LUẬN ÐẠO MARSEILLE - Cuốn 2

Thầy Tám: Nhưng mà nói mà dễ, nhưng mà hành cho nó đứng tới cái vị trí đó, nó phải đụng. Dọn cái này, sửa cái kia, sửa cái nọ. Bởi vì ở đây, nó có bốn hướng, mà trong đó nó có ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, bây giờ phải lập lại trật tự, ngũ sắc. Rồi từ ngũ sắc, nó biến ra ngũ quan, rồi nó biến ra tứ phương tứ hướng, Đông, Nam, Tây, Bắc. Rồi nó chuyển tới Ðông Nam, Tây Nam, Ðông Bắc, Tây Bắc, Trời, Đất hợp lại, mười phương. Ðó, nó mới thành một cái vũ trụ càn khôn. Cho nên trình độ mình phải đi tới. Chớ bây giờ coi sách, coi tới mù, mà nội cái tử vi không mà không biết làm. Mà hành rồi đó, thì làm được tử vi, vì nó nằm trong nguyên lý đó. Tử vi nó cũng chép từ trong nguyên lý đó mà nó phân ra cái sanh và cái khắc. Ngày nào sanh là ngày nào tốt, mà ngày nào khắc là ngày nào hư. Mà tuổi nào sanh là tuổi đó tốt, mà tuổi nào khắc, tuổi đó xấu. Làm ông thầy để kiếm tiền. Mà mình, chính là mình là thầy. Mình có cái sách đó, mình có cái kinh đó, mà mình không chịu đọc. Cho nên tại sao thằng này nó nhắm mắt mà nó biết hết? Vì nó đọc cuốn kinh vô tự, mà đọc một cách rất dày công, đọc một cách tự thắp đèn đọc chớ không mượn đèn của nhân gian. Người tu thiền tự thắp đèn để đọc kinh vô tự, thành nó sáng suốt hơn người phàm. Người phàm mượn đèn đọc chữ, chớ thực chất của nó, nó chưa sử dụng. Còn người tu thiền là đọc kinh vô tự, thành nó sáng suốt hơn. Mà mắt đời dòm, nói “Thằng đó là thằng khùng, ăn đâu, ngồi đâu cũng nhắm mắt!”, nhưng mà nó hiểu việc. Nó đã dày công đọc kinh vô tự, nó đọc từ chữ một, nó đọc từ nhịp thở của nó, nó nghe từ nhịp tim của nó, và nó hưởng cái sự thổn thức đau đớn trong tâm thức của nó, và nó tự phá mê phá chấp của nó. Nó không còn oán trách, giận hờn bất cứ một người nào, vì nó thấy đó toàn là ân nhân để đưa nó tiến tới mà thôi trong cuộc hành hương. Hỏi chúng ta bơ vơ trên con đường thênh thang như thế đó, làm sao không bị bão bùng nguy hiểm? Mà nếu ta vun bồi được cái dũng chí để tránh được bão bùng nguy hiểm, thì chúng ta mới thấy rằng, nhờ bão bùng nguy hiểm chúng ta mới hiểu chữ Dũng. Mà ngày nay chúng ta đã vượt qua rồi thì chúng ta đạt chữ Dũng rồi.

