ID# 19800000L1
VĂN TỰ VÔ VI - Cuốn 1 ( Montréal 1980 ) : BIẾT à CẤP CÔ ĐỘC VIÊN
Mp3-1 (track 1)
BIẾT: Sự biết, ở đời họ nói "Biết" rất dễ, nói ở đôi môi rất dễ, nhưng mà cái "Biết" nó phải cộng với sự sáng suốt ở bên trong; mà cái hiểu biết của người đời thì rất nông cạn: Biết cái đó, biết cái hồn, biết cái hồn, nhưng mà không biết nguyên lai của cái Hồn.
Còn biết về đạo, phải biết về nguyên lai từ đâu đến, mà làm ra mặt cách nào mới thành cái hộp.
Bây giờ, chúng ta thấy cái ly chẳng hạn; cái người biết, nói, “Tôi biết cái ly này, thì cái ly này do cát tạo thành.” Mà cát do đâu có? Đó.
Cát do sự điêu luyện cả càn khôn vũ trụ giữa nóng và lạnh, rồi nó mới kết tinh thành một hột cát; một hột cát có thể chiếu diệu nới rộng nó ra, thì nguyên căn của nó cũng như cả Vũ Trụ Càn Khôn, vì hột cát có thể biến, từ hột cát biến ra một thể chất, qua những nung độ nóng cực độ thì nó biến chảy thành nước; mà nước rồi nó kết tinh thành ra trong ngời, miếng kiếng!
Cho nên, cái ly do cát tạo thành.
Mà ai tạo?
Tự nó biến không được; nhưng mà sự đóng góp của nhơn sinh, nhơn loại, một phần trí khôn của nhơn loại.
Thì trí khôn của nhơn loại do đâu có?
Trí khôn của nhơn loại do kết tinh sáng suốt của Càn Khôn Vũ Trụ.
Người tu nói rằng Thượng Đế đã ban trí khôn cho hành giả, rồi mới tìm ra thực chất của vật chất; rồi từ thực chất của vật chất mới biến chế thành ra sự khôn ngoan, biến chế thành cái ly, cái ly đựng nước, cái ly trong sạch, cái ly sáng suốt.
Hồi nào, chúng ta xem hột cát, ta biết đó là cát, nhưng mà không biết nguyên căn của hột cát.
Nguyên căn của hột cát nó đã có sự sáng suốt từ lâu, cho nên nó biến chất và nó trở về nguyên chất của nó trong lành và sáng suốt; cho nên, đổ một ly nước, mình dòm thông suốt từ bên đây qua bên kia.
Thì cái phần trí điển của con người xét vật thể cũng vậy: cơ thể sẽ thông suốt từ bên này qua bên kia, mới kêu bằng biết và hiểu biết.
Cho nên, người đời nói biết, chỉ có một khía cạnh nào thôi. Cho nên, nhiều người cũng nói, cũng xưng hô, cũng xưng đạo hạnh, cũng xưng đủ thứ, nói, “Tôi biết đạo, biết này, biết kia, biết đủ”; nhưng mà tới hồi muốn thành đạo, muốn ngộ đạo, chưa sao đi đến được, cũng xưng là biết!
Cho nên, phải có hành trì thực triển thực hành để khai triển luồng thanh điển của chúng ta, để hòa hợp với thanh điển của Càn Khôn Vũ Trụ, nhiên hậu mới phản chiếu sự sáng suốt đó, mới kêu rằng biết và hiểu.
CỨU ĐỘ: Nếu chúng ta cứu, muốn cứu một người khác, mà chúng ta không biết cứu ta, thì cứu người khác cũng vô ích, cứu không nổi, vì không hiểu rõ.
Nếu mà chúng ta là người tu, chúng ta biết tự cứu mình; đó; như bây giờ như các bạn tu ở đây về Pháp Lý, pháp Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định là tự cứu mình trở lại sự thanh tịnh, khứ trược lưu thanh, nhiên hậu mới độ cho phần hồn tiến hóa; kêu bằng “Cứu độ”.
Cho nên, phải tự mình cứu mình, rồi độ tới phần hồn tiến hóa, mới ảnh hưởng người khác; chớ không phải kêu các bạn lấy cái gì mà đi cứu người ta được? Tuy bản thân bất độ hà thân độ, mình không cho cứu độ được mình, làm sao cứu độ người khác?
Cho nên, ông Trời đã cho chúng ta ngụ trong cái Tiểu Thiên Địa, cho phần hồn ngụ trong Tiểu Thiên Địa rất phức tạp, rất tinh vi, trách nhiệm rất nặng, mà không biết cứu lấy mình, là không biết tu, làm sao mà độ cho phần hồn tiến được?
Cho nên, phải sửa chữa đâu đó cho có trật tự, hòa hợp Càn Khôn Vũ Trụ, nhiên hậu mới độ mình và ảnh hưởng người khác. Đó kêu bằng “Cứu Độ”.
CÚNG LẠY: Cúng lạy là sự cung kính để giáo dục Lục Căn Lục Trần trong bản thể của chúng ta.
Con người hay tự cao xưng ta đây, mà không hiểu ta là ai; Cho nên, có cái cúng, cái chữ cúng, nó phải cúi xuống và cung kính thành tâm quỳ lạy, chịu xả cái trược, sự ngu muội của chúng ta, phân giải cái sự ngu muội mà để thu cái sự sáng suốt của người sáng suốt hơn chúng ta, là Bề Trên thiêng liêng, trong Không mà Có.
