[bắt đầu ID# 19860100L11]

KHÓA HỌC "KINH A DI ĐÀ": Thầy Đọc và Giảng Kinh (ấn bản 1986 trang 169 - 191) - Cuốn 10 -

.....

Ví như sự biến hóa vật chất, có mà không, không mà có, thuộc về Vô Vi, đây tôi xin chỉ rõ các bạn tường lãm: ví dụ như cái máy chụp hình của thế gian, thế gian thường ăn cắp điển của Trời Phật làm ra gọi là cái máy chụp hình, trong tối rồi có đèn rọi sáng, thấy mặt mày ta, cũng như khí điển mặt trời có ánh sáng chiếu dọi sự đen tối, tóc, tai, miệng, mũi, chiếu chất điển đen ấy hóa thành hình dạng, còn chỗ nào trắng thì da thịt trơn, không hình dạng.

Thì sự tu hành công phu luyện đạo, hồn của chúng ta là điển, nhưng lúc đó thâu góp miệng, mũi, bởi thế cái điển bóng đen tối, trong sách Thánh có nói: “Hắc Bạch phân minh”, rồi điển quang chiếu diệu rọi dạng, chỗ có thì có, chỗ không thì không, ví như bộ đầu có tóc, tai, mắt; thì điển đen ấy chiếu rõ, đó là sự tiến hóa.

VẤN : Mình, tay, chơn, điển biến hóa như thế nào?

ĐÁP : Chúng ta nhờ sự công phu Soi Hồn, có nghĩa là: Làm cho hồn chúng ta được phóng ra khỏi bộ đầu, là nhờ phép của Phật gọi là Pháp Luân Thường Chuyển làm cho điển chạy theo mấy sợi dây gân từ dưới chân, cùng vận động hai cánh tay cùng ngũ tạng ta đều run rẩy, bởi hơi thở khí điển trong mình ta chạy thông các gân mạch, thuyên chuyển thúc đẩy cho điển châu thân ta xúc tiến, chạy thẳng lên trên bộ đầu vào Cửu Khiếu, ngay giữa xoáy óc ta, làm đầu mối 9 sợi dây gân chung đụng mà luồng điển chạy đến, không ngả đi, nhờ sự thuyên chuyển thúc đẩy điển lửa hồn ta tung phát khởi ra, thì trong 9 sợi dây gân của bộ đầu ta phóng ra một luồng điển lửa của bộ đầu gọi là Hồn trí não ta.

Còn vía thuộc về chơn tay, ngũ tạng là khí thuần lãnh. Khí điển thuần lãnh thuộc về khí âm để phụ thuộc cho phần xác vía ta, do nơi trái cật bên phải làm Chủ Nhơn Bà, cũng có khí điển tay chơn ngũ tạng phụ thuộc cho vía để sai khiến làm việc cho trần.

Tánh của vía ưa thắc mắc, hờn giận, sân si, mới sanh khí thuần âm, không khác nào một thứ than lửa vùi tro nóng tuy là ít, mà lâu chừng nào thì nóng sẽ nhiều hơn lửa ngọn, càng ngày càng gia tăng để thúc đẩy động địa, nô đùa, mạnh bạo, sanh ác nghiệt. Điển ấy thúc đẩy cho vía là Chủ Nhơn Bà, càng giận dỗi, sân si hơn, để xúi cho khí dương làm theo, vận động thúc đẩy, hung hăng, hỉ nộ, ố ái, sân si, hợp nhau làm sự hung ác. Có nghĩa là Vợ hung ác xúi Chồng nô đùa, làm ác cảm cho bản thể; trong thế gian gọi là Người trần.

Có câu: “Cư trần nhiễm trần”, thì sự hung dữ thất tình lục dục càng ngày bị mê trần, làm cho người phải hung ác hơn. Bởi thế khi chúng ta thức tỉnh, biết rõ rằng sự nhiễm trần. Mình có tánh hung hăng, rồi bị sự hung hăng hùng dũng hơn của người khác, càng ngày càng hung bạo, rồi bị mạnh hiếp yếu, cùng hiến pháp của nước nhân viên đè bẹp không công bình, vì ý kiến người mà xét xử cho người. Sự oan ưng nó kéo cho kẻ tham quan ô lại, vì tham tiền bạc, chuyện phải cho là quấy, lấy lời khôn pháp luật sửa mũi mấn, tục gọi là: “Lấy vải thưa che mắt Thánh.”

Bởi thế chúng ta nhờ sự hiếp đáp bỉ ổi ấy mà thức tánh, cho nên chúng ta được rõ về trần thế. Bởi thế chúng ta vào Pháp lý làm theo phép của Phật về Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển cho điển chạy lên bộ đầu là chỗ ở làm việc của hồn, gọi là Chủ Nhơn Ông.

Chúng ta công phu luyện đạo làm cho ngũ tạng của ta, điển chạy thấu đáo lên đầu, thừa tiếp thúc đẩy cho tay chân ta khỏi thành phần, điển ấy xung lên bộ đầu, thì trái cật âm của ta phía bên mặt, điển xung lên gọi là âm dương hợp nhứt, thừa tiếp cho ngũ tạng là loại Lục Căn, Lục Trần. Lục Căn, có nghĩa là trong ngũ tạng có 5 phần âm cùng 5 phần dương điển khí. Trong đấy có một cái thanh điển của thần hồn làm chủ Lục Căn, gọi là 5 với 1 gọi là Lục Căn. Còn Lục Trần là 5 thứ điển của ngũ tạng hợp với 1 khí điển âm của vía hay là khí điển của Chủ Nhơn Bà để làm đầu ngũ tạng âm, nghĩa là 5 với 1 là Lục Trần.

Lục Căn, Lục Trần đặng làm chủ cho điển bộ hạ là tay chân, thừa lệnh Chủ Nhơn Bà là trái cật âm, điển khí nguội, cho Chủ Nhơn Bà phán đoán công ăn việc làm cho Lục Căn, Lục Trần, gọi là Ngũ tạng. Còn điển quân lính, cũng có thể gọi là Điển tay chân hợp thành để xúc tiến cho hồn và vía làm việc, thừa tiếp bên trong cùng làm việc bên ngoài, mỗi mỗi đầy đủ.

Khi chúng ta luyện đạo, thì Chủ Nhơn Ông và Chủ Nhơn Bà là hồn và vía, không khác nào một vì Vua cùng bà Hoàng Hậu, quan là ngũ tạng, quân là tay chân, còn da lông là lính hay là dân của trong bản thể ta.

