Sài gòn ngày 02/11/1977 – ÔNG TÁM GIẢNG Y LÝ (Kỳ 10)

Bạn đạo: Giải phẫu sanh lý của lá lách, hình tượng của Tỳ: lá lách giống như cái móng người: co cuốn với bao tử vào trong nó, mầu nó giống mầu đất; khí của kinh lạc nó được gom vào trong để làm cho đầy khí chơn linh; nó là nơi đựng chứa khí vậy; nó có phần cầm giữ máu làm thấm năm Tạng, gìn giữ ý chí. Lá lách có tên là Tỳ; bởi vì chữ “Tỳ” là “thấp,” nó ở thấp mé dưới bao tử; bởi chữ “Tỳ” là “Giúp,” nó giúp đỡ khí của bao tử làm tiêu hóa đồ ăn: bao tử lo việc thu chứa, lá lách lo việc làm cho tan nhừ. Lá lách ở trên chỗ trung quản một tấc hai phân; trên, cách tim ba tấc sáu phân; dưới, cách trái cật ba tấc sáu phân; giữa, nó choáng một tấc hai phân, đó là cung Hoàng Đình. Ở Trời là Thái Dương, ở đất là Thái Âm; ở người là Trung Hoàng Cổ Khí, tức là hơi lâu đời của chất đất phân kỳ. “Hoàng” là mầu của trung ương, “Đình” là giữa cả bốn phương; nên đạo gia gọi lá lách là “Hoàng Đình.” Lá lách và bao tử liên lạc với nhau bằng những màng sớ, thì chủ về mùa Trường Hạ: lá lách bịnh sẽ khỏi ở mùa Thu, nặng ở mùa Xuân; cầm cự ở mùa Hạ, và phát ở cuối Hạ.

Chứng trạng bịnh của lá lách: hay ói ọc, kiết lỵ lâu ngày, ruột đau, tay chân mỏi rã, da mặt vàng sẫm, sưng thủng, ốm, lớn bụng, sợ lạnh, đổ mồ hôi, suyễn, ăn không tiêu, hay khạc đàm, nghĩa là ỉa có máu bầm, là chứng lá lách hư suy. Chứng Lá Lách Đầy Thiệt là đầy hơi, ăn rồi sình bụng, có cục gò trong bụng, sanh sên lải; đàm nhớt lưu liên trong người; bụng lớn, bụng hay đau mé phủ, ăn không được. Chứng Lá Lách Hàn là ói ọc, ỉa lót, hiện đàm, đau bụng, đau nặng khắp mình, vàng da, xưng nước, tay chân lạnh toát cả người; chứng Lá Lách Nóng là ói nóng chảy nước dãi, ỉa xòa và trĩu nhớt, ỉa lỵ ra máu, một mắt sưng đau, uống rượu thì vàng da phát sốt, choáng váng xây xẩm, da vàng có ngời. Cách dùng thuốc cho lá lách: Lá lách khổ vì ướt ẩm; vậy ăn đồ mặn để làm cho nó ráo. Lá lách ưa chậm chạp, vậy nên ăn đồ ngọt cho được quởn và bổ nó, ăn đồ đắng mà tả nó.

Nguyên do bịnh nội thương của lá lách: Lo nghĩ quá, than thở, ca hát tỏ lòng quá sẽ làm hại lá lách. Gọi rằng “quá” là quá sức thường, chớ vừa chừng thì không sao. Lá lách bị hại thế nào? Có bị đánh ngã hoặc say sưa no bữa, rồi vào phòng làm việc vợ chồng, đổ mồ hôi, ra hứng gió, đều hại Tỳ; ăn uống nhọc mệt làm hại Tỳ. Bởi vì Tỳ là ông quan gián nghị đại phu, ăn uống là cái khoái thích của con người, Tâm muốn ăn mà Tỳ chẳng tiêu hóa được thì chẳng dám ăn. Cho nên gọi Tỳ là “Quan gián nghị” vậy. Xà ở Tỳ vị thì bịnh da thịt đau, khí dương có dư, khí âm chẳng đủ thì nóng bên trong nên hay đói. Khí âm có dư, khí dương chẳng đủ, thì lạnh bên trong nên sôi ruột đau bụng. Chứng bên ngoài của lá lách là mặt vàng, hay ợ, hay lo toan. Chứng bên trong của lá lách là có hơi đọng ở quanh rún, đè thấy cứng và đau; bịnh nó thường đầy bụng, ăn không tiêu, thân mình nặng nề, các khớp xương đau, mệt nhọc, ưa nằm, tay chân mỏi rã.