Cho nên, cái cúng lạy ý nghĩa rất đầy đủ mà người đời không hiểu: sắp bàn đó, rồi cũng như cho người ta ăn, rồi quỳ xuống cúng lạy, vậy thôi.
Không biết ý nghĩa của sự cúng thì cúng cũng vô ích.
Chúng ta cúng là để dẹp tự ái; mà dẹp được tự ái thì mới có sáng suốt.
Người tu mà còn tự ái, không còn sáng suốt.
Dẹp tự ái mới hướng về thanh nhẹ, thì kẻ hung nó hóa hiền.
Thì lễ xưa người ta để cái sự cúng lạy đó là hồi xưa để tập gì?
Tập những người, kêu bằng, ác ôn, không hiểu, không có tâm linh, chậm tiến; chỉ độ cho nó cúng lạy, làm hình nộm cho to để cho nó có vẻ sợ và nó cúng lạy; thì nó cúng lạy, nó thấy được cứu rỗi.
Cứu rỗi ở chỗ nào?
Là nó quỳ xuống lạy cái phần trược điển ngu muội của nó được giải tỏa ra, thì thanh điển cứu độ nó.
Cho nên, nó cảm thấy khi nó lạy rồi, nó nhẹ.
Đó là đối với phần tâm linh yếu hèn.
Còn những phần tâm linh thanh nhẹ không dùng cúng lạy tại thế, nhưng mà thật sự phần hồn phải có lễ nghi gấp triệu lần ở thế gian.
CHO: Cái sự cho; cho, khi mà chúng ta muốn ban cho một người gì, một món gì cho thiên hạ,là chúng ta phải có cái tâm để ban cho họ, cái món quà đó mới có giá trị.
Còn người tu về Pháp Lý, cho cái gì?
Các bạn có các bạn mới cho; các bạn Soi Hồn, các bạn Thiền Định, các bạn gây dựng được cơ sở thanh điển, lúc đó các bạn mới cho và ban bố, kêu bằng, bố thí, cho người khác, gởi cái điển, thanh điển cho người khác, ban cái điển lành cho người khác; nhưng mà không bao giờ suy tư, không bao giờ nói rằng, “Ta ban cho Người”; không!
Mình cho, không ai biết, vì cái đó chỉ mình biết mà thôi; mình, “Có dư thì tôi san sẻ”.
Cho nên, những người tu thanh tịnh mở những lời nói dẫn giải rõ rệt để cho người có phàm tánh thiếu tâm linh hiểu rõ nguyên căn của họ và khả năng vô cùng tận của chính họ, để họ được cứu rỗi lấy họ, tự cứu rỗi lấy họ, đạt tới sự vui vẻ; kêu bằng, “Cứu khổ, ban vui”. Đó là cho.
Họ tự ý thức thì họ tự cứu lấy họ được; mà cứu được rồi, từ cái khổ đi tới cái vui, từ cái nặng đi tới cái nhẹ; cái cho đó mới xứng đáng kêu bằng “Cho”.
CHƠN NGÃ: Là khi chúng ta ý thức được nguyên căn của mọi sự việc, là cái bản thể này, tay chân cử động, không phải chánh, nhưng mà về phần điển mới là chánh.
Mà cái chơn ngã thì phải thanh nhẹ và sáng suốt ở Bên Trên mới gọi là Chơn Ngã.
Còn nếu mà còn pha trộn cái phàm tâm, không còn Chơn Ngã đâu.
Cái Chơn Ngã của nó ý thức riêng biệt của hành giả tự hiểu lấy thôi, chớ không thể xưng hô với người khác về chơn ngã, nói “Ta đây là chơn ngã”; không có!
Anh có chơn ngã thì Anh hiểu sự chơn ngã của Anh. Bởi vì con người phần hồn là vô cùng tận, mà trình độ nó đi tới đó, nó ý thức rồi, càng đi càng tiến, càng tới càng hiểu, càng minh càng ngộ; lúc đó nó hiểu, “À, bây giờ tôi mới thấy tôi có Chơn Ngã! Tôi thấy Chơn Ngã là sự thật, thực chất của tôi, thực chất của tôi vô cùng biến hóa, đụng tới đâu hiểu tới đó.”
PHÀM NGÃ: Cái Phàm Ngã là sự giới hạn, kêu bằng Phàm Ngã; cũng như cái tánh con người nó sân giận, "Tôi giận, tôi phải đánh anh đó, là tôi bị giới hạn."
Còn phần trí vô cùng tận, không bao giờ người ta đi đánh người đó, không bao giờ ta gây lộn người đó, không bao giờ ta làm phiền người đó; thì người ta mới kêu bằng người tu sáng suốt, và dẹp được Phàm Ngã mới trở lại Chơn Ngã.
Cái người Chơn Ngã không bao giờ bị giới hạn bởi... Cho nên, người có Chơn Ngã, người ta luôn luôn thực hiện trong từ bi tha thứ, như Jésus Christ chẳng hạn, bị đóng đinh Ngài cũng thực hiện tha thứ, cho nên cảm động lòng người tại thế tới ngày nay. Rồi tới Phật Thích Ca cũng vậy: tu trong sự, Ngài lấy cái Chơn Ngã Ngài mới sống với thú dữ nổi; còn nếu Ngài lấy cái Phàm Ngã thì Phàm Ngã nó sẵn rồi, nó giết, nó vật Ngài trong một giây phút, đâu có còn sống? Ngài kiên trì trong Chơn Ngã để hóa giải cái Phàm Ngã, là phần điển Ngài rút cái trược điển đi, thì cái Phàm Ngã nó không có lôi cuốn Ngài được nữa, vượt khỏi khỏi sức hút của phàm trần.
