ÐẠI HÙNG ÐẠI LỰC ÐẠI TỪ BI

Sàigòn Ngày 21 tháng 12 năm 1974


Tu là phải sửa, gọi là « Ðại hùng. » Cha mẹ sanh mình ra như thế này, bây giờ mình phải sửa lại, phải thay đổi hoàn toàn chứ không có nương dựa theo cái chuyện hồi xưa. Quý ông dưới đó cứ tu theo cái chuyện hồi xưa không, thành ra càng ngày nó càng bí, nó tiến không được. Rồi nhiều khi vợ chồng giận với nhau hoài cũng không hiểu tại sao! Tại mình không chịu sửa lấy mình. Khi chúng ta tu, ta phải sửa lấy ta để hòa đồng với đại tự nhiên như tôi nói hồi nãy. Nó phải hòa đồng với đại tự nhiên mới là người tu. Người tu còn vì cái cá nhân, sân si, người đó không phải là người tu; nó chết, thành con ma; phí công vô ích : mang cái tiếng tu hành mà không chịu sửa lấy mình. Đã nói « Ðại hùng, » là phải sửa cái cơ cấu hiện hành. Cha mẹ tạo mình ra như vậy đó. Xã hội đặt để mình như vậy, nhưng mà mình phải sửa đổi hoàn toàn, kêu bằng, « Ðại hùng. » Mình phải có cái ý chí cương quyết, tự cải tạo lấy mình.

« Đại lực » phải thường xuyên nung nấu cái đường lối sáng suốt, hòa cảm với đại tự nhiên mới được, rồi mới nói tới đại từ bi. Đem sự sáng suốt cho tất cả mọi người chứ không phải, « Tôi đạt được cái đó rồi, tôi dấu tôi ăn, tôi dấu tôi bán. » Cái đó là xấu xí lắm; không có tốt! Con người đại từ bi, « Cái nào tôi có, tôi chỉ công khai cho thiên hạ. Nhưng mà trước hết tôi phải đi hai giai đoạn: đại hùng, đại lực. » Phải cương quyết như vậy mới tu được.

Cái lịch sử của đức Phật, của chư thầy, của chư tăng, có nhiều người cũng đã cương quyết tu Ngài mới đạt được cái sự thanh quang ở bên trên. Bây giờ chúng ta theo, chúng ta ỷ lại nơi thầy, như xin bùa, xin phép để hộ độ trong gia đình; rốt cuộc, chúng ta là một người ỷ lại, chết rồi bơ vơ không biết đi ở nơi nào, đứng ở nơi nào; rồi bị ma quỷ quyến rũ. Nhiều người chết rồi ân hận lắm; được phước lắm là trở về cái chùa đó tu. Ở cái chùa đó cũng chả tu được cái gì, cũng lẩn quẩn đó thôi; rồi chờ cúng chờ quải để hưởng cái mùi vị đó; không có theo được Phật, không có tiến lên thiên đàng được. Nhiều người tu, chết rồi cũng vẫn ở trên mảnh đất phù sanh này, không có đi lên được là vậy, tại vì trong lúc mình sáng suốt, còn mang cái bản thể con người mà mình không có nhận định được : mình đọc kinh rất nhiều, mình không thực hành được cái đường lối.

« Đại hùng, đại lực, đại từ bi, » thì ai cũng nghe hết; « Bi, trí, dũng, » ai cũng nghe hết nhưng mà không có ai thực hành được hết. Cho nên, cái phương pháp của chúng tôi ở đây chỉ thực hành. Khi mà các bạn cương quyết tu thì phải sửa lấy mình. Tôi đã nói, « Không có đủ thì giờ: các bạn lần lần tới lão rồi, tới suy nhược rồi, ra đi không biết đi đâu; cái đó là đau khổ lắm! Cho nên, mình phải cương quyết chứ không vì lẽ này, lẽ kia, lẽ nọ rồi làm cho chậm trễ, khai thông lấy mình không được. Cái gì cũng đã sẵn có của trời đất ban cho tất cả mọi người. Thanh khí điển hàng ngày hóa sanh vạn vật cho chúng ta được sung túc, có một cái cơ cấu, có cái Tiểu Thiên Ðịa, có cái bản thể này cũng như có một cái căn chùa trụ trì mà tu. Nương dựa cái ngoại cảnh đã tạo thành cái cơ thể, nhiều người được thực hành trong cái hoàn cảnh này, tới cái hoàn cảnh kia, hoàn cảnh nọ (nghe không rõ) Bức! Chịu không nổi, là không có minh cảm ở bên trên, đâm ra tự tử chết cũng có nữa! Thành ra cái phương pháp công phu của đằng này nó phải chấp nhận, thì nó không có tự tử, không có tham sanh úy tử (1).

Nó biết rằng nó ở trong cái cơ cấu bản thể này, mắt mũi này đều là giả tạm. Một thời gian ngắn mà thôi, rồi nó đi, không có nung nấu, củng cố để nó ăn cho bổ, cho mập để sống lâu! Không có cái vụ đó. Cái gì nó cũng có thể qua được. Nó đi trong cái chơn điển. Ngoài cái bản thể này nó còn có cái điển hình, có hồn có vía. Cái phần điển của người đàn ông bên trong thuộc về dương điển, giam hãm ở trong con tim. Cái phần vía của nó thuộc về âm, giam hãm nơi lỗ rún. « Âm Dương hiệp nhất chi nhân, » có âm, có dương mới thành con người. Còn đàn bà nó ngược lại : bên trong là âm, cũng là chủ nhân ông của bản thể; bên ngoài là dương; cũng âm dương hiệp nhất chi nhân mới thành con người; « Sống đồng quan, chết đồng quách » chớ không phải vợ chồng thế gian sống một thì chết một gì đâu! Cho nên khi chúng ta tu, chúng ta phải nhận định, khai thác lấy ta, để hiểu ta, cởi mở lấy ta mới biết tiền kiếp chúng ta ở đâu đến đây, rồi chúng ta nhận định con đường sau này sẽ về đâu.

Tôi đã lập đi lập lại câu chuyện đó để cho các bạn mới, nghe để hiểu, thấm nhuần và tự nhận định đường lối để mình tự tiến, chớ còn cái câu mà tôi vừa nói ở đây cũng đã cũ lắm rồi. Ở đây thì ta nói hoài. Những người sơ đẳng ở đây đã hiểu hết, hiểu rất rành, rất rõ. Hằng tuần, tôi đã nhắc nhở cho nên phải cương quyết chỉ dùng cái trí ý của mình tu luyện chớ không phải dùng cái ngoại cảnh, dùng cái dàn cảnh, bầy chuyện này, bầy chuyện kia, bầy chuyện nọ cho người ta thấy chứng minh tôi là người tu. Tu gỏ mõ để cho hàng xóm biết tôi là người tu. Rốt cuộc, trả tiền lời chút ít tôi không chịu, gây lộn đủ thứ, cái đó không tốt. Cái nào mình nói được theo Phật, phải thực thi như Phật. Bản thể chúng ta cấu tạo bởi trời đất thì ít nhất cái tâm khảm của chúng ta cũng phải có cái đại lượng như trời đất. Cái người mà đại lượng thì lúc nào cũng vẫn tiến về phần hồn chứ đừng có sống trong cái eo hẹp, so đo mà đau khổ thêm. Cho nên phần đông ở xứ ta nhiều người hay tu hành, thích tu hành, thích tiến hóa về cái phần thiêng liêng nhưng mà uổng cho mình không tự sửa chữa, cởi mở, đem sự sáng suốt của mình để giải tỏa những sự đen tối của mình, nhiên hậu ảnh hưởng người khác thì làm sao người ta dùng bùa phép phá hoại mình được. Trừ phi mà nói tôi giỏi hơn ông, bùa phép ông có hơn tôi hai cái đó nó mới đấu. Còn ra ở đời, nó nhỏ tôi cao hơn tôi đánh với ông thì tự nhiên người ta đánh lại người ta thử mình, còn đằng này. Không! Mình tự sửa mình, tự đánh mình, tự giải tỏa mình, tự khuyên giải mình, để dẫn tiến mình. Đâu có mích lòng ai? Cái hành động đó mình làm được tốt sau này mới ảnh hưởng người ta được.

Khởi đầu nó phân ra nhiều cấp. Chậm tiến thì phụ thuộc, mà khôn lanh nó ở trên cấp chỉ huy. Tất cả mọi người chúng ta tu ở đây phải trở về cái cấp chỉ huy là phần hồn chủ nhân ông chịu trách nhiệm đối với bản thể. Chúng ta tu, chúng ta hòa cảm được cái thanh điển của vũ trụ thì chúng ta dù có ở cấp dưới đi nữa thì cấp chỉ huy ở bên trên họ cũng thông cảm mình. Họ biết mình ở trong cái phận sự tự sửa. Cấp chỉ huy rầy la mình không ngoài cái việc họ muốn mình trở nên một người tốt, ích quốc lợi dân, hiền lành, đạo đức. Bây giờ chúng ta thực thi trong cái đường lối đó, ta học qua cái khóa này hỏi cái xã hội nào chán chê ta, cấp chỉ huy nào ghét ta. Không! Tự nhiên các bạn sẽ tới một nơi an nhàn và một cái địa vị thích hợp theo cái trình độ dẫn tiến của các bạn. Tự sửa đổi, tự tiến lên một cái sự thanh tịnh cho mình. Tất cả mọi người trong cái thế gian này cần người có uy tín và cần những người biết xây dựng tình thương chớ không phải cần những người hỗn ẩu, láo xược, phỉnh phờ thiên hạ. Những người đó bị cái luật định của thế gian trừng trị. Còn đàng này chúng ta hàng ngày, hàng giờ, hàng phút chúng ta tự trị lấy chúng ta để dẫn tiến lấy ta. Thành ra các bạn tu qua cái khóa này phải hoàn toàn bỏ hẳn sự mê tín của ngoại cảnh.

Tôi đã nói rằng thời gian và tuổi tác của các bạn không có đủ thì giờ sống ở thế gian để chờ các bạn tu. Cho nên các bạn phải tu vắn tắt chừng nào các bạn sẽ tiến mau chừng nấy. Vắn tắt chừng nào các bạn sẽ cảm giác cái nghịch cảnh ở thế gian, đụng chạm một thời gian rồi các bạn mới tiến. Cái tiềm thức các bạn sẽ nẩy nở sau cái kích động và phản động đó. Cho nên chúng ta đi tắt chúng ta sẽ đắc sớm còn chúng ta đi chậm, kiếp này tới kiếp kia rồi không biết đi đâu. Sau khi chết rồi bơ vơ không quyết định được cái con đường đi, thì tới lúc đó ma quỷ nó rước chứ không có thần thánh nào rước. Bây giờ chúng ta không có quyết định được. Chúng ta nhận thức được có hồn có vía thì mọi người đều có trách nhiệm hết thảy để dìu dắt chúng sanh trong cái luật định hóa hóa sanh sanh hiện hành. Chúng ta ăn mỗi một vật gì chúng ta cũng phải nâng đỡ, dẫn tiến, đem những cái gì liên kết vào trong cái bản thể đồng dẫn tiến hết thảy. Cho nên cái trách nhiệm đó nó không có nhỏ. Chứ các bạn đừng tưởng tôi tu như thế này tôi không có làm việc phước, tôi không có đi cúng chùa, không có lau tượng Phật..tôi không có làm việc gì. Không! Các bạn tu đây là các bạn cũng là người cúng chùa, thắp nhang, cũng lau tượng Phật. Chính là các bạn thắp nhang lấy cái thanh điển thắp hộ cho nó sáng rồi các bạn rửa cái chân tâm của các bạn. Các bạn thấy cái trăng sao của trời đất, tam thiên, đại thiên thế giới trong cái bản thể của quý bạn khai thông ba nơi đó bạn mới hòa cảm được cái đại tự nhiên ở bên trên. Lúc đó thì cái tâm bạn mới không động. Không có đủ thì giờ cho chúng ta đặt cái bàn ở ngoài và sắp đặt đủ thứ rồi kẻ khen người chê, nay sửa, mai sửa mất thì giờ lắm. Chính chúng ta lo sửa cái chuyện bên trong đây mà sửa chưa xong làm sao đi sửa cái chuyện ở ngoài được.

