[19860100L12]

KHÓA HỌC "KINH A DI ĐÀ" : Thầy Đọc Và Giảng Bổ Di Kinh Di Đà - Phật Học Vấn Đáp (ấn bản 1986, trang 143 - 169) - Cuốn 9

.....

Vì người Thượng ngươn, hồn ở trên trời bị lỗi mới sa vào thế gian trần tục, thì những bực người ấy tánh còn chơn tâm, lúc ở Thiên Đàng chưa nhuộm trần, thì Phật cho câu "Tâm tức Phật"; Hễ người được có tâm tu niệm thì Phật chứng quả Bồ Đề.

Còn về Trung ngươn, cũng có phần nhiều cư trần, ham vui vẻ, ít ham muốn tu hành, thì càng ngày càng nhiễm mê luyến trần gian, nào là tham, sân, si, phú quý, quyền thế, người hiếp người, hung hăng hại lẫn nhau, hiếp đáp nhau, giành xé nhau cho vừa ý muốn, cũng có một phần mê trần, đồng thời cũng tưởng tới sự tu hành, một phần ít vậy thôi. Nhưng những người ấy bị sự hiếp lấn, rồi thức tánh tu hành, nào là lập chùa chiền, am tự để tu hành mà không hiểu trên Thiên Đàng có hai thứ điển, Văn Điển là Điển Phật, còn điển của Ngọc Hoàng Thượng Đế là Võ Điển.

Còn dưới thế gian cũng có điển là điển trược hỏa tặc hung hăng giết người; điển này để giúp cho người làm ngũ sắc kim, để nấu chất ăn cho chín, để nuôi dưỡng bản thể. Hỏa tặc này phá hoại, nóng bức khó chịu, hại người không thể tưởng tượng. Còn phần nóng ít hơn thì gây ra tham lam bỉ ổi, cũng làm ra cái tánh con người hung hăng giết hại, tham lam, giựt của cải để cho mình sung sướng, người hà hiếp người.

Còn bực hạ thừa, còn nhiễm trần hơn nữa, quỷ quái sâu xa, mưu cao kế dày, để lừa bịp những người dốt nát, hiền lành, cùng người thất học, thì do nơi sự bắt buộc của thời đại.

Phật Ngài làm Kinh Di Đà ra để cho người tu tâm dưỡng tánh, nghĩa là: Sửa là sửa tâm sửa tánh, nhưng trái lại sửa tâm là có nghĩa dùng điển quang trên thiên đàng để sửa điển của bản thể ta để trực tiếp cùng gián tiếp điển của Phật.

Điển dương là thần hồn trở lại hiền, đó là Chủ Nhơn Ông. Trước kia hồn ở thiên đàng bị tội lỗi mới xuống làm chủ của bản thể. Còn điển âm thuộc về vía của trí ý Cha Mẹ cấu tạo bản thể. Tánh nết của nó ưa oán ghét ngầm, cố ý nhớ hoài hoài, âm mưu lừa bịp, cố sát, ẩn ác. Còn bề ngoài thì vui vẻ, khuyến dụ con người theo chúng, để hại người trong trần gian, lắm điều tham lam xâu xé. Người trần gian, tưởng rằng chúng nó thật thà, theo bọn chúng mà không hiểu bề trong, mà chỉ hiểu bề ngoài mà thôi.

Bởi thế Phật Ngài cho "Kinh Di Đà" dạy ba Pháp Môn là: Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển Định Thần, để sửa Tâm, Can, Tì, Phế, Thận của bản thể con người, lấy điển trong bản thể của con người trần thế để hợp với điển của Phật sửa đổi tâm tánh con người. Ở trong ngũ tạng cùng chân tay đều có điển hung ác, pha lẫn với điển của Phật để tu trang cho bản thể cho người được trở lại như người xưa, thì người trần gian mới có thể hiền lành trở lại minh mẫn, sáng láng; rồi chúng nó xem xét lại mới biết rõ sự tham lam, lừa bịp, bỉ ổi, rồi nó biết hơn sự thật ngay lành. Trong "Kinh Di Đà" Phật Ngài nói: "Phật tức tâm, tâm tức Phật"; đó là Phật dạy người sơ thỉ, hễ có tâm tưởng Phật là Phật; còn từ trung chí hạ thừa thì bị nhiễm trần, không được minh lý, rồi chúng nó lấy những câu Kinh trên đây của Phật, mới cắt nghĩa cho chúng lầm lạc.

Ngày nay chúng tôi hiểu thật sự là đời Hạ ngươn phần nhiều con người quỷ quái, xảo trá, thì câu Kinh "Tâm tức Phật" ngày nay nhờ ba pháp quý báu của Phật truyền, sửa lại tất cả châu thân con người minh triết hơn. Theo như người sơ thỉ, hễ có tâm tưởng Phật là thành Phật. Ví dụ như một ông dốt không hiểu chi hết, rồi lên núi thắp nhang lạy Trời Phật cầu xin cho được linh tánh, để xuống trần gian sửa chữa bệnh. Họa phù bằng giấy vàng chữ son, vì sự dốt nát không hiểu câu kinh câu chú nào. Rồi cũng hô: Con cò xanh nhảy quanh hòn đá, chờ nước cạn ăn cá, ăn tôm, thì chúng nó xét đoán, bởi vì ông thầy ấy có tâm, rồi Phật Tiên cũng cho Long Thần, Hộ Pháp giúp đỡ cho ông thầy trị bệnh đó mau hết, lành bệnh do nơi ma quỷ khuấy phá, cùng tà tâm của bệnh sanh ra. Thì Chúng tôi suy nghĩ là ông thầy có tâm tưởng Phật, rồi Long Thần Hộ Pháp giúp đỡ, đó làVõ Phật làm mấy chuyện ấy do nơi tánh vía của ông thầy.

Còn đây chúng tôi tu về phần hồn, là Văn Phật; ý nghĩa chúng tôi thấy Phật Ngài dạy làm ba Pháp Lý sửa tâm tánh cho hồn trở lại Thiên Đàng chớ không muốn ở thế gian.

Vậy xin các bạn được hiểu trong cuốn "Kinh A Di Đà" là chỉ rõ đức Phật Ngài dạy bảo phải sửa điển cho chơn tánh, do nơi ngũ tạng bị điển trần từ Thượng, Trung và Hạ ngươn của bản thể con người bị nhiễm trần nhiều; nay nhờ được Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật mà chúng tôi được thông minh kiến tánh, những lời Kinh của Phật dạy bảo để cho ngũ tạng chúng ta được yên lành, không bận rộn, nhờ điển của Phật pha lẫn với điển của ta, mới được rõ "Kinh Di Đà" rất sâu xa huyền diệu.