Tạng Tỳ là cái nhà để cho ý chí ở; khí của lá lách vơi kém thì tay chân không dùng được tức là tê xụi; năm tạng đều không yên. Khí của lá lách quá đầy thì bụng sình đầy, ỉa đái khó khăn. Tỳ thiệt thì thân nặng, hay đói, thịt lịu bịu, chân yếu, đi mau mỏi, dưới bàn chân hay đau. Tỳ hư thì bụng đầy, sôi ruột, ỉa chảy rót, ăn không tiêu. Sự lớn nhỏ của tạng Tỳ: tạng Tỳ là vật tiếp đón lương thực cho các phần vệ sứ. Xem môi lưỡi tốt hay là xấu mà định được sự lành dữ. Màu vàng gom nhỏ là lá lách nhỏ, gom lớn là lá lách lớn; môi vểnh lên là Tỳ ở cao; môi xệ xuống là Tỳ ở thấp; môi đều chắc là lá lách chắc tốt; môi lớn mà mền là lá lách bịu; môi trên dưới đều đặn là lá lách nằm ngay chỗ; môi xếp méo hoặc trên dưới lớn nhỏ không đều là lá lách nằm trịch chỗ.

Lá lách nhỏ thì tạng an khó bị tàn hại. Lá lách lớn thì khó tiêu hóa mà lại hay đau chằng, không đi mau được. Tỳ ở cao thì căng thẳng xương sườn chót mà không đau. Tỳ ở thấp thì chằng xuống ruột già dễ bị sà tràng. Tỳ bền chắc thì an ổn khó bị hại. Tỳ mềm bịu thì hay bị bịnh tiêu đản. Tỳ nằm ngay chỗ thì ít bị bịnh. Tỳ nằm trịch chỗ thì hay bị sưng đầy. Màu sắc của Tỳ là màu vàng, âm điệu là cung, ở tiếng là ca hát, ở sự biến động là khạc nhổ, lỗ trống của Tỳ là miệng, mùi của Tỳ là ngọt, chí của Tỳ là suy tính, chất lỏng của Tỳ là nhớt vãi. Sự đầy tốt của nó là môi, hơi khí của nó là thơm, loại lúa của nó là tắc, loại súc là trâu bò, loại sâu là lõa, trái là táo, rau là quỳ, số là 5. Hết.

Đức Đức Thầy: Đó, có đi tìm ở trong cơ tạng của con người. Rồi bây giờ cái Tỳ của người tu về Vô Vi nó nằm ở đâu? Tại sao họ nói Huỳnh Đình ở dưới bao tử, mà đằng này Vô Vi nói Huỳnh Đình, vói cái tay ở phía sau gõ cái lung, chỗ này là Huỳnh Đình? Thấy không? Còn cái người tu bên Vô Vi mà khai thông luồng điển bộ đầu rồi đó, đói bụng, mặt hồng; không phải mặt xanh; bởi vì nó rút lên rồi, cái bao tử Tỳ tạng ở tầng cao rồi. Cho nên, khi mà người ngồi thiền và thanh tịnh, thấy mình xuất ra đi thấy trăm hoa đua nở, màu vàng rực rỡ, thơm ngon: cái chỗ đó là cái Huỳnh Đình của quý vị, chớ không phải chun ở dưới này! Cái đó nói cái “Hoàng Đình” là cái bản thể thôi, và bản thể kêu bằng ở trần trược quy định như vậy. Còn ở thanh nhẹ, nó quy định ở chỗ khác.

