy điển của chư Phật gom đến Hà Đào Thành … [13:40]

[Phút 13:44 video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh – phần 12” thiếu 23s so với mp3 tương ứng từ phút 13:40 đến 14:03]

… của Trưởng Lão Xá Lợi mau chóng theo luồng điển của Xá Lợi đang công phu luyện đạo không trễ phút khắc nào. Lúc ấy luồng điển bay nhập vào hai dây thần kinh của Trưởng Lão Xá Lợi để viện trợ dưỡng khí bồi bổ cho bản thể Xá Lợi được sức khoẻ trường sanh. Còn … [14:03]

[Tiếp tục video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh – phần 12”]

… một phần nữa dưỡng khí ấy để giúp cho linh hồn Xá Lợi được sáng suốt vui vẻ.

Ông Tám giảng

Chúng ta đã tu chúng ta thấy rồi. Khi mà chúng ta nhập định nhắm con mắt không biết đi đâu. Đó là cái điển của đức Phật đã đến với chúng ta rồi, ban vô trong hai luồng điển đó. Sau một thời công phu thấy chúng ta không còn ở đây nữa. Thì mở mắt thấy nhẹ nhàng sung sướng vô cùng. Đó là nhận được luồng điển của đức Phật đã ban cho chúng ta.

Lúc ấy Phật gọi Xá Lợi ơi! Ngươi có biết chăng? Ngươi cùng ta là cốt giác điển quang trên Trời xuống đây, hóa sanh muôn vật. Khi ngươi bị tội đày xuống thế gian nhập vào bản thể. Cái tông chỉ hồn của Xá Lợi ngày nay ta cho làm chức phẩm là: Trưởng Lão Xá Lợi. Vì ngươi là tông chỉ của Phật trên thiên đàng. Nay ngươi được thức tánh tưởng Phật tu hành cùng những người khác giống như con là tông chỉ chung. Nếu các người ấy tưởng đến Phật. Thì Phật cũng viện trợ giúp đỡ luôn, để linh hồn về xứ Phật gọi là chốn cũ quê xưa. Điển quang đó là tông chỉ cốt giác đó con.

Xá Lợi Phất! Cực Lạc Quốc Độ. Thành Tựu Như Thị Công Đức Trang Nghiêm

Chữ XÁ LỢI PHẤT là: Phật gọi linh hồn điển quang của đức Di Đà.

Chữ CỰC LẠC QUỐC ĐỘ là: Di Đà ơi! Nay chư Phật đến Hà Đào Thành của con, giúp bản thể con được sống lâu, để hoằng hóa chúng sanh dưới thế gian này. Dày công siêng năng chừng nào, thì công đức lớn lao chừng nấy. Trước kia ta là Thích Ca Mâu Ni Phật Tổ đây cũng như ngươi vậy.

Ông Tám giảng

Cho nên luôn luôn từ trên tới dưới chúng ta đã học. Chúng ta thấy rằng đức Phật rất bình đẳng, và mô tả rất rõ ràng. Chỉ đường đi cho chúng sanh nhưng mà chúng sanh vì trì trệ lười biếng trong mê chấp không chịu đi mà thôi. Chớ kỳ thật đức Phật rất công bằng và mở tất cả những đường lối, thậm chí vạch rõ những gì trong ta có, và chỉ đường cho ta tự đi.

Phục Thử Xá Lợi Phất! Bỉ Quốc Thường Hữu. Chủng Chủng Kỳ Diệu Tạp Sắc Chi Điểu

Chữ PHỤC THỬ XÁ LỢI PHẤT là: Đức Phật Tổ gọi Xá Lợi Di Đà con ơi! Con hiểu chưa?

CHỦNG CHỦNG KỲ DIỆU TẠP SẮC CHI ĐIỂU là: Tại đây có nhiều đóm ngũ sắc bay qua lại, gọi là Chim. Tông chỉ của nó là ngũ sắc điển quang bay qua lại trên Hà Đào Thành do nơi chất nhỏ nhỏ của óc có hơi lên, đó là điển. Ta gọi là Chúng Chim.

Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng, Tần Già, Công Mạng Chi Điểu

Nghĩa là: Xá Lợi Di Đà ơi! Ngươi có biết chăng? Nào là các thứ chim ta nói đây. Khi ngươi luyện đạo 6 chữ Khoa học của ta, lúc con bay lên thiên đàng đảnh lễ chư Phật. Nhưng con muốn không cần bay, con gọi Bạch Hạc hay là các loại nói đây. Cũng do nơi luồng điển Khoa học Di Đà biến hóa huyền diệu vô cực vô biên. Chim Bạch Hạc là loại sắc điển trắng nước màng óc hóa ra. Chim Công xanh đỏ màu sắc theo lông nó, là nước trái cật thành điển sắc xanh, còn đỏ là khí của lá gan cũng là nước điển màu đỏ. Chim Anh Võ màu vàng đậm pha sắc vàng cũng xanh mỏ đỏ, do nơi điển của lá gan chói ra. Còn chim Ca Lăng nó là một con Két hay là con Xích màu xanh mỏ đỏ hay là đen, do nơi trái cật phía bên mặt. Nước điển ấy ở nơi Hà Đào Thành, các lỗ nhỏ nào là lỗ tai, lỗ mũi, lỗ mắt, hơi điển lên tung ra Hà Đào Thành. Hơi tung ra nghe tí tí, ta gọi là Ca Lăng. Còn các chim kia cũng vậy, cũng ca hát. Còn Chim Tần Già thuộc về lá phổi khí điển xanh pha với lá gan khí điển đỏ, cùng khí điển của bao tử sắc đen. Ba thứ màu sắc này pha lẫn nhau, thành ra màu chim Tần Già, tông chỉ của các sắc màu chim.

Khi con luyện đạo, lúc hồn con bay về thiên đàng chầu Phật, con muốn chi thì nó hóa nấy. Khỏi còn lo như lúc con ở thế gian. Phải làm việc lao lực đặng có tiền mua nó cùng nuôi, cực khổ biết bao mới có nó. Còn các thứ khác mọi mặt chi chi trong thế gian đều khổ, cực nhọc, nhưng con muốn gọn gàng khỏi lo chi, thì con luyện đạo 6 chữ Khoa học của ta, muốn chi được nấy, khỏi lo giàu nghèo cực khổ, muốn chi có nấy còn mong gì nữa!...

Ông Tám giảng

Cho nên đây cũng là phân tách về cái Khoa học Huyền bí của nội tâm. Cho nên khoa học Huyền bí mà đem ra ngoài là trật rồi. Nó chỉ ở trong ta mà thôi. Cho nên chúng ta tu biết bao nhiêu năm tháng và biết bao nhiêu kiếp. Ngày nay chúng ta mới ngộ được cái duyên tự thức và thấy rõ bên trong ta có đầy đủ. Thì chúng ta không có bận rộn và lo âu. Tôi sẽ có hay là tôi không có. Tôi sợ rằng tôi thiếu hành, nếu tôi hành là tôi có. Thì ở thế gian các bạn đi làm thì các bạn có tiền. Mà các bạn muốn về xứ Phật, các bạn hành đạo là các bạn về xứ Phật không có khó khăn. Đã phân tách rất rõ. Người đi trước đã khám phá tất cả những cái gì huyền bí trong nội tâm nội tạng của chúng ta và phân tách mổ xẻ từ li từ tí để cho chúng ta tự thức. Và thấy rõ rằng người thế gian đã mê tín mờ ảo và không tự thức để tự đi. Rốt cuộc trong ta có sẵn hết. Cho nên nếu chúng ta thanh tịnh là có hết.

