[ID# 19810612Q5]
VẤN ĐẠO 3 TẠI MONTREAL - Cuốn A -
Đức Thầy: Ngài tu với ma quỷ chớ. Thầy của Thích Ca là ma quỷ, chớ ai nữa ? Nó vô nó phá Ngài, nhưng mà tâm Ngài không động. Nó có đầy đủ quyết tâm, Ngài không động; Ngài được thăng hoa. Trì cái chí, Ngài mới thành công; chớ Ngài đâu có tu ở trong cái chỗ, kêu bằng, ông thầy hiền đâu ! Ngài tu với thầy dữ ! Mà nhờ thầy dữ mới đo lường sự thăng hoa đó! Thì bây giờ các bạn ở đây có gia đình này, con ngài, con của các ngài, là... là, là cái thước đo lường sự tiến hóa tu hành của chính mọi người trong gia đình. Con mình là thầy, rõ ràng nó đang đo cho mình: bữa nay nó đo coi thử ổng tới đâu, mai nó đo coi thử ổng tới đâu! Mà ông tức á, thì ông chưa tới đâu hết! Ổng biết đó, ổng biết đó, ổng biết rõ ràng á. Thấy không ?
Bạn Đạo1 : Thưa Thầy, có loại người nào mà muốn tu mà tu không được không?
Đức Thầy : Không có cái vụ muốn tu mà tu không được ! Con người, nó muốn, là, là ông Trời muốn, luôn luôn vậy đó ! Cho nên, người Thế Gian nói : “Tôi muốn bắt con cọp, tôi dùng chỉa bắt con cọp, về bỏ cây súng tây rồi,“ Muốn là được ! Cái người, cái miệng nói muốn mà không thật muốn, không bao giờ được ! Muốn mà thật sự muốn, cũng là người tu ! Muốn cái gì, phải thật sự muốn ; đừng có muốn nửa chừng, lỡ cỡ, do dự, thiếu dũng ! Muốn mà thật sự muốn là đạt tới dũng rồi ; thấy không ? Nó là chân lý đó. Còn muốn mà do dự, đâu có được ; bởi vì cái con người là giới hạn mấy chục năm thôi ! Còn Anh muốn cái đó mà Anh không có thật tình muốn : cái miệng nói “Muốn,” thì tự gạt lấy mình thôi ; làm sao đi tới được ?
Cho nên, cuộc hành hương của mình là phải dũng mới đi tới được ; mà thiếu dũng là không đi tới được ; cương quyết, “Khi tôi muốn cái đó là phải muốn cho kỳ được,” tự nhiên nó khai thông, nó hiểu tới ; tới đó là hiểu lý rồi, thấy rõ chân lý rồi ! Mà nó do dự thì nó tạo cái ngu ảo cho nó mà thôi ! Đừng có do dự ! Muốn cái đó, cứ đi tới ! Bây giờ chúng ta muốn, “Bây giờ tôi muốn khai thông bộ óc, khai thông Ngũ Tạng, để thăng hoa tư tưởng” ; có cái pháp, mình cứ việc giữ cái đó đi tới, nhất định trì kỳ chí, nay không được, mai ; mai không được, mốt : “Tụi Bây hành hạ tao nhiều chừng nào, tao mới hiểu tao nhiều hơn” ; đó ; cái tánh tình đó ! Trong này nó có nhiều, vạn linh nó đo lường mình, chọc tức mình : chập buồn, chập vui, đó ; là cái tụi ở trong này nó thử mình đó ; Lục Căn Lục Trần nó phá phách hằng ngày, hằng giờ, hằng phút : bây giờ đang vui, chút nữa buồn ; cái đó là cái chuyện đo lường trong chu trình ! Mình hiểu thì mình lấy cái chìa khóa đó mà mình tiến ; thì đi tới Khoa Học Huyền Bí ! Đó, khoa học vượt qua khỏi là tới chỗ Phật Pháp.
Bạn Đạo2 : Bạch Thầy, Thầy có nói cái câu là, “Minh tâm kiến tánh” ; vậy nghĩa chính đáng của nó là thế nào ?
Đức Thầy : Ừ, “Minh tâm kiến tánh” là khi chúng ta tu rồi chúng ta thức, bị đụng chạm nhiều, chúng ta thấy cái thức ta sáng suốt, thấy cái tâm chúng ta càng ngày càng bao la tha thứ hơn ; thay vì chúng ta chấp, tức, giận, hờn buồn ! Bây giờ hết rồi thì lúc đó chúng ta mới thấy, thấy rõ cái tánh, thấy rõ cái tánh chậm lục, cái tánh tối tăm, cái tánh lười biếng, cái tánh trì trệ ; vì nó mà làm cái tâm bấn loạn. Cho nên, chúng ta phải xây dựng luôn cái tánh : minh tâm rồi, phải kiến tánh ; mà kiến tánh rồi, phải xây dựng cho cái tâm ; rồi mới thấy cái trọng trách càng ngày càng nhiều đối với Chủ Nhân Ông ; thì khi Chủ Nhân Ông mà hiểu được cái trọng trách đó mới tin Trời Phật, tin Đấng Tạo Hóa.
Bạn Đạo2 : Bạch Thầy, như là, người tu đến giai đoạn nào thì phải uống nước lạnh ?
Đức Thầy : Cái đó là tùy thích thôi, chớ không phải là giai đoạn nào. Tôi không có thể quyết định cái ngày, cái giờ : cái người mà cái thức họ, họ chịu tu, rồi một ngày đó họ đi tới họ uống nước lạnh ! Thấy nước lạnh không có gì, là chất dưỡng sinh mà thôi, mà giải trược, giải cái nóng ở trong cái gan vậy thôi, chớ có gì đâu, như dưỡng sinh và trị bệnh thông thường vậy thôi ; chớ có cái gì đâu mà tới trình độ nào mới uống được ? Chừng nào mà họ cảm thấy rằng “Tôi cần uống nước lạnh để cho tôi được khỏe mạnh, tôi không ăn !” Còn họ không cần, thì thôi ! Uống café cũng được ; miễn sống là được ! Hiểu không ? Cái đó là tùy thích. Còn họ không chịu, mình đâu có buộc người ta được !
Bạn Đạo2 : Bạch Thầy, vậy cái công dụng của nước lạnh là để giải cái tánh nóng của trong cái bản thể của mình ?
Đức Thầy : Nước lạnh đó là giải nhiệt trong cái gan.
Bạn Đạo2 : Dạ.
Đức Thầy : Cái gan con người ăn đồ chiên, đồ xào, mà uống nước lạnh đó thì giải nhiệt trong cái cơ tạng rất nhiều, rất hữu ích, và thanh lọc một phần vậy thôi ! Chớ còn cái Pháp Luân Thường Chuyển, mà lấy điển thanh lọc điển, cái đó quan trọng hơn.