Cảnh đời đã dạy chúng ta. Cho nên tôi nói “Cảnh đời là bãi trường thi”. Ðó là kinh vô tự mà đâu có ai thấy. Nhiều người nói “Ông Tám cứ qua loa nói gì vậy”. Nhưng mà sự thật, rốt cuộc tới tuổi già rồi nghe ông Tám ổng nói “bãi trường thi”, chính tôi đã thi rồi: Tôi dự cái cảnh làm mẹ, tôi dự cái cảnh làm cha, tôi dự cảnh vui cảnh buồn. Tôi hiểu đó, tất cả đều là ân nhân của tôi. Rốt cuộc tôi phải ra đi với cái gì? Sự thanh tịnh và sáng suốt. Nếu không có cái đó, làm sao tôi từ chối nó? Và tôi hy sinh nó, để tôi trở về với cái gì? Tôi trở về với sự thanh tịnh và sáng suốt. Tôi nhờ đó, ngày nay tôi mới có cái vốn, là tu bổ sửa chữa lại cho nó quân bình hơn. Ðó là cái vốn của tôi. Chớ không phải tôi làm việc này lỗ vốn đâu, lời hơn, lời hơn buôn bán, lời hơn sự đua đòi của thế gian. Cho nên trong cái thanh tịnh này mới là thấy có kết quả. Cho nên lần lần, lần lần rồi mình thấy mình ăn không hết. Ði đâu ai cũng thương, ai cũng mến. Rồi ngược lại mình mới biết thương thiên hạ nhiều hơn. Thấy họ đang trầm luân trong bể khổ, thấy họ tự vày xéo tâm can của họ, nhưng mà họ còn thiếu chữ tịnh. Cho nên mình cũng ước mong gieo được quả tốt cho họ, cái nhân tốt cho họ thì mình gieo. Cho nên mình phải trình. Muốn gieo cái nhân tốt thì mình phải trình cái quả tốt của mình cho thiên hạ thấy. Thấy sắc diện mình đàng hoàng, tâm thức mình cởi mở, mình thật sự phá mê phá chấp. Rồi họ mới hỏi “Trồng cách nào mà có quả tốt như thế này?”, thì mình mới chỉ cái nhân của họ có, tại họ trồng không đúng chỗ mà thôi. Có thứ đất, có loại đất trồng được cây ăn trái, mà loại đất không trồng được cây ăn trái; mình chỉ cho họ, thấy hông? Rồi từ từ họ làm nên, rồi họ thành một cái vườn hạnh. Họ lập hạnh thì họ sẽ có một cái vườn hạnh, để họ ảnh hưởng chúng sanh. Thì cái tầm tiến hóa của tâm thức mình trao cho người này tới người kia cũng như Ðức Phật đã trao. Không nói Ðức Phật không thành công, có thành tâm. Có nhiều người trầm lặng ý thức được hành động của Ðức Phật, mà nguyện để tu học như Ngài. Có thành tựu. Và có một số không ý thức, chỉ núp bóng Ngài, để độ nhựt mà thôi. Thì cái đó không thành công, nhưng mà sẽ thành công, vì có lợi dụng và bị trừng phạt mới kêu bằng ăn năn hối cãi. Nhưng mà phải nhiều kiếp mới có thành. Cho nên các phương diện đều tiến hóa, kể cả sạn cát, cây cỏ đang tiến hóa, chứ không có không có tiến hóa, nhưng mà tiến hóa theo tuần tự luật định mà thôi. Chậm. Muốn mau thì phải tự tu.

Ðó, cho nên Ðức Thích Ca, Ngài đủ phương tiện, nhưng Ngài bỏ, hy sinh cả quyền chánh trị quan trọng nhất. Làm con người, quyền chánhtrị mà hy sinh là một người ngốc nhứt thế gian. Nhưng mà phải có một cái gì đổi, Ngài mới đổi chớ. Ngài cũng văn võ toàn tài, tại sao Ngài đổi để làm gì? Chúng ta tu, chúng ta phải truy tầm chơn lý ở chỗ đó. Ngài đổi có một cái tốt hơn và đẹp hơn. Mà xấu hơn, Ngài không đồi. Hy sinh quá lớn! Cha mẹ, bỏ; vợ con, bỏ; quốc dân, bỏ; quyền năng, bỏ. Quá lớn! Để đổi lấy một cái gì chắc quan trọng hơn cái kia, thấy hông? Cho nên Ngài ở trong cảnh đời đời trong tâm thức của mọi người. Nếu mọi người hiểu Ngài. Thấy mình yếu hèn thật. Càng hiểu Ngài, mình thấy mình càng yếu hèn, càng trì trệ, càng lười biếng, càng ngu muội, khờ dại. Chấp nhận điều đó đi, để hy sinh tất cả tâm thức chúng ta. Cống hiến. Cũng như Ngài ngồi giữa trời vẫn sống, là trả lại cái khả năng sẵn có của thế gian cho Thượng Ðế, và thực hiện chữ hiếu đối với Thượng Ðế. Chứ Ðức Phật đâu có bỏ Thượng Ðế! Ngài sống với siêu nhiên, sống với Đấng Tạo Hóa, sống với muôn loài vạn vật, không sống với cung nga mỹ nữ, cho nên Ngài mới thành đạo. Chúng sanh hiểu lầm, đề cao Ngài là duy nhất. Ngài đâu có đề cao Ngài, Ngài đã nói kết luận một câu là “nhơn nhơn giai thành Phật”; ta là người đi trước, các người là người đi sau. Tại mình không chịu đi, làm sao mình có thành Phật?