Xá Lợi Di Đà ơi! Con nghe Thầy dạy con đây: Con phải cố gắng tu hành luyện đạo thì con thong thả thanh nhàn đời đời kiếp kiếp. Ta nói đây con phải tỏ lại cho các chúng sanh nghe. Ta là Phật có đủ điển quang để hóa sanh muôn vật. Còn như một người cha ở nơi dương thế, nuôi các con phải lao lực cực nhọc mới có tiền của sắm sự sản, cực cho đến già đến chết, chưa kịp chia. Rồi các con tranh của cải, cùng nhau đánh lộn. Nhiều phần không tốt đều do nơi tiền căn hậu quả tại trần làm ra. Cư trần nhiễm trần. Tội lỗi càng nhiều do tánh tham lam hung bạo sân si.

Xá Lợi Di Đà ơi! Con cùng các chúng sanh luyện đạo 6 chữ Khoa học Huyền bí của ta. Chúng sanh nào cố gắng tu luyện theo ta, thì ta giúp đỡ hỗ trợ cho các chúng sanh có công tu luyện tưởng đến ta thì của cải khỏi lo chi.

Khi con về nước thiên đàng cũng có đủ cho con. Con muốn chi có nấy. Sự tu luyện dày công của con trong 6 chữ Di Đà. Con muốn chi nó hóa nấy, còn lo chi nữa; khỏi lo tiền bạc như thế gian mà tranh giành cực nhọc.

Ông Tám giảng

Tất cả đánh đổ sự mê tín, đánh đổ hết, phân tách rất rõ ràng một cuộc cách mạng tâm linh trở về với chơn giác, rất rõ ràng! Các bạn được nghe qua, các bạn cũng không còn sống trong ỷ lại nữa. Mà chính trách nhiệm của chính chúng ta phải hành. Chỉ có hành mới đạt, không hành thì không bao giờ có cơ hội đạt. Cái lý nào, lẽ nào cũng là ở trong động mà thôi! Nhưng mà làm sao quy về sự thanh tịnh, không động thì ánh sáng nó bừng, hào quang nó bừng trong nội tâm. Thì ngồi đâu cũng thấy an lạc, ở đâu cũng thấy sung sướng.

ĐT: Thôi, tới đây thôi. Sao, có gì?

BĐ1: Dạ, kính thưa Thầy, hôm trước Thầy có dạy là buổi sáng Thầy giảng, buổi chiều tụi con họp nhau lại để mà thảo luận.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Nhưng mà, chúng con cũng có cái bí đó, là khó thảo luận quá.

ĐT: Khó thảo luận?

BĐ1: Dạ.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Không cách nào thảo luận nổi! Thành ra buổi chiều nay chúng con cũng không biết làm sao hơn, thì cũng chia nhau, anh em cũng tụ họp lại đây rồi.

ĐT: Ừ.

BĐ1: Thì con dành mỗi người 5 phút, nói lên cái lý do tại sao mình tu Vô Vi.

ĐT: Thì cũng được.

1:Thì cái phương thức thảo luận của tụi con thiệt là bí, không biết làm sao được.

ĐT: Cái đó cũng là thảo luận, cái đó cũng là thảo luận; từ người mà nói ra cái tiểu sử của chính mình, rồi chúng ta mới thảo luận; cho nên, thảo luận theo trình độ sẵn có; muốn vượt hơn trình độ và phê phán Kinh Di Đà để thảo luận thì không có cơ hội, phải tu hơn nữa. Cho nên, tui nói nó hơi khó, nhưng mà tui phải cố gắng đọc hết để các Bạn có cơ hội thiền, và tương lai dụng cái băng này thiền và thức theo giai đoạn; khi nó mở tới đó mình không có bở ngỡ nữa; những màu sắc xuất hiện đó chúng ta không có bỡ ngỡ nữa; thì trong cái cơ duyên này tôi mới xin bên trên chiếu điển xuống để hổ trợ cho tui đọc qua văn tự của Ngài, nhưng mà chính điển của Ngài.

