THIỀN ĐƯỜNG INGLEWOOD - LUẬN ĐÀM - Cuốn 2 (phần 1)
Đức Thầy: Hôm nay cũng là buổi thuyết giảng cuối cùng, và tui được tương ngộ Quý Vị nơi đây, chuyện mà chúng ta đã tương ngộ trong mấy tuần qua và trao đổi trong chương trình học hỏi của tâm thức mọi người, thì tui thiết tưởng, không nhiều thì ít, các Bạn ở đây cũng thức giác được một phần, và nội tâm của các Bạn cũng đã và đang nguyện sẽ đi tới nghiên cứu cho tận cùng cái phần thanh điển thức giác của nội tâm mình, và sẽ đóng góp cho tương lai mỗi tiến, mỗi giới, mỗi ngành, để thực hành và đi tới trong tâm thức căn bản của chúng ta. Cho nên, mỗi người chúng ta không có suy yếu động, vì chúng ta không ý thức khả năng sẵn có của chính mình cho nên than thở với Trời, Phật, lưu luyến với Trời, Phật, mà không hành tới nơi.
Bây giờ chúng ta hiểu rồi : Phải tìm khởi điểm để giao cảm với tất cả những gì chuyển hóa của Càn Khôn Vũ Trụ ! Những chuyện hữu ích quang lâm tới thế gian là đều dẫn tiến tâm hồn của mọi người, mà chính loài người đã hiểu lầm và không chịu thức và trở về khởi điểm với chính mình để hiêu rõ hơn khả năng sẵn có của mọi tâm hồn.
Ngày hôm nay, Quý Vị được trực diện với tui; tui là người trong sự thắc mắc của Quý Vị, các Bạn, thì cũng không ngoài sự tìm hiểu đạt tới âm thinh để hòa cảm với Quý Vị trong giờ thuyết giảng; và Quý Vị thấy đó mà Quý Vị thấy rằng con người bằng xương, bằng thịt mà có thể dùng thanh điển và để hòa cảm với mọi tâm linh trong tình thương huynh đệ của con một nhà : [T1- 02:24] chúng ta đồng là con của Thượng Đế, từ Thiên Đàng giáng lâm xuống thế gian; các Bạn không phải sanh tại đây: thể xác mà thôi! Còn tâm linh phần hồn của các Bạn, không phải sanh tại đây! Cho nên, các Bạn đừng nên mê muội cõi trần, quên về Nguồn Cội, quên về quê xưa chốn cũ của các Bạn.
Cho nên, các Bạn thường ý thức rõ, không chịu sự ô trược tại thế, không chịu sự lang bang trước mắt. Vì sao? Vì sự động loạn bên trong của chúng ta, và chúng ta chấp. Và nếu chúng ta hòa cảm với mọi khả năng và mọi sự nhiễu động của ngoại cảnh thì chúng ta không còn chấp và chả còn mê; lúc đó mới giải tỏa được cái sự yếu hèn mà mình tự bần cùng hóa trí tuệ của chính mình.
Cho nên, mỗi một phần hồn đều là sự siêu diệu vô cùng bất diệt: chúng ta đã có kẻ ngồi đây để thực hành, thấy rõ chính mình phải cố gắng mới đem lại sự thanh tịnh cho ta, vì những người đó ý thức được cả luồng điển ngay bộ đầu của Người cũng ý thức được : khi Người nhắm mắt là cảm thấy một luồng giao điển khai triển từ bộ đầu sắp lên, cho nên tâm hồn Người được thanh nhẹ; vì đó, Người đã ngồi thiền để tìm một cái gì? Tìm sự siêu diệu vô cùng để đóng góp cho những người kế tiếp.
Cho nên, trước kia những vị đã thành đạo cũng do môn Thiền mà thành đạo: trụ tâm mới đắc pháp! Bây giờ chúng ta đã có cơ hội rõ rệt, làm thế nào để đạt tới trụ tâm? Mà tâm ta là gì? Tâm ta là phần thanh siêu diệu vô cùng; cho nên chúng ta có pháp khứ trược lưu thanh, thì nó mới vun bồi được cái ý thanh trong chu trình tiến hóa !
Cho nên, mỗi mỗi chúng ta đã thực hành, chúng ta thấy có sự cảm giao từ cái Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định thấy rõ rang: nó mở từ giai đoạn một, nó làm cho tâm hồn chúng ta được an, và sự sáng tạo của bộ mặt nó lại thay đổi. Đó!
Cho nên, mỗi mỗi chúng ta tu rồi, chúng ta mới ý thức được : chỉ có thực hành mới đạt thành !
Còn nếu không có thực hành, kể cũng như không! : [mp3.1-05:05] Bây giờ lý thuyết tràn giang đại hải, các Bạn đã học trong trường; bao nhiêu ông Thánh giáo dục Bạn trở nên một vị thánh? Chưa được! Trở về nhà, thấy mình vẫn còn nuôi dưỡng thú tánh, và không biết mình là ai, ở đâu đến đây, rồi sẽ về đâu? Khổ vô cùng.
Cho nên, tui có làm 4 câu thơ :
“Thiên địa hữu tình nhân loại hóa
Mặt người thú tánh nhận không ra
Long lanh trước mắt cho là đẹp
Hóa dục quần sanh lãnh khổ mà !”
Từ vua tới dân đều ôm lấy cái khổ mà ra đi. Vì sao ? Vì bất minh nguyên lai của chúng ta; thì chúng ta khổ đời đời.
Nếu chúng ta minh nguyên lai, hồn là chủ của thể xác, thì chúng ta tiến về nơi giải thoát thanh nhẹ đời đời; không chấp trong thể xác, không chấp trong lý đời, không đối nghịch với bất cứ ai; hòa cảm với tất cả mọi trạng thái! Chúng ta đã định ngay tại thế! Động là chúng ta chia cách; mà chúng ta hoà tan là định.
Cho nên, cái phương thức công phu này, tại sao thực hành với công phu này lại được hòa tan? Vì chúng ta mở những cơ tầng của nội tạng quy nhất : Kim ra Kim, Mộc ra Mộc , Thủy ra Thủy, Hỏa ra Hỏa, Thổ ra Thổ; không có động loạn, không có rối cục, không có dồn cục mà để tạo ra cái lý thuyết bất chánh rồi đè ép người này tới người kia, cũng như trong rừng cây bị ngã trong cơn bão, vậy thôi! [T1-06:48]
Bây giờ, cái phương pháp này nó lập lại trật tự cho tất cả: mỗi điểm đều thăng hoa sáng suốt; cho nên, cảnh thiên đàng có nhiều người cũng đã đi, thấy sáng suốt, sáng sủa vô cùng, tươi đẹp vô cùng, từ cọng cỏ cho đến một chư Tiên, chư Phật, đều siêu diệu sáng suốt; mà nói đến cho người phàm nghe, ai cũng thấy sung sướng thanh nhẹ.
Rồi ở thế gian, Quý Vị đi học để làm gì? Để đạt tới sự thanh nhẹ. Những người học cao học, thi đậu ra bằng cấp, tâm tình phải thay đổi, chớ đâu có ô trược như xưa nữa! Lần lượt nó hướng về thanh, và nó cảm thức khối thanh, vì nguyên lai của phần hồn là thanh giới giáng sanh xuống thế gian, chớ không phải từ trược giới mà sanh ra.
Cho nên, xuống đây va chạm với phần trược, để vun bồi sức mạnh sẵn có của nó, và để tiến tới vô cùng bất diệt của tâm linh sẵn có của nó! Cho nên, chúng ta học hỏi rồi, chúng ta đi, chớ đâu có ai ở thế gian này được; đâu có ai có thể triển hạn lại được! Trong giờ phút lâm chung, cầu xin cách mấy cũng không có quyền triển hạn, vì học hết khóa rồi, phải ra đi!
Cho nên, chúng ta đều ý thức rõ bây giờ, những người bây giờ được văn minh hơn và học hỏi nhiều hơn, và có những sự chứng nghiệm cho thấy rõ từ hình dáng để chiếu lại cho chúng ta thấy để chúng ta???, cho nên chúng ta có thể rút ngắn thời gian hơn được hơn hồi xưa. Hồi xưa, đợi đến lúc đó, đi tới đó, mới thấy cảnh này, cảnh nọ; ngày nay, khoa học đã cho chúng ta thấy rằng vật chất có thể lên cung trăng được, và lên tới cung trăng, có nặng đi nữa nó cũng giảm thành nhẹ.
Vậy chớ, phần hồn của chúng ta còn nhẹ hơn nữa, không? Mà cái ông không có hồn, không có thể lái chiếc phi thuyền đó đi vào cung trăng được! [T1- 08:47] Cho nên, linh hồn của con người là sáng suốt vô cùng, và nó sẽ chiếu diệu mọi nơi, mọi giới nếu nó trụ; còn nếu nó không trụ, thì nó bị lệ thuộc.
Cho nên, những người ở thế gian hiện tại, đại đa số đều lệ thuộc, rồi đâm ra sợ thần linh và cầu thần linh hỗ trợ! Cho nên, cái bàng môn tả đạo nó xuất hiện rất nhiều tại quả địa cầu hiện tại, và đem lại cho con người đặt trong tình trạng mê loạn, mê tín, và bị quản lý bởi một khối kêu, không đáng khích lệ cho tâm linh học hỏi, nhưng mà lệ thuộc mãi mãi! Đau khổ vô cùng! Cho nên, chúng ta thấy rồi, chúng ta ý thức và, không nhiều thì ít, cũng có ăn học rồi, chúng ta phải xây dựng để nó sáng suốt hơn và trở về tự chủ căn bản của chính mình.
Cho nên, có cái môn pháp này, người hành trước cũng bị lệ thuộc một giai đoạn nào, mới tức, tìm ra cái pháp này, và để trao lại cho những người kế tiếp là tự chủ, hoàn toàn tự chủ, không có lệ thuộc được một ai hết, thì cái pháp đó nó mới có giá trị! Mà người đã hành trước, bất cứ đạo pháp nào, (nghe không rõ) người cũng nghiên cứu và xâm nhập để tìm hiểu, nhưng mà rốt cuộc không có kết quả.
Cho nên, rốt cuộc phải truy về hành, khai triển trở về cái Hư Không Đại Định: không còn màu sắc để quyến rũ Người nữa, Người mới thức thông mọi giới và để cho ta minh và hiểu, rồi chúng ta tự chủ để khai triển phần hồn tới vô cùng và tiến thẳng vào Hư Không Đại Định.
Tại sao phải tiến về Hư Không Đại Định? Trong cái không mà có cái gì phải tiến? Nhưng mà trong Không mà Có: đó là phần hồn; chấn động lực vô cùng mau lẹ, mắt phàm không thấy!
Vậy khi chúng ta thực hành cái này, thì cái chấn động lực của luồng điển càn ngày càng mạnh, và nó hòa tan trong hư không, thì chúng ta vô hình vô tướng, sẽ trở nên vô hình vô tướng! Nhưng mà tùy thức mà nhìn xem: mặt chúng ta có người thích trược, thì thấy nó to lớn; nhưng mà người thanh nhẹ thì thấy nó nhỏ nhẹ và hòa cảm mau lẹ.
Sau này, phần hồn của người tu Vô Vi sẽ tiến về Hư Không Đại Định, là hòa tan với bất cứ giới nào;không bị lệ thuộc, không có giữ cảnh, và không có chuyện tà môn phỉnh phờ thiên hạ; nhưng mà đi trong thực chất để tìm hiểu căn bản sẵn có của chính mình! [T1- 11:44]
Cho nên, cái phương pháp này nó sẽ đem cái siêu văn minh cho nội tâm mọi người, nó mới tạo một xã hội tốt hơn, siêu hơn, thật thà hơn. Do đâu mà tạo? Do tâm thức của nhơn sinh. Mà tâm thức của nhơn sinh không khai triển được chính mình, làm sao tạo được cái siêu văn minh tại thế?
Cho nên, phần điển là phần quan trọng: âm thinh các Bạn có, hơi thở các Bạn có, màu sắc các Bạn có;cái đó là Thức trong siêu văn minh. Mà nếu trụ, thì nó càng ngày càng sáng hơn, càng rõ rệt hơn, càng hấp dẫn và chiếu rọi cho những tâm hồn tăm tối, dẫn tiến một cách mau lẹ trong trực giác.