Bạn Ðạo: Những người đó phải trở về với Thượng Ðế thì được Thượng Đế đợi. Trở về với trình độ sáng suốt của mình thì Thượng Đế đợi. Còn những người nào mà không có trở về được thì học bài học thấp hơn, thì cũng nằm trong càn khôn, thì lúc đó thì kể như Thượng Đế chỉ là một, thì sao không bị?

Thầy Tám: Thì cái đó là nói lời, thì không, không phải như vậy. Bởi vì cái luật quân bình, nó phải đi trong cái bánh xe tiến hóa như vậy. Có kẻ thành công và người chưa kể thành công. Cái luật nó phải có như vậy. Cho nên cái mà Thượng Ðế làm, chỉ đưa tới toàn thiện, toàn giác, chớ Thượng Ðế không có ngu xuẩn hơn chúng ta. Dù cho người đó đi xuống, nhưng mà vẫn học để cho nó gia tăng cái dũng hơn. Thì nó phải đi một vòng quanh của cái bánh xe tiến hóa nó như vậy. Ðó là luật quân bình. Bánh xe tiến hóa không ngừng nghỉ, mà chỉ người lười biếng không chịu, bị loại ra khỏi bánh xe mà thôi. Không lời không lỗ đâu. Chân lý không dư và không thiếu, lúc nào cũng là quân bình.

Bạn Đạo: Vậy phải bánh xe giống như là, Thầy ưa giảng là ……(nghe không rõ)

Thầy Tám: Ừ, cái đó là phóng ra ngoài.

Bạn Đạo: Phóng ra ngoài thì cũng nằm trong vũ trụ chứ không phải còn nằm trong …

Thầy Tám: Nhưng mà phải qua một cái điêu luyện lâu hơn nữa. Nhưng mà cái bánh xe nó vẫn chạy. Vừa phóng, rồi cũng vừa thâu, nó mới trở về luật quân bình. Nhưng mà khi mà đạt tới sáng suốt rồi, mình phải thấy là cái luật siêu nhiên là cái luật quan trọng, mình phải cấp bách đi lên, không có trì trệ nữa. Nếu mình lý luận trong trì trệ thì tạo thế kẹt cho chính mình. (cười).

Bạn Đạo: Hôm bữa Thầy nói con không có để ý, tới bây giờ con thiền con hiểu.

Thầy Tám: Ờ, cho nên những người tu đó, nó lại gia công hơn. Người thường họ chỉ sống bình thường thôi. Rồi một ngày nào đó, cũng như là, một ngàn kiếp mới hiểu đạo, thì phải đúng một ngàn kiếp. Còn ở đây, mình đi tắt thì mình phải gia công, vì mình thấy đây là điều hữu ích, ờ, thì mình phải gia công. Cho nên có cái phương tiện để dẫn tiến. Mà ai dẫn bây giờ? Tin ai bây giờ? Kỳ thật, mọi người tin nơi khả năng sẵn có của chính mình. Nếu cái pháp đưa ra mà nó không tin khả năng sẵn có của chính nó, thì cái pháp đó đâu có xài được, thấy hông, nên những người xài nó là người quan trọng. À... Mà tin nơi khả năng của mình có thể lái được chiếc thuyền này không? Mà tin nơi khả năng của mình có thể lái, thì mình phải tự lái, không có nhờ người ta lái giùm. Nếu nhờ người ta lái giùm thì mình mất tự chủ rồi. Cho nên quan trọng của người tu phải ý thức điều này. Nếu không ý thức được điều này thì một nháy mắt là bị người ta lợi dụng, và người ta lái mình vô trong cái cõi chánh trị chiến đấu một cách vô lý mà thôi. Cho nên tôi nói là “tự tu tự tiến”, không lệ thuộc bởi một ai, kể cả người truyền pháp. Phải phê bình thẳng thắn người truyền pháp. Ðó là đúng. Từ hồi nào giờ bây nhiêu đó thôi. Hahha…nhưng mà tâm đời, vì sự thương yêu, quí mến, tôn trọng, đề cao, nhưng mà luôn luôn bị bài bác. Người truyền pháp không chấp nhận điều đó. Ở trong bình đẳng, trao đổi học hỏi để hiểu rõ luật quân bình càng sớm càng tốt. Chỉ có bấy nhiêu đó thôi.