Ngày 25 tháng 11 năm Ất Tỵ (17-12-1965)

Thưa Các Bạn

Khi chúng tôi phân lý tông chỉ cuốn Kinh A Di Đà đã hết nghĩa lý Di Đà rồi, nhưng chúng tôi viết ra thêm một quyển Vấn Đáp.

Quyển này tự nói ra, không phải điển, theo ý chúng tôi muốn để các bạn hiểu sự vấn đáp để mở mang thêm cho người công phu luyện đạo. Chúng tôi muốn tường tận về sự công phu luyện đạo để cho các bạn dễ hiểu lý Kinh thiết thực của chúng tôi, muốn làm cho nền đạo sáng chói hơn, cùng thương các bạn. Chúng tôi chẳng biết lấy chi dắt dẫn cho người thiện chí, vì thế ấy, chúng tôi phải lập nên quyển Vấn Đáp để xem cho hiểu lý Kinh cùng công phu cho tỏ rạng hơn.

Các bạn ơi! Đây là cõi thế gian, chúng ta ở mảnh đất phù sanh này, dương gian hay là dương trần, thì bị tăm tối mù mịt nó lôi cuốn phải bị mê trần. Khi chúng ta thức tánh muốn về quê xưa chốn cũ là Thiên Đàng, thì có sự tu hành để chưởng linh hồn cho được minh triết. Nhưng trong thế gian có nhiều đạo ra đời, đạo nào cũng Chánh Đạo, nhưng các bạn suy đi nghĩ lại hoài hoài mãi mãi con đường nào về Thiên Đàng cho giản tiện gần gũi hơn, nên chúng tôi thừa lập quyển Vấn Đáp này để dắt dẫn sự tu hành phát triển hơn lấy lời nói thiết thực, thêm ý kiến cho các bạn để thấu đáo không nghi ngờ, phải hay là không phải, thì chúng ta nên coi để mở trí, dẫn dắt đường tu trực chỉ đến thiên đàng.

Ôi! Thật là khó, vì Khoa học Huyền bí thiêng liêng của Phật khó hiểu được, nhưng vì chúng ta ở thế gian thì thấy trong thế gian có hình thức vật chất

Còn tu tầm đường lên thiên đàng là chỗ thiên không thì làm cho tầm mắt và ý chí ta không thấy và không thấu đáo, bởi thế không bờ không bến, thấy thì không thấy, tin thì khó tin, nào ai biết được. Bởi thế trong câu Kinh có nói: "Đạo là tu du chi đạo," vô bờ bến, các bạn thiên về bên nào thì tu về bên nấy, tóm tắt có một nẻo dài hay là vắn, mau hay là chậm, khó mà hiểu được, bởi thế các bạn bán nghi bán tín vì trong tâm còn lộn xộn, còn bê bối, không được hiểu rõ Chơn Như.

Vậy xin mời các thiện chí nếu muốn về nhà Phật thì nên xem quyển Kinh Di Đà cùng Vấn Đáp là tông chỉ của nó, rồi các bạn theo Pháp lý Vô Vi Huyền bí của Phật, ráng tu luyện đạo, trong một năm rưỡi cũng chẳng xa, chẳng kém thì giờ, miễn cố gắng công phu; trước hết thấy hào quang của Phật ban cho mình, cùng linh hồn của chúng ta phóng ra một đóm lửa sáng chói, đó là linh hồn của bạn từ trán phóng ra rồi bay đi thiên không, ban đầu bay ngắn biến mất, càng ngày càng bay xa, nhưng bay lên trên thiên không, không hạ xuống đất; chỉ rõ là linh hồn về Thiên Đàng chầu Phật, cũng thấy quê cảnh Bồng Lai Nhược Thủy của Tiên; thì lúc này chúng ta được thấy Mâu Ni Châu thì chí ta hiểu là có đường lên Phật.

Thưa các bạn! Chư thiện nam tín nữ, cùng các em đồng nhi nam nữ cố gắng công phu cho linh hồn về cõi Phật, tuy xác hãy còn ở trần, còn hồn được xuất ra bay bổng trên Thiên Đàng, rồi mới hiểu biết sự chân thật của chúng tôi vì lòng bác ái đối với các bạn tu hành thiện chí. Sự tu hành thuộc về khí điển thiêng liêng, cố gắng công phu là được, nhưng chúng tôi không thể nắm tay bản thể của bạn mà bay đùa bay bướng trên Thiên Đàng cho được, buộc lòng chúng tôi phải dịch quyển "Kinh Di Đà" để các bạn thưởng thức hiểu biết; hơn nữa, chúng tôi thừa tiếp quyển Vấn Đáp này bổ di giúp cho các bạn, để được tường lãm am hiểu Pháp Lý cho dễ bề công phu luyện đạo.

Đến đây chúng tôi xin chào các bạn thiện chí, cùng xin tha thứ những điều thô sơ của chúng tôi.

PHẦN II

PHẬT HỌC VẤN ĐÁP

***

Công danh phú quý bất như nhàn

Cực khổ nghèo giàu há dám than

Mang gậy Kim Cang về bến giác

Thẳng đường thẳng lối đến Tây Phang.

***

Tây Phang vạn lý khổ nài bao

Góp gió ngàn phương mới thấy sao

Bệnh, tử, lão, sanh, nào sá kể

Pháp Thần do PHẬT thẳng bay cao.

***

Bay cao xuống thấp tự nơi mình

Thanh lọc điển hồn mới phát minh

Trược biến thanh nhờ công chuyển pháp

Quốc hồn kêu gọi hỡi sanh linh.

TỰA

Hôm nay chúng tôi được chung nhau để viết quyển Vấn Đáp cho các bạn được hiểu rõ về ý nghĩa Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của chư Phật cùng chư Tiên về việc: TÀ là hữu vi hay là duy vật, còn CHÁNH là Vô Vi, không không.

Chúng ta hay lầm lẫn không không, mà có; có có, mà không; Tiên cùng Phật, sự tu hành bực Tiên rồi tới Phật, thì duy vật rồi biến duy tâm; còn trần thì ráo riết, ngày nó đi rất đỗi mau, hết đời Thượng ngươn, Trung ngươn, rồi tới Hạ ngươn, thì trong ba ngươn cộng lại là 1.800 năm.