Cho nên, chúng ta tu về Thanh Điển có Tỳ, có Tim, có Tạng, mà nó ở cái giới khác, ở giới trên hơn, lên tới Thượng Thừa, nó phải ở trên. À. Còn cái cơ tạng của người thường mà luồng điển không thoát bộ đầu á, thì nó vẫn còn ở dưới. Cho nên, các bạn tu lần lần, lần lần sửa đổi cái Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận; nó lên trên Ngũ Uẩn rồi, nó tụ họp ở trên Ngũ Uẩn rồi, thì tới lúc đó các bạn mới thuyết minh sự sanh khắc của Âm Dương, và chúng ta trị bịnh bằng tư tưởng thiện lành. Thì ở Thanh Điển để trị bịnh, người bịnh ở trên giường, có cách làm được; chính tôi đã làm rất nhiều. Trị bịnh ở đây là mình trực tiếp với người bịnh là một chuyện, còn cái bịnh, kêu bằng, người thế gian kêu bằng “Căn,” cái nguyên căn của bịnh trạng, phải dùng phóng điển và tư tưởng.

Cho nên, những người đi tới đây được trị bịnh có phước lắm, không phải nói khoe, nhưng mà rất có phước. Những người đó được, không nhiều thì ít, cũng được kéo lên; không nói chuyện, nhưng mà tư tưởng có phóng lên, có giúp cho họ. Cho nên, nhiều người được khỏe bịnh. Mà nhiều người nghiệp lực nặng nó lại bị, tự nó tiêu diệt, nhưng mà cái phần điển nó cũng được trợ một phần. Đó, nó thấy sự hiền từ của những người làm việc ở trong phòng này, và nó thấy tình thương tràn ngập trong lòng nó khi nó đến tới. Lúc đó cái phần điển nó phải thay đổi: tự nhiên con người phải thay đổi; bước vô thấy tình trạng như vậy phải thay đổi. Một phạm vi rất eo hẹp như thế này mà một ngày có thể chữa trị mấy trăm người. Nếu những người này mà lười biếng vì tư kỷ thì những người này đâu có giúp được ai? Những người này rất hết sức tận tâm khép mình ở một chỗ để lo chữa chạy cho mọi người hết bịnh. Cái tâm tư của mọi người là cái phần Thanh Điển, đưa một liều thuốc trực tiếp của càn khôn vũ trụ và nguyên căn để trị bịnh cho người bịnh, trước khi nói năng hay là châm, hay cái gì đó - cái châm phụ thuộc không ăn chung gì - nhưng mà căn bản trị bịnh nó không phải ở chỗ đó; nó trị tận căn, tận gốc.

Cho nên, những người, vô trong cái phòng này thấy họ trìu mến; mà nhiều người, họ nói, “Tui trị bịnh, tui không có bịnh, tui cũng phải tới.” Tại sao? Họ cũng còn bịnh nữa; không có bịnh thân nhưng mà họ bịnh tâm. Cái bịnh tâm đó phải tới đây để chữa trị. Tại sao họ dòm tôi, rồi tôi nói một hai câu, họ khỏe, họ đi về? Họ đang mắc phải cái bịnh, bịnh tâm: tâm hồn họ chưa cởi mở, chưa sáng suốt, họ đang bị bịnh Ngũ Sắc, Ngũ Quang và Huyền Sắc Huyền Quang; đó là cơ thể này, nó phải, ngoài cơ thể này còn một cái cơ thể khác nó mới biến hóa được cái màu đó. Còn nếu cứ chung đúc trong cơ thể ô trược này, nó đâu thấy Ngũ Sắc Ngũ Quang và Huyền Sắc Huyền Quang? Không có thấy.