Cho nên các bạn có cơ hội tới đây nghiên cứu, tôi là người đi trước và nhiều bạn đi trước thì trong cái thực hành mà chúng tôi đạt được một phần nào đó chúng tôi đã nói ra tất cả tận tình để đem ra cho các bạn. Điều thứ nhất trở về cái sức khỏe, điều thứ nhì an khương tự tại, rồi mình quyết định con đường tu học rõ ràng ở thế gian hay là lên thiên đàng, có hai nơi. Nếu ở thế gian, chúng ta cứ cúng lạy mãi, ỷ lại nơi cái chuyện chúng ta không thấy nhưng rốt cuộc chẳng có đi đâu được. Còn đi lên thiên đàng, chúng ta phải tự giải quyết, tự giải tỏa, đem lại ánh sáng cho mình mới là mở một con đường đạo tâm dẫn tiến. (End of Track 1)

Nó có hai lối. Người được nghe qua trung tim bộ đầu thì dụng tâm để mà đoán cái thanh điển của những người thuyết pháp có một cái trình độ nhẹ hơn mình. Người ta mới dụng trung tim bộ đầu để tương ứng thì lúc đó thấy trên bộ đầu nó nhẹ nhàng mà nghe rồi cũng không biết chuyện gì nhưng sau này muốn lập lại thì nó cũng đầy đủ. Nhưng mà trong lúc nghe nó thanh thản là cái luồng điển của người truyền pháp họ nhẹ hơn mình, nó rút mình đi lên. Còn dùng ở đời nếu là người đi học vẫn nghe ở đời. Ở đời họ lấy cái lỗ tai bằng thịt mình nghe, vì âm thinh của người ta dùng nơi con tim nhưng mà chúng ta nghe rồi, chúng ta kéo về trung ương bộ đầu thì từ học một hiểu mười là ở trong cái lý do đó. Mình hiểu đối phương nó đang giải thích thiếu sót cái nào nếu mà nó dùng trung tim bộ đầu giải thích thì cái câu văn này nó gọn ghẽ và nó hay, nó đơn giản hóa. Không phải nói mình là người học trò đi học nhưng mà đi tới đó mình là người sửa ông thầy; mà trong lúc mình sửa ông thầy, ông thầy cũng bằng lòng là cái sửa của mình rất đúng. Bởi vì mình đi thẳng, nghe từ lỗ tai nhưng chuyển hóa phần thanh điển lên trung tim thì tự nhiên con người mình sáng suốt, học một hiểu mười mà mình hiểu ngay cái tánh ý của ông thầy. Cái con người mà được nghe hai bên như vậy, như ông vừa nói đó là người tu về pháp lý nó đạt được nhẹ mới được nghe còn người tầm thường không có thể nghe như ông nói được. Nó có hai giới. Mà lúc nào ông nghe bằng lỗ tai rồi một chập rồi đem về trung ương mà phân tách ra mới biết đối phương nó còn kém chỗ nào thì mình biết. Mình có thể thuật lại lời nói của y nhưng mà mình sẽ bổ túc và dẫn tiến cho y luôn. Học trò hòa cảm với thầy nhưng mà thầy cũng kính nể học trò chứ thầy không có ghét học trò đâu mà sợ. Cho nên người tu về pháp lý không phải nó giỏi hơn người ta bởi vì phần điển bộ đầu nó mở thì đối phương có nói gì thì cái điển mình cũng thích ứng, chuyển hóa trên đầu của họ. Họ cao lên một phân, mình nâng họ lên một phân. Họ cao lên một phân, mình nâng họ lên một phân nữa thành ra không có thất bại đâu mà sợ.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Cái bệnh của chị tại do cái nóng tánh, cái hờn mát, cái đó nó làm cho cái gan nó yếu và cái tim nó yếu. Cái hơi nó rút trở lộn vô thì bây giờ nếu mà muốn hết cái đó thì có cái bà cạo gió trong nhà này là em của ông Liêm đây. Bà đó cũng bị cạo gió một tháng 30 ngày mà bây giờ bà ấy hết cạo gió thì nên hỏi bà tại sao? Có bạn cạo gió kia, kêu bạn cạo gió chỉ cho tu là hết. Bây giờ công phu cho nó khoẻ trước đi, cho nó đổi tánh tình rồi mới vui vẻ. Ai nói gì thì mình cứ thây kệ, họ chửi, họ la, họ nói hành nói tỏi; rốt cuộc rồi họ cũng phải trở về với họ. Bởi vì khi nó xuất phát nơi ngũ tạng họ thì chút nữa họ phải trở về với họ. Họ nói trước, họ tạo ra trước một trăm phần trăm thì họ phải gánh đủ một trăm phần trăm. Còn mình không tạo, tại sao mình nghe của người ta, mình giận cái chuyện của người ta, mình rước cái bệnh của người ta vô mình. Nó đè thành ra cái điển của chị nó không có xuất phát ra được. Bị bên ngoài áp đảo vô thành ra cứ bị cạo gió hàng ngày, cảm hoài, ớn lạnh hoài là vậy đó. Chị chịu khó theo cái phương pháp này tu thì hết. Mà cố gắng tu thì hết vì trước đây cũng có một bà bạn ở đây trước kia cũng vậy, cũng cạo gió hoài. Đi làm về mà không cạo gió thì không có an. Bây giờ thì bà hết cạo gió rồi. (T2,4:03)

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Nãy giờ tôi nói thì ông cảm thấy thế nào? Cái nguyên lý nó phải vậy. Tháo cái xe nó có mấy món thì có mấy món chứ đừng có dấu là cái xe của tôi nó tốt hơn cái xe người ta. Xe ông mà lột dên thì lột dên, xe hư pít-tông (2) thì hư pít-tông. Tháo ra món nào thì nó ra món ấy. Mình sửa món nào cho nó đúng một món thì xe nó chạy yên.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Bây giờ ông so sánh từ trước tới bây giờ ông lược thuật lại cho các anh em ở đây nghe. Ông tu theo ông Sự, cái lề lối hồi đó ông học cái gì ông có thể nói cho chúng tôi nghe. Bây giờ làm sao ông ý thức bằng cách nào ông mới trở lại nghiên cứu với chúng tôi. Trong sự nghiên cứu của ông giữa hai bên, cái của ông Sự và cái đằng này hai cái khác biệt nhau hơn không?

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Kết quả hơn vì bên này phải luyện, phải làm phải thay đổi ở bên trong chứ ngồi lì cái hướng trời lặn thì nó đi lặn luôn. Chúng ta xuất phát phải nhờ luồng điển. Cái xe hơi của ông chạy phải nhờ ét-xăng (3). Étxăng vô nó cũng phải nhờ lửa. Lửa đốt rồi nó có hơi, nó mới chạy. Đằng kia, người ta chỉ ông có bao nhiêu lửa đem bỏ xuống biển hết thì nó tiêu. Còn đằng này khác, hoả với hoả nó tương giao, nó mới dẫn tiến. Ông ngồi về hướng Nam. Nam thật phương nam lửa bính đinh. Nó xuất phát ra. Người ta nói Nam, thanh tịnh nó trụ ở đây. Cho nên ông Phật, ông thanh tịnh khai thông bộ đầu rồi ông mới lấy cái nguyên lý luân chuyển của sáu cái luân xa đó. Thì cái âm thinh người ta nói Nam... tiếng cuối cùng nó trụ ở đây thì nó bộc sáng ra.

Mô... tiếng cuối cùng nó ngay chỗ này, nó mới bộc sáng ra. Chứ ông chỉ Nam Mô A Di Đà Phật chứ không có nói Một Hai Ba Bốn Năm Sáu. Bây giờ chúng ta thử coi. Nam... cái âm thinh của chữ Nam nó có cái um ở chỗ này nó vô đây còn nếu ông nói Một nó chỉ ở đây thôi. Chữ Nam với chữ Một hai cái âm thinh khác. Người ta dùng cái điển để người ta dẫn tiến ta mở cái luân xa ở trong cơ thể. Con người có lục tâm. Lục tâm bất thông không có thành nhân vị. Nó khổ ở chỗ đó. Cho nên ông đó cũng người ta, mà tôi nói một chút thì ông đâm đầu đòi lấy dao chém tôi. Bởi vì ông chưa có thông. Con người cũng có cái tánh ma quỷ nhiều lắm là như vậy đó. Còn người ta thông, người ta đâu có đến nỗi lấy dao chém người. Chém người ta đau. Họ chém mình mình biết đau. Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thánh giá, ngài cũng xin ơn trên ban bố cho chúng nó, tha chứ cho chúng nó vì chúng nó chưa hiểu lấy nó. Nếu nó hiểu là lấy dao để trong thịt nó đau, nó đâu có chặt đầu tôi. Nó không hiểu, nó còn ngu muội, nó còn mê trần, thành ra ngài yêu cầu bên trên tha thứ nó.

Trong lúc ngài lâm nạn mà ngài còn yêu cầu. Tại sao ngài yêu cầu? Vì ngoài cái cảnh này ngài có một cảnh giới tốt đẹp rồi, ngài đi trong cái chơn điển. Cho nên Đức Phật dùng cái Nam Mô A Di Đà Phật cũng là mở sáu luồng điển mà thôi. Khi ông nói Mô... tiếng cuối cùng nó trụ ở đây. Đó! Nó mở. Trong cái không mà có.

Thì với cái người sơ khởi tu thôi. Nam nói về lửa. Mô là không khí. Nó phải nhẹ bên trên. A nhâm quý gồm thâu nơi thận. Nói tiếng A... khi ông khép cái miệng tiếng cuối cùng thì nó trụ ngay giữa trái cật. Nó có cái luân xa ở đó. Nó thuộc về thủy. Cái đó là cái niết bàn khi ta nhập bộ đầu, nó chuyển xuống xương sống như cái vũ trụ đưa vô đó nó đánh một cái vòng. Đánh một cái nó giam hãm trong con tim. Thì cái hồn bị giam hãm nơi con tim. Bây giờ ông nói Một Hai Ba, Ba nó đi ra thôi. Còn ông nói A... nó đi xuống. Còn ông nói Ba...ông kéo xuống nó không được, là cái luồng điển của đức Phật chỉ để mở cái cơ thể điển hình. Di... ngay trung tim nơi đây. Di hai cái răng nó kê lại thì hai cái này nó đập nhịp, nó mở. Di... tập trung ba báu linh tinh khí thần. Nó mới mở sáng, nó hé hở con tim, cái hồn mới ra vô dễ dãi được. Đà... ấy sắc vàng bao trùm khắp cả. Đà là cái điển từ ở bên trong xuất phát ra. Tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông xuất phát ánh sáng ra. Phật... ngay cái lỗ rún. Phật hay thân tịnh ở nơi mình. Tứ hải quy gia. (T2,8:52)

Bản thể con người hợp bởi tứ đại: nước, lửa, gió, đất mà cha mẹ sanh mình ra cũng cấu tạo bởi cái tứ hải. Những cái quá khứ vị lai ở trong này sắp đặt. Chúng ta tu ngồi nhắm con mắt thấy cái đường lối quá khứ rồi đặt cái con đường sắp tiến về sau. Đi bằng cách nào? Vượt qua tam giới trong bản thể mới đi tới đại thiên thế giới. Thì cái đường lối nó phải rõ ràng. Phải hành để đi chứ ông cứ ngồi đó niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà không biết tại sao niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì niệm Một Hai Ba Bốn Năm Sáu nó sướng hơn! Ông phải minh lý tại sao người ta áp dụng cái Nam Mô A Di Đà Phật là cái luồng điển. Ông nói chữ Phật... thì nó rền ngay lỗ rún mà ông nói Sáu... thì nó không có. Một Hai Ba Bốn Năm Sáu mà Sáu... nó không có đụng ngay lỗ rún đâu. Ông nói Phật... nó chạy xuống dưới. Cái luân xa đó là Tề Luân Hư Cảnh. Bây giờ cái mục đích của chúng ta tu ở đây là mở sáu cái đó ra chứ không phải mê tín. Còn niệm Nam Mô A Di Đà Phật để cho người ta nghe cho nó hay, cho tôi là người tu. Không! Niệm Nam Mô A Di Đà Phật để cho ông Phật biết tôi là người có tâm với ông cũng không phải. Tu làm sao tôi mở sáu luồng điển cho đúng cái chiều hướng trong lúc tôi nhập xác cũng như trong lúc tôi đi. Tôi mở ra tôi mới đi được. Ông biết là ông giáng sanh xuống thế gian nhưng mà ông biết ngày nào ông đi. Mình khôn ngoan đủ thứ hết, biết buôn bán lấy lời, biết cất cái nhà thiệt kỹ để ở, con muỗi cắn mình đập chết, mình khôn lắm mà tại sao sau này không biết mình đi đâu? Vì lẽ đó chúng ta tu. Ta kẹt ở chỗ nào thì ta phải mở chỗ đó. Kẹt bởi sáu cái luân xa đó, bây giờ phải mở sáu cái luân xa đó thì chúng ta mới đi được. Chứ không có gì hết. Nó mở sáu cái luân xa đó rồi, ông ngồi cho thiên hạ chửi ông không có giận. Ông biết nó hư chỗ nào chứ mình không có hư. Bởi vì nó hết sức áp dụng trong cái Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ thôi. Nó tập trung lối nào mình biết lối đó, mình chỉ mở cái gút cho nó thôi, không có giận.