Khi trong đời người cùng nước lộn xộn thì chúng ta nên biết: Trời, Phật cũng như người thế gian, khi gần đến sang thế kỷ thì cũng sanh loạn lạc trong các nước, thì đời đạo đều đảo điên tất cả bầu trời thế giới; đấy là ngày hôm nay năm 1966, bạn cũng biết cho.

Đúng 2.000 năm là hết đời Hạ ngươn sang Thượng ngươn, thì tất cả các nước đều lộn xộn, thành bại hưng vong; còn những người đời là dân trong nước thì bị điêu đứng khó khăn, nếm đủ chua, cay, chát, đắng, mặn, nồng phần nhiều vì chỗ ấy; những phần đạo là người hiền cũng chịu ảnh hưởng chung, nên ai ai cũng muốn yên tịnh, bằng an vô sự, mà thôi.

Sự xáo trộn lôi cuốn, cái lành dữ lộn lạo trong nước, không khác nào trời đất mới mở, người không tu lo làm ăn, còn có một phần hung dữ tàn bạo thì càng hung dữ tàn bạo lừng lẫy hơn. Hiền lành hung dữ đều xáo trộn, trong lúc ấy hiền muốn hiền hơn, hung dữ muốn lừng lẫy hơn, cũng có một phần vô phước vô gia thê, vô bờ bến, làm cho cực điểm trong đời, sự hung dữ lừng lẫy hơn mới sanh loạn ly hỗn độn; thì chúng ta nên biết cho nước nào cũng có nhân viên can dự, còn gia đình cũng như trong nước, cha đối với con, chồng đối với vợ, chồng vợ cha con đều lộn xộn, quên đạo lý.

Bởi vậy chúng tôi muốn phân rõ đời đạo song tu: ĐỜI là cho gia đình vĩnh viễn, từ thượng chí hạ, từ ông bà cha mẹ con cháu, ngôi thứ chuyển đệ hiếu hạnh vi tiên mới thanh bình. Còn ĐẠO thì muốn yên tịnh để tu theo ý muốn của người, để làm Phật Tiên, không muốn ở trần, không thể nào thoát khỏi bởi vì chúng ta bản thể còn ở nhân gian, cũng có nhiều người ai ai cũng đều muốn tu, bỏ thế gian.

Trong thế gian biết rằng: khó, cùng, cực, nhọc, muốn cho rảnh rang cho đời của mình, nhưng làm sao cho khỏi chốn trần gian? Bị mạnh hiếp yếu, mạnh là quật cường, yếu là hiền lành, rồi muốn tầm đạo đi tu. Tu thì cũng khó lắm, làm sao phân cho được cái giả cùng cái chơn?

Còn giả, chơn phần nào cũng có đương vương trường bản trong trần để lợi dụng, thì người chơn thì ở trần rất sợ hãi, mà tránh làm sao cho khỏi? Còn tu để tránh trần gian, lo làm Tiên, Phật, không tranh danh đoạt lợi; còn nhiều người ích kỷ, lấy vải thưa che mắt Thánh, làm điều dối trá cho sung sướng trong đời.

Hiểu mà không nói, còn nói mà không hiểu! Ôi! Thế sự vi nhân nan, buộc lòng chúng tôi lấy sự bác ái phô bày, chỉ rõ sự tu hành. Phật thì có hàng Phật Tử; Trời thì cũng có âm, dương; người thì có phu phụ.

Còn điển thì có điển nóng cùng điển lạnh; Trong đời thì có ngày, đêm; đó là âm dương. Nhưng âm dương hợp thành, gọi là hợp nhứt, để cho hóa hóa sanh sanh.

Bây giờ chúng ta muốn cho hung trở nên hiền: hung là duy vật võ biền, còn hiền là Vô Vi Văn Phật. Đây chúng ta muốn tu thì phải biết Phật Tiên thì có võ, có văn, rồi mới hợp nhứt hườn vô.

Hợp nhứt hườn vô là thừa võ hóa văn, thì chúng ta luyện đạo phải biết bên Võ Phật, phải lấy duy vật làm gốc. Duy vật là cốt giác luyện phép hườn hình, ví như biến hóa di sơn, thì chúng ta phải lấy một cục đá nhỏ (là duy vật) mà thuật biến ra một hòn núi cao chớn chở, cốt giác của nó là hòn đá, là duy vật; mỗi việc đều nhỏ biến lớn, huyền ảo qua một thời gian rồi hườn nhứt, tồn lại cục đá là cục đá; nhưng các bạn biết cho, cục đá ấy biến hóa cho cục đá phép mầu linh nghiệm thành ra một trái núi, huyền ảo hườn nhứt một thời gian. Phép ấy gọi là Tà thuật rồi hườn lại các đá nhỏ, mà thôi. Nếu cục đá nhỏ ấy bị người giựt hay là phá tan, hoặc đoạt được, thì phép ấy không linh nghiệm nữa, gọi là Hườn hư, thâu phép, hay là Phép hư. Võ Phật hay là Võ Tiên thì lấy duy vật biến hóa nên hình, đó là ảo thuật hay là tà thuật.

Còn chúng ta muốn tu nơi Văn Phật là lẽ chánh tự nhiên, thì chúng ta phải tu lấy phần hồn gọi là Lẽ chánh, thuộc về luồng Điển Cái. Còn luồng điển lạnh trược thuộc về tánh vía, hay múa men động chạm, lấy sự vật hại người hay là làm khó cho người. Ôi! Trong thế gian, tưởng Phật nào như Phật nấy, Tiên nào như Tiên nấy, không phân lẽ chánh tà; đồng thời chúng ta cũng tu duy vật và Vô Vi, xáo trộn không phân biệt.

Cho nên chúng tôi hợp ý phân tách ra cho rõ, nào là Văn, nào là Võ Phật:

Văn là Vô Vi, tu phần hồn, thừa tiếp điển trên Thiên Không xuống.

Còn Võ Phật thì lấy cái vía mà thừa tiếp điển lạnh của trần gian rồi hợp tác để cho hồn trí thức sai khiến, sự linh nghiệm hiện tại thế gian, làm chi được nấy. Còn người trong thế gian bị nhiễm trần, tham muốn ưa linh nghiệm, làm đâu được đấy.