Bạn Đạo2 : Bạch Thầy, vậy là phải uống bao nhiêu mỗi buổi sáng ?
Đức Thầy : Mỗi buổi sáng, nhiều nhất là 1 lít ; vậy thôi.
Bạn Đạo2 : Dạ.
Đức Thầy : Một lít trước khi mình uống café, này kia, kia nọ ; bởi vì uống café thì nó có cái mùi thơm, mình thích ; thích thì mình bị nhiệt ; à, ăn cái bánh mì chiên, hay là ăn đồ chiên, đồ nóng, nó cũng nhiệt cái gan ; thì mình uống chút nước vô để cho nó giải cho nó đi tiểu khỏi nóng này, đi cầu dễ dãi này, thì con người nó bớt bệnh hoạn ; gan nó mát ; vậy thôi, chớ có gì đâu !
Bạn Đạo2 : Thế còn đến giai đoạn nào thì người hành giả phải ngủ ngồi ?
Đức Thầy : Khi mà, giai đoạn ngủ ngồi là cái người cái bộ đầu đã được rút rồi,
Bạn Đạo2 : Dạ.
Đức Thầy : Thì nó cảm thấy như là có cái cảnh ở bề trên ; mà thấy cái tâm nó sung sướng, và thấy cái bộ đầu nó sáng suốt, nó thích ngồi. Và trong lúc nó nằm xuống, nó lại thấy đi đây đi đó, chớ nó không có thấy nhẹ bằng lúc ngồi ; mà lúc ngồi nó cảm thấy nhẹ, thì nó nên tự nó thức, nó đòi hỏi cái chuyện ngồi tới sáng ; tự nó đòi hỏi.
Cho nên, hồi tôi tu, bằng đầu tu thì tới giờ tôi thiền thôi ; rồi sau này tôi được thanh nhẹ, tôi thấy tôi cần ngồi cho tới sáng ; tôi lo tôi tự khuyến khích tôi ngồi ; chớ không phải là ông Tư kêu tôi ngồi ; chẳng có ai kêu hết ! Tôi thích ngồi, vậy thôi ; tôi ngồi, và khi mà tôi ngồi tới sáng rồi, tôi thấy nhiều cái hiện tượng lạ lùng tới với tôi, thử thách tôi, ám hại tôi ; đủ chuyện vậy ; nhưng mà tôi đều vượt qua ; tôi thấy tôi sung sướng ở chỗ đó, tôi hãnh diện vì chính tôi đã tự vệ được !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, ngủ ngồi như vậy có phải, có được tựa lưng vào ghế không?
Đức Thầy : Cũng dựa lưng vào ghế ; bởi vì tôi ngồi ghế xếp, tôi ngồi ghế xếp, mà khi thiền, ngồi không được ; khi thiền, tôi ngồi ngay, ngồi trong cái ghế đẩu ; rồi tôi mới hết, xả thiền đàng hoàng rồi, tôi vô tôi ngủ ngồi trên cái ghế dựa.
Bạn Đạo2 : Dạ. Thưa Thầy, tại sao lại nói là : “Trình độ không mua, không bán được” ?
Đức Thầy : Trình độ đâu có mua bán được ! Bởi vì cái trình độ của Anh là sự hiểu biết của Anh ; chia sớt cho tôi được không ? Thấy không ? Và sự hiểu biết của tôi bây giờ chia sớt cho Anh, đâu có được ; không có mua, bán được ! Mà Anh có vận động kêu tôi chia trình độ của tôi cho Anh, cũng không được ; phải không ? Ờ. Cho nên, nghĩa là không mua và không bán được ! Cho nên, mình phải tự lực cánh sanh mới thăng hoa được ; không có sự bế tắc trong cuộc đời.
Bạn Đạo2 : Bạch Thầy, thế nào là “Khử trược lưu thanh” ; thế nào là “Ngũ tạng khai thông” ; và thế nào là “Ngũ uẩn giai không” ?
Đức Thầy : “Khử trược lưu thanh” là cái sự tăm tối kêu bằng trược; mà ngày nay mình do cái pháp Soi Hồn và Pháp Luân, Thiền Định thì cái thần kinh nó ổn định rồi và cái chấn động lực nó càng ngày càng gia tăng thì lúc đó chúng ta nhắm mắt thấy sáng, thì làm Pháp Luân để cho Ngũ Tạng khai thong ; và làm Pháp Luân vô, ban đầu mình hít thì muốn đem lên đầy ngực, tung lên bộ đầu rất khó khăn. Mà bây giờ, càng ngày càng thông, thì hít vô mình muốn chuyển đi đâu, chuyển ra tay nó ra tay, mà xuống chân nó xuống chân ; mình điều khiển được.
Ngũ hành trong bản thể mình, mình điều khiển được, mình mới đi tới cái Ngũ Uẩn Giai Không, là khi các Bạn ngồi như thế này, quên tất cả cái đầu ! Cái đầu nó đại diện Ngũ Tạng : cái bộ óc, cặp mắt, lỗ mũi, cái miệng, cặp tai nó đại diện ngũ tạng ; mà nó thanh nhẹ tới, kêu bằng, “Giai không,” là không còn cái bộ đầu nữa, thì lúc đó chúng ta ngồi thấy sung sướng, ngồi đêm tới sáng không có nghĩa lý gì đâu ; nhẹ quá, sáng suốt quá ; kêu bằng “Ngũ uẩn giai không” !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, “Điển quang” là gì ? Dạ, nhờ Thầy phân biệt cho rõ : điển trược, điển thanh, và thanh quang điển lành ?
Đức Thầy : “Điển quang” là sự sáng suốt của trong nội thức của chúng ta ; cho nên, khi mọi người mà tu, hiểu được cái sự sáng suốt đó, mới liên kết cái điển quang sáng suốt của Bề Trên được ! Cái điển quang sáng suốt là trong lúc các Bạn đang viết thơ mà đang nghĩ mình việc này, mà viết một chặp cái nó ào ào nó ra những cái việc còn siêu hơn và nhẹ hơn ; đó ! Cái điển quang nó chuyển hóa xuống cho cái tâm thức mình nó được mở ; à, càng ngày càng sáng suốt ; đó ; điển quang là vậy.
Bạn Đạo2 : Điển trược, điển thanh, và thanh quang điển lành ?
Đức Thầy : Điển trược : điển trược nghĩa là nó làm bít tất cả những lỗ chân lông, nó làm cho con người tối tăm và bực tức ; cái đó là điển trược. Khi mà cái bản tánh sân xuất hiện, đó, nó làm những lỗ chân lông không thông ; thì ở ngoài, lỗ chân lông không thông, thì ở trong ngũ tạng cũng bị kẹt, nó không có giao cảm được, nó không có thanh nhẹ được ; thì đó là điển trược.