Cho nên, trình độ các Bạn tương lai và các nơi Bạn đạo ở tương lai muốn biết kinh A Di Đà, mở băng nghe coi thử trình độ điển của mình tới đâu, và mình tiếp thu vào đâu, và đức Di Đà ứng hiện ở trong tâm ta ở chỗ nào! Thì rồi đây sẽ tiếp tục đọc cho hết ở nay mai, rồi sau đó nó sẽ hoàn tất cái cuốn băng của cuốn kinh A Di Đà, mà chính hồi nào tới giờ tui chưa đọc, vì tôi đọc ra sợ những người tu sơ sơ rồi chán nản.

Nhưng mà các Bạn bây giờ có tâm, có một số người cũng đã có điển rồi, nghe nó; và khắp năm châu cũng có một số Bạn quý nó và muốn hiểu nó; cho nên, đã hiểu một phần điển qua bao nhiêu cách thức; tôi đã tìm đủ cách thức và đưa các Bạn tới chỗ hiểu điển, và tự thức luồng điển của chính mình, và xuất phát luồng điển của mình giao cảm với thanh giới để học tận chân lý sẵn có của Tam Cõi.

Nhưng mà đủ mọi cách để điều độ, bởi vì hoàn cảnh của mọi người đều khác nhau. Mấy chục người này chớ không phải dễ dạy: mỗi người một cái tri kiến khác nhau, người mới hé hở, mà người chưa mở cũng có nữa, trong đó phải dạy; mà mọi người được hưởng một chút của trình độ của họ. Họ cố gắng ngoi lên để hưởng một chút thanh quang của đức Di Đà hướng độ. Thành ra, không nhiều thì ít cũng có cái phần nhẹ ở bên trong tâm.

Thì cái Khóa Học không phải dễ dạy mà lộn xộn như thế này; người ta dạy phải có trình độ, nhưng ở đây bất cứ trình độ nào cũng có thể tìm cách nhét vô cho nó, không nhiều thì ít trước khi mãn khóa. Thì lúc đó các Bạn về nhà, các Bạn dòm người đời nó khác hẳn rồi; học ở đây rồi về dòm người đời, và người đời nói chuyện với chúng ta, nó khác xa lắm! Mình cảm thấy khác xa; lúc đó mình mới thấy: “À, trong cái giờ học tại sao tôi lại không chứa được,” lúc đó mình mới nhìn nhận trình độ mình còn kém. Chớ cái hiểu biết của mình có chút xíu à; không có tới được, vì mình chưa thả lỏng, mình chưa quy “Không” thì chưa thâu nhận được trọn vẹn; nhưng cũng một phần là may mắn nhất. Trên trường đời này đã biết bao nhiêu người đã biết được điển giới? có bao nhiêu người đã hiểu được cảnh giải thoát và đặt vấn đề tương lai cho ta? Không có bao nhiêu người! Cho nên, các Bạn là may mắn nhất mà trực tiếp trực diện với tôi, và tôi cũng may mắn nhất được bề trên chiếu thanh quang xuống qua tôi chuyển cho các Bạn.

Cho nên, một mình tôi mà đọc cái này chắc cũng mệt; đọc đây, nói chuyện lẻo lẻo, muốn nói gì nói, nhưng mà chút nữa lên kia là nó phải mệt rồi, cúp rồi là cái xác phải mệt. Cái xác bị giới hạn với sáu mươi mấy tuổi, không phải tuổi trẻ. Nhưng mà tuổi trẻ lên làm cái này cũng mệt, nếu mà không có điển của bề trên chiếu cho cũng cảm thấy mệt; cho nên, cái phần điển đó, nó chiếu ngay Hà Đào Thành.

Cho nên, các Bạn cứ việc nói đạo đi, không sao! Biết được bao nhiêu nói bao nhiêu; bề trên chiếu cho các Bạn rồi sẽ nói. Cho nên, tôi nói này là mở đường cho ngày mai các Bạn sẽ nói; cứ nói đại, rồi nó sẽ mở; các Bạn tưởng bề trên, tưởng đấng Di Đà, mỗi đêm các Bạn niệm Di Đà thì Ngài luôn luôn bên bạn. Bạn cứ thành tâm nói và tâm chúng ta bất vụ lợi, Tâm chúng ta là tâm hướng độ chúng sanh, thì tự nhiên luồng điển nó chuyển cho các Bạn thao thao bất tuyệt.