Cho nên, cái phương pháp công phu này, sau này các Bạn thực hiện đâu đó nó có tầng lớp, và các Bạn trở về vị trí của một y sĩ căn bản, (nghe không rõ) động loạn của nội tâm, nội thức của chính mình; và những cái bệnh hoạn nan y đang cấu kết trong cái bản tánh bất chánh của ta đều được giải tỏa và trị; rõ rệt, chính mình phải lo, không phải nhờ một người y sĩ lo!
Cho nên, cái quan trọng là Thần Thức của chúng ta mới trị cái căn bệnh của chúng ta.
Cho nên, rốt cuộc phải thực hiện tình thương và đạo đức: đó là viên thuốc đời đời bất diệt, và đưa tâm linh tiến hóa tới vô cùng.
Cho nên, chúng ta ý thức được cái đó, cái điều quan trọng, chúng ta nên giữ đó mà tu, giữ đó mà tiến, giữ đó mà khai minh đường lối đang bị lố bịch trong trí óc chúng ta! Mỗi người đều bị kẹt hết thảy, vì không quy về nội tâm, nội tạng, cho nên cái thức nó không khai, cho nên nó bị kẹt và nó trì trệ; do đó, rồi cái luồng điển nó sẽ tràn ngập trong trí óc.
Khi chúng ta muốn thấy rõ cái bản chất lười biếng mà chúng ta đã nương tựa tại thế từ bao nhiêu năm nay, thì thực hiện cái pháp này thấy rõ ràng: khi đọc, thấy thích ; khi học, muốn hành ; nhưng mà tới giờ hành, nó lại không chịu, nó viện đủ lý lẽ, không làm! Đó! Bản chất lười biếng nó đã thâu thập tại thế; đó là sự trần trược tại thế !
Sự chậm trễ tại thế, thì chúng ta ý thức được, cương quyết, “Hồn ta là bất diệt!” Thì chúng ta làm chủ hoàn toàn, và trong lúc giờ thiền là phải thực hành đúng, không được trì trệ ! Ý chí chúng ta vun bồi và bắt buộc cái thể chất này phải tuân theo cái lệnh của Chủ Nhân Ông, là phần sáng suốt sẵn có phần hồn.
Cho nên, các Bạn đang sống đây với phần hồn : phần hồn làm chủ, chớ không phải thể xác làm chủ! Đừng có lầm là thể xác làm chủ! Nguy hại vô cùng; tới giờ phút lâm chung, không có lối thoát!
Chúng ta ý thức được phần hồn, chúng ta vun bồi phần hồn : từ bộ đầu chúng ta khai triển tới vô cùng. Lúc đó, chúng ta thấy rằng cái việc học hành hòa hợp với cả càn khôn vũ trụ tối cần thiết cho tâm linh.
Nếu mà chúng ta không chịu học cái khóa đó, và hòa tan trong Hư Không Đại Định, thì chúng ta lúc nào cũng bị kẹt, và lúc nào tự hành nó cũng bị hăm dọa vì cơ tạng yếu hèn, là vậy!
Khi mà tâm thức của chúng ta mở rồi, thì cơ tạng yếu hèn này không có làm chủ được; mình làm chủ,mà thôi !
Cho nên, cái phương pháp công phu này, phải thực hành mới có; còn lý thuyết, không bao giờ đạt được! Bây giờ Quý Vị thấy chư vị Phật mà thế gian đang thờ tụng đây, có vị nào không ngồi thiền không, và không giữ cái trật tự thanh tịnh không? Những vị đó đang ngồi thiền, và giữ trật tự thanh tịnh, mới cảm động được lòng người. [T1- 15:51]
Dù biết đó là cái hình nộm bằng đất, bằng vàng, bằng sắt, nhưng mà cái tâm người vẫn quý mến, quỳ lạy! Đó là gì ? Thán phục trong cái trật tự tâm linh cuả chư Phật đã đạt thành. Cho nên, khi chúng ta quỳ lạy, chúng ta phải ý thức rằng, “Tâm linh tui hướng về tâm linh của Ngài; tui không bị lệ thuộc bởi cái hình nộm đó, và không bị ma quỷ ẩn núp trong hình nộm đó sai tiếp tục.”
Cho nên, ở đời này họ còn lầm nhiều: tưởng là cái hình đó đã chứng minh và được khai quang; đó là Phật ngự! Cái người khai quang, đó là con người phàm mà thôi: dù tu tới bực nào, cũng là người phàm mà thôi; mang thể xác ! Cho nên, tâm chúng ta phải xét cái luồng điển đối phương.
Cho nên, đó là vô cùng; vì thức: khi chúng ta tu cái pháp này rồi, chúng ta khai triển từ động tới tịnh rồi, chúng ta lấy cái thanh tịnh đó đo lường những cái gì mà chúng ta ý thức trước mặt; chúng ta thấy có sự cảm giao và dẫn tiến. Cái đó mới là chánh !
Còn cái sự liên hệ mà đè bẹp tâm trí chúng ta, làm cho tâm trí chúng ta càng ngày càng lu mờ, vì chúng ta (nghe không rõ) “Vì tui cầu tiến và học sự thanh nhẹ, chớ tui không học sự ô trược”; cho nên hoàn toàn tự do để tiến tới và học! Chư Phật, chư Tiên cũng như một người mẹ hiền đối với người con: người con mà chịu lân la đến người mẹ, hỏi người mẹ ban ơn và trao phước cho nó, người mẹ không bao giờ đối xử ích kỷ đối với người con của mình!
Thì hỏi, tình thương của mẹ, của Đức Mẹ, của Quan Âm đối xử chúng ta thế nào? Tại sao chúng ta còn sợ sệt? Tại sao chúng ta còn quá lệ thuộc, và chúng ta không tiến gần Ngài để học hỏi cái sự cảm mến và cái sự ban bố trực tiếp trong tâm hồn chúng ta được thăng hoa? Cho nên, chúng ta phải phá cái chấp đó để đi tới : thiệt là Đức Mẹ, thì chúng ta tới Đức Mẹ ; thiệt là Quan Âm, thì chúng ta tới, Quan Âm càng thương mến.
Cho nên, cho hình thù tại thế gian là biểu hìện tình thương của quý Ngài, đó là người mẹ hiền tại thế;không có người mẹ nào bằng lòng làm những điều ác ôn đối với người con của mình.
Nếu chúng ta thực hiện điều ác thì khi ra đời chúng ta đã bóp mũi, đâu có để nó sống! Cho nên, đã thực hiện cái tâm trạng của mẹ hiền thì mới thấy rằng tâm trạng của Trời, Đất còn rộng hơn chúng ta, còn sáng suốt hơn chúng ta, để giúp đỡ chúng ta nhiều hơn, nếu chúng ta chịu thực hành tới nơi tới chốn để đảnh lễ Ngài.
Cho nên, cái phương pháp công phu này nó phải trụ về phần hồn; và phần hồn đó phải xuất ra để đảnh lễ những vị mà mình đã từng mong gặp và kính mến.
Thì cái tôn giáo nào cũng là quy một: tất cả tôn giáo nào cũng thực hiện từ bi và bác ái, tình thương vô bờ bến, vô biên của Chư Phật, Chư Tiên, của Chúa, cũng vậy.
Cho nên, mỗi khi chúng ta thiếu trật tự thì chúng ta còn nhầm lẫn trong sự mê chấp, mà thôi.
Và khi chúng ta có trật tự rồi thì sự u mê tăm tối không còn, và sẽ tiến về trong cái chu trình trung dung tiến giải, hòa hợp học hỏi tới vô cùng vô tận. [T1- 19:37]
Cho nên, cái phương pháp công phu này sẽ đem lại cho các Bạn tiến tới dễ dãi và tự chủ, tự thức, tự hành; không còn lệ thuộc nữa.
Những gì mà tui đã đạt được là tui đã đem lại hết rồi ; tui nói hết về phần thanh điển, về phần thực hành; ngôn ngữ của tui hằng năm, những người đã nghe qua tui từ ở Việt Nam và tới bây giờ, những cái băng mà tui lưu lại tại thế đây, các Bạn sẽ mổ xẻ cái đó ra, và làm ra một tài liệu quý báu để đóng góp cho mọi người trở về thực chất cho chính họ; thì sớm đạt sự siêu diệu đề đóng góp cho cộng đồng, xóa bỏ hận thù, và tiêu diệt sự tăm tối của nội tâm; thì chúng ta mới thấy rằng có cơ hội để tự giải thoát, chớ không nên giải thoát bằng đôi môi mà vun bồi sự hận thù, tăm tối, rồi tự giam mình xuống địa ngục, đó thôi! Khi các Bạn đề xướng sự hận thù đó, rồi các Bạn giam ai? Tăm tối hận thù đó là đem lại tăm tối cho chính mình, và tự ngăn bước tiến của mình!
Tại sao mình không dùng cái dũng thực hiện tình thương và đạo đức, để cảm hóa những tâm hồn đen tối; mà chúng ta lại vun bồi sự đen tối cho chính chúng ta?
Hỏi chớ, con đường sáng lạng của chúng ta ở đâu, mà chúng ta trở về con đường eo hẹp?
Cho nên, các Bạn phải ý thức rõ những cái gì, “Khởi điểm tốt gặt hái tốt, khởi đểm xấu gặt hái xấu”; cho nên cả càn khôn vũ trụ đều lâm vào tình trạng ích kỷ, đen tối, cho nên tự gây sự cô đơn cho chính mình mà thôi!
Một cái phương pháp của chúng ta công phu đây là hòa đồng với tất cả, hoà tan với mọi giới, và thấy rõ chúng ta từ mọi trạng thái mà ra; thì chúng ta hòa tan trong mọi trạng thái, mới đạt tới cái Định. [T1-21:37]
Đó ! Chúng ta định ngay giữa chợ, chúng ta định ngay trong chùa, chúng ta định ngay trong gia cang, định lúc chúng ta làm việc!
Tất cả chúng ta hoà cảm : đây là Thượng Đế, đây là tạo hóa, đây là tất cả càn khôn vũ trụ đã đóng góp tâm linh cho chúng ta.
Chúng ta chỉ thừa hành mà tiến giải, sửa mình sẽ học hỏi, chớ không có duy trì cái vận mạng nữa.
Cho nên, phải cố gắng thực hành để thấy rõ phương pháp công phu, và chính mình phải thực hiện cho mình, mới đạt thông!
Hôm nay là buổi thuyết pháp cuối cùng, để phân minh cuộc đời cũng như đường đạo: để cho các Bạn được hiểu, và ý thức, và sẽ nghe lại những cuốn băng mà tui đã từng thuyết, thì không có tui không lý thuyết trở lộn lại nhiều quá, thì nó bận tâm các Bạn.
Bây giờ, các Bạn có gì thắc mắc, nêu ra; tùy trình độ, tui sẽ phân giải cho mọi người được hiểu rõ về sự thắc mắc tăm tối của chính mình đã và đang có.
Cảm ơn các Bạn.
Có ai thắc mắc không?
Bạn đạo1: Thưa Thầy: con mới tập phương pháp công phu này; con cũng không có tỏ lòng cái sự vọng động của con, nhưng mà con cũng hỏi Thầy để cho con biết: thì cách đây hơn 1 tháng, và trong lúc con công phu xong, con làm Pháp Luân Chiếu Minh, thì con thấy một luồng ánh sáng ở ngoài, và có một đường hầm đen tối, và hơn nữa có một sức hút rất mạnh; và trong ý con thì con thấy là con phải xuất hồn ra! Nhưng mà bên tai con thì con nghe Thầy giảng; nhưng mà Thầy giảng cái gì thì con cũng không có để ý; và, con nghĩ, trong khoảng chừng từ 10 phút đến 15 phút, thì con không có xuất ra khỏi cái đường hầm đó, thì con mở mắt ra!
Đức Thầy: Ừm.