Có câu nói: Nước giàu dân mạnh, Vua Quan thong thả, còn nước nghèo thì Vua Quan dân sự đều khổ sở.

Bởi thế hồn vía của chúng ta làm chủ của bản thể gọi là nước của ta, thì nhờ sự cố gắng công phu của ta.

Công phu là một trường thi để phóng đẩy điển quang trong mình ta cùng hồn vía được gom lên thiên đàng, thì cũng như ở thế gian gọi là trường thi.

Bởi thế chúng ta phải cần công phu luyện đạo, nhờ sự công phu bền bỉ, kỹ lưỡng cho các thứ điển bản thể ta cùng hồn vía bay nhảy gọi là Xuất Hồn. Từ da xanh của Trời sắp lên thiên đàng là 32 từng với một từng thế gian âm phủ chung nhau kể một, cộng là 33 từng. Hễ tu công phu luyện đạo, theo đạo theo pháp lý, hễ công phu cho dày thì quả mới cao. Chữ QUẢ là trái hay là thành phần. Khi người công phu luyện đạo. Công quả bao nhiêu được thành phần hồn vía điển quang ta nhẹ nhiều bay cao.

Còn tu luyện đạo thấp, non thì điển lên cấp thấp (không phải về sự thấp cao giàu nghèo như thế gian) do nơi sự công phu luyện đạo cực thanh cực tịnh bền bỉ, trí ý nghiên cứu, làm cho điển tung lên cao, cho điển hồn chúng ta cao thấp tùy theo công đức mỗi người: tối sáng thông hiểu, tội lỗi về tiền căn hậu quả nặng hay là biếng nhác công phu, ít Pháp Luân Thường Chuyển.

Có nghĩa là: Điển lọc sơ, không được thanh khiết thì điển hồn vía bay thấp, do nơi Hiến Pháp của mặt trời đã nhứt định, hễ khí nhẹ thì bay cao, khí nặng thì bay thấp. Sự mau hay là chậm, cao thấp do nơi công phu cùng căn quả thành phần của người. Còn tu là cội phúc do hồn chủ trương; còn đức do nơi bác ái, gọi là thương yêu, nhân từ, hay là từ tâm, do nơi vía thành phần làm ra. Nhưng người tu chúng ta cũng được rõ biết hai chữ PHƯỚC ĐỨC là HỒN VÍA thành phần.

Tu là cội phúc thuộc về hồn điển cao thấp, khí điển chánh, cực thanh cực tịnh gọi là Cội phúc. Còn phúc của vía, hồn được chia sớt cho vía về cội phúc, phải giáo huấn cho vía tu hành. Còn vía giáo huấn cho ngũ tạng, ngoài da trong xương cùng các nẻo chân lông là quân lính, dân sự trong nước ta.

Điển ngoài thuộc về ngũ tạng cùng ngũ hành biến hóa ngũ sắc, gọi là Quân y, cùng hóa hóa sanh sanh vạn vật. Ví như khi xuất hồn, muốn có ngũ sắc, quần áo thế nào, thì nhờ vía cai quản biến ra. Còn Ngũ tạng Lục Căn, Lục Trần biến hóa pháp mầu như: rồng, rắn, lân, phụng để cỡi thì do nơi Ngũ tạng Lục phủ, gọi là Lục Căn, Lục Trần, để tiếp xúc cho vía làm chủ trương thay đổi. Vía biến ra hay là phán ra; còn Lục Căn, Lục Trần cũng được chắc chắn, làm chủ xua đẩy điển cho hóa ra, gốc của nó là chất Ngũ Hành thành phần.

VẤN : Pháp Môn luyện đạo, chữ “Tịnh” hay là “Định Thần” ra thế nào?

ĐÁP : Chữ TỊNH là tinh khí dương, chữ ĐỊNH là ý định phẳng lặng cho phần hồn khi ta ngồi luyện đạo, ngay xương sống thẳng rẳng từ dưới lên tới bộ đầu, hai cánh tay khép khít nách, ngồi như thường (bỏ Kiết Già) để cho thong thả, điển chạy từ dưới xung lên bộ đầu; ngồi như vậy làm cho điển trở nên mạnh không bị cản trở.

Có câu: “Biển cho lặng Minh Châu mới hiện, lòng cho riêng mới gọi là Thần”: Lúc ấy thân ta đã an tịnh rồi thì điển chạy lên bộ đầu tung ra, tục gọi là “thâu hay là phóng”; điển ấy hợp với thần hồn, thứ nhứt là hà sa. Hà Sa là khí lộn lạo trời đất mới mở thì có một nhóm tí ti nho nhỏ bay qua trước mặt ta; ý ta xem thấy mù mờ, đóm lửa nhỏ tí ti bay qua lại trước mặt ta là sự hợp nhứt cấu tạo của bản thể cùng điển Tiên Thiên nháng ra, cũng như đôi vợ chồng xác thịt của cha mẹ giao cấu, có hồn cùng vía bản thể ta. Cha mẹ gần nhau hợp nhứt, gọi là hợp tình hợp lý, đem hết sự hợp tình hợp lý ấy gom cho thai noãn. Sách Vô Vi có nói: “Nhứt Điển Hà Sa Nhứt Quang Minh,” nghĩa là: một đóm lửa bằng hột cát, sáng chói muôn dặm. Khi luyện đạo trong sáu tháng thì có Hà Sa; công phu lâu 18 tháng, chừng ấy mới hợp tình hợp lý quy nhứt, rồi khí điển Hà Sa mới gom lại hóa ra hạt Mâu Ni Châu. Trong Vô Vi có nói: “Khí điển kiết tụ thành thai,” nhưng mà Vô Vi để cục thai dưới bụng kế rún là đúng 16 điểm, mỗi điểm là 2 năm, cộng 32 năm hay là 32 tuổi; nhưng chúng ta nghĩ lại: trong trần đời của ta có 100 tuổi, khi chúng ta có đôi bạn ra đời lập nên gia đạo, ít nhứt là 38 tuổi hay là 40 tuổi, có khi người bê trễ việc đời ràng buộc, là 42 tuổi vừa xong thế sự! Lập căn cơ cho đời của ta hết 42 năm rồi, cộng với Pháp Vô Vi luyện đạo của nhà Phật truyền bá cho người luyện đạo vừa được thức tánh tu hành. Đời hết 42 năm, còn đạo Pháp Vô Vi hết 32 năm nữa cộng chung là 74 năm!