Chớ tại sao nói cái Pháp Vô Vi? Vô Vi là “Nhứt trần bất nhiễm” mà. Còn một chút bụi nhiễm hổng được, kêu bằng Vô Vi. Cho nên người tu Vô Vi bị người ta chọc còn giận, đó là mình thấy mình bụi còn nhiều quá. Bụi nhiều quá, nó bám. Bây giờ mình phải hy sinh cái đó đi. Cịu dũa đi! Chịu người ta chửi là chịu dũa, chịu người ta chà đạp, chịu mài. Rồi chịu đánh bóng cái nữa, nó có giá liền, có gì đâu! (cười)

Bạn Ðạo: Kính thưa Ðức Thầy, sao bị khảo hoài vậy Thầy?

Thầy Tám: Ðó, là bị dũa đó, bị dũa, bị mài. Người tu Vô Vi là phải chịu trận, không có nói un deux, vì mình đi đường gấp. Bởi vì thà là, còn nếu là mình để một ngàn kiếp nó mới thành đạo, lâu lâu dũa một cái, mình không thấy, nhưng mà cũng vẫn bị dũa, vậy thì tao cho mày dũa luôn đi! Mà dũa một trận kinh khủng rồi, thấy sung sướng. Người tu Vô Vi đâu có sợ!

Bạn đạo: Thi rớt đó Thầy, con thấy dũa hoài con biết con thi rớt.

Thầy Tám: Không sao. Có khóc, có gì rồi nó cũng nhẹ à. Cho nên Vô Vi nó hay ở chỗ đó. Bởi cấp bách mà! Bởi từ ở trên kia mà đi xuống, qua biết bao nhiêu giai đoạn, và con đường này, bây giờ nó bị, nghĩa là cũng như cỏ mọc đầy hết, bây giờ mình đi lên, thế nào cũng bị, không cái này chích, thì cái kia cũng đâm à! Mà đi chậm cũng bị, mà đi mau cũng bị, vậy thì ta đi luôn đi! Tôi là người bị khảo mấy chục năm rồi. Tới tu, năn nỉ, lạy lục, chỉ cho tu. Qua bữa sau, nó đứng trước cửa chửi. Cũng thây kệ, chứ biết sao bây giờ? Bây giờ mình cảm ơn à. Mình nghĩ, cái người chửi mình là người ta cũng ăn cơm, uống nước, cũng tốn hao lực lượng nó mới tới nó chửi mình để coi thử mình thanh tịnh hông? Nhưng mình phải chấp nhận, cười, vì trình độ mới tới đó. Rồi từ một thời nào đó, nó thức tỉnh, rồi nó viết cái thơ thiệt dài, ăn năn hối cãi. Mà ai chấp nó mà nó ăn năn hối cãi? Bởi vì mình cảm ơn nó không hết, kiếm nó để đền ơn mà nó cứ tránh mình hoài. Nhờ nó, mình mới thấy được sự tiến bộ một phần. Hồi trước mà ảnh chửi tôi như vậy là cây sắt lên đầu ảnh rồi. Nhưnggiờ không đánh ảnh. Vậy hai đứa mình được sống. Mừng quá rồi, thấy không? Mình tiến bộ.

Cho nên người tu Vô Vi là phải bị à! Tối nay nhẹ, ngày mai là bị à. Cốp liền!

Bạn đạo: Nội tâm và ngoại cảnh nữa.

Thầy Tám: Chớ sao, nhiều chuyện lắm.

Bạn đạo: Con bị nhà khảo không à, còn học không hết bài nữa Thầy.