Bạn đạo1 : Thì cái tiếng nói của Thầy đâu mất, mà con cũng không tìm lại được! [T1- 23:52]
Đức Thầy: Đó là cái nhịp tim nó bắt đầu hé mở, và hòa hợp với nhịp tim trung tim bộ đầu; thì nó mới nhóe một chút; thấy đó là cái, cũng như cái hang tối, mà trong đó, bên ngoài nó chiếu sáng; thì cái đó,nó mới nhịp tim mới bắt đầu khởi định lên trung tim bộ đầu, mà thôi. Nhưng mà cái đó, chỉ độ để tiến;nhưng mà sau này nó sẽ đi tới chấn động lực hòa hợp hơn, chúng ta thấy càng rõ hơn, và thấy xuất ra,đi được.
Bạn đạo1 : Dạ,
Đức Thầy: Nhưng mà không nên kéo phía bên tay mặt, kéo bên tay trái! Chỉ ngó trung ương đi ra; không có bị lạc đàng!
Bạn đạo1: Sao bên tai con lại nghe tiếng nói của Thầy? Lúc đó con chưa biết Thầy là ai!
Đức Thầy: Cái đó là cái phần điển nó hòa hợp với cái khối Vô Vi, và luôn luôn, trong lúc giảng tui nó cái điển chuyển hóa thành cả Càn Khôn Vũ Trụ. Đó là tùy thức mà lĩnh hội : như nãy giờ tui giảng đây, không phải giảng cho một số người ở đây, nhưng mà những cái chấn động lực trên bộ đầu tui, như các Bạn đã chứng mình là cái đầu tui nó có thể chuyển đó, thì mỗi nơi họ hướng về, thì họ sẽ được nghe! Đó.
Bạn đạo1: Thưa Thầy, như vậy là khi nào con tập công phu đủ điển là con xuất ra được, chớ không phải là,..
Đức Thầy: Đủ điển thì xuất ra! Không cần sự nhờ đỡ! Bởi vì mỗi người đều có cái căn, căn tu từ nhiều kiếp, cho nên kỳ này nó mới là có cơ hội tương ngộ. Đó! Thì không phải là tu ở kỳ này mới đạt được; nhưng mà đã tu nhiều kiếp!
Bạn đạo1: Con nghe các bạn đạo nói là lúc sau này Thầy không có cho phép xuất hồn, xuất vía nữa; cho nên, …
Đức Thầy: Không; vẫn có chớ! Tùy thức, tùy trịnh độ; tùy thức, tùy trình độ!
Bạn đạo1: Dạ.
Đức Thầy: Cho nên, cái trình độ người ta tu nhiều kiếp thì bây giờ người ta chỉ lập lại trật tự, thì họ xuất! Cái xuất đó cũng tùy cái giới mà xuất: bởi vì hồi trước tu thấp thì bây giờ nó xuất thấp; rồi một thời gian, nó cũng quy tụ trở về để thực hiện về Hư Không, vì cái kỳ công tu nó giải tỏa tất cả những sự trược khí, thì nó đi tới thanh giới vô cùng; thì lúc đó nó không còn (nghe không rõ) nữa : mà ban đầu thấy kia, thấy nọ; một thời gian cái, nó hết!
Mau hơn nữa là phải hướng về Hư Không Đại Định. Còn tất cả những cảnh gì mình thấy chỉ là tạm mà thôi, nó phải thay đổi! [T.1- 26:14]
Bạn đạo2: Kính thưa Thầy,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo2: Giờ, cái nguyên lý của Lục Tự "Nam Mô A Di Đà Phật" Thầy đã giảng chúng con nhiều lần, nhưng mà trong cuốn “Kinh A Di Đà,” con đọc, con thấy rằng đức Ông Tư giảng nghĩa rằng Đức Phật A Di Đà là đệ tử của đức Phật Thích Ca!
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo2: Xin Thầy nói rõ về cái lý lịch và cái tiểu sử của đức phật A Di Đà? Con không hiểu rõ chỗ này.
Đức Thầy: Trong cuốn “Kinh A Di Đà” có nói: về đức Thích Ca truyền đạo, mà A Di Đà thì truyền khoa. À! Cho nên, cái đó, về cái tần số điển quang mà làm việc! Cho nên, nếu hướng về đức Thích Ca, thì đức Thích Ca có một luồng điển vô cùng của Ngài; và đức Di Đà truyền khoa và dạy cho mọi người tự tránh được tai nạn, và để tu và đi lên.
Cho nên, khi mà thiền, chúng ta thiền, nhắm mắt thấy chiếu sáng cũng như là đèn soudure d’hydrogène, rọi sáng, đó là cái điển cuả Đức Thích Ca truyền ra! Cho nên khi mà được cái luồngđiển đó, thấy con người nó thanh nhẹ vô cùng!
Cho nên, nếu còn nói về cái tiểu sử của đức Di Đà, nó không trúng, bởi vì từng số điển quang phải thích hợp; bởi vì nó có trật tự để tiến về Phật giới thì nó phải có từng số điển quang chiếu diệu của tiểu sử, là làm cho con người mê hoặc người đó!
Chúng ta tu về điển giới, phải cắt nghĩa về điển giới, thẳng thắng như vậy: nếu tiến về Phật, tiến về đức Thích Ca, thì chúng ta phải qua một khóa học, này. Cho nên, chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” để chi? Để “Khứ Trược, lưu Thanh,” và khai thông muôn nẻo lố bịch trong nội tâm, nội tạng; rồi đạt tới Thanh! [28:06]
Khi mà đạt tới Thanh rồi mới hiểu nguyên lý của Thượng Đế! Chớ không phải là đạt tới thanh rồi kẹt trong thanh luôn!
Rồi cái khoá học này, nó học tới Thanh rồi, nó còn phải học nguyên lý Đại Từ Bi của Thượng Đế. [T1- 28:23]
Cho nên, cái khóa này phải bước hẳn vào Thanh Điển rồi mới trở về làm việc với Thượng Đế; mà đi tới vô cùng bất tận; thì đời đời sáng suốt.
Thành ra khi chúng ta bước vào Điển Giới và chúng ta ôm lý lịch và ôm lịch sử quá nhiều, thì luồngđiển của chúng ta bị ba lăng nhăng, không có đi được!
Cho nên, ở đây không có chủ trương nói những cái đó; mà thực hành để thấy luồng điển: khi ta niệm,ta thấy nó chạy từ đâu tới đâu, và nó mở từ đâu tới đâu. À! Chúng ta nằm hẳn vô trong Điển Giới, thì không có bị sứt mẻ, và không có bị trì trệ. Cái khóa cấp tốc, phải đi như vậy!
Còn cái đằng kia, đi chậm lắm : nếu mà hiểu lý lịch của Thích Ca, rồi hiểu lý lịch của đức Di Đà, rồi hiểu đến Phật Tổ gì, Phật Tổ gì, Phật Tổ gì; có người phải học tới 30 ngàn ông Phật; rốt cuộc rồi cũng không hiểu lý! Chính ở Đài Loan, có nhiều người, bỏ mấy tháng để đọc hết tất cả những danh tánh của những vị Phật; nhưng mà rốt cuộc không có hiều gì hết! Mà chính những người ở Manille cũng đến tui, và tui chỉ cho tại sao không đi đến đâu? Vì làm trì trệ Tâm lý của chính mình!
Và chúng ta phải thực hiện, trụ hẳn trong Thanh Điển để thăng hoa tiến lên, thì nó mau hơn.
Còn nếu học nhiều như vậy mà tâm thức của chúng ta, thể xác chúng ta không đủ thì giờ để chứa đựng những lý lịch đó, thì tự nhiên là nó gây sự trì trệ.
Mà hay đó để làm gì; hiểu đó để làm gì? Để nói lại cho người khác nghe; người ta cho mình hay; nhưng mà trong tâm mình nói, “Tui chưa đạt! Tui không có thể chứng nghiệm được sự phát triển của chính tui, vì tui cũng như cái băng cassette, là thâu những cái gì của thiên hạ, và nói lại, mà thôi!”
Còn cái này, khác! Cái này, các Bạn có băng công phu; khi các Bạn nghe băng, trong cái giai đoạn đầu có ý nhớ băng; đó là mình còn chậm, trì trệ; thì người ta dùng cái băng để chuyển điển và dẫn tiến tâm linh của chính mình. Rồi một thời gian mà mình xuất ra được rồi đó, nghe băng, chỉ thấy thanh nhẹ, mà thôi: sự giao cảm luồng điển, và không hiểu chúng ta ngồi đâu đây? Chỉ nhắm con mắt, nghe băng rồi, thấy chúng ta thoát phàm, không còn ở tại thế nữa! Thì chúng ta học ở cõi khác! [T1- 30:48]
Thì cái băng này, nó là dùng cái điển âm để giải tiến tâm linh; nghe tới đâu thì được mở tới đó. Mà người mới tu, nghe tới đâu thì nói, “Ồ, cái này không đúng!” Mà vừa nói “Không đúng!” thì có cái câu sau nó phụ họa và nó mở ra liền, thì thấy đúng! Nhờ đó nó mới mở tâm linh tiến hóa.
Cho nên, cái phương pháp bây giờ nó trực tiếp về Điển Hành, không còn Thể Hành nữa: không còn những cái hình để cho chúng ta nhận định; nhưng mà chỉ cần cái hào quang: chúng ta sẽ nhận định trong cái hào quang vô cùng của chư Phật, chư Tiên, hay là của Thượng Đế; thì cái đó mới tiến về Chánh Giác được.
Còn dùng lý trần trược, hình thù, là “Hữu hình, hữu hoại”: khi mà các Bạn đọc tới hết rồi, cái chơn lý các Bạn thấu đáo rồi, phá vỡ tấm màn đó, là cái mạng các Bạn hết rồi, là không có cơ hội tu!
Còn cái này, chúng ta đi tắt, là phải trực tiếp, phải thông cảm, quán thông, hiểu, bước thẳng vào vô Điển Giới, học, và tiến nó mau hơn mà thực tế hơn! Thì rốt cuộc chúng ta chỉ giữ phần sáng suốt! Nếu kiếp này trụ được hào quang, thì ta tiến về cái giới đó, sáng suốt hơn, và dễ học hỏi hơn!
Cho nên, không có chấp trong cái thể xác, và không có chấp trong việc đời nữa.
Cho nên, ở trong gia đình, tui nói rằng, minh sư của chúng ta là vợ, con; đàn bà tu thì minh sư của chúng ta là chồng, con: có sự kích động và phản động mới đo lường sự thanh tịnh của chính mình.
Thì mình cứ việc nghiên cứu cái phương pháp công phu này: trước kia, một câu thì mình trả lời 3 câu;bây giờ, mình thấy càng ngày càng tu càng nhẹ, càng đi vào trong rồi đó, thì người ta nói một triệu câu, mình chẳng có nghe câu nào, nhưng mà mình hóa độ cho đối phương, và ảnh hưởng cho đối phương thấy rõ rằng con đường tự tiến là Chánh Giác. Đó!
Cho nên, cái phương pháp này nó sẽ sử dụng tại gia, thay vì đi tới một cái cảnh nào điều kiện tốt đẹp để tu. Nhưng mà cái này, không! Lủng củng, lộn xộn chừng nào, mà thực hiện cái pháp này tới thanh tịnh đó, thì mới thấy cái pháp này nó quý! Và cái pháp này của Thượng Đế ban cho tất cả mọi người! Mọi người là chủ của cái pháp! Nếu mọi người không chịu thực hành, thì cái pháp này kể như bỏ! Mà mọi người chịu thực hành, cộng đồng sẽ càng ngày càng tốt, không có mê chấp, không có sự ganh tị và đối xử xấu với nhau giữa loài người và loài người. đó đó
Còn cái gì thắc mắc nữa? [T1- 33:33]
Bạn đạo3: Thưa Thầy, xin Thầy cho con biết, trong các môn Thiền, trong các môn Thiền, có môn nào mà để tự trị bệnh cho mình, hay là không? Bởi vì, sanh ra kiếp con người á, thì không có ai tránh khỏi sanh, lão, bệnh, tử; mà trong cái chuyện đó, đó, thì có một cái điều mà đáng khổ nhất là cái bệnh; mà trong bệnh đó, khởi điểm của cái bệnh, là do cái vui và cái buồn nó làm cho mình bệnh. Mình có thấy,trong các môn thiền, có môn nào tự trị cái bệnh của mình, hay không? Xin Thầy cho biết.