Có nhiều người tâm trần, trong 74 năm hay 76 năm bị trần lôi cuốn nạn tai, lao lực kềm hãm cho đời; mà trong đời người sống lâu chừng 100 năm mà thôi, nhưng chúng ta xét lại sự giao cấu đào tạo lao lực hết 35 năm mới được ra đời, cộng chung lại đời và đạo là 75 năm rồi! Có câu: “Thế thượng nan phùng bá tuế nhơn,” nghĩa là: Đời người chưa được 100 tuổi là thác! Bởi thế chúng ta nghĩ lại: khi chúng ta công phu luyện đạo đối với số 100 năm nào có đủ; làm sao mà nên vị Tiên Phật cho được để đi đến Thiên Đàng thì là chết mất xác rã, nào được thọ hưởng phần nào? Thôi; thế sự giai hưu hỉ, nào được chức Tiên, Phật chi đâu!

Nay đã đến đời Hạ Ngươn đây là năm 1966, thì sẽ sắp có 2001 năm khởi đầu Thượng Ngươn, thì trong trần xáo trộn loạn ly cũng có khi trong đạo nói “Đời Hạ Ngươn là đời mạt kiếp chết chóc đã nhiều, bão tố phong ba nguy hiểm giặc giã lừng lẫy, sự lộn xộn cho đến nỗi con lạc cha, chồng lạc vợ, thêm sự xáo trộn vô nhân đạo, con không thừa lệnh cha, không nhớ nghĩa mẹ cúc dục ơn sâu, chồng quên vợ nào kể chi đâu, rồi giết lẫn nhau!

Hôm nay chúng tôi lượm được Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật ra đời để gieo phần đạo của Phật Tiên, để cho người thức tỉnh trong dương thế, tu hành vắn tắt hơn: Trong 10 năm được xuất hồn đi đến cảnh Tiên nhà Phật rất nhanh chóng. Đương nhiên chúng ta tu, công phu luyện đạo bền bỉ, trong 10 năm có lẽ được đến thiên đàng đảnh lễ Phật.

Các bạn ơi! Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật muốn cho người sớm thức tỉnh cho kịp đời Hạ Ngươn đây, trong lý tưởng của tôi thì đã gần hết đời Hạ Ngươn. Kể từ khai thiên lập địa đến nay đã 2.000 năm rồi, mà Phật Thích Ca Di Đà khởi hấn đến đời này là năm 1966, cũng gần 2.000 năm. Trên Thiên Đàng chư Phật thấy, nào là người thức tỉnh tu hành, nào là người trần thế lao lực, làm ăn xáo trộn, mất cả nghĩa lý sâu xa, loạn ly không nhân đạo; Phật Tiên mới đưa ra một Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí để cho người luyện đạo vắn tắt hơn.

Tôi viết ra quyển VẤN ĐÁP này để cho các bạn hiểu Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của nhà Phật đưa ra mà tôi lượm được. Khi tôi lượm được Pháp này, trong 10 năm tôi công phu được xuất Hồn, thì sự vắn tắt này cho người thức tánh luyện đạo mau chóng hơn xưa, vì trong lúc Hạ ngươn gần tới Thượng ngươn, Phật gieo nguồn đạo xuống thế gian cho chúng ta tu hành luyện đạo cùng gieo giống kế tiếp căn bản, ví như nghĩa đạo gọi là “Ương giâm nòi giống,” thì trước hết chúng ta muốn trồng cây, phải gieo giống để cho cây phát triển để lập đời Thượng Ngươn cho kịp kỳ đạo hạnh ra đời.

Theo sự chúng tôi hiểu biết, việc đạo là khởi lập một cái Vườn Địa Đàng: xưa kia khởi đầu người cùng hồn vía phần nhiều hiền từ an lành, tu mau chóng, có câu: “Nhơn chi sơ, Tánh bổn thiện”; người mới sanh ra trong đời Thượng Ngươn cùng Trung Ngươn thì gốc căn bản của nhà Phật gieo xuống được hiền lành, ít hung ác. Rồi lần lần càng ngày càng đông thì càng hung ác, xáo trộn, khôn lanh quỷ quyệt hơn.

Cho nên, hôm nay chúng tôi được thấy Pháp lý Vô Vi Khoa Học Huyền bí của Phật, sự tu hành dễ dàng mau chóng hơn trước; vả lại khỏi chùa, miếu, cùng tụng kinh kệ, khỏi tốn tiền mua nhang đèn, khỏi chay giới; nghèo, giàu tu cũng được, ít tốn công hơn cho những người sốt sắng, vì gia đình mà phải bị lao lực, khổ sở, nghèo nàn, cho khỏi tốn kém tiền bạc. Về sự tu hành vắn tắt hơn để cho có ngày giờ phương tiện, khỏi thắc mắc than siết; nhân chút giờ rảnh trong khi ban đêm công phu luyện đạo, chừng 2 tiếng đồng hồ rồi thì nghỉ. Tùy theo những bực nghèo giàu đói khó, gia đình bận rộn, cũng có ích cho nhân loại. Người tu gọi là “Bần đạo,” không đủ tiếp xúc cho gia đình để tu tâm dưỡng tánh cùng luyện đạo ngày giờ vắn tắt hơn, “đời đạo song tu” cho phương tiện, nhưng sự dễ dàng đây mà người trong thế gian, đời thì nhiều, thức tánh là đạo có ít trong muôn một.

VẤN : Còn bản thể ta có bổ ích chút nào không?

ĐÁP : Khi chúng ta công phu luyện đạo, đó là lo cho phần hồn được trẩy sang thiên đàng trước nhứt. Hơn hết cũng có thể cứu khỏi bệnh mỏi mệt, thương hàn, sốt rét trong cơ thể. Rồi kế chúng ta Định Thần, công phu dỗ ngủ cho mê mẫn. “Mê mẫn” là phá mê đem lại cái tỉnh. Phá mê là lo cho cái vía không mê trần, mẫn là mẫn cán, nghĩa là quá siêng năng để thúc đẩy cho vía đi theo cùng ta là Thần Hồn.

Sự thúc đẩy của ta làm cho điển âm điển dương hiệp nhứt, không kể sự nghiệp nhà cửa. Sự nghiệp nhà cửa là bản thể, không kể đến, có nghĩa là: Ly gia cắt ái, thì lúc ấy ta quên thân thể ta, mới được hồn và vía trẩy sang thiên đàng.