Bạn Đạo2 : Điển thanh ?
Đức Thầy : Điển thanh là, khi mình giải tỏa cho nó thông tất cả những lỗ chân lông của thể xác, thì lúc đó mình nhắm mắt mình thấy cái cơ tạng của mình nó sáng hết từ trên đầu đến chân, cũng như chiếc đèn néon vậy đó ! Đó là thấy thanh, là mình có điển thanh.
Mà những người, bây giờ, chuyển cho họ tự dạy bằng làm thơ thi, thì trong cái làm thơ đó, trong cái lúc mà nó làm bài thơ đó, thì nó có cái câu thanh và câu trược (nghe không rõ) ; câu trược là nó bị đục cái câu văn đó, nghe không hay, không mở ; mà cái người tu có điển, đọc, nó không thấy giải.
Cho nên, cái điển nó bồi bổ trong lúc nó hành văn, để cho nó thấy cảnh thanh, trược ở cùng ! Mà nó thức cái thanh đó thì nó ráng tu hơn nữa, ráng hành hơn nữa để nó trở về với hoàn toàn thanh, thì lúc đó hành văn mới khỏi cầu xin Bề Trên chuyển cho ! Thật sự có chuyển, lúc mà hành giả đang viết, à, bài thơ khuyến tu, thì những người có điển chiếu cho nó để cho nó làm một cách thoải mái ; nhưng mà rồi rồi, nó xét lấy nó chưa có tu gì hết, thấy còn yếu quá, là tại vì nó còn trược, nó phải tu nhiều hơn ; bởi vì, cái căn của nó nhẹ, nhưng mà cái thở của nó trược, nó phải tu, bắt buộc phải tu mới lập lại trật tự, mới đón rước cái phần thanh trở về trọn vẹn được.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, còn “Thanh quang điển lành” là gì ?
Đức Thầy : “Thanh quang điển lành,” đó là cái hào quang vô tận của Thượng Đế ; nó chiếu hóa cho chúng ta, bất cứ trược cũng được hưởng, mà thanh càng được hưởng thêm.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, còn “Điển Ngũ Hành” là cái gì ?
Đức Thầy : “Điển Ngũ Hành” là những chuyện ở trên mảnh đất này : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, kích động và phản động, kêu bằng “Điển Ngũ Hành.” Ngũ tạng của chúng ta cũng vậy : cũng “Điển Ngũ Hành.” Cho nên, chúng ta tu mà tập trung được điển ngũ hành là Chủ Nhân Ông điều khiển ngũ hành của bản thể ; rồi sau này có một cơ trời biến động, nhưng mà ngũ hành ta vẫn giữ.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, “Thủy điển” và “Thận thủy” phát xuất là một, hay là khác nhau ?
Đức Thầy : Thận thủy, thủy điển cũng là một thôi ; thủy điển là một thôi !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, tại sao ?
Đức Thầy : Nước với điển là cảm giao, giao cảm.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, tại sao lại nói là “Thủy, Điển bất thông” ?
Đức Thầy : À, “Thủy, Điển bất thông” là bị kẹt ngay cái đường Đốc Mạch của xương sống, là “Thủy, Điển bất thông”. Cái đường mà từ sau lưng mà đi lên tới cái óc á, bị kẹt, là bất thông. À, cho nên, mắc kẹt ở đó làm con người bực bội : nó kẹt nó làm người bực bội ghê lắm. Cho nên, chúng ta phải làm Pháp Luân nhiều cho nó thông lên trên, trụ đảnh ở bên trên đó, thì tự ở bên trên rút cái xương sống là cái vũ trụ của cái thể xác này, nó thông.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, tại sao lại nói : “Nước là điển, điển là nước” ?
Đức Thầy : Ừ ; “Nước là điển, điển là nước” : trong cái cơ thể chúng ta, không có nước á, thì điển không có chỗ chạy ; thấy không ? Cái điển nó cảm giao ở trong nước, thì cái thức chúng ta mới mở ; à, mà trong cái cơ tạng con người không có nước á, thì cái điển nó không có tới. Cho nên, bây giờ cái điển của nhà đèn á, mình để dưới nước, để 2 dây điện ở dưới nước, mà mình thò tay vô nước là nó giật liền : hai cái nó cảm giao nhau ! Điển, nước, nó hòa cảm với nhau, và nó dẫn tiến cái luồng điển. Mà có nước á, nó mới là cái con đường lót cho điển đi. Cho nên, chỗ nào chúng ta cũng có nước ; nước điển, điển nước ; hai cái nó đồng hành với nhau để tiến hóa. Mà vượt khỏi cái thể xác này á, không có phải nước nữa ; hoàn toàn là thanh điển ! Mà còn ở trong thể xác này á, phải lấy nước làm đường cho điển chuyển chạy.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, theo như trong kinh Thiên Chúa Giáo thì làm gì có (nghe không rõ…) vấn đề nước là điển, và điển là nước ?
Đức Thầy : Cái đó là, bên Thiên Chúa Giáo người ta, hồi xưa, người ta làm rất có ý nghĩa đầy đủ, chớ không có làm sai : bởi vì cái hào quang của Chúa chiếu hóa cho những người thành tâm, cho nên đem lòng ….. cho người ta xuống nước ; để chi ? Để cái hào quang thanh khiết của Chúa chiếu xuống cái hồ nước đó, mà để cho cái người mà chịu tội và xin lễ đó được hưởng cái phần thanh quang đó trong cái lúc hứa hẹn với Chúa.
Cho nên, những người hứa hẹn đó phải trì kỳ chí và phải giữ cái lời hứa của chính mình, bởi vì cái mà được Bề Trên chứng đó, cái hào quang mà chiếu như thế đó á, là rất quý ! Nhưng mà người, vì sự động loạn của Thế Gian, thành ra nó làm sai, càng ngày càng sai ! Thì cái cuộc mà làm như vậy đó nó có rất đầy đủ ý nghĩa, chớ không phải không có ý nghĩa ; nhưng mà người đời trở về với gia cang nó sai, nó mất thanh tịnh, và nó không có cái pháp để luyện, để hiểu về điển. Nếu nó hiểu điển thì trong lúc đó nó rước được thanh điển, rất quý !
Cho nên, trong nhà thờ, mọi người vô nhà thờ mỗi buổi sáng, 4, 5 giờ sáng vô nhà thờ, làm cái phép, người cha, người con, anh, em thế này là “Tôi làm, thấy khỏe” ; và nhiều người nhúng tay vô trong nước là cái điển trụ trong nước, thì người kế tiếp rờ vô thì thấy nó có cái đó ; người ta không có tu về điển. Còn cái này, mình tu về điển á, thì mình trụ hẳn, mình bước hẳn về điển giới rồi, thì “Tâm động, thần tri,” mình tưởng tới Chúa, Chúa chiếu ; tưởng tới Phật, là Phật chuyển.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, thế nào gọi là “Phân thân dạy đạo” ?