Đức Thầy: Khi con người mà, trước khi ý thức thiền, là ý thức về tâm hồn chúng ta tiến về giải thoát; và hành cái pháp nào khứ trược lưu thanh, là cái pháp đó là pháp trị bệnh các Bạn.
Cho nên, cái pháp này tự trị bệnh và ngừa bệnh! Nó có những cái bằng chứng.
Cũng như cái pháp Soi Hồn ở đây: là chận những cái huyệt, và để đem lại thần kinh ổn định và cơ tạng được khai thông. Thì cái Pháp Luân Thường Chuyển này cũng vậy: đem cái nguyên lý của Càn Khôn Vũ Trụ để giải tỏa Trược khí.
Cái bệnh là gì? Bịnh của thể xác, là gì? Là tà khí xâm nhập, sanh bệnh! Còn cái bịnh của phần hồn là bệnh gì? Mê, chấp.
Đó! Là chúng ta lập lại trật tự rồi, bệnh mê chấp! Tự phá sự mê chấp rồi, cái bệnh tâm hồn không có!chỉ có thăng hoa, chấp nhận tiến, học nhẫn để tiến, và giải tỏa những sự trược trong cái nội thức, và để thực hiện từ bi. Đó!
Còn cái phần thể xác, thì phải lấy cái sự hòa hợp của cả Càn Khôn Vũ Trụ để giải cái trược khí cơ tạng.
Thì ở đây nó có đường lối rõ ràng, là tự trị bệnh, và đem lại cái Thức sáng suốt đạt Dũng và hành tiến;cũng như Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định. Thì những người như Chị cần nghiên cứu, thì nghiên cứu lại; hỏi, “Tại sao phải bịt lỗ tai? Tại sao phải chận chỗ này; để ích gì?” Những người bình thường đang nhức đầu thì họ làm khoảng chửng 5, 10 phút là họ cảm thấy bớt nhức đầu. Đó là họ tự trị bệnh.
Còn cái phương thức ở bên trong, để cho người ta thấy rằng nguyên lý của “Nam Mô A Di Đà Phật” là để thực hiện cái Điển Giới khai thông ngũ kinh, ngũ tạng của chính mình: “Nam” là lửa, “Mô” là không khí, “A” là nước, “Di” là phát triển, “Đà” là màu sắc, “Phật” là linh cảm.
Sáu luồn điển này, thì một cọng cỏ nó cũng ở trong sáu cái đó, sáu cái đó nó mới sống; và chúng ta cũng ở 6 cái nguyên lý đó: mỗi tế bào của chúng ta cũng ở 6 cái nguyên lý đó. Mà chúng ta rước vào bản tánh tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục mà không biết sử dụng công cụ của Thượng Đế, thì chúng ta bị kẹt trong chỗ đó mà thôi. [37:00]
Cho nên, chúng ta thực hiệm niệm, thường niệm, vô biệt niệm, thì lúc đó nó khai thông từng ly từng týở bên trong, nó mới hòa đồng trong cộng đồng của thể chất. Lúc đó cái tâm linh nó mới khai triển, nó mới giải tỏa những cái sự uất hận của nội tâm, và cái nóng hận không cần thiết thì nó phải ly khai, và nó đem lại sự sáng suốt cho chính nó!
Nhưng mà cái đó, do ai làm được? Do chính mình nghiên cứu cho thiệt kỹ. Cho nên, đằng này nó kêu bằng:
“Pháp Lý,” là phải lý luận khai thông cho rõ ràng sự việc đó;
“Vô Vi”: đi tới Không, “Nhứt trần bất nhiễm,” đi tới cái chỗ thanh nhẹ vô cùng;
“Khoa Học”: diễn biến hợp thời tùy theo hoàn cảnh ; [T1- 37:41] “Ở gia đình này, tui tu cũng được; mà độc thân rồi, tui tu cũng được; và tình cảnh khó khăn nhất, tui càng hoan hỉ để tui đạt được hạnh phúc đời đời!” Cho nên, khoa học biến chuyển vô cùng. Đó,
“Huyền Bí”: là đi tới chỗ cao siêu; mình tự thức, tự thấy tiền kiếp của chính mình;
“Phật Pháp”: mình hiểu mình nhiều hơn, mới là thành đạo! Tu để tìm, “Tui là ai; ở đâu đến đây; rồi sẽ về đâu?”
Chỉ có bao nhiêu đó là cứu cánh của tâm linh đời đời bất diệt!
Cho nên, cái phương pháp công phu này nó rõ rệt: nếu Chị cần, thì Chị nghiên cứu! Thì mình phải đi từ từ; trong vòng 3 năm đầu, mình không thể nói rằng, “Tui vô tui tu cái, nó hết bệnh liền!” Không có cái đó! Bởi vì chúng ta đã rước cái bệnh từ lâu, từ nhiều lần! Một ngày 24 tiếng, đáng lẽ giải tỏa đi tới sự sáng suốt, vui tươi; mà chúng ta rước cái sự hận thù, buồn tủi; thì nó kẹt! Bây giờ chúng ta phải dày công mới giải tỏa được.
Rồi nói, bây giờ nói, cái thần hồn chúng ta có căn nhà rất đẹp, tươi đẹp, mà người ta dòm thấy rằng, “Cái căn của tui,” tui nói, “Cái căn của Chị là được Quan Âm chiếu cố, mà tại sao Chị bỏ Chị ra ngoài, Chị chê căn nhà đó? Chị cho tui đi !” “Không! Căn nhà của tui, nếu quả thật tốt như vậy, thì tui phải trở về!” Trong lúc Chị trở về, Chị thấy rằng cây cỏ nó mọc tùm lum, trong thời gian mà nó ta bà hướng ngoại thì bây giờ chúng ta trở về, chúng ta thấy phải làm thế nào, “Tui phải chặt những cây cỏ, mở đường đi vô trong căn nhà.” Mà vô trong căn nhà, phải chùi quét, lập lại trật tự, ngồi lại cái ngôi vị của chúng ta, để hưởng lại cái thanh quang điển lành cuả Bề Trên chiếu diệu trong tâm hồn của chính chúng ta.
Thì cái thể xác này, thể xác này là cái chùa tốt đẹp ; thể xác này là cái nhà thờ hòa hợp với Càn Khôn Vũ Trụ; cái thể xác này là ngôi Thượng Đế ngự; thể xác này là một ngôi của Phật, cho nên Phật kêu là, “Phật tức tâm”! Cha tức là con, con tức là Cha: Đấng Tạo Hóa là chúng ta; chúng ta là Đấng Tạo Hóa!
Nếu chúng ta hòa hợp, chúng ta thấy rằng chúng ta là con nợ của càn khôn vũ trụ, chúng ta phải dày công trả! Và trong lúc trả đó, phải trụ tâm, phải thực tình, mới đem cái óc sáng tạo của chúng ta cống hiến mọi nơi, mọi giới.
Thì cái tu này cũng vậy: nó sẽ mở; trong lúc chúng ta chưa hiểu ta nhiều; khai thông và hiểu cái nguyên căn của chúng ta, thì chúng ta thấy rằng cái sự thanh tịnh chúng ta đạt được, thì mọi người cũng ước mong, có dịp (nghe không rõ) ; tùy thức mà thuyết giảng, kêu bằng, tuỳ tâm mà độ, thì lúc đó mới thấy rằng công việc của chúng ta làm không hết, và chúng ta phải trả mãi mãi, đời đời, chúng ta mới có sáng suốt!
Cái Định Luật Có Vay Là Phải Có Trả! Mà vay không, không trả, thì nó sanh bệnh! Chỉ có bây nhiêu đó thôi! Ừ.
Bạn đạo4: Dạ, Thưa Thầy, theo cái truyền thống của Thiền Tông Phật Giáo đó, thì họ không có trọng sư, trọng tổ của họ ; chẳng hạn như là họ có cái câu như là, họ gọi Đạt Ma Sư Tổ tên là “Hồn Bất Sanh,” chẳng hạn;
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo4: Hoặc là họ nói, “Gặp Phật, diệt Phật; gặp Tổ, diệt Tổ” chẳng hạn. Thì những người đó, đó, con có 2 câu hỏi: thứ nhất: có thể trình độ họ cao siêu quá, họ nói những câu đó, thì họ có tội, hay không? [T1- 41:04]
Đức Thầy: Đến lúc mà họ nói được những cái câu đó, là trình độ của họ là thoát phàm, không không gian, không thời gian: họ quỵt cái trần trược, cho nên họ phá mê, phá tín.
Cho nên, người phàm không hiểu, “Gặp Phật, diệt Phật; gặp Tổ, diệt Tổ”; bời vì Phật là thế gian đạt thành cái hình nộm! Phật là vô danh, Phật là thanh khí điển Tam Thiên giáng xuống; vũ trụ là xương sống, hấp thụ: cái Cung Trời có một luồng điển Âm và một luồng điển Dương; người nào cũng là Phật! Phật là vô danh; nguyên lý của Phật là vô danh; nhưng mà thế gian đặt, “Ông đó là ông Phật” thành ra hữu danh!
Cho nên, những người tu cao họ mới thức tâm, không cho hậu thế sai lầm, “Gặp Phật, diệt Phật; gặp Tổ, diệt Tổ!” Phá mê, phá chấp.
Người phàm không hiểu, nói, “Chu cha, thằng đó nó tu, sao mà tổ nó, nó cũng quên!” Bởi vì nó trong cái thức hòa đồng, nó không bị kẹt!
Còn mình, ở trong cái thức còn bị kẹt: thờ Tổ, thờ Phật; cho nên ma xâm nhập, không hay!
Cho nên, lúc nào trong Phật Giáo cũng phá mê và phá chấp; mà hành giả còn mê, còn chấp là tự tạo lấy sự kẹt thôi! Chỉ có bao nhiêu đó.
Bạn đạo5: Thưa Thầy, thế nào mới gọi là Thiền Định?
Đức Thầy: Ừ; Thiền Định là khi chúng ta mượn cái pháp Soi Hồn để giải tỏa trược khí bộ đầu, và mượn cái Pháp Luân Thường Chuyển để giải tỏa cái trược khí của nội tạng; lúc đó, sau cái động nó là định, chúng ta mới phân thiện, ác phân minh trong giờ thiền giác; và ngồi đó, kêu bằng, “Thiền Định.”
Mà sau cái động rồi nó mới đi tới cái định. Chớ khi không bước vô định, là tìm động, chớ không bao giờ định! Cho nên, chúng ta bước vô là động đó: Soi Hồn, ù ù lỗ tai; làm Pháp Luân, ù ù trong ngũ tạng; hết rồi nó mới đi tới tịnh!
Thì sau một cơn bão bùng tại thế là gì? Tịnh! Thấy chưa?
Cho nên, chúng ta đi đó, là trong đó động tìm ra cái tịnh, thì mới thật là tịnh. Còn trong cái tịnh đi tìm cái động, là không phải tịnh!
Bạn đạo6: Dạ, Con cảm ơn ông Tám. Hồi nãy con không hiểu cái điều mà ông Tám nói gì mà, cáiđiều mà ông Tám (nghe không rõ). Con thấy ông Tám nói cái điều mà, cả nói về câu hỏi của anh, về ý ông Tám nói là, nếu thật là nói về hình dáng để mình nhờ đó mình tu, khi mà mình tu rồi thì, à,
Đức Thầy: Phá mê, phá chấp.
Bạn đạo6: Thì đức Phật không phải là Phật nữa, hay sao? Con không hiểu.
Đức Thầy: Không! Đức Phật là một vô danh; đức Phật là một hào quang vô cùng; đức Phật là một tâm linh sáng suốt, để cứu độ mọi tâm linh! Nếu đức Phật bị giới hạn trong cái hình đó, thì Đức Phật đâu còn sức mạnh vô cùng để cứu độ chúng sanh?