Cho nên đức Phật không giận ngài mới đi truyền pháp khắp nơi. Biết bao nhiêu ma quỷ bùa phép tới phá ngài trong lúc ngài thuyết pháp mà ngài vẫn bình tâm. Đức Phật đã biết cái pháp giới hạn tới đó rồi hết nên ngài không có lo. Nhưng mà những người xung quanh đang nghe ngài thuyết pháp bị phá đó, lo cho ngài ghê lắm. Nhưng mà ngài không lo vì ngài hiểu nó áp dụng tới đó thì thôi, hết sức là nó sử dụng Kim Mộc Hỏa thôi chứ không có làm cái gì hơn nữa. Thì nó giới hạn trong cái giới ngũ hành đó. Tâm ngài bất động và ngài để yên lặng rồi nó sẽ quy hàng. Cho nên cái phương pháp chúng ta tu ở đây mở được sáu cái luân xa rồi gọi là lục tâm thông bắt đầu làm một nhân vị ở thế gian. Một con người chúng ta học đầy đủ có sự thông minh, học những hiền triết, học sách vở nhiều lắm nhưng mà cái tâm ta vẫn còn nóng nảy ác độc làm sao mà đạt thành một nhân vị ở thế gian. Cho nên cái nhân vị ở thế gian nó khó khăn lắm. Thật sự một nhân vị rất khó khăn.

Nó không còn giai cấp ở thế gian nữa và nó chỉ còn tình thương cho tất cả mới là nhân vị. Rồi chúng ta làm đệ tử nhà Phật mà trên bộ đầu không điển thì làm sao làm đệ tử nhà Phật được! Tôi ghi danh làm đệ tử nhà Phật thì không có hiệu lực. Tôi có phần thanh điển trên bộ đầu, tôi mới minh cảm được cái nguyên lý của trời đất thì cái luồng điển của tôi mới liên lạc được cái âm thinh pháp giải của đức Phật hàng giờ hàng phút. Phật còn sống, chứ nếu mà Phật chết chúng ta tu để làm gì? Phật chết như ta hay chết như cá chết thì không có ai tu làm gì hết. Ta tu theo Phật thì ta muốn đi theo gặp ông Phật, coi ông đang làm cái gì. Người ta nói ông hay quá. Lúc trước, ông cũng như mọi người, cũng mắt mũi tai miệng, cũng ăn cơm như mình tại sao bây giờ ông thành Phật. Bây giờ mình phải tu làm sao để gặp Phật! Sự thật của ông ra sao? Cho nên cái văn minh đã cho chúng ta có một cái lề lối tự do tín ngưỡng, tự do tu hành, tự do sửa chữa thì chúng ta có cái cơ hội này chúng ta phải nắm lấy để sửa chữa và tiến. (T2,13:24)

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Không nên nhớ lấy cái bản thể này, bản thể này là tạm từ đầu tới chân, rồi nó sẽ già, sẽ chết, không có ai giữ lại được hết. Phải nhớ kĩ cái đó. Đừng có vì cái này mà chấp mê rồi càng ngày càng đau khổ. Cũng như cái bệnh hoạn của chị, chập chị sợ nó ớn lạnh, đây rồi chiều nó làm tôi mệt. Đừng có để ý tới nó. Nó làm gì, tụi bây cũng ở đây tạm, tao mượn, tao đi. Còn muốn thì tôi đem cái thanh khí điển của trời đất xuống tôi hỗ trợ cho được an khương. Còn lộn xộn, ráng chịu, tôi không có cần. Tôi biết tôi sẽ chết về Phật và tôi cố gắng tu tôi sửa tôi để trở về cái quê xưa chốn cũ. Tôi bỏ cái chuyện so đo nhỏ mọn, làng xóm nói gì thây kệ, huynh đệ, chồng con nói gì thây kệ, bỏ đi, rốt cuộc nó cũng không chạy đi đâu. Nó có la trời nó cũng trở về với cái ngũ tạng của nó. Chỉ bị có một chút đó thôi, nghe phong phanh họ nói nặng mình một chút cái chịu không được. Có cái tánh nơi đó nó làm cho chị bệnh hoạn, nó làm cho mệt tim, nó làm cho tim yếu, thì ráng tu. Bây giờ trở về đây có cơ hội gặp ông Tư, ông Liêm, cô Năm quen biết rồi chỉ lại cái pháp thực hành. Nếu có cơ hội thì đem những cuốn băng của tôi về nghiên cứu, nghe lại. Có gì muốn hỏi, muốn phê bình, chỉ trích cứ việc viết thơ cho tôi cũng được, tôi sẽ giải đáp rõ ràng.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Đừng có nghe lời họ nói tầm bậy, có cái tánh đó thôi không có cái hồn gì hết. Còn có cái hồn gì theo thì tôi đã nhìn thấy hết rồi. Rồi bây giờ chị đi cúng hoài, đi tới ông thày ông nói cái vong nó theo mà tại sao tới bữa nay mới tới tui? Tới tui là phước đó nghen. Vật con heo cúng hay mang mấy thước vải tới rồi tôi giải cho, thì họ ăn chứ ông Phật cũng không có ăn, không có thánh thần nào ăn nữa. Họ bày ra, bày thét rồi mình về mình cứ am tưởng ba cái vong nó theo. Ba cái vong lận, ăn không được, ngủ không được còn bệnh thêm nữa. Ông đó hù mình thì đâu có lấy lại tiền được. Tại sao? Tại cái tánh mình nghĩ cái chuyện nhỏ, có của thì giữ cho kỹ. Trời sắp đặt kỳ lắm. Tiền bạc không có ai giữ được bền. Nhiều ông ở đây, tỉ phú giàu lắm, một đồng xu cũng khắt khe với người nhân công mà tới hồi chết thì lại lung tung hết. Gần chết thì bệnh hoạn, mười cái tủ sắt cũng hốt bạc ra đưa cho bác sĩ. Bác sĩ nói một cái cũng mất hồn đưa ra. Thầy bùa nói cũng đưa, hỏi đưa cái gì cũng đưa ra hết. Mấy người ở xin lên lương thì lại không cho. Rồi tới khi chết phải mua cái quan tài, vốn chừng mười ngàn họ nói ba trăm ngàn thì cũng phải đút ba trăm ngàn cho nó. Cho nên sự công bằng của trời đất không có giữ được. Chúng ta hiểu ở đây tạm thì không có quan trọng về vật chất. Có cũng được, tu trong cái không mà nó có chứ đừng có lo lắng và tham thố quá rồi nó giam hãm cái tâm hồn.

Nó làm cho con người chậm tiến, rồi đi thầy này, thầy kia, thầy nọ bị người ta ăn hết rốt cuộc không có giúp được cái bệnh hoạn cho mình. Bây giờ chị về đây là tự trị, tự khai thông, tự trị bệnh cho mình mà liên kết cái luồng điển của Lưu Ly Quang Phật sẵn có ở bên trên, giúp đỡ chúng ta bất cứ giờ phút nào nếu chị chịu hành, chị tiến nhưng phải cương quyết. Chúng tôi cũng có những người đi trước ảnh hưởng thì hỏi cái quá trình của họ, có sự thật chứng minh nghiên cứu về thực hành đừng có vội mê tín cái pháp này hay lắm tu rồi ông Tám, ông độ tôi hết bệnh. “Bản thân bất độ hà thân độ”. Tôi hàng ngày tôi còn lo tu làm sao tôi độ người ta được. Nhưng mà tôi phân minh ra cho chị thấy thì chị cũng ở trong cái hoàn cảnh của tôi mà ra và tôi cũng ở trong cái hoàn cảnh của chị mà ra. Chúng ta đồng nghiên cứu, trau giồi sửa đổi thì tâm hồn nó nhẹ nhàng chứ đừng có phân giai cấp mới tu được. Tới đâu phân giai cấp thì không có tu được. Đi tới điển giới thì không có giai cấp nữa. Chúng ta tu cho thanh tịnh một trăm phần trăm phải tiến tới. Đức Phật còn sống, Quán Âm còn sống, thiên đàng có, chúng ta phải đi tới. Không có cái gì quý giá bằng cái đó. Cái bản thể này nếu mà củng cố, cho giỏi đi lắm hai chục năm nữa là cùng, ba chục năm nữa là cùng, rồi cũng phải bỏ đi. Tôi nhờ cái bùa của thầy tôi có thể sống lâu, nhớ xin cái bùa giữ cho răng đừng rụng. Tới giờ cái răng mà rụng chắc sống không lâu, thì không có nên mê tín. Tôi thấy ở dưới mê tín nhiều lắm. Tôi nói thiệt nếu tôi làm thày pháp tôi ăn, chừng ba tháng chắc cũng được bạc tỉ. Bởi vì tôi có thể nói đâu trúng đó và tôi làm cái bùa giả cho họ đeo là tôi có bạc. Nhưng mà chúng tôi không có làm cái điều đó. Chúng tôi là người của xã hội, người của thời đại. Tu thì chúng tôi phải đi làm công, chúng tôi đi quét rác, tôi đi làm lính, tôi làm cái gì cũng có một bữa cơm để ăn và tôi thực thi để tôi sửa chữa. Tôi kiếm ít tôi còn khoẻ hơn, tôi gian lận nhiều tôi khổ nhiều hơn. Mỗi người đóng góp một phần cho cái xã hội, kiến thiết cho nó tiến lần đi tới cái văn minh của trời đất. Chúng tôi không có nghĩ tới cái chuyện phá khuấy người ta, chỉ phá khuấy mình thôi.

Mình sai lạc, mình xấu nhất thế giới, không có ai xấu, mình chỉ lo sửa mình. Mọi người chúng ta đều nhận thức như vậy thì thế gian nó mới thái bình. Trong cái đạo hữu nó mới giúp, tương trợ lẫn nhau, nó mới thực thi được cái tình thương. Cái xã hội lần lần mình ảnh hưởng cho họ tốt chứ đừng có nói tôi tốt hơn thiên hạ.

Chưa chắc! Ông Phật ngày nay còn phải tu mà, chúng ta giỏi hơn ông Phật sao mà nói tốt hơn thiên hạ.

Chúng ta cũng ngu xuẩn, sai lầm mới tìm cái phương thức ngồi để nghiên cứu để tu, dẹp cái động loạn để đi tới cái thanh tịnh. Chị đã có cái cơ hội gặp chúng tôi ở đây thì nên nghiên cứu và phải thực thi chứ đừng có hứa rồi bỏ nó uổng cái cơ hội của chị chứ không có mất cơ hội của tôi.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Mỗi một cái phương pháp nó đều có nhưng mà cái chuyện hành đó thì cái người mà mới vô tu mà mình kêu người ta dẫn điển lên trên não. Cái đó nó bậy lắm. Người chưa có điển không được quyền dẫn điển lên não. Nó hại ghê lắm. Cho nên, tu có hơi chậm ở chỗ đó. Hôm qua, tôi cũng được quen với ông Sự và tôi có bỏ cái bảng công phu của tôi ở đó. Tôi có nói với ông Sự rằng phải dùng pháp luân chứ còn mình nói về cái luân xa không có đường lối nào bởi vì tôi có dự qua những kì nhiều huynh ngồi công phu ở dưới đất. Tôi có nói, ngồi vậy nó nguy hiểm thì bây giờ mình phải dụng cái pháp nào để mình làm cái phần thanh điển trên đầu đi lên. Trong lúc tôi nói đó cũng có nhiều người muốn đi theo trở về nhà tôi nhưng mà nhà tôi nhỏ lắm không thâu nhận được nhiều. Nhưng tôi thấy nó không có kết quả tốt và có thể làm cho con người chậm tiến. Mỗi người ngồi một cách, nó hơi sai lạc lắm nhưng cái chuyện ông làm là cái phúc tâm của ông, muốn phổ biến cho tất cả mọi người tiến. Tôi thấy làm như vậy nó chậm tiến. Nói ra thì hay nhưng mà hành không biết hành bằng cách nào, ngồi rồi nói tôi dẫn lên trên não cho mấy người chưa tu đó. Các bạn làm pháp luân mới thấy cái điển rõ ràng nó chạy lên đầu chứ còn ngồi đó mà kêu tập trung ngó đây rồi dẫn lên trên não thì cái đó nó làm cho cái đầu người ta nặng. Nhiều người mới người ta chưa có khai thông cái ngũ tạng. Bây giờ nó phải tập từ từ, cái sự động loạn chúng ta thâu thập từ từ. Bây giờ tập cũng phải từ từ. Lấy cái gì chứng minh từ từ. Hồi trước khi ta mới bắt đầu làm pháp luân, người ta hít ít lắm, hít không được. Rồi lần lần người ta hít càng ngày càng dài. Cái đó là chứng minh từ từ họ trở về cái đường lối cũ hồi trước. Lấy cái hơi để chứng minh cho họ từ từ mà phát triển chứ không có buộc họ phải dẫn lên Nê Hườn. Cái đó là quá mau. Cái đó là đối với những người mà bộ đầu đã mở rồi, người ta mới làm được. Còn các người mới tu mà tập theo như vậy thì cái tánh của họ càng ngày càng nóng. Cho nên không nên dẫn điển. Cứ làm pháp luân để tự nhiên cứ hít vô nhưng mà cái lịnh ra “đầy rún đầy ngực tung lên bộ đầu” nhưng mà hít được bao nhiều thì hít rồi lần lần nó sẽ đi lên bộ đầu. Vì lý do đó thành ra tôi đã viết rõ trên giấy trắng mực đen là hít vô “đầy rún đầy ngực tung lên bộ đầu” nhưng mà ngồi cái hướng Nam và cái giờ là một giờ khuya. Chớ không phải ban đêm tới sáu, bảy giờ bắt người ta ngồi cái đó nguy hiểm lắm. Người ta không hiểu. Sau này, tu cao rồi thì một giờ khuya người ta không có ngồi nhưng mà người ta phải ngồi từ chín, mười, mười một.