Đức Thầy : “Phân thân dạy đạo” là cái ý chí của chúng ta, là cái phần hồn của chúng ta xuất ra khỏi được rồi, thì nó trụ về cái Trung Tâm Sinh Lực của càn khôn vũ trụ ; thì trong cái lúc đó mình mới hòa tan vô trong cái chỗ làm việc ; mà thấy cái chỗ làm việc đó nó chiếu hóa cho muôn vàn triệu ánh sáng của hào quang ; mà chúng ta hòa tan trong đó là cũng có cơ hội phân thân ; mà ai tưởng tới cái luồng điển chúng ta thì chúng ta chuyển cho họ liền, kêu là “Phân thân dạy đạo”.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, trong truyện “Tây Du Ký” á, thì ông Tôn Ngộ Không ổng nhổ lông ổng thổi một phát, thành ra nhiều ông Tôn Ngộ Không khác ! Như vậy có phải là hình thức phân thân không ạ ?
Đức Thầy : Cái đó là phân thân : cái đó là người ta nói cho người ta biết rằng phân than ; nhưng mà cái phân thân của con người ở Thế Gian ở chỗ nào mà làm giống như ông Ngộ Không ? Ông Ngộ Không, cái đó là trong thể xác của mình ! Cho nên, rứt cái lông, nó thổi ra Ngộ Không không à ! Thì bây giờ ông Chánh đây nè, tất cả lỗ chân lông mà nó xuất ra được, nó nói, “Tôi là Ông, 8 vạn 4 ngàn Ông, chớ không phải một ông Chánh !” Nhiều vậy đó ! Nó xuất phát ra, nó là vậy đó ! Thì ông nào cũng là biến ra, biến ra muôn, ngàn, vạn được hết á ! Thì chỉ có một, chớ không phải là, thấy nó biến như vậy nhưng mà ở trong một mà thôi ; rồi nó sẽ quy về 1, chớ không có 2, 3 đâu ! Cho nên, thường mấy ông đắc đạo, ổng viết cái “Tây Du Ký,” ổng chia ra nào là Sa Tăng, Bát Giái, đồ này kia ; mình thấy, tưởng là cảnh ở ngoài ; té ra trong mình mình ! Có một ông hà ; nhưng mà nó nói “Mấy ông,” để cho người ta học, bởi vì con người nó còn ngu, nó chưa hiểu. Mà hiểu rồi, nó chỉ một ông à : cái ông đó thôi, cái ông thức, biết !
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, thế nào "khai khiếu mở huệ”, và thế nào là “phát Mô Ni Châu” ?
Đức Thầy : Ừ, “khai khiếu mở huệ", là cái trung tim bộ đầu này nó được thừa tiếp với cái thanh điển bề trên, mình có cảm giác rõ ràng là sức hút hút đi lên. À, nó mới mở huệ, nó hòa tan ở Bên Trên. Mình ở đây nhưng mà mình thấy cảnh, ở trong căn nhà này mà mình thấy sự lớn rộng của bên ngoài, vô cùng của Bên Trên, à, nó mới kêu bằng mở huệ. Há! Còn cái gì nữa ?
Bạn Đạo1 : Thế nào là “phát Mô Ni Châu” ?
Đức Thầy : Khi mà chúng ta tập trung ở đây, Soi Hồn ở đây, tập trung ngay cái chân mày này, nó mới xuất một điểm sáng đi ra, là có chút xíu thôi, mình thấy ít. Nhưng mà cái đó, dày công nó mới có cái đó. Phải có cái tê tê nặng nặng ngay cái chân mày này, nó nặng trì, nặng trì, nặng trì, nặng trì, nó chuyển mạnh, nó mới kết tinh thành một cái điểm đó mới xuất ra. Ban đầu thì thấy đỏ, rồi sau lần lần, lần lần nó thay đổi màu. Màu tím, màu xanh, để nó hiện nó cho mình biết. “Cái màu này là tánh anh như thế nào; cái tâm anh buồn hay là anh vui" À... anh đi tới triết giới, hay là đi tới cái gì, ở trong đó nó chuyển ra cho mình thấy cái màu. Cái màu vàng, đó nó vẫn còn lo âu. À, cái màu tím, nó còn sân, còn buồn. Màu đỏ là cái tánh nó cũng còn ác ý. Cái màu thanh dịu da trời nó mới đi tới triết giới. Triết giới là thích nói về cái con đường tu khai mở, nó không thích cái chuyện ác ôn nữa. À ! Rồi lần lần nó bay ra khỏi cái thể xác, đi tới đâu nó hiểu tới đó, kêu bằng “Mô Ni Châu".
Mô Ni Châu là thánh thai đó! Nó đi tới đâu nó hiểu tới đó. Rồi lần lần nó ở, nó trụ ở trên đó, đi lên, đi xuống; quen rồi, nó biến thành mắt, mũi, tay, chân. Nó cũng như trước kia chúng ta giáng sanh là một vòng tròn máu thôi, rồi phân ra âm, dương; rồi phân ra mắt, mũi, tai, miệng, tay, chân; rồi thành ra con người như ngày nay.
Thì bây giờ chúng ta trở về cũng là cái bổn đó. Há, cái vòng đó phải trở về đó, rồi mới ở trong đó quen rồi mới lặp lại một cái thánh thai ! À, mới lên nó cũng hình hài, nhưng mà nó nhỏ như trái bơ vậy thôi, chớ không có lớn lớn ghồ ghề như cái thể xác ở đây! Nếu gồ ghề như cái thể xác đây thì không có điểm đứng được ở Bên Trên. Mình lên ở Bên Trên là không có lớn được nữa. Phải vấp ngã, mà xuống chừng nào nó thấy lớn chừng nấy.
Cho nên, chúng ta xuống tần số thấp thì con ma, con quỷ thấy cũng kính nể. Cho nên, các bạn đi ra khỏi cái thể xác, rồi trở về thể xác, thì các bạn đi nhập vô trong bộ đầu, đi xuống từ tầng, từ tầng, từ tầng trong thể xác. Thì chúng nó phải quỳ hết, vì nó thấy mình lớn lắm, nó phải quỳ nó đảnh lễ hết! Cũng như một vị Phật giáng xuống trần, bước vào trong cái thể xác, lâu lâu mình phải đi một vòng quanh vậy, trong cái ý nghĩ.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, có phải là chỉ khi nào phát Mô Ni Châu tới Thánh Thai thì lúc bấy giờ hồn mới thật sự xuất khỏi bản thể không?