Đó, cho nên do sự công phu của các bạn và để tiến tới: càng tu càng thấy, càng tu càng minh, càng tu càng cởi mở, càng tu càng đạt tới Chơn Pháp, và chính mình phải hiểu và trị bịnh cho mình trước tiên. Đó. Khi mà các bạn biết trị bịnh các bạn trong giờ thiền thì các bạn sẽ trị nhiều người, trong giờ không thiền nhưng mà các bạn cũng có cái tâm cứu độ. Khi các bạn thấy người ta bị thương, bị tê, bị đụng này kia, kia nọ, các bạn không có tới đỡ người ta đâu nhưng mà bạn chỉ thầm kín phóng điển đưa cho người đó được “Sớm siêu thanh tịnh độ,” một câu, ý chí của các bạn thôi, là nó đã làm việc rồi.

Cho nên, phải cố gắng tu cho nó dọn tất cả những phần Thanh Điển của Ngũ Tạng được trụ, trù trì trên Ngũ Uẩn mà đồng tu với Chủ Nhơn Ông, thì lúc đó tự nhiên các bạn là một y sư và một danh sư để trị bịnh. Học cái môn nào các bạn cũng hay hơn người ta: rờ rờ, mó mó nói chuyện, nhưng mà có người ta tới trị bịnh, không có đói, không có khổ, nhưng mà sống trong tình thương yêu luôn, không có xảo trá, không có lường gạt người ta. Đó.

Cho nên người đời đi tu trong chùa cũng nói “Quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng,” mà không biết “Quy” là gì!

“Quy y Phật, tôi đi theo ông Phật,” là trật lất rồi! “Quy y Phật” là tôi trở về với vị trí Chủ Nhơn Ông thanh tịnh; “Chủ Nhơn Ông,” mà Chủ Nhơn Ông thanh tịnh kìa chớ Chủ Nhơn Ông động loạn cũng chưa có quy y được.

“Quy y pháp:” là tôi hóa giải tất cả những sự trược ô trong nội tạng tôi trong tinh thần tình thương xây dựng; thấy không?

“Quy y tăng:” “Tôi có một nơi tiến hóa vững chắc, tôi phải trở về đó.” “Tăng” cũng không khác gì căn nhà mình, đưa cho mình tiến giải dễ chịu; à; không khác gì cái gường mình nằm được sạch sẽ tốt lành; mình được dễ dãi, được thăng hoa. Đó; phải trở về với chơn trạng của mình mới kêu là “Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.” Đó. Quy y tăng là trở về với Tiểu Thiên Địa này, hoàn bị trong xây dựng Vô Vi.

Thì cái Tiểu Thiên Địa này không có lười biếng được. Tui, nhiều khi tui muốn làm biếng hết sức để tôi bỏ, như một đống thơ liệng tới cho tôi, tôi nói “Thôi, bỏ không có cho người ta nữa!” Thì nửa đêm cũng bắt bò dậy làm! Bởi vì cái sự sáng suốt nó không cho phép các bạn làm việc. Mà chính tôi muốn lười biếng coi thử thế nào? Không được. Đó, những cái trạng thái đó, sau này các bạn cũng có; nhưng mà tôi cho hay rằng, tu tới cao nhẹ rồi, bạn muốn lười biếng thử coi! Không được, không cho phép đâu! Bởi vì khi mà tôi muốn lười biếng là nó càng sáng suốt thêm và nó càng khỏe khoắn thêm (Cười). Nó mở con mắt, rồi bắt tôi đi rọi cái kiếng, “Dòm cặp mắt, trong lành mà ngủ gì nữa? Phải làm việc!” Đó, nửa đêm dậy làm việc! Nó ở cái chỗ đó; thấy không? Cho nên, nói ra người phàm, người thường, người ta nói: “Ôi! Ông làm việc bao nhiêu giờ, Ông nói dóc! Theo bác sĩ nói, phải ngủ bao nhiêu giờ, phải ngủ ít nhứt tám tiếng đồng hồ. Ông ngủ mấy tiếng đồng hồ mà ông làm điệu như vậy thì chắc Ông điên, Ông chết!” Nhưng mà cái phần hồn và Thanh Điển người ta đã tiến tới “Không không gian, không thời gian” rồi thì cái ngủ không ngủ cũng không thành vấn đề; nó có chút thôi; thấy không? Bởi vì còn ăn thì nó phải làm việc chút cho cái thực phẩm đó, vậy thôi. Cho nên, tôi ngủ một chập thức dậy, nghe “Khò” mấy cái rồi thức dậy! Ngủ thì ngon lắm nhưng mà tỉnh; chập là dậy hết! “Khò” lại luôn! Đi ngang động cửa, tôi biết; đụng giường, tôi biết; đi mạnh cái, tôi biết rồi! Nó tỉnh bơ à! Thì cái đó là sao? Cái đó là mình ở ngoài cái không gian, nó sáng hoài! Nó dễ dãi ở chỗ đó.