Còn Phàm Ngã còn ở trong giới hạn của phàm trần, kêu bằng Phàm Ngã; cho nên Phàm Ngã,cái tánh con người hay gây gổ, rốt cuộc không đi đến đâu, bị giới hạn.
ĐỘNG LỌAN: Là mình chỉ tự giới hạn lấy mình và thu hút ngoại cảnh, sáp nhập vô trong cái ngũ tạng, ngũ kinh chúng ta, rồi làm cho nó rối loạn, nó biến tới động loạn. Đó; thì trong đó ban đầu mình thích, thích ghê lắm, thích yêu, thích tiền bạc, thích của cải, thích làm giàu; sau cái thích đó, mật thiết rồi nó mới phản, nó phản lại thì trở nên động: trước khi hai người chưa thương yêu, thích lắm, mỗi ngày không gặp mặt thì buồn; nhưng mà thương yêu, ở chung với nhau, cọ sát rồi, nó lại động loạn gây gổ.
Cái gì mà bên ngoài chúng ta thâu thập vô nhiều, mà chúng ta không có cách giải quyết, sửa chữa; đối với người tu thì sống trong động loạn.
Mà không động loạn mới là tu. Sống động loạn mà tâm không động loạn. Vì sao?
Vì người ta đã có cái cách, như chúng ta Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định là hóa giải cái trược, lưu cái thanh.
Cái động chẳng qua là trược, nhưng cái trược nó xâm nhập vô lỗ chơn lông, trong tư tưởng của chúng ta, thì chúng ta hóa giải liền.
Thì nó trở về gì?
Trở về thanh tịnh.
Trong cái động loạn nó trở về thanh tịnh; mà trong cái động đạt được cái thanh tịnh mới là thật sự thanh tịnh.
Còn khi không nhảy ra kêu thanh tịnh, thì “Động một chút, tôi trở về động”; không phải thanh tịnh.
Trong cái thanh tịnh nó có cái động, mà trong cái động nó có thanh tịnh.
Cho nên, chúng ta tu ở trong động: các bạn Soi Hồn đó là động đó, Pháp Luân là động, rồi tới Thiền Định nó mới đi tới tịnh: đem bịt cái lỗ tai, nó ồ ồ chạy đó; làm Pháp Luân, nó ồ ồ, ẹt ẹt đó, là động; nhưng mà rồi nó đi tới thanh tịnh. Thấy chưa?
Trong cái động nó có cái tịnh; mà trong cái tịnh nó có cái động; là khi không chúng ta cứ lo vun bồi về tịnh, mà chúng ta không hiểu rõ nguyên căn của cái động, từ cái động đi tới cái tịnh: nếu không có động, không đi tới cái tịnh, bảo đảm, được!
Vì chúng ta ở trong động, chúng ta vượt qua rồi, bao nhiêu nghịch cảnh chúng ta vượt qua rồi, thì nó có xuất hiện đi nữa chúng ta cũng thấy rõ: trong sự động mà chúng ta đạt được tịnh mới là chơn tịnh, chơn pháp. “Tu tại thị" là ở chỗ đó, hữu ích ở chỗ đó.
Còn chúng ta "tu tại chùa," thanh tịnh, xét ra gặp động chúng ta bị lôi cuốn luôn, cũng như sóng gió bão táp nó lôi cuốn, nó kéo ra khơi luôn; rồi than Trời, trách Đất.
Còn cái này, chúng ta luôn luôn ở trong động loạn, ở trong trược, mà giải; giải được trược thì nó đi tới thanh; mà trong động mà giải được động, nó đi tới tịnh. Động tới cực động là đi tới tịnh, chớ gì nữa?
Cho nên, các bạn ban đầu tu, rồi sau khi ngồi thiền, Soi Hồn, nó nghĩ tầm bậy, tầm bạ đủ thứ hết cả đêm; bao nhiêu công chuyện trong đầu óc nó xuất hiện. Đó.
Rồi một hồi nào đó, các bạn mê rồi, nó quên hết trước kia. Phải từ trong động không?
Mà bây giờ vừa Soi Hồn, vừa nhắm mắt là nó mê, nó quên tất cả những chuyện đời.
Nó đi tới gì?
Nó đi tới chỗ tịnh. Mà nhờ động nó đi tới tịnh, à!
ĐAU KHỔ: Cái đau khổ mà người phàm thường than vãn là đau khổ; còn người đạo luôn luôn sống trong đau khổ để tìm chơn lý.
Chúa trong đau khổ, Phật trong đau khổ, Quan Thế Âm trong đau khổ, mới có Ngài.
Còn người thế gian đau khổ là than, cầu xin Trời, Phật.
Là vì sao?
Vì tham! Lòng tham bành trướng tới chừng nào thì cảm thấy sự đau khổ nhiều chừng nấy.
Mà lòng tham tiêu diệt rồi. thì chẳng còn đau khổ.
Mp3-2 (track 2)
Cho nên, người tu thu hẹp phạm vi, không còn tham lam; kể cả sự ăn uống: không có cái vấn đề thích ăn, nhưng mà ăn để cứu độ vạn linh hòa hợp nhất thể, để khai triển hòa đồng với Càn Khôn Vũ Trụ.