Các Bạn sẽ nói chuyện hay hơn tui, tui lớn tuổi rồi; giới hạn sức lực, đâu có phải trẻ như các Bạn, đủ sức lực, hùng dung! Rồi đây các Bạn cứ thử, thử thét rồi năm này tháng kia, nó còn giỏi hơn ông Tám rồi: Ông Tám lúc đó nói còn lôi thôi; thấy rõ không? Đó. Cho nên bề trên luôn luôn hướng độ, luôn luôn ban ơn, luôn luôn gần các Bạn và không có xa các bạn. Cho nên, các Bạn đừng kỳ thị các Bạn và đừng sợ một cái gì! tất cả mọi người là ta. Các Bạn ngồi trước một triệu người các Bạn nghĩ có một người thôi. “Tôi không cần nói cho một triệu người, tôi nói một ông đó nghe, thì tất cả phải nghe, bởi vì một thứ, một khuôn, không có sao hết!” Thì tự nhiên các Bạn nói được và độ tha được, chớ đừng sợ sệt, đừng nói mình yếu hèn, mình tu không ra gì.

Mình không xài, ông Trời không cho. Các Bạn có xe hơi mà các Bạn không xài thì mấy trạm xăng không có bán xăng cho các bạn! Mà ai cho? Tiền của ai cho? Tiền của ông Trời cho, Kim Mẫu mà, mẹ cho, mẹ cho tiền! Thấy không? Mình đi mua xăng, xăng của Mẹ chớ ai! Của đất, thấy không? Mà sự sáng suốt của ông Trời cho; Cha Trời Mẹ Đất đã ban cho mình, mình dùng trong cái lẽ phải, không có dùng bậy, thì lúc nào các Bạn cũng dùng được hết.

Đừng có nói “Ông Tám tu mấy chục năm!” Chưa chắc gì tui hơn các Bạn được; nhiều Bạn tu cả nghìn năm mà không có nói ra. Cái tâm người ta hiểu hết, người ta không có nói; rồi làm sao, Ông Tám làm sao giỏi hơn được; thấy không? Cho nên, cái chuyện tu nó là vô cùng. Cho nên, chúng ta chỉ lo tự tư, tự tiến, tự giải, tự mở, không nên chấp người khác, và không nên kỳ thị người khác; bằng lòng học nơi người khác thì các Bạn ở đâu cũng là thuyết pháp được hết.

Bạn thuyết pháp để Bạn học đạo mà; thấy không? Đâu phải Bạn thuyết pháp Bạn cho người ta đâu! Nhờ người ta ngồi đối diện với các Bạn, các Bạn mới lấy lý này lẽ nọ phân tách cho mọi người cảm thông, thì Bạn cảm thông trước họ rồi; Bạn học trước họ chớ gì; thấy không? Nhờ họ, chúng ta học. Cho nên, Bạn đạo là đúng hơn, chúng ta là đồng như nhau: Huynh đệ tỷ muội trong nhà đầm ấm học hỏi trong tinh thần xây dựng và cởi mở.

Thì lúc đó các Bạn thanh tịnh rồi, các Bạn thiếu gì chuyện hỏi; hỏi móc cũng được, mở cũng được, tất cả tâm các Bạn là độ, nó khác đi! Bạn phá đi, nhưng mà Bạn độ. Cho nên, ông Trời Ổng phá chúng ta; thấy không? Ổng cho cái bão nè, cái bão gì sắp đến là Ổng phá chúng ta lo âu hết sức, nhưng mà Ổng độ: Nó nói “Cái bão sắp tới rồi, nhà sẽ sập, tiêu tan đồ, vợ con mất rồi; tôi đi đâu?” Lúc đó nó mới nghĩ đến chuyện tu! Ổng độ nó đó.

