[19840101L1]
VĂN TỰ VÔ VI – (theo vần ABC) - ÁI - THAM
AÍ: là khi mà phóng được lên rồi mới thức giác sau cái thức giác đó lại thương yêu tất cả. Chính sự sống của chúng ta không có xung quanh làm sao chúng ta sống. Mà không có bề trên chúng ta cũng không sống. Không có sự thanh nhẹ của cả càn khôn vũ trụ thì chúng ta cũng không sống được. Thấy không? Đó.
BẢN THÂN BẤT ĐỘ, HÀ THÂN ĐỘ: Đó. Bây giờ, con người ở thế gian chỉ dùng cái miệng, dùng cặp mắt, dùng cái bộ óc, được thu hút một phần nào đó thôi, rồi nói này, nói kia; nói, "Cứu người này, cứu người kia, cứu người nọ," nhưng mà chính nó, nó chưa biết cứu nó: (L1 mp3.3 – 00) ghen tương đầu này, ghen tương đầu kia, ghen tương đầu nọ; mà nó chưa hiểu, chưa biết, chưa ghen tương nó. Tại sao phải ghen tương nó? Là nó phải thấy rõ sự sai lầm của chính nó trước, sửa nó trước, hành triển, tiến tới sự vô cùng sẵn có của nó và sự sáng suốt sẵn có cho nó, thì nó mới biết được cái bản thân của nó. Nhưng mà bản thân ở thế gian, con người không chịu hiểu, không chịu độ lấy mình, rồi làm sao đi độ người khác? Chính ta không tu, không sửa, mà làm sao chúng ta đi sửa người khác? Cho nên, cái phương pháp của Vô Vi là phải tự hành để ảnh hưởng người khác. Cho nên, có câu, "Bản thân bất độ, hà thân độ?" Thân ta, ta không sửa, làm sao đi sửa người khác? Cho nên, chưa mình hiểu mình, chưa chịu ảnh hưởng lấy mình, lại đi dùng những cái lý luận vá víu, kinh sách, muốn đi độ người, mà chính mình chưa độ được mình! Rồi đâm ra chỉ đi nói dóc mà thôi.
Còn ở trong thực hành, tu tới đâu thấy tới đó; mà không phải rằng cầu cạnh người ta tới tìm mình; tự nhiên đến hỏi, thì lúc đó mình mới thố lộ tùy theo trình độ của đối phương; à, “Tôi trước kia như vậy, như vậy; bây giờ tôi đã sửa và tiến tới như vậy, đỡ một phần nào.” Cho người ta thấy; là mình đã độ được mình rồi, mình mới ảnh hưởng người khác, kêu là “Bản thân bất độ, hà thân độ?” Chính bản thân mình, mình không có độ, làm sao đi độ người khác được? Đó, cái tiểu thiên địa này quan trọng, mà không lo săn sóc; làm sao đi săn sóc người khác?
BÀNG MÔN TẢ ĐẠO: Bàng môn tả đạo là một hình thức nói ra những chuyện biểu diễn cái trí khôn của chính họ, rồi dùng cái trí khôn đó để khống chế tư tưởng người khác. Cái đó kêu bằng “Bàng môn tả đạo,” không phải là chơn pháp. Cái bàng môn này nó ở trong một cái nơi tâm tư của nó xuất phát ra một cái lề lối riêng biệt, và nó không có hòa đồng với những người khác; nó chỉ cho là cái pháp của nó là hay hơn hết và giỏi hơn hết, chẳng có ai sánh bì được. Nhưng mà nó chưa hiểu rõ rằng chơn lý là vô cùng tận. Cho nên, nó còn bị kẹt ở chỗ đó. Nhiều khi thấy biểu diễn rất hay, làm việc này việc nọ rất hay, bùa rất hay, dùng tà điển phát triển rất hay; mà với cặp mắt đời chớ không phải sự tri giác vô cùng. Nếu áp dụng sự tri giác vô cùng của người tu Thiền sáng suốt thì mới thấy rõ cái bàng môn tả đạo và đường lối đó, vì trình độ giới hạn thôi. Cho nên, những người tu cao người ta không có chấp, thành ra bàng môn tả đạo vẫn hoạt động; mà Thượng Đế cũng không có can thiệp; cũng vẫn hoạt động. Nhưng, trong thiên cơ trong càn khôn vũ trụ, phải có giờ giấc quy tụ để làm một cuộc khảo thí cho nhân sinh, để cho bàng môn tả đạo thức giác là chính cái đó là không chánh; rồi mới lần lượt trở về chơn giác, không động.
BÁT NHÃ: À; bát nhã; là người phàm nói, “Bát nhã," bị kẹt ở trong con tim, không hiểu bát nhã này ở đâu, "Làm sao lại có bát nhã?" Cũng là cái trung tim bộ đầu, mà Bồ Đề Tâm của chúng ta phát hiện rồi thì cái sự hướng chuyển, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, tám hướng, tám ngả xuất phát, chiếu diệu tất cả càn khôn vũ trụ, mới là được mở, hòa hợp với bát nhã của Bề Trên. "Trí Bát Nhã," là sự sáng suốt đã sẵn có để chiếu rõ mọi khía cạnh của cái sự chuyển hướng Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc về điển khí Thanh Quang.
BẤT MINH NGUYÊN LAI: Là không hiểu, không hiểu rõ được mình ở đâu đến đây, rồi sẽ về đâu? Kêu bằng, "Bất minh nguyên lai."
BIẾT: Sự “Biết”; Ở đời họ nói “Biết,” rất dễ, nói ở đôi môi, rất dễ, nhưng mà cái biết á nó phải cộng với sự sáng suốt ở bên trong. Mà cái hiểu biết của người đời á thì nó rất nông cạn: “Biết cái đó, biết cái hồn, biết cái hồn;” nhưng mà không biết nguyên lai của cái hồn! Còn biết về đạo á, phải biết về nguyên lai: từ đâu đến; mà làm ra bằng cách nào mới thành cái hồn? Bây giờ chúng ta thấy, cái ly chẳng hạn, cái người biết, nói, “Tôi biết cái ly này, thì cái ly này do cát tạo thành; mà cát do đâu có?” Đó. Cát do sự điêu luyện cả càn khôn vũ trụ, giữa nóng và lạnh, rồi nó mới kết tinh thành một hột cát; mà hột cát có thể chiếu diệu, nới rộng nó ra thì nguyên căn của nó cũng như cả một cái vũ trụ càn khôn: vì hột cát có thể biến, từ hột cát mà biến ra một thể chất qua những cái nung độ nóng cực độ, thì nó biến chảy thành nước. Mà nước rồi, nó kết tinh thành ra trong lành, miếng kiếng. Cho nên, cái ly do cát tạo thành; mà ai tạo; tự nó biến? Không được! Do sự đóng góp của nhơn sinh nhơn loại, một phần trí khôn của nhơn loại. Thì trí khôn của nhơn loại do đâu có? Trí khôn của nhơn loại do kết tinh sáng suốt của càn khôn vũ trụ.
Người tu nói rằng, "Thượng Đế đã ban trí khôn cho hành giả," rồi mới tìm ra thực chất của vật chất; rồi từ thực chất của vật chất mới biến chế thành ra sự khôn ngoan biến chế thành cái ly. Cái ly đựng nước, cái ly trong sạch, cái ly sáng suốt. Hồi đầu chúng ta xem hột cát, chúng ta biết đó là cát, nhưng mà không biết nguyên căn của hột cát. Nguyên căn của hột cát nó đã có sự sáng suốt từ lâu, cho nên nó biến chất và trở về nguyên chất của nó, là trong lành và sáng suốt. Cho nên, mình đổ một ly nước, mình dòm, thông suốt từ bên đây qua bên kia; thì cái phần trí điển của con người, xét vật thể, cũng vậy: có thể thông suốt từ bên này qua bên kia; mới kêu bằng, "Biết và hiểu biết." Đó.
Cho nên, người đời nói "Biết," chỉ có một khía cạnh nào thôi. Cho nên, nhiều người cũng nói, cũng xưng hô, cũng xưng “Đạo hạnh,” cũng xưng đủ thứ; cũng nói "Tui biết đạo, biết này, biết kia, biết đủ thứ;" nhưng mà tới hồi muốn thành đạo, muốn ngộ đạo, chưa sao đi đến được! Cũng xưng là biết! Cho nên, phải có hành trì thực triển, thực hành, để khai triển luồng thanh điển của chúng ta, để hòa hợp với thanh điển của càn khôn vũ trụ, nhiên hậu mới phản chiếu sự sáng suốt đó, mới kêu rằng, "Biết và hiểu."
BỈ NGẠN: Thì người ta nói phải có một con Sông Bỉ Ngạn! Mà ngay trung tim chơn mày chúng ta tu ở đây xuất phát ra rồi, thì chúng ta mới thấy rõ rằng cái Bỉ Ngạn nó phải có cái khởi điểm do đâu xuất phát ra, mới hòa hợp với Bỉ Ngạn ở Bên Trên; chỉ trung tim chân mày các bạn nó ê ê xuất phát đó, và nó đi tới cái thanh nhẹ sáng suốt, thì trong cái giờ thiền của các bạn, các bạn thấy ở bên này dòm qua bên kia rất rõ rệt: ở bên con sông này dòm qua của bên con sông kia rất rõ ràng; đứng đó mà biết bao nhiêu người thanh nhã ở bên kia ngoắc các bạn, rồi các bạn từ từ phát tâm từ bên này đi qua bên kia, không có khó khăn. Bằng đầu thì thấy rất khó khăn, "Làm sao tui có thể qua con sông này?" Nhưng mà, "Tui thanh nhẹ rồi, tôi thấy tôi qua được con sông." Cho nên, con người, trước trán đó, tu mở, nó có cái vòng ở trước trán đó, là nó bắt đầu trụ; rồi từ đó nó thanh nhẹ bước ra đi; rồi qua được cái bỉ ngạn. Từ cái khởi điểm ở trong cái thể xác con người, nếu muốn có cái khởi điểm để tiến tới Bỉ Ngạn, thì chúng ta tiến lên rồi, sẽ qua được cái con sông Bỉ Ngạn ở bên trên.