Con thú, con vật, cái rau, cái cỏ, nó cũng muốn cầu tiến.
Mà cầu tiến ở đâu?
Nó phải qua Tiểu Thiên Địa này nó mới có cơ hội tiến hóa. Cho nên, khi mà mình có ý thức mình ăn rằng có trách nhiệm, mình thấy đó là đau khổ, đó là sự đau khổ.
Sau cái khổ là gì?
Là cái sướng: được chuyển hóa trong Tiểu Thiên Địa này, và chúng ta là người tu Pháp Lý Vô Vi, chúng ta phải hành trì hóa giải cho chúng nó đồng tiến như Chủ Nhơn Ông trong hạnh ngộ,để hiểu cái Chơn gGác của Bề Trên.
Thì sau cái đau khổ này nó đi tới cái gì?
Sung sướng đời đời vô tận.
Còn người phàm ở thế gian chỉ có cái tham không, mà than khổ!
Còn Đạo phải đi trong khổ mới đạt được sự vĩnh cửu đời đời.
Cho nên, các bạn tu, gặp tai nạn là cái chuyện thường tình, không nghĩa lý gì. Chúa còn bị nạn, Phật còn bị nạn mới lưu danh tại thế, mới có cơ hội tiến hóa.
ĐẦU THAI: Phần hồn chúng ta là một điểm linh quang phân ly bởi Thượng Đế, giáng sanh xuống thế gian; thì khi đầu thai thành thai noãn, đó là Bề Trên đã quyết định rồi, bởi vì cái phần đó, sau sự ân ái giữa cha mẹ và phối hợp với thời gian của Càn Khôn Vũ Trụ di chuyển và cấu tạo thành cái cơ thai, cho nên nó ở tần số nào, điển quang nào được quy định hết.
Cho nên, những phần hồn nào sẽ nhập vô đó cũng như vào cái lớp học. Cho nên, cái người phá thai sẽ bị tội: Cái thai là cái trường học để cho phần hồn tiến hóa, cho nên chúng ta không nên phá thai khi nó đã thành tựu rồi, không nên; Nó thành hình tượng rồi, không nên phá thai.
Nếu mà phá thai, đó là gây tội lỗi, ác nghiệ, bởi vì chúng ta đã có một cơ cấu để học hỏi, tại sao chúng ta không cho những phần hồn khác để có một cơ cấu học hỏi? Chúng ta lại trốn tránh trách nhiệm xây dựng của Thượng Đế, của Càn Khôn Vũ Trụ. Đó là chúng ta có lỗi.
Cho nên, các bạn phải hiểu rõ: khi đã thành thai, phải cố gắng học cái bài đó để tiến tới, không nên phá thai.
Còn không, chúng ta phải ngừa khi có thai, vì sự quyết định của Bề Trên nó phối hợp cả Càn Khôn Vũ Trụ, quyết định của Thượng Đế, của tình thương, của Mẹ tình thương, cả thế giới xây dựng cơ cấu cho một linh căn xuống đây học hỏi.
HIẾU: Lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Hiếu là sao?
Hiếu là con người phải hiểu nguyên lai do đâu sinh ra mình, do đâu sanh ra con người?
Có Trời, có đất, có phối hợp, có Càn Khôn Vũ Trụ, có vạn linh cấu kết nó mới tạo thành con người, tạo thành cái thánh thai, rồi xuống đây nhập xác trần trược ở thế gian.
Thì cái chữ hiếu này đặt để làm gì tại thế? Sanh ra thôi, cần gì phải hiếu?
Chữ hiếu này là để cho nó thực hiện, nó nhớ cha, nhớ mẹ nó, để nó nhớ Nguồn Cội và nó đi về dễ dãi hơn.
Dù cho nó không tu, nhưng mà nó biết thương yêu cha mẹ nó thì cái tâm nó cũng được Bề Trên chứng.
Mà chứng tâm rồi thì nó gì?
Nó được cứu độ, trong lúc nó lâm chung nó được nhẹ nhàng hơn và sẽ học qua những cái khóa nhẹ nhàng và văn minh tiến triển thông minh hơn ở về sau.
Còn con người tu, trước đó phải dùng chữ hiếu đối với cha mẹ; không được nghịch, bởi vì cha mẹ là thế Thiên hành đạo, chúng ta nên tuân theo những lời dạy bảo. Không có ai yêu con bằng cha mẹ; không có ai thương con bằng cha mẹ. Người tình của các bạn không thương bạn bằng cha mẹ.
Nếu các bạn có con rồi, các bạn mới hiểu rằng tình thương của cha mẹ đối với con bằng cách nào, sâu đậm bằng cách nào! Đó. Lúc đó chúng ta mới hiểu rõ.
Còn người tu về Pháp Lý, tuyệt đối phải hiếu thảo!
Nếu các bạn không có tính chất hiếu thảo, các bạn không có tính chất hy sinh, thì làm sao các bạn tiến về đạo pháp?
Phải có hiếu thảo mới có óc hy sinh, mới có hy sinh thì mới có tiến hóa. Khi các bạn chấp nhận những gì cha mẹ đòi hỏi, hay là gây phiền phức các bạn, các bạn có cơ hội học nhẫn rồi, các bạn thực hiện từ bi, không có thua lỗ đâu.
Cha mẹ luôn luôn thương con, đòi hỏi là dạy, giáo dục, và đưa cho con tiến hóa.