Cao chừng nào nó nhẹ chừng nấy. Nó ở cái giới đó nó ngồi được. Nhưng mà nhiều ông ngồi được lúc năm, sáu giờ nhưng mà lại phổ biến cho mấy người mới tu thì không được, nó trở lại chậm tiến. Cái một giờ là phá cái hôn mê của nó, phá cái dâm loạn của nó và không cho thực thi phá được cái đó thì mấy cái giờ kia nó không được. Nó còn bị động loạn thêm nữa. Thành ra chúng ta ở đây là phá cái hôn mê rồi thì lần lần nó càng ngày càng nhẹ. Lúc đó nhưng người tu nhẹ thì chín, mười giờ người ta cũng đi được rồi. Ta đi lên được rồi, ta không có sợ nguy hiểm. Cái giờ đó là cái giờ ta đi rồi ta trở về giáo hóa lục căn lục trần. Cho nên nó có từ giai đoạn một. Chứ mà phổ biến rộng ra theo cái pháp này thì cái hơi đó là nó đã giới hạn cái trình độ của người ta rồi. Làm pháp luân là hít nhè nhẹ “đầy rún đầy ngực tung lên bộ đầu” , có người hít được dài, có người hít được ngắn lần lần nó khai thông rồi thì nó sẽ dài. Cái đó là đi từng giai đoạn một thì không có bị loạn óc. Bầy cho người ta dẫn điển là nguy hiểm lắm. Tôi có in rõ trên giấy tờ mỗi người một trình độ khác nhau đừng có nghe lời bậy. Người nào mới tu phải y theo cái giấy đó mà làm. Còn mấy cái người kia tu cao, họ làm được nhẹ thì khác. Phần của họ đừng có nghe theo mà sửa thì hư. Còn những người tu cao nữa thì ở bên trên có điển đức Di Đà họ dạy cho mình, khỏi lo nữa, không cần người thế gian dạy. Chúng tôi chỉ mở cho cái đà tiến lên bộ đầu, nơi trung ương đó đi lên luôn. Từ ở đó sẽ học lần lần, tuần tự chứ không có sai lạc nữa.

Cho nên nhiều pháp họ đã cấu kết, tìm ở trong sách nầy, sách kia, sách nọ, một chỗ một mớ một nắm, rồi đem về cấu kết thành cái pháp. Nhưng mà không có cái lề lối thực tiễn cho người ta đi, thành ra nhiều người cũng có tu ở trên núi vậy đó, rồi nửa đêm nó nóng hết, cởi quần, cởi áo chạy ra ngoài đường, cũng như là nó động cái quả tam muội, nó xông lên nó nóng, nó làm cho con người nóng như là đổ nước sôi trong ḿnh vậy đó, là cũng là cái lề lối dẫn điển, cho nên không có nên dẫn điển, nhưng cứ hành tự nhiên rồi nó trở về tự nhiên nó mới là đúng. Cho nên cái pháp nầy là tự nhiên hết, phải quy nguyên về đại tự nhiên, chớ không có dẫn điển. Cho nên tôi bây giờ cắt nghĩa cho bà biết, đừng có sai lầm những cái nói hồi năy bởi ngồi làm luân xa không hà, những cái luân xa đó, khi mà bà làm luân xa rồi đó nó chạy về đâu, nó không có lối. Cho nên đằng nầy chúng ta bắt nó soi hồn, dọn sẵn một con đường cho cái trược khí nó xuất phát lên trên bộ đầu.

Nhưng mà ông làm như vậy không có soi hồn không được, nó mới mở cái soi hồn, cũng như tôi vừa nói, cái soi hồn nó mở ở bên trên. Soi Hồn là nó trụ cái tinh, khí, thần mấy luồng điển là cái bộ chỉ huy trên bộ đầu, nó trụ được cái tinh, khí, thần, rồi nó khai thông ở trung ương, rồi nó mới đem cái tinh khí ở ngay cái thận thuỷ đi lên, đó hai cái đó nó mới trụ, nó mới nâng cao cái nê hườn được. Còn cái nầy kêu bằng nó về trong cái lý như vậy đó, chứ hành như bà hành đó là cũng may cũng làm được, chớ có nhiều người hành không có được đâu. Tôi dám bảo đảm bởi vì nó không có mở cái bộ đầu được, bây giờ bà hành lại cái Soi Hồn nầy, bà thấy nó dễ dăi cho bà, mà cái Pháp Luân của bà cũng nhẹ nhàng nữa, rồi lần lần cái gì bà thấy không có cái gì khó khăn hết. Hồi trước bà chú ư nhiều, nhưng mà làm nhiều rốt cuộc nó được khoẻ một phần là đối với cơ thể của bà, còn có nhiều người khác nó không có được như vậy được, nó làm tới đó nó chán nó không có làm được. Còn cái nầy trong cái thực hành nầy nó đi tới, là mở trên bộ đầu trước, bắt ngũ uẩn tu, bộ đầu sửa, rồi ngũ tạng hai cái nó mới tương ứng được. Cho nên hồi đó tôi đi, tôi có bỏ cái pháp lại, ông thiếu có cái Soi Hồn không hà, và ông thiếu có cái mật niệm, nếu mà ông làm thêm cái mật niệm là ông đi cao lắm rồi, có cái mật niệm Bát Chánh đó.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Có chứ! Nó có kết quả, nhưng hồi nào giờ người ta họ ăn uống nhiều quá, thì cái gan nó có thể đi tới chỗ cứng, nhưng mà bây giờ người ta bằng lòng nhịn đói thì cái gan nó khôi phục trở lại, nó nhẹ.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Dạ, thì bị vì ăn uống nhiều quá đó.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Dạ, hoặc mình nhịn đói thì cái gan nó khôi phục lại không có gì hết, cái gan nó mạnh lại, không phải là ăn nhiều cái gan mạnh, nhưng mà ăn nhiều cái gan nó lại yếu. Nhưng mà nhịn được thì cái gan nó khôi phục, cho nên đằng nầy nó lại khác, nó có một cái kêu bằng lấy cái điển thanh lọc cái điển, nó có cái Pháp Luân và cái Soi Hồn nó mạnh, nó khỏi phải nhịn đói, nhưng mà nó cũng như nhịn đói. Bởi vì nó sửa cái luồng điển nó hàng ngày hàng giờ, ở trong cái gan ngũ tạng của nó đều được sửa hết thảy, trong một thời công phu cũng như uống thang thuốc vậy, à rồi tới đó tự nhiên nó bớt ăn, người ta đương ăn mặn, nhưng mà nó tu thét thời gian, tuỳ theo cái bịnh nó, ở trong bản thể nó, tới đó cái nó nói thôi, tôi bây giờ tôi thấy ăn mặn chán quá, tôi ăn chay, là nó sẽ khôi phục cái gan của nó. Tự nhiên nó bớt ăn à, rồi một thời gian nó đầy đủ rồi, nó mới khôi phục trở lộn lại nó ăn trở lộn lại, thì tự nó đều hòa, tuỳ theo cái thời tiết, tuỳ theo cái chỗ ở nó nữa, ở xứ lạnh khác, xứ nóng khác. Thành ra cái pháp nầy nó có thể chu du bất cứ ở chỗ nào, xứ nóng nó tu theo xứ nóng, mà nó đòi hỏi theo nhu cầu của xứ nóng, để nó hoà cảm nâng đỡ cái cơ thể, à thành ra cái pháp của ông Sự, ông phổ biến ra trong lúc đó thì cũng rất hay, nhưng mà trong lúc đó người ta điên loạn nhiều, ông nói thời cuộc quá nhiều điều thứ nhất người ta tới muốn nghe thời cuộc, cho nên tôi nói có nói với ông rằng: Nói thời cuộc không nên, ông nói quả quyết quá đi, nhưng mà theo tôi thấy thì không có, tôi nhắm mắt thấy thì không có cái gì hết. Chính tôi cũng ở đó, tôi cũng nghe rằng:

Kỳ đó nói kêu bằng Trung Thu ăn chưa hết cái bánh trung thu, bót săng-tran bị liệng bom tiêu hết, kêu người ta bán nhà dọn đi chỗ khác. Tôi nói cái đó không nên nói, mà chính những người cũng tu ở đằng ông đi tới hỏi tôi. Hỏi chứ như vậy ông thế nào? Tôi nói anh có muốn tôi ký cái hợp đồng cho anh rằng bót săng-tran không có bị bom thả, chỗ nan-si (4) đó.

Đó là cái nguy hại cho những người tu. Người tu mình phải hướng về cái thực trạng, để đi về cái hồn cái vía, chớ không phải đi về thời cuộc, cho nên từ rày về sau tôi xin bà con ở đây, muốn tu phải nghiên cứu về cái chơn trạng về điển quang. Ở bên Tây cũng vậy, bên Mỹ cũng vậy, bên Ăng-Lê (5) cũng vậy, cũng ở trong cái mê tín, cũng như cái cậu nào mà tu nói rằng: tám chục, chín chục kí lô rồi tới ông nói tháng 11 nầy nó hoà bình một ngàn năm ở thế giới, bây giờ nó cũng còn đánh đó ai chịu trách nhiệm, cho nên không có nên nói thời cuộc.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Dạ, thành ra những người đó tới hỏi tôi nầy kia, kia nọ, tôi nói không có đâu, đừng có nghe thời cuộc.

Nếu người ta tu chơn chánh, không có ai đi nói thời cuộc, tu là để sửa mình để tiến. Thấy không! Tu mà nói thời cuộc cái đó là sai hết trọi như cái giới Địa Tiên ở thế gian thôi. Nhưng mà nói ra cái cơ Trời, nó không cho phép con người nói ra, nói ra nó có cuộc thay đổi, không được, mỗi người tu để sửa lấy mình thôi, cái đó mới là chơn chánh, còn tu mà nói thời cuộc là sai, nhiều người tiên tri nói thời cuộc. Cũng như cái, chính ông cũng có đọc qua Ba-ri-mát (6) cái ông gì mà tám mươi mấy kí lô, ông ăn cà rem nhiều nhất ở bên Mỹ.

Ông nói tháng nô-vam-bờ (7) nghĩa là một ngàn năm hoà bình, nhưng mà bây giờ tháng nô-vam-bờ nó đánh từ Do Thái, ở đâu nó cũng đánh lung tung, Việt Nam mình đánh càng ngày càng dữ, rồi cái thời cuộc ông nói trúng không? Thấy không! Mà chính ông đó tới mọi người khóc, mấy người Âu Châu ngồi đó khóc mà để đón rước, cả triệu người đi rước ông, ông ăn cà rem đó, mà đều rốt cuộc đâu có được cái gì, không phải mình nói ở đây là chê ông, nhưng mà cái hay của ông không có sử dụng được tại thế gian. Những ông nói thời cuộc là xin lỗi đi kêu ông đi chỗ khác, còn muốn tu là phải sửa mình để tiến tới phần hồn, đi về cái nguyên căn của mình mới là tu, còn nói thời cuộc thôi đừng. Nhiều người ở đây nó mê tín ghê lắm, nhiều người làm bậy rồi sợ, rồi mê tín chớ không có cái gì hết, chà ông đó hay quá nói thời cuộc hay quá! Còn chúng ta sửa lấy ta thì chúng ta đi tới cái chơn chánh, chúng ta đâu có sợ, mà hỏi nghe thời cuộc làm cái gì ?