Cho nên, không nên giới hạn Ngài; và trong ta có Ngài, kêu bằng, “Phá mê, phá chấp”; không phải lệ thuộc bởi cái hình ảnh bên ngoài. Cho nên, những người tu đắc đạo rồi, họ phá cái mê chấp, họ mới có quyền.
Mà những người mà chưa biết đạo, mà nói như vậy, là phạm thượng: những người chưa biết đạo mà nói như vậy là phạm thượng!
Vậy, “Tại sao khi tui nói tui giận thằng Phật, thì tui giận, tui buồn; nó tạo cho tui hư. Tui giận một người nào, thì tâm trí tui bất ổn.”
Còn những người không còn không gian và không còn thời gian, họ nói, “Tui giận thằng đó, tui dẹp thằng đó!” Nhưng mà họ không có động: họ thoát phàm, và họ hòa đồng với thằng đó! (cười) Hiểu chưa ? Đó, thành ra kêu bằng, “Phá mê phá chấp” ở thế gian.
Nhưng mà, kỳ thật, con người ở thế gian còn yếu hèn, mà chửi một ông tổ, hay chửi một vị cao niên, về, mình ngủ không được! Vì cái thức mình chưa mở, mà mình đi chửi người ta, là mình, kêu bằng “Lộn ngôn, cống cao ngạo mạn.”
Còn những người hòa tan với cái thức đó, người ta có quyền nói, nhưng mà [mp3.1- 44:16]
[Từ đây bắt đầu băng audio thứ hai T2]
Không có lạm dụng quyền thế : Phật ở trong hòa đồng, cởi mở, chớ Phật không có tạo cho thế kẹt cho Phật, hay là cho chúng sanh.
Bạn đạo6: Cái tu, và cái thiền, nó liên hệ như thế nào? Ông Tám nói,
Đức Thầy: Tu là tu bổ sữa chữa; cái thiền đó, thực sự tu bổ sửa chữa. Còn nhiều người nói rằng, “Tui tu,” mà không chịu sửa, thì xưng danh tu, mà thiếu tu!
Tu không có làm chuyện bề ngoài; tu là sửa nội tâm, nội tạng, nội thức của chúng ta.
Bề Trên chỉ chứng tâm, chớ không chứng ngoại cảnh; thấy không? Cho nên, cái tu mà không dùng chữ, “Tu,” mà không hành”! Tu thì phải hành; người ta nói “Tu hành; tu, hành”!
Còn nếu Anh tu không, mà Anh không hành đó, là Anh chưa đi tới đâu! Thấy không? Chỉ lượm lại những lời nói của người khác; nhưng mà sự sáng suốt của chính mình, chưa cống hiến cho cộng đồngđược! Hành là thiền đó, hành là mở ra cho nó ổn định; thấy không ? Từ cái động đi tới cái định.
Bạn đạo6: Cảm ơn ông Tám.
Đức Thầy: Đi tới.
Bạn đạo7: Dạ, (nghe không rõ), con muốn hỏi là, hành, nhiều khi con thấy ở việt Nam đó, có những cái chùa mà tối rồi tụng kinh, sáng rồi tụng kinh đồ; đó là có phải “Hành” không?
Đức Thầy: Cái đó là cũng hành, bởi vì cái hành đó là ở trong chùa người ta học cái lý, học cái giáo lý thôi; còn nếu mà không bày ra trang nghiêm như vậy đó, thì làm sao giáo dục dân nó học càng ngày càng thông minh thêm? Vì nó buộc ở trong sự tín ngưỡng đó, và nó phải học cái giáo lý, và nó hấp thụ được cái giáo lý, thì con người dân đó nó mới chịu sống với cộng đồng. Cái đó là giai đoạn thấp.
Mà cái giai đoạn, kêu bằng thực hành, đi tới để đảnh lễ chư Phật, chư Tiên, cái đó là phải thiền!
Cho nên, chư Phật đã thành công; mà những chư đệ tử của Ngài chỉ đọc kinh thôi, vì chưa có trình độ thiền.
Mà người nào, trong chùa nào cũng có môn thiền để giáo độ; thì người nào có trình độ thì họ nhảy qua thiền, họ đi mau hơn!
Mà người nào chưa có trình độ đó, thì họ còn ở trong cái trì kinh mà để học lý! Cho nên, phải có cái cuộc, những vị sư ở đó, đó, giải lý cho chúng sanh hiểu, vậy đó! Nhưng mà phải hành; rốt cuộc là cũng phải hành!
Cho nên, những chư Phật ở trên bàn đều là thiền mới đắc đạo: có thiền nó mới có giác; đó, có giác nó mới thực hành đi sự cứu độ! [T2- 02:57]
Bạn đạo8: Kính thưa Thầy, theo cái định luật hữu hình thì hữu hoại, Thầy ở với chúng con thì cũng có ngày Thầy phải ra đi; mà trên cái đường hành thiền, mỗi một cá nhân, cái sự diễn biến hành thiền nó xảy ra đều khác hết: như có, có mặt Thầy tại đây, mỗi cái thắc mắc của con, và mỗi cái sự xảy ra trong vấn đề hành thiền, thì Thầy giải đáp, tụi con thỏa mãn hoàn toàn. Một ngày nào đó, không còn Thầy ở lại đây, thì mỗi người hành thiền, trong cái trạng thái hành thiền nó xảy ra mỗi khác; như vậy làm sao mình có thể kiểm chứng được rằng minh vẫn đi đúng con đường Vô Vi, và mình đi đúng cái chủ trương của Thầy?
Ừ.
Bạn đạo8: Kính xin Thầy chỉ con phương pháp để con tự kiểm con, và con làm sao con chắc chắn rằng con đi trong cái hành trình mà Thầy đã hướng dẫn con từ lâu.
Đức Thầy: Ừ, ừ.
Bạn đạo8: Dạ;
Cho nên, Anh biết nói rằng “Hữu hình là hữu hoại,” mà, “Thiền đó, gặp thắc mắc rồì, lấy ai mà giải tỏa cho tui đây?” À ; tui mới nói rằng: chính Anh đã giải tỏa cho Anh rất nhiều! Lúc Anh là một học sinh, rồi trở nên một người lớn, cưới vợ ; rồi không lý cha mẹ giải quyết những chuyện thắc mắc của mình,sao? Nhưng mà Anh đã giải quyết được rồi!
Thì cái phương pháp công phu này cũng vậy: chúng ta thấy rõ rằng hữu hình, hữu hoại: chúng ta thấy cái thể xác chúng ta rờ mó được đây, ngày nào nó sẽ không còn nữa; cho nên chúng ta thức hẳn trong cái Vô Vi!
Và Anh đối diện với tui đây, và tui giải đáp về cái gì? Giải đáp về Vô Vi, về phần hồn. Mà cái thức sau đụng nó mới có thức. Mà cái đụng đó là do đâu? Do câu hỏi của Anh đưa tới cho tui, thì tui có thức, tui mới hòa cảm trong cái đụng đó, thì cái đụng đó không còn đụng nữa!
Rồi sau này, Anh phải thực hành trong đụng, rồi Anh sẽ thức; thì đương nhiên nó sẽ đi đến! Không phải cần đến sự hiện diện của tui; nhưng mà cái thức của tui đã trao đổi trong nội tâm của Anh; nhưng mà Anh thanh tịnh, thì thấy tui ở đó, chớ ở đâu nữa? Đâu có mất!
Đừng có nói rằng, “Tui xa, tui xa Ông, tui xa Thầy, thì tui không còn được sự cởi mở nữa!” Nhưng mà Anh quên vị trí của Anh là một vị sư trong Tiểu Thiên Địa này, một ông thầy đang chịu trách nhiệm cả Càn Khôn Vũ Trụ của cái tiểu thiên địa này; thấy không ?
Thì bây giờ mình phải cần đụng; để chi ? Để tạo dũng.
Mà tạo dũng để chi? Để tiến !
Để tiến, để làm gì? Để giải; để giải, là thông!
Thì từ từ nó sẽ đi đến.
Chớ không phải tui là duy nhất; nhưng mà thức của mọi người là duy nhất!
Mỗi người chúng ta đều có thức! Chúng ta có gia đình, có vợ con, nếu không có thức thì không có giải quyết được trật tự cho vợ con ăn mặc từ trong nhà đi ra ngoài đường đi chơi!
Bạn đạo8: Dạ.
Thì chắc chắn tin tưởng nơi đó là đủ thấy rõ cái phương thức thực hành của Vô Vi này! Vô Vi này là lập lại trật tự mỗi đêm, thì mỗi ngày sự đụng chạm đó, mình phải dùng cái lý, sẽ được cơ hội dùng cái lý siêu giác hơn, để hóa độ cho tâm hồn của chính mình! [T2- 06:22]
Để giờ đó Anh thấy rằng sự sáng suốt ở trên đầu của chúng ta, sự sáng suốt là (nghe không rõ) chúng ta, đời đời sống với chúng ta, và cùng tiến đời đời với ta, không bao giờ mất cả!
Bạn đạo9: Dạ, thưa ông Tám, nếu mà một người muốn bước chân vào Thiên Đàng thì đường lối có thực hiện được, hay không?
Đức Thầy: Luôn luôn chúng ta, có nhiều người đã nhiều năm, nhiều kiếp, đã tu. Họ đã thiền từ nhiều kiếp, nhưng mà họ có nhiệm vụ luân hồi lại thế gian, họ cũng vẫn bước vô Thiên Đàng được trong cái thanh tịnh của họ, nếu họ đạt tới thanh tịnh.
Cái thiền này là cái phương tiện để đạt tới thanh tịnh; nó chỉ một giai đoạn mà thôi!
Khi mà đi được rồi, thôi, chớ đâu có cần thiền ở trong thể nữa; nhưng mà thiền ở trong thức.
Cho nên những người đã thiền nhiều năm, và đã tu nhiều kiếp, họ luân hồi lại thế, họ vẫn đi được!Nhưng mà họ khao khát những giới họ sẽ đi xa hơn nữa, và đi tới vô cùng, Đại Định, thì cái thức họ sẽ tiến triển đi lên.
Mà họ để tránh những trần trược tại thế có thể xâm chiếm, thì họ phải, nghe được cái pháp thiền, họ tới họ học, và họ sẽ thực hiện đúng đắn hơn, và để lấy cái thể xác làm cuốn Kinh Vô Tự mà để dẫn tiến những người kế tiếp, mà thôi. Chớ còn cái thức họ vẫn đi, họ vẫn nhập Thiên Đàng, vẫn xuống Địa Ngục, vẫn đi cùng cùng khắp thế giới; nhưng mà hồi nào giờ họ chưa thiền ở kiếp này, nhưng mà kiếp trước họ đã thiền! Cho nên mỗi cái linh căn đều khác nhau.
Còn cái khi mà họ hiểu cái phương pháp này có thể hóa dộ và đơn giản cho mọi nơi, mọi giới, thì họ thực hiện để làm kiểu mẫu và dẫn dắt người kế tiếp!
Bạn đạo10: Kính thưa ông Tám, con có một người cha mà đã mất; nhưng khi cha mất, cha ở Việt Nam. Thì bây giờ con không hiểu, nếu mà, khi con tiếp tục ráng hành, ráng tu, thì có ảnh hưởng được phần hồn của cha con, không?
Đức Thầy: Ừ. Cho nên, cái phần hiếu nghĩa không bao giờ xa nhau được, bởi vì phần còn lại của chúng ta, cha là con, con là cha. Thì bây giờ chúng ta biết tu, biết sửa, biết tiến, biết giải và sưởi ấm lòng Người nơi Chín Suối. Cho nên, cố gắng tu đi, rồi sẽ thấy! Người ta nói, tu thiền trật tự là cứu độ được Cửu Huyền Thất Tổ, là ở chỗ đó.
Sau này, chúng ta còn cứu những người liên hệ của chính chúng ta, và đích thân đi tới hóa độ, nếu chúng ta thiền giác, và đại nguyện chúng ta thực hiện được một phần, thì cảm động Bề Trên; Bề trên chuyển độ cho chúng ta đi ngộ và cứu độ kiểm chứng rỏ rệt trong hành trình của chính mình.