Nhiều người không hiểu, nói “Cha mẹ hành hạ con!”
Không! Nó có cái duyên nghiệp, và an bài để cho nó học hỏi và để cho nó tiến hóa.
HÀO QUANG: Người tu mà có hào quang, cái hào quang đó do trung tim bộ đầu, do cái Pháp Luân Thường Chuyển, Soi Hồn, rồi nó khứ trược lưu thanh, rồi dần dần cái thanh nó tụ hóa, trụ sanh diễn tiến lên trên.
Cho nên, trung tim bộ đầu của người tu về Pháp Lý, ban đầu nó ướm nhột nhột ngay trung tim bộ đầu của Hà Đào Thành đó, như có con gì rờ trên đầu chúng ta, nhưng mà lâu lâu rồi nó sẽ tiến triển thanh lên, thừa thanh tiếp cho nó điêu luyện một thời gian, thì lúc đó các bạn nhắm mắt thì các bạn thấy sáng suốt: hào quang bao vây cả bộ đầu, thì các bạn thấy tượng Phật y như là không có sai.
Đó, cho nên, hào quang của Thượng Đế là vô cùng tận, thì chúng ta đi tiến tới thanh về Phật để chúng ta là người con ngoan của Thượng Đế.
Hiểu ý của Thượng Đế, chúng ta mới học nhiều hơn, để hòa cảm lên trên Hư Không mới tiến về đời đời vô tận, mới trở về Nguồn Cội.
Chớ không phải chúng ta dùng ý niệm.
Chúng ta phải thực hiện mới có hào quang.
Nếu các bạn không thực hiện, các bạn không có hào quang.
Cho nên, con người có hào quang tu tại thế mà đắc pháp có hào quang, xuất ngôn đều là hợp lý, sâu rộng, cởi mở, làm cho tâm can của mọi người được phấn khởi và nhẹ nhàng; nghe qua âm thinh Người thì thấy nó nhẹ nhàng, ngồi bên Người, thấy hình như được giải thoát! Đó mới xác nhận rõ rằng người đó đã có hào quang và có một quyền năng siêu diệu có thể cứu độ tâm linh. Khi chúng ta gặp Người là tất cả những sự thắc mắc đều được giải tỏa. Đó là thấy rõ hào quang cứu độ nhân sanh.
Còn hào quang của Thượng Đế là vô cùng tận, còn siêu diệu gấp triệu lần nữa.
Cho nên, chúng ta ráng tu để đi tới đó, rồi chúng ta hưởng cái hào quang vô cùng tận đời đời bất diệt.
Cho nên, tất cả các tôn giáo ở thế gian nói rằng phần hồn là bất diệt; tất cả tôn giáo đều nói,nhưng mà chưa ai chứng minh được sự bất diệt đó!
Cho nên, các bạn tu rồi, các bạn thấy chính bạn có hào quang, nói đâu phải đứng đó; khai triển vô cùng, và cái tâm tư cứu độ người, không có so đo, không có tính bất cứ một cái gì; luôn luôn chơn tâm thường trụ, tiến giải minh bạch hào quang sáng suốt. Đó mới là hào quang. (24:25)
BỒ ĐỀ TÂM: “Bồ Đề bổn vô thụ,” xưa có câu “Bồ Đề bổn vô thụ”. Tại sao nói Bồ Đề?
Thế gian người ta dùng cái cây bồ đề, trồng ra thành cái cây bồ đề, lá sum sê, mà tại sao nhiều kinh sách nói “Bồ đề bổn vô thụ,” là bồ đề không phải có cây; là cái gì?
Cho nên, chúng ta tu rồi, được thanh điển trên bộ đầu phóng lên, mới hiểu, mới hiểu cái chữ, “Bồ Đề bổn vô thụ,” là cái thanh điển của chúng ta trụ trên bộ đầu và hòa cảm với cả Càn Khôn Vũ Trụ mới biết cái Bồ Đề là “bổn vô thụ”: không có cây, chỉ có điển mà thôi.
Cho nên, sự tri giác của người tu Thiền mở thanh điển rồi thì cái Bồ Đề Tâm là nó không còn nằm ở trong cái tâm như thế gian suy nghĩ, rằng cái con tim ngay trong trung ương này,nhưng mà cái tâm nó thay đổi.
Rồi về cái thanh khí điển hòa hợp với thanh khí điển, rút bộ đầu tròn vo, hòa hợp cả Càn Khôn Vũ Trụ. Đó là cái Bồ Đề Tâm.
Bồ Đề Tâm, khi ai động tới nó, nó hiểu liền; bất cứ một cái gì xảy đến cho nó thì chỉ dùng cái Bồ Đề Tâm để suy xét. Người ta đề nghị một chuyện gì xung quanh nó, nó hiểu liền, rõ rệt, và phân giải; người đối phương nói chưa dứt lời là nó đã phát ra những lời chơn chánh phân giải rõ rệt; là Bồ Đề Tâm.
BÁT NHÃ: Người phàm nói “Bát Nhã” bị kẹt ở trong con tim; không hiểu Bát Nhã này ở đâu? Làm sao có cái Bát Nhã?
Cũng là cái trung tim bộ đầu: Bồ Đề Tâm của chúng ta phát hiện rồi thì cái sự hướng chuyển Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, 8 hướng, 8 ngã xuất phát, chiếu diệu tất cả Càn Khôn Vũ Trụ, mới là được mở hòa hợp với Bát Nhã của Bề Trên.