Hồn điển lửa đỏ, còn vía là màu xanh; sắc đỏ thuộc về điển dương của hồn gọi là Chồng; sắc xanh điển âm là vía gọi là Vợ; còn nhà là bản thể, sự nghiệp, sắc vàng là âm của đất. Trong công phu luyện đạo lâu ngày thì Mâu Ni Châu sắc đỏ vàng, đỏ vàng hợp nhứt thành đỏ; còn xanh trắng hợp nhứt thành xanh, thuộc loại khí điển bản thể bên ngoài. Khi hồn vía gom lại phóng ra cũng gọi là “Ly gia,” bỏ hình thể ta cũng gọi là “Cắt ái,” không nhớ điều chi, thế gian kêu là chết mất. Ngủ mê là phá mê, bay cao là thức tỉnh điển, ta trong nom dòm thấy Mâu Ni Châu gọi là Minh, tỉnh.

Tại sao ta khờ khạo, ngu xuẩn học cái chết để làm gì? Chúng ta chết là chết giả, theo lúc công phu để thúc đẩy cho hồn trẩy sang thiên đàng. Trong lúc công phu, khi chúng ta thức tỉnh lại thì hồn vía nhận bản thể, chúng ta được hưởng dưỡng khí mười lăm phút, là khí trung thiên, gọi là “thuốc Trường sanh,” thì điển ta đem thuốc ấy vào bản thể gọi là Dược Vương Trường Sanh Lưu Li Quang Phật, thuốc này để độ dưỡng cho hồn và vía với tinh thần trong bản thể ta được khỏe khoắn, sức khỏe dồi dào để chống thương hàn ngoại xâm, cùng bệnh sốt rét. Đó là bệnh vi trùng thương hàn khí độc của nắng, gió, mưa, thuộc loại thán khí. Khi ta yếu sức mới sanh thương hàn, sốt rét. Nhưng ta nhờ công phu luyện đạo, được thừa hưởng dưỡng khí tiên thiên, gọi là “Trường Sanh Bất Lão,” Dược Vương Lưu Li Quang Phật. Thuốc này để chống giặc ngoại xâm, gọi là thương hàn, sốt rét, nhức mỏi, thuốc được trừ cho bản thể ta khỏi bị đau ốm.

Thuốc dưỡng khí là Lưu Li Quang Phật, nhờ sự công phu thừa hưởng dưỡng khí đem vào cho bản thể, thì chúng ta ít bệnh hoạn, đau ốm, mới được sống lâu an dưỡng cho bản thể ta, cùng tinh thần ta được tráng kiện, hùng dũng thông minh hơn trước, không ràng buộc lo lắng sự đời, mới gọi là “đời đạo song tu.” Tu thì không bệnh hoạn đau ốm, mới sống lâu mạnh mẽ cho bản thể.

Chúng tôi nói ra đây là sự chắc chắn bảo đảm cho các bạn để hiểu. Tu hữu ích có lợi danh thông minh hơn, không bị chúng trong trần lừa bịp với mình gọi là “Thức tánh minh tâm.” Chớ tu mà yếu ốm, huỳnh bì nhục thác, nghĩa là da vàng thêm, bệnh sanh ra ốm yếu. Nếu tu mà có bệnh và ốm yếu khờ khạo, bị người trần gian lừa bịp, không bổ ích cho chúng ta, nào ta có tu theo Pháp lý làm gì?

Các bạn hiểu biết cho: Tu có bổ ích là: Sống lâu không đau ốm cho bản thể, thông minh, sức khỏe hơn người, mới bổ ích lợi danh cho đời.

VẤN : Như Ý là thế nào?

ĐÁP : Chữ “Như” trước kia hồn ta ở Thiên Đàng gọi là “Như Lai,” có nghĩa là: Mới đến vào bản thể ở trong miếng đất dương thế là mảnh đất phù sanh. Nhờ khí bẩm sở cầu vật lực, sở tế của Cha Mẹ cấu tạo, nắn nên hình ta biết ăn, ngủ, ỉa, hờn, giận, sân si, hung bạo, hợp tình hợp ý của trần, sanh bản thể ta ra; sanh cho trần thời làm việc cho trần, mới sanh hung hăng bạo tợn.

Còn Hồn ta Thiên Đàng xuống nhập vào bản thể, gọi là Chủ Nhơn Ông, nào có hung hăng bạo tợn bao giờ! Trước kia ở Thiên Đàng tánh ta là hiền triết, là Chủ Nhơn Ông không tánh trần; sa xuống trần gian nhập vào bản thể bị tánh vía lôi cuốn, rủ ren, u ám mê muội, đã bị lỗi còn lỗi them vì sự nghe lời của Vía thúc đẩy.

Ta là Hồn, gọi là “thắng ý,” còn Vía ở gần khắn khít bên ta, làm cho ta mê mẩn cuộc trần, càng ngày tội lỗi dồi dào hơn. Vía rủ ren làm theo ý của nó, gọi là “ý tứ hung hăng” không đem lại cái Chơn Như càng ngày càng mất. Chơn Như có nghĩa là hiền từ như trước, cũng gọi là “Như ý”; nay là hồi tâm thức tỉnh, mới tầm đạo tu hành, là muốn bỏ cảnh lôi cuốn, khờ khạo, u tối, tù đày, ỷ thế hiếp cô, hèn hạ, ô nhục mới thua trần về sự hung hiếp.

“Nay ta hồi tâm thức tánh, luyện đạo công phu theo Pháp lý Vô Vi Huyền bí của Phật. Tu luyện đạo càng ngày càng rõ hơn: tu luyện đạo được bỏ tánh trần, đem lại hồn vía ta trở nên minh mẫn, mới gọi là ‘Như Ý’ của hồn ta khi trước. Hiện nay ta muốn bỏ trần gian lên Thiên Đàng trở về cảnh cũ quê xưa, cải tánh diệt danh! Cải tánh là dạy tánh vía là vợ tu hành theo ta, là Chơn Như bỏ dữ theo lành, thì để dẫn dắt vía và hồn ta, gọi là cải tánh diệt danh lên Thiên Đàng theo chốn cũ quê xưa của ta, là chồng của vía được trực chỉ Thiên Đàng, gọi là ‘Khí âm, khí dương hiệp nhứt.’ Đây là ta quyết công phu luyện đạo tu hành, không muốn ở trần gian mà bị lừa bịp.”