Còn Văn Phật thì lo cho phần hồn được làm Tiên, Phật ở xứ Thiên Đàng không trở lại thế gian. Nay hồn chúng ta muốn trở về chốn cũ quê xưa để tỉnh ngộ hưởng sự sung sướng thiêng liêng ở chốn Thiên Đàng thì không hoạt động lấy duy vật xáo trộn; tất cả đều lấy chữ không không yên tịnh, tom góp điển bản thể trong mình hườn quy hợp nhứt, làm cho hồn đủ sức mạnh dồi dào.

HỒN là một luồng điển chánh làm chủ bản thể ta, nhờ điển trong bản thể quy tụ hợp nhứt, hùng dũng vô cực vô biên để quy tụ như vậy, trở về thiên đàng, gọn gàng mau mắn hơn, nhưng ta thì cố gắng công phu luyện đạo dày chặt, bắt từ đầu của bản thể là chỗ hồn ở, tập cho hồn sáng suốt lấy pháp tu để lọc trược khí trở nên thanh tại bộ đầu, rồi lấy điển thanh của tay chân và các điển phụ, cũng lọc trược biến thanh hợp lại hóa nên hình. Phải bền bỉ cố gắng làm pháp tu thì mới gom hồn cùng vía được.

VÍA là ngũ tạng tay chân, tất cả những vật gì động dạng là vía, lấy thanh khí của bản thể cùng tay chân gắn lên tiên thiên bộ đầu. Khi chúng đủ đầu mình tay chân, công phu luyện đạo cho dày công, trược mới biến thanh, thì xuất hồn về Thiên Đàng cũng không lâu.

Ví như Lương Sĩ Hằng (gọi là Lưỡng) tu theo Pháp nhà Phật là Pháp lý Vô Vi mà ngày nay chúng ta lượm được, đã vắn tắt được xuất hồn bay về trung thiên, rồi trở về trần nhập vào bản thể, thì sự tham lam hung hăng bỉ ổi của bản thể Lưỡng trong thế gian đâu còn nữa, bởi vì hồn Chủ Nhơn Ông của Lưỡng cố gắng tu hành, nào là Lục Căn, Lục Trần của tánh vía sai khiến, xưa là hung dữ tham lam. Nay hồn của Lưỡng được lên thiên đàng thấy sự tà chánh rõ ràng, mới dạy cho vía cùng Lục Căn, Lục Trần tu theo hồn, thì tánh vía không bao giờ còn hung dữ tham lam nữa, trở nên người hiền triết, thì hồn cùng vía tự nhiên trở nên lành, khỏi coi sách dạy trong thế gian, hay làm lành lánh dữ.

Hễ Chủ Nhơn Ông hồn được hiền từ, thâu được khí thanh, còn vía cùng Lục Căn, Lục Trần phụ thuộc, phải nương theo hồn, thì tất cả trở nên lành, vì nhờ pháp mầu nhiệm của Phật được lọc khí trược hóa thanh, thì hồn của Lưỡng cùng tánh vía trở nên hiền, thì các bạn biết cho, hồn vía được hưởng khí thanh của Trời thì sự hiền sẵn có, các bạn màng chi sách giáo hóa của trần để răn dạy phải làm lành lánh dữ, lành là thanh điển thiên đàng, còn khí trược là dữ của trần gian, sách này để dạy cho người chưa tu ở trần gian hiểu biết.

Còn người ta theo điển này, hàng ngày công phu lừa lọc khí trược hóa thanh, thì làm sao mà không lành? Đó là pháp tu huyền diệu của Phật Ngài dạy chúng ta luyện đạo hễ cố gắng tu được Hà Sa hay là Mâu Ni Châu thuộc về khí thanh, không nhiễm trần, thì bạn biết cho, không lộn khí trược được.

Khí đục trược là hung hăng, tham sân, theo Pháp có nghĩa là phân tách ra (détacher) không lộn lạo, thì ta luyện chừng nào tánh ta không tham sân, càng ngày càng thông minh, khỏi lo coi sách của Khổng Tử giáo hóa tự nhiên người tu trở nên lành là nhờ điển thanh không hợp tác với điển trược trần; nên chúng ta không cần dằn tâm hay là luyện tánh, nhờ Pháp huyền diệu của Phật đưa ra; khỏi lo chi.

Tới đây chúng tôi làm cái Mục Lục này nói sơ cho các bạn tu hành xem qua tường lãm.

Sau đây chúng tôi xin có mấy lời VẤN ĐÁP chỉ rõ về nền tu cho các bạn không lầm lẫn lộn lạo.

Vì các bạn bị trong gia đình hay là thời gian lôi cuốn làm cho chúng ta mờ mịt loạn trí bởi sự lo cho trần vì gia đình, rồi làm cho lộn xộn không phân tách được, nên chúng tôi lập những lời VẤN ĐÁP để cho minh cái đạo Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật, để hiểu cái chân lý tu hành làm Phật làm Tiên. Hễ hiểu rõ rồi, thì sự tu của ta đâu có mất phần nào, xin các bạn hãy xem TỰA này rồi suy nghĩ để hiểu tâm lý và Pháp của nhà Phật, thì sự tu hành của chúng ta càng ngày càng cao thượng.

Hơn nữa, chúng ta nên để đời đạo song tu, phải làm tròn nhiệm vụ: Đời là Tam Cang Ngũ Thường phải gắng cho tròn để đối với kẻ xa người gần cùng hàng xóm cho yên tịnh, làm lấy ăn để tu, diệt sự tham muốn trong đời của ta còn sống đây. Còn về phần linh hồn, vía cùng tánh ý thì chúng ta được suy nghĩ bình tĩnh, yên tịnh, phân tách cho luồng điển được thông, giao tiếp từ dưới cho đến bộ đầu để cho hồn óc thông tri, thì trí tuệ ta được HUỆ là nhờ nơi Pháp Phật là Soi Hồn làm cho thông Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý.

NHÃN là con mắt ta phải bình tĩnh, yên tịnh, nhắm lại cho kín, không giao động, rồi chơn ý ta được giao tiếp khí điển trên.

NHĨ là lỗ tai ta, nhờ ngón tay cái bịt lại kín, không dao động, thì tất cả luồng điển phía dưới bản thể ta được thông, không bị nghẹt.

TỶ là lỗ mũi ta, lấy hơi thở cho được thuần nhiên êm ái, bình thường, không nặng không nhẹ.