BỊNH: Cho nên, con người nó bịnh ở chỗ nào? Nó bịnh vì sự tri giác của nó cạn xợt: nó vun bồi cái tánh tham, sân, si trong chốc lát mà thôi; vì cái đó mới sanh ra cái bịnh. Còn nếu nó biết sử dụng tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục tới vô cùng, thì nó đâu có bị kẹt ở trong cái lề lối tham, sân, si, của người đời nữa? Thì cái tâm nó mới vị tha, tâm nó mới thực sự thương yêu và xây dựng cho chính nó và ảnh hưởng những người xung quanh. Thì tại sao những người thiền giác lại càng ngày lại càng thông minh và càng dễ dãi hơn; là sao? Nó hiểu nó, và nó vun bồi cái thực chất của nó tiến tới vô cùng, thì càng ngày càng sáng suốt hơn.
BỊNH: Bịnh là do tánh sanh. Cái tánh, trong đó nó có cái gì? Tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục. À! Vì cái tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục, mà bất minh; sanh ra gì? Sanh ra cái bịnh hoạn, không có mực thước. Con người nó Bịnh ở chỗ nào? Nó bịnh vì sự tri giác của nó cạn cợt. Nó vun bồi trong cái tham sân si hỷ nộ ái ố trong chốc lát mà thôi. Cái đó mới sanh ra cái bịnh.
BÒ BAY MÁY CỰA: Là chúng ta, ở từ cái rún sắp xuống là cái hạ thừa, trong đó chúng ta thâu thập những luồng trược điển: ăn hàng ngày nó trụ hóa nơi đó; nó có thứ yếu hèn, nó cục cựa sơ sơ, và làm việc trong cái phạm vi eo hẹp: như con vật các bạn đang ăn đây, cọng rau các bạn đang ăn đây, thì cái sự hóa hóa sanh sanh đó tiến hóa chậm trược; nó kêu bằng “Bò bay máy cựa,” ở bên trong của chúng ta. Nhưng mà làm sao thấy được “Bò bay máy cựa”? Là các bạn tu tới thanh tịnh rồi, thì các bạn thấy rằng cái ngũ tạng này, cái bộ đầu này, cái ngũ uẩn này là đại diện cho ngũ tạng, thì cái ngũ uẩn mà bộ đầu là bộ óc cái mỏ ác này là một, cặp mắt là hai, hai lỗ tai là ba, hai lỗ mũi là bốn, cái miệng là năm; năm bộ phận đó mà các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi, nó đi lên, thì cái ngũ tạng này nó chuyển hướng lên trên thành ra ngũ uẩn; trong cái “Ngũ uẩn giai không,” lúc đó các bạn mới dòm thấy “Bò bay máy cựa” trong cái thể xác, như cái Hạ Giới từ lỗ rún đi xuống. Khi mà các bạn nhắm mắt thì ở dưới nó chuyển, cựa từ chỗ nào thì các bạn thấy rõ. Cho nên, nói cái “Bò bay máy cựa” mà nói người tầm thường ở thế gian chưa có tu và chưa thức giác, không hiểu bò bay máy cựa là cái gì; cũng biết sơ sơ những ý đồ của con vật yếu hèn, vậy thôi; nhưng mà không biết nó nằm ở đâu. Cho nên, một khi mà các bạn tu, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển nó quan trọng lắm; Pháp Luân Thường Chuyển rồi, nó dẫn dắt từ từ, từ từ, từ từ, hạ thừa nó chuyển hết trong chín từng khu óc của hạ thừa; rồi nó lên tới trung thừa, nó dẫn dắt cái bò bay máy cựa đi lên. Đó. Cho nên, tánh con người thường thường hay sân si, và hay nghĩ những cái chuyện eo hẹp, không thể phát triển được, rồi nghi kỵ đủ thứ; đó là chỉ có ứng dụng trong cái tánh của, kêu bằng, “Bò bay máy cựa;” à; cái tánh đó là cái tánh rất yếu hèn, không tự giác. Cho nên, chúng ta tu lần lần mở, mở, mở lên rồi các bạn mới, một thời gian các bạn tu rồi các bạn cảm thấy mình không có trình độ gì! Rồi chừng nào mà các bạn tu khai thông hết bộ đầu rồi, thực hiện tới Bồ Đề Tâm rồi, thì lúc đó các bạn mới thấy giá trị vô cùng trong cái phương pháp công phu mà các bạn đã đạt được.
BỒ ĐỀ TÂM: "Bồ Đề bổn vô thụ;" xưa có câu, “Bồ Đề bổn vô thụ.” Tại sao nói “Bồ Đề;” thế gian người ta dùng cái cây bồ đề, trồng ra thành cái cây bồ đề, lá sum sê đó, mà tại sao nhiều kinh sách nói "Bồ đề bổn vô thụ," là bồ đề không có cây; là cái gì? Cho nên, chúng ta tu rồi, được thanh điển ở trên bộ đầu phóng lên, mới hiểu, mới hiểu cái chữ, "Bồ Đề bổn vô thụ," là cái thanh điển của chúng ta trụ trên bộ đầu, hòa cảm cả càn khôn vũ trụ, mới biết cái Bồ Đề là bổn vô thụ, không có cây, chỉ có Điển mà thôi! Cho nên, sự tri giác của người tu thiền mở thanh điển rồi, thì cái Bồ Đề Tâm là không còn nằm ở trong cái tâm như thế gian mà suy nghĩ với cái con tim ngay trung ương này; nhưng mà cái tâm của nó là đã thay đổi rồi, về cái thanh khí điển hòa hợp với thanh khí điển, rút bộ đầu, tròn vo, hòa hợp cả càn khôn vũ trụ; đó là cái Bồ Đề Tâm. Bồ Đề Tâm, khi ai động tới nó, nó hiểu liền; bất cứ một cái gì xẩy đến cho nó thì chỉ dụng Bồ Đề Tâm để suy xét; người ta đề nghị một chuyện gì xung quanh nó, hiểu liền, rõ rệt và phân giải; người đối phương nói chưa dứt lời là nó đã phát ra những lời chơn chánh phân giải rõ rệt; là "Bồ Đề Tâm."
BỒNG LAI: Là một nơi cảnh tươi đẹp và mọi vạn vật hình như một trí khôn vô cùng, đi đâu cũng có sự tươi đẹp chuyển giải, và thấy thông suốt, thì cái cây, cái lá đều ý thức trong chu trình tiến hóa của chính nó. Cho nên, cái người đi lên tới trên đó, đi tới cảnh bồng lai, cảnh Bồng Lai, tiên cảnh á, thấy hình như nó nhẹ nhàng vô cùng và mùi vị thơm tho, các vật đều tươi đẹp, màu sắc lộng lẫy. Đó cũng là trong cảnh giới của Tiên gia.
CAM LỒ: Cam Lồ là sự vận hành của Thủy Điển trong cái cơ thể; rồi nung nấu trong tinh, khí, thần; kết hợp chất tinh, trụ hóa trên bộ đầu, hòa hợp với sự thanh điển nung nấu của bề trên; cho nên, mới tạo ra cái nước miếng thơm, ngọt. Chỉ có người tu thiền mới có cái đó. Mà cái đó, khi mà đạt tới cái đó, thì những cái bịnh tầm thường trong cơ thể thì tự nó biến mất; kêu bằng “Cam lồ.” Thì trong kinh sách có nói, “Cam lồ,” nhưng mà không hiểu nó nằm ở đâu. Bây giờ, chúng ta tu thiền chúng ta mới thấy rõ: mỗi đêm các bạn làm Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, là các bạn đã nấu thuốc cho mình, cho chính mình. Cho nên, sau các bạn làm Pháp Luân đầy đủ rồi thì nước cam lồ nó quý hóa lắm; nước miếng ngọt, và rất khỏe khi chúng ta nuốt cái nước miếng đó; Tâm, Can, Tì, Phế, Thận nó thanh nhẹ.
CẤP CÔ ĐỘC VIÊN: Thì bây giờ các bạn đi đâu tìm cái cấp cô độc viên? Tưởng rằng ở bên ngoài, trong cái vườn nào? () Đó; thì Ông Tư cũng có giảng trong "Kinh A Di Đà." Thì, quy tụ, nó cũng ở trong bản thể của chúng ta mà thôi. Cái Cấp Cô Độc viên, mà nếu các bạn mà không có tu, các bạn đâu có thấy! Từ cấp giới, thanh lọc, thông suốt, rồi các bạn thấy một cái sự dành riêng cho phần Hồn, để phát triển vô cùng ở bên trong. Nếu không thiền không thấy rõ, tưởng là ngoại cảnh, tưởng là ở đâu? "Tôi đi tới đó, Cấp Cô Độc viên!" Chỉ có phần hồn đi trong bản thể, qua ngang chỗ cái đùm ruột ở phía sau đó, các bạn thấy rõ cái cảnh Cấp Cô Độc viên. Là chỉ có phần hồn tu thanh nhẹ mới thấy được. Chớ còn nói ra, nói đời rồi, có giảng cái gì bây giờ giảng cũng không thông! Mà nói này để cho các bạn thấy rõ là ở trong bản thể các bạn có chỗ, có nơi, có phong cảnh tươi đẹp; mà mất trật tự, làm sao có Cấp Cô Độc viên? Cho nên, người đời nó đã sống trong cảnh mất trật tự, vì ngoại cảnh, mà không hướng nội, thì tự nhiên nó mất trật tự. Rồi đây chúng ta hướng nội, chúng ta tu thét rồi chúng ta mới thấy rõ Cấp Cô Độc Viên nó nằm ở đâu. Ừ.
CHÁNH PHÁP: Là sự chơn chánh của phần Thanh Điển ly thân; Pháp khứ giả, mà cái thanh điển đó, khi các bạn ngồi, nằm, ngồi đó rồi các bạn nhắm mắt, các bạn thấy siêu siêu, nhẹ rút đi lên. Mà càng đi thậm thăng, càng thăng hoa, tâm hồn càng sung sướng, càng nhẹ nhàng; các bạn mới tin, thấy đó là chánh pháp. "Chánh Pháp" là gì? Do cái đường mình xuất phát ra, mà mình thấy rõ cái đường đó sẽ tiến triển tới vô cùng; mới là kêu bằng, "Chánh Pháp" hay là "Chơn Pháp."