Nắng thiệt nắng, mưa thiệt mưa, tuyết thiệt lạnh; thiếu thốn cho nó thiệt thiếu thốn, dư giả cho nó thiệt dư giả đi, rồi coi nó thức tâm không? Nó dư giả tiền bạc nhiều quá, mà nó mang bệnh, nó trị không được, nó mới nhớ ông Trời; “Ttền bạc tôi làm, bất lực rồi! Ông Trời mới là mạnh!” Thấy không? Tất cả những cái hành vi gì mà ông Trời làm đều độ chúng sanh. Khi chúng ta thuyết pháp, chúng ta phải hiểu cái này.

Những lời gay gắt, những lời hòa ái tương thân, những chỗ tận độ, mà những chỗ chúng ta cũng tận kính, để thiên hạ tiến, thì việc làm đó hữu ích, ta làm; thấy chưa? Cho nên, cái thuyết pháp không có khó khan. Vì người đời không chịu mở trí, không chịu tự thức, không chịu trở về vị trí của chính mình mà thôi, thì thấy cái đó là khó khan; chớ kì thật không phải khó khăn.

Cho nên, tôi kêu gọi sự thanh tịnh tu thiền; rồi lúc Bạn nói, cứ nói thật, “Tôi có bao nhiêu, nói bao nhiêu, rồi một chặp nó mở; mà cái bao nhiêu của Bạn có, Bạn không nói; Bạn nói cái của người ta thì nó kẹt; thấy không? Cái đà đang tiến của Bạn, Bạn cứ nói thì nó mở ra; mà Bạn lấy của người ta về nói là nó trật rồi; rồi nói “Đức Phật nói vậy, vậy,” rồi cái câu đó cái nó quên mất à! Rồi không biết nói làm sao, trật lất hết!

Bây giờ nói chuyện của tôi đi: “Tôi tu nó như vậy, như vậy đó; tôi làm như vậy, như vậy đó; trước kia tôi như vậy đó, bây giờ tôi công phu tôi được khỏe như vậy, tinh tấn như vậy;” rồi người ta thấy: “À! thằng này nó không có ăn học nhiều mà nó biết được nhiều chuyện hữu ích! Cái pháp này hay;” người ta bắt chước người ta học, vì người ta muốn tiến hơn. Cái mình được bao nhiêu, mình nói cho họ bấy nhiêu là các Bạn có thành tâm truyền pháp cho người khác.

Còn các Bạn lấy tùm lum, các Bạn nói thiếu thực tế, xa thực tế, là không được; “Tôi nói cái gì tôi đã làm, tôi đã hành, tôi đã đi.” Cho nên, những người mà muốn truyền đạo cho người mới tu, nói chuyện sức khỏe trước; “Trước kia tôi làm sao, bây giờ tôi làm sao, tôi làm sao được khỏe và vui, gia đình tôi được an,” bấy nhiêu đó đủ rồi; đủ độ người ta bước vào cái thềm đạo pháp, và người ta là người tự đi. Mình không có khả năng bao trùm họ, nhưng họ chính là người tự đi; rồi tương lai họ sẽ hộ độ cho mình, biết đâu chừng người ta hay hơn mình; tu một ngày nhiều khi người ta hay hơn mình.

Tiền kiếp người ta tu nhiều, nay người ta tu một ngày là người ta đắc đạo; mà mình tu, nghĩa là bao nhiêu năm chưa thấy gì hết, tại vì mình lãi nhãi quá nhiều, nói chuyện người ta quá nhiều, mà chuyện mình không chịu moi ra mà phơi bày giữa Trời Phật để sửa chữa mà tiến hóa. Thành ra mình cứ lấy lý thuyết người khác nói cho hay, ru ngủ mà thực hành mình không có. Mạo diện không có khai quang, làm sao tận độ chúng sanh được? Cho nên, “Vô Vi là thực hành chớ không giành đạo!” Nhớ cái câu này!