Cho nên, cái tu mà cố gắng, rồi đạt tới tinh tú đó, kết tinh có chút xíu thôi là chúng ta thấy sung sướng triền miên, cần gì phải thắc mắc nữa? Tới lúc đó khỏi phải nói, “Tôi phải tham thiền, tôi phải này kia, kia nọ, tôi phải làm è ạch như hồi xưa!” Không được, muốn cũng không được! Tôi nhiều khi tôi bắt buộc cơ thể này làm nhiều lắm; nhưng mà không được, tới đó là nó rút đi mất rồi, phải làm cái việc kia, chuyện sáng suốt ở bên trên nữa! Phải học, không bỏ được.

Đó, cho nên cái cơ tạng của chúng ta mà khai thông ra rồi là nó là cái Tiểu Thiên Địa. Nó có ngôi vị, nó có tánh chất, nó có hết trọi hết trơn. Nhưng mà nó còn trần trược là rờ mó được. Mà ngoài trần trược là cái sự Thanh Điển, tự mình cảm giác hiểu thôi, chớ không thể đem ra cho người ta biết được. Người không tu mà nghe tôi nói như vầy, nói “Thằng đó nói dóc!” Nhưng mà người tu rồi, nghe thấy càng ngày mình càng trở về với mình; mình thấy mình càng ngày càng thanh tịnh; rồi lần lần mình càng ngày mình thấy cái tánh của mình xấu. Hồi trước mình xấu mình không biết mình xấu, mình còn biện hộ cho sự xấu của mình, bảo vệ sự xấu của mình để chống đối người khác. Bây giờ, mình thấy sự xấu của mình, là mình “Minh tâm kiến tánh” rồi; mình phải sửa, mình sửa để mình tiến hóa lên cao nữa, thay vì ở dưới thấp.Cho nên, các bạn mỗi đêm ở đây là y sư, là phần hồn, trị cho cái Tiểu Thiên Địa là cái bản thể, trị bịnh. Công phu là trị bịnh. Rồi sáng là đi trị bịnh.

Cho nên, nói về Đông Y, các bạn nghe một chập, nó rất thích hợp và rất cởi mở, dễ hiểu. Nhưng mà bữa sau, nhớ không? Nhớ! Nhớ! Gặp trận là nó nhớ, còn không gặp trận nó không nhớ. Nó gặp người bịnh nó nói, “Ồ, bà này Tỳ yếu!” Nó dòm nó biết rồi. (Cười.) Nó dòm ở trong cái thức giác đó, là cái vía hồi nãy giờ đang học, cái hồn đang học, đang học cái điển của Thanh Điển của pháp Vô Vi đang giáo hóa đây. Nhưng mà cái hồn không làm việc, bật, trong lúc không cần thiết; nhưng mà cái hồn sẽ làm việc trong lúc cần thiết, thì lúc cần thiết các bạn biết, nhớ! Nó hay hơn người đời chỗ đó. Còn người ta, trong lúc không cần thiết cũng phải học thuộc lòng; học thét rồi khùng luôn: chính mình không biết trị bịnh cho mình! Nó vậy đó.