Đức Thầy: Đúng như vậy, đúng nó như vậy. Nó phải đi như vậy. Nhưng mà những người đã tu từ tiền kiếp, người ta đã tu lâu rồi đó, thì họ không phải cần tới thánh thai nữa. Họ xuất, họ đi tự nhiên à! Họ đi tự nhiên. Rồi một thời gian cũng phải lọc cho họ nhỏ lại, vì người ta đã tu nhiều rồi; bây giờ người ta thấy tới đó. Còn những người tập tành tu, đi tới, thì phải đi trong trật tự như tôi nói hồi nãy. Đó là cái trật tự thực tế, phải đi tới. Còn những người mà người ta đã tu nhiều kiếp rồi thì người ta đi tự nhiên, không có gì hết!
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, vậy tức là họ xuất ra một cái là họ đã có đầy đủ tay, chân?
Đức Thầy: Có đầy đủ rồi. Người ta đã tu nhiều rồi, người ta đã có từ lâu, nhưng mà người ta quên. À, những người đó là chưa có vợ, có chồng. Có vợ, có chồng nó không có cái đó ; nó mất hết, nó phân tán hết.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, “Tinh, Khí, Thần” là gì ?
Đức Thầy : “Tinh, Khí, Thần” là trong cái thể xác của mình, bây giờ Tinh, Khí, Thần, là cũng như là cái nhà máy điện, là cái Tinh hóa Khí, Khí hóa Thần, mà Thần hườn hư. Cái chất tinh là cái, cái, cái, cái trụ điện ở trong cái cơ thể con người : à, Anh không có Tinh, làm sao có hóa Khí được, có cái hơi để Anh đi lên ? Mà trong cái Khí, nó hóa Thần. Cho nên, chúng ta lấy cái gì nghiên cứu về cái chất Tinh ? Bây giờ các Bạn đói, phải không, các Bạn ăn cơm đi ; thấy không ? Ăn cơm vô thì trong cái bao tử nó hóa, nó nóng ; nóng, nó hóa thành khí ; mà khí hóa Thần : thành ra ăn cơm vô thấy nó thấy mạnh mẽ ; hồi nãy nó đói run, mà bây giờ nó mạnh mẽ, đi đứng được. Rồi Thần nó hườn hư : là sau khi nó ăn no rồi, tại sao chút nữa đói, đòi ăn nữa ? Là nó hườn hư rồi : nó Sắc Giới giáng xuống Thế Gian, cứu rỗi cái thể xác này, và nó trở về cái Sắc Giới.
Cho nên, chúng ta phải có tinh khí thần dồi dào chúng ta mới khai triển cái đạo pháp được. Nếu mà chúng ta cứ lụn bại hoài, không có tinh, khí, thần, không có tiến về đạo pháp được ; thấy không ? Bởi vì Anh không có một cái nòng cốt của thể xác, và không có cái chùa để Anh trụ trì, thì lấy gì Anh tu ? Cái thể xác Anh là cái chùa, cái Tiểu Thiên Địa ; mà cái thể xác này bị sụp đổ, làm sao Anh tu ? Cho nên, phải cần Tinh, Khí, Thần.
Cho nên, nước với cơm, đó, nó cũng tạo ra điển vậy : cái cơm nó dưỡng sinh cho người mình ; cho nên, cái cơm là cái chất tinh, nó tạo ra chất tinh trong thể xác, là trong Tinh hóa Khí, mà trong Khí hóa Thần ; nó vẫn sống động, chớ không phải ăn cơm với nước mà chết đâu ; không có chết !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy nói, nói rằng : “Khí trụ tại tai, và Thần tan tại mắt” ?
Đức Thầy : Ừ ; đúng ! “Khí trụ tại tai” ; Khí, cái hơi nghĩa là khí, là nó do trong cái gan ; mà cái gan là cũng như cái cây ; mà cái cây cục cựa là gió nó phải chạy : nó hoạt động trong này nè ; ở trong này nó chạy, nó chạy ra tới tai. Cho nên, cái lỗ tai Anh mà héo, cái người mà bệnh cái lỗ tai héo là cũng bị rồi đó, tiêu rồi : cây Hàng Thọ nó không còn nữa ; thấy không ?
“Thần trụ tại mắt” : nhưng mà nói là nói về đời, nói bên ngoài, đó là nói về Y học : dòm cặp mắt Anh có thần không, thì thấy trong người Anh thấy hư, hay là thiệt ở chỗ nào ; đó ! Mới dòm, mới thấy là trong mình Anh khỏe chỗ nào : dòm cặp mắt thôi ! Mà thần trí cũng vậy nữa : dòm cái lỗ tai Anh, dòm cặp mắt Anh, biết khí sắc Anh như thế nào. Anh, mọi chuyện trôi chảy á, thì cái thần sắc Anh tốt ; mà mọi việc trở ngại, thấy cái thần sắc của Anh nó không có quang, không có sáng ; thì người ta luận về cái gia cảnh không yên.
Coi tướng cũng vậy. Cho nên, cái Pháp đằng này tu, các Bạn sẽ đi tới trọn vẹn làm một Thầy tướng, một y sĩ ! Cái chuyện đó nó dễ quá chừng mà, nó không có khó khăn, bởi vì đúng trong Ngũ Hành, mà từ trong Ngũ Hành mà ra. Mà bây giờ các Bạn mới tu đây là ở trong Ngũ Hành, đang lục đục trong Ngũ Hành ; mà thoát khỏi Ngũ Hành, thì trở lại, là gì ? Là một ông thầy rồi ! (cười) ông Thầy rồi, biết hết rồi : kích động và phản động của nội tâm, nội tạng ; thì mình thấy rồi, thấy rõ rồi.
Thì bây giờ mình mới xét về trong cái Vô Vi cao hơn nữa, là cái huyền bí ; hỏi : “Cái ông này cặp mắt sáng ; mà ông này cặp mắt không sáng !” À ! Cái nội thức người ta mở, cặp mắt người ta mới được chiếu sáng ; nội thức mở mới rước được cái ánh sáng bên trên, cặp mắt phát quang ra từ bi. Còn nội thức mình chưa mở, thì cặp mắt nó chưa có sáng. Phải tu cho nội thức mở ; đừng rước cái trược nhiều quá ; thấy không ? Thì thử ăn cơm với nước lạnh coi, nó có đổi cặp mắt không ? (cười)
Bạn Đạo2 : Như vậy thì những người bị cận thị, thì tu mắt có sáng không ạ ?
Đức Thầy : Cận thị, tu cũng được ; cái, cái Soi Hồn thì nó đỡ cho con mắt ghê lắm ; Soi Hồn, con mắt nó đỡ lắm ; nó, thế nào nó cũng giảm được một phần nào. Mà nếu người cương quyệt á, con mắt nó tinh lắm. Mà noếu mở được Đệ Tam Nhãn á, thì cái cận thị kể như tan, đâu có ăn chung gì nó ; nó thấy nhiều cái chuyện còn hay hơn nữa ! (cười) Cái thấy, đâu phải con mắt ; nó thấy bằng cái ý.