Thầy Tám: Đó, bây giờ ráng làm sao nè, bị vì cái nào mà thường xuyên đó, càng ngày nó chỉ bành trướng, bành trướng cho đến nỗi mình dẹp luôn, mình mới rõ là khẩu nghiệp. A.. thôi câm cái mồm. Lại thấy ông Thích Ca ổng ngồi đó, ổng cứ nhắm con mắt, ổng câm cái mồm mà ai cũng cúng ổng. Mình la um sùm mà họ bỏ chạy hết! (Cười..) Vậy cái nào lợi hơn? Thôi câm cái mồm !

Bạn Ðạo: Thưa Thầy, con nói con telephone từ hồi Thầy mới qua tới Paris đó Thầy, con nói với anh Hoàng Lương, con nói, lần thứ nhứt con, Tố Anh, gởi lời kính lạy Thầy. Thầy hỏi “Buôn bán mỗi ngày bao nhiêu tiền? Thâu làm sao?”. Rồi lần thứ nhì đó, Thầy cũng hỏi, ở Strasbourg. Cái, anh Hoàng Lương ảnh nói “Tại nị hay buôn bán, Tố Anh thích buôn bán, nên Thầy đua theo nị.” Cái, hai người cũng cãi nữa, thưa Thầy, thôi cũng khảo nữa. Con nói “Thôi, niệm Phật cho nó có yên, có phước đức”.

Thầy Tám: Cho nên để cho nó có cái cơ hội đụng chạm, rồi nó thấy cái nào có lợi, nó chọn một trong hai. À, nó mới niệm Phật. Còn không có đụng, đâu biết cái nào hư, cái nào hay, cái nào dở? Cho nên đó là Kinh Vô Tự đó. Ðọc kinh mà đọc chưa kỹ, lật trang lật cho mau, cũng kêu là cãi lộn đó. Trang này chưa đọc hết, lật trang khác, cái đó kêu bằng cãi lộn đó (cười). Cho nên phải cho đụng rồi nó mới thức. Mà thức rồi là món quà quý của chúng sanh, thấy hông? Hồi trước, hồi nào tới giờ, cái miệng mình cãi quá, bây giờ hết cãi, đi đâu ai cũng mừng hết. “Trời ơi, sao chị ngồi ở nhà tôi một ngày mà nói có mấy câu à, mà chí lý!” Chu choa, nó sướng biết là bao nhiêu! Thiên hạ mừng, ai không bà con ruột thịt, mà nó cũng vỗ tay, phải không? Còn hồi đó, hồi đó khác, chưa nói là cãi trước rồi. Ðó. Thì mình thấy, nó thấy, nó thấy mình tiến bộ ở chỗ đó. Tất cả do tâm. Ðịa ngục cũng do tâm, thiên đàng cũng do tâm.

Con người nó có ba giới: Thiên lực, Tâm lực, Ðịa lực. Xác này, xác này nó là một lực lượng. Ngứa một cái cũng là lộn xộn, nhức một cái cũng là lộn xộn, kêu bằng Ðịa lực. Tâm lực là dục tính. Đương ngồi thiền, nghĩ về dục, ngồi không được, nó kéo. Thấy Tâm lực nó mạnh không? Nó không cho tu. Mà Thiên lực, khi mà chúng ta vun bồi được Thiên lực rồi, nó mới rút Tâm lực lên, và Ðịa lực cũng rút lên. Lúc đó ta ngồi vô trong tích tắc 5 phút, mất xác luôn, không thấy còn có xác nữa, và không thấy còn có tâm nữa. Không biết đi nơi nào. Nhẹ tới vậy. Kêu bằng nó hướng về Thiên lực. Thì cái dục đó nó hướng thượng. Cái Tâm lực là dục tính, mà dục tính là sanh ra gì? Ác ôn, ác trược. Mà dục tính nó hướng thượng, nó đi tới hóa giải vô cùng, sáng suốt, hữu ích ghê lắm. Chứ không có dục làm sao mà đi lên? Nhưng mà dục hướng thượng hay là dục hướng hạ? Dục hướng hạ là tiêu hao. Dục hướng thượng là sanh tồn. Ðó, chớ mình tu, tại sao bắt niệm Phật ở đây? Ðể tập trung cái dục hướng thượng, thay vì hướng hạ.

Bạn đạo: Hướng hạ thì tạo phàm thai, hướng thượng thì tạo thánh thai.