THIỆT là lưỡi ta, co lên chân răng, chót lưỡi kề nướu, răng cắn khít lại, thì cuống vị nó được thông tri nơi nẻo gân chân răng, lọc các chất như là: Chua, cay, chát, đắng, mặn, nồng, trở thành thứ nước ngọt gọi là Cam Lồ, để giúp cho hồn trí của ta an hưởng thiên nhiên và thông minh chánh trực, vì mấy thứ ấy là một thứ thuốc bổ làm cho tinh thần tráng kiện, thì hồn mới được mạnh mẽ siêu thăng, cũng có thể tu luyện được lâu, nước cam lồ thành đặc, rồi vị và cổ ta thấy một viên thuốc tròn trịa như thuốc tễ chạy xuống cuống họng vào thân ta gọi là Hườn Diên Hống. Hườn Diên Hống làm có ích cho ta sống lâu, cũng có thể gọi là thuốc Trường Sanh. Thuốc này được hưởng nghe mùi thơm chất ngọt, để giúp cho ta sống lâu và không nhiễm vi trùng thương hàn, tránh bệnh thời tiết tâm trạng, có sức khỏe dồi dào, linh hồn được sáng suốt để hiểu quá khứ vị lai.

THÂN là mình mẩy của ta, phải ngồi cho ngay thẳng yên tịnh, thì điển mới thông tri không bịt nghẹt, thì tánh ta được thuần lương để thừa tiếp cho ý ta, phụ trợ các nẻo gân cho thông thì vía ta được an hòa, cải tánh diệt danh, cái chơn ý không nhiễm trần, không tham sân, vía được sung túc dồi dào, thì mới hợp nhứt với hồn là trí óc của ta, cho đủ lực lượng. Hễ điển mạnh thì phóng lên cao, còn điển yếu thì thấp gọi là Định Thần. Thì thần khí cùng hồn mới được giao thiệp khí điển trên thiên không trực tiếp cùng gián tiếp, thì lúc ấy hồn chúng ta được thông tri thế gian cùng Thiên Đàng.

Từ bực Phật, Tiên, Thần, Thánh, cũng nhờ khí điển này mà làm Phật Tiên. Còn các ma dữ cũng nhờ điển trần như người còn sống tại thế gian này, nếu chúng được tỉnh ngộ tu hành thì thành Phật, Tiên, Thần, Thánh, cũng như ta. Còn bực ma quỷ không tỉnh ngộ thì khí điển trần bị mê trược nhập vào đất hóa rau cỏ cây cối, đó là luật của Trời Đất ban hành, xử bá đao chúng nó đời đời kiếp kiếp, cũng sống mà bị đau khổ mãi mãi.

Nhờ người trần nuôi dưỡng săn sóc tưới nước cùng giết hại nó, chịu đau đớn mà không chết. Ví như rau cỏ mà chúng ta ưa trồng vun phân tưới nước rồi cắt ăn, nó cũng bị đau khổ chảy mủ máu, rồi chúng nó mọc chồi đâm tược ra rồi cũng bị cắt nữa. Luật thiên nhiên gọi là xử bá đao.

Đến đây chúng tôi khuyên các bạn tỉnh ngộ cùng cố gắng để làm cho bực Chơn Tiên về thiên đàng. Trong lúc chúng ta còn sống đây thì chúng ta được một phần nào hồn được tỉnh ngộ hơn các ma quỷ, không bao giờ mất bực Thần, Thánh cùng Chơn Tiên.

Đến đây tôi xin tạm ngưng để chỉ rõ chúng ta là người ở thế gian thì đời làm việc cho đời, nào là: Vua, Quan, Dân, thế sự bao la, tại sao tánh ta khác thường hơn người. Người ở thế thì làm việc cho thế, sao lại chúng ta tỉnh ngộ, cải tánh, diệt danh để tu hành theo Tiên Phật? Vì chúng ta thấy trong trần có nhiều việc, mạnh hiếp yếu, tham nhũng, sân si chúng ta chán trần không lẽ liều thác, để sống mà chịu nhục, bực tức ấy phải tầm đạo tu, để cải tánh diệt danh, không nhiễm trần nữa, nhứt nguyện theo Tiên Phật mà thôi, mới tầm đạo đi tu.

Khi chúng tôi được vào đường tu mà không hiểu lý do của sự tu hành cũng bực mình, buộc ng chúng tôi phải làm lời VẤN ĐÁP để chúng ta hiểu ý của nó. Cho nên chúng tôi ngôn luận làm lời VẤN ĐÁP này để cho các bạn thông tri, cho dễ dàng sự công phu luyện đạo.

VẤN ĐÁP

VẤN : Sự hiện tại trong đời, Vua, Quan sang trọng giàu có, thong thả, kẻ yêu người vì, mà bạn bỏ đi tu theo Vô Vi là chuyện không thấy, mờ ám, sự không bạn cho là có; như vậy có phải trái với thế không?

ĐÁP : Sự phú quý vinh hoa trong thế gian này chúng ta hiểu lắm rồi, vì chúng ta bị tham, sân, hỉ, nộ, ái, ố, dục lôi cuốn, cùng bị từ trên hiếp lấn xuống, động chạm phiền phức cùng phú quý vinh hoa, khi thác cũng ra ma. Còn các vật chất ở thế gian, chúng ta còn sống xài đỡ, khi thác không có đem theo được, bạn biết cho đó là giả dối. Còn bạn nói chuyện không mà cho rằng có, thì tôi chỉ cho bạn thấy, bạn nên lấy cái tâm lý mà xét lại: Hễ cái nhà thì có chủ nhà, cái Trời thì có chủ Trời, gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế, đó không mà có.

Còn cái có mà không là bạn còn sống, làm quan giàu có, khi bạn thác là mất, của để lại thế gian cùng chức vị của bạn cũng ra ma, nào có quan dân gì nữa, đó là cõi thế tạm mà thôi.

VẤN : Ông Phật là gì bạn có biết không?

ĐÁP : Ông Phật là người cũng như ta, nhờ sự tu hành thu nhập khí điển nhiều, khí điển có sức mạnh đủ lực lượng, thì bộ đầu Ông ấy có hào quang gọi là Ông Phật. Khi Ông sống nhờ sự tu hành, bỏ xác gọi là thác, nhờ linh hồn là khí điển của Ông được sống trường cửu ở thiên đàng, không xuống thế gian. Trên thiên đàng mọi việc gì cũng dùng điển mà thôi, không vật chất.