CHO: Cái sự cho: cho, khi mà chúng ta muốn ban cho một người, một món gì cho thiên hạ là chúng ta phải có cái tâm để ban cho họ, cái món quà đó mới có giá trị. Còn người tu về Pháp Lý, cho cái gì? Các bạn có các bạn mới cho: các bạn Soi Hồn, các bạn Thiền Định, các bạn gây dựng được cái cơ sở thanh điển, lúc đó các bạn mới cho và ban bố, kêu bằng "Bố thí," cho người khác, gởi cái điển, thanh điển, cho người khác. Là các bạn ban cái điển lành cho, nhưng mà không bao giờ suy tính, không bao giờ nói rằng, "Ta ban cho người!" Không! Mình cho, không ai biết, vì cái đó mình chỉ biết mà thôi; mình có dư thì mình san sẻ. Cho nên, những người tu thanh tịnh, mở những lời nói dẫn giải rõ rệt để cho người có phàm tánh, thiếu tâm linh, hiểu rõ nguyên căn của họ và khả năng vô cùng tận của chính họ, để họ được cứu rỗi lấy họ, tự cứu rỗi lấy họ, đạt tới sự vui vẻ; kêu bằng, "Cứu khổ ban vui." Đó là cho. À. Họ tự ý thức thì họ cứu lấy họ được; mà cứu được rồi thì từ cái khổ đi tới cái vui, từ cái nặng đi tới cái nhẹ; cái cho đó mới là xứng đáng kêu bằng, "Cho."
CHƠN NGÃ (1): Là khi chúng ta ý thức được nguyên căn của mọi sự việc, là cái bản thể này, về tay chân cử động, không phải chánh; nhưng mà về phần Điển mới là chánh. Mà cái chơn ngã thì phải thanh nhẹ và sáng suốt ở bên trên, mới gọi là “Chơn ngã.” Còn nếu mà còn pha trộn cái phàm tâm, không còn chơn ngã đâu! Cái Chơn Ngã của nó ý thức riêng biệt của hành giả tự hiểu lấy thôi, chớ không có thể xưng hô với người khác là chơn ngã, nói "Ta đây là chơn ngã!" Không có. “Anh có chơn ngã thì Anh hiểu sự chơn ngã của Anh.” Bởi vì con người, phần hồn là vô cùng tận; mà trình độ nó đi tới đó, nó ý thức rồi; càng đi càng tiến, càng tới càng hiểu, càng minh, càng ngộ; lúc đó nó hiểu, "À, bây giờ tui mới thấy tui có chơn ngã, tui thấy Chơn Ngã là sự thật, thực chất của tui; thực chất của tui là vô cùng biến hóa, đụng tới đâu hiểu tới đó." À; đó. Còn, CHƠN NGÃ (2): Đó! Là sự sáng suốt; sự sáng suốt hòa hợp cả càn khôn vũ trụ, muôn loài vạn vật; mà cái trung tâm của mọi giới trong thể xác con người đều phát tâm thương yêu, thì không khác gì cái bóng đèn mà nó bật sáng ở trong bóng tối. Đó là kêu bằng chơn ngã. Rồi các bạn xuất hồn cũng chưa có chơn! Xuất hồn, các bạn phải học đi, học biến hóa, rồi học trụ. Lúc đó các bạn mới thấy là cái chơn ngã nằm ở chỗ nào.
CÔN LÔN SƠN: Cái Côn Lôn Sơn đó, các bạn phải xuất hồn mới đi tới chỗ Côn Lôn sơn, là để cho vạn linh có ý thức chịu tu mới tới đó hưởng cái thanh khí nhẹ của Trời Phật; rồi ngồi đó để lo tụng niệm và tiến hóa; nhưng mà nó chậm hơn những người có thể xác; bởi vì ở trong cái thể xác này nó cũng phải có một cái điểm tựa phát triển đi lên Côn Lôn Sơn. Cho nên, con người xuất hồn mới thấy rõ Côn Lôn Sơn nó nằm ở chỗ nào; nó nằm trên bộ đầu của chúng ta. Cho nên, các bạn đã có hình thù về, "Tiểu Thiên Địa," các bạn thấy, bao nhiêu cây cỏ, bao nhiêu cây cổ thụ lớn, đẹp, ở bên trên; thì lúc đó chúng ta mới thấy chúng ta có nơi sống, và chúng ta xuất ra thì chúng ta đi tới một cái đảnh núi nào đó, và tươi nhẹ, sống rất an nhàn, mà chỉ lo tu không, không có lo cái chuyện đời nữa; không có lo cái chuyện cứu độ, xin xỏ, như hồi xưa nữa; chỉ tới đó mà lo tu luyện. Cho nên, người con mà biết tu, cha mẹ sẽ được hưởng và sẽ được đi tới cảnh đó: sự liên hệ được hóa giải, rồi, do sự dày công của người tu, mới thấy rõ cái đó.
CÕI SỐNG: Cho nên, cõi sống là phải hiểu rõ cái cõi sống này. Phải có tâm linh cõi sống nó mới có ý nghĩa. Phải có tâm linh thì cõi sống nó mới phát triển; phải có tâm linh mới thấy rõ ràng sự sống đó là đời đời, mới thích sống. Còn người thế gian nói, "Tui sống, nếu tui không có cái này tôi không sống. Tui yêu Anh, mà không có Anh thì tui phải chết." Đó là yếu hèn, phàm ngã, chớ không ở trong cõi sống đâu. Nói, "Tui yêu người đó mà không có người đó, tui phải tự tử;" cái đó là yếu hèn, hoang phí của của Thiên Địa, của Trời đất, và hoang phí của những cái gì của nhân quần đóng góp cho mình! Rất hổ thẹn!
Cho nên, nhiều người đi tới phút cuối cùng tự sửa mình, và tự hạ mình, bỏ tất cả những cái gì mà mình cho là hay, là giỏi hơn thiên hạ, và được người khác ca tụng, và tưởng đâu là mình đúng; thì mình mất cái cõi sống! Mình chỉ sửa mình để tiến, để học hỏi, thì mình thấy cái cõi sống đó thật sự là cõi sống. "Vì tui chịu dẹp tự ái để tui học hỏi và tui tiến hóa, và những cái gì của tui có, tui cũng chưa có tin; tui phải sửa!" Đó. Cho nên, các cõi đó nó từ Hạ thừa, Trung thừa, Thượng thừa đều có cõi sống, rồi xuất phát đi tới vô cùng tận, cũng là cõi sống. Cho nên, các cõi đó đem lại niềm tin cho hành giả, và dẫn tiến hành giả; nếu hành giả chịu thực hiện và hướng về sáng suốt vô cùng, thì chỉ thấy rõ cái cõi sống đời đời nó có rõ ràng, trong nó và ngoài nó.
Còn những người còn vun bồi cái phàm tánh, sống trong cái ích kỷ eo hẹp, thì người đó đi trong Cõi Chết chớ không phải Cõi Sống. Dù cho có ăn học cách mấy đi nữa mà cái tâm tánh không sửa, không hiểu và không thanh tịnh, thì người đó đi vô trong cõi chết. Chúng ta thấy rõ: trong thành phố Hồ Chí Minh bây giờ: sau một cuộc giải phóng rồi, những người không tu thiền, cái mặt họ tự động xuống sắc, đau khổ, đòi tự tử. Hỏi chớ, họ ở trong những cái cõi gì? Cõi chết. Tại sao họ đòi tự tử? Vì sự kiến thức và sáng suốt về cái tâm linh không có nữa, không có nữa! Thành ra nó bị giới hạn mất rồi, rồi nó lúng túng; nó thấy, nghĩa là, ngoại cảnh uy hiếp, thì nó nghĩ tới chuyện chết không hà! Hai ba ngày nghĩ chuyện tự tử, nghĩ chuyện chết. Đó là yếu hèn. Chớ chúng ta có một bản thể, có một cái tiểu thiên địa đầy đủ quyền lực cũng như một Thượng Đế, và có quyền tiến tới sự vô cùng, không có một chế độ nào có thể khống chế chúng ta được. Đó.
Cho nên, những người tu thiền họ thấy họ sống, đang sống trong tâm linh, không phải sống về vật chất mà phải đau khổ. Cho nên, đi tới cái ngày giờ đau khổ, cũng như bây giờ chúng ta thấy Jésus Christ bị hành hạ, Ngài sống trong tâm linh nhưng mà vẫn tu; Thích Ca cũng vậy, tự giam thân vào trong những cõi hành hạ: ra ngoài rừng mà tu, phải tự hành hạ lấy mình mà không? Ngài đạt được sự siêu việt, và sống trong sự sống vô cùng. Thì những ảnh hưởng rất tốt. Mà cái quá trình ở đây, chúng ta là người Việt Nam, thấy rõ. Người có thiền, ở trong cái chỗ người ta cho là địa ngục của trần gian, ở Việt Nam; nhưng mà những người biết thiền họ đều sống vui; có gì đâu? Họ đâu có mất ông Trời? Họ đâu có mất thanh khí điển? Họ đâu có mất sự sáng suốt? Bởi vì, rốt cuộc, họ phải bỏ xác; họ phải "Đến đây với bàn tay không, rồi trở về với bàn tay không," thì phải vun bồi sự sáng suốt đó để hòa hợp với sự sáng suốt vô cùng. Thì ở đâu các bạn không hòa hợp được? Ở trong khám tù cũng có thể hòa hợp được. Đâu có phải, "Tôi có điền kiện, nhà cửa, có tiền bạc sung sướng, có chồng, có con, tôi mới tu được." Không! "Tui có thể xác là tui tu được rồi. Tui có nhiều sự kích động và phản động tui mới tiến hóa được! Thì tui thấy có một cái cõi sống đời đời." Đó.