Thời cuộc nó sẵn có trong cái họa đồ tiểu thiên địa của chúng ta đây là một cái thời cuộc rất lớn, nó đưa biết bao nhiêu sự phong ba băo táp, nó có thể đem tới dồn dập, làm cho ta đảo điên ở thế gian. Bây giờ chúng ta sửa cái thời cuộc của chúng ta đi, đừng có nói cái thời cuộc của đại chúng. Thời cuộc đại chúng bây giờ cái văn minh nó tiến triển rồi, thành phần trí thức nó nhiều lắm rồi, bộ phận nào tổ chức theo bộ phận nấy.

Những người đó, nó sai lầm thì nó đụng chạm lấy nó rồi nó sửa chữa, mình đâu làm sao mình tham gia vô đại cuộc ḿnh nói được, mình lo sửa cái thời cuộc của mình, thì cái tiểu thiên địa còn tham, sân, si đây nè, cái sự đen tối dồn dập trong đầu óc của mình, mình sửa đi. Thấy không? Không nên bày ra nói mai đánh Phú Thọ, mốt đánh Chợ Lớn, cái đó nói tầm bậy mất công lắm, kêu người ta bán nhà bán cửa cái đó sanh hại thêm.

Cái nào cũng là có cái đường lối dẫn dắt cho người ta hết, nhưng mà cái nào đi tới nó dễ dãi cho người tu và cái nào có thể làm tai hại, cái đó là mỗi người có sự sáng suốt để nhận thức, cũng như bà nói đó rất đúng, cho nên không phải là nói phê bình ông Sự, nhưng mà chúng ta lý luận ra để tìm một cái đường lối sáng suốt để dẫn tiến, chứ đừng ở thế gian nầy không phải là ngoài ông Sự, mà ở xă hội chúng ta không phải riêng mình ông Sự, ông đạo chuối, đủ thứ ông đạo hết. Cho nên chúng ta phải cần nghiên cứu, để tìm cái sáng suốt để phân minh cho nó rơ ràng. Chứ không phải nói bây giờ con người đi học ở đằng nầy, người ta không có ông Thầy. Tại sao người ta không có đặt có ông Thầy, có người bạn nghiên cứu thôi. Bởi vì nếu mà ở đây có cái tập tục rằng: Tôi tu theo Thầy, tôi không dám phản Thầy, nếu mà Thầy sai thì tôi sai suốt đời, cho nên đằng nầy chúng tôi không chấp nhận cho ai làm Thầy ai hết, chính mình phần hồn là làm Thầy của bản thể đây, tự nhận thức để tu. Còn đừng có nên nghe lời tôi, nhưng mà nghiên cứu nơi tôi, coi thử cái hành động tôi nó thế nào. Đó! Để cho tự do phát triển, tôi đă nói hoài với tất cả bạn đạo ở đây, chớ không phải tôi không có dám làm Thầy ai hết, chính tôi làm “ bản thân bất độ hà thân độ ”. Tôi đă nói cái câu nầy là tôi lo sửa tôi thôi. Cho nên đừng có nghĩ trong thâm tâm là tôi tu theo ông Thầy đó tôi không được phản, chắc gì ông Thầy đó ông nói trúng. Cho nên cái văn minh không cho phép chúng ta, tất cả mọi người ở đây có quyền chống trả tôi, và nghiên cứu phê bình tôi. Bất cứ một cái đạo pháp nào, chấp nhận sự phê bình của người đó, thì cái đạo pháp đó nó sẽ tiến, còn đạo pháp nào mà củng cố như vậy đó thì đạo pháp không có tiến được, phải không. Bởi vì cái thời đại văn minh, nó không cho phép dùng cái chuyện cũ kỹ nữa, hay cái sai lệch của những người khác, nhưng mà không có thực trạng đi tới cái hoà đồng tự nhiên, thì tự nhiên nó phải bị chống trả. Cho nên đằng nầy không có nên vì cái đạo nầy mà đi bảo vệ cái đạo nầy. Không! Tôi nghiên cứu cái nầy: cái khía cạnh nầy hay tôi học, khía cạnh kia dở tôi bỏ. Được! Chúng tôi đồng ý như vậy.

Còn cái đằng kia của ông Sự, thì cái hồi đó ông phổ biến đó, thì không phải là ông có cái tánh xấu, như tôi đă nói ông muốn giúp cho tất cả mọi người, nhưng mà cái phương pháp của ông đối với những người cao thì làm được, mà cái người mà thấp thỏi rất khó khăn, kêu bằng dẫn điển không phải dễ. Những người tu ở trên núi cao mới nghiên cứu cái pháp đó được, thành ra tôi phân tách cho rõ cho mọi người hiểu đừng có nghe lầm giữa bạn đạo và bạn đạo, không phải là tôi muốn nói là chỉ trích ông Sự, không có chỉ trích ông Sự, nhưng mà tôi phân tách cho sau nầy, có nhiều bạn đạo họ được tới chỗ đó, họ nói rồi người kia bắt chước làm điệu đó cái nó hư, sợ là sợ vậy. Bởi vì mỗi tuần tu nó khác, có người ta tu có điển trên bộ đầu rồi, họ có thể dẫn điển họ tiến lên một cái nơi khác, trong đó theo cái sự chỉ dẫn cái điển của Đức A Di Đà. Còn nói ra cái người mới tập tu, mà đi học theo cái người mà tu lâu rồi, học cái đường lối đó về làm nó lạnh nữa, phân tách cho rơ để cho mọi bạn nhận thức cái nầy, cái kia, cái nọ, để đừng cái khối nào, tôi nói thiệt, chiếc trực thăng nào bị rớt chỗ nào, tôi coi trước rồi tôi xuống nói với ông Tư, rồi hai đứa tôi qua bữa sau coi báo thấy rơ ràng, mà trong cái âm thầm nghiên cứu đó thôi, chứ không có dám phổ biến ra, mình thấy mình cũng hay lắm rồi. Nhưng mà rốt cuộc cái đó là không có phải cái chuyện hay, cái chuyện đó là cái chuyện làm ngưng trệ cho người tu hành, nếu theo thời cuộc th́ phải tham gia vô cái nhóm Địa Tiên, nhóm Địa Tiên phải luân hồi lại thế gian.

Mà mình quyết đi theo ĐứcThích Ca thì ĐứcThích Ca không có nói chuyện đó, thành ra phải nghiên cứu qua bên nầy thì tôi bỏ dứt khoát cái đó, lên hỏi có một câu đó mà làm cho tôi thức giác, không dám nói tới thời cuộc. Có mấy sợi lông nheo trước mắt, mà đếm không được, nói chuyện gì, lo tu không lo, lo chuyện bao đồng. Cái câu nói của ông nó sâu xa vậy đó, mình về nghiên cứu chừng nào thấm thía chừng nấy. Ở đằng trước mắt con mấy sợi lông nheo con đếm được chưa? Hỏi bấy nhiêu đó ông đi mất hà, rồi bây giờ làm sao đây (Thầy cười) về suy nghĩ, té ra ông đó ông nói rất hay, rất thâm thúy, mới nghiên cứu ra mấy người tu mà ở thế gian đi lạng quạng đi qua bên Địa Tiên đó mệt lắm, rồi bị lôi cuốn xuống đây làm Giáo Chủ, rốt cuộc không ra cái gì hết, để họ đề cao thôi. Cho nên đằng nầy chúng tôi không có, chúng ta đồng đẳng chúng ta là bạn, ở trong tình thương xây dựng, chúng ta đều có một cái điểm sáng như nhau, phải đồng phát triển để tiến. Có cái gì nghiên cứu, không có nên ghi ở trong thâm tâm chấp mê đi tới thanh thản, chúng ta là người đại diện Trời Đất mà. Thanh khí điển hoá sanh vạn vật, cấu tạo thành bản thể, thì chúng ta là đang điều khiển cái tiểu thiên địa nầy là ta đang đại diện Trời Đất. Mà chúng ta không có lòng tha thứ như Trời Đất, không có tình thương như Trời Đất, th́ chúng ta rất hổ thẹn với Trời Đất, đừng có nói hổ thẹn với loài người. Cho nên càng ngày càng tu, bà thấy cái điển ở bộ đầu bà nó chạy, nó nhẹ, rồi bà thấy càng ngày càng thơ thới, lần lần đây rồi bà thấy người ta nói ông Trời xa quá, té ra trước mắt bà chứ đâu có xa. Cảnh Tiên, cảnh Phật cũng ở trước mắt không có xa. Bởi vì bà đă hiểu rằng mở con mắt thứ ba, bà nói với người thường mới tu mở mắt thứ ba ai cũng muốn mở hết, nhưng phải làm bằng cách nào, họ không biết cho nên họ phải đi từ từ, những người mở được thì nó thông cảm về cái mở được. Cũng như tôi nói chuyện nãy giờ nghe có người nghe, cũng như ông Liêm ông nghe thì khác, cái luồng điển của ông rút, nó nhẹ như ông Trung, mấy người ông Linh ngồi đó, nó chỉ dùng cái điển để nó nghe thôi, chớ nó không có dùng cái nầy nó nghe mà nó lý luận, mà nghe đó rồi về nó khỏe, tối nay nó công phu dễ dãi, và cái tâm nó thấy nó nhẹ nhàng.