Thiên đàng thì có điển, còn thế gian là vật chất cùng xác người. Vật chất xác người hóa ra đất, nếu bạn không tu thì xác bạn thành đất, hồn thì luân hồi thế gian đời đời kiếp kiếp. Còn bạn tu thì xác bạn bỏ lại thế gian trả cho đất, còn hồn thì thẳng lên thiên đàng, còn vía của bạn tu theo hồn là khí thanh. Vía thuộc về khí trược, gom các lực lượng của Phụ tinh Mẫu huyết ở tại trần. Khi Cha Mẹ giao cấu gọi là khí âm khí dương phối hợp, là thai noãn hình vóc của bạn biết cựa quậy, động đậy, tham sân, cũng giống theo tánh ý của Phụ tinh, Mẫu huyết cái chất của Cha Mẹ thế gian làm sao thì sự tội lỗi nặng nề để tạo thành chủ tạm bản thể của bạn, biết ăn, ngủ, ỉa, tham sân, vô trí độ. Đó là một cái cơ quan bản thể, khi bạn tu thì vía phải tu theo, nhưng nặng nề chậm chạp.

Khi bạn thác thì vía cũng là một thứ điển âm. Rồi nhờ sự tu hành hồn của bạn trực tiếp cùng gián tiếp lừa lọc khí trược hườn thanh. Ví như hồn nhẹ mười, thì vía được sự trực tiếp gián tiếp ấy. Trong mười phần nhẹ của hồn thì vía được bảy phần mà thôi. Vía ấy không đi một lượt theo hồn, còn ở trong xác chết của bạn đúng 100 ngày thừa hưởng sự yểu yểu, minh minh, mới được trực thăng thiên đàng do nơi hồn của bạn tu mà bổ túc cho vía.

VẤN : Tu hành là gì?

ĐÁP : Tu là tu trang, lấy khí điển trược biến thanh, lừa lọc nào là khí Ngũ Tạng, phân tách riêng cơ sở. Cơ sở nào theo cơ sở nấy, không làm việc chung, tập cho trí não ta bình tĩnh an khương gọi là Chủ Nhơn Ông, gọi là Hồn. Còn Ngũ Tạng phân tách nghĩa là: TÂM (trái tim), thì ngươn khí của trái tim không lộn lạo chung chạ, rồi nhờ điển của Phật mà ta được thâu thập. Còn lá gan, bao tử cũng phân tách v.v...

Pháp của Phật là Soi Hồn, làm cho trái tim cùng gan, khí điển nhẹ nhàng, rồi khí điển ấy chạy theo gân tại nơi giữa xương sống của bạn, trong Vô Vi gọi là Hiệp Tích. Hiệp Tích là chỗ đùm gan ruột dính nơi xương sống rồi chạy theo dây gân thẳng tới bộ đầu. Trong mấy sợi dây gân ấy, điển trái tim, điển lá gan mạnh bạo, nhờ điển đó soi mạnh thì sợi dây gân ấy được thông, điển làm việc mau chóng

Các cơ sở Ngũ Tạng này, điển thừa tiếp cho thần hồn Chủ Nhơn Ông, làm cho Ngũ Tạng ta an tịnh. Điển chạy theo sợi dây gân thừa hành bộ đầu, không còn trược đục ngăn cản làm việc mau chóng êm ái thì điển ấy giúp cho thần hồn trí óc ta thông minh sáng suốt. Khi chúng ta nhớ tới sự tu hành, thì điển ngũ tạng trực tiếp nhanh chóng tức khắc.

Bởi thế bạn Lưỡng nói cùng tôi, vừa nhắm mắt là phóng tới trung thiên. Sự lẹ làng ấy ví như nhà dây thép đánh điện, dầu đường xa cách mấy, thì điển đem lại cũng gần. Cũng như truyện xưa, Tề Thiên Đại Thánh nhảy trên thiên không mau chóng.

Còn chữ TRAU là mối dây gân chỗ nào bịt nghẹt thì nhờ sự Pháp Luân Thường Chuyển, phép của Phật dạy ta công phu. Pháp Luân có nghĩa là: Thúc đẩy ngũ tạng làm việc mau chóng cùng dẹp cặn bã của sợi dây gân điển chạy thông, không bị ngăn cản.

Chữ DỒI là dồi dào, thông thương rành rẽ cho các mối dây gân của ngũ tạng, làm việc nhanh nhẹn mau chóng, cũng có nghĩa là thông khí.

Chữ SỬA là chúng ta phân tách ngũ tạng, khí điển phần nào có khóm để làm việc của nó không lộn lạo.

Chữ ĐỔI là: Từ Cha Mẹ giao cấu kết thai noãn ta, các bộ máy ngũ tạng theo nẻo dây gân, điển này cần dùng ăn, ngủ, ỉa, hờn giận, sân si cho bản thể mà thôi. Nhưng người tu cải tạo lấy các điển thanh của sự ăn, ngủ, ỉa đem vào chỗ khác, chỗ nào sợi dây gân lên bộ đầu là chỗ trí óc ta để trực tiếp với khí thiên không. Bản thể thì có ngũ tạng là bộ máy của phàm, cũng có điển trược mà thôi. Ta nhờ Pháp Luân Thường Chuyển của Phật lừa lọc khí điển trược để làm việc cho bản thể ăn, ngủ, ỉa. Còn thanh thì lên cơ sở bộ đầu là Ngũ Uẩn.

NGŨ UẨN là: Hai mắt, hai lỗ tai, cùng mũi, miệng. Sở nào theo sở nấy, ví như lá gan thuộc về hai mắt, còn miệng mũi thuộc về khí điển bao tử. Khí thanh thì trực thăng nơi miệng, mũi, còn khí trược thì làm việc cho bộ máy ăn, ngủ, ỉa tiêu hóa vận động.

Nhưng các bạn biết cho, sự sanh sanh hóa hóa khí điển khi chúng ta công phu luyện đạo, được thâu phần điển thanh, còn sự tiêu hóa hàng ngày của bản thể, điển trược ấy không đúng lực lượng, thì nhờ sự hô hấp, thở ra vào thâu điển dưỡng khí của Trời cùng thán khí để bồi bổ cho ngũ tạng bản thể của trần, thì hàng ngày thâu thập như vậy rồi trược hóa thanh gọi là sanh sanh hóa hóa.

Trong thế gian nói: Trời nuôi ta là điển mà chúng ta đang hô hấp đây, hễ điển thiếu thì bổ túc. Người tu công phu có lợi cho phần hồn, điển đầy đủ, có sức mạnh để phóng lên thiên không, đó là Trời giúp điển cho ta, cho xác bản thể của chúng ta làm việc cho khỏe khoắn hàng ngày. Còn linh hồn được sáng suốt là nhờ sự công phu của chúng ta.