Bạn Đạo2 : Thế còn con nghe người ta thường nói rằng, “Mắt là cửa ngõ mở vào linh hồn” ; có đúng không ạ ?
Đức Thầy : Con mắt là sao, mắt là cửa ngõ ?
Bạn Đạo2 : Dạ,
Đức Thầy : Mở làm sao ?
Bạn Đạo2 : Mở vào linh hồn.
Đức Thầy : Mở vào linh hồn
Bạn Đạo2 : Mở vào linh hồn.
Đức Thầy : À, nói về đời thôi ; cái đó là nói về đời : con mắt mình mở để mình biết về linh hồn đó thôi, về đời ! Cái đó là thấp, không có tới cái đó ! Còn cái này, cái thần thức ; à, cái thần thức là cái cửa đó ! Mà cái thần thức nó ở đâu ? Nó ở đây ; đâu có xa ; nó ở đây ! Sau này, các Bạn ra, nghĩa là có một đám mây đứng ở trước này ; có một đám mây, là mình bước lên đám mây như đi xe hơi đó, nó bay đi ! Cho nên, bây giờ tu cái này là để phá thôi, phá cái vách tường ; xây dựng cho mình cái núi, phá đi vách tường, để đi tới. À ! Cái cửa ở chỗ đó ; nhưng mà người đời họ nói con mắt, bởi vì trình độ họ không tới đó, hiểu tới đó ! Hiểu lý đời mà thôi !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, cho biết sự khác biệt giữa Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới ?
Đức Thầy : Dục Giới, là còn cử động nhiều ; Sắc giới, là cử động về phần điển, điển trược, ở trong cái vũ trụ này thôi ; há ! Sắc giới ; tới gì ?
Bạn Đạo2 : Vô Sắc giới.
Đức Thầy : Vô Sắc Giới là không không gian, không thời gian. Rồi tới Định Giới nữa ; à, Hư Không Đại Định, là nó, nó kêu bằng bộ chỉ huy thanh quang điển lành chuyển xuống cái giới đó.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, thế nào là “Hư không đại định” ?
Đức Thầy : “Hư không đại định” á, cũng như là, Hư không đại định là đi tới cái chỗ, kêu bằng, siêu không không gian và không thời gian, mà nó còn siêu hơn nữa ! Chỉ bao nhiêu chút đó ; đã đi tới đó thì cái đạo tự nhiên mở ra, và phải làm việc nhiều hơn ở Thế Gian.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, người ta nói thiền là đi đến cái “Chỗ hoàn toàn thanh tịnh, trăm cảnh không động, và vô cùng linh hoạt” ; thì theo Thầy nghĩ như thế nào ?
Đức Thầy : Đó ! Cho nên, phải bước vào điển giới mới nói được cái câu này : vô cùng linh hoạt là chỉ có điển giới mới kêu bằng vô cùng linh hoạt ! Mà lấy cái tâm mà xét về đời mà muốn đạt tới vô cùng linh hoạt, là không bao giờ có cái sự vô cùng linh hoạt ! Và luận đi xét lại, nói đi nói lại, đọc lảm nhảm trong miệng, không có được !
Phải lấy trong cái thanh tịnh, rồi bước vào điển giới, mới đi tới vô cùng ; còn không dời mình về điển giới, không bao giờ đi tới vô cùng được !
Thì bây giờ các Bạn thấy rồi : téléphone mình nói ở Hồng Kông đó, nhờ cái điển nó linh hoạt ; vật chất tạo ra điển còn vậy, mà tâm linh chúng ta tạo ra điển, nó là đi tới chỗ nào ? Xa hơn chớ ! Mà chính tâm linh tạo cái vật chất của chính nó như vậy ; còn tâm linh tự tiến thì thế nào ? Nó đi nhanh hơn, “Vô cùng linh hoạt” !
Còn không bước vào điển giới, tu về mấy cái câu đó không có áp dụng cho những người, kêu bằng, không bước vào điển giới. Những người bước vào điển giới mới áp dụng được mấy cái câu này, phải thật sự chính họ hành triễn tới đó ; chớ không phải là mê tín ! Có như vậy !
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, còn cái cảm giác mà thường xuyên bị rút ở trên đỉnh đầu, là hiện tượng gì ?
Đức Thầy : Cái đó tốt : bởi vì phần điển mình trụ, bắt đầu trụ ở đó, và đương điêu luyện thừa tiếp cái Thanh Điển bên trên ; và bên trên đang giáo dục và đang chuyển cho mình ! Cho nên, phải thay đổi, thay đổi, thay đổi, thay đổi mãi ; học ở chỗ đó thì cái đó nó học tới mức độ cao rồi, lúc đó, kêu bằng, phá mây đó, là cái ý chúng ta động, “Tôi muốn đám mây này dẹp lùi cho tôi” ; hay là, “Cái đám mây này hiện” ; hay là, “Cái đám mây này tan !” cái ý nói thôi ; mình trụ rồi, cái ý nói, nó chuyển à ! Chớ không phải là cố gắng phóng đi tới ! Không có vụ đó !
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, vậy cái ý mình muốn hiện, muốn phá, là,
Đức Thầy : Thành ra muốn hiện, muốn phá, là cái ý của mình ! Cho nên, Anh thấy rằng những cái sách người ta nói, cái ý của người đó mà muốn bẻ cây sắt cong, nó cũng bẻ được vậy : điển nó tập trung, và nó, nó, nó, cái thần lực của nó tập trung cái thần lực, kêu bằng, Ngũ Hành vô cùng mạnh của nó, có những cái sách đó.
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, có nhiều người họ không tu, nhưng mà họ có thể dùng cái tư tưởng của họ phá vỡ những đồ vật ! Vậy những người đó là kiếp trước họ có tu không ?
Đức Thầy : Không ; họ tu trong cái ngũ hành của họ thôi ; họ tu trong cái ngũ hành, họ tập trung trong cái ngũ hành. Thì cái thần lực họ có thể phá vỡ ; phá vỡ, thần lực của họ có thể chuyển : hai người bạn đang ngồi nói chuyện mà nó làm chọc cho người này tức người kia, cũng được nữa ; cái đó có ! Tụi nó lấy cái điển của mặt trời xuống làm được ; Anh lấy cái điển của mặt trời.
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, vậy cái cảnh đó là trong cái cảnh thấp, chớ không phải là cái cảnh cao ?
Đức Thầy : Cảnh thấp, chớ không phải cảnh cao : lấy điển mặt trời ; cho nên phải luyện, luyện là khi mà mặt trời đương lên, nó phải ngồi đó nó ngó mặt trời mãi mãi ; ngó cho tới nóng, nóng, nóng tới trưa cho thiệt nóng, và nó thu hút cái điển của mặt trời cho hai cái nó hòa hợp với nhau là một, thì nó bẻ cây sắt cong à !