Chính bản thân tui cũng vậy: ông già sắp chết, bệnh, nhưng mà tui làm thế nào để cứu độ? Tui chỉ lo tu thôi. Tui thấy lớn tuổi rồi; trước kia, tui cho tiền, cho bạc, săn sóc ăn uống; không ích, không lui lại được! Tui chỉ lo hành thiền; khi xuất ra trước khi tui xuất; thành ra cái giờ Ngài lâm chung, tui vừa đến nơi và tui đi xuống đi đưa tới phần mộ đó. Trong lúc đó cũng có những vị trong chùa đóng góp và đến tụng kinh nơi mộ, thì tui có nói rằng, “Cái phần này, xin miễn, và để cho tui giảng cho tất cà mọi người ở đây nghe.” [T2-10:30] Tui giảng về phần hồn, về siêu lý, và sự tương ngộ giữa cha, con chúng tui: chúng tui gặp; và rất hoan hỉ, không có gì thắc mắc, không có gì đau khổ; bởi vì cơ tiến hóa của phần hồn đến đây sẽ tiến hơn nữa, chấm dứt cái cuộc tiến học hỏi tại trần thế, và sẽ tiến nơi chỗ thanh nhẹ hơn; tùy thức, và sự cầu nguyện của con Ngài đã thành tâm cứu độ Ngài; thì lúc đó những vị đó kéo về nhà và nghe tui giảng; và hỏi cái phương thức công phu này thế nào, rồi cũng thấy cũngthông cảm về cái pháp công phu.
Chính tui đã chứng nghiệm được và tui đã làm điều đó. Thì Quý Vị, không khác gì tui, cũng ngũ tạng, cũng mắt, mũi, tai, miệng, nhưng mà Quý Vị nên dùng ý chí để thực hiện. Mình thực hiện chữ hiếu là không có Trời, Phật, không có quần chúng nào bác bỏ đường lối khai triển của chính mình.
Cho nên, dày công đi, rồi sẽ đạt và sẽ ngộ! Cho nên, không nên hoang mang; vì tui là người đi trước và đã đạt thành rõ rệt, và cũng nhiều người bạn tại Việt Nam cũng đã đạt thành rõ rệt! Cho nên, Quý Vị nên yên chí thực hành, lập lại trật tự, và để cái lời thực hiện, lời cầu nguyện của chúng ta xứng đáng là câu nói từ xưa tới nay, “Tâm động, thần tri”! Thì nếu chúng ta khai mở rồi chúng ta mới thấy rõ “Tâm động thần tri.”
Chúng ta chưa khai mở, thì tâm chúng ta động, không tới nơi đâu! Cho nên phải thực hiện thiền lập lại trật tự rồi mới mong cầu xin sự cứu độ đó hữu hiệu hơn! [T.2- 12:22]
Bạn đạo11: Dạ thưa, Thầy giải thích cho con rõ là Cửu Huyền Thất Tổ là gì?
Đức Thầy: Cửu Huyền Thất Tổ là sự liên hệ của phần hồn của chúng ta từ nhiều kiếp, không bao giờ dứt bỏ được; vì sự liên hệ giao cảm trụ trì trong nội thức cuả mọi người: có cha mẹ, có tổ tông, mới có chúng ta, chớ không có khi không mà nhảy xuống thế được! Cho nên, sự luân hồi của các Bạn tại thế, xương chất đống như núi, bây giờ mới ngộ được phương pháp tu để tự giải thoát! Chớ nếu không, thìcác Bạn nghĩ rằng “Tui ở tốt, để kiếp sau tui làm ông nhà giàu thôi, chớ không nghĩ trở về nguồn cội.”Bây giờ, Quý Vị biết được, căn nguyên của mọi người là Nguồn Cội từ Thiên Đàng giáng lâm xuống thế gian; cho nên Quý Vị không nên nhầm lẫn và cầu xin để kiếp sau luân hồi tại thế nữa! Đó là mộtđường lối trỉ trệ và lạc hậu nhất, mà những vị đã thành đạo, Bề Trên quang chiếu cho chúng ta, mà chúng ta không nhận được, thì rất uổng!
Bạn đạo12: Dạ, thưa Thầy, trước khi con gặp cái pháp này á, trước đây 10 năm đó, con vẫn cầu nguyện được đi tu, con có lên chùa, hay là đi tụng kinh niệm Phật, nhưng mà con thấy chưa thỏa mãn. Trong thời gian đó, con vẫn cầu nguyện được gặp Thầy, gặp pháp để mà tu. Mà thưa Thầy, con cầu hoài, đến 10 năm sau con mới gặp được Thầy,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo12: Thì con tu! Từ trước đến nay con thấy tiến bộ, nhưng mà con thấy chưa có cái gì hết trọi! Còn thiếu sót, còn mê muội, còn trần trược, còn tội lỗi nhiều! Hằng đêm con vẫn sám hối, thiền,nhưng mà những bài học hằng ngày đó Thầy, nói tất cả những cái gì mà nó không vừa ý mình, thì đó là bài học. Con học hoài mà con ngu quá, không thông suốt, không thấu đâu hết trọi!
Đức Thầy: Cho nên, ta nói “Tui tu trên 10 năm, hay là 20 năm, tui tu đã lâu, tui tu nhiều kiếp, tui đọc kinh và tui hành thiền.” Thì cái đó là cơ hội để chứng minh mình học dũng thì phải ngộ động, để mình giải thoát cái động, để mình thấy cái dũng, giá trị của cái dũng vô cùng! Chớ người tu cao chừng nào,thì gặp nạn nhiều chừng nấy! Mà nạn đó là gì; khổ đó là gì? Là sự hạnh phúc đời đời ở tương lai! Thấy rõ chưa? Cho nên, chư Phật, chư Tiên, người nào ở thế gian tu gần thành đạo cũng là phải ngộ,phải ngộ những sự bất mãn gây xáo trộn; nhưng mà Người cũng không bao giờ bỏ pháp! Giữ cái thanh tịnh để tiến hóa; giữ cái dũng để thăng hoa; cho nên, cải tiến được những cái sự ô trược xâm lấn, xâm lăng, cho nên Người mới đạt tới cái hạnh phúc đời đời bất diệt! [T2- 15:41]
Cũng như Quan Thế Âm Thị Kính cũng vậy: Ngài cũng bị oan ức, bị đủ thứ, nhưng mà rốt cuộc Ngài chấp nhận học nhẫn để thực hiện từ bi; cho nên ngày nay mọi người kính mến. Jésus Christ cũng vậy, Người đã làm gì phải tội, mà đóng đinh Người? Nhưng mà Người cũng là học nhẫn để tiến tới!
Thì tất cả chúng ta tu ở đây, chúng ta đã lìa thế, ly gia, cắt ái, tu lìa, trong cái mục đích lìa thể xác này để đạt tới sự cao siêu vô cùng, vô tận; thì xá gì những cái chuyện sân si tại thế, chúng ta nên hòa cảm và thực hiện với cái nguyện, đại nguyện từ bi, để cứu độ những phần sân si đó, và giải tỏa những cái trược khí đã xâm chiếm cơ tạng của chúng ta.
Cho nên, gặp nhiều chừng nào quý chừng nấy; cảm ơn Thượng Đế đã ban nhiều bài học quý báu, và để cho thần thức của hành giả càng ngày càng dũng, và đặt thẳng vào cái chương trình dũng, mới kêu gọi là “Giải thoát”! Cho nên, chúng ta tu, gặp nhiều trở ngại, càng mừng, và đó là cái thước để đo lường sự thanh tịnh sẵn có của chính mình.
Mình đã ca xướng trong kinh kệ, và mình đã thực hành trong lối thiền, mà không đem ra thử, làm sao thấy kết quả của chính mình? Cho nên, được có cơ hội thử, quý lắm! Bởi vì mình thấy rõ rằng thực chất của chúng ta còn bận rộn, còn sân si; cần phải giải tỏa! Cho nên, phải thực hiện những điều cần thiết, và không thu rước những điều không cần thiết nữa!
Bạn đạo12: Con ý thức được tất cả những cái Thầy dạy cho con;
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo12: Nhưng bây giờ thời gian cấp bách, mà Thầy nói “Hữu hình hữu hoại”; Thầy không biết Thầy đi ngày nào. Con lo quá, con tự nguyện nếu như kiếp sau, thì thời gian con gặp Thầy đây nó rất ngắn ngủi, mới có hơn 10 năm nay thôi, trên dưới 10 năm thôi, mà con thấy thời gian ngắn quá, con học hỏi chưa được bao nhiêu! Con cứ nguyện hằng đêm, ngày, nếu như kiếp này con không có theo sát được những cái lời dạy của Thầy, theo đúng đường giáo huấn của Thầy để thực hiện những cái ý nguyện của Thầy, (cảm động) con cầu nguyện chư Phật hằng đêm, cho con kiếp sau sớm sớm gặp Thầy, chớ không phải như kiếp này mà con gặp Thầy trễ quá! Con tu luyện chưa được bao nhiêu, (cảm động) thiền chưa được bao nhiêu, mà làm cái gì cũng chưa tới đâu hết trọi! Thầy ra đi, cái gì cũng lỡ dở hết trọi; biết làm sao? (cảm động) [T2- 18:51]
Đức Thầy: Không có như ở đời! Bởi vì chúng ta thấy rõ rằng ngày nay chúng ta được ngộ; vậy chớ,tiền duyên ở đâu, ngày nay mới tái hợp? Phải thấy rõ cái chỗ đó!
Có kiếp trước, mới có kiếp này! Tại sao chúng ta nghe âm thinh của Người, chúng ta thấy rung động cái tâm hồn? Vậy chớ Người đã hòa cảm với ta trong lúc nào? Trong lúc xa xưa ở điểm nào, ngày nay chúng ta lại thức trong lúc Ngài thuyết giảng? Chúng ta thấy rõ rồi: chúng ta không phải ở kiếp này mất đi, rồi mất! Chúng ta nhận định rồi: mất đi rồi, còn! Trong Không mà Có! Sắc bất dị không, không bất dị sắc.” Thấy rõ ràng!
Cho nên không nên chán ngán trong cuộc hành trình. Trong cuộc hành trình của chúng ta, luôn luôn sáng suốt, thì chúng ta sẽ ngộ được sự sáng suốt! Chớ không nên, vì tâm đời, mà thấy ngắn ngủi! Trong cái ngắn chúng ta, nhưng mà rất vô cùng!
Đã ý thức được phần hồn của chúng ta là vô cùng thì sự tương ngộ của chúng ta sẽ vô cùng, và vinh quang hơn! Phải nhớ, phải vui, phải chấp nhận trong cái tình cảnh hiện tại, để tự giải thoát và thăng tiến như Người đã và đang hành!
Đó, là một điều cao quý! Vun bồi cái đó, hơn là cầu xin cho Người được trường sanh!
Bạn đạo12: Dạ.
Đức Thầy: Cho nên, Bề Trên luôn luôn cứu độ những phần đem thực chất và công khai nghiên cứu những gì để cho mọi nơi mọi giới tự tu tự tiến, thì luôn luôn có phần cứu độ rõ rệt. Cho nên, những người hành giả ở đây không nên bận rộn về đường lối tâm đời nữa; nhưng mà chúng ta hướng về tâm đạo, thì luôn luôn ở trong ta, và ta sát cánh Người để thực hiện như Người.
Cho nên, những hoàn cảnh mà đưa đến, so sánh để thấy mỗi người tu Vô Vi, tu nhiều năm thì nhiều sự kích động xảy đến trong tâm hồn Người; thì dòm lại, “Trước kia ông Tám tu có bị như vậy không?” Bị nhiều hơn chúng ta, ngày nay Người mới có một phần sáng suốt cảm động lòng chúng ta! Vậy chúng ta chấp nhận, hay không? Chúng ta phải chấp nhận, để học nhẫn và thực hiện từ bi! [T2- 21:22]
Cho nên, tui mong Quý Vị phải mở thức trong nội tâm để tiến tới sáng suốt. Những gì tui đã nói trong nhiều cuốn băng, rồi lần lượt sẽ nghe và thấy rõ: từ thời cuộc, từ bản thân, từ sự hòa đồng của tâm thức của mọi người, đều nằm trong những cuốn băng tui đã nói!