Chúng ta đồng nguyện xuất hồn về Thiên Đàng cảnh Phật, không bị trần gian lôi cuốn, nên ta viết ra quyển VẤN ĐÁP này để cho các bạn xem qua đủ rõ, hợp tình hợp lý, để rõ căn bản các bạn dễ công phu luyện đạo hơn.

Còn các bạn hỏi về kinh sách theo xưa về Cổ Sơn Môn, thì chúng tôi thiểu trí, vì sự chuyên môn khoa ấy chúng tôi ít lắm, ví như chuông mõ bồ đề của nhà Phật người tu khi trước bày ra, hay hồn cùng vía ngày xưa, chúng tôi không thấu đáo. Hiện nay chúng tôi trình bày sự thấp thỏi hồn vía cùng tu hành luyện đạo; có sao nói nấy. Xin các bạn thứ lỗi cho.

BỔ DI PHẬT HỌC VẤN ĐÁP

VẤN : Tại sao kêu là “Điển?”

ĐÁP : Trước kia ta ở trong thai noãn, trong thai noãn gốc nó nhờ khí dương loại đực của Cha ta, loại cái là Mẹ ta. Khi giao cấu thì có chất lỏng nhớt, khí của loại đực là Cha ta. Chất ấy nóng, có tánh hùng cường, hung tợn hùng dũng. Còn mẹ ta thì chất lỏng nguội, chất ấy gọi là “khí mát.” Khi Cha Mẹ cấu tạo hợp nhứt gom lại cả hai, tất cả nào là lý trí, tư tưởng hợp nhứt, hợp tánh, hợp tình, hợp lý trí, hợp ý tánh, có thể cấu tạo cả hai khí lỏng chung hợp hùng dũng. Sức lực đem lại chất cốt giác, nào là da thịt, xương máu, cả hai chung lại, khí chủng hai bên hóa thành hợp nhứt, đặc trở lại nên một cục máu, hóa sanh thai noãn; thì hàng ngày Mẹ ta nuôi trong lòng Mẹ ta. Ngoài thì nhờ hơi thở ấy dưỡng khí của Trời đất mới hóa máu thịt nên hình tượng gọi là “Bào thai.”

Bào thai ấy nhờ tất cả tinh thần hai bên của Cha Mẹ thắm cho cục máu, mới có mắt mũi và tay chân, biến hóa vô cùng vô tận. Sự hợp nhứt của Cha Mẹ, khí hóa hai bên, sang sớt đầy đủ, rồi hóa ra ruột, gan, phèo, phổi, ngũ tạng. Khi cấu tạo gọi là Nguyên thủy (khởi đầu) thì thấy sóng gió là hơi thở hùng dũng. Tất cả gom góp sức lực của Cha Mẹ, gọi là bão tố nguy hiểm, lấy tất cả nguyên chất khí nước hai bên chất ấy gom lại. Khí thành máu mới nên hình. Cốt giác của khí thành máu có ba thứ. Máu trong thịt kế xương gọi là máu đỏ, cùng bầm, để điều động thừa tiếp ngũ tạng và bên ngoài. Còn máu nhớt màu trắng trong, để thừa tiếp cho da cùng các lỗ chân lông chống cự vi trùng ngoại xâm cùng ghẻ chốc, đứt xẻ, nhờ máu ấy mau lành. Còn ngũ tạng ruột, gan, da, lông, tóc cũng nhờ tất cả nguyên chất của Cha Mẹ. Hơn nữa cũng nhờ Cha Mẹ và khí âm, khí dương, lúc ấy hai bên đồng mệt nhọc. Thở là gió hợp với dưỡng khí. Trời đất ở tại dương thế, hợp cùng thán khí của trời đất. Khi thai noãn ấy lần lần hóa sanh ra hình dạng, ví như một chiếc tàu có đủ máy móc.

Rồi thai ấy ở trong bụng Mẹ, có đủ ruột gan và tay chân, thành ra một thứ máy móc của chiếc tàu, biết bạo động và tùng theo hơi thở vô ra của Mẹ, thì trong thai noãn có huyết mẫu, khí của Cha mẹ chia sớt đó hợp với khí hạo nhiên cùng thán khí của dương thế trong trời đất để nuôi người, cây cối và loài vật. Các loại cùng chúng ta đều có tánh chất, gọi là “Khí hạo nhiên” của trời và đất.

Khi Mẹ hoài thai 9 tháng thì thai noãn đủ nguyên hình, biết ăn, ngủ, ỉa, khi lọt lòng thì bản thể ta có nhiều nhớt bao xung quanh để nuôi dưỡng cho đủ sức thong thả cựa quậy; nhớt ấy làm da lông thông đồng hình thể, rồi loại cái là Mẹ ta thở vô thở ra tập cho thai ấy làm theo khi ta ỉa đái cùng ngủ nghê, cùng làm việc nương chiều theo loại cái là Mẹ.

Trên đầu có chất nhớt trắng bao phủ, nhớt ấy là khí điển của Cha trước kia dư lại tồn tại chất ấy để bổ túc cho đến khi sanh ta ra. Trái lại, trong lúc người Mẹ thai noãn, thai được 6 tháng, thì thai ấy nhờ một chất điển thiên đàng sa xuống nhập vào hơi thở của Mẹ, rồi hợp tác làm chủ thai noãn, biết ăn, ngủ, ỉa, động địa tay chân. từ ấy điển 9 tháng 10 ngày, thai ấy biết cựa quậy, khóc la đau ốm, nhức mỏi đủ điều. Bởi thế khi ta khỏi lòng Mẹ, nào là hô hấp khóc la cựa quậy càng ngày càng biết đủ điều như Cha Mẹ, mới thành con người ta.

Con người ta nhờ trí thức ở trên trời sa xuống gọi là Hồn, còn tánh tình la khóc, cựa quậy tay chân, vọt nhảy là tánh ý của Mẹ.

Trong kinh nhà Phật nói: Ta vốn là ta, gọi là căn bản. Căn bản gọi là khí điển. Hồn của ta trên trời sa xuống từ lúc Mẹ ta có thai noãn trong 6 tháng, làm chủ bản thể gọi là trí, ý, hồn; tánh tình là vía. Nhưng cũng có sự phụ thuộc vốn của Cha Mẹ ta là khí cấu tạo, rồi hợp thành một cái vốn khí điển của thiên đàng sa xuống nhập vào thai. Bào thai này nhờ có ngươn khí chất lỏng của Cha Mẹ tạo thành, gọi là “Khí bẫm sở cầu, vật lực sở tế.”