Trí Bát Nhã là sự sáng suốt đã sẵn có để chiếu rõ mọi khía cạnh, mọi sự chuyển hướng Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, về Điển Khí Thanh Quang.
BỈ NGẠN: Người ta nói phải có một con sông Bỉ Ngạn; mà ngay trung tim chơn mày chúng ta tu đây, xuất phát ra rồi thì chúng ta mới thấy rõ rằng, cái Bỉ Ngạn nó phải có cái khởi điểm do đâu xuất phát ra mới hòa hợp với Bỉ Ngạn ở Bên Trên, thì chỉ trung tim chân mày các bạn nó ê ê xuất phát đó, và nó đi tới cái thanh nhẹ sáng suốt.
Trong giờ Thiền của các bạn, các bạn thấy ở bên này dòm qua bên kia rất rõ ràng; ở bên con sông này dòm qua bên con sông kia rất rõ ràng: đứng đó không biết bao nhiêu người thanh nhã ở bên kia ngoắc các bạn, rồi các bạn từ từ phát tâm từ bên này đi qua bên kia không có khó khăn.
Ban đầu thì thấy rất khó khăn, “Làm sao tôi có thể qua con sông này?” Nhưng mà, “Tôi thanh nhẹ rồi, tôi thấy qua con song!”
Cho nên, con người trước trán đó, tu nó mở, nó có cái vòng ở trước trán đó, là nó bắt đầu trụ; từ đó nó thanh nhẹ bước ra đi phải qua cái Bỉ Ngạn.
Từ cái khởi điểm ở trong cái thể xác con người nó muốn có cái khởi điểm để tiến tới Bỉ Ngạn,thì chúng ta tiến lên rồi thì qua khỏi con sông Bỉ Ngạn ở bên trên.
BỒNG LAI: Là một nơi cảnh tươi đẹp, và mọi vạn vật hình như một trí khôn vô cùng, đi đâu cũng có sự tươi đẹp chuyển giải và thấy thông suốt, thì cái cây, cái lá đều ý thức trong chu trình tiến hóa của chính nó.
Cho nên, người đi lên tới trên đó, đi tới cảnh Bồng Lai Tiên Cảnh, thấy hình như nó nhẹ nhàng vô cùng, và mùi vị thơm tho, các vật đều tươi đẹp, màu sắc lộng lẫy. Đó cũng là trong cảnh giới của Tiên gia.
BẤT MINH NGUYÊN LAI: là không hiểu rõ được mình ở đâu đến đây, rồi sẽ về đâu? Kêu bằng bất minh nguyên lai.
Mp3-3 (track 3)
BẢN THÂN BẤT ĐỘ, HÀ THÂN ĐỘ: Đó, bây giờ con người ở thế gian chỉ dùng cái miệng, dùng cặp mắt, dùng cái bộ óc được thu hút một phần nào đó thôi, rồi nói này, nói kia; nói cứu người này, cứu người kia, cứu người nọ, nhưng mà chính nó, nó chưa biết cứu nó: ghen tương đầu này, ghen tương đầu kia, ghen tương đầu nọ, mà nó chưa hiểu, chưa ghen tương nó.
Tại sao phải ghen tương nó?
Nó phải thấy rõ sự sai lầm của chính nó trước, sửa nó trước, hành triển tiến tới sự vô cùng sẵn có của nó, và sự sáng suốt sẵn có cho nó, thì nó mới biết được cái bản thân của nó.
Nhưng mà bản thân ở thế gian, con người không chịu hiểu, không chịu độ lấy mình; rồi làm sao để độ người khác? Chính ta không tu, không sửa, thì làm sao sửa người khác?
Cho nên, phương pháp Vô Vi là phải tự hành để ảnh hưởng người khác.
Cho nên, có câu “Bản thân bất độ, hà thân độ”: thân ta, ta không sửa, làm sao đi sửa người khác?
Cho nên, nhiều người chưa hiểu mình, chưa chịu ảnh hưởng lấy mình, lại đi dùng những lý luận vá víu của kinh sách muốn đi độ người, mà chính mình chưa độ được, thì đâm ra chỉ đi nói dóc, mà thôi.
Còn ở trong thực hành, tu tới đâu thấy tới đó, mà không phải cầu cạnh người ta tới tìm mình;tự nhiên đến hỏi, thì đến lúc đó mình thố lộ tùy theo trình độ đối phương. Đó; “Tôi trước kia như vậy, như vậy; bây giờ tôi sửa và tiến tới như vậy; đỡ một phần nào”; cho người ta thấy là mình đã độ được mình rồi, mình mới ảnh hưởng người khác, kêu là “Bản thân bất độ, hà thân độ”: chính bản thân mình, mình không có độ, làm sao đi độ người khác được?
Đó, cái Tiểu Thiên Địa này quan trọng, mà không lo săn sóc; làm sao đi săn sóc người khác?
BỊNH: Bịnh là do tánh sanh.
Cái tánh trong đó nó có cái gì?
Tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục.
Vì cái tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục; mà bất minh, thì sanh ra gì?
Sanh ra bịnh hoạn, không có mực thước.
THAM: Không chịu hướng thượng.
Nếu mà tham hướng thượng thì thanh nhẹ, và tham tiến tới sự sáng suốt vô cùng ở Bên Trên,thì đâu có còn tham lặt vặt tại thế?
SÂN: cũng vậy: biết đó, phải có cái bản chất đó mới làm được cái bàn đạp xuất phát đi lên.