Cho nên, chúng ta cốt yếu là trị cho phần hồn, phần vía, Ngũ Tạng, về phần chủ trương Thanh Điển thôi; cái đó là cái căn bản, phải giữ cho nó trong suốt; sau này mình dễ đi. Còn cái cơ thể không nghĩa lý gì, nhưng mà mình có tình thương phục vụ thì cái tình thương đó sẽ trị cái bản thể mình, đâu có lo, không có lo. Nhiều bạn nói, “Chu choa, tôi trị vầy, tôi bịnh lên, bịnh xuống!” Không sao! Hết bịnh đi làm nữa, làm thét rồi tình thương trị mình. Bởi vì nhiều người đã hết bịnh, mình không có ăn tiền của họ và mình không có phá hoại họ, họ phải hướng cái Thanh Điển về mình, giúp cho cái vía nhẹ, mà không hay; thấy không? Ờ! Thấy mình bịnh nhưng mà rồi thuốc gì đồ khó khăn, mình nói, “Thôi kệ nó, tôi trị cho người ta, rồi bây giờ bịnh, chết bỏ!” Nhưng mà rốt cuộc người này cho cái này, cho cái kia, cho cái nọ, uống, nó cũng hết. Người ta lo cho mình, bởi vì mình lo cho người ta nhiều quá; thấy không? Tình thương sẽ trị bịnh cho các bạn! Còn các bạn tự trị? Không được! Các bạn chỉ có quyền năng tự trị về phần hồn và Thanh Điển thôi. Nếu mà các bạn không công phu thì mấy cái đó nó mất luôn! Phải lo tu thì cái đó nó có; còn không tu, mấy cái đó nó mất luôn! Thấy không?

Cho nên, chúng ta quan trọng, chúng ta ăn lương của Ngọc Hoàng là ăn cái Thanh Điển. Mình hưởng cái thanh khí của càn khôn vũ trụ, thì mình bất chấp cái chuyện thế gian, mình lo mình thực thi cho càng ngày càng sáng suốt thêm, thu gọn phần hồn càng ngày càng nhẹ, không có gồ ghề trong cái lý trí sân si nữa, mình mới là thực thi được sự tiến hóa ở bên trên. Còn ganh ghét, tham ô, dục vọng, muốn cái này, muốn cái kia, muốn cái nọ? Cái đó cũng chưa có được; nó bành trướng, nó mới muốn; còn nó thu gọn, không, nó thu gọn được tùy cơ ứng biến: hợp cơ duyên thì chuyển hóa; không hợp cơ duyên thì thôi, làm việc khác.

Cho nên, cái lưu ly nó luôn luôn, luôn luôn, sáng, sáng, sáng suốt; ta nói “Lưu Ly Quang Phật,” là nó sáng suốt, nó cứ chuyển sáng, chuyển sáng, chuyển sáng đều luôn; đi vòng, nó sáng mãi, thì nó đâu có bịnh hoạn gì đối với phần hồn? Không bịnh hoạn, không đau khổ, thì nó đâu gây cho tâm thân nó khổ? Không có gây cho tâm thân nó khổ. Còn phần hồn nó cứ suy nghĩ chuyện này, chuyện kia, chuyện nọ, hơn thua với người ta, dự trù cái này, dự trù cái kia, dự trù cái nọ; rồi rốt cuộc đâu có làm được mấy chuyện? Rốt cuộc chỉ gặt hái sự khổ và sự tăm tối cho mình mà thôi; còn sự sáng suốt của mình, mình không theo. Mà để lưu ly tự nhiên nó chuyển, chuyển, chuyển hoài nó sáng luôn; thấy không? Lưu cái thanh và biến hóa tới sáng, kêu bằng “Lưu Ly Quang Phật;” trị bịnh. Cái phần điển đó từ trên tới dưới, Tam Thập Tam Thiên Thế Giới chỗ nào cũng có hết; mà người chưa thanh tịnh chưa được.

Hỏi chớ, ông nhà nghèo ở trong túp lều tranh, ai trị bịnh cho ổng? Trong lúc ông bịnh quá, rồi ổng hoảng, rồi ổng buông.

(Trích từ băng giảng của Đức Đức Thầy -- Sài gòn ngày 2/11/1977) --- HẾT KỲ 10


----
vovilibrary.net >>refresh...