19840101L2

VĂN TỰ VÔ VI (2) (theo vần ABC)

HẠ GIỚI - YÊU THƯƠNG

HẠ GIỚI: Cái hạ giới như tôi đã nói rồi, người mới tu đang thanh lọc hạ giới, phải có pháp luân mới thanh lọc hạ giới những sự trược ô của tình dục của hạ giới này phải dùng pháp luân mới chuyển nó lên bộ đầu mà không dày công không làm được. Còn thượng giới, khi mà làm pháp luân lên trung tim bộ đầu, rồi cả ngày các bạn cứ nghĩ cái chuyện tiến triển đi lên thôi, thành ra nó quên cái dục; thấy không? Đó, rồi còn cái trung giới là quyết định. Trung giới là nơi làm việc cho trên và dưới; chỗ đó là cơ quan chỉ huy. Trung Thiên cũng là cơ quan chỉ huy càn khôn vũ trụ; và cái con tim các bạn đây là chỉ huy trên đầu và ngón chân các bạn đều là quản lý do phần hồn ở trong trung thiên, trung giới. Cái nơi làm việc vừa, chỗ đó xuất phát vừa Địa Tiên vừa Thiên Tiên; đi lên là Thiên Tiên, mà đi xuống là Địa Tiên.

Còn HÀ SA: nhắm mắt thấy hột hột, hột hột, hột hột. Đó là cát trên Trời; mà trong bản thể của chúng ta cũng có hà sa; nếu chúng ta tập trung rồi, chúng ta thấy rõ có hà sa; nhắm mắt là thấy. Do đâu có? Do công phu, nó khai triển ra là nó thấy chớ có gì đâu! Còn không chịu công phu, không chịu sửa bên trong, làm sao có hà sa? Nó từ một hột điển, một hột điển, một hột điển, lóng lánh, lóng lánh, lóng lánh; nhắm mắt thấy, mà mở mắt cũng thấy nữa.

Rồi HỒI QUANG PHẢN CHIẾU: Là nếu mà chúng ta không xuất phát ra, làm sao mà chúng ta lấy được cái ánh sáng rồi mới trở về giáo dục cái tiểu thiên địa này? Mở tâm, mở tánh, kêu bằng phải xuất phát ra rồi thừa tiếp cái sáng suốt ở bên trên, rồi mới phản chiếu trở lộn lại để sửa tâm sửa tánh. Thì càng tu, nó đi tới minh tâm kiến tánh là vậy.

HẠ TRÍ: Con người sống trong hạ trí chỉ có dục; không có dục hầu như chết, buồn. Đó là chỉ áp dụng hạ trí mà thôi. Còn Thượng Trí chỉ có giải, giải cho nó sáng suốt, thực hiện bi, trí, dũng. Các bạn nhịn một bữa ăn được, các bạn qua được, thì các bạn cũng sung sướng; huống hồ cái dục mà các bạn lần lần dẹp được rồi, các bạn thấy thanh nhẹ nhiều, tâm thức các bạn cởi mở; thì các bạn đã thử nhiều lần, những người tu về Vô Vi càng ngày, càng thương, càng thấy, “Tôi không dục, tôi thấy tôi thanh nhẹ sung sướng mà tôi dục tôi thấy bần thần. Rốt cuộc rồi như rã rịu cơ thể tôi, điển tôi nó mất; không có sáng suốt!” Thấy không? Cho nên, cái hạ trí, bành trướng cái hạ trí chỉ có đấu tranh và tham dục mà thôi. Khai triển được thượng trí, giải thoát và tiến hóa.

HÀNH HƯƠNG: Cái cuộc hành hương, các bạn đã lâm vào trong cái thể xác của tiểu thiên địa này là để học hỏi chớ có gì đâu? Sanh, lão, bệnh, tử, tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục; nó cứ đi đi lại lại, đi đi lại lại cho các bạn minh. Rồi các bạn mới ý thức được ngoài cái sự này mình còn cái sự siêu nữa. “Sự ngoài bản thể này, tôi là nguồn cội, tôi đâu phải có bao nhiêu đây? Nguồn cội tôi là ở chỗ vô cùng giáng sanh, bây giờ tôi phải trở về với chỗ vô cùng giáng sanh thì cái cuộc trở về đó là cái hành hương. Đi, về; hành là đi, hương là điểm cho nó sáng suốt để đi, không phải đi trong tăm tối, đi trong sáng suốt, kêu bằng “Hành hương.”

HỒNG ÂN: Hồng ân, ở thế gian nghe hồng ân, lạ quá, hồng ân ban bố, hồng ân thế nào đâu? Nhưng mà nói thiệt chúng ta giáng sanh ở trong bụng mẹ chỉ có một giọt máu đào, gom trong cái điển đó phân ra âm dương tạo thành một cái thể xác ở ngày nay. Đó là Thượng Đế đã ban cho chúng ta một cái hồng ân có một cơ thể, có một tiểu thiên địa, có một thể xác để trụ trì mà học hỏi mà tu tiến. Mà chúng ta tu rồi, chúng ta mới thấy cái hồng ân của Đức Thượng Đế đã cho chúng ta, đã ban cho chúng ta một lần một, có hành vi, có một giọt máu đào đó mà ngày nay chúng ta sống. Từ một giọt đó mà ngày nay bành trướng ra thước mấy, hai thước, cũng mập, cũng ốm, này kia, kia nọ; cãi cọ với thiên hạ. Mà dòm lại trước kia các bạn thành tựu có chút xíu, có một điểm, có một giọt máu đào đó thôi. Rồi bây giờ tiến triển ra thành ra kế hoạch này, kế hoạch kia, kế hoạch nọ; rồi thì giận đầu này, giận đầu kia, giận đầu nọ có chút đó thôi! nhưng mà bây giờ nó bành trướng tới vậy đó. Rồi từ kích động và phản động này nó mới đi tới cái sáng suốt; rồi nó mới quy tựu về cái thánh thai, là thanh điển; các bạn thấy không? Rồi mới xuất phát ra, bên mình tu nói là “Mô Ni Châu xuất phát ra” nhẹ lắm. Nó mới sáng suốt; thấy không?

Cái HUỆ: Các bạn tu càng ngày người ta nói là, “Pháp luân thường chuyển huệ tâm khai;” thì có chùi rửa thì nó mới sáng suốt. Huệ là gì? Sáng suốt, mở ra; nội tâm nội tạng của các bạn càng ngày càng sáng suốt, là mở huệ ra, kêu bằng “phát huệ.” Huệ tâm, huệ can, huệ trong ngũ tạng đều phát hết, rồi huệ nhĩ, huệ tỉ, huệ thiệt, đều mở hết. Khi mở rồi là nó chỉ có quy một, chỉ có sáng suốt mà thôi. “Tôi ngửi thì tôi cũng hiểu cái đó.” Hiểu là thấy chứ gì! Thấy là sáng suốt chớ gì! Nghe cũng vậy, cũng hiểu; hiểu là thấy, thấy là sáng suốt. Mà nói ra đây, cái âm thinh, cũng hiểu và cũng sáng suốt; thấy không? Mà dòm ra đây cũng thấy và cũng sáng suốt; và suy nghĩ rồi cũng quy về sáng suốt; chỉ có một nhưng mà phân ra ngũ giới, vì ở thế gian tạo ra cái cảnh ngũ hành thì phải có cái cảnh ngũ giới ứng phó với ngũ hành. Đó; thì bây giờ chúng ta tu rồi nó mở huệ. Nó mở huệ rồi nó mới hòa hợp với ngũ hành hiện tại của càn khôn vũ trụ; mà hòa hợp được rồi thì nó có bàn đạp để đi tiến lên. Cho nên, các bạn Soi Hồn, Pháp Luân, đó là khai triển và nó mở huệ, rồi cái huệ đó, sau này, nó hòa hợp với cả càn khôn vũ trụ thì đó là bàn đạp, đi, về dễ dãi chớ đâu có gì khó khăn; à. (L3 mp3.1 – 13:56)

KHÔNG HỌC MÀ BIẾT: đó là đã học kinh vô tự mới biết trước các bạn có thiền; thấy không? Rồi các bạn thấy trong cái thần thức của các bạn nhận thức được, các bạn mới biết chớ! Cho nên, cái đó là học kinh vô tự, không học mà biết.

KIM CANG: Đó, cho nên ở trong sách nó có, “Kim cang, kim cang huệ mạng.” Nhưng mà khi mà chúng ta muốn hiểu rõ cái kim cang là phải hiểu được trong cái tiểu thiên địa, và hiểu phần điển của tiểu thiên địa mới hiểu kim cang. Nhiều người nghe kim cang sợ lắm, kim cang kinh, chớ người ta đặt kim cang là ma nó nhập nó dựa lên. Hỏi tên gì? Nó xưng “Kinh kim cang.” Hỏi kim cang đó ở đâu? Do cái kim và mộc cấu tạo. Kim là ở đâu? Trong thể xác, là thuộc về cái phổi. Cang là thuộc về gan, về mộc. Hai cái đó nó phát triển; mà hai cái đó là cái khí giới tiến hóa của trong cái tiểu thiên địa này. Mà nếu các bạn mà hiểu được cái kinh mạch của kim cang á, thì các bạn thấy có thanh tịnh. Cho nên, trong kim cang kinh nó sẽ, chỉ những người tu thanh nhẹ rồi mà đọc kinh kim cang thấy nó chạy trong mình; và khi các bạn đạt được điển rồi các bạn mới rõ kim cang. Mà rõ kim cang rồi, chẳng còn ma quỷ gì nhập được hết: các bạn nắm được chủ quyền của một khí giới sáng suốt để hóa giải tất cả những gì xâm chiếm bên trong.

KINH VÔ TỰ: Vô tự chơn kinh là kinh vô tự. Kinh vô tự là ở đâu? Ở đâu các bạn tìm ra kinh vô tự? Cái thể xác các bạn là cái kinh vô tự, mà các bạn chịu luyện chịu khai thông thể xác trong kinh A Di Đà cũng nói rất rõ, đều là trong mình mình hết mà không chịu học. Rồi nói “Tôi học chữ là tôi giỏi rồi, tôi viết ra được cái chữ là tôi giỏi rồi.” Nhiều người học thiệt giỏi tới luật sư, tới ông đại sứ đứng ra họp khắp thế giới; nhưng mà tới giờ phút lâm bịnh tiếng gì cũng nói ra không được hết, tiếng Tây cũng quên, mà tiếng u tiếng gì cũng không biết, ngồi câm đó. Hỏi có không? Có chứ, tôi nói ra phải có bằng chứng, tôi đã từng trị những cái bịnh đó mà. Mà cuốn lịch sử của người trước kia là giỏi lắm một nhà ngoại giao danh tiếng, nói năng lưu loát, nhưng mà giờ phút này không nói được một câu, không mở được miệng, mắt cứ trao tráo nhìn. Hỏi tại sao? Tại sao giỏi như vậy mà bây giờ lại không điều khiển được mình? Tại bất tâm! À; không chịu lo trước thì giờ phút đó sẽ gặt hái cái bịnh đó. Còn chúng ta tu đây là ở trong kinh vô tự chúng ta học! Không có chữ, nhưng mà phân li, luồng gió thổi tới cũng là giáo dục cho chúng ta tiến hóa, để thức tâm thanh tịnh sáng suốt; vô tự chơn kinh là vậy đó. Các bạn ngồi đó, nghe tiếng gió, nghe tiếng động đâu có viết ra chữ.

Hỏi loài người phân ra người Việt Nam, người Tàu, người Tây, người Mỹ, hỏi chớ cái sấm sét ở trên Trời đó nổ một cái đùng hỏi thằng Mỹ nó nói gì, nó cũng nói sấm sét, hỏi Việt Nam nó nói sấm sét, hỏi thằng Tàu nó cũng nói sấm sét; thì ba thằng cũng một sự hiểu biết mà thôi! Có cái gì đâu mà phân cách lẫn nhau. Và tại sao phải phân cách lẫn nhau? Vì ngu muội, không hiểu. “Chà, tôi là người học tiếng Tây, rằng một cây Ăng-Lê giỏi thiệt giỏi!” Rồi Ăng-Lê cũng nói gì, cũng nói cái bàn, cái ghế, cũng nói sấm sét là cùng chớ gì. Cho nên, cái ý chí sáng suốt của các bạn, các bạn vun bồi thì các bạn ở trong kinh vô tự, mà trong kinh vô tự đó là giải tiến tâm linh các bạn; không còn nghèo nàn và bị che lấp bởi một từ tạm bợ của thế gian. Chớ bạn đừng cho mình là người trí thức đầy đủ đâu. Chưa đâu; còn ngu muội các bạn ơi. Những nhà ngoại giao lưu loát mà tới giờ phút, thọ một cái bịnh rồi không nói năng gì, không đi đứng được. Hỏi chứ ông đó dốt hay là người học giả? Có chớ bạn! Có cơ hội, các bạn nghe lời tôi nói rồi các bạn sẽ đi chứng kiến; có cơ hội cho các bạn thấy; chính tôi đã gặp rất nhiều và tôi đã trị rất nhiều và tôi cũng đã khuyên thẳng những phần hồn đó cho họ thức giác. Tôi đã làm điều đó tôi mới nói ra; nếu không làm, không bao giờ tôi nói điều đó.

KỲ THỊ TÔN GÍAO: là lấy cái phàm ngã thì nó phải kỳ thị tôn giáo. Cái tâm nó trược, nó chỉ biết dâm dục là quý rồi, tiền bạc là quý rồi, chuyện mặt tiền của nó là phải rồi, thì nó là phàm ngã nó trần trược. Tôn giáo là gì? Tôn giáo là đề cao sự sáng suốt để dẫn tiến tâm linh. Thì nó kỳ thị tôn giáo là tại vì nó mất tâm linh.

LẬP CÔNG BỒI ĐỨC: Lập công là chúng ta làm, phát tâm làm những cái gì hữu ích và cần thiết, chúng ta làm; không hữu ích không cần thiết chúng ta không làm, mới bồi được cái đức tánh tốt.

LINH CĂN: Là nếu con người không có linh căn là người khùng rồi. Mọi người đều có linh căn, là sáng suốt đó. Mà cái linh căn đó là phần hồn thôi: hiểu biết; nghi là phải có; đó là linh căn; chủ trương trong bản thể; cũng có thể nói nó là phần hồn. “Linh tại ngã bất linh tại ngã, linh cũng do tôi nếu tôi vun bồi sự sáng suốt thì tôi hiểu. Còn nếu tôi không vun bồi sự sang suốt thì cũng như không có tâm linh.” Mà người ở thế gian nó có linh căn mà nó không chịu vun bồi, thì nó là gi? Là người sân si và đấu tranh ghen ghét thôi. Nó tạo ra cái cảnh đê hèn cho chính nó mà nó không hiểu; tăm tối mà nó không minh, nó tưởng nó hay hơn thiên hạ; chậm tiến mà nó không biết, nó tưởng là nó tiến bộ. Cho nên, khổ vậy đó. Cho nên, nói không hết; sách vở không ghi chép được. Cho nên, các bạn tu ở trong cái kinh vô tự, đạt tới thanh tịnh là đủ rồi; bao nhiêu đó đủ rồi.

LINH TỬ: Linh Tử, trong Tầm Đạo Giải Chơn Lý, Cha gọi là “Linh Tử.” Linh tử là một linh căn, như tôi nói đó. Tất cả, con kiến cũng là linh tử của Ngài: nó biết mưa nó biết trốn, nó biết nóng, nó biết lạnh; thì người thế gian cũng vậy, là một linh tử; thấy không? -- Còn

LONG HOA và LONG VÂN, “Trong Tầm Đạo Giải Chơn Lý, Cha dạy rằng Long Hoa xảy ra trước, Long Vân xảy ra sau; nhưng trong một cuộn băng Thầy lại giảng rằng Long Vân xảy ra trước và Long Hoa xảy ra sau; vậy kính xin Thầy giảng lại cho con rõ để con sắp hai chữ này vào trong sách con đặng soạn.” Cho nên Long Vân là một cái cuộc thay đổi, chuyển động mạnh, thay đổi của quả địa cầu, nhiên hậu mới tới Long Hoa. Long Hoa là cuộc vui tụ hội của Tiên Phật; còn Long Vân là cuộc hành lập để di chuyển tới: “Long” là sự di chuyển, “Vân” trong tụ tan; nó rõ rệt như vậy.

LỤC CĂN LỤC TRẦN: Có người cắt nghĩa ở bên ngoài, là thấy, tai nghe, này kia, kia nọ, thì lục căn không phải đó. Lục căn là nguyên căn cấu tạo về sự tri giác và thể xác con người, là nằm hẳn trong “Nam Mô A Di Đà Phật;” mà càn khôn vũ trụ cũng ở trong “Nam Mô A Di Đà Phật.” Nam là lửa, Mô là không khí, A là nước, Di là phát triển, Đà là màu sắc, Phật là linh cảm. Thì cọng cỏ nó cũng cần sống, nó cũng có lục căn và lục trần. Sáu cái bên ngoài có thể xô ngã nó nếu nó không vững; mà nếu ở bên trong lục căn nó vững á, thì nó sẽ hòa hợp sáu cái bên ngoài. Cho nên, các bạn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” trong cái pháp này để cho các bạn ý thức rõ lục căn. Mà cái lục căn này là đi về tới đại định, chớ không phải lục căn như người ta cắt nghĩa là chỉ có một góc thôi, không thấy rõ điều đó. Còn cái lục căn mà tôi vừa nói đây là nó phát triển vô cùng tận. Cái gì ở thế gian không có sáu cái đó, không có bao giờ phát triển được. Cho nên, các bạn tu phải ý thức. Cho nên, tôi khuyên các bạn niệm Phật, niệm thường niệm, vô biệt niệm thì các bạn mới thấy. À.

Còn lý luận ở thế gian, lý luận là luôn luôn bị giới hạn. Còn thanh tịnh là vô giới hạn. À! Cái chuyện lý luận nó giới hạn. Như hồi nãy giờ tôi nói chuyện này kia, kia nọ cho các bạn, cái phần tư tưởng của các bạn nó đã giới hạn, làm sao hấp thụ được những cái gì tôi muốn nói? Đó là trình độ lý luận ở thế gian, tùy theo trình độ mà hiểu biết lẫn nhau thôi. Nhưng mà cũng nhờ cái lý luận đó để hiểu một phần nào, để thức giác; chớ mà sự thật của nó là thanh tịnh, thanh tịnh là đủ rồi. Tôi nói, “Bạn thanh tịnh, bạn không cần biết chữ nghĩa gì hết, ở trên Trời nổ cái “Đùng!” các bạn cũng biết là sấm sét; thấy không? Mà nhờ các bạn hiểu được sấm sét, giờ các bạn lý luận được! Mà lý luận là tạm mà thôi; chớ cái thực chất, nó không phải. Thực chất của người tu là chỉ có thanh tịnh mà thôi.

LỤC PHỦ NGŨ TẠNG: cũng là trong cái lục phủ nó cũng chuyển của sáu cái luồng điển kia. Còn cái ngũ tạng, cái đó là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ở bên trong. Mà cái sáu luồng điển tôi vừa cắt nghĩa ở bên trên: lửa nè, nước nè, không khí nè, phát triển nè, hào quang, linh cảm; nó bao vây cái ngũ tạng, mà để cho ngũ tạng vận hành và di chuyển cái cơ thể; mà còn lục phủ nó bao vây bên ngoài. Khi mà các bạn niệm được “Nam Mô A Di Đà Phật,” nó khai thông rồi, thì sáu cái đó là trung tâm quan trọng của cái tiểu thiên địa. Mà niệm thông rồi á, thì thuộc về lục thong: sáu cái đó thông là lục thông; khi mà các bạn thông được sáu cái đó rồi thì thiên biến vạn hóa, vô cùng trí giác, thì mới đi tới lục tâm thông; thấy không? Đệ tử của nhà Phật phải có sự thanh nhẹ đó nó mới hấp thụ được cái lời giáo huấn của Ngài: một chữ của chư Phật, chư Tiên, một chữ của thanh điển nói ra đáng ngàn vàng: càng suy luận càng mở, càng thiền càng thanh tịnh, càng thiền càng học them.

LUYỆN ĐAN: Luyện đan cũng như luyện đơn đó: Các bạn tu mỗi đêm, co lưỡi răng kề răng mà tuyệt dục, đó là luyện đan.

MẤT TÂM LINH: thế nào kêu bằng mất tâm linh? Cũng như con người rõ ràng mắt, mũi, tai, miệng mà cứ oán trách người ta mà không biết oán trách mình, là nó mất tâm linh chứ gì. Thượng Đế cho nó xuống đây sửa nó chớ đâu có phải kêu nó đi sửa người ta đâu? Cho nên, các bạn đã thấy rõ không: chiến tranh, bom nguyên tử liệng rầm rầm; đâu có sửa được ai? Việt Nam CBU nổ rầm rầm, súng ống bắn rầm rầm; sửa được ai? Tánh ai nấy giữ, chớ đâu có gì đâu? Sung ống không làm gì được. Mà tâm linh cho nó sửa để nó tiến hóa chớ không phải người khác sửa nó. Mà họ đem vật chất họ đi sửa tâm linh làm sao sửa được, thấy không?

Cho nên, MẬT NIỆM HƯỜN TINH: Chúng ta mật niệm, chúng ta không có phung phí. “Khẩu khai thần khí tán”, tinh khí thần có trụ thì mới có ngôn ngữ mà chúng ta cứ niệm hoài la lô um xùm thì nó tán, còn mật niệm nó mới hườn tinh. Chúng ta mật niệm rồi chúng ta mới hườn cái chất tinh, tinh vi sáng suốt. “Hườn tinh não hải mật niệm”, mật niệm, rồi nó diệt dục, nó mới hườn tinh não hải, vun bồi cho bộ óc thanh nhẹ và quân bình.

MỞ TRÍ: nói, “Điển quang thức giác chơn lý.” Mở trí là tôi nói rằng trung tim bộ đầu mình có, ngoài bộ đầu này mình có một cái sự sáng suốt, mà cái hào quang đó mình thấy rõ ràng, bao hết cả bộ đầu mình; đó, nó mới thức giác chơn lý; lúc đó nó mới hiểu chơn lý; nó hiểu một cách mau lẹ; vừa động là biết, vừa động là mở; chỉ có điển mới mở trí được. Mà về suy tư thế gian là bị mệt trí chớ không có mở trí.

MỘNG MỊ: thế nào là mộng mị? Thế nào là xuất vía? Thế nào là xuất hồn? Cái mộng mị là nằm chiêm bao, thần kinh suy nhược, nghĩ cái việc đó đa tình, đa cảm, rồi nằm đó tưởng sai cho thiên hạ, nó sanh ra sự mộng mị, chiêm bao; cái đó là bất chánh.

NGŨ KHÍ TRIỀU NGƯƠN TAM HUÊ TRỤ ĐẢNH: Đó; thấy không? Ngũ Khí là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ở trong mình, há; chua, cay, chát, đắng, mặn, nồng; Triều ngươn là thanh nó cứ đưa lên: các bạn ngồi đó, ăn uống vô, thì nó đưa lên, đưa lên, đưa lên, nó quy ngươn, tụ lại, nó mới sáng suốt; còn đói quá, mệt quá, nằm yên một chỗ, thì cái sáng suốt nó cũng mất đi. Tam huê trụ đảnh là trung tim bộ đầu, tinh, khí, thần, mà sáng suốt lên rồi, trụ rồi, trụ đảnh lên trung tim bộ đầu, lúc đó mới thấy Điển.

NGŨ UẨN GIAI KHÔNG: Chúng ta tu khai thông ngũ tạng thì bộ đầu chúng ta có pháp soi hồn để mở bộ đầu đi lên trước Trung ương. Thượng bất chánh thì hạ tất loạn, bộ đầu mà không chịu tu bắt ở dưới tu cũng vô ích, thấy không? Chúng ta cũng soi hồn để cho nó xuất phát lên, thấy không? Đó rồi cái ngũ tạng cũng kéo lên. Trong lúc đó, bộ đầu cũng như hình, hầu như giải thoát rồi nhẹ rồi, ngồi đó có rờ bộ đầu mới thấy bộ đầu, không rờ bộ đầu chỉ giữ cái sáng suốt thôi. Bởi vì ngũ uẩn các bạn chỉ quy tụ có cái sáng suốt hà: Mắt thấy, rồi cái lỗ tai nghe cũng hiểu cũng thấy, cái miệng nói rồi cũng hiểu cũng thấy, cái lỗ mũi ngửi cũng hiểu cũng thấy, bộ óc nghĩ cũng thấy; rốt cuộc là chỉ có một cái thấy là sáng suốt thôi. Cái đó là sáng suốt, ngũ uẩn giai không là đi tới giữ cái sáng suốt rồi.

NGUYÊN LAI BỔN TÁNH: Linh căn, mọi người xuống thế đều có nguyên lai. Mà nguyên lai bổn tánh cho chúng ta thấy là tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục cũng là tánh chất của Thượng Đế. Mà Thượng đế là nới rộng ra để hóa giải; còn mình, lâm phải trong cái tánh chất của Thượng Đế, nhưng mà mình không biết sử dụng thành ra mình bị u ơ, bị kẹt. Chớ nguyên lai bổn tánh thì ai cũng như ai hết, hiểu được rồi thì phát triển vô cùng.

NGŨ SẮC NGŨ QUANG, HUYỀN SẮC HUYỀN QUANG: ở trong bản thể mình có kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngoài quả địa cầu này cũng kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; rồi trong kích động và phản động đó nó thành ra ngũ sắc ngũ quang, huyền sắc huyền quang. “Huyền quang” là trong cái ý thức nhắm con mắt mà thấy rõ rõ, rõ rõ; trong cái huyền diệu, trong cái sáng suốt. Cho nên, người thiền có thể ngồi mấy tiếng đồng hồ là nó nhẹ nhàng như vậy.

NHỨT LÝ THÔNG, VẠN LÝ MINH: một cái cơ thể này mà các bạn khai thác được thì cái cơ thể khác cũng vậy đó thôi. Nó cũng nằm trong cái nhất lý, rồi vạn lý cũng muôn hình vạn trạng cũng có bao nhiêu đó thôi. Nếu bạn khai thông được cái tiểu thiên địa này thì tất cả các bạn hiểu hết, thì nhất lý thông vạn lý minh.

NHỨT BỔN TÁN VẠN THÙ, VẠN THÙ QUY NHỨT BỔN: đó, thì nguyên căn chỉ có sáng suốt hào quang vô tận từ ở trên phân tán xuống con người rồi nó phân ra ông A, ông B, ông C đủ thứ hết. Mà ông nào cũng biết tiến, biết thối, ôm cái máy automatic đi cùng hết trọi, phải tự quyết định ăn hay là không, tiến hay thối; vậy thôi. Mà nó phân tán ra khác nhau rồi nói, “Tôi đạo này khác, Thượng Đế là khác!” Mà thiệt không có cha không có mẹ đâu có mình. Đó, cha mẹ sanh mấy anh em mà mỗi người tánh tình khác nhau, tán vạn thù rồi. Hai vợ chồng đẻ ra năm đứa con; năm đứa con đẻ bao nhiêu rồi con cháu chắt nó đẻ bao nhiêu đẻ tán vạn thù nó phân tán ra! Mà phải quy nhất bổn, là tất cả ý thức cũng có bao nhiêu đó thôi: Sanh trụ hoại diệt! Quy nguyên có một, nhưng mà thế gian phân, “Ông này ông triết gia, ông này ông Phật, ông này ông thánh, bà này là luật sư, ông kia giỏi quá làm gì lung tung, ông kia là kỹ sư, bà này là bác sĩ,” phân ra vậy, nhưng mà ông bà nào rốt cuộc rồi cũng phải quy nguyên: Vạn thù quy nhất bổn, cũng có một cái giải thoát là quan trọng và hạnh phúc mà thôi.

NHƯ LAI: là nguyên căn mình nguồn cội tới đây rồi mình phải trở về Như Lai tạng, là phải trở về nguyên căn tánh chất thực tế của Thượng Đế, mới là biết được sự Như Lai. À; không có động loạn nữa; nó như vậy là như vậy, nó phải sẽ sáng suốt trở về như vậy. Cho nên, tôi có những ví dụ rằng, các bạn lấy miếng nhôm bỏ dưới đất, nó sét; rồi các bạn lấy giấy nhám các bạn chùi, rồi nó thế nào? Nó trở về Như Lai của nó. Bây giờ bạn tu bạn là gì? Như Lai!

NIỆM: là gì? Niệm để làm gì? Tại sao phải niệm? Bởi vì con người của các bạn chỉ dùng ý chí điều khiển thể xác, và ý chí của các bạn không có tập trung thì cái ý chí các bạn đâu có vững? Mà dùng ý chí để niệm, chớ không phải mở miệng niệm mà khẩu khai thần khí tán rồi bịnh hoạn cả đống, rồi trách ông Phật, “Tôi niệm ông hoài mà ông không cứu tôi!” Còn cái niệm này khác: co lưỡi, răng kề răng, ý niệm trong lúc chuyển, vận hành tất cả những ngũ hành trong cơ tạng. Khi các bạn co lưỡi, răng kề răng, thần kinh các bạn chấn động, chấn động lực tăng gia mạnh hơn, rồi cái nước miếng nó chuyển chạy là thận thủy được lọc; thấy không? Mà ý chí các bạn sẽ được tập trung; phải dùng ý niệm. À. Niệm; rồi quen, rồi nó đi tới thường niệm, rồi vô biệt niệm: không có niệm cái gì khác, chỉ nhớ có sự sáng suốt mà thôi; là đi tới thanh nhẹ rồi. Còn niệm, thường niệm, vô biệt niệm là vậy.

NIẾT BÀN: Thế gian nghe "Niết Bàn". “Chừng nào tôi mới tới Niết Bàn? Trời ơi! Ông Phật ông mới tới Niết Bàn chớ tôi làm gì tôi có thực tài?” Thưa các bạn, các bạn không sửa các bạn, làm sao mà các bạn được nhẹ. Người ta nói, “Tôi đi 747 trên không trung, nó bay ồ ồ, nhẹ quá mà mình?” Mấy người mới nghe qua thôi, “Trời ơi chừng nào tôi có tiền tôi mới đi 747?” Tại sao ông Thượng Đế lại cho cái sự bất công bình như vậy? Kẻ có người không? Mà thằng có được cái thằng đó khổ trước rồi nó mới được đi, mà các bạn không chịu khổ như nó làm sao các bạn đi được 747, đi được máy bay, ví dụ vậy; thấy không? Cho nên, mình phải hành trì khổ, rồi điêu luyện cho nó quân bình, đó, rồi phần hồn xuất ra kêu bằng tự túc, không ỷ lại nơi ai. Cũng như người con cho nó đi học ngày nay nó tự túc, cuộc sống nó không đòi hỏi gì của cha mẹ nó; nó báo hiếu cho cha mẹ nó. Cho nên, người của Phật là một người con hiếu thảo, sửa mình để trở về Niết Bàn tự túc tự sống. Cho nên, Phật chỉ tới Niết Bàn mà thôi; còn muốn học nữa phải trở về với nguồn cội, với Thượng Đế, phải trở về mọi trạng thái. Còn Phật, ở Niết Bàn, có một trạng thái thôi; còn phải trở về mọi trạng thái nữa nó mới thực hiện đại từ bi. Người ta nói “Phật quan trọng.” Phật đâu có gì quan trọng: là con người thanh điển, minh, định, hiểu, và quân bình tư tưởng: thiện ác, minh thiện, minh ác, không xưng “Ta là thiện,” rồi cũng chẳng làm điều ác; chỉ lo tu trung dung trong tiến hóa mà thôi.

Còn nộ là gì? NỘ là sự nóng nảy, bực tức đó mà hướng thượng thì nó xuất phát và phóng thâu đi bất cứ nơi nào.

Cái là sự đen tối mà mọi người đều có; nhưng mà cái đen tối đó nó cũng có cái hữu ích: cái bản chất tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục, là bản chất của Thượng Đế, mà trong đó kêu bằng hướng thượng hóa giải tới vô cùng. Đó; cái sự ác, sự trược, sự đen tối đó làm cho mình, thấy nó chậm trễ, nhưng mà mình hướng về sự vô, cùng thì nó có cái tánh chất đó; mà vô cùng rồi thì vô cùng tăm tối, vô cùng trược; mà chúng ta lấy cái ý chí phóng vào sự vô cùng đó, thì sự vô cùng đó sẽ tan, sự tăm tối đó sẽ biến đổi tới sự sáng suốt.

ÔNG TU ÔNG ĐẮC, BÀ TU BÀ ĐẮC: Đó; thì ông có tu là tu bổ sửa chữa lấy ông, thì ông mới được; mà bà có tu thì bà mới được chứ không có ông tu dùm bà mà bà tu dùm ông đâu. Không có cái vụ đó, không có cái vụ lợi dụng.

PHẢN BỔN HƯỜN NGUYÊN: Là phải trở về với mình, trở về với sự sẵn có đời đời của chính ta, mới kêu, “Phản bổn hườn nguyên.” Đó, kêu, người tu tại thế, tại sao chửi, họ không giận? Bởi vì họ phản bổn hườn nguyên rồi, họ đã tránh khỏi mình lâu rồi; mà mình đi tới mình đá đấm họ, ăn chung gì đâu? Đánh đâu có tới; sẽ thiệt thòi, chớ đâu có bắt được cái hồn họ! Thấy không? Cho nên, Jésus đã cho chúng ta thấy, đóng đinh giết Ngài mà Ngài không chết đó! Là Ngài đã phản bổn hườn nguyên rồi: Ngài đâu có cần cái chuyện thể xác tạm bợ, cho nên Ngài đâu có đau khổ (cười). Cho nên, người đời thấy cảm động, "Trời ơi! Ông này bị đóng đinh, mà tại sao Ông cũng chịu thôi?" Ông học thực hiện cái từ bi; nhưng mà ảnh hưởng tới mấy ngàn năm tới bây giờ; mọi người tưởng tới Ngài, mọi người thấy sự cảm động của phần hồn.

Cho nên, chúng ta thấy, những người tu đã khổ, đã khổ hạnh, đời cũng như đạo, khổ nạn nhiều lắm, bị tù tội để thử thách, bị đủ chuyện để thử thách, mới kêu bằng học hỏi! Học kinh vô tự, mà không cho thực hành, làm sao học được? Không bị người ta giày xéo, làm sao các bạn thấy sự tinh tấn là chánh (cười)? Cho nên, bài học chúng ta đâu có học chữ; học kinh vô tự mà! Phải thực hành; trong cái dốt mà khôn ở cái chỗ đó các bạn! Các bạn tu, các bạn khôn dữ lắm, khôn hơn những người biết chữ nữa! Nhiều người biết chữ họ chưa biết họ, bởi vì họ chỉ sống sự vá víu của chữ nghĩa của sách vở mà thôi; còn cái thực chất của họ, không bao giờ họ hiểu được.

PHẬT TỬ: Là, người ta nói rằng, “Tôi tu theo ông Phật, tôi là con của ông Phật.” Người ta đặt ra “phật tử” là vậy. “Tôi tu theo ông Phật là tu theo cái đường lối sáng suốt đó, tôi là con của ông Phật rồi.” Nói về trần gian, thế gian thôi. Ở bên trên không có cái đó; bên trên mà tu tới đắc đạo, không không gian, không thời gian, thì ai cũng như nấy, Phật nào cũng như Phật nấy. Phật là quân bình, bình đẳng, phát triển tự do trong thanh giới.

PHƯỚC ĐỨC: là thế nào? “Phước” là chúng ta có một cái thể xác đi đứng, ngồi nằm, thông minh; và chúng ta phải sử dụng sự sáng suốt của chúng ta để ảnh hưởng để giúp cho những người khác, và chúng ta không có vụ lợi; thấy không? Rồi nó mới tạo ra cái đức. Cho nên, Đức Thích Ca ngài có làm gì đâu, ngồi thiền; vậy mà người ta nói “Ông đó phước đức quá,” người ta kêu bằng, “Đức Thích Ca;” người ta nhìn nhận ông đó làm việc đó phải, “Anh hùng thế giới, dám gan bỏ cái cảnh sẵn có của mình, xa hoa, mình đi vô trong rừng tu với thú dữ. Chớ ông này ông có làm điều gì?” Nếu ông không ảnh hưởng được con thú là con thú nó giết ông rồi, con ma nó giết ông rồi, con quỷ nó giết ông rồi! Ổng ngồi trong cái rừng rậm đó mà ổng vẫn sống, vẫn trở về ông thuyết pháp cho chúng sanh, “Tứ đại giai không, quy nguyên hườn hư là chánh pháp;” thấy không?

Cái Đức là mười phương, cái chữ “Đức” là thiên địa, luồng điển bề trên, luồng điển ngũ hành hợp tác xương vũ trụ hấp thụ, mà mười phương Trời, bốn phương Phật nhất tâm nhìn nhận cái việc đó đúng, mới kêu bằng “Đức.” Chớ không phải tôi có tiền cho người ta là đức! Nói chuyện đó là áp phe đâu phải đức! Cái đức không phải vậy. Đức là sửa mình để ảnh hưởng cho họ và họ thức giác họ trở về với họ mới kêu bằng tạo được cái đức. Cái đức đó mình cũng chưa nhìn nhận đâu, cứ làm tới làm tới, như Đức Phật vậy; không có nhìn nhận đó là đức nhưng người khác dòm phân đó là đức. Các nơi các giới đều nhìn nhận cái việc làm đó là phải, anh hùng thật sự; nhìn nhận đó là anh hung: biết sửa mình là anh hùng, biết cách mạng bản thân là anh hùng. Còn cách mạng quần chúng là dễ quá, dung thế lực giết hại người ta; nhưng mà rốt cuộc giết hại được ai? Cách mạng quần chúng dễ hơn là cách mạng bản thân. Các bạn nhớ, thiếu gì cách mạng gia đã nói câu này. À.

Cho nên, cái phước đức á, thế gian không thấy; nhưng mà chỉ làm để đời. Mình hiểu mình nhiều chừng nào thì mình thấy rõ cái phước; rồi mình khai thông được mình, mình ảnh hưởng được người khác, lúc đó mới rõ cái đức. Còn không thực hành, không hiểu phước đức! Các bạn học chữ để chơi thôi! Tôi dám phê bình các bạn; học hết chữ để chơi mà thôi: vá víu nhưng mà không vô và không phát triển. Bởi vì các bạn không sử dụng sự sáng suốt của các bạn, làm sao các bạn thấy rõ cái ý nghĩa của văn tự? Cho nên, vẫn là bị kẹt; dù là có ăn học nhưng vẫn bị kẹt.

QUAN ÂM: nếu mà chúng ta tu được rồi chúng ta mới thấy rõ Ngài hơn: Chúng ta đạt sự sáng suốt thì chúng ta mới thực hiện từ bi giúp đỡ người khác; mà chúng ta đạt được sáng suốt, khi các bạn thiền, sáng suốt, các bạn dòm xuống thấy sự sai lầm của chính Bạn, Bạn mới sửa. À. Còn Quan Âm cũng vậy: Ngài được sáng suốt Ngài mới đi cứu độ. Mà trong lúc người nào mà ngộ được Quan Âm là người đau khổ vô cùng mới được ngộ Quan Âm.

QUÂN BÌNH TƯ TƯỞNG là gì? Như tôi đã nói rồi: thiện, trong thiện có ác, mà trong ác nó có thiện! Các bạn phải minh, “Trong sanh nó có tử, mà trong tử nó có sanh; trong có nó sẽ có cái không, mà trong không nó có cái có.” Mình người Việt Nam, thấy rõ: trong có nó không, nè: Hồi trước các bạn làm nhà cửa, tiền bạc. "Ôi! Dự trù tương lai tôi hưởng già." Không! Hết rồi. Rồi trong không nó lại có; ra đây nó lại có! Đó, thì các bạn học được cái bài có trong không, không trong có rồi. Thì tư tưởng các bạn là quân bình, chớ gì nữa! Mà đi tới thiền nữa, rồi giác nữa, là Phật chớ gì nữa! Quân bình thiền giác là Phật, chớ gì nữa; thấy không? À.

Rồi làm sao mà đạt tới quân bình thiền giác? Thì chỉ có công phu thôi: cứ Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định; là công phu đó là gì? Để trị bịnh mình; cái công phu này là trị bịnh và đem lại sức khỏe cho chính mình; chớ đâu có giúp được ai? Bạn cứ lo sửa mình thôi! Giúp bạn. Còn chuyện đời, kiếm ba đồng tiền, bạn thấy đồng tiền đâu nghĩa lý gì. “Ôi thôi, ai làm gì làm; nhưng mà cũng muốn khuyên họ để họ biết lấy họ, đừng để họ đi vùi sâu trong cảnh đau khổ, tội nghiệp.” Vì vậy mà chúng ta phí công nói đi, nói lại, nói hoài; nói đạo chúng ta thích nói, mà nói chuyện đời thấy nó mệt, bởi vì cái đó nó không cần thiết đối với tâm linh nữa. Người đạt tới tâm linh, đâu có cần thiết cái chuyện thương yêu tạm bợ thế gian? Chuyện tình dục, hao phí vô ích, người ta không muốn là vậy. Nhưng nói, “Thương yêu tạm bợ, anh anh, em em,” họ đâu có ưa! Họ nói về đạo, là để cứu rỗi cái cảnh đời đời. À.

QUY NGUYÊN: Quy không nguyên, đó là chúng ta phải quy về cái phần thanh điển nguyên lai từ hư không xuống, chúng ta mới quy nguyên.

SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC: đó. Cho nên, trong cái sắc nó có cái không, mà trong cái không nó có cái sắc; người đời đâu có thấy; thấy không? Khi mà bạn thấy được cái sắc rồi, bạn bị mê trong cái sắc đó, bạn đâu có thấy cái không. Mà cái sắc đó từ trong cái không ra: nếu mà không có hư không, đâu có tạo ra màu sắc? Nhưng mà người đời không hiểu, rồi nói lung tung, rồi cắt nghĩa không rõ. Nói “Cái màu sắc này chúng ta dòm thấy: hư không tạo ra hết!” Nhưng mà nó phải trở về trong không, rồi trong không nó sẽ có;” mới kêu bằng "Đời đời bất diệt."

SÁNG SUỐT: tôi đã cắt nghĩa rồi: nó hội tụ tất cả; là con người nó sáng suốt và hòa đồng với tất cả là con người nó mới sáng suốt. Cái sự sáng suốt các bạn bây giờ nói ra đây, và thấy, và nghe, đều là động; nhưng mà bên trong, ý thức cái việc đó, sau khi các bạn nói hay trước khi các bạn nói, đó là sáng suốt.

SÂN: cũng vậy.- Biết đó phải có cái bản chất đó mới làm được cái bàn đạp xuất phát đi lên.

SI MÊ: suy nghĩ về tiến hóa sẵn có của chúng ta ở nội tâm mà hướng thượng thì chúng ta phải tìm mãi, tìm mãi của chúng ta; chính sự sáng suốt đó ở trong ta có. (L1 mp3.1 - 33:16)

Còn cái SIÊU THƯỢNG THỪA: là chỉ có thanh điển xuất phát khỏi bộ đầu mới ý niệm được chữ siêu thượng thừa. Siêu là vượt khỏi sức hút của hồng trần; kêu bằng "siêu". Thượng thừa là xuất phát lên trên để thừa tiếp sự sáng suốt của bên trên mà hóa giải. “Vô thừa,” không cần dựa nương một cái gì, tự động nó có thể phát triển, kêu đại định giới, kêu bằng “Vô thừa.” Hạ thừa, Thượng thừa, Trung thừa nó cũng vậy. Bởi vì hạ thừa là bên dưới này: các bạn làm pháp luân thét rồi nó đâu có phải, cái điển này nó lên lên càng ngày nó phải thừa tiếp vô trung giới; rồi từ định giới nó làm nhiều khi các bạn tu tới đó buồn. Rồi tới đó một thời gian cái điển nó hòa cảm rồi nó thấy nhẹ; nhẹ nó phải đi lên. Nó lên bao nhiêu từng khu óc ở trong này, nó đi lên. Đó, cái hạ thừa nó mới thừa tiếp lên tới trung thừa. Rồi từ trung thừa nó mới thừa tiếp lên thượng thừa. Đó, thì nó rõ ràng: phải thấy, từ từ đi lên rồi thoát ra khỏi bản thể mới siêu thượng thừa. Mà từ siêu thượng thừa phải học, rồi mới tới đại định, vô thừa. Không thừa tiếp mấy cái đó nữa, tự động mà; mình sống yên rồi.

SINH TỬ: xuống thế gian đây sinh ra, trù trì trong cái cơ thể này để học hỏi. Rồi tử là cái gì? Cái bản thể này diệt thôi, chớ cái hồn không có diệt: nó bỏ trường ra đi thôi, để đi qua một cái trường khác thôi. Trong sanh có tử, mà trong tử có sanh, là vậy.

SỐNG ĐỒNG TỊCH ĐỒNG SÀN, CHẾT ĐỒNG QUAN ĐỒNG QÚACH: Đó! Là chỉ có hồn và vía mà thôi. Hỏi chớ, có vợ chồng, "Bây giờ mà Anh bỏ em thì em có nước chết !" Thì chết có một mình chết, chớ đâu phải ông chồng nhảy vô chết với mình đâu, hay con vợ nhảy vô chết với mình đâu? Phải không? Đó. Cho nên, hồn, vía mới sống đồng tịch đồng sang, chung nhau trong cái cảnh vui cảnh buồn; rồi chết đồng quan đồng quách, chung trong một cái hòm: Hồn vía chung trong một cái hòm; chớ còn vợ thế gian, chồng thế gian, đâu có ông bà nào mà chung trong một hòm chôn nhau đâu! Không có.

SỬA TÁNH LẬP HẠNH: thì chúng ta tu thiền đây là bắt đầu sửa tánh rồi. Hồi trước các bạn hung hăng đi đây đi đó, bây giờ các bạn ngồi thiền một tiếng hai tiếng rồi: các bạn bắt đầu sửa tánh rồi. Sửa tánh nó sáng suốt, rồi bạn mới lập hạnh thêm, đi cứu người, thấy muốn giúp người; thấy cái chuyện đời đó là giả, các bạn mới giúp đỡ người, các bạn không có tiếc của nữa. Lập hạnh và sửa tánh; mà sửa được tánh mới lập được hạnh! Thì cái tánh là nhờ cái tu thiền này nó mới sửa tánh được, nó kềm chế được cái tánh hung hăng ô trược; tiến hóa tới thanh nhẹ.

TAM BÀNH LỤC TẶC: Đó là ở trong bản thể mình, cái Tam Giới này nó ô trược thì nó sẽ bành trướng, rồi nó tạo cho cái Lục Tặc là Lục Căn ở trong đó nó thành ra động loạn, sanh ra cái tánh dữ dằn, muốn hơn thiên hạ; là sống trong “Tam bành lục tặc.”

TAM GÍAO TOÀ, thì dưới Thượng Đế có Tam Giáo Tòa để giáo dục và để cảnh cáo cái tinh, khí, thần của con người làm sai ở thế gian; vì tinh khí thần không biết điêu luyện, cho nên bắt buộc làm sai lầm; thì lúc đó Tam Giáo Tòa phải chuyển điển hay là cảnh cáo bằng hình thức này, hình thức kia, hình thức nọ. Giới trong đỉnh đầu cũng là tam giáo tòa đang xử một việc gì; người tu đang bị hành cũng là tam giáo tòa đang dìu dắt và cho nó tiến hóa. Đó là vì lịnh của Thượng Đế mà dạy dỗ và giáo dục cho nó.

TAM HUÊ TỤ ĐẢNH: Là ở trung tim bộ đầu Tinh, Khí, Thần mà sáng suốt lên rồi, trụ rồi, trụ đảnh trung tim bộ đầu, thì mới thấy được mình.

TAM MUỘI HOẢ: cũng là cái trược điển của tinh khí thần ở bên dưới phối hợp thành cái hỏa tam muội nó nóng, nó mạnh, nhờ cái đó con người mới có sức mạnh làm việc chống trả, đánh đập, đó. Trị tà, trị tà, đó là kêu tạo thành cái bàng môn tả đạo là do cái hỏa tam muội.

TAM THỂ PHẬT: Tinh, khí, thần hợp lại là Tam Thể Phật. Hợp lại nhất thể là Phật không động, vô danh chớ có gì đâu? “Thượng Đế Giảng Chơn Lý, Cha có nói Tam Thể Phật tương đương với Chúa ba ngôi bên Thiên Chúa giáo.” Cái đó là nói về phần ở trên. Còn nói bây giờ ít nhất căn bản là Tam Thể Phật, là tinh, khí, thần, có trụ được không? Tinh khí thần bất trụ mà đọc cái câu này còn lạc xa nữa, lâm vô trong mê tín! Hiểu chưa? Tam thể Phật là tinh, khí, thần; tam thể; trụ rồi mới thấy rõ; chỉ lo tu thôi mới là quan trọng.

TÂM ĐĂNG, HƯƠNG ĐĂNG: Tâm Đăng là gì? Đăng là gì? Đăng là sáng suốt mà cái tâm các bạn sáng suốt là cái người ta kêu bằng tâm đăng, người ta lấy danh từ để cho mình hiểu. Cái Hương Đăng cũng vậy là cũng cái sáng suốt. Mà các bạn vun bồi phải thắp thì nó mới có, còn không thắp làm sao có sang suốt phải làm, phải hành nó mới có. Còn tiểu thiên địa này bao gồm trong khối kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, ngũ tạng lục phủ, nó cũng như cái bầu trời thế giới, nó có trên có dưới, có thượng trung hạ đầy đủ.

TẦM ĐẠO: trong đau khổ thiếu thốn, khao khát sự công bằng, mới đi tìm gì? Đi tìm sự quân bình, kêu là Tầm Đạo. Cái

TÂM TÂM TƯƠNG ỨNG là sao? Xuất hồn rồi, cái hồn các bạn hết rồi, được điêu luyện sáng suốt rồi. Sự sáng suốt ngộ sự sáng suốt, rồi thì hóa giải những gì của các nơi, các giới nó cũng đi đồng nhất, tâm tâm tương ứng. Cho nên, cái sự sáng suốt của một vị Tiên mà ngộ một vị tu thiền ở đây á, thì tâm tâm nó tương ứng, rồi nó có thể chuyển tiếp lời nói từ ở trên đưa xuống; mà lời nói ở dưới này có thể chuyển tiếp lên trên; kêu bằng “Tâm tâm tương ứng.”

Còn cái TÂY DU KÝ, cũng như là Tôn Ngộ Không, Sa Tăng, hay Trư Bát Giới; đó là trong bản thể của mình ở đây thôi. Tam Tạng là về phần hồn, Tôn Ngộ Không là phần trí; thấy không? Trư Bát Giới là phần vía đó thôi; rồi cái Sa Tăng là cái ý, ác ý đó, tăm tối. Thì tất cả là những người tu thiền, nó mở rồi, nó mở rồi, rồi cái nó mới, “Bây giờ không biết làm sao mà để dìu dắt cho người tu?” Cho nên, đặt ra một cái truyện ly kỳ rất hay, mà khi các bạn xem “Tây Du Ký” rồi, các bạn thấy đưa hồn các bạn đi tới giai đoạn một. “Trời ơi! Ông Sa Tăng đang bị phỉnh, bị con gái nó cám dỗ, nè. Tui cũng vậy, bị con gái cám dỗ làm động; thì tôi phải mau mau niệm Phật. Cái trí tôi cứ chuyển lung tung, cái nào tôi cũng tò mò, cái nào tôi cũng muốn phá, cái nào tôi cũng muốn hơn. Đó là cái trí tui; thấy không? À! Rồi cái vía tôi thì mê man. Thấy không? Rồi cái ý tôi nó động loạn, nó muốn phá đầu này, phá đầu kia, phá đầu nọ nữa, nó cũng hùn vô cái chuyện hung hăng, cộng tác vô cái chuyện hung hăng.” Đó; rồi người phân ra cho cái Tây Du Ký, các bạn xem thứ tự của người hành đạo đã thành công rồi, và xét tất cả quy nguyên vô trong bản thể bạn, là nó có hết. Mà khi quy nguyên bản thể bạn, bạn chỉ cười, và sửa tánh; nó mở. Cho nên Tây Du Ký nhiều người mê lắm, đọc mê lắm. Ừ.

TẾ ĐỘ VONG NHÂN: Còn mình không có tu thiền, mình đâu có điển thiện lành mà tế độ vong nhân? “Cứ đem bánh, đem trái cúng nó, tế độ nó ăn?” không được. Mình tu, mình tập trung, mình phát tâm mình mới tế độ được. Còn không có phát tâm, không có tế độ được.

TỀ LUÂN HƯ CẢNH: Là ngay chỗ lỗ rún chúng ta, thấy không? Và “Tứ Hải quy gia,” khi các bạn thiền, làm Pháp Luân thanh nhẹ rồi, các bạn thấy cảnh này, cảnh kia, cảnh nọ, thấy cảnh biển, cảnh sông, này kia, kia nọ, “Tề luân hư cảnh” chớ không có thật cảnh! Tu tới hư không đại định mới kêu là thật cảnh: Mình là cảnh; đó mới là thật.

THẢ LỎNG BỘ ĐẦU: là chúng ta tu rồi, có điển rút, thì chúng ta thả; chúng ta giữ nó để làm gì? Trong mê có tỉnh; cứ việc thả lỏng. Khi các bạn nói chuyện, cũng thả lỏng; các bạn biết rằng có cõi trên; bắt các bạn từ ở trên xuống, các bạn cứ thả lỏng để đi về. Càng thuyết thì càng minh, càng thuyết thì càng sáng suốt; cứ thả lỏng, đừng có hãm trì trong con tâm đời và lý đời; thành ra các bạn cắt nghĩa cái gì cũng không được. Cứ thả lỏng để nó nói thao thao bất tuyệt, rồi mình là người học trước, chớ không phải là người đó học. Mình không có làm thầy ai hết, mình chỉ nói để học. Mình là người học trước; Thanh Quang Điển Lành, cái sự sáng suốt vô cùng thanh nhẹ của Thượng Đế chuyển hóa cho tâm linh con người; mà nếu người đó không có sự sáng suốt hỗ trợ cho nó thì nó không có bao giờ nói được về cái giới Thượng Đế; không có đặt điều nói được! Bây giờ Anh kêu một người mà không có tu, kêu nó đặt điều nói, diễn giải, mà viết ra những cái câu, những cái chữ như thế này, là nó viết không nổi! Biết đâu mà viết? Đạt thanh, sáng suốt, mà kêu bằng “tràn ngập tình thương;” đó là điển lành.

THAM: Không chịu hướng thượng, nếu mà tham hướng thượng thì thanh nhẹ, và tham tiến tới sự sáng suốt vô cùng ở bên trên, thì đâu có còn tham lặt vặt tại thế.

THẦN GIAO CÁCH CẢM: Cái thần giao là trong lúc thiền mà hai bên được biết với nhau, nhưng mà cách sự cảm giác của thể xác thôi; đó. Nhưng mà cái thần giao nó chỉ có một. Cho nên, nhiều người thiền với nhau, gặp nhau có gì nói đâu, “Tao lo tao tu, mày lo mày tu, thì có gì đâu nói?”

THẦN THÔNG là sự hiểu biết mình, thông suốt mọi sự việc; kêu bằng “Thần thông.”

THẤT TRÙNG HÀNG THỌ : có bảy loại cây trong bản thể mình, cái tánh chất. Cho nên, trong Kim Cang Kinh là nó khai triển cái thất trùng hàng thọ, và luôn cả thất trùng la võng; ở trong đó nó có cây, và nó có kim, và nó có mộc; nó khai thông bảy từng lớp, bảy lớp cây và bảy lớp gân, xương chúng ta đây; rồi gân bao bọc tiểu thiên địa này. Rồi càn khôn vũ trụ đó, nó có cái khí điển của ngũ hành, nó chuyển để nó hỗ trợ cho cái cây, nói ở bên ngoài. Còn bản thể chúng ta đây là có xương, có gân; mà chúng ta không khai thông, thì đâu có biết cái la võng là cái gì? “Võng” là đường gân; còn “Hàng thọ” là xương chúng ta đây.

THẾ GIAN VÔ NAN SỰ, BÁ NHẪN THÀNH KIM THỊ THÁI HOÀ: Ở thế gian có gì mà khó giải quyết đâu, mà nhiều khi các bạn càu nhàu? Thiếu thanh tịnh thôi. Các bạn thanh tịnh thì cái gì cũng giải quyết được. Các bạn học nhẫn và các bạn mới hiểu được cái luật sanh tử: cái việc nó sanh ra vậy, thì các bạn cứ nghĩ rằng, “Có sanh là có diệt; nó khởi ra việc đó, rồi nó sẽ tiêu;” chớ các bạn cần gì phải lo! Nó có chửi bạn, rốt cuộc rồi nó cũng huề! Các bạn lo sửa đi, đừng dành thì giờ để tranh chấp mà đau khổ. “Bá nhẫn thành kim thị thái hòa,” là học cái nhẫn, cái gì mình cũng phải đặt chữ nhẫn, rồi rồi nó cũng xong; mình tin tưởng, rồi nó cũng xong. “Thành kim” là thành cái giá trị. Lúc đó, chúng ta đâu có người thù trong tâm, mà đâu có người thù trước mắt nữa? Là “Thái bình” hòa hảo rồi.

THÍCH CA MÂU NI PHẬT: là thích, “Thích” là thích ca tụng; nói cho rõ, tiếng Việt Nam còn dễ cắt nghĩa hơn, là thích, “Tôi thích ca tụng cái đạo mầu mà tôi thực hiện, và tôi đã thấy ánh sáng hư không; một Thích Ca Mâu Ni.” Người thế gian dùng Thích Ca Mâu Ni để làm việc cho người? Sai rồi! Rồi lấy luôn cái “Thích” mà làm họ; càng sai nữa! Rồi đặt sự huyền diệu để lòe mắt phàm: lấy vải thưa che mắt thánh! Cái sự thật là, tu rồi, các bạn thích ca tụng cái đạo mầu, sửa để tiến tới vô cùng tận, kết tinh trở về cái thánh thai, mới đi về không không gian, không thời gian, phá chấp, phá mê, đạt tới cái Phật tánh.

THIÊN ĐÀNG là gì? Ở đâu? Ở trong tâm thôi. Cái tâm ta quân bình sáng suốt nhẹ nhàng, đó là thiên đàng, biết thương yêu cởi mở. Còn cái tâm chúng ta không chịu mở cái tâm đó, không bao giờ các bạn tới thiên đàng được đâu. Mà chính thiên đàng là cái tâm là chánh, cái khởi hành ở trong tâm. Nếu tâm các bạn không sửa, không quân bình, thì không bao giờ có thiên đàng.

THIỆN GÍAC: cái thiện lành trọn lành, thấy không? Cái phần hồn các bạn được quy tụ rồi, sáng suốt rồi mới hiểu biết sự sai lầm từ tiền kiếp, và sự sai lầm ngay ở kiếp thế gian này mình cũng nhìn nhận là sự sai lầm của chính mình, mới kêu bằng người thiện giác. Còn,

THIÊN MÔN ở trong bản thể trung tim bộ đầu cũng gọi là thiên môn, mà khai thông Thận Thủy cũng gọi là “Thiên môn” (mệnh môn). Ở trong đó nó có nhiều giới. Trong tiểu thiên địa nó có nhiều giới là cái cửa tiến lên trên hư không đại định. À! Trên đỉnh đầu xuất phát ra, và dưới trái cật cũng có là thiên môn, cũng mở ra được chớ. Bộ đầu, mà trái cật hư thì bộ đầu không có làm việc; ngơ ngơ ngáo ngáo, tâm thận bất hòa, đâu có làm được? Nhưng mà cái thận mạnh thì bộ óc nó mới khai thông.

THÓI QUEN: Là đặt ở trong cái “thích” nó mới tạo ra cái thói quen: “Tôi thích cái này, tôi thích cái kia, tôi thích cái nọ,” rồi nó quen. Còn chúng ta đi vô phá mê, phá chấp; không còn thói quen nữa, nới rộng; ở đâu cũng được, sống cách nào cũng được; không có chấp thiên hạ.

THỪA VÕ HOÁ VĂN: là chúng ta ở thế gian học ác trược: người nào cũng có ác trược, cũng có cái lòng bất chánh suy nghĩ đối với người khác; đó là ác trược. “Hóa văn” là khi đạt được luồng điển rồi, mới thực hiện nhẫn và từ bi; thấy không? Thì lúc đó viết văn khác nhau.

THƯƠNG AI HƠN HỌ, THƯƠNG MÌNH HƠN AI? Rốt cuộc các bạn thấy không? Mình nói mình đem tâm thương người đó, nhưng mà người đó, khi mà họ thức giác rồi, họ thấy họ phải thương họ nhiều hơn. Thì ngày nay, các bạn tu các bạn thương các bạn nhiều hơn. Các bạn lại yêu đời, thương cái thể xác này, thương cái tổ chức huyền vi của Trời Phật đã ban bố cho các bạn. Các bạn thương Thượng Đế nhiều lắm, thương đấng Cha lành nhiều lắm, thì các bạn thương lấy các bạn. Thì họ cũng, khi họ tu họ thức giác thì họ phải thương họ.

Thương mình hơn ai? Có ai thương mình bằng mình không? Vợ mình nó thương mình, nó nói đôi môi vậy thôi, tạm trong cái thức dục vậy thôi, chớ còn cái sự thật là mình phải thương mình nhiều hơn, mình phải lo tu, để lo dọn gánh mà đi, chớ giờ phút lâm chung vợ con có giúp được mình đâu? Cho nên, có cái câu “ Thương ai hơn họ mà thương mình hơn ai ?”.

TIÊN ĐỒNG, NGỌC NỮ: Là Hồn và Vía; đúng đắn, nó như vậy: xuống thế gian là Tiên đồng; vía là Ngọc nữ, là ở ngoài, mạo diện tươi đẹp, đó là ngọc nữ đó; mà nó nguyên căn từ ở trên là Tiên đồng, Ngọc nữ.

TIẾN HOÁ: là từ cái giới này; bởi vậy ngày nay chúng ta là người mà chúng ta không phát triển cái sự thanh cao, thì bữa sau luồng điển chúng ta không nhẹ; chết rồi thì nó chuyển vô trong cái cơ cái chỗ thấp hèn, con thú chẳng hạn; đâu có phải con thú là không biết nóng, biết lạnh? Con thú biết nóng biết lạnh; con thú biết thương yêu. Nó là một con người tự tiêu hao luồng điển nó càng ngày càng nhỏ, càng eo hẹp. Còn chúng ta vun bồi sáng suốt thì chúng ta đâu có phải lâm vào cảnh đó ở tương lai; thấy không?

TỊNH ĐỘ: Là các bạn đi tới chỗ thanh tịnh rồi, các bạn gởi tư tưởng thiện lành, mới độ giác cho thiên hạ được; phải có thanh tịnh mới đạt được.

Sự TIN, ĐỨC TIN: Phải thấy, phải thực hành, phải tự chứng nhiệm mới kêu bằng tin và đức tin. Còn bắt buộc người khác tin là phạm tội! Không có bắt buộc người ta. Người ta tin là người ta phải thực hành và người ta thấy rõ người ta mới tin. Còn bắt buộc người ta tin, đó là phạm tội; không thể bắt buộc; để cho người ta tiến hóa, không nên bắt buộc người ta được; tự người ta ý thức; bởi vì trình độ nó phải đi tới, nó đang học; nó không tu nhưng mà, nó không tu theo pháp nhưng mà nó vẫn tu. Nó làm con người là tu chứ. Nó có nhân đạo của nó mà. Cái

TÔI: Cái “Tôi” này, cái “Tôi” này nó hiện ra, cũng như là lấy một hình thức rất nhỏ mà để điều động và hóa giải đi tới cái sự sáng suốt. Nếu cái “Tôi” này là cái ngã, mà không có biết cái ngã này, làm sao khai thác cái ngã này? Rồi sau khi khai thác cái ngã này rồi, vô ngã: không còn “Tôi.” Mà từ cái “Tôi” là cái tăm tối này mà đi tới cái sáng suốt. Mà khi đi tới cái sáng suốt này là không tôi, là không còn tự ái nữa; thấy không? Người ta tu ở đây là, “Tôi tầm tôi: chính tôi thực hiện để tôi hiểu tôi, chớ tui không phải tu là để hiểu người khác; tu hiểu người khác là bàng môn tả đạo, làm thầy bói ăn tiền người ta, rồi mang tội thêm nữa. Còn tôi tầm đạo, là tôi hiểu tôi để tôi sửa tôi, tôi tiến hóa.”

TRIẾT LÝ THẾ GIAN: À; Cái triết lý thế gian là khác, triết lý thế gian là nó eo hẹp, nó giới hạn thôi: nó nói cho hợp cái lý để giúp cái công chuyện đó cho nó; chớ còn nó không có nói mà để cho người khác ý thức được họ và họ phải trở về với họ. Còn cái tu về điển, cái triết lý của điển, là cũng như miếng kiếng để rọi cho người ta thấy dơ chỗ nào thì tự chùi đó thôi. Còn cái triết lý của thế gian nó chỉ giới hạn; còn cái thanh điển nó vô giới hạn. Cho nên, nhiều người trí thức không phục những lời giải này, nhưng mà tu thiền rồi sẽ thấy: những người trí thức tự thấy và không biết nói sao cho người ta biết được.

TRUNG TÂM SINH LỰC CÀN KHÔN VŨ TRỤ: trung tâm sinh lực càn khôn vũ trụ là trung tim của chúng ta, bộ đầu đây. Bây giờ, nói bộ đầu các bạn có nhiều cái huyệt phía bên tay mặt, phía bên tay trái; hai đường gân giữa trung tim đó mà chuyển hóa hai bên này, mà nó đứt một bên là liệt một bên: đứt bên tả thì liệt bên hữu, mà đứt bên hữu thì liệt bên tả. Cho nên, nhiều người bị dư máu, đứt cái đó, thì thôi không có cách nào trị hết. Mà bây giờ chúng ta hướng về trung tâm, thì cái Bách Hội này nó trung tâm, mà hướng thẳng về sinh lực càn khôn vũ trụ, thì chúng ta được bố hóa, chúng ta được thông suốt, và chúng ta được sống với vạn linh dễ dãi hơn; bằng mọi trạng thái chúng ta thấy, rất dễ hòa hợp; chúng ta không có nghịch một ai, không bao giờ có thù, luôn luôn thêm bạn mà bớt thù.

TRUNG THIÊN, cõi trung thiên là gì? Ở đâu? Trung giới. Như đã cắt nghĩa hồi nãy rồi, trung thiên thế giới làm việc trung tâm sinh lực của cả càn khôn vũ trụ mà chỉ có tu mới đi tới đó chớ ngồi nói ai biết. Chỉ có tu mới đi tới. Trung giới cũng vậy, cũng là trung thiên thôi.

TỨ XA LỘ: của tiểu thiên địa là trong đó nó có bốn cái luân xa nhỏ ở dưới, ở phía dưới, à, mà trong đó là nó phân ra nó làm trong cái quả nặng, chỗ nặng không à. Trong đó để cũng như hành hạ những cái phần hồn mà chúng ta ăn con thú đò, này kia, kia nọ. Nó đem xuống và nó chuyển giải rồi nó thanh lọc cho nó thức giác lần lần, rồi nó đi lên. Cái bản thể chúng ta cũng có địa ngục vậy. Trong cái tứ xa lộ đó là để dạy, để phân ra thứ tự, để giáo dục tiến hóa.

TỨ TRỤ HOÀ PHÂN: Đó, là chúng ta, trong bản thể chúng ta, Đông, Nam, Tây, Bắc, đều có một vị đang trù trì và giữ cái thế sống cho tiểu thiên địa. Cho nên, Tứ trụ, nó phải có Tứ trụ; Hòa phân là nó giữ giải, tiến hóa cho cái cơ thể này được bảo vệ, cho phần hồn được tu. Tứ trụ này, nếu mà chúng ta tu thức giác rồi, thì chúng ta ngộ bốn đứa con ta, cũng là bốn vị tướng trong thể xác. Mà nói cho người phàm họ không hiểu và họ chấp, họ nói, “Anh nói bậy!” Thì chỉ thực hành mới thấy; chớ bây giờ không biết nói sau.

TỤNG KINH: Là các bạn Soi Hồn là các bạn tụng đó, cho những thần kinh nẻo hốc của bộ đầu nó khai triển ra, nó mở ra. Cái gì, “Tụng” là buộc các bạn vô; đọc kinh phải buộc không? Rồi các bạn Soi Hồn là bắt buộc nó phải khai thông. Ta tụng để hiểu lý; ở trong chùa là tụng để hiểu lý; mà cái này các bạn Soi Hồn, tụng để mở ra, là hiểu chơn lý.

Đó, đời là TUỒNG HÁT rõ ràng. Việc này Thượng Đế đã sắp người này đối diện người kia, người kia đối diện người nọ; người này theo người này, người kia theo người nọ, trong cái hỉ, nộ, ái, ố. Một tuồng hát, trong đó nó có tham, sân, si. Rồi coi thử kép nào hay, kép nào thông minh; thấy không? Cái người nào đóng tuồng xứng đáng, thực hiện như từ bi, thì cái căn nguyên người đó nhẹ; khi mà hát hết cái tuồng rồi, được chấm điểm. Bây giờ, chúng ta đang sống đây, đang làm tuồng nè; mà chúng ta làm tuồng hay, làm tuồng thực hiện tình thương và đạo đức, thì cái ngày chúng ta ra đi chúng ta được chấm, được chấm, được nhẹ hơn; thấy không? Được chấm điểm.

TỲ KHEO: (L4 mp3.2 - 1:26) là mỗi bộ phận tim, gan, tì, phế, thận là có người nhân viên làm việc. Mỗi bộ phận 250 vị thì tổng cộng 1250, nó đang theo các bạn. Các bạn theo ma, nó theo ma, các bạn theo Phật nó theo Phật. Bây giờ các bạn khai thông các bạn để các bạn hưởng cái chuyện đời đời, mà các bạn còn cố chấp hoài thì nó đâu có thấy mấy cái này, mà nghe cái chữ này các bạn còn ghét thêm nữa, là vì các bạn chưa có trình độ để thông cảm và hiểu. Đó,

VẬT CHẤT CÓ LINH ĐIỂN KHÔNG? Trong cuốn Thượng Đế Giảng Chơn Lý, Cha có dạy rằng “Con người là một tiến trình tiến hóa từ kim thạch, qua thảo mộc, qua cầm thú, và sau đó mới tiến đến làm kiếp người;” sự thật nó vậy. Cho nên, trước kia Đức Phật cũng nói rằng “Một hột cát mà cao cả càn khôn.” Nếu mình hiểu nguyên lý của hột cát, cũng như tôi giảng ở bên trên rồi các bạn nghe thêm và hiểu; ờ, thì nó phải đi từ giai đoạn một. Bây giờ chúng ta thấy hồi trước chúng ta dốt, chúng ta bước vào đời thôi, thì chúng ta phải học cái chữ “A” trước tiên; chớ gì? Ngày nay, chúng ta đặt ra câu chữ, là chúng ta nhờ biết được cái chữ A; thì chúng ta đã làm hột cát rồi; rồi lần lần nó đi tới cái này, cái kia, cái nọ, rồi mọi trạng thái nó biến thành một trí thức, thâu góp mọi trạng thái của sách vở của đời; thấy chưa? Còn chúng ta tiến về sự trí thức vô cùng của Thượng Đế, thì chúng ta phải học “Kinh vô tự,” là chúng ta phải hòa hợp với thật sự nguyên căn của mọi trạng thái, của kim thạch, của thảo mộc, của vạn linh.

VÍA: Còn cái vía, khi mà các bạn quyết định rồi thì tay, chân, phải làm; “Coi, hôm nay tui đi giặt áo;” có hai tiếng thôi, thì nó phải đi xe, ôm cái này, lựa cái kia, làm cái nọ! Đó là cái vía nó lệ thuộc của cái hồn, và cái sáng suốt. Cái áo, phơi rất khô, ủi rất đẹp, bận lên thấy hãnh diện, nhẹ nhàng; nhưng phải nhớ rằng ban đầu cái lịnh nó chỉ có, “Giặt áo,” thôi; nhưng mà nó phải biến ra bao nhiêu công chuyện, rồi nó thành tựu, cũng là trong caí sáng suốt. Thích! Thích cái áo này, bận vô. Rồi cái nghĩa rất đơn giản, rất tầm thường cho các bạn hiểu; không phải người truyền pháp mà phải nói những cái văn chương hay và vá víu lượm vô trong cái sự sáng suốt của người khác, về nói cái đó là “Tôi hay!” Không phải đâu. Phải ở trong cái thực tế, Hử? Cấp nào nghe cũng phải hiểu, phải rõ. Còn những phần tử còn vun bồi tự ái, tưởng mình hay hơn, thì người đó họ chỉ thua lỗ mà thôi, họ không tiến lên được. Cho nên, cắt nghĩa phải rõ ràng; đó là cái vía. Cái vía phải lệ thuộc để làm việc cho sự chủ định của phần hồn.

Cho nên, bản thể của các bạn cũng như quốc gia: có tổng thống, cũng có thủ tướng, cũng có nhân viên làm việc đầy đủ, vạn linh phối hợp thành ra một con người. Cho nên, chủ trương của các bạn vô cùng: ai ăn hiếp, ai động bạn một chút là bạn không chịu, ngủ cả đêm cũng ngủ không được: nghĩ cái cách trả thù! Eo hẹp! Còn đối với những người tri giác cao thượng, không có nghĩ việc đó! “Tội nghiệp cho những người đã đối xử với mình sai; và thương yêu cho một ngày kia họ thức giác, họ hiểu họ, họ mới hiểu mình! Mình phải dày công, và xin gởi điển thiện lành cứu độ cho họ, và thương yêu nhiều hơn, thay vì ghét người và hại người.” Bởi vì, một cơ thể của con người trong đó có hồn, có vía, sự quy định của Thượng Đế, gởi xuống đây làm việc; nó là một vị Thượng Đế; mình không nên nghĩ cái chuyện giết nó hay là hại nó. Nếu mình có cái óc giết nó hay là hại nó, là mình mang tội liền. Tôi nói, các bạn phải suy nghĩ, cái đó quan trọng nhất: Bạn muốn giết ai hay là hại ai, bán ai, là người có tội; chắc chắn như vậy! Còn bạn thương yêu cứu giúp, bạn mới giải thoát.

Những cái gương thế gian đây là dạy cho con người tiến hóa; mà phải nhớ rằng phần hồn của các bạn vô cùng tận, thì các bạn không nên tự giam hãm trong cái chỗ eo hẹp, trả thù, nhỏ mọn, ghen ghét! Không sử dụng trong người tu của Vô Vi được! Phải hết sức thương yêu và đi trước thiên hạ; đạt được cái sáng suốt đó phải hỗ trợ cho người đi sau; đó là phụng sự và nhiệm vụ của mình; hết sức thương yêu để cảm động lòng người, xây dựng trong chu trình tiến hóa, cộng tác và góp tay cho Thượng Đế trong chu trình tiến hóa sửa đổi quả địa cầu, sửa đổi cả càn khôn vũ trụ.

VÔ MINH: là tại không hiểu mình mà thôi; nếu hiểu mình, tu để hiểu mình, thì nó dẹp cái vô minh rồi; nó thuộc về minh; thấy không?

XẢ THÂN CẦU ĐẠO: là chúng ta phải tu, phải giải cái trược khí này, nó lưu thanh cái bản thể này, nó mới đi tới cái đạo pháp. Chớ không phải bỏ nhà ra đi, rồi xả thân cầu đạo! Cái đó trật rồi. “Xả thân cầu đạo” là xả những cái trược ô trong cái tiểu thiên địa này, và nó đi tới sự sáng suốt, nó mới rõ cái đạo; kêu bằng “Xả thân, cầu đạo.”

XÁ VỆ QUỐC là gì? Là chúng ta biến cái tiểu thiên địa động loạn này biến thành một cái Xá Vệ Quốc, là mình tự bảo vệ lấy mình để tiến hóa, không làm sự phiền hà cho một người khác.

Thế nào gọi là XUẤT HỒN? Khi chúng ta tu mỗi ngày, mỗi ngày khai triển chút, mỗi ngày khai triển chút; cho đến nỗi các bạn thấy có điển rồi, biết điển rồi, thì nó sẽ trụ. Mà sau khi trụ rồi các bạn nói, “Sao tôi tu hồi nào tới giờ tôi không thấy xuất hồn!” Mà một ngày đó các bạn thấy pháp luân từ ở trên kia dòm xuống thấy bản thể, thì lúc đó các bạn thấy “Tôi đã đi từ bao lâu, ngày nay tôi mới tới đây.” Cho nên, không cho các bạn thấy liền trong một lúc; nếu các bạn thấy liền trong một lúc, các bạn bỏ đời! Vì, cái nghiệp các bạn bạn phải gánh: nghiệp vợ con các bạn bạn phải gánh, các bạn lo giải quyết, không, vợ con, gia đình không hòa nhã, không tiến triển, làm sao các bạn tu được đạo pháp gì mà nói cho thiên hạ nghe? Bắt học, các bạn học có cái nhẫn đối với gia đình mà học không nổi, làm sao mà các bạn chịu nổi cái sự ở bên ngoài tấn công các bạn? Mà nếu các bạn đem cái pháp đi độ người ta, độ làm sao được? Cho nên, phải cho sự khắt khe các bạn, có nhiều sự khắt khe của gia cang; thì sự, các bạn mới thấy giá trị của sự thanh tịnh, mà để giải quyết những sự mà các bạn cho là nan giải. Dù các bạn học gì học, giỏi gì giỏi, nhưng mà cái chuyện gia đình là cái chuyện nan giải nhất; mà chỉ có tu hành trì mới cứu độ. Chớ nó cũng như là tứ quý vậy: mùa này cũng bịnh, mùa kia cũng bịnh; có gió, có sương là có bịnh, là có cái tật; mà bây giờ mình là người phải sửa cái tật trong gia đình cho nó đều hòa, nhiên hậu mình mới ảnh hưởng bên ngoài được là vậy. (L3 mp3.3 - 2:23)

Thế nào là XUẤT VÍA (1)? Chủ nhơn ông chịu tu, phần hồn chịu tu, thì cái vía rảnh: cũng như ông chồng ổng tu, ổng dễ dãi, thì bà vợ đơn giản cho ổng ăn ngày hai buổi cũng được, rồi bà cũng rảnh bà đi đây đi đó, bà cũng đi chơi được, cũng nhẹ hơn phần lo lắng. Còn nếu mà ông chồng cứ khắt khe đối với người vợ, hay là người vợ khắt khe đối với người chồng, thì cái vía đâu có rảnh? Thấy không? Chủ nhơn ông mà khắt khe thì cái vía đâu có rảnh; nó bị bận rộn, thì mặt mày của nó không có bao giờ tươi đẹp càng ngày càng già nua xấu xí. Còn người ta chịu tu thì cái phần hồn nó thức giác, thì cái vía nó nhẹ; cái vía là bề ngoài mà thôi; mặt mày nó tươi; vì chủ nhơn ông không có đòi hỏi sự bận rộn của bên ngoài nữa; nhưng mà chủ nhơn ông tự sửa để ảnh hưởng bên ngoài. Đó. Mà thế nào là XUẤT VÍA (2)? Cái hồn ổn định thì cái vía nó không có làm gì, nó rảnh, thì nó xuất; nó xuất là nó lo dọn đường cho cái hồn để đi lên, bởi vì ý chí của hồn là, “Tôi phải xuất khỏi bản thể!” Cái vía nó phải đi. Cho nên, nhiều khi các bạn ngồi hay nằm, thấy xuất ra, nó bay nó lộn ngược, lộn xuôi! Đó là cái vía nó đi chơi. Còn cái hồn là khác; cái hồn phải nghiêm trang, phải học hỏi; xuất ra đi ở trên cao, dòm lại thấy thể xác, và quyết định những cái gì đều là sáng suốt. Rồi tới Niết Bàn.

YÊU THƯƠNG: Khi mà các bạn không tu, không phát triển được cái tâm điển, làm sao mà các bạn yêu thương được? Trước khi các bạn yêu thương là các bạn phải phóng cái điển lành cho họ để cho tâm tư họ thức giác, họ biết họ là quý, họ trở về với họ; bạn mới thật sự yêu thương họ. Còn bạn ôm, hun, cái đó không phải yêu thương! Để độ cho họ hiểu họ kìa, mới là yêu thương. Mà muốn độ cái đó là mình phải tu, mình phải biết yêu thương mình, nhiên hậu mới ảnh hưởng cho người khác tự yêu thương nó; đó mới là chơn chánh.

(Trích từ băng giảng của Đức Thầy – Montreal 1980. Chép trong TBVV 99, 100, 101)


----
vovilibrary.net >>refresh...