Thầy Tám: Thì đó, thì nghĩa là, kêu là, có thể xuống địa ngục. Cho nên mình hướng thượng rồi mới thấy cái con đường đắc đạo là gì. Mình phải thấy con đường, mình mới nguyện vì hai chữ "đắc đạo". Mà biết đường đi, kêu bằng “đắc đạo”. Chớ đắc đạo có cái gì đâu? Biết đường đi, thay vì ngu muội không biết đường đi, bị bốn cánh cửa này nó làm bậy. Ngó muốn hơn thua, nghe cũng muốn hơn thua, ngửi cũng muốn hơn thua, nói cũng muốn hơn thua. Ðộng! Mà chúng ta ở đây, soi hồn, động tịnh [nghe không rõ] chỉ mở có một cái sáng thôi; mở có một cái tâm thức ngay trung tâm bộ đầu thôi, đóng bốn cái này. Cái soi hồn hữu ích lắm. Một thời gian, nó quên hết chuyện phàm trần, mới nói đó cũng quên. Tâm vô sự là thần tiên tại thế. Tu sao được vậy, mới kêu cái Pháp Như Ý của ông Di Lạc.

Bạn Ðạo: Kính thưa Ðức thầy, con nghe hồi nãy giờ Thầy giảng Thiên lực đó, con có khi con ngồi thiền đó, tự nhiên cái con không có nghĩ tới cái xác con, mà sao con thấy ở đây đó Thầy, với ở đây đó, nó làm như nó thông Thầy đó. Nó làm như hai cái ở đây. Thành ra cái bữa hôm con nói với anh Hoàng Lương rồi đó. Con nói, ủa như vậy ở đây với ở đây, vậy hai cái nó thông nhau phải không Thầy? Dạ thì con thấy hai cái luồng nó chạy …

Thầy Tám: Cái đó là quan trọng.

Bạn Ðạo: Dạ nó đụng nhau.

Thầy Tám: Cái đó là …

Bạn Ðạo: Lúc đó con nói ủa tại sao mà có cái sự đó? Dạ thì con thấy rõ ràng cái ánh sáng, hai cái ánh sáng nó thông với nhau.

Thầy Tám: Ðây là nhơn giới nè, cảnh thế gian. Ðây là trung thiên thế giới. Ðây là Bồng Lai tiên cảnh. Còn nó, ngay chỗ này nè, là Phật giới. Ðó. Cho nên nó phải đi từ giai đoạn một. Ở đây là thế gian. Nhắm mắt thiết thấy rồi đó [nghe không rõ]... Năm ba tháng sau thấy cặp vợ chồng đó tới với mình cũng y cái mặt mình đã thấy. Đó thấy chưa? Cái nhân duyên nó đến. Còn đây là trung thiên thế giới, thấy hòa nhã.... Rồi đi lên tới chỗ Ngọc Hoàng Thượng Ðế, biết bây nhiêu… săn sóc mình đi vô trong đảnh lễ đó, đi tới vô cùng rồi đi tới chỗ minh bạch…

Các cây cỏ đều biết nói chuyện, ứng cảm hết, mà chứ không phải như ở thế gian. Rồi mới vô Phật giới. Lúc đó không màng thế cảnh nữa, mà mới biết cảnh là chỉ một phương tiện để đưa mình tiến mà thôi. Chớ kỳ thật không phải. Tu để về trời, tu để tìm cái hư không đại định, nhưng mà phải qua những cảnh giới đó, mình mới xác nhận rằng tam thập tam thiên thế giới ở chỗ nào, thấy hông? Ðó.

Bạn Ðạo: Kính thưa Ðức Thầy, còn cái xoáy ở đây đó Thầy, nó nở ra bự và nó hút vô là làm sao vậy thưa Thầy?

Thầy Tám: Cái đó là, kêu có thần hộ mạng, nó mới có cái vụ đó.

Bạn Ðạo: Con thấy con càng ngày cái chỗ này của con nó xoáy vô mà nó nở ra bây lớn đó Thầy. Hồi đó nó…

Thầy Tám: Có cái gì, cầu xin nó thì tâm động thần tri, là ở chỗ đó.

Bạn Ðạo: Khi xuất hồn, có phải xuất ngay cái xoáy này không Thầy?