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy ! có nhiều người mà họ không có tu luyện cái đó mà tự nhiên bẩm sanh họ có những huyền năng như vậy rồI ?
Đức Thầy : Không phải là tự nhiên ; họ đã luyện nhiều kiếp rồi ! Cũng như là cái thôi miên ; cái thôi miên, ở Hồng Kông có nhiều cái thôi miên, nghĩa là, nó nắm cái téléphone nó thôi miên Anh được.
Bạn Đạo1 : Dạ.
Đức Thầy : Hiện tại Hongkong nó có cái khóa dạy thôi miên bên téléphone, là chỉ lấy điển của mặt trời. Nhưng mà muốn học cái đó thì sáng Anh phải ngó mặt trời, ngó cho đến nổi trưa ! Trưa mà ngó mặt trời là hư mắt hết ; nhưng mà trưa, Anh tập cái pháp Soi Hồn này, rồi Anh ngó mặt trời, chỉ thấy rõ một cái vòng tròn trắng sát chớ không có tia sáng của mặt trời chiếu vô mình nữa ; cũng như cặp mắt tôi 50 mấy tuổi mà bây giờ tôi nhìn mặt trời thiệt, chiếu sáng thiệt nắng chang chang, tôi đứng tôi dòm thẳng mặt trời, cặp mắt tôi không có bao giờ lòa ! Mình thấy khác cái chỗ đó ; sức mạnh nó vậy !
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, như vậy mình tu cái Pháp Lý này thì mình luyện cái đó có sao không ạ ?
Đức Thầy : Không có lợi ! Những cái đó tà đó, là bàng môn tả đạo, mà Anh luyện cái đó mà Anh ngó, Anh Chánh phải sợ. (cười)
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, có thể vừa hành thiền theo Pháp Lý Vô Vi vừa theo một tôn giáo nào khác được không ?
Đức Thầy : Cho nên, cái Pháp Lý Vô Vi là nó có nguyên tắc đi tới Vô Vi ; nó đi dễ dãi hơn ; khi mà Anh thiền bên Vô Vi rồi mà Anh đi qua cái tôn giáo khác đó, nó không có dính dấp gì với Anh hết trọi. Bây giờ Anh thiền sơ sơ vậy, mà Anh đi qua cái tôn giáo khác, nó không có dính dấp gì hết ! Bởi vì cái lý luận của Anh đã trao đổi với Vô Vi là nó được cởi mở cho Anh, là giải đáp cho Anh rồi. Anh đi tới chỗ khác, không thể nào mà nó làm cho Anh được hài lòng ! Anh tới Vô Vi rồi thôi, chớ nó không có đi trở lại một cái pháp khác, bởi vì nó hỏi, không có ai trả lời nổi nó, rồi họ ghét nó thôi !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, như vậy thì mình hành, mình thiền theo Pháp Lý Vô Vi thì không nên hành thêm một cái pháp môn nào khác ?
Đức Thầy : Bởi vì mình nhận thức không ích, mà hành cái gì ? Tự mình không có thích ! Còn mình thích là cứ việc hành thôi ; nhưng mà thật sự, nếu Anh hành Vô Vi, Anh không thích hành cái pháp nào hết á, bởi vì Anh hỏi tới hỏi tới, hỏi tới cái pháp đó, té ra nó chưa có đi tới đâu !
Bạn Đạo2 : Dạ.
Đức Thầy : Còn cái này nó rốt ráo hơn, và nó thực tế hơn : nó đòi hỏi cái sự quyết tâm của mình ! Mà quyết tâm chưa có, cái một mình làm chưa xong, mà lãnh cái hai ; rồi cái tuổi mình nó đâu có chia đủ triễn hạn để mình coi thử ? Cho nên, mình thấy cái tuổi mình không có đủ để làm việc hai cái, ba cái một lượt ; mình làm một trong mọi cái ; rồi rốt cuộc mọi cái cũng quy về một mà thôi !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, nhưng nói về tôn giáo xin Thầy cho biết đức Huỳnh Giáo Chủ ở Việt Nam là ai ?
Đức Thầy : Đức Huỳnh Giáo Chủ là một vị Thiên tiên mà thôi ; một vị Thiên tiên ; cho nên Ngài giải về đời, về đạo ; à, Ngài sẽ tiến tới Phật ; nhưng mà kỳ này Ngài xuống,
Bạn Đạo2 : Dạ.
Đức Thầy : Để Ngài làm nhiệm vụ với các con Ngài. Cũng đã xuống rồi !
Bạn Đạo1 : Bạch Thầy, về cái Đạo Cao Đài nó như thế nào ; và cái Thông Thiên Học nó, ?
Đức Thầy : Đạo Cao Đài là đạo của Thượng Đế an bài ;
Bạn Đạo2 : Dạ.
Đức Thầy : Cái đạo Cao Đài cũng là chủ trương, a, quy nguyên tất cả những tôn giáo làm một. Cho nên, những người bây giờ chỉ chờ những người hành giả thôi ; chớ cái đường lối đó là đường lối của Thượng Đế.
Bạn Đạo2 : Dạ.
Đức Thầy : Còn hành giả thành không là phụ thuộc hành giả thôi, chớ không phải là cái đạo. Cái đạo là sẵn sàng rồi, vì Thượng Đế đã an bài từ bao giờ chớ không phải mới đây.
Bạn Đạo1 : Dạ.
Đức Thầy : Cho nên, Cao Đài nó quy về một cội hết ; không có gì hết ; mà bên Hòa Hảo cũng vậy, cũng quy về một : cái lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng quy về một thôi ; mà bên Phật Giáo cũng quy về một ; mà bên Thiên Chúa Giáo cũng quy về một. Chớ không có cái đạo nào mà phá hoại cái đạo người ta đâu ; không có !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, tại sao đạo Cao Đài thờ con mắt ?
Đức Thầy : Thờ con mắt là quy về một đó : sau này các Bạn tu thiền rồi các Bạn mới thấy có mắt chiếu chớ ; cũng có chớ ! Đi lên từ thiên tiên sắp lên là có thấy rồI ; cái đó là giáo chủ đó !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, con người mới ngồi thiền mà thấy con mắt ; vậy thì ý nghĩa như thế nào ?
Đức Thầy : Đó, là cái đó ; cũng là chiếu đó ; cái điển Cao Đài cũng chiếu vậy ! Thiêng liêng cũng giúp tâm linh ; chớ người ta đâu có kỳ thị ; người nào đi tiến tới người ta cũng độ hết : Vô Vi này có nhiều người thấy cái đó lắm.