Bạn đạo13: Dạ, bạch Thầy, có người cho rằng họ tự nhiên mà có, và sự sáng suốt của họ do sự học hỏi của họ đạt được. Như vậy đúng không, Thầy?
Đức Thầy: Đó là cái trình độ; tui nói rằng “Trình độ không mua, không bán.” Trình độ họ tới đó thì họ hiểu tới đó mà thôi! Còn trình độ cao siêu hơn, sẽ diễn tả với những phần cao siêu hơn. Cho nên, cõi đời không có tự đắc, thì làm sao họ dẫn tiến vật chất? Cho nên, sự tự đắc đó, họ sẽ khai triển tới vô cùng ở tương lai! Thì trình độ họ sẽ khai triển; và sau khai triển rồi, cái thức của họ nó sẽ thay đổi;cho nên mình không nên chấp rằng, nói rằng người đó là con Thượng Đế, nhưng mà họ không chấp nhận là con Thượng Đế! Chính cha mẹ bằng xương bằng thịt sanh họ ra, mà trong cái cảnh ly tán giữa người Việt Nam hiện tại, nhưng mà nhiều khi ra đến đây, họ còn không nhìn cha mẹ nữa kìa! “Tui đã lấy vợ ngoại quốc rồi; Ông đi chỗ khác chơi!” Cái tình cảnh đó, rất nhiều, của những người Việt Nam chúng ta; những vị bô lão chúng ta đã gặp những sự kích động đó!
Mà nếu gặp pháp thiền này thì Người phải tu rốt ráo hơn, và thấy rõ rằng cái sự Nghịch Thượng,đương nhiên phải có; cái Phản Nguyên Tử Lực, đương nhiên phải có!
Cho nên, tui đã nói một bài giảng khi các Bạn đã thường nghe, chúng ta dòm cái chậu bông kia, hỏi cái bông kia, “Ai sanh cô ra?” Nó có nhìn nhận rằng cái cây là sanh tui ra không? “Cô có khác hơn cái cây này ở chỗ nào?” “Tui khác hơn nhiều; tui có màu sắc, tui thơm tho, tui tươi đẹp, tui quyến rũ được lòng người. Còn cây này gai góc, xấu xí, chẳng ai thương!” Rồi không bao lâu phong ba bão tố nó rơi bông ra, tơi tả rớt xuống đất; còn cái nhụy, hỏi chớ, “Ai sanh Cô ra?” Nó cũng nói rằng, “Cây này sanh tui ra!” Hỏi chớ, “Cô với cái cây này khác nhau ở chỗ nào?” “Khác xa lắm! Mùi thơm tui phóng đi ngàn dặm; nhưng mà cây này không có mùi vị gì, chẳng có ai thích. Tui mới thật sự quyến rũ thiên hạ đến với tui.” Hỏi chớ, “Cô có thể sống lâu hơn cái cây này không?” “Đương nhiên; tui có sự tình thương bảo vệ, lúc nào tui cũng sống lâu!” Nó có một triết lý, vững sống cho chính nó! Nhưng mà không bao lâu rồi cũng mưa gió tới tấp, nắng, mưa tới tấp, thì nó còn cái hột giống rớt xuống đất; mớihỏi, “Ai sanh Cô ra?” Nó cũng nói rằng là cái cây sanh, “Cây này sanh tui ra.” Hỏi chớ, “Cô với cây này khác ở chỗ nào?” “Tui khác xa; tui tùy cơ ứng biến, gió thổi đâu tui đi đó; còn cây này chịu trận bão mà gãy, mà chết đó thôi!” Nó cũng có một lý luận phê bình rõ rệt.[T2- 24:52] Rồi không lâu, gió xuôi lại có gió ngược, gió xoáy, thì trụ có một chỗ đó, đất cát đè lên, rồi người ta đái ỉa trên đầu; bực tức, nó mới mọc ra cái cây. Lúc đó hỏi, “Ai sanh Cô ra?” Nó cũng nhìn nhận, “Cáci ây kia sanh tui ra.” “Cô với cây này có khác nhau ở chỗ nào?” “Chúng tui vẫn giống nhau, giữ Định Luật Hóa Hóa,Sanh Sanh!”
Cho nên, chúng ta tu tới Vô Vi rồi, chúng ta không có màng tiếc những cái gì tại thế, tự đắc, tự cao;nhưng mà rốt cuộc rồi phải đi trong tình thương và đạo đức, hòa đồng tiến giải tới vô cùng!
Cho nên, cái Phản Nguyên Tử lực của đời, nó phải có; đương nhiên nó phải có! Nếu không có cái đó, Thượng Đế đâu có cơ hội để làm bài học cho mọi người! Mọi gia đình đều có bài học, chớ đừng ngồi dòm gia đình này thấy gia đình kia sung sướng; không có! Gia đình nào cũng có cái khổ tâm của họ;có cái nghịch cảnh của họ! Và chỉ có họ hướng thượng mới kêu bằng, “Giải tỏa” được nghịch cảnh;mà không hướng thượng, thì luôn luôn ôm lấy nghịch cảnh trong đau thương, dù họ là tỉ phú!
Bạn đạo13: Dạ, thưa Thầy, Thầy từng nói rằng: “Khứ giả tại đây”; và âm ba Thầy truyền đến “Trung Tâm Sinh Lực Càn Khôn”; và âm ba đã truyền cho các Bạn ở khắp nơi trên thế giới này đều được nghe lời thuyết giảng của Thầy hết. Thì con cứ nghĩ rằng, cái sự truyền đi như vậy, phải chăng là do siêu điện tử Vô Vi trong không gian không, Thầy?
Đức Thầy: Cái đó là siêu điện tử, thì đúng; thì bởi vì cái trung tâm mở sáng ngay cái chiều hướng tiến hóa cái phần hào quang của tui, thì nó chuyển và phân phối ra các nơi; thì tùy thức của những người mà trong giờ tham thiền họ được mở và lĩnh hội cái âm thinh đó, cảm động lòng người; còn nhiều người không lĩnh hội, không nghe được lời nói, nhưng mà trong cái giờ thiền rồi tự họ khóc, họ khóc nức nở; là để chi? Để giải cái trược khí của cái hỏa can mà thôi. Rồi sau cái khóc đó là họ được nhẹ nhàng. Cái đó đã từng có, ngay đất Mỹ, chớ đừng nói Việt Nam, còn nhiều hơn nữa! Ừ.
Bạn đạo13: Nghe được người bạn đó, Thầy,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo13: Nói rằng, sau khi họ khám phá được cái nguyên tử, vậy trong nguyên tử có hằng vô số những vi tử nhỏ,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo13: Không diễn tả được bằng ngôn ngữ, di chuyển với tốc độ rất nhanh, mà màu sắc không biết được thế nào! Con nghĩ rằng đó là những siêu điện tử Vô Vi!
Đức Thầy: Đó,
Bạn đạo13: Sau nhiều lần bài giảng của Thầy nói là Thầy truyền đi khắp nơi do cái âm ba Thầy truyền, (nghe không rõ) và truyền đi các Bạn,” thì con nghĩ rằng, do sự điện tử Vô Vi đó, và cái sự màthần giao cách cảm cũng do như vậy, phải không, Thầy?
Đức Thầy: Đúng nó như vậy; bởi vì người ta làm việc cả Càn Khôn Vũ Trụ.
Bạn đạo14: Kính Thầy, năm ngoái Thầy đến đây, Thầy đã cho con một bài học, mà con đã hứa với Thầy, con nguyện theo Thầy; con đường Thầy dạy là học bi, trí, dũng, rồi thoát khỏi vọng động của mình để cho mình khỏi khổ thân. Thế nhưng, lời hứa con hứa với Thầy, Thầy đã chỉ con, con nghe, con hành, con học; trước đây thì con hứa con học ra trường; hôm nay con học đã ra trường, nhưng con vẫn còn thấy rằng con còn mê muôi, con còn yếu hèn. Con nghĩ rằng con phải học thêm nữa; học để làm gì? Để cho mình có được sự sáng suốt. Nhưng con nghĩ sự sáng suốt đó chưa đủ, nếu mình chưa có tình thương, và chưa có đạo đức.
Thật sự ra cái tình thương của con bây giờ rất hạn hẹp, con luôn luôn nghĩ tới gia đình con trước hết,con luôn luôn nghĩ tới bản thân con, “Có tui đây!” Con nói là con sửa chữa lấy con và con sẽ ảnh hưởng tới những người chung quanh; thế nhưng phần con, con chưa ảnh hưởng được con cái gì, con chỉ có mảnh bằng vô giá trị, thực sự là vô giá trị! Bây giờ con nghĩ, con phải học cao thêm nữa, nhưng không biết cái bằng đó nó có giá trị, hay không, nếu cao thêm nữa? Thế rồi công danh, con nghĩ rằng con không phải bị trói buộc trong cái công danh, thế nhưng mà tại sao con cứ nghĩ là phải có cái này, có cái nọ? Nghĩa là con vẫn còn vọng động! Thưa Thầy, lời hứa với Thầy, là con, năm ngoái con hứa là con không có vọng động nữa, con không yếu hèn nữa! Bây giờ đây nhìn thấy Thầy, con thấy con tủi hổ quá! Con hứa, nhưng mà con làm không được! Tại sao con người, con người hứa rất nhiều, nhưng mà chẳng làm được bao nhiêu? Tại sao con người quá yếu hèn, con người quá cô đơn?
Trước mặt Thầy đây con thấy rằng tất cả mọi sự, con tự nhiên con cố gắng con hạ xuống, con cố gắng để con hướng thượng một chút, để lòng con được thanh thản; thế nhưng tại sao lòng con luôn luôn vẫn sôi nổi, vẫn bồng bột, vẫn đòi hỏi quá nhiều? Thưa Thầy, Thầy chỉ cho con con đường giải thoát. Cảm ơn Thầy.
Đức Thầy: Cho nên, cái cuộc hành hương của chúng ta, không phải rằng chuyên môn tu không mới là thành đạo! Nhưng mà cái cuộc học hỏi tại thế gian, những bài vở, là do trí khôn của loài người tạo ra,để đưa cơ hội tâm linh của chúng ta càng ngày càng thức hơn.
Cho nên, trong đó, chu trình học hỏi đó, cũng là Thượng Đế an bài; nhưng mà mình có ý chí đòi hỏi về đi học của thế gian, nhưng mà trong cái tâm thức mình, “Tui học những gì của Thượng Đế đã ban rải cho tui”; thì lúc đó, cái tình thương mình nới rộng, học những cái sự thanh cao của nhơn quần đóng góp, do cái hào quang chiếu diệu của Thượng Đế nảy nở ra, và để dìu tiến mọi người trong cái trật tự của xã hội loài người; thì tui thấy rằng cái học đó không có hoang phí, mà cái học đó trong cái từ tâm của mình thực hiện, “Đây là bài học của Thượng Đế, không có bài học của nhân gian.” [T2- 31:28]
Thì sự hiểu biết của mình nó lại cao siêu hơn, mà sau này mình ra trường rồi thì thấy cái mình đóng góp mạnh dạn hơn, vì “Tui học qua một khóa học của đời do Thượng Đế đã tạo và độ tui, cho tui tiến để tui cứu tất cả những người; gia đình tui cũng như quê hương, đất nước tui, đang khao khát những nhân tài, những khối óc sáng suốt và bàn tay khôn khéo, để trở về xây dựng đất nước; cũng nằm trong cái ý của Thượng Đế mà thôi.”
Cho nên, Bạn không nên bận tâm, vì mình đã nguyện Bề Trên mới chuyển; chuyển, thì mình chỉ có hành tới, mà thôi. Rồi một ngày đó nó giải tỏa được rồi, thì cái mà mình cho là vọng động, té ra cái đó là cái tịnh! Thông là tịnh; ngẹt là động! Thì, về đời, chúng ta đã thực hiện được. Cho nên, phương pháp này thực hiện đời, đạo song tu cho gia cang được ổn định, cho thể xác được ổn định, nhiên hậu mới vun bồi tâm linh sáng suốt để hòa tan trong cộng đồng quang chiếu của Thượng Đế ở tương lai.