Thầy Tám: Không, xuất hồn là phải thấy mình đi từ chỗ này trước.

Bạn Ðạo: Dạ.

Thầy Tám: Phải đi từ chỗ này, bởi vì ở đây nó tạo ra mô ni châu nè. Bởi vì trong này ngũ khí, làm pháp luân đó, hít vô thì ngũ khí nè, tim, gan, tỳ, phế, thận, ngũ khí, ngũ khí triều dương, nó đi lên. Triều là nó đi lên, đó, nó thuần dương, nó mới khuấy ra mấy màu sắc. À, ngũ sắc ngũ quang, sáng ra. Rồi tới huyền sắc huyền quang, nó mới tạo thành một cái thánh thai. Cái hồn nó vô, nhập vô thánh thai mới đi lên trên chớ. Còn ở thế gian, mang cái xác này, cứ muốn chuyện đi xuống không. Nhập hồn, nhập vô cái thai noãn của người mẹ nè, rồi lớn ra nè, giam hãm chín tháng mười ngày nè, lật ngược, đạp ông Trời chun ra. Nghịch thiên mà, con người là nghịch thiên, nó mới tạo ra thế giới tại đây. Bây giờ mình tu, mình nghịch thiên giả vong, là chết đó, cho nên con người sợ chết, ham sống sợ chết. Bây giờ mình trở lộn lên, là thuận thiên giả tồn. Mình phải tu trở lộn lên. Cho nên mình làm pháp luân, tại sao hít vô đầy rún chi? Ðể mở cái xích nó đi trở lộn lên, kêu thuận thiên giả tồn. Mà muốn thuận thiên thì thế nào? Phải nhập vô cái thánh thai. Thì lấy cái gì nhập thánh thai? Ban đầu phải có ngũ sắc ngũ quang trước. Lúc mà mình chửa, trong cái thai noãn này, là nó hấp thụ ngũ sắc ngũ quang của cả càn khôn vũ trụ vô trong một giọt máu đào đó, rồi nó biến thành phân ra âm dương, lần lần thành ra mắt, mũi, tai, miệng. Rồi nó biến hóa ra ngũ sắc ngũ quang, huyền sắc huyền quang. Đó, duyên dáng tay chân đầu mình đồ, đầy đủ hết trọi. À, rồi đúng ngày giờ cái nó lật ngược, cái đạp đi ra.

Bạn Ðạo: Dạ kính thưa Thầy, sao có khoảng hai năm về trước, con thấy con có một đứa trẻ, hình như hài nhi đó Thầy, đẹp lắm, tròn trịa lắm, mà sáng thiệt sáng, cái con ôm chầm nó, mà con không biết cái gì hết, dạ con thấy đẹp lắm.

Thầy Tám: Cái đó là cái vía thôi, cái vía thôi.

Bạn Ðạo: Còn thánh thai là phải thấy ra làm sao mới kêu là thánh thai, thưa Thầy?

Thầy Tám: Thánh thai là mình nhắm mắt đây nè, mình thấy cái mô ni châu nó chạy, ngũ sắc phóng ra, phóng ra, bay càng xa thì cái vòng tròn nó bay tới đâu, biết tới đó. À, rồi nó mới kết tập. Từ đó cái hồn mới ra vô, quen rồi mới nhập vô đó. Nhập vô đó rồi, nó thành tựu rồi, nó có mặt mày, tay chân, đi đứng, y như con búp bế, nhẹ nhàng như con búp bế, không phải gồ ghề như thế này.

Bạn Ðạo: Cái sau cái nó tìm được thánh thai rồi thì thấy có đứa hình tượng con nít không Thầy?

Thầy Tám: Có, có, có, có hình tượng đàng hoàng.

Bạn Đạo: Nghĩa là ở đây, mình nhắm mắt là thấy vậy đó hả Thầy?