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, còn Thông Thiên Học có phải là một cái tôn giáo không ?
Đức Thầy : Phải chớ ; nó cũng như một tôn giáo ; nhưng mà về Thánh Giới thôi ! Đức tin ; nó là thuộc về đức tin mà thôi ; đức tin !
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, khi hành thiền, con nên cầu xin, hay cầu nguyện cho chính mình hay bà con, được không ?
Đức Thầy : Không ! Cũng cái chuyện đó là nói cái hiếu của đời, là để hạ bớt cái cống cao ngạo mạn của cái tâm linh. Cho nên, mình phải biết rằng có cha mẹ mới có mình ; có cửu huyền thất tổ mới có mình ; thì mình, trong lúc thiền đó, mình cũng nghĩ tới họ ; kêu bằng, cầu nguyện cho mọi giới được an vui ; thấy chưa ? “Nam Mô A Di Đà Phật, Vạn Vật Thái Bình” cũng là đủ hết, bao gồm tất cả. Cái đó là cái nguyên ý mình muốn, và mình đặt cái đại nguyện để tiến tới cái đó thôi.
Bạn Đạo2 : Thưa, thế còn nói, “Tu cứu được cửu huyền thất tổ,” có đúng không ?
Đức Thầy : Cái đó là lẽ đương nhiên ; bởi vì cửu huyền thất tổ là cái sự liên kết với mình ; đâu có bỏ được ! Mà mình bộc khởi, mình là sáng suốt, thay vì tăm tối ! Và trong cái đám rừng tối mà có bật có một cây nhang sáng nó cũng quý lắm ; chớ đừng nói là cái bóng đèn sáng. Chúng ta tu là đi tới cái hào quang sáng suốt ; mà sáng suốt rồi thì cửu huyền thất tổ được nhờ thôi ! Có một đèn, trong lúc bóng tối mà có cái đèn, thì mọi người mừng rỡ hết trọi ; thấy không ?
Bạn Đạo3 : Thưa Thầy, nói như vậy thì có mâu thuẫn với câu : “Ông tu, ông đắc ; bà tu, bà đắc” không ?
Đức Thầy : “Ông tu, ông đắc ; bà tu, bà đắc” không có mâu thuẫn ! Mà đắc cái này là biết được, sáng được : sáng suốt, thì cái đắc này mới là cứu độ ; đắc để cứu độ chớ không phải đắc để xa cách ; đắc để trở về cái căn bản. Thì ông, bà, cha, mẹ mình có xa mình, ở tù này kia, kia nọ, ở Địa Ngục, cũng có sự liên kết với mình. Thì mình được sáng suốt thì tự nhiên sự liên kết sưởi ấm lòng tất cả những người thân bên đó rồi ; sự liên hệ đó, là mình đồng chia cho chúng sanh, thì càng ấm áp hơn ! Đâu có chuyện ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chỗ đó ? Đắc là sáng suốt đó ! Mà trong cái sáng suốt đó là cứu độ tất cả ; thấy không ? Thì những người kia người ta mới ý thức được.
Cũng như chúng ta ngày nay tu là nhờ gì ? Nhờ Đức Phật Thích Ca tu, các vị Chư Phật tu, Chư Tiên tu ; ngày nay chúng ta mới thức. Mà trong đó có bà con chúng ta cũng tu, nhờ đó chúng ta mới đánh thức chúng ta tu, tới cha mẹ chúng ta tu nữa. Thì trong đó, tùy con đường tu mà đi tới ; thì nhờ những cái tia sáng đó ngày nay chúng ta mới tự tiến để chúng ta đi ! Và “Cha mẹ tôi không bao giờ chết, vì phần hồn của Chư Phật cũng còn nguyên, Chúa cũng còn nguyên” ; thấy không ? Ma, quỷ cũng vẫn còn sống ; mà con người cũng vẫn còn sống ; thì “Tôi thấy là tôi phải chọn một con đường sáng suốt đi tới vô cùng, bởi vì những người trước đã hy sinh cho tôi, và gom cái tia sáng cho tôi ; bây giờ tôi phải nắm tia sáng đó tôi đi tới sáng hơn nữa.”
Bạn Đạo2 : Như vậy thì, thưa Thầy, khác với câu của người trần thường hiểu là một người có thế lực có thể cứu rỗi được cho những người khác.
Đức Thầy : Cái đó, thế lực là cái gì, chuyện gì ? Chỉ có một khối người đó thôi ! Còn cái này là sự sáng suốt ; nó, với cái thế lực, 2 cái khác nhau ! Sự sáng suốt là sự cố gắng sáng suốt. Cũng như bây giờ, gia đình của Anh, mấy đứa nhỏ mà một đứa nó, nói rằng làm nghề bác sĩ ở đây là kiếm tiền nhiều nhất, thí dụ vậy đó, mà một đứa nó đàng hoàng nó học đạo đức, bác sĩ, thấy nó cứu được gia đình ; thấy không ? Và sự khuyến khích về tâm linh nó cũng có nữa, và ảnh hưởng nó có nữa ; phải không ?
Còn bây giờ chúng ta tu ở đây, chúng ta đi, đi tới cái con đường đạo là quân bình sáng suốt nhiều hơn nữa ; thì chúng ta còn cứu được nhiều người, ảnh hưởng được nhiều người ; thì giúp đỡ những cái gì mà người ta hướng về mình là cũng như ta hướng về Thượng Đế ; thì mình biết hướng về Thượng Đế, thì người ta biết hướng về Thượng Đế, là người ta hướng về mình ! Còn cái gì nữa ? Cái gần nhất của mình đối với họ, là mình cứu rỗi thôi ; thấy không ?
Bạn Đạo2 : Thưa Thầy, khi vào con đường tu hành, hành giả có cần phải đại nguyện không ; và cái sự phát tâm đại nguyện như vậy, là lúc thế nào ?
Đức Thầy : Hành giả nào cũng có sự đại nguyện, họ mới đi tu ; bởi vì, khi mà, tại sao người ta thấy sự thê thảm của cuộc đời quá nhiều, chán ngán tình đời, mà họ đã thấy, cho nên họ mới nguyện họ đi tu ; đó là họ đã đặt bước vào trong cái đại nguyện của chính họ : tu để cứu tất cả mọi người ! Nhưng mà nhiều người đi tu tới nữa chừng, không thực hiện đại nguyện, đó là họ trở về cái con đường tội lỗi. Nhưng mà sau họ trở về con đường tội lỗi, họ sẽ bị khổ hơn nữa họ mới tiến hóa, một lần thứ nhì đại nguyện nữa, họ mới đắc pháp. Cho nên, nhiều người trước mắt chúng ta chúng ta thấy rằng nói nhiều quá, sao mà không có hiểu gì hết vậy ? Mà làm…
[kết thúc 19810612Q5]