Còn, CÚNG LẠY: Cúng lạy là sự cung kính để giáo dục lục căn lục trần trong bản thể của chúng ta. Con người hay tự cao, xưng, “Ta đây!” mà không hiểu “Ta” là ai. Cho nên, có cái cúng; cái chữ "Cúng," á, nó phải cúi xuống và cung kính thành tâm quỳ lạy, chịu xả cái trược, sự ngu muội của chúng ta, phân giải cái sự ngu muội, mà để thu sự sáng suốt của người sáng suốt hơn chúng ta, là Bề Trên, siêu nhiên, "Trong không mà có." Cho nên, cái cúng lạy á, ý nghĩa rất đầy đủ, nhưng mà người đời không hiểu, sắp bàn đó, rồi cũng như cho người ta ăn, rồi quỳ xuống cúng lạy, vậy thôi. Không biết ý nghĩa của cúng, thì cúng cũng vô ích. Chúng ta cúng là để dẹp tự ái; mà dẹp được tự ái á thì mới có sáng suốt. Người tu mà còn tự ái, không có sáng suốt. Dẹp tự ái mới hướng về thanh nhẹ, thì kẻ hung nó hóa hiền. Thì lẽ xưa người ta để cái sự cúng lạy đó, hồi xưa; để tập gì? Tập những người kêu bằng ác ôn, không hiểu, không có tâm linh, chậm tiến, mới chỉ độ cho nó cúng lạy, làm hình nộm cho to để cho nó có vẻ sợ và nó cúng lạy. Khi nó cúng lạy, nó thấy được cứu rỗi; cứu rỗi ở chỗ nào? Là nó quỳ xuống lạy cái phần trược điển ngu muội của nó được giải tỏa ra, thì thanh điển cứu độ nó; cho nên, nó cảm thấy, khi nó lạy rồi, nó nhẹ. Đó là đối với những phần tâm linh yếu hèn; còn những phần mà tâm linh thanh nhẹ, không dùng cúng lạy tại thế; nhưng mà thật sự phần hồn phải có lễ nghi gấp triệu lần ở thế gian.
Còn, CỨU ĐỘ: Nếu chúng ta cứu, muốn cứu một người khác, mà chúng ta không biết cứu ta, thì cứu người khác cũng vô ích; cứu không nổi, vì không hiểu rõ. Nếu mà chúng ta là người tu chúng ta biết tự cứu mình! Đó, bây giờ như các bạn ở đây tu về Pháp Lý: Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định là tự cứu mình, trở lại sự thanh tịnh, khứ trược lưu thanh, nhiên hậu mới độ cho phần hồn tiến hóa; kêu bằng "Cứu độ." À! Cho nên phải tự mình cứu mình, rồi độ tới phần hồn tiến hóa, mới ảnh hưởng người khác. Chớ không phải là kêu các bạn lấy cái gì mà đi cứu người ta được? Bởi vì, "Bản thân bất độ, hà thân độ," mình không cứu độ được mình, làm sao cứu độ người khác? Cho nên, phải, ông Trời đã cho chúng ta ngụ trong cái tiểu thiên địa, cho cái phần hồn ngụ trong tiểu thiên địa rất phức tạp, mà rất tinh vi; trách nhiệm rất nặng, mà không biết cứu lấy mình là không biết tu, thì làm sao mà độ cho phần hồn tiến được? Cho nên, phải sửa chữa đâu đó cho nó có trật tự hòa hợp với càn khôn vũ trụ, nhiên hậu mới độ mình và ảnh hưởng người khác. Đó kêu bằng, "Cứu độ."
CỬU KHIẾU: nó từ sự xuất phát của trung tâm bộ đầu, và ngay cái phía sau cổ đó, thông suốt đi lên, các bạn xuất ra, mới thấy rõ cửu khiếu nó ở trong chín từng; mà trong đó, từ tối đi tới sáng, xuất phát ra. Chỉ có người tu thanh nhẹ, cái phần hồn đi lên trên đó, kêu bằng khỏi, khi bước vô đó; cái Cửu khiếu này là nó cũng ở trong Cửu trùng đài mà ra, cũng chín giới đó. Cho nên, cái này phải có thực hành kìa mới thấy; còn nếu không thực hành, không sao mà các bạn thấy cái này được. Đó! Cái cửu khiếu này nó cũng do cái chín từng mà tôi nói đó, cái chuyển khu óc hạ, trung, thượng, ba chín hai mươi bảy; rồi nó mới kết tinh bên trên, lúc đó nó mới có cửu khiếu; từ nơi đó các bạn xuất ra mới thấy rõ. Thì cửu trùng đài trong cái tiểu thiên địa này cũng cái tham thôi, cửu trùng đài. Thì Cửu trùng đài, ba giới cũng đều có, cũng hạ, trung, thượng, nó cũng phải có; mà có chỗ nó không quy tụ thanh nhã đẹp là nó còn động loạn, trong cái hạ giới, rồi trung giới. Tới thượng giới các bạn mới thấy rõ cái tháp cửu trùng, chín tầng, đó, ở trong cái tiểu thiên địa, trong bản thể của mình. Nhưng mà cái này, ráng tu cho thanh nhẹ thì tự nhiên nó ở đó chứ không đâu.
ĐẠI ÂN XÁ KỲ BA: Là kỳ này, kỳ mạt kiếp, để cho mọi người, khắp cả thế giới, được học cái bài Sanh, Ly, Tử, Biệt. Mà chính Việt Nam là đứng hàng đầu để thực hiện cái bài vở cho càn khôn vũ trụ. Thì Thượng Đế đã sắp đặt những cái bài vở khó khăn như vậy thì luôn luôn phải có hỗ trợ, phải có luồng thanh điển, phải có chư vị sắp đặt làm việc; và những người đó đã vượt qua Kỳ Một, Kỳ Hai, của sự sửa đổi cả càn khôn vũ trụ. Đó. Cho nên, Kỳ Một là con người sanh ra, không có sự phức tạp như bây giờ; sống rất đơn giản, nó sống rừng sống suối, nó cũng sống; Kỳ Một, nó không có ngán và không có sợ. Đó, Rồi tới cái Kỳ Hai, nó cũng có sự tiến hóa hơn, văn minh hơn Kỳ Một, là nói về vật chất. Rồi tới Kỳ Ba này, nó lại văn minh hơn nữa! Bây giờ các bạn thấy đứa con nít bây giờ, khôn hơn con nít hồi xưa. Các bạn thấy chúng đi được Kỳ Một, nó chuyển kiếp phần hồn. Thì phần hồn kỳ này con nít nó khôn; có đứa mười mấy tuổi nó nói chuyện như người lớn, rất thông minh. Mà cái khôn ngoan con người lại có cái xảo trá! Cho nên cái sự xảo trá đó nó sẽ đi tới sai lầm và tiêu diệt tất cả phần hồn. Cho nên, Thượng Đế phải chặn lại, và để giáo dục và ân xá Kỳ Ba, khuyến khích con người phải hiểu Nhân đạo, rồi mới tiến tới Thiên đạo. Cho nên, nhân đạo thì Thượng Đế đã cho vật chất đầy đủ: chế độ tự do có đầy đủ vật chất; mà nếu còn sai lầm, thì bị gì? Bị một cơn khủng hoảng về tâm linh, rồi nhiên hậu mới trở về cái ý thức của chính mình mà hiểu rõ Thượng Đế hơn.
Mà chúng ta qua quá trình ở Việt Nam chúng ta cũng đầy đủ tự do, đầy đủ vật chất; nhưng mà quá tham lam! Thượng Đế cho nó một bài học! Thành ra bây giờ mọi người thấy rõ rồi, giải nghiệp rồi. Không nhờ sự tham lam của chính mình, bây giờ đâu có thức giác, bây giờ đâu có thấy sự thương yêu là quan trọng? Mỗi một người Việt Nam bỏ xứ sở quê hương, có nói dóc, nói này, nói kia, nói nọ, nhưng cũng nghĩ đất nước, cũng nghĩ quê hương, cũng nghĩ chuyện thương yêu, muốn giúp đỡ những người như chính mình, những người đau khổ. Đó là gì? Học hàn gắn sự thương yêu. Mà thật sự phát tâm! Cho nên, nhiều bạn ra đây, đi làm không có bao nhiêu tiền, mà bắt được một cái thơ bên nhà nói thiếu này, thiếu kia, thiếu nọ, cũng chạy đùng đùng mua Đông, mua Tây, mua chút đỉnh rồi gởi tuốt về bên Việt Nam: "Mình nhịn ăn đi, nhịn bớt đi để cho người khác, trong cơn đau khổ." Đó là gì? Các bạn đang thực hiện cái bài học thương yêu; mà phải phát tâm, thực hiện mới được.
Hỏi, cái bài học của Thượng Đế an bài có quý không? Mà nếu chúng ta chịu tu và chúng ta ý thức được, thì có phải ân xá không; phải Thượng Đế ân xá không? Cho chúng ta có cơ hội để tiến triển về tâm linh; không dùng vật chất lôi cuốn chúng ta làm điều sái quấy nữa. Thì lúc đó các bạn mới thấy rằng Hồng Ân của Thượng Đế nằm ở chỗ nào.
Có cắt nghĩa ra thì mới có hiểu, còn nếu không cắt nghĩa thì không bao giờ hiểu. Cái gì là “Hồng ân của Thượng Đế? Thượng Đế là ai? Cái thằng Thượng Đế, cái mặt nó ra làm sao mà mình khen bằng ‘Thượng Đế’?” Thằng Thượng Đế đó là chính là phần hồn của bạn, ở ngay trong trung tim, đang quản lý bộ đầu, đang quản lý con tim tới các ngón chân của các bạn, và trách nhiệm với càn khôn vũ trụ. Thì cái Tiểu Thiên Địa này, ai làm vua? Thì phần hồn Bạn làm vua, là Thượng Đế của tiểu thiên địa. Rồi các bạn tu lên, xuất phát đi lên để hòa hợp với Đại Hồn thì lúc đó, giờ phút khắc nào các bạn cũng sống với Thượng Đế, sống trong thương yêu! Thì các bạn được đổi tánh hẳn: thương vợ vô cùng; thương con vô cùng! Khi các bạn ý thức được bạn là Thượng Đế, thì vợ bạn cũng Thượng Đế và con bạn cũng Thượng Đế! Mà ý thức bạn là Phật thì con bạn cũng là Phật, vợ bạn cũng là Phật! Thực hiện sự thương yêu vô cùng rõ rệt.
ĐẠO TÂM: Đó. Khi thực hiện thương yêu vô cùng thì các bạn đi trong cái quân bình rồi. Thiện, ác, các bạn minh rồi, nó mới có cái đạo. Trong cái thiện, có ác; trong ác, có thiện. Các bạn minh rồi thì cái luồng thanh điển nơi trung tim bộ đầu xuất phát ra, nó hòa cảm cả càn khôn vũ trụ. Lúc đó các bạn mới có cái Đạo tâm, cứu độ người, dẫn giải cho người ta hiểu. Mình biết ăn được bát cơm đươc ngày nay của Thượng Đế, là ngọc điển của Thượng Đế, thì mình phải tu để hòa hợp với thanh điển, rồi mình mới đóng góp cho cả càn khôn vũ trụ, không vụ lợi cá nhân, hành trì sáng suốt để trao đổi cho những người còn yếu hèn, cho họ tiến hóa.