Sự SI MÊ: Suy nghĩ về tiến hóa sẵn có của chúng ta ở nội tâm, mà hướng thượng thì chúng ta phải tìm mãi, tìm mãi của chúng ta: chính sự sáng suốt đó ở trong ta có.
HỈ: là vui vẻ, vui vẻ mà chấp nhận bất cứ hoàn cảnh gì xảy đến; luôn luôn ở trong thái độ hoan hỉ, chớ không có thắc mắc đối với người khác, thì nó kêu bằng hướng thượng.
Còn NỘ là gì? NỘ là sự nóng nảy bực tức đó; mà hướng thượng thì nó xuất phát và phóng,thâu đi bất cứ nơi nào.
ÁÍ: là khi mà phóng được lên rồi, mới thức giác; sau cái thức giác đó mới thương yêu tất cả: Chính sự sống của chúng ta không có xung quanh, làm sao chúng ta sống?
Mà không có Bề Trên, chúng ta cũng không sống. Không có sự thanh nhẹ của cả Càn Khôn Vũ Trụ, thì chúng ta cũng không sống được.
Cái Ố là sự đen tối mọi người đều có; nhưng mà cái đen tối đó nó cũng có hữu ích của cái bản chất tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục; là bản chất của Thượng Đế, mà trong đó, kêu bằng,hướng thượng hóa giải tới vô cùng.
Đó, cái sự ác, cái sự trược, cái sự đen tối đó làm cho mình thấy nó chậm trễ; nhưng mà mình hướng về sự vô cùng, thì nó có cái tánh chất đó.
Mà vô cùng rồi thì vô cùng tăm tối, vô cùng trược. Mà chúng ta lấy cái ý chí phóng vào sự vô cùng đó, thì sự vô cùng đó sẽ tan, sự tăm tối đó sẽ biến đổi tới sự sáng suốt.
Cái dục tính của con người cũng vậy nữa.
DỤC: Không phải là giao cấu mới là dục; nhưng mà muốn đủ thứ, đó là dục.
Mà chúng ta dục hướng thượng, chúng ta dục hóa giải, chúng ta dục tới tiến triển vô cùng tận;thì cái dục đó nó đưa lại sự thanh nhẹ cho chính chúng ta; thấy không?
Cho nên, con người bịnh ở chỗ nào?
Nó bịnh vì sự tri giác của nó cạn xợt: nó vun bồi cái tánh tham, sân, si trong chốc lát mà thôi,vì cái đó mới sanh ra cái bịnh hoạn.
Còn nếu nó biết sử dụng tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục tới vô cùng, thì nó đâu có bị kẹt ở trong cái lề lối tham, sân, si, của người đời nữa; thì cái tâm nó mới vị tha, cái tâm nó mới thực sự thương yêu và xây dựng cho chính nó, và ảnh hưởng những người xung quanh.
Tại sao những người thiền giác càng ngày lại càng thông minh và càng dễ dãi hơn, là sao?
Nó hiểu nó, và nó vun bồi cái thực chất của nó tiến tới vô cùng, thì càng ngày càng sáng suốt hơn.
BÀNG MÔN TẢ ĐẠO: Bàng môn tả đạo là một hình thức nói ra những chuyện biểu diễn cái trí khôn của chính họ, rồi dùng cái trí khôn đó lại khống chế tư tưởng người khác.
Cái đó kêu bằng bàng môn tả đạo, không phải là chơn pháp.
Cái bàng môn này nó ở trong một cái nơi tâm tư của nó xuất phát ra một cái lề lối riêng biệt,và nó không có hòa đồng với những người khác. Nó chỉ cho là cái pháp của nó là hay hơn hết và giỏi hơn hết, chẳng có ai sánh bì được.
Nhưng mà nó chưa hiểu rõ rằng chơn lý là vô cùng tận; cho nên, nó còn bị kẹt ở chỗ đó. Nhiều khi thấy biểu diễn rất hay, làm việc này, việc nọ rất hay, bùa rất hay, dùng tà điển phát triển rất hay, mà dưới cặp mắt đời, chớ không phải sự tri giác vô cùng.
Nếu áp dụng sự tri giác vô cùng của người tu thiền sáng suốt thì mới thấy rõ cái Bàng Môn Tả Đạo, và đường lối đó, vì trình độ giới hạn thôi.
Cho nên, những người tu cao người ta không có chấp, thành ra bàng môn tả đạo vẫn hoạt động. Mà Thượng Đế cũng không có can thiệp; cũng vẫn hoạt động, nhưng trong thiên cơ, trong Càn Khôn Vũ Trụ, phải có giờ giấc quy tụ để làm một cuộc khảo thí cho nhân sinh, để cho bàng môn tả đạo thức giác là chính cái đó là không chánh, rồi mới lần lượt trở về Chơn Giác không động.
BÒ BAY MÁY CỰA: là chúng ta ở từ cái rún sắp xuống là cái hạ thừa, trong đó chúng ta thâu thập những luồng trược điển ăn hàng ngày nó trụ hóa nơi đó; Nó có thứ yếu hèn, nó cục cựa sơ sơ, và làm việc trong cái phạm vi eo hẹp, cũng như con vật các bạn đang ăn đây, cọng rau các bạn đang ăn đây, thì cái sự hóa hóa, sanh sanh đó tiến hóa chậm trược; đó kêu bằng Bò Bay Máy Cựa ở bên trong của chúng ta.