Nói thiệt sớm mơi mấy ông cũng chưa có cái gì ăn, mà ngồi đây bộ khùng điên sao, nghe cái gì đây, mà chúng tôi ăn cơm về cái tinh thần, ăn một bữa tiệc điển quang thanh tịnh, nói để giải cái ô trược, tiến tới sự sáng lạng và thanh tịnh của nội tâm, thì cũng như ta thiền vậy. Cái đàm đạo ở đây nó khác, lấy về cái thanh điển đàm đạo, chớ không có lấy cái trược điển của nội tâm xuất phát, thành ra nó có phần nhẹ nhàng cho tất cả.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Dạ, cái hơi còn yếu, cho nên bà cụ nên nằm hít, tập nằm hít trước đi, cái hơi nó còn yếu, bởi vì lần lần đây rồi nó sẽ nhẹ. Bây giờ thở ra nó hơi mệt, thở cái mạnh lắm, hồi trước kia tôi cũng vậy đó, tôi làm cho đến nỗi tôi khóc kia mà, bởi vì hồi tôi tập thể thao, tập nầy kia, kia nọ hít vô ngực thôi hà. Mà bây giờ ông mới chỉ hít vô trong cái lỗ rún, tôi hít làm sao vô lỗ rún được, tức quá không có đêm nào tôi làm được hết, tôi xuống nói ông, năn nỉ ông, ông chỉ cho tôi, rồi ông nói có một câu. Ông nói: Bạn tu cho bạn hay tu cho tôi mà cứ hỏi hoài vậy. Bởi vì người ta biên giấy trắng mực đen thì coi đó làm, thì về mình tập lần lần, lần lần, nó mở ra. Cho nên nó tuỳ theo cái khả năng của con người, khả năng của bà nó tới đó rồi nó sẽ mở, bởi vì trước kia mình có qua những cuộc sanh đẻ và dày xéo của đời nó hao hơi, hao tinh, khí, thần nhiều lắm, rồi bây giờ mình phải khôi phục lần lần, lần lần, nay chút, mai chút, nó mới đúng độ. Cho nên đừng có nôn như những người khác, mấy người khác nói: Tôi hít một giờ cũng được nữa, đừng có nghe họ. Bây giờ tôi hít một phút là một phút. Mai tôi sẽ hít hai phút. Mốt tôi sẽ hít ba phút, cái nầy là công bằng bác ái, phải tuỳ theo cái trình độ của người tiến. Cho nên người ta mới dám phổ biến một lượt cho nam, phụ, lăo, ấu thấy không, chớ còn cái pháp không phải là đi phổ biến tầm bậy một lượt cho người ta được. Nhưng mà nó bị cái hơi đó nó kềm chế, rồi sau nầy cái người đó nó tu theo trình độ, nó có Mô Ni Châu sáng, tối là nó kiểm soát lấy nó. Cũng như tối nay bà ngồi thấy Mô Ni Châu sáng vậy đó, mà mai bà làm cái gì động loạn, sân si thì tối nó mất, là bà tự kiểm soát lấy bà. Cho nên cái pháp nầy mình tự tu tự tiến, không có ai làm Thầy mình được hết. Cho nên trong cái nghiên cứu ở đây nó kiểm soát ghê lắm, không có phải người kiểm soát mà điển kiểm soát, điển của mình, hai cái nhịp độ của con tim và bộ đầu nó mở đồng đều thì nó bật ánh sáng ra, mà bây giờ mình sân si thì tự nhiên mình phải củng cố, kéo trở lộn xuống, khi mà kéo lộn xuống thì hai cái nhịp nó đóng lại, thì ngồi công phu không thấy ánh sáng, là mình thấy mình là bê bối rồi, không có thực tâm tu hành. Nhưng mà cái người tu ban đầu, thì tu luyện sức khỏe, tuỳ theo cái hơi của người mà tu, chớ đừng có nôn như những người mà đã tu lâu. Như tôi hít một hơi bà thấy ngó mệt lắm, tôi hít dài lắm, nhưng mà bà hít đâu có được, nhưng mà 6 tháng sau bà nói tôi bây giờ được rồi đó, tôi nhẹ hơn hồi trước đó, lần lần cái âm thanh của bà nó cũng thay đổi.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Để đúng như vậy thôi, không có gì hết, nó thay đổi, cái đó là hồi đó bà thấy đó là nó xuất phát cái nóng tánh, cái luồng điển của cái hỏa can. Rồi bây giờ chừng nào mà nó không thấy rồi nó sẽ thấy lại cái chỗ nầy, con người nó không còn nóng tánh nữa, hồi đó nóng tánh. Khi mà bà mở được cái bộ đầu rồi không có nóng tánh được, không làm gì nóng tánh được, cái bộ đầu bà mở khai thông rồi không có nóng tánh được. Nhiều người tu rồi nằm chiêm bao thấy nầy kia, kia nọ, là thấy cái tiền kiếp của mình, chớ không phải thấy Đức Phật bây giờ đâu.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Ông đừng có xả, nó xuất ra rồi ông phải ngó nó mất đi, ông cứ chú ý ngó cái đó cho nó hồi trở lại, tại sao ông ngủ không được, ông phải một hồi lâu, bởi vì nó chưa có hồi lại ông xả nó đâu có được.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Ở chỗ hư cảnh nầy nè, nó xuống, ông nằm xuống là nó chạy về cái hư cảnh nầy nè, mà nó xuống đây nó qua khỏi cái nầy thì nó cũng bay vậy, dữ lắm.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Nó ở chỗ nầy thôi, cái hồn mình nó hé hở, nó bước xuống ở đây trước rồi nó qua đây, rồi thấy nó bay trên núi sông nầy kia, kia nọ.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Đi xuống chớ không phải đi ra đâu. Nó đi xuống dưới đây, đứng ở đây thấy nó chạy. Cái đó nó chạy dưới nầy, cái chuyện hồi trước mà, ở xứ nầy cái chuyện hồi trước, bây giờ ông muốn trở lại cảnh đó không được nữa, không có nữa, nó qua cái chuyện hồi trước.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: À vậy đó nhưng mà cái chuyện hồi trước thôi, qua quá khứ hồi trước. Cảm giác chứ, bởi vì nó ở trong nầy chớ không phải ở ngoài đâu. Cái khớp xương họ hai cái nhịp nó vừa mở, ông nằm xuống ông công phu, hồi đó ông thấy Mô Ni Châu xuất ra nó mất thì ông phải đợi nó hồi lại ông mới ngủ lại, còn cái nầy ông không, ông nằm xuống thì nó phải hồi chứ. Nó hồi nó làm cái đầu ông ê cái thì nó vô mà. Nó ra được là nó phải vô, nó vô rồi cái nó bật, cái nó mở. Ông thấy đi ở dưới nầy, cái cảnh hồi trước. Rồi bây giờ ông thấy vậy ông nói rành như vậy đó, bây giờ ông muốn đi trở lại đó ông coi cái chùa, coi người ta tụng kinh gì ông đi không được. Hết rồi! Nó chạy trở lộn lại thôi. Còn chừng nào mà ông thấy như vậy đó, ông đi trở lộn lại được ông là xuất hồn.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: …Sau nầy ông hội hết rồi ông xuất hồn ra ông thấy, nghĩa là té ra cái chuyện hồi trước của ông không phải chuyện bây giờ đâu. Chuyện hồi trước cái kiếp trước quá khứ mà, quá khứ bây giờ đi trở lộn vô, đi trở lộn vô hết, chun vô hết, rồi mới từ lỗ rún nó qua trái cật đi lên đi ra.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Nó tỉnh lại ở trong nầy không hà. Ông qua cái chỗ nầy là tứ hải bão bùng nguy hiểm, qua cái cảnh hồi trước nó chụp trở lộn lại, ông thấy rõ ràng núi sông. Sau nầy nó thanh tịnh hết rồi mới bước mỗi ngày đi ra, tập đi ra đây rồi thấy trăng sao, rồi bước xuống đây thấy tứ hải, rồi thấy cảnh núi non, rồi từ ở đó qua đó, rồi mới thấy cây cầu, rồi mới thấy rồng, nầy kia, kia nọ đi lên. Bây giờ cái vía mới có chuyển ở ngoài rồi ở trong nầy nó mở thấy vậy thôi.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Chúng nó là mình đây chớ đâu, cứ việc ngó ngay nó đi, ông động cái nó hồi lại, cho nên khi ông nằm xuống cái đầu nó ê là ở chỗ đó, còn ông đi rồi ông đợi cho nó trở về rồi, ông nằm xuống không có nữa, không có.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Không phải cái điển nó xuất về cái phần của cái vía đó, nó xuất cái hơi cuối cùng nó phải nóng chút xíu, nhưng mà sau nầy nó hết, rồi nó xuất kéo cái phần trược điển nó ra mà không có cái gì đâu, không có phải nóng không nóng gì đâu, nếu mà nóng mà cô làm sai con mắt nó đỏ, đằng nầy con mắt nó không có bị đỏ, cái trược điển nó xuất ra, không sao.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Cũng vậy cái trược điển cái phần trược điển nó xuất ra hết rồi thôi, đâu có nữa, đâu có phải mỗi đêm mỗi nóng như vậy không có đâu.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Không có đâu, cái đó cái ảnh hưởng cho nhẹ thôi không có gì. Nhưng mà cái hay là ăn thua cái ông chụp hình nầy nè (Thầy cười lớn).

Bây giờ tôi nói là có nhiều người không có tu theo cái pháp nầy, mà họ năn nỉ họ xin cái hình tôi, để xin ông cái hình cho họ, họ tới hoài. Khách hàng tôi nó nói bây giờ có cái hình nầy thôi hà, tôi không có cái hình nầy là tôi không có làm ăn với ông nữa, cho tôi cái hình đi, cứ xin cái hình hoài. Rồi hôm trước ông đem cái cuốn mà dịch chữ pháp, nó lật ra nó coi, bây giờ nó xin cái hình đó, mà năn nỉ hôm này, tôi tính nói ông tôi quên rồi. Nó xin có cái hình đó thôi, thây kệ tôi, tôi làm cái gì thây kệ tôi, mà tôi xin cái hình đó thôi. Không biết thây kệ tôi, tôi đem về nhà tôi làm cái gì thây kệ tôi, nhưng mà tôi xin cái hình đó, nó cứ đ̣i vậy. Mà hàng ngày đánh telephone xin cái hình đó, nó kỳ lạ lắm tôi thấy cái hình đó, mà cả ngày bây giờ tôi về tôi ngủ tôi cũng nhớ cái hình đó. Bây giờ phải cho tôi cái hình đó tôi mới ngủ được. Nó cứ xin cái hình đó, rồi chắc ông đó sau nầy ông cũng tu được. (cười rất vui)

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Cái đó, cái Pháp Luân anh làm chưa đúng à, anh tới đây nghiên cứu cái Pháp Luân với tôi đi, Pháp Luân làm không có đúng. Anh Trung làm ơn lưu ý cái Pháp Luân, ông làm cái Pháp Luân không có đúng. Bây giờ phải chỉ ông làm Pháp Luân nằm đi. Ông bị yếu tim nữa, cái tim yếu mà.

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Đánh cái đó nói ra thì dị đoan, nhưng mà cái gia đình, nhiều khi những người quan quyền ác ôn đó, thì nó mới bị cái tai nạn đó. Nhưng mà cái tai nạn đó, những người gia đình mà họ không có thức giác để tu sửa, thì họ phải lãnh cái đại nạn cho cái phần hồn đó. Cho nên triền miên hoài, có nhiều người đương giàu có mà rốt cuộc phải đi lượm tàn thuốc hút cái lý do đó. Khổ lắm! Nói tới luận về vấn đề đó thì phải biết về cái gia đình ác ôn của người ta hồi trước đó. Ông bà để lại cái nghiệp quả, rồi con cháu nó cất đầu không nổi, nhiều khi vì cái mả mà chôn cái phương hướng nó sát trong gia đình cũng có nữa đó, cái đó nó quan trọng lắm. Cho nên nhiều người không hiểu, người Việt Nam thường thường chết phải xem mặt cuối cùng, xem một lần đó, nhưng mà có người người ta kỵ. Nó sát. Cái tuổi nầy nó sát với tuổi kia dòm vô cái nó điên à, mà không biết, nó nguy hại lắm, có người có cái tuổi nó không có khắc, đâu có được đưa lên trên huyệt, còn người tuổi khắc thì đưa lên huyệt không được. Mà tu bên Vô Vi nầy mà được cái điển trên bộ đầu thì không có chấp cái đó, còn điển chưa lên cái bộ đầu thì nó cũng phải theo cái chiều hướng sanh khắc của tử vi, còn tu mà được dội cái điển lên trên bộ đầu thì không sao hết, ai chết mình ngó cũng không sao, hết sức là nó nặng đầu tối nay mình về mình công phu khôi phục lại. Còn người thường thì nó phải bị cái ảnh hưởng sanh khắc đó, bởi vì cái luồng điển của cái mả đó, nó thuộc ác ôn thì thuộc về cái trược điển nhiều, nó tụ hợp cái trược điển, cái lúc mà nó chết đó nó bị nhiều cái kêu bằng quỷ quái nó xâm nhập nơi cái mả đó cũng có nữa, thì cái điển đó nó nặng nó thích hợp với cái điển của Thiên Lôi, còn cái điển nhẹ Thiên Lôi không có đánh được. Ở đó không phải Thiên Lôi đánh nó thích hợp thí nó rút xuống hà, nó rút xuống hà. Bởi vì người ác ôn là nó ma quỷ không hà nó bao vây ở đó, ma quỷ là luồng trược điển, hai cái nó thích hợp nó rút xuống cái ở dưới kia nó tan.

Bạn đạo: Nói vậy hay là cái luồng điển?

Thầy: Cái đó là luồng điển thôi, còn ở thế gian họ bày chuyện nầy, chuyện kia, chuyện nọ, nhiều người nói Thiên Lôi đánh đi đào mả lấy cái búa Thiên Lôi. Có nhiều người cũng đào cả mấy năm mà không có cái búa cũng có nữa, không có cái búa thì lấy đá đẽo thành cái búa nói nầy cái búa Thiên Lôi mài uống hết điên. Bây giờ có nhiều người cũng còn có cái búa Thiên Lôi đó, rồi mài mài cho họ uống họ cũng vẫn điên, nếu mà uống hết điên thì chánh phủ cũng đỡ mở cái nhà thương Chợ Quán làm gì, một cái búa đó trị đủ rồi, thấy không?

Bạn đạo: (nghe không rõ).

Thầy: Dạ, búa Thiên Lôi (Thầy cười) mà đâu có búa Thiên Lôi, vậy họ nói trừ ma ếm quỷ đó. Rốt cuộc người nào điên đi mài lấy nước uống coi thử có hết không? Không hết đâu!

Cho nên cái gì cũng phân tích cho nó rõ ràng đừng có mê tín, cho nên chúng ta tu ở đây là bước vào điển giới, không có cái chuyện thế gian nữa, và nó sửa cái mạng môn, sửa cái tử vi của bà đó, phải sửa, tu cho đúng mức ở đây là nó phải sửa. Theo tử vi nó nói năm đó phải nạn gì mà tới đó nó vượt qua, sơ sơ thôi, sửa, chính bản thân tôi ở trong cái kinh nghiệm đó mà ra, chắc chắn là nó sửa.

Bạn đạo: Tới cái ngày ... có luồng điển để mà sửa ...