Pháp Luân Thường Chuyển lấy thanh bỏ trược lại cho ngũ tạng bản thể, thì thanh khí lên bộ đầu ta, đủ lực lượng thông minh sáng suốt mới biến hóa pháp mầu, thì chúng ta được làm việc Chơn Tiên.

Có câu Phật nói rằng: “Ngã thị chúng sanh, chúng sanh thị ngã”. Nghĩa là: Ta như chúng sanh, chúng sanh cũng như ta, nghĩa xuôi là: Nếu chúng ta tu, cải tánh mê trần thì tánh trở lại như xưa, vì trước kia hồn ta ở tại thiên đàng. Hồn là khí điển thanh, nhưng ta biết rằng: Ta bị lỗi, mới đầu thai xuống trần để đền tội, mới chịu nhiều điều khổ não nhục nhã. Nay chúng ta hồi tâm cải tánh cho hồn ta khi thác được tiêu diêu tự tại. Hiện nay ta nhứt định không đầu thai trở lại thế gian nữa.

VẤN : Xác là gì?

ĐÁP : Xác là xác thịt Cha sanh Mẹ đẻ nuôi đến lớn ở trong trần gian phải nhiễm trần. v.v...

VẤN : Hồn là gì?

ĐÁP : Hồn là một điển quang của Hắc Bì Phật đã lập hiến, nào là điển của mặt trời là khí dương cùng điển của mặt trăng là khí âm, hợp với 28 vì sao cùng ngũ hành, nhưng điển nào làm việc chậm trễ thì sa xuống trần gian hợp cùng thán khí, rồi hợp với khí âm khí dương của bản thể con người, thừa theo giống đực cùng giống cái, chung với ngươn khí hợp thành thai noãn nguyên khối.

Nguyên khối ấy do nơi điển quang của hồn làm chủ trương, còn phụ thuộc điển ấy thuộc về khí âm dương giao cấu của loại đực cùng cái, hóa hóa sanh sanh. Người cùng loài vật cũng đồng bao la trời đất. Hiến Pháp cũng lấy cái luật tuần hoàn hợp nhứt, rồi nhờ khí tụ của ngũ hành để nuôi dưỡng hồn cho được đủ sức khỏe tráng kiện.

Còn vía là tánh chất của loại đực cùng loại cái hợp nhứt trong đó có hai thứ. Loại đực thì nóng giận hung hăng, hùng dũng, còn loại cái thì hiền từ chậm trễ, không nhanh chóng, ác độc. Cũng nhờ khí điển của không khí hợp với thán khí của loài đực cùng loài cái, nhờ dưỡng khí nuôi dưỡng chúng nó. Khí điển chúng nó được làm việc cho xác thân, bản thể vật và người, khi thai noãn hợp thành người ra khỏi mình của loài cái, thì người ấy được nhờ dưỡng khí cùng thán khí. Khí điển ấy làm việc tinh nhuệ, để cho bản thể thừa hưởng sự mạnh bạo, mập mạp, ngoài thì nhờ dưỡng khí để được sống trường cửu. Bản thể càng ngày càng lớn lên, được thông tri, sống thác đau khổ. Mạnh thì vui vẻ cười, động địa, còn đau thì khổ, khóc lóc.

Tóm tắt, trong bản thể người thì có hồn là một thứ điển quang trên Thiêng Liêng, gốc của Lập Hiến, nào là Hiến Pháp là mặt trời, mặt trăng, sao, ngũ hành, chỉ lẽ chánh khí điển hiến pháp cực thanh thì còn ở làm việc. Còn khí điển nào trược, nặng, làm việc chậm trễ, thì điển ấy sa xuống trần gian gọi là Hồn.

Còn vía do nơi tánh của khí dương của loại đực rồi hợp nhứt cấu tạo của loài cái. Loại cái cũng có tánh chất hai thứ khí này, gọi là Vía, chỉ rõ hễ loại đực tánh hung bạo, còn loại cái tánh hiền từ hay là gắt hiểm, hợp nhứt thành ra tánh vía của bản thể hóa sanh nòi giống ấy, làm việc phụ thuộc cho hồn.

Hồn là một đấng thiêng liêng do khí trược của thiên đàng, của Phật Trời gọi là Hồn. Khi hồn sa xuống, nhập vào bản thể của con người cùng vật, nhưng từ thiên đàng cùng trần gian đều có sự hóa hóa sanh sanh hưởng ứng. Nhưng trần gian thì cũng có đủ như trên Trời. Trên Trời thì có mặt trời mặt trăng để làm việc ngày đêm với các vì sao. Còn trần gian thì có đèn pha đèn điện. Kể chung tất cả điển tiên thiên trên thiên đàng cùng điển của trần gian là lửa điển phụ thuộc mà thôi. Trên Trời thì có lửa điển trong tốt do Hắc Bì Phật lập hiến. Còn dưới trần thế thì có điển lửa của khí trược, do trái đất hóa sanh. Trong trái đất có khối đá, trong chất khối đá là một thứ nhớt của cát. Cát, thứ tốt, màng màng của nó sanh ra loài kim khí, khí nhớt đã thành khối gọi bằng đá.

Đá được hưởng khí mặt trời chói rọi, hợp với thán khí là khí đất, thành chất lửa điển. Khi lấy hai cục đá chọi nhau, hóa thành chất điển lửa trược. Bởi thế khi chúng ta phân tách, mới biết lửa nào của thiên đàng, còn điển nào trược đục của đá cát cùng nước nhớt chung đụng thành khối gọi là điển lửa đục của trần gian gọi là Điển âm. Bởi sự hợp tình của Niết Bàn là mặt trời xoay chuyển, hễ chất nào được hợp Ngũ hành là số 5 gọi là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ hợp với 4 cộng là 9, số 4 là: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Khi số 5 của Niết Bàn sa xuống thai noãn số 4 gọi là 9 thì hợp tác thành ra một thứ hồn điển thiêng liêng, gọi là Hồn của bản thể con người, ví như trong Niết Bàn 1 với 8 là 9, 7 với 2 gọi là 9. v. v...

Niết Bàn sanh sanh hóa hóa, lấy số 9 hợp 1 gọi là Hợp tác, số 5 thuộc về Ngũ hành, số 4 thuộc về Tứ phương, khi điển của luật pháp thông tri có nghĩa là: Trời đất cùng người gọi là Ba đấng, và hợp với chơn tánh loại đực loại cái gọi là Bốn đấng, có khi người ta nói: Vía Trời Vía Đất, hay là Thiên Địa hiệp nhứt. Trong khi điển hồn trí hiệp nhứt khua động, gọi là trí thức văn, còn về tánh ý, phiền não sân si hợp nhứt gọi là tánh vía của Cha Mẹ, cấu tạo ra bản thể con người ở trần gian.