À, còn, ĐAU KHỔ: Cái đau khổ mà người phàm thường than ván là đau khổ; còn người đạo á, luôn luôn sống trong đau khổ để tìm chơn lý: Chúa trong đau khổ, Phật trong đau khổ, Quan Thế Âm trong đau khổ mới có Ngài. Còn người thế gian, đau khổ là than, cầu xin Trời Phật. Là vì sao? Vì tham! Vì lòng tham bành trướng ra chừng nào thì cảm thấy sự đau khổ. Mà lòng tham tiêu diệt rồi thì chẳng còn đau khổ. Cho nên, người tu thu hẹp phạm vi, không còn tham lam, kể cả sự ăn uống, không có cái vấn đề thích ăn, nhưng mà ăn là để cứu độ vạn linh hòa hợp nhứt thể, để khai triển lên hòa đồng với càn khôn vũ trụ: con thú, con vật, cái rau, cái cỏ, nó cũng muốn cầu tiến. Mà cầu tiến ở đâu? Nó phải qua cái tiểu thiên địa này nó mới có cơ hội tiến hóa. Cho nên, khi mình có ý thức mình ăn rằng mình ăn là có trách nhiệm, mình thấy đó là đau khổ, đó là sự đau khổ. Sau cái khổ là gì? Là cái sướng: được chuyển hóa trong tiểu thiên địa này. Và chúng ta là người tu pháp lý Vô Vi, chúng ta phải hành trì hóa giải cho chúng nó đồng tiến như chủ nhơn ông trong hạnh ngộ để hiểu cái chơn giác của bề trên. Thì sau cái đau khổ này, nó đi tới cái gì? Sung sướng đời đời vô tận. Còn người phàm ở thế gian, chỉ có cái tham thôi mà than khổ; còn đạo á, phải đi trong khổ mới là đạt được sự vĩnh cửu đời đời. Cho nên, các bạn tu gặp tai nạn? Cái chuyện thường tình, không nghĩa lý gì. Chúa còn bị nạn, Phật còn bị nạn, mới lưu danh tại thế, mới có cơ hội tiến hóa. Đó.
Còn, vấn đề ĐẦU THAI: Phần hồn chúng ta là một điểm linh quang, phân ly bởi Thượng Đế, giáng sanh thế gian. Thì khi đầu thai thì thành thai noãn; đó là bề trên đã quyết định rồi, bởi vì cái phần đó, sau sự ân ái giữa cha mẹ, và phối hợp với thời gian của càn khôn vũ trụ, di chuyển và cấu tạo thành một cái cơ thai. Cho nên, nó ở cái từng số nào, điển quang nào, đã quy định hết; cho nên những phần hồn nào sẽ nhập vô đó cũng như vào cái lớp học. Cho nên, cái người phá thai là sẽ bị tội! Cái thai là một cái trường học để cho phần hồn tiến hóa. Cho nên, chúng ta không nên phá thai khi nó đã thành tựu rồi; không nên; nó thành hình tượng rồi, không nên phá thai. Nếu mà phá thai, đó là gây tội lỗi, ác nghiệp. Bởi vì chúng ta đã có một cơ cấu để học hỏi, tại sao chúng ta không cho những phần hồn khác được có một cơ cấu để học hỏi? Chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm xây dựng của Thượng Đế, càn khôn vũ trụ? Đó là chúng ta có lỗi. Cho nên, các bạn phải hiểu rõ: khi đã thành thai, phải cố gắng học cái bài đó để tiến tới; không nên phá thai. Hử? Còn không, thì chúng ta phải ngừa khi có thai, vì sự quyết định của bề trên nó phối hợp cả càn khôn vũ trụ, quyết định của Thượng Đế, của tình thương, của Mẹ tình thương cả thế giới: xây dựng một cái cơ cấu cho một linh căn xuống đây học hỏi.
ĐỊA NGỤC: Địa ngục là gì? Ở đâu? À! Muốn hiểu địa ngục là gì, ở đâu? Thiên đàng cũng do tâm mà địa ngục cũng do tâm, ở nơi tâm của các bạn mà thôi. Nếu cái tâm của các bạn hướng về chơn tâm thanh điển sáng suốt thì các bạn thấy ở Thiên đàng rõ ràng. Mà nếu cái tâm các bạn tăm tối, đấu tranh, muốn hơn thiên hạ, thì lần lần các bạn giáng xuống địa ngục, bực bội trong mình; luồng điển đó, tâm linh đó bị hạ, bị hạ cấp, hạ tầng công tác: cũng làm việc về đời, về cái tánh chất sân si, buồn hận; đó là địa ngục. Cho nên địa ngục trần gian mà chúng ta đã thoát ra khỏi, thấy rõ: so đo từ chút từ li, nhỏ mọn từ chút, eo hẹp từ chút, không có quảng đại. Mà địa ngục là gì? Trừng trị; là nơi trừng trị. Chớ nếu phần hồn mà chết rồi, xuống địa ngục, là đi vô trong cái chỗ trừng trị, bị trừng trị, không còn giáo dục bằng lý lời khuyên giải, cũng như được nghe qua những lời của chư Phật! Chỉ bị trừng trị, giam hãm, giày xéo từ li từ tí để cho phần hồn nó thức giác. Chỉ ở cái chỗ trừng trị mà thôi, chỗ đó tăm tối vô cùng.
Bây giờ, con người của chúng ta, chúng ta dòm những người bảo đảm là nó phải xuống địa ngục, các bạn dòm thần sắc của nó và ngôn ngữ của nó, đều là sai trái mà không hay! Tâm linh mất hẳn, tranh đấu hơn thua với thiên hạ; rồi nó tưởng nó là hay, nó tự giam nó, nó bị kẹt ở trong cái thế tối tăm, không thoát, buồn tủi. Đó; đòi tự tử! Cái đó là đi xuống địa ngục. Cho nên, ông Trời đã cho nó một cơ thể tự động phát triển vô cùng mà nó không biết, thì nó phải giam nó rồi. Thì giam ở đâu? Giam trong địa ngục. Ngay nó còn sống đây, cái phần điển không có nữa. Nó không còn tâm linh. Nó nghĩ một câu nào cũng là eo hẹp trong ghen ghét, buồn tủi, hờn giận; thấy rõ ràng. Nó không có ngoại cảnh thì nó không có sống được; là nó mất tâm linh; còn nếu nó hướng về tâm linh nó, nó thấy, “Tôi phải sống với tôi nhiều hơn?” thì nó được giải thoát, giải thoát, đâu có còn địa ngục? Mà nếu nó cứ, “Không có ngoại cảnh thì tôi chết, không có tiền tôi chết, không có tình yêu tôi chết.” Cái đó là nó đi xuống địa ngục rồi, tâm linh đâu có, sự sáng suốt không có, phải xuống sự tối tăm; tối tăm, không có bàn bạc nữa; tối tăm, chỉ có trừng trị nó mới tiến hóa. Cho nên, địa ngục là chỗ trừng trị mà thôi.
DIÊN HỐNG: Nói chữ "Diên Hống," ở thế gian làm sao hiểu được? Chỉ người thiền giác mới thấy rõ: khai thông cái Thận Thủy thì cái Hỏa Hầu nó mới xuất phát đưa lên trên bộ đầu; rồi nó phóng quang ra mới thấy rõ cái Diên Hống. Nhiều khi các bạn thiền trong mê, ngồi thiền mấy tiếng đồng hồ, thấy cái sáng lạ thường! Đó là cái Diên Hống xuất phát.
Nhưng mà người không thiền, làm sao cắt nghĩa Diên Hống cho người ta thấy? Cho nên, nhiều người họ chê, "Thằng đó tu ngu; ngồi hoài cả đêm, để làm gì?" Bởi người ấy thấy cái đó, nó sung sướng. Mà cái đó đem lại sự thanh nhẹ trong cơ tạng của nó và lập lại sự bình an cho nội tâm, nó mới ngồi thiền. Chớ nó cũng một phần trí thức, cũng phần ăn học, cũng biết khôn, biết so đo, biết suy tính, nó không phải ngu muội.
Cho nên, những cái danh từ này mà đi nói với những người thường thì không ai hiểu nổi; mà phải nói với những người, kêu bằng, thực hành. Mà nói cũng không được! Tâm thức nó mở rồi tới lúc đó nó tu rồi nó mở, tới đó nó mới hiểu cái này, nó hiểu cái danh từ đó. Cho nên bề trên cũng không biết lấy cái gì để diễn tả, mà chỉ dụng sự sáng suốt để độ cho người mà thôi.
Còn, ĐỘNG LOẠN (1): Là mình chỉ tự giới hạn lấy mình và thu hút ngoại cảnh, sát nhập vô trong cái ngũ tạng ngũ kinh chúng ta, rồi làm cho nó rối loạn, nó biến tới động loạn. Thì, trong đó, bằng đầu mình thích, thích ghê lắm: thích yêu, thích tiền bạc, thích của cải, thích làm giầu. Sau cái thích đó, mật thiết rồi, nó mới phản! Nó phản lại thì trở nên động. À. Trước kia, hai người chưa thương yêu, thích lắm, mỗi ngày không gặp mặt thì buồn; nhưng mà thương yêu, ở chung với nhau, cọ sát rồi, nó lại động loạn, gây gổ. Cái gì mà bên ngoài chúng ta thâu thập vô nhiều, và chúng ta không có cách giải quyết, sửa chữa; đối với người tu thì sống trong động loạn mà không động loạn, mới là tu. À, "Tu tại thị" là vậy. Sống động loạn mà tâm không động loạn. Vì sao? Vì người ta đã có cái cách, như chúng ta Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định, là hóa giải cái trược, lưu cái thanh. Cái Động chẳng qua là trược; nhưng mà cái trược nó có xâm nhập vô trong lỗ chân lông, trong tư tưởng của chúng ta, thì chúng ta hóa giải liền. Thì nó trở về gì? Trở về thanh tịnh; trong cái động loạn nó trở về thanh tịnh. Mà trong cái động đạt được cái thanh tịnh á, mới là thật sự thanh tịnh. Còn khi không, nhẩy ra kêu, “Thanh tịnh,” thì động một chút thì trở về động; không phải thanh tịnh! Trong cái thanh tịnh nó có cái động; mà trong cái động nó có cái tịnh.