Thầy Tám: Đó thấy vậy. Cho nên lúc đó là càng phải niệm Phật hơn để giữ cái nguyên khí, mà nói nhiều là nó mất cái nguyên khí. Cho nên khi có, khi không. Phải trầm lặng tu học mới trở về thiên giới. Cho nên cái kỳ tôi tu đó, cái kỳ tôi tu đó, 10 năm tôi đâu có nói chuyện, tôi co lưỡi niệm Phật mà ngồi họ đi ngang gõ cái cóc cũng thay kệ, thọc cù léc cũng thây kệ, cứ ngồi vậy à, ngồi ngay chình ìn giữa nhà vậy à. Cho nên bà Tám quánh ngày không biết nhiêu lần thay kệ (cười), hông có đồng xu đóng vô hụi mà (cười), hông có đồng xu đóng vô tiền nhà mà (cười). Cứ ngồi niệm Phật tới đâu tới. Mà niệm tới nó rung, nó nhột chỗ này đó, đó bã nói "khùng rồi đó!". Thì ở đời người ta nói khùng là đúng; Người ta đâu có nói bậy, thẩy hông? Làm ăn, hổng đi làm ăn mà cứ ngồi đó, cứ nói... Rầu quá! Cả nhà ai cũng dòm hết đó. Hồi đó, hổng ai chơi kiểu đó với mình cha đó chơi với nó đâu cứ ngồi đó niệm Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, hổng ích gì! Hổng cho thì đi chỗ khác ngồi, nó đuỗi thét rồi đi, rồi lên nằm ở trên gác có một góc chút xíu ngồi tôi niệm. Niệm đã rồi nhớ ông Tư, rồi đi xuống kiếm ông Tư vậy thôi, hổng chơi với ai hết. Mười năm trời.

Bạn đạo: Thí dụ ngồi mà ngồi tịnh đó Thầy, nó nó hơi, nghĩa là ở trên này nó làm như có cái luồng điển đó thầy, nó nó đưa lên, nó rút lên nó rút đó mà cái con người mình đó thầy, nó hơi hơi chút phải vậy, phải vậy hả thầy là đúng hả thầy

Thầy Tám: Nó rút đó, nó rút đó...

Bạn Ðạo: Nó rút lên. Mà cái con người mình đó Thầy, nó hơi hơi, một chút đó...

Thầy Tám: Có, nó phải như vậy.

Bạn Ðạo: Phải vậy là đúng hả Thầy? Dạ mà nhiều khi con tưởng, con nói…

Thầy Tám: Phải, đúng. Mà khi mà cái luồng điển mà đi tới hết sức rồi đó, nó hồi trở lộn lại, là nó nặng đó. Nó nặng là mình phải xả, xả nằm. Mà nằm một chút rồi muốn thiền trở lại, nhắm mắt. Trong lúc nó lâng lâng, lâng lâng, lâng lâng, nó rút đi lên là nó đi ra, đi ra học đạo rồi. Mình cứ làm thinh để coi nó đi tới đâu? Ði tới một hồi... Như có người, khi đi năm phút, hay mười phút, nó hồi trở lộn lại. Có người có khi đi tới nửa tiếng hay một tiếng, nó hồi, nó nặng cái đầu lại. Nặng đầu mình xả, không cần ép làm chi.

Bạn Ðạo: Mà lúc đó sung sướng lắm Thầy.

Thầy Tám: Ờ, nhẹ lắm. Cho nên cái Thiên Khổng Nhất, nghĩa là lưỡng nghi hợp nhất đó, cái cửa dưới với cửa trên, hai cái hợp lại, nó rút lên một cái đó, còn sướng hơn trong lúc mình giao cấu giữa đàn ông với đàn bà. Mà con người nó lại trẻ đẹp nữa.

Bạn Ðạo: Mà thấy con người nó nhẹ nhàng, nó khoan khoái.

Thầy Tám: À, bác Đại.

Bạn Ðạo: … cũng vậy luôn Thầy…

Thầy Tám: Paris này, trời Paris ít sáng lắm, nhưng mà lên trời Paris hôm trước lên cũng như été, há. Cũng như été.

Bạn Ðạo: Mà đi đâu cúng đó Thầy.

Thầy Tám: Kỳ.

Bạn Ðạo: Mà con nghĩ đi chỗ nào ông trời ổng cũng làm … Texas cũng vậy, nóng nực, chưa bao giờ mưa Thầy.

Thầy Tám: Trước ngày xuống là mưa, mưa hai trận cho mát cho nên tôi mới xuống.

Bạn Ðạo: Texas có mưa hả Thầy?

Thầy Tám: Có mưa.


----
vovilibrary.net >>refresh...