Tóm tắt chỉ rõ về hồn vía của hiến pháp, từ khi Phật là Hắc Bì Phật Tổ độc lập rồi, hóa ra nào là mặt trời, mặt trăng, sao. Rồi bầu cử khí thanh hợp với khí trược của thiên không hóa sanh bậc thứ nhì là Ngọc Hoàng Thượng Đế, gọi là Cõi trần gian. Thứ ba là các vì sao, phương hướng mới hợp chung cả lập làm hiến pháp. Ai là chủ trương thế gian gọi là Phật Tổ Hắc Bì Phật, còn Trời là Ngọc Hoàng Thượng Đế để chứng minh cho các đấng làm việc. Còn 28 vì sao làm việc phụ thuộc, chuyển ngươn khí để nhuế khí ra hợp với thán khí thành dưỡng khí, hễ thông thì đủ sức khỏe con người, còn bịt nghẹt thì mệt nhọc.

Đến đây chỉ rõ cốt giác của hồn và vía do nơi nguyên nhân của Trời Phật và người sanh ra.

VẤN : Công phu điển giao hợp như thế nào?

ĐÁP : Công phu điển giao hợp có nghĩa là: Chúng ta là một người bị tội xuống trần gian, thừa hợp với thai noãn của Cha Mẹ hóa sanh ta. Về phần vía thì tánh vía của Cha Mẹ truyền bá hợp nhứt cho bản thể. Còn hồn ta thì ở thiên đàng bị tội xuống trần gian. Bởi Niết Bàn tùy theo số 9, theo khoản nói trước, nhập vào thai noãn, không có bao giờ sai sót chút nào, để cho Khoa học Huyền bí của luật pháp Tiên Phật tu hành.

Khi điển quang của ta trong Niết Bàn sa xuống. Ví dụ: Điển của ta số 6 tội lệ như thế nào, thì trong thai noãn số 3 gọi là 9 phạt về tội vạ. Sách tử vi của thế gian cho là căn mạng hay là tánh mạng hợp với hào quang lọc hay là nô lệ thật sự. Tội bao nhiêu phải đền phải trả, sang giàu cũng là nô lệ, còn bần tiện cũng nô lệ.

Tất cả những người thế gian bị sự tội lỗi sa thải của thiên đàng đày xuống làm cho linh hồn ta chung với xác thịt, phải cực khổ để đền tội vạ ấy.

Tóm tắt thế gian là chỗ tù tội, không khác nào đảo Côn Nôn, đền tội đến khi mãn hạn, mới được trở về.

Ví như chúng ta thức tánh, ngồi công phu luyện đạo theo Vô Vi Pháp lý, thì chúng ta thấy một luồng điển sáng trên thiên không sa xuống, rõ ràng rực rỡ ánh sáng như màu nắng dọi vào. Khi chúng ta ngồi thấy trên bộ đầu có một hột Mâu Ni Châu bay vơ vẩn trước mặt ta, rồi bay ngay lên hợp với điển của thiên không trực tiếp cùng gián tiếp, điển hồn của ta với điển trên thiên đàng, tục gọi là Hào quang. Khi ấy hai điển hợp nhứt, đằng sau bộ đầu ta chiếu tới một màu ánh nắng như mặt trời dọi, tục gọi là hào quang của Phật, để tiếp cho linh hồn chúng ta. Rồi chúng ta công phu như vậy thường đêm bền bỉ thì hào quang ấy hợp tác chiếu diệu lên thanh thiên, gọi là Da trời xanh. Rồi tu bền bỉ hơn nữa, trực tiếp điển dọi lên tới thiên đàng, có khi cũng thấy Bồng Lai tạm.

Bồng Lai tạm là: Giữa từng thanh thiên có nước nhược non bồng gọi là Sông, núi, nước. Khi chúng ta thấy được đôi ba lần, bạn tu tưởng là Bồng Lai thiệt, té ra Bồng Lai tạm. Phật cho chúng ta biết là một cái đề đầu, rồi cũng công phu như vậy, ngạc nhiên chúng ta không thấy Bồng Lai tạm nữa, chỉ nghĩa là: Phật cho biết chúng ta hãy cố gắng công phu bền bỉ, một ngày gần đây sẽ cho thấy Bồng Lai thiệt, là chỗ Thần Tiên ở.

Sự điển giao hợp cùng linh hồn của trần gian được thấy giả hay là thiệt, thì khí điển của trên dưới của ta công phu cùng điển thiên đàng là thấy Bồng Lai giả tạm gọi là Điển giao hợp, thì lúc ấy ta thấy trong mình khỏe khoắn nhẹ nhàng và trong ý chí chúng ta thông hiểu huyền diệu của Phật, rồi biết sự không không có có, không mà có gọi là Huyền diệu. Khi chúng ta công phu mà thấy được như vậy, thì trong ý chí của chúng ta càng sốt sắng cố gắng công phu để thấy hiểu biết, rồi sự sốt sắng của ý chí ta thúc đẩy sự tu hành không chán nản.

VẤN : Điển quang là một thứ điển lửa không hình dạng như lửa thông thường dưới trần gian, làm sao biến hóa có hình dạng của bản thể linh hồn là đầu, mình, tay, chơn cùng ngũ tạng? Sự tu hành biến hóa ra thế nào, xin cho biết?

ĐÁP : Đây nói về sự biến hóa huyền diệu của Phật đưa ra, ví như các bạn siêng năng công phu, trong bộ đầu, lỗ tai, mắt, mũi, miệng thì đều có điển, thì phần nào theo phần nấy. Điển mắt, miệng, mũi, lỗ tai, cùng chơn tóc, kẽ răng, cùng điển bộ đầu hợp tác mới biến ra hình dạng y như xác thân của Cha Mẹ ta sanh.

Ví như sự biến hóa về vật chất, có mà không, không mà có thuộc về Vô Vi, đây tôi xin chỉ rõ các bạn tường lãm. Ví dụ như cái máy chụp hình của thế gian, thế gian thường ăn cắp điển của Trời Phật làm ra gọi là cái máy chụp hình,

[kết thúc ID# 19860100L12]


----
vovilibrary.net >>refresh...