Cho nên, chúng ta tu ở trong động: các bạn Soi Hồn, đó là động đó; Pháp Luân là động đó; rồi tới Thiền Định nó mới đi tới tịnh. Nó bịt cái lỗ tai nó, “Ồ, ồ” chạy đó; làm Pháp Luân nó, “Ồ ồ, ẹt ẹt,” đó là động; nhưng mà rồi nó đi tới thanh tịnh; thấy chưa? Trong cái động nó có cái tịnh; mà trong cái tịnh nó có cái động: là khi không chúng ta cứ lo vun bồi về tịnh, mà chúng ta không hiểu rõ nguyên căn của cái động: từ cái động đi tới cái tịnh. Nếu không có động á, không có đi tới cái tịnh! Bảo đảm! Vì chúng ta ở trong động, chúng ta vượt qua rồi, bao nhiêu nghịch cảnh chúng ta vượt qua rồi, thì nó có xuất hiện đi nữa chúng ta cũng thấy rõ. À! Trong sự động mà chúng ta đạt được tịnh mới là chánh tịnh, chánh pháp. "Tu tại thị" là ở chỗ đó, hữu ích ở chỗ đó.
Còn chúng ta tu tại chùa, thanh tịnh, đem ra, gặp động, chúng ta bị lôi cuốn cũng như sóng gió bão táp nó lôi cuốn, nó kéo ra khơi luôn; rồi than trời trách đất. Còn cái này, chúng ta luôn luôn ở trong động loạn; ở trong trược mà giải được trược, thì nó đi tới thanh; là ở trong động mà giải được động thì nó sẽ đi tới tịnh. Động tới cực động là đi tới tịnh chớ gì nữa! Cho nên, các bạn ban đầu tu, rồi sau, lúc ngồi thiền Soi Hồn, nghĩ tầm bậy tầm bạ đủ thứ hết cả đêm, bao nhiêu công chuyện trong đầu óc nó xuất hiện. Đó. Cho nên, một hồi nào đó các bạn mê rồi đó, quên hết! Thì phải trước kia phải thực sự từ trong động không? Mà bây giờ vừa Soi Hồn, vừa nhắm mắt là nó mê đi, nó quên tất cả những chuyện đời. Nó đi tới gì? Đi tới chỗ tịnh; mà nhờ động nó mới đi tới tịnh.
Cái ĐỘNG LOẠN (2): Mình rước vô nó mới động loạn, như tôi cắt nghĩa bên trên. Chúng ta không rước vô, thì không có động được. Chúng ta cho cái ngoại cảnh đó là quan trọng, là phải đem sự động loạn cho chính chúng ta! Mà nếu chúng ta hóa giải để hòa hợp, để ý thức được trung tâm của mọi trạng thái đều được tiến triển như ta, thì chúng ta thanh tịnh. Cái phần thanh điển chúng ta hòa hợp với tất cả, cái lý nào cũng đúng mà để xây dựng cái trung tâm của chính nó, chính mọi trạng thái, thì chúng ta thanh tịnh. Chúng ta động tại vì sao? Tại vì bất minh mà thôi! Không chịu hòa cảm với thiên hạ, là mình động; mà hòa với thiên hạ là tịnh. Mình thấy lấy cái tình thương và đạo đức làm hàng rào cho tâm linh, sống đời đời trong thanh tịnh, sung sướng biết là bao nhiêu! Tại sao phải vun bồi sự động loạn mà chuốc lấy sự đau khổ buồn tủi; để làm gì? Nghèo nàn quá bạn ơi! Uổng lắm bạn ơi! Cho nên, chúng ta tu, ở thế gian không nhiều thì ít cũng ăn gạo, cũng ăn mấy chục năm rồi, của Ông Trời mấy chục năm rồi của ông Trời, mấy chục năm rồi bạn chả làm được gì. Xưng danh này, xưng danh kia, xưng danh nọ, nhưng bản thân cũng chưa cứu, tánh tình cũng chưa sửa. Phải sửa được tánh bạn, bạn mới thấy rõ cái sự sái quấy chính bạn đã làm; rồi bạn ăn năn trong nháy mắt thì bạn cũng trở nên một vị Phật, một vị Thượng Đế, một vị siêu giác; đâu có thua ai đâu! Cho nên, người tu về Pháp Lý đạt được rồi là không có dám, không dám chê ai hết; bởi vì ai cũng có cái hay của họ, mà không nhờ cái sự tăm tối và kích động của họ thì làm sao mà tạo ra Phật, Tiên, Thượng Đế được? Nhờ những cái phần tử đó. Nó chưa hiểu nó, mà giờ mình hiểu mình, thì mình mới thấy rõ nó đang ở trong cái sự động loạn đau khổ. Mà nếu nó trở về thanh tịnh, thì mình không ăn của gì của nó mà sao mình mừng, tự nhiên mình mừng? Con người động loạn đau buồn mà trở nên thanh tịnh, vui tươi thì cả gia đình sung sướng vô cùng bạn ơi! Cái của của bạn không có giá trị bằng tâm linh của bạn: từ cái động loạn mà bạn đạt cái thanh tịnh, gia đình và xung quanh của các bạn, bạn bè sung sướng, vui lắm, thương yêu các bạn vô cùng; thì lúc đó các bạn mới thấy rằng các bạn có cái của vô cùng tận, nếu các bạn thanh tịnh.
DỤC- Cái dục tính của con người cũng vậy nữa. Dục, Không phải là giao cấu mới là dục, nhưng mà muốn đủ thứ, đó là dục. Mà chúng ta dục hướng thượng, chúng ta dục hóa giải, chúng ta dục tiến triển tới vô cùng tận, thì cái dục đó nó đưa lại sự thanh nhẹ cho chính chúng ta; thấy không?
GIÁC NGỘ: Chữ “Giác” này, biết được; “Ngộ” là gặp phải; “Giác ngộ,” “Ngộ đạo,” cũng vậy: biết được sự quân bình của thiện ác; kêu bằng ngộ đạo.
Giác ngộ, mà lấy cái gì tạo ra cái giác bây giờ ?À! Cho nên, người Việt Nam cũng học trước, “Tôi vượt biên, bỏ xứ, tôi ra, tôi đi. Rồi đi đâu đây? Gặp cơn sóng gió nguy hiểm; lần lần tôi giác. Tôi mới thấy sự sai trái, tôi ở giữa mặt biển mà tôi đi như thế này nguy hiểm quá, có thể chết bất cứ lúc nào; chỉ cầu Trời Phật cứu tui chứ chẳng ai cứu tui, vì chiếc ghe tui không đủ tiêu chuẩn; quá nguy hiểm. Giác lần, giác lần, tìm hiểu; mà trong cái cực độ nó mới giác, trong cái khổ cực các bạn mới giác. Cho nên, tu thiền là khổ hạnh thì các bạn mới giác, trong cái giác đó các bạn mới ngộ, mà mỗi người ngộ một việc khác. Hiểu được sự sai lầm của chính mình và hiểu sự huyền diệu của Bên Trên đã cứu độ, mới thấy rõ cái đạo là giá trị; sự quân bình của thiện ác. Cho nên thiện chúng ta cũng không bỏ, mà ác chúng ta không bỏ; hai cái đó phối hợp thành chơn lý vô cùng, kêu bằng, giác ngộ; biết được và ở trong cái hoàn cảnh đó mới ý thức ra cái sự việc.
GỈAI THOÁT: “Bây giờ tôi muốn tu giải thoát, mà các tầng trong cơ tạng không mở, làm sao giải thoát?” Cho nên người thiền, tại sao hít ra hít vô, để làm gì? Chớ lấy chiếc đũa thọc vô trong đó cho nó mở? Không, phải dùng cái thanh khí điển hòa hợp của Trời đất, nó mới mở những sự lố bịch, kẹt ở bên trong. Rồi từ mở từ li từ tí, mở tới hòa đồng, mở tới bộ đầu, nó mới xuất ra ngoài kêu bằng thoát khỏi cái cảnh địa ngục trần gian, là chúng ta đã tăm tối bao nhiêu năm rồi! Bây giờ, chúng ta tu rồi thấy nó giải thoát ra, giải thoát không còn sầu muộn nữa, không còn sự sân si ganh ghét nữa, và thấy sự sung sướng triền miên về với chúng ta. Chúng ta thực hiện sự cứu độ và thương yêu vô cùng. Những người đó là cái tâm tư được giải thoát rồi, không dụng phàm tâm nữa mà so đo; không dụng lý đời nhưng mà dụng tâm đạo, và luôn luôn xét xử với sự quân bình: lợi, hại, thiện, ác; trong tối có sáng, trong tử có sanh, trong sanh có tử. Đó; mới kêu bằng giải thoát được, lúc đó nhẹ nhàng rồi.
GỈAI NGHIỆP: Cái giải nghiệp, người Việt Nam lại thấy rõ hơn hết. Các bạn trước kia có tiền có bạc, có này, có kia, có nọ, bây giờ các bạn năm bảy người ở, mượn người này làm cái gì, mượn người kia làm cái gì, rồi thiếu nợ người ta đó! Mà thiếu nợ đó là cái nghiệp, nó theo nó đòi hoài. Còn tiền bạc các bạn để một đống đó, đâu có dám xài. Khi các bạn không dám xài tiền bạc á, không làm chuyện phước đức á, thì các bạn là người là gì? Người giữ tiền! À, giữ tiền là nó kẹt vô trong cái gì? Nghiệp. Mà các bạn buông bỏ hết, bây giờ cái cơ hội này các bạn đi ra đi hai bàn tay không; các bạn nhớ sự nghiệp hồi xưa thì, “Thôi tôi chết cho rồi.” Rồi từ cái ý tứ, cái ý tâm các bạn nghĩ cái chuyện chết không có phấn đấu nữa. “Tôi tuổi lớn rồi, xin việc làm họ không cho, sống không nổi nữa. Ở chế độ này, sống không nổi nữa, chỉ có tự tử chết thôi!” Đó, rồi các bạn thấy không, chúng ta thấy rõ rằng trước kia chúng ta tạo của cải mà chúng ta là người vơ của, bây giờ mất của rồi chúng ta buồn! Nhưng mà chúng ta có tu rồi chúng ta mới thấy rõ, giải nghiệp. “Của đâu có làm tôi mạnh được; tôi thiền, tôi sửa bộ óc tôi, tôi cho bộ óc tôi được nghỉ, tôi soi hồn, tôi khôi phục cái thần kinh nhẹ nhàng; tôi làm Pháp Luân, tôi làm ngũ tạng tôi được khôi phục, ổn định; tôi mới thấy rõ rằng một giấc mơ tôi đã từng dạy được nhiều người. Tôi không còn bận rộn về của cải nữa, nhưng mà hằng ngày tôi chỉ bận rộn sự phát triển của tâm linh của chính tôi.” Phải các bạn đã đổi từ của thế gian lên tới của thiên đàng, cái của trường cửu bất diệt và các bạn không mất được. Tâm các bạn không nghĩ chuyện mưu mô lừa gạt thiên hạ mà để làm giàu, không có chuyện đó, thì các bạn đã giải nghiệp rồi. Nhờ giải nghiệp, nhờ mất của mà chạy ra đây, rồi tâm tư các bạn được tu, rồi các bạn mới thấy nhẹ nhàng; mà thấy nhẹ nhàng rồi mới kêu bằng giải được cái nghiệp chướng.