Thầy: Phải rồi, bây giờ nghĩa là mình nói là luồng điển, còn tử vi người ta phân. Người ta phân nó thuộc về cái kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, ta phân tới cái năm đó nó là cái mạng môn, nó thuộc về hoả gì và nó đụng phải cái năm đó, là nó khắc thuộc về luồng điển nào, coi tử vi có phân minh chứ, nó cũng là điển. Nó phân minh ở trong kim, mộc, thủy, hoả, thổ mà, rồi tới đó nó đụng là phải chịu, cũng là điển không hà. Còn nếu mà không biết điển, xem tử vi không có rõ đâu.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Hả, ráng làm đi bây giờ nó sắp sửa nó rửa cái bộ óc đó, sau nầy chị bị sổ mũi mà uống thuốc không hết đâu, khi nó hết rồi thì lúc đó nước miếng sẽ ngọt, rồi cái muốn làm luôn, không sao hết, làm luôn hay là đứng làm cái nầy nó hết nhảy mũi, làm cho cái màng phổi nó ấm á.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Không sao, nhưng mà sau nầy nó bị sổ mũi à, nó sổ mũi là nó rửa cái bộ óc, uống thuốc không hết nhưng mà tự nhiên nó sẽ hết.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Đã công phu chưa? Chưa? Đi tới tôi coi cái đầu coi, cái nầy cái nầy làm soi hồn cho nhiều, bà làm soi hồn được mấy phút? Làm soi hồn cho lâu thì nó mới hết à, bị cái khớp xương bà mở nó phải vậy không sao đâu, phải tiếp tục soi hồn nó hết hà, soi hồn cho lâu chút đi (hé hông). Trong mình nó khi ăn được khi ăn không được, bao tử yếu.

Bạn đạo: Hít vô được mà thở ra nó đẩy vô.

Thầy: Bây giờ phải tập nằm hít đi, tập nằm hít cho nó ăn được cái đã, tập nằm hít. Ai chỉ cho bà công phu?

Bạn đạo: Dạ thưa bà Bảy.

Thầy: À, bà Bảy, nói cô Bảy chỉ nằm làm pháp luân cho nó ăn được, cho nó giúp lại cái bao tử cho nó mạnh lại đã, mà trong đó nó thích ăn cái gì mua ăn, chứ đừng có nói ăn vô có tội với ông Phật đồ nầy kia kia nọ, rồi ăn tầm bậy, tầm bạ nó yếu trong mình đi.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Soi Hồn thét rồi nó giải đi. Soi Hồn cho thần kinh nó mạnh là nó giải. Như trong mình máu huyết nó không có điều hoà nó yếu nữa với ăn không được.

Lớn tuổi rồi nó không có lỗ tai điếc thì mắt cũng lờ, nó phải sống lâu chút. Nhưng mà gặp cái Pháp nầy mà nếu mà bà cụ chịu, có ai ở bên nhắc giùm cho bà soi hồn, như pháp luân đó rồi nó sẽ khôi phục. Soi hồn cho nó thần kinh nó đầy đủ mạnh lại rồi, pháp luân cho nó làm cho cái thận thủy nó điều hoà thì con mắt nó bớt lờ. Nhưng mà ai dẫn cụ tới đó?

Bạn đạo: ... cậu Bá ...

Thầy: Bá, thì bây giờ nghĩa là làm ơn về dìu dắt giùm cho bà, phải chỉ nhiều lần cho bà chớ không bà quên, chỉ cái Soi Hồn cho bà đi, cho nó tập trung ở đây rồi làm pháp luân cho cái thận thuỷ nó mạnh lên con mắt nó bớt lờ.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Vậy nó tốt chớ, tiên nữ thì đâu có phàm tâm nữa.

Bạn đạo: Người ta nói mình, mình cũng không biết nữa.

Thầy: bởi vì hồi trước mình ham thích những cái nầy kia kia nọ bây giờ hết rồi, nó nhẹ rồi nó phải hết.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Phải rồi, bây giờ phải soi hồn, làm pháp luân nó mới trị hết cái bịnh, cho nó ổn định cái thần kinh, rồi lúc đó chị mới vui vẻ, chỉ có vui vẻ là nó hết bịnh hà, chớ còn ngồi một mình là bà nghĩ chuyện buồn không, ngồi một mình là buồn. Cho nên nếu có cơ hội mà có cái máy nầy đó, cho bà nghe cả ngày bà vui, tôi nói chuyện đây rồi bà vui, chớ còn bà ngồi một mình bà buồn à, nghĩ chuyện buồn không hà, cứ vậy hoài làm sao được. Rảnh đi, đứng, ngồi, nằm nhớ Nam Mô A Di Đà Phật ở trên nầy thay thế cái chuyện buồn.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Không có đâu, công phu thì nó có chút đỉnh cản trở, nhưng mà ông công phu cái nầy thì chư Tổ người ta hoan hỉ, ông không có đi làm tầm bậy. Ông không có sái quấy thì ông không có bị đâu.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Thì ông nói: Ờ, được rồi chừng nào ông tu, ông mới xuất phát đi ra ông đảnh lễ Tổ chớ không có sao hết. Họ nói bây giờ nó không còn chuyển nữa.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Rồi bây giờ ông tu ngay Phật là ông mừng lắm, chớ không có gì đâu, ông cương quyết ông trở về mà ông đâu có….

Bạn đạo(Nghe không rõ.)

Thầy: Cái chuyện đó là chuyện đời, hồi trước cái phong tục hồi xưa người ta làm để cho con cái, nó nghe qua những cái lời sám hối kinh kệ để nó ăn ở hiền với người ta, chớ còn rốt cuộc cái phần hồn nó không có ăn chịu gì hết. Ờ, còn chớ nếu bây giờ nói bây giờ ông Mỹ ông không có tụng kinh, ông nầy kia kia nọ rồi ông đi đâu? Ông Pháp cũng vậy không có thầy chùa bên đó rồi làm sao ông sống, ai mở cửa mả cho ông, thấy không? Rồi đương nhiên ông tự giải quyết lấy ông thôi. Còn cái chuyện mình là tập tục của mình là tại sao? Hồi trước Vua Chúa nó độc tài lắm, là phải đem cái câu kinh sám hối của mấy ông Sư bày ra, để đặt cho hậu thế nó noi gương ở hiền chớ không có làm gì hết. Một lần sám hối, một lần giải kinh người ta nghe câu kinh thâm thúy, rồi người ta thấy tội lỗi ăn năn, và người ta thấy con người phải chết, họ bớt hung hăng đi. Cái đó là kêu bằng dạy đời chớ không có giúp gì cho người chết nhưng cái đó là cái chuyện tốt. Bởi vì hỏi tại sao mà họ nói gì Thiên cơ bất khả lậu đó, bởi vì họ chưa biết Thiên cơ là gì mà làm sao họ dám nói chuyện với cụ, thì họ nói một câu Thiên cơ bất khả lậu để cho bớt hỏi đi, chớ hỏi tới, họ nói không được.

Mà sau nầy bởi vì tất cả cái gì đều công khai, hồi trước hồi xưa ở thế gian nầy, cái bà biết làm bánh mà cho thiệt ngon đó, mà người ta tới người ta hỏi chớ bà làm sao? Nói không, để tôi làm tôi bán chớ tôi không dạy, phải không. Thầy thuốc trị bịnh cho thiệt giỏi cũng vậy nữa, thầy trật đả nầy kia, kia nọ, xương gãy xương người ta có thể làm liền được, nhưng mà nói tôi cũng không dạy không có phổ biến.

Vì đó cho nên nó không có giúp ích cho cái hậu đại và nó bị lạc hậu một thời gian ngắn là ông đó ông phải chết rồi, hay là bà đó bà phải chết rồi. Thành ra cái xã hội văn minh nầy nó đem ra công khai nó không cho giấu giếm nữa, tại sao bên Tây Phương người ta tiến bộ hơn mình? Hồi trước mình đốt pháo thăng thiên lên trên Trời chơi, mà bây giờ người ta làm hoả tiễn người ta vô cung trăng, là người ta mượn cái lý do đó người ta nghiên cứu. Còn mình đốt pháo thăng thiên nói cái nghề của tôi, tôi không dạy, thì mấy ông kia cũng vậy.

Nếu mà bà hỏi tới Tiên Phật nầy kia, kia nọ, thì bà hay ông nói thôi người nầy trình độ không có tới đâu nói làm chi, nói mất đức. Bởi vì họ chưa thấy cái sáng suốt của cụ, cái sáng suốt cái phần hồn của cụ từ ở bên trên xuống, chớ đâu có phải ở thế gian tạo được phần hồn đâu họ chưa hiểu. Nếu họ hiểu cụ là một người Tiên Nữ ở thế gian, luân hồi xuống thế gian, từ ở trên Trời luân hồi xuống thế gian thì họ công khai nghiên cứu với cụ. Họ không hiểu thành ra họ nói thôi, họ coi cụ cũng như là một người đệ tử hèn thấp vậy thôi, họ nói thiên cơ bất khả lậu, con lo cúng đi Thầy độ cho vậy thôi, phải không.Thành ra đằng nầy chúng tôi là có sự thật đem ra sự thật, chúng tôi ở trong cái bộ óc thời đại, là cái gì đạt được là phải nói ra, bởi vì một thời gian ngắn là tôi đi, người khác sẽ giỏi hơn tôi, và tiếp tục nói những cái gì họ đạt được, để cho hậu đại người ta tiến bộ mau hơn.

Bây giờ người ta làm hoả tiễn đi lên cung trăng, sau nầy người ta chế cái khác, cũng đi lên cung trăng được, nó tiến bộ mỗi ngày mỗi khác, hồi xưa làm cái xe đạp bây giờ người ta làm xe hơi, người ta chế ra máy bay, thì nhờ cái người tiền bối để lại cho người sau nghiên cứu tiếp tục nó mới tiến bộ được. Thì đằng nầy cái tu pháp cũng vậy, phải đem ra công khai chớ không có giấu giếm, nếu giấu giếm là hư.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Cho nên coi Kinh Kim Cang mà không có hiểu Kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang là nó khai thông bởi cái điển giới của thượng từng trung thiên, mà bây giờ bác chưa có cái điển giới thượng từng trung thiên, bác coi Kinh Kim Cang không biết nói cái gì, bây giờ có nhai nuốt bỏ vô bụng nó cũng không biết nói cái gì, nó phải minh cái lý từ bên trên. Cho nên muốn biết những cái đó bác đọc một câu tôi cắt nghĩa một câu, nó dễ lắm nhưng mà hành cái nầy, bây giờ bác nói coi hồi nào giờ coi Kinh Kim Cang không hiểu, rồi bây giờ tu đi tu thời gian dòm Kinh Kim Cang té ra họ nói cái đường lối chỉ rõ cái đường lối cho mình tu tiến mà mình không hiểu.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Ứng hả, bởi vì “ứng vô thường trụ” là trung tim bộ đầu nầy nó phải phát quang ra hoà đồng với cái luồng điển của vũ trụ, nó mới đạt được cái thanh điển ở bên trên của nhà Phật. Còn cái đó bác chưa có mở, bác ứng vô kỳ trụ, bác ứng chỗ nào đâu, cái nê huờn không có mở làm sao ứng. Điển ở trên kia người ta liên kết xuống dưới nầy, người ta bố hoá xuống dưới nầy mình không có liên lạc được, mà điển của mình cũng không xuất phát lên trên đó làm sao ứng được. Ứng vô kỳ trụ là luôn luôn không có cái chỗ nào là nhất định kêu là vô biên, luôn luôn nó phóng phát, phóng phát, phóng phát, phóng phát, luôn luôn.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Ờ nó đi tới cái không không thường trụ rồi, là tâm nó mới không động. Cho nên đọc ở trong đó hay, nhưng mà bây giờ bác hành cái pháp nầy, rồi bác coi lại nhớ cái câu đó, ngay cái điển nó chuyển lên trên nầy rồi bác hiểu, té ra mình thiếu hành thôi. Kinh là mình học hết rồi mà mình thực hành thiếu, vậy bây giờ bác soi hồn, pháp luân đây rồi lần lần bác hiểu cái kinh đó rõ ràng. Chỉ có cái bổ túc cái nầy hiểu cái kia, tôi hồi nào giờ tôi chưa biết coi kinh Kim Cang, tôi chưa có coi qua, chưa có đọc qua một trang nào hết, bất cứ cái kinh gì ở trên thế giới nầy tôi cũng chưa có đọc, mà cái kinh nào muốn nói Thiên Chúa Giáo, Tin Lành tôi bổ túc được hết không có cái gì hết.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Bây giờ có thuốc của Trời Đất để sẵn đó, là cái pháp nầy hành để hưởng cái thanh khí điển của Trời Đất, để cho nó hoà cảm bên trên, nó bớt sự lo âu không có tham sống sợ chết nữa, thì tự nhiên cái bịnh căn nó phải giải tỏa. Cái bịnh do trong cái căn bản tham sân của con người gây ra cái bịnh hoạn ở ngày nay. Cho nên bây giờ tu cái phương pháp nầy để giải tỏa cái căn bịnh tham sân, chớ đừng có nghe lời rồi nầy kia kia nọ, rồi cúng quảy thét rồi mệt lắm, bây giờ phải thực hành đi, gặp cái pháp nầy thực hành nhiều người bịnh ghê lắm, nhưng mà rốt cuộc rồi người ta cương quyết thực hành nó giải toả hết. Bởi vì uống ngay cái thuốc, cái điển của Lưu Ly Quang Phật trị dứt cái bịnh căn tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục. Do đó nó mới phát bịnh hành hạ cái cơ thể, bây giờ tu tiến lên trên nó giải tỏa rồi thì không còn sự hành hạ của cơ thể nữa. Thì bác có đến đây nghiên cứu, thì nên cùng chị em nghiên cứu, để về thực hành thử trong vòng sáu tháng là biết.