Thì đường đó không có sai; cứ giữ đó mà tu, và không có nên trách lầm là đi học là sai! Mọi người chịu đi học là tiến, chớ không có sai đâu.!
Bạn đạo15: Dạ thưa Thầy, con có xin Thầy giúp con, là con không hiểu nghiệp duyên của con như thế nào, mà như công ơn của cha mẹ của con, một khi con nghĩ rằng mẹ con còn tại thế là con phải lo phụng dưỡng, nuôi nấng, đề rồi đến khi mẹ con nhắm mắt, còn lấy ai để phụng dưỡng nữa? Nhưng tại sao, một khi con đem những món ngon, vật lạ gì đến cho mẹ con ăn, hay là đem những cái gì mà theo ý thích của mẹ con, con biết; nhưng mà con đem đến thì làm như có một duyên cớ gì, mẹ con không hề hưởng được; mà hễ nếu có ăn vào, hay hưởng vào, thì mẹ con lại phải lâm bệnh! Vì cớ ấy, nhiều lúc con muốn dâng những món ngon, vật lạ, thì mẹ con, con lạy Ngài, là mẹ con phải bệnh, thì con lại thôi! (cảm động) Nhiều lúc con tủi thân, không hiểu tại sao số phận con như vậy? [T2- 33:47]
Đức Thầy: Cho nên, Chị, ngày nay đã làm người mẹ, không bao giờ Chị ước mong ăn được những món quà của con Chị, thay vì con Chị phải sửa tâm sáng suốt để cứu độ chúng sanh. Chị thấy chưa? Đó là món quà chính đáng. Còn món quà mà mình đem tới đó, người không hưởng; cái đó là mỗi người đều có quang căn hấp thụ, nhưng mà Ngài không hấp thụ; Ngài không hấp thụ, thì chúng ta không nên bắt buộc, và đừng cho đó là cái hiếu! Tu hành, sửa tâm, để cho mẹ hiền chúng ta an tâm khi người lìa thế; đó là mới là thật sự báo hiếu; chớ không phải rằng cho quà ăn mới là báo hiếu!
Vật chất là trì trệ; mà tâm linh mới là trực tiến.
Cho nên, ngày nay Chị đã làm mẹ; Chị có mong con Chị báo hiếu đâu? Nhưng mà mong con Chị làm sao được bình an, thì Chị có chết đi nữa Chị cũng bằng lòng! Có phải như vậy không?
Bạn đạo15: Dạ.
Đức Thầy: Đó! Thì Chị đã thực hiện con đường mà phải đi và cần thiết; không nên thực hiện những gì không cần thiết. Mẹ hiền cần dùng, sai khiến đến chúng ta, chúng ta làm vui lòng mẹ hiền; đó là đủ rồi. Còn cái chuyện tu tâm dưỡng tánh, cái đó là quan trọng, cái đó là thực sự an ủi mẹ hiền! [T2- 35:11]
Bạn đạo16: Kính thưa Thầy, tu tới trình độ nào người tu mới có thể đi giúp được những người khác bằng tâm linh?
Đức Thầy: Cái trình độ mà đi giúp người khác đó, tự nhiên Bề Trên chuyển, họ sẽ đến gặp chúng ta. Nhiều khi qua âm thinh phân giải, mà trình độ chúng ta có, thì tự nhiên họ sẽ đến với chúng ta. Thì lúc đó mới thấy rằng cái tầm khả năng chúng ta có thể sử dụng trong quần chúng. Lúc đó là trình độ chúng ta đã có (nghe không rõ) Cho nên không cần một người nào tại thế chứng minh, nhưng mà lời ăn tiếng nói và hành động của chúng ta có thể ảnh hưởng được người khác; thì lúc đó là Bề Trên đã ban ơn chúng ta để cứu độ chúng sanh.
Bạn đạo16: Kính thưa Thầy, làm thế nào để phân biệt được sự sáng suốt và sự ngu muội?
Đức Thầy: Sự sáng suốt là cái sự thanh tịnh; mình dẹp được cái bản chất sân si sẵn có của mình, và mình biết sử dụng cái công cụ sân si đề thăng hoa trong sự sáng suốt! Tìm hiểu vì mọi người, thì đó là sáng suốt; còn ích kỷ cho ta không, thì không có sự sáng suốt, đem lại sự tăm tối! Đó là bản chất tham dục! Mà hòa cảm khai thông, biết sử dụng cái bản chất tham dục chúng ta, của chúng ta, thì chúng ta mới là, kêu bằng, sáng suốt. Cái tham vô cùng tận, tham cả Càn Khôn Vũ Trụ, dục tiến Thiên Đàng không giờ giấc ngưng, đó kêu bằng sáng suốt!
Cho nên, cái công cụ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục trong cái cơ tạng chúng ta, là điều dẫn tiến tâm linh, nếu chúng ta biết sử dụng; nếu chúng ta không biết sử dụng, tự chôn lấp tâm linh của chúng ta,mà thôi! [T2- 37:10]
Bạn đạo17: Hằng đêm con ngồi thiền, thật sự là không thiền đúng mức, chỉ thiền cho lấy có. Con biết rằng mình như vậy là yếu hèn, không học đúng cái dũng của Thầy; nhưng chắc có lẽ vì con còn nặng cái nghiệp học, cho nên bài vở nó luôn luôn nó thôi thúc con; con biết đó là con còn động.
Đức Thầy: Nhưng mà luôn luôn, trong giờ học, cái tâm thức mình là học của Thượng Đế, thì cũng không khác gì ngồi thiền! Nếu mà chúng ta ra học, chúng ta học của người phàm, chúng ta thấy rằng động! Nếu ta học bài của Thượng Đế, thì lúc nào cũng thiền giác ở trong chỗ đó! Cho nên, chúng ta phải dùng, biết sử dụng cái đừơng lối để cho tâm thức nó mở sáng suốt; chớ không phải ngồi một đóng đó, kêu bằng thiền đâu!
Thiền để mở thức; mà có thức rồi, phải xây dựng thức, mới kêu bằng thiền giác! Thấy không?
Anh đừng bận rộn vấn đề đó.
Còn thiền mà đối với thề xác, là đem sức khỏe để hỗ trợ cho cái kỳ học hỏi này. Rồi sau đó nó sẽ chuyển qua sáng suốt hơn. Giữ cái đó được 1 giờ, 2 giờ, cũng không sao; nhưng mà tâm thức chúng ta, để giải nghiệp! Gia đình chúng ta cũng là bài học của Thượng Đế; và chúng ta đang thực hiện để giải nghiệp; tùy nghiệp chúng ta tiến; thì, “Mà tui thấy rõ rằng đây là bài học Thượng Đế đã ban cho chúng tui, là Kinh Vô Tự; thì lúc nào tui ta cũng ở trong thiền giác.” Cho nên, có thể đi tới chỗ thiền 24 trên 24 là vậy: lúc học bài cũng là bài của Thượng Đế mà thôi; tâm linh mở rồi, mau, chớ không có chậm đâu; đừng có sợ! Biết đi học, đó là sẽ được!
Bạn đạo17: Cám ơn Thầy. Con ý thức được lời Thầy dạy là phải thiền 24 trên 24, nghĩa là trong khi học mình cũng nghĩ về thiền, hướng thượng.
Đức Thầy:
Bạn đạo17: Con ý thức được điều đó. Thực sự là trong khi học con chỉ chăm chú vào việc học thôi, ngoài ra con không còn nghĩ việc gì khác!
Đức Thầy:Tốt, đó là định đó! Trụ tâm mà để học; trụ tâm để làm một việc; bất cứ việc gì, việc nhỏ cho tới việc lớn, cũng phải trụ tâm; đó là thiền! Mà nếu vừa làm vừa nghĩ bậy, cái đó là loạn; không phải thiền.
Bạn đạo17: Khi quan điểm của con có thể ngược lại,
Đức Thầy: Ừ.
Bạn đạo17: Là, khi mà từ ngày gặp được cái pháp thiền này rồi đó, thì cái việc học đồi với con ở trong trường, nó không phải là một nhu cầu cần thiết nữa! Việc làm, con làm đủ tiền để sài, và cái sự đi học đó con thấy con học cũng mau, mà sao con không có một cái, vô trường ông thầy ổng nói, con thấy có vẻ không được ích lợi lắm! Như vậy là cái điều đó đúng, hay không? [T2- 40:20]
Đức Thầy: Cho nên, mình, khi mà mình thấy rằng, “Tui vô trường học, nhưng mà tui thấy cái đó là không đúng đường lối của tui!” Vậy chớ, “Tui có đường lối nào sáng suốt để tui dạy cho ông Thầy không? Tui đã đóng góp?” Há? Cho nên chúng ta, khi mà chúng ta thấy rằng, “Tui sáng suốt hơn, tui nguyện sẽ đóng góp cho những người thiếu sáng suốt; đó là tui thực hiện từ bi; cũng là bài học để tui tiến.”
Cho nên, khi mà chúng ta biết tu trong cái Vô Vi, thì trong cái Không Không, lúc nào chúng ta cũng có thể hòa cảm được hết! Cho nên, không có thấy rằng, “Tui chê cái này, và tui bắt cái kia!” Không! Cái nào cũng vậy đó thôi! Trong tịnh, chớ không phải trong động; thấy không?
Bạn đạo18: Kính thưa Thầy, khi mà gặp được pháp này, con biết những điều mà, những cái chân lý tuyệt đối, là 1 với 1 là 1; hay 2 với 2, cũng là 1; hay là tất cả mọi chuyện đều có (nghe không rõ) chẳng hạn. Khi mà con đi vô trường, người ta dạy con những điều giới hạn như hình học phẳng, có thể giới hạn khi đem áp dụng có thề trong khoảng vài cây số; thì hình học không gian, như môn toán, này kia đó, nó có giới hạn rất rõ ràng. Những cái định luật về Vật Lý, những định luật về Hóa Học; học quan sát, mà sự quan sát luôn luôn có những sự sai số; thành ra khi mà con học những điều đó, con thấy không có ích lợi gì hết! Rồi khi mà như vậy đó, thì con thấy nó, tại sao mình đi học cái điều mà giới hạn, trong khi điều vô cùng tận mà mình có thể học được mà tại sao mình không học? Vậy Thầy có thấy cái, cái tâm lý này nó có thể là đúng, hay không?
Đức Thầy: Bởi vì, khi mà chúng ta muốn học tới vô cùng đó, thì chúng ta phải từ trong cái giới hạn mà ra; bởi vì, trước khi chúng ta chưa tu, chúng ta ở trong cái giới hạn; mà chúng ta tu, chúng ta ý thức được vô cùng, thì sự vô cùng cuả chúng ta đã đạt tới chưa? Cho nên, chúng ta phải đi song song với trong cái giới hạn mà khai thông tới vô cùng, thì chúng ta mới thật sự đóng góp, thật sự đóng góp ở tương lai!
Cho nên, chúng ta thấy nó giới hạn, nhưng mà chúng ta có cách nào mở cho giới hạn đó nó bớt sự giới hạn, mà chúng ta thấy sự ngăn chận bước tiến của tâm linh, không? Thì chúng ta phải đem ra một bài toán khác hơn nữa, vì cái bài toàn đó ở đâu? Trước kia, trong cái ngu mà ra: người này nghiên cứu một chút, người kia nghiên cứu một chút, thành ra bài toán. Rồi bây giờ, chúng ta có sáng suốt hơn, thì chúng ta đóng góp bài toán tương đổi dễ giảng hơn, và dẫn tiến đi tới vô cùng để cho mọi người được học, nhưng mà phải dựa trong cái căn bản hữu hạn này dẫn tiến tới vô cùng! Cho nên, phải đóng góp! Cho nên, Bạn phải dùng cái từ bi, chúng ta thực hiện bi, trí, dung: phải dùng cái bi để tim hiểu, quan sát mọi khiá cạnh, và thực hiện cái đại nguyện độ nhân cứu thế. Cho nên, trong bài toán, cũng có thề làm ra cái pháp, cái mật pháp, để dẫn độ mọi người; người thích Toán sẽ học được rất nhiều về Toán, người Vô Vi sẽ làm điều đó…[T1-43:50]
Hết