Trước kia các bạn có xe, có tiền, có bạc, có nhà, có cửa, có vợ, có con thì các bạn thấy tạo cái nghiệp. Mà ngày nay các bạn tu được rồi, thấy vợ bạn cũng không phải của bạn bởi vì nó có sự sống, có sự sanh sự diệt của chính nó. Con bạn nữa, nó có sự sanh sự diệt mà chính nó, nó có quyền quyết định. “Tôi đây, thể xác này cũng không phải của tôi, trong sanh có diệt. Vậy chớ tôi giữ cái gì đi? Tôi phải giữ cái sáng suốt. Cho nên, tôi phải hướng thượng để tôi hóa giải; thì cái nghiệp căn, tôi đâu có còn? Còn nếu mà tôi làm con người, tôi lo cho đứa này, lo cho đứa kia, lo cho đứa nọ; vì mệt, tôi khinh khi nó, là tôi là người có lỗi, bởi vì nó có một ý chí tự động tấn thối do nó quyết định, mà tôi còn ôm lấy nó để tôi lo là tôi động rồi; mà chính bản thân tôi không tiến làm sao tôi lo cho người ta, tôi tạo thêm nghiệp.” Mà giờ đây, tới đây các bạn đi ra, mình ngồi đó bạn muốn lo, lo không được; mà bạn có cái pháp tu thì bạn thấy rõ: giải nghiệp. Còn không có pháp tu thế nào các bạn thấy rõ giải nghiệp? Mà thấy “Đau đớn vô cùng, khổ cực vô cùng, những kỷ niệm triền miên trong giấc ngủ, tôi không ổn, nhớ quê hương, nhớ người thương yêu, rồi lo cho thiên hạ.” Phải động không; phải nghiệp không? Giờ các bạn ý thức rõ là cái nghiệp là cái cục đó kéo mình, nó bắt mình phải suy nghĩ cái việc đó hoài. Đó là cái nghiệp! Nghiệp đó khổ đó bạn. Mà bạn hết rồi bạn không suy nghĩ, bạn thấy tất cả mọi người đang là học viên của càn khôn vũ trụ thì nó sẽ tiến cho nó, chúng ta phải tiến cho chúng ta. Thì lúc đó các bạn thấy rõ Thượng Đế đã làm việc cho mọi người và các bạn rõ các bạn được giải nghiệp bằng cách nào, và sẽ không còn nghiệp nữa.
Còn, HÀO QUANG: Đó. Thì, người tu mà có hào quang, cái hào quang đó do trung tim bộ đầu, mà do cái Pháp Luân Thường Chuyển, Soi Hồn rồi, nó khứ trược lưu thanh; thì dần dần cái thanh nó tựu hóa, trụ sanh, diễn tiến lên trên. Cho nên, trung tim bộ đầu của người tu về Pháp Lý, bằng đầu nó ú, nhột nhột ngay trung tim bộ đầu, của Hà Đào Thành đó, như là có con gì rờ trên đầu chúng ta. Nhưng mà lâu lâu rồi nó sẽ tiến triển, thanh nó thừa thanh, tiếp cho nó điêu luyện một thời gian; thì lúc đó các bạn nhắm mắt các bạn sẽ thấy sáng suốt: hào quang bao vây cả bộ đầu! Thì các bạn thấy cái tượng Phật nó y như vậy, không có sai.
Ừ. Cho nên, cái hào quang của Thượng Đế là vô cùng tận. Thì chúng ta tiến tới thanh, về Phật, thì chúng ta là đứa con ngoan của Thượng Đế, hiểu ý của Thượng Đế, chúng ta mới học nhiều hơn để hòa cảm lên trên hư không, mới tiến về đời đời vô tận, mới trở về nguồn cội. Chớ không phải chúng ta dùng ý niệm! Mà chúng ta phải thực hiện, mới có hào quang. Nếu các bạn không thực hiện, không có hào quang. Cho nên, con người có hào quang, tu tại thế mà đắc pháp, có hào quang, xuất ngôn đều là hợp lý, sâu rộng, cởi mở, làm cho tâm can của mọi người phấn khởi và nhẹ nhàng; nghe qua âm thinh Người thì thấy nó nhẹ nhàng; ngồi bên Người thấy như là mình được giải thoát. Đó mới xác nhận rõ rằng người đó đã có hào quang, và có một sự quyền năng siêu diệu có thể cứu độ tâm linh. Khi chúng ta gặp Người thì tất cả những sự thắc mắc đều được giải tỏa. Đó là thấy rõ hào quang cứu độ nhân sanh.
Còn hào quang của Thượng Đế là vô cùng tận, còn siêu diệu gấp triệu lần nữa. Cho nên, chúng ta ráng tu để đi tới đó, rồi chúng ta hưởng cái hào quang vô cùng tận, đời đời bất diệt. Cho nên, tất cả tôn giáo ở thế gian đã nói rằng, "Phần hồn là bất diệt;" tất cả tôn giáo đều nói, nhưng mà chưa ai chứng minh được sự bất diệt đó. Cho nên, các bạn tu rồi các bạn thấy chính các bạn có hào quang: nói đâu phải đúng đó; khai triển vô cùng, vô cực; và cái tâm tư cứu độ người không có so đo, không có tính toán bất cứ cái điều gì; luôn luôn chơn tâm thường trụ, tiến giải minh bạch; hào quang sáng suốt. Đó mới là hào quang.
HIẾU: Lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Hiếu là sao? Hiếu là con người phải hiểu nguyên lai do đâu sanh ra mình, do đâu sanh ra con người? Có Trời, có đất, có phối hợp, có càn khôn vũ trụ, có vạn linh cấu kết nó mới tạo thành con người, tạo thành một cái thánh thai; rồi xuống đây nhập xác trần trược ở thế gian. Thì cái chữ "Hiếu" này đặt để làm gì tại thế? Sanh ra rồi, thôi chớ, cần gì phải hiếu? Nhưng mà chữ hiếu này là để cho nó thực hiện, nó nhớ cha, nhớ mẹ nó, để nó nhớ nguồn cội, và nó đi về dễ dãi hơn. Dù cho nó không tu, nhưng mà nó biết thương yêu cha mẹ nó, thì cái tâm nó cũng được Bề Trên chứng. Chứng tâm rồi thì nó làm gì? Nó được cứu độ, trong lúc lâm chung nó được nhẹ nhàng hơn, và sẽ học qua những cái khóa nhẹ nhàng và văn minh tiến triển thông minh hơn ở về sau.
Còn con người tu, tuyệt đối phải dùng chữ “Hiếu;” đối với cha mẹ, không được nghịch, bởi vì cha mẹ là thế Thiên hành đạo; chúng ta nên tuân theo những lời dạy bảo. Không có ai yêu con bằng cha mẹ; không có ai thương con bằng cha mẹ. Người tình của các bạn không thương bạn bằng cha mẹ. Mà nếu các bạn có con rồi, các bạn mới hiểu rằng tình thương của cha mẹ đối với con bằng cách nào, sâu đậm bằng cách nào. Đó; lúc đó chúng ta mới hiểu rõ.
Còn người tu về pháp lý thì tuyệt đối phải hiếu thảo. Nếu các bạn không có cái tính chất hiếu thảo, các bạn không có tánh chất hy sinh, thì làm sao các bạn tiến về đạo pháp? Phải có hiếu thảo mới có óc hy sinh; mới có hy sinh thì mới có tiến hóa. Khi các bạn chấp nhận những gì cha mẹ đòi hỏi hay là gây phiền phức các bạn, các bạn có cơ hội học nhẫn; rồi các bạn thực hiện từ bi. Không có thua lỗ đâu. Cha mẹ luôn luôn thương con; đòi hỏi là dạy, giáo dục, và đưa con tiến hóa. Nhiều người không hiểu, nói, "Cha mẹ hành hạ con." Không! Nó có cái duyên nghiệp, và an bài để cho nó học hỏi, cho nó tiến hóa. Đó.
HỒN: Hỏi chớ, các bạn không có hồn? Chớ con người đâu có hồn? Có thể xác chết, như đèn tắt rồi thôi, nói thiệt chứ người Việt Nam chúng ta có chứng minh sự việc, chết rồi mà cầu hồn nó còn về nó nói này, nói kia, nói nọ; nói, “Tôi bị đau khổ, tôi bị lạnh lùng, tôi bị giam hãm trong địa ngục!” Có chớ! Những người lớn tuổi đã có chứng minh rất rõ những việc đó. Rồi bây giờ hỏi các bạn kiến thức các bạn đem để lên bàn được không? Bạn có kiến thức đó, bạn làm ơn ôm cái kiến thức các bạn đặt thử lên bàn. Không được! Khi các bạn ôm không được cái kiến thức thì các bạn không có bao giờ dùng vật chất để trượng trưng cho cái phần hồn được, mà dùng cái ý chí tri giác của các bạn; rồi các bạn thấy rằng có phần hồn chủ trương điều khiển cái tiểu thiên địa này; trong cái ý chí các bạn, có. Nếu không hồn, làm sao lấy ai điều khiển cái xác này? Phải chủ trương chớ! Là phần hồn. Mà Chủ trương là gì? Sự sáng suốt. Mà nếu không có sáng suốt, làm sao các bạn điều khiển cái bản thể này, cái thể xác này. Cái thể xác này là ô trược và chậm tiến; phần hồn, trong nháy mắt là hiểu cái việc đó rồi. Thì đó là Hồn.