Bạn đạo: Nghe không rõ.

Thầy: Đó thì bây giờ cụ cứ việc nghiên cứu pháp, ai đưa tới thì nói chị em người ta chỉ thực hành cái pháp đó, mà phải nghiên cứu không nên mê tín nghe, phải thực hành phải làm, còn không có làm là thất bại, mình sửa mình để đón tiếp cái thanh điển ở bên trên, còn không có sửa mình, không có đón tiếp được thanh điển ở bên trên, làm biếng là phải ráng chịu à, khổ à, tăm tối à, mở ra nó mới sáng suốt.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Không sao, cái chuyện thấy chiêm bao, cái đó không ăn chung gì hết á, mình chỉ niệm Phật thôi, cả cái trược khí mà, ai cũng có, ai cũng có ma quỷ trong mình hết. Nói thiệt vậy, rồi đuổi nó ra hết, không ăn chung gì, thả nó ra nhờ cái đó mình mới tiến tới. Hồi nó vậy tôi làm vậy, bây giờ nó hết rồi tôi tiếp tục tu nữa, rốt cuộc những cái đó nó đi mất. Chính tôi đã làm cho tôi sáng suốt và mạnh dạn, tôi tin cái pháp nầy tôi sẽ đi tới còn sáng suốt hơn nữa. Ma quỷ trên Trời còn nhiều hơn, cái chuyện con mèo đó ăn chung gì.

Bạn đạo: (Nghe không rõ.)

Thầy: Chúng tôi có cái phương pháp, ở trong đó nó có cái phương pháp chỉ công phu, cuốn nầy cuốn Xuất Hồn hả? Ờ, bạn về coi trong cái cuốn Xuất Hồn đó nó có nói rõ ràng, cái phương pháp là mình phải khai thông cái bộ đầu, tự chúng ta cũng là một vị Tiên Đồng nhập xác chuyển từ bộ đầu qua xương sống, rồi vô cái trái cật nó có cái Niết Bàn, nó đánh một cái nó đưa cái hồn chúng ta giam hãm trong con tim. Cái hồn thuộc về dương điển, cái vía thuộc về âm điển ở ngay lỗ rún, âm dương hiệp nhất chi nhơn sống đồng quan chết đồng quách, chớ vợ chồng thế gian không có sống một thì và không có chết một thì. Cho nên người đời bị giam hãm trong con tim họ sai lầm, ăn thua tranh đấu cái chuyện mặt tiền mà thôi, rốt cuộc không biết cái hậu quả trung ương của mình, chính chúng ta xuống đây, là chúng ta để cái cơ cấu tiểu thiên đại nầy để cho vạn vật chuyển kiếp, thấy không? Bạn ăn cái nầy, cái kia, cái nọ, nó theo mình, mà bạn đi thực thi cái đường theo Phật, thì chúng nó sau nầy được kết quả theo Phật, đi tới thanh tịnh chúng nó được thanh tịnh, mà bạn đi theo động loạn, thì nó cũng theo giúp cái chuyện động loạn cho bạn, thấy không?

Thành ra cái phương pháp công phu của chúng tôi, phải trở về cái đường lối nhập xác, hồi trước chúng tôi xuống bởi bộ đầu, bây giờ phải khai thông bộ đầu, thì cái phương pháp soi hồn của chúng tôi nó mở ngay trung tim bộ đầu, rồi chúng tôi nhắm mắt ở đây nó mới xuất phát cái Mô Ni Châu. Hồi trước cái thánh thai, cái thai mình xuống thai noãn nhập xác ở trong cái thai noãn của mẹ, thì một cái vòng tròn máu thôi, rồi nó phân ra âm dương, rồi mặt mũi tay chân mới thành ra con người, cái hình thù kết tập bởi tứ đại: nước, lửa, gió, đất thành cái hình thù, mà cái phần hồn chịu trách nhiệm, mình quản lý là cái sáng suốt của mình, mình muốn đẩy nó đi cái phương hướng nào cũng được. Mình cho nó đi đường xấu nó đi đường xấu, mà mình dứt khoát mình trở về đường tốt, là đi trong cái thanh tịnh. Bởi vì tại sao chúng ta phải đi với thanh tịnh, sau sự động loạn tất cả những vị bô lão ở đây cũng vậy ngài muốn đi tới thanh tịnh, mà hỏi hồi trước tuổi trẻ ngài thế nào, ngài động loạn ghê lắm, nhiều cái động loạn không có hiệu quả, ngài mới tức trí tìm về cái thanh tịnh, mới tìm qua Đức Thích Ca. Đức Thích Ca đã thành công, Ngài tự tu tự tiến, chớ Ngài không nhờ đỡ ai.

Sau văn võ học được rồi, Ngài thấy Ngài đang bị ràng buộc, Ngài là một vị Thái Tử muốn uống rượu có uống rượu, muốn tiền bạc có tiền bạc, muốn cái gì có cái nấy. Nhưng mà cái lễ nghi thủ tục cái đó nó ràng buộc Ngài, Ngài mới trở về cái tự do một trăm phần trăm, ở dưới cái cảnh thiên nhiên mà tự tu tự tiến, để vượt qua cái sức hút của hồng trần, tới cái lúc ăn uống Ngài cũng không có cần thiết, Ngài mới đạt được, ngoài cái cơ thể nầy, còn cái phần thanh điển. Cũng như bây giờ chúng ta đàm đạo ở đây là cái hồn sở tại, tôi nói bạn hiểu bạn nói tôi minh, thấy không? Còn cái xác chết kia mắt mũi tai miệng kêu nó không có minh, là cái hồn nó xa bản thể rồi, nó hết chủ trương. Bây giờ chúng ta còn chủ trương, chúng ta phải nhận định cái đường cùng có đến là phải có đi. Chúng ta đến thế gian ta đâu có bằng lòng đến, nếu ta bằng lòng đến ta đâu có khóc, thử xem con chúng ta ra đời nó khóc mất tất cả tự do, và chúng ta sống tập quán ở thế gian nầy chúng ta đâu có muốn chết, nhưng mà lúc chết chúng ta phải im lìm ra đi chớ không biết thời giờ chết. Vì đó, chúng ta có cái thông minh tức trí chúng ta mới tìm hiểu, qua cái chết trước khi chết. Chớ không phải là tôi sửa tôi ở hiền làm cái gì, tôi sửa để tôi hiểu tôi ở đâu đến đây rồi sẽ về đâu. Tại sao tôi mang những tai nạn hiện tại, do đâu tạo cho tôi, tiền kiếp tôi đã làm việc gì, ngày nay xảy ra cái tính tình nóng nảy như vậy tại sao? Lỗi tại ai, chính là phần hồn, cái sự sáng suốt ứng dụng bên trên bỏ, cái văn phòng trung ương nầy bỏ mà đi theo cái chuyện đời hơn thua. Người nầy kích động người kia kích động mình theo sự hơn thua, bây giờ mình trở về với trung ương, thì đằng nầy chúng tôi có cái pháp Soi Hồn, tập trung ở đây cái thần kinh của bạn càng ngày càng dồi dào, rồi bạn làm pháp luân đem cái thanh khí điển của Trời Đất vô hoà cảm cái ngũ tạng. Bởi vì Trời Đất cũng nước, lửa, gió, đất mà ngũ tạng bạn cũng nước, lửa, gió, đất, bạn đem cái sáng suốt ở bên trong đánh đổ cái trược ra ngoài, thì con người của bạn càng ngày càng thanh càng nhẹ. Bạn đi tới cái thanh tịnh, bạn mới quyết định con đường trở về tương lai. Ngày nay mình bị tai nạn là cái khởi điểm của mình trước kia không tốt, của tiền kiếp đã quá động loạn, kiếp nầy mình phải bị những cái sự động loạn nó vầy xéo mình, bây giờ mình nhận thức được cái tiền kiếp mình, mình mới làm khởi điểm thanh tịnh, thì sau nầy mình sẽ được cái đường lối thanh tịnh, tránh cái luân hồi lại thế gian.

Chúng ta xuống đây làm người rồi sanh con, gia đình tất cả đều động loạn, không có giờ phút nào cho chúng ta yên hết, dù bây giờ chúng ta có tiền bạc ăn nhậu sung sướng cũng đều là động loạn, thấy không? Bạn bè đãi đằng mình uống rượu nầy kia, kia nọ, chơi bời, rốt cuộc bịnh hoạn mình trả tiền chớ nó đâu có trả. Cái sự động loạn nó quy nguyên về mình! Cho nên, khi chúng ta nhận định được cái đó nó không phải là giá trị trường cửu, thì chúng ta phải trở về với thực trạng của chúng ta, mà do cái ý chí cương quyết đại hùng, đại lực, đại từ bi, phải chịu sửa cái cơ cấu hiện hành, sửa cái tánh nết hiện hành, mà để quy nguyên về điển giới chớ không còn cái thể giới nữa, từ đầu tới chân chúng ta đều là giả, phải chết. Bây giờ bạn nói bạn không già không được, phải già, phải chết. Con muỗi nhỏ tới lớn, không có con muỗi cắn bạn phải chết, cái tế bào nó phải tiêu diệt.

Thì chúng ta ở thế gian còn chấp chuyện thế gian làm gì, họ làm gì thây kệ họ, tôi lo cho tôi, tôi có vợ, có chồng ở trong nầy, có con, có gia đình, ngủ tạng mỗi bộ phận có 250 vị tỳ kheo, tổng cộng 1250 vị đang theo mình tu, mình theo ma nó theo ma, mình theo Phật nó theo Phật. Cái phận sự của mình lớn quá mà mình bỏ không có trở về với thực trạng, tại vì trong đó nó tăm tối càng tăm tối thêm, cho nên nó làm cho mình nóng nảy vì theo cái ngoại cảnh. Bây giờ trở về với thực trạng thì con người không còn nóng nảy nữa, và chúng ta sẽ làm điều gì? Chúng ta phải làm đại sự thay vì tiểu sự, bởi vì quá trình động loạn của mình mà mình dứt khoát được, mình trở về thanh tịnh thì những sự ảnh hưởng của mình sẽ đưa ra cho tất cả mọi người, để họ trở về thanh tịnh như mình đã đạt được từ động loạn đi tới thanh tịnh, thì đương nhiên mình đã giúp người ta đi qua một khúc đường bình an, để tránh cái cảnh luân hồi lại thế gian.

Thì cái phương pháp của chúng tôi giai đoạn đầu, tu cho sức khỏe, cho thần kinh bạn được ổn định, tinh thần nhãn quang bạn được đầy đủ, sức khoẻ dồi dào, lần lần rồi nó mới đi tới thanh tịnh, nó bước qua đạo pháp nó mới thấy hồn vía. Chớ bây giờ chúng ta đang bị động loạn không thấy hồn vía được, bây giờ cốt yếu là sức khoẻ trước đã, phải không? Rồi nó đi tới thanh tịnh, cái luồng điển nó bảo vệ bản thể đã, không cần bùa phép gì hết, chỉ lấy cái điển hòa đồng với vũ trụ, lúc đó cái tai nạn không còn xảy tới nữa, còn bùa phép là tạm thời mà thôi, không có ứng dụng trường cửu đâu, mình cần thực thi cho cái tâm mình tịnh.

Nếu mà Đức Phật dùng bùa phép đó, thì toàn quốc biết bao nhiêu là ông sư sãi