BĐ1: Cám ơn Thầy! Hôm nay thì cũng tới giờ; bởi vậy các anh em, Quý Vị nếu có cái gì cần hỏi gì Thầy đó, thì để vào cái dịp khác.

ĐT: Cần gì hỏi không? Không thì mai tui xách baton tới, tôi hỏi (cười)! Không ai hỏi, ha?

BĐ1: Tôi nghĩ là quý vị cũng nên tôn trọng cái giờ giấc chút xíu.

ĐT: Bởi vì ruột gan của Quý Vị bữa nay moi ra hết rồi; tiểu sử của mọi ngày moi ra hết rồi, không có chuyện nói nữa; nhưng mà lấy cái điển để nói, nhìn người ta rồi nói; ngày mai sẽ có chuyện nói.

BĐ2: Thưa Thầy, có cô này trốn, không chịu nói.

ĐT: Ừ.

BĐ3: Đâu có trốn đâu Anh, cái này trách nhiệm mà!

ĐT: Mai đề cổ phải nói chớ!

BĐ3: Dạ, con trong nhà bếp.

ĐT: Trong nhà bếp, đạo ở trong nhà bếp mà không biết nói!

BĐ3: Dạ, mai con sẽ nói.

ĐT: Rồi, bây giờ nói đạo trong nhà bếp, nói tui nghe coi? Hả? trong nhà bếp làm cái gì; làm cái gì, nấu cái gì; nói nghe coi? Nấu cái gì?

BĐ3: Dạ, Thầy hỏi hôm nay, hả?

ĐT: Ờ.

BĐ3: Dạ, hôm nay Chị Yến, Chị nấu súp.

ĐT: Nấu súp.

BĐ3: Dạ.

ĐT: Nấu cái gì với cái gì, nói nghe coi?

BĐ3: Nấu cà rốt, khoai tây, với lại nui.

ĐT: Vậy hả?

BĐ3: Dạ.

ĐT: Cà rốt, khoai tây, nui?

BĐ3:…….

ĐT:……..là cái gì?

BĐ3: Tức là mướp đó.

ĐT: Cái mướp hả?

BĐ3: Dạ.

ĐT: Mướp;

BĐ3: Dạ.

ĐT: Thấy không?

: Có nấm đông cô;

ĐT: Ờ, mà có thấy đạo trong đó không?

BĐ3: Dạ, con…

ĐT: Cái gì là đạo? Hạnh hy sinh của vạn linh,

BĐ3: Dạ.

ĐT: … cho bạn đạo được ấm êm nghe đạo: nui nó cũng hy sinh nữa, Chị thấy không? Lúa nó mọc lên cây lúa, cái hạnh hy sinh của nó, nghĩa là, khắp trần gian phải bái phục; thấy không? Carotte cũng vậy, chịu mọi điều khổ nhục mà bằng lòng nhẫn hòa kết thành một vật hy sinh để độ tha, cho nên, mọi người đã hưởng và đi trong đường đạo.

Cho nên, đêm nay chúng ta có tu, chúng ta phải cầu nguyện cho vạn linh đồng tiến hóa trong tinh thần cứu độ từ bi bác ái của buổi cháo nui; thấy không?

BĐ3: Dạ.

ĐT: Hạnh hy sinh ở trong đó! Tại sao không nói đạo, đạo trong nhà bếp?

BĐ3: Dạ.

ĐT: Đạo đâu phải chỗ này, trong nhà bếp có đạo; thấy không?

BĐ3: Con xin cám ơn Thầy đã mở trí cho con.

ĐT: Ừ! (cười) Muốn sai là tui làm; không có cái gì khó khăn.

[Hết mp3 ID# 19860105Q2 - Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà: Thầy Giải Kinh - BĐ Thảo Luận - Cuốn 13A - Hết video ID=19860100L16 – “Thuyết giảng kinh – phần 12” – Kết thúc 15 videos – Video "Khóa Huấn Luyện Kinh A Di Đà - cuốn 2"]


----
vovilibrary.net >>refresh...