Nhưng mà làm sao thấy Bò Bay Máy Cựa?
Là các bạn tu tới thanh tịnh rồi thì các bạn thấy rằng cái ngũ tạng này, cái bộ đầu này, cái ngũ uẩn này, đại diện cho ngũ tạng, thì cái Ngũ Uẩn, mà bộ đầu là bộ óc, mỏ ác này là 1, cặp mắt là 2, hai lỗ tai là 3, hai lỗ mũi là 4, cái miệng là 5; trong 5 bộ phận đó, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển rồi nó đi lên, thì cái ngũ tạng này nó chuyển hướng lên trên, thành ra Ngũ Uẩn.
Trong Ngũ Uẩn Giai Không đó, các bạn mới dòm thấy Bò Bay Máy Cựa trong cái thể xác, như cái hạ giới từ lỗ rún đi xuống. Khi các bạn nhắm mắt thì ở dưới nó chuyển cựa từ chỗ nào, thì các bạn thấy rõ.
Cho nên, nói Bò Bay Máy Cựa mà nói người tầm thường ở thế gian chưa có tu và chưa thức giác, chưa có hiểu Bò Bay Máy Cựa là cái gì; cũng biết sơ sơ những ý đồ con vật yếu hèn vậy thôi, nhưng mà không biết nó nằm ở đâu.
Cho nên, một khi các bạn tu, các bạn làm Pháp Luân Thường Chuyển nó quan trọng lắm. Cái Pháp Luân Thường Chuyển rồi nó dẫn dắt từ từ, từ từ, từ từ; hạ thừa nó chuyển hết trong 9 tầng khu óc của Hạ thừa, rồi nó lên tới Trung thừa, cũng dẫn dắt Bò Bay Máy Cựa đi lên.
Đó; cho nên tánh con người thường thường hay sân si và hay nghĩ cái chuyện eo hẹp, không thể phát triển được rồi nghi kỵ đủ thứ; đó là chỉ ứng dụng trong cái tánh Bò Bay Máy Cựa; và cái tánh đó là cái tánh rất yếu hèn, không tự giác.
Cho nên, chúng ta tu lần lần mở, mở, mở lên rồi, các bạn cũng có một thời gian các bạn tu rồi, các bạn cảm thấy mình không có trình độ gì! Rồi chừng nào các bạn tu khai thông hết bộ đầu, rồi thực hiện tới Bồ Đề Tâm, thì lúc đó các bạn mới thấy giá trị vô cùng trong cái phương pháp công phu mà các bạn đã đạt được.
CAM LỒ: Cam lồ là sự vận hành của thủy điển trong cái cơ thể; rồi nung nấu trong tinh, khí,thần kết hợp chất tinh trụ hóa trên bộ đầu, hòa hợp với sự thanh điển nung nấu của Bề Trên, cho nên nó tạo ra cái nước miếng thơm ngọt. Chỉ có người tu thiền mới có cái đó.
Mà cái đó, khi mà đạt tới cái đó thì những cái bịnh tầm thường trong cơ thể tự nó biến mất;kêu bằng Cam Lồ.
Trong kinh sách có nói Cam Lồ, nhưng mà không hiểu nó nằm ở đâu?
Bây giờ chúng ta tu Thiền, chúng ta mới thấy rõ: mỗi đêm các bạn làm Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định là các bạn đã nấu thuốc cho mình, cho chính mình. Cho nên sau các bạn làm Pháp Luân đầy đủ rồi thì nước Cam Lồ nó quý hóa lắm: nước miếng ngọt và rất khỏe khi chúng ta nuốt nước miếng đó; tâm, can, tì, phế, thận nó thanh nhẹ.
CỬU KHIẾU: là từ sự xuất phát của trung tâm bộ đầu và ngay phía sau cổ đó, thông suốt đi lên, thì các bạn xuất ra mới thấy rõ Cửu Khiếu. Nó ở trong 9 tầng, mà trong đó từ tối đi tới sáng xuất phát ra.
Chỉ có người tu thanh nhẹ, phần hồn đi lên trên đó, kêu bằng, khỏi bước vô đó. Cửu Khiếu này nó cũng ở trong Cửu Trùng Đài mà ra; cũng 9 giới đó.
Cho nên cái này, phải có thực hành mới thấy; còn nếu không thực hành, không sao mà các bạn thấy cái này.
Cái Cửu Khiếu này nó cũng do 9 tầng, mà tôi nói cái chuyển khu óc Hạ, Trung, Thượng, ba 9, 27, rồi lên kết tinh bên trên; lúc đó nó mới có Cửu Khiếu: từ nơi đó các bạn xuất ra mới thấy rõ.
Thì cái Cửu Trùng Đài trong cái Tiểu Thiên Địa này cũng cái tham thôi!
Cửu Trùng Đài, Cửu Trùng Đài, ba giới cũng đều có, cũng hạ, trung, thượng nó cũng phải có; mà có chỗ nó không quy tụ thanh nhã đẹp, là nó còn động loạn trong cái Hạ giới, rồi Trung giới, tới Thượng giới, các bạn mới thấy rõ cái tháp cửu trùng, chín tầng ở trong Tiểu Thiên Địa, trong bản thể của mình.
Nhưng mà cái này, ráng tu cho thanh nhẹ thì tự nhiên nó ở đó, chớ không đâu.
(Trích từ băng giảng của Đức Thầy – Montreal 1980 ) [Hồ Huệ và Tuần Báo Vô Vi - số 93-95 -]