Vốn điển này của Cha Mẹ ta giúp cho, gọi là Tinh khí, tánh vía của Cha Mẹ ta giúp cho. Còn điển hồn trên thiên đàng sa xuống nhập vào bản thể gọi là Hồn, vốn ở thiên đàng, vốn gọi là “Giống.”

Tóm tắt: Tinh vốn của Cha, Khí vốn của Mẹ, Thần vốn của trên thiên đàng sa xuống. Nói chung là: Tinh, Khí, Thần, gọi là Ta, vốn là Ta.

Ta vốn là thần hồn trên thiên đàng sa xuống, cũng gọi là căn bản. Căn bản là vốn gốc hồn trên trời sa xuống, làm chủ bản thể. Bản thể gọi là Căn. Cha mẹ cấu tạo trước khi, còn bản là vốn điển ở thiên đàng sa xuống, nhập vào ở chung với bản thể, kiết tụ thành hình dạng con người, cũng gọi: Ta vốn là Ta.

Cho nên tôi là Tác Giả giải điều ấy chung cho tất cả con người ở thế gian đều có hồn trên trời sa xuống làm Chủ Nhơn Ông:

Đố ai biết Lão là ai?... Người trong thế giới hay ngoài Càn Khôn (Ta vốn là Ta)...

Người đủ trí thức gọi là Hồn. Còn ta là người ở thế gian, Cha Mẹ ta sanh ra.

Đến đây chấm dứt lời Bổ Di của tôi sót sỉnh, xin các bạn thứ cho.

Đây nói về khi chúng ta xuống trần, nhờ sự sanh sanh hóa hóa của Trời Phật lập nên loài người. Loài người chất của nó là nhớt, nhớt tựa như nhớt mủ của cây, hợp với khí điển của ngũ hành, do nơi nắng, mưa, gió, nước. Khí ấy đọng nơi nước, là một chất lỏng làm ra, rồi gom nhớt hóa nên hình tại dưới nước, cũng không khác nào trước kia Phật độc lập làm ra Hiến Pháp.

Các bạn nên xem xét: muốn hiểu chất gốc của nó là thứ nhớt cũng như Phật độc lập cõi Trời, thì các bạn được hiểu sâu xa nguồn cội khí chất sanh ra người. Nhưng các bạn được hiểu cho: bầu trời, thế giới, chư quốc, sanh ra người khí âm, khí dương đồng thời tạo hóa. Hễ âm là âm, dương là dương, gọi là gái hay là trai một lượt, không có lộn như loài vật.

Khi sanh được nên người, điển âm theo âm, điển dương theo dương. Rồi đến kỳ đực, cái muốn hợp nhứt, kêu là “gieo giống thêm.” Sách Thánh kêu là: Đến kỳ cặp kê. Đực cái hợp nhứt, gầy tạo, cấu tạo hóa nên thai noãn, đặng gây để giống loài người dưới thế gian này.

Đực cái một cỡ hợp nhứt gọi là “nguyên thủy.” Cho nên không lộn xộn loạn luân như loài thú; không gieo giống bậy mà sái chủ nghĩa. Bởi thế đức Thánh nhơn Ngài nói: “Điễm điễm, đích đích, bất sa di”. Nghĩa là: “Nhỏ nhỏ, giọt giọt, chẳng xa dời.” Cũng có nghĩa: Chồng vợ cha con đều đi đúng chủ nghĩa, khi giao cấu sanh con, khóm này đối với khóm kia cũng một loài người, phân tách có phe đảng, chòm xóm, rồi khóm này là đực hay là cái. Đực cái hợp nhứt, hườn quy với khóm khác, kết tạo gọi là “vợ chồng.”

Bởi thế cho nên loài người có chủ nghĩa, không loạn luân xáo trộn bậy. Người khác hơn vật là chỗ ấy. Lúc đó mới có những người lớn hơn, cao thượng hơn, gọi là đời Bàn cổ sơ khai. Trời đất cho đấng này cứu thế dạy đời, linh nghiệm lương phương, muốn chi có nấy.

Lúc ấy đức Chúa Trời mới gọi các Thánh Thiên Thần truyền tin cho Đức Mẹ là Maria, Nữ Đồng Trinh hóa thai, gọi là Chúa Cứu Thế tên là Giêsu (Jésus).

Đồng thời trong các khóm loài người trong thế gian có 4 phương hướng, gọi là 4 phương 8 hướng. Bốn phương là: Đông, Tây, Nam, Bắc. Nam cùng Bắc trấn, rồi Nam cấn Đông cùng cấn Bắc, còn Tây thì chánh phương Tây, cũng gọi Tây trấn. Nam cùng Bắc gọi là hướng. Trong 4 phương 8 hướng này đều có cây cối hoa quả vạn vật cùng loài người.

Trong loài người thì có Phục Hi, Huỳnh Đế, Châu Văn Vương, Khổng Tử, là các đấng 4 Thánh Nhơn để giáo hóa loài người; rồi tới đức Chúa Giêsu (Jésus) phát minh sau để cứu thế dạy đời, gọi là Đạo Gia Tô; rồi các Thánh ấy bắt từ phương hướng trấn dạy loài người: Lúc này thì có người làm chủ trương để giáo hóa các đấng đạo Thánh, mới phân nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín, mới chia ranh rấp trong thế gian; phía nào làm chủ để dạy loài người theo phương hướng nấy gọi là Vua, rồi sắp đặt quan, dân, cũng có thể gọi là đạo nghĩa, mới sanh ra nghĩa đạo, chia ra các hướng. Nhưng lúc ấy chia làm 2 châu, châu Âu và châu Á; châu Âu thì có Thiên Chúa giáo, còn Á châu thì có Vua Phục Hi cùng Thánh Nhơn làm chủ dạy đạo. Từ đó đến nay mới có đạo nghĩa luân thường khắp cùng Âu Á, các loài người đều thông minh sáng suốt hơn. Đạo nghĩa luân thường là đạo đời; đồng thời đức Thích Ca ra trước để dạy đạo Phật, giáo hóa Di Đà. Kế đó giáng sanh phía Tây phương cho bà Maria Nữ Đồng Trinh, gọi là Đức Chúa Giêsu Cứu Thế; Cứu thế là dạy đời. Khi Chúa Giêsu bị tử nạn tại thành Jérusalem, lúc ấy dân phân làm hai phe gọi là: Giu Điêu, bắt đức Chúa Giêsu vấn nạn. v. v...

Đây là những lời sơ lược của chúng tôi phân những đời người thế gian, để hiểu biết đạo đời. Đời là người. Người là bản thể, cũng gọi là Tiểu Thiên Địa. Tiểu Thiên Địa là có Trời Đất, mặt trời mặt trăng là 2 mặt cùng mây lẫn vào; còn gió là lỗ mũi; cùng miệng và lỗ tai. Khi chúng ta mệt thì chúng ta nghe ồ ồ gọi là bão bùng nguy hiểm, lòng ta bê bối: cái máy âm dương, ăn, ngủ, ỉa, vì khí âm dương ngoài trời không thuận gọi là Bê bối bản thể.

Bởi thế không thuận trong trời đất, sanh ra con người có tật bệnh, tham, sân si, tranh giành vô đạo đức, rồi có hại cho thất tình, mới buồn, rầu, sầu, não, ham muốn, thì loài người tất cả trong thế giới bởi tham sân, tranh giành của cải, cùng lấn ranh nước, để cho nước mình thong thả, dân sự bằng an, nước này lấn nước kia, gọi là lộn xộn loạn ly.

Bởi thế, Trời Phật phân ra năm, tháng, ngày, giờ, tam ngươn tứ quý.

Trái lại ngươn đầu sơ sanh gọi là Thượng ngươn. Mỗi ngươn có 600 năm. Rồi tới Trung ngươn thì người phát minh; trong phát minh ấy có sự tốt xấu chen lẫn. Tốt là hiền đức, minh trị, còn xấu là bạo tợn, ăn hiếp người gọi là Trung ngươn 600 năm thứ hai. Kế đó khởi đầu Hạ ngươn thì người càng ngày càng hung hăng hơn nữa, đây là rốt Hạ ngươn khởi Thượng.

Năm nay là năm 1966, đã gần tới rốt Hạ rồi tới Thượng. Hạ là 2000 năm; tính còn lại 34 năm thì đúng 2.000 năm. Bởi thế con người loạn ly bạo tợn, người giết người, chồng giết vợ, cha giết con, thượng hạ không tôn ty, lễ nghĩa biến đổi, thì chúng ta gọi là “đạo đời.”

Đây nói về Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật ra đời năm 1945, rồi truyền bá mới mở đạo, gieo trồng hột giống tốt, để sửa lại bản thể ta, để đủ sức khỏe dồi dào cùng minh triết hơn, để làm một cái mầm giống, từ 1945 gieo trồng luyện đạo cho đến 2000 năm thì Thượng ngươn bắt đầu, mới có Pháp lý Vô Vi Khoa học Huyền bí của Phật ra đời để dạy đạo làm cho người minh mẫn, hiền đức, trí thức, công đồng, phù hợp, hợp tình, hợp lý, không hơn thua lấn ép nhau, xin bạn biết cho. Trong trần thế muốn làm các thứ chi thì phải gieo giống, trồng trọt sửa đổi mới có hột giống tốt; rồi hột giống ấy ra đời truyền đạo trong lúc 2001 năm, sửa sang đời mới của chúng ta minh triết hơn, mạnh khỏe hơn, mới đủ sức lực làm cho khối óc con người sáng suốt.

Bởi thế Trời Phật lập ra Thượng ngươn, thì các phương hướng thế giới đều đủ, loài người cùng vạn vật đều thay đổi. Vạn vật cũng sanh mầm khác hơn, biết khôn hơn.

Trái ngược cây cối biến sanh nhiều thứ lạ thường hơn trước. Ngươn khí điều hòa khắp thế gian; mây gió mưa đều sửa đổi. Bốn phương tứ quý, tứ mùa, tám tiết, cây ngon trái lạ, vật đổi sao dời, bình đẳng, mỗi mỗi đều được mưa hòa gió thuận, để cho người được hưởng an vui, sung sướng hơn, không lộn xộn, loạn ly như khi trước. Miếng ăn gọi là vật thực, đều bổ túc; nội dương thế nước nào như nước nấy, đủ ăn, đủ ở, sự thừa hưởng của Phật của Trời sắp đặt không thiếu thốn.

Những loài người ai ai cũng vậy, nước nào như nước nấy, bình tĩnh an vui, phù hợp nhơn đạo, không còn tranh chấp, không còn mạnh hiếp yếu. Mưa hòa gió thuận, không bão bùng nguy hiểm, mới đại đồng thế giới, gọi là Thượng ngươn sơ khởi, mới có đời đạo song tu.

Thưa các bạn! Đến đây chúng tôi thiểu trí, thấy sao nói vậy, sự hiểu biết tự tri, tự tánh, lập ra quyển này để cho các bạn biết đạo thông tri, những điều chi sơ sót, xin các bạn sửa đổi giùm cho.

Đến đây chúng tôi xin phép kể chuyện đạo đời những quyển đã viết ra. Có câu: “Hợp ý, hợp trí, hợp tình, tình ý giao du, công phu hiểu biết”.

Trong phần đạo Pháp lý có

* Số 1 : Quyển diễn thuyết ra đời năm 1948.

* Số 2 : Xuất hồn.

* Số 3 : Đời đạo song tu.

* Số 4 : Chỉ rõ tánh vía cùng hồn, là Chủ Nhơn Ông trong bản thể.

* Số 5 : Điểu Sào Thiền Sư ( Tình Trong Bốn Bể ).

* Số 6 : Dịch Kinh Di Đà Nghĩa Điển Chánh Pháp, và cuốn Di Đà thứ nhì cắt nghĩa suông cho người dễ hiểu.

* Số 7 : Quyển VẤN ĐÁP cùng kế đời Thượng ngươn, Trung ngươn và Hạ ngươn.

Trong Pháp lý có 7 quyển.

VẤN : Ông là người ở trần tại sao ông tu?

ĐÁP : Từ lúc tôi 45 tuổi, người Pháp cai trị; trong lúc nước mất nhà tan, tôi đứng làm người trong thời ấy; khi tôi thấy nào bực Phú Gia, nào Quan Lại, từ bực Thượng đến bực Trung, thì tôi biết nhiều phần hiếp đáp xâu xé người, giàu sang, quan lại cũng thế đó thôi; còn hạng thấp thì cũng tham lam, gian trá, sân si; rồi cũng người này hiếp người kia, sanh thù oán, giết lẫn nhau; còn trong gia đình thì vì tiền của, tham lẫn xâu xé, con không kể cha, cho đến nỗi anh em cũng thế.

Lúc ấy tôi dựa theo quan lại để tầm bắt kẻ gian và điều tra những người hung dữ đâm chém đủ điều, nhưng tôi dòm lại thấy hồn oan cáo báo cho tôi biết và xưng tên tuổi đúng không sai.

Khi ấy tôi buồn, bỏ các việc làm, ra làm một anh điền chủ thường tình và tầm kiếm con đường giải thoát cái đời của tôi cho khỏi sự bỉ ổi ấy, không có chi hơn là sự đi tu để tránh những điều dối trá; nhưng trái lại tôi có gia đình đông con, nhưng thấy trong nhà Phật, Thiền Lâm tuyên bố phải ly gia cắt ái, nếu không tu thì không thành Phật; còn tôi ở nhà niệm Phật tụng kinh cho là không thành vấn đề. Bởi thế tôi suy nghĩ đủ điều, nếu không đời sao có đạo? Khổ ôi là khổ!

Khi tôi nghĩ rồi bước ra đi ta bà, nào là chùa chiền, nào là núi non để đi tầm đạo. Lúc tôi gặp được Ông Cao Minh Thiền Sư dạy đạo, tôi quy y cùng Ông, gọi là đạo Vô Vi, xuất chưởng Anh Nhi, tu tâm dưỡng tánh, ở nhà làm lấy ăn để tu.

Nhưng tôi thấy Vô Vi chưởng Anh Nhi thì cũng được, nhưng đàn ông thì không máy sanh dục đựng con, làm sao làm được? Nhưng tôi cũng mượn phần ấy, rồi nhờ tự nghiên cứu thiêng liêng để cứu xét; khi ấy tôi hiểu rõ “cư trần là nhiễm trần” thì bao giờ chúng tôi cũng có tội lỗi, không bao giờ mỗi việc gì cho khỏi, ví như cá dưới nước sao khỏi ướt mình?

Sự chán đời bao trùm sự hiểu biết nhiều tội lỗi, chớ tôi không chán ngán. Khi ấy tôi phải buộc lòng tu tâm dưỡng tánh, nhưng đã lỡ có gia đình, không thể theo mấy ông cho được. Tôi mới suy nghĩ ra, tu là tu, còn luật gia đình của Khổng Thánh cũng là tu. Bởi thế tôi cho là “đời đạo song tu”. Vì thế ấy tôi suy nghĩ ra tôi phải tu! Mà tu làm sao mới đượåc? Đây, chữ “TU” tôi xin trả lời:

TU là một nền tảng điều hòa vững chắc, làm cho hung dữ hóa ra hiền. Tự làm lấy mà ăn, không sanh sự lý, lương tâm tôi bình tĩnh không xao động. Cũng có chữ: “Tu là Tu trang, làm cho một cái nền trở nên đẹp đẽ, vững chắc, bằng thẳng.” Chữ tu là trau dồi sửa đổi, ví như trong mình ta trí não Mâu Ni Châu là cục ngọc, làm cho hồn ta được trong sáng. Đó là Pháp Luân Thường Chuyển, dồi mài cho thông khí, thời khí ta mới sáng. Hễ sáng thì thông minh làm ăn không thất bại, và trí ta dồi mài trao sửa, bỏ sự si mê u ám, trở nên một người sáng suốt. Đây là cái nền tảng cốt giác của sự tu hành, là nguồn cội của nó, cùng làm ăn để nuôi gia đình Tối thì công phu luyện đạo, gọi là Đời đạo song tu.

VẤN : Như thế nào để xuất hồn được?

ĐÁP : Thưa các bạn! Sự xuất hồn là một cái huyền bí thiêng liêng. Điển quang từ lúc khai thiên lập địa: có mặt trời, mặt trăng; hễ có âm dương thì có luồng điển khí, nhờ mặt trời là lửa, là khí dương thuộc về điển nóng. Còn mặt trăng là đầu mối của điển nước điển nguội, thuộc về khí lạnh, nhưng khí nóng rút khí lạnh hóa sanh luồng sóng điện. Sóng điện là đầu mối hóa sanh gió lửa, thì thứ lửa nóng cùng lửa nguội gọi là “luồng điển âm dương.”

Khi ta tu hành trau dồi sửa đổi, làm phép: Nào là Soi Hồn cho thông lỗ mấy đầu xương, cùng gân thịt đều thông khí. Rồi làm phép Pháp Luân Thường Chuyển, chuyển sanh đốc phách xô đẩy cho điển ấy chạy từ từ nơi bộ đầu, tập trung nơi trán.

Tu luyện lâu ngày thì điển ấy càng ngày càng mạnh, sáng suốt hơn trước. Thì sự tập trung ấy điển càng ngày càng tụ hợp sanh ra một chỗ đấy nóng thật là nóng theo điển, người tu gọi là “lò lửa lư hương.” Khi điển ấy tụ hợp nhiều thì nó phải tung ra.

Sự xuất hồn thì điển nóng điển nguội xung bực thái quá, phát ra khỏi da, gom lại với thứ điển giống. Các thứ điển này tất cả ở trong bản thể ta, hợp lại với điển giống linh hồn. Ban đầu thì nhỏ tí bằng đóm chân nhang. Luyện đạo lâu ngày điển càng thông, thì điển ấy hóa ra nhiều thì hồn ta càng ngày càng mạnh. Rồi từ từ bay thấp đến cao, ví như một con chim mới sanh: sự mọc lông lá của nó là điển tụ hợp; khi lông cánh ngắn thì cựa quậy đập cánh; cánh vừa vừa thì sập sận, còn cánh dài thì bay; còn đôi chân cũng như cánh đứng dậy. Ban đầu nhảy nhót còn cánh thì tung bay. Yếu bay gần, cũng như người luyện đạo chưa dày công. Còn dày công cũng như chim đồng thời bay cao. Thì điển trong mình ta bay ra cho đến thiên không, đó là tông chỉ xuất hồn.

[kết thúc ID# 19860100L11]


----
vovilibrary.net >>refresh...