NHÂN CHUYỂN KIẾP: là tất cả quy định trong càn khôn vũ trụ là mỗi người xuống thế gian phải học cái bài tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục. Đó. Rồi, hỏi chứ các bạn có tu cái pháp thiền này không? Không có tu cái pháp thiền này; nhưng mà phần hồn các bạn chết rồi có được tiến hóa không? Vẫn được tiến hóa, mà tiến hóa theo trình độ, sự sắp đặt vận chuyển kiếp của Thượng Đế đều có chương trình.
Thì con người ý thức thể xác đều hạn chế hết, hạn chế bởi Thượng Đế: muốn nhiều cũng không được; nói về tâm đời; dục, muốn dục nhiều mà không được, muốn đạt tới cái sự thương yêu cho chính mình hưởng, cũng không được: một thời gian nào rồi cũng phải bỏ ra đi; thấy không? Cho nên, trong cái thể xác của con người đều bị giới hạn hết: có cái định luật sanh, lão, bệnh, tử, là để cho phần hồn học trong chu trình tiến hóa, đau khổ quá thì nó mới thức giác; "Buồn quá, rồi lật đật tôi mới tiến theo đường lối để tự giải thoát lấy mình." Có nhiều người ở thế gian không buồn, có đi vô chùa làm gì? Không có buồn đi tìm kinh sách làm gì? “Gia đình tôi vui vẻ, vui vẻ quá, tôi đâu có bị gì đâu mà tôi phải lo; à, tôi có bị sự hăm dọa của ngoại cảnh đâu!” Nhưng cái sanh, lão, bệnh, tử rồi cho các bạn thấy có sự hăm dọa, và có sự cảnh cáo là bạn không có khả năng làm được một cái việc gì ngoài sự học hỏi mà thôi. Cho nên, các bạn phải hiểu, chúng ta đến đây học cái bài sanh, lão, bịnh, tử, rồi các bạn mới thực hiện từ bi dũng tiến. Đó. Còn nếu mà các bạn không ý thức được đó là bài học, thì cái sự kiên nhẫn các bạn không có. Mà kiên nhẫn các bạn không có thì phàm ngã làm việc mà thôi: nói bậy nói bạ, trách móc người này, trách móc người kia; hiểu không tới, thấy không rõ, chỉ cho cái chuyện làm của mình là phải, mà chuyện người ta làm là quấy. Cái đó là tự giam mình trong cái phạm vi hạn chế, làm sao mà trở về với mọi trạng thái thương yêu mà để hưởng cái cảnh đời đời của Bề Trên?
Còn nộ là gì? NỘ là sự nóng nảy, bực tức đó mà hướng thượng thì nó xuất phát và phóng thâu đi bất cứ nơi nào.
Cái Ố là sự đen tối mà mọi người đều có; nhưng mà cái đen tối đó nó cũng có cái hữu ích: cái bản chất tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục, là bản chất của Thượng Đế, mà trong đó kêu bằng hướng thượng hóa giải tới vô cùng. Đó; cái sự ác, sự trược, sự đen tối đó làm cho mình, thấy nó chậm trễ, nhưng mà mình hướng về sự vô, cùng thì nó có cái tánh chất đó; mà vô cùng rồi thì vô cùng tăm tối, vô cùng trược; mà chúng ta lấy cái ý chí phóng vào sự vô cùng đó, thì sự vô cùng đó sẽ tan, sự tăm tối đó sẽ biến đổi tới sự sáng suốt.
Còn, PHÀM NGÃ (1): Cái Phàm Ngã là sự giới hạn của phần hồn; cũng như cái tánh con người nó sân, giận, "Tôi giận, tôi phải đánh thằng đó; là tôi bị giới hạn." Còn phần trí vô cùng tận, không bao giờ người ta đi đánh người đó, không bao giờ người ta gây lộn người đó, không bao giờ người ta làm phiền người đó, thì người ta mới kêu bằng, "Người tu sáng suốt, và dẹp được phàm ngã mới trở lại chơn ngã." Con người chơn ngã không bao giờ bị giới hạn bởi; cho nên, người có chơn ngã người ta luôn luôn thực hiện trong từ bi tha thứ, cũng như Jésus Christ chẳng hạn, bị đóng đinh Ngài cũng thực hiện tha thứ, cho nên cảm động lòng người tại thế tới ngày nay. Rồi tới Phật Thích Ca cũng vậy, tu ở trong rừng Ngài lấy cái chơn ngã Ngài mới sống với thú dữ nổi; còn nếu mà Ngài lấy phàm ngã thì phàm ngã nó sẵn rồi, nó giết, nó vật Ngài trong một giây phút, đâu có còn sống! Bởi vì Ngài kiên trì trong chơn ngã để hóa giải cái phàm ngã, là phần điển Ngài rút cái trược điển đi, thì cái phàm ngã nó không có lôi cuốn Ngài được nữa; vượt khỏi sức hút của phàm trần. Đó. Còn phàm ngã còn ở trong giới hạn của phàm trần, kêu bằng "Phàm ngã." Cho nên, cái phàm ngã, cái tánh con người hay gây gổ, nhưng mà rốt cuộc không đi đến đâu; bị giới hạn. Còn, PHÀM NGÃ (2): Là những cái chuyện kêu bằng bị giới hạn không à. Tất cả đều là ở trong giới hạn; kêu bằng, "Phàm Ngã:" Giận chồng, giận con, sân si, nhỏ mọn, yếu hèn, tâm tánh không khai triển, mà tự xưng mình là giỏi, hay hơn người khác, và cho địa vị của chúng ta là cao hơn người khác! Đó! Cái địa vị và càng xưng mình cao hơn chừng nào, thì lại thấp hèn chừng nấy! Các bạn thấy rõ không? Thượng Đế đã làm việc cho các bạn rất nhiều, mà các Bạn, thì chỉ có Thượng Đế mới có quyền xưng là, "Ta đây." Nhưng mà Ngài đâu có thường xưng cho các bạn thấy đâu? Hai mươi bốn trên hai mươi bốn lo lắng cho các bạn, dìu tiến các bạn để các bạn ý thức được các bạn. Thì cái đó, các bạn tu về thanh tịnh chơn ngã rồi các bạn mới thấy rằng sự vô cùng thương yêu của Thượng Đế đã vì mình. Thì lúc đó cái phàm ngã nó tiêu diệt: ánh sáng tới thì bóng tối nó phải đi.
Còn những người mà chưa đạt tới được thì rất dễ, nói chuyện là biết rồi: giận người này, phê người kia; là những người đó là người phàm thôi; tầm thường; dù cho có học thức, nhưng mà tánh không đổi thì cũng vô dụng, không có phát triển nổi. Cho nên, căn cứ trong lề lối như, "Ta sẽ làm này, làm kia, làm nọ," rốt cuộc, đếm đi đếm lại, làm được mấy việc thành? Tự hại lấy mình thôi! Cho nên, cái phàm ngã là nó nguy hại lắm. Mà cả bầu trời thế giới hiện tại đang mê lầm trong phàm ngã, tưởng là mình có trình độ, là phàm tánh. Còn biết tu, sửa, để học hỏi, thì nó mới tiến tới chơn ngã được.
Còn cái PHÀM TÂM, rất rõ ràng: cái phàm tâm là sự eo hẹp đó, như tôi thường cắt nghĩa bên trên: sự eo hẹp, tưởng là mình cao, tưởng là mình hay, tưởng là "Tui học giỏi." Cái “Tưởng” đó là phàm đó Bạn! Còn cái hòa đồng mới là cái chơn! À! Quân bình mới là chơn. Bạn luôn luôn bất thường chỉ trích người này, chỉ trích người kia, chỉ trích người nọ, là cái phàm tâm giới hạn mà thôi. Bạn làm sao có lực lượng sửa đổi tâm tư của người khác? Thượng Đế tới ngày nay còn phải bỏ biết bao nhiêu nhọc công mà chưa dạy được con người tiến hóa tới tột độ! Hỏi chớ, trí thức cù lần của Bạn, mà làm sao mà Bạn dạy người đó được? Bạn chưa biết Bạn, Bạn chưa hiểu Bạn là bạn cù lần mà thôi, lình xình mà thôi; lý luận bất thông mà thôi; rồi đâm ra đau khổ, rồi đâm ra thề thốt, rồi đâm ra tự tử, rồi đâm ra cái chuyện bất minh không đóng góp gì được cho xã hội, không đóng góp cho tình thương! Lý luận so đo dẫn mình vô trong sự giam hãm, không tiến triển được; tạo ra đau khổ cho chính mình; uổng của của thế gian, và uổng của của ông Trời! Xấu hổ biết là bao nhiêu!
Cho nên, nhiều người phải đụng đầu cho thiệt nặng rồi nó mới thức giác, nó mới vô chùa, rồi cạo trọc đầu, nó mới đi tu. Mà đằng này chúng ta có một cơ hội tu như thế này, luyện sức khỏe đi, rồi mới minh tâm kiến tánh; đó, mới hiểu hết. Chớ còn cái ý mà ghen tương đó là tà đạo: biết có một bên à, không biết hai bên! Còn quân bình, thiện ác phân minh, thì đâu có nghĩ chuyện ghen tương tà đạo nữa; đâu có eo hẹp? Bay bổng lên hòa hợp cả càn khôn vũ trụ, làm sao có sự eo hẹp? "Ở đâu tui cũng sống; ở đâu tui cũng chỉ quan trọng cái sự thương yêu và tha thứ mà thôi."
SÂN: cũng vậy.- Biết đó phải có cái bản chất đó mới làm được cái bàn đạp xuất phát đi lên.
SI MÊ: suy nghĩ về tiến hóa sẵn có của chúng ta ở nội tâm mà hướng thượng thì chúng ta phải tìm mãi, tìm mãi của chúng ta; chính sự sáng suốt đó ở trong ta có.
THAM: Không chịu hướng thượng, nếu mà tham hướng thượng thì thanh nhẹ, và tham tiến tới sự sáng suốt vô cùng ở bên trên, thì đâu có còn tham lặt vặt tại thế.
(Trích từ băng giảng của Đức Thầy – Montreal 1980. Chép trong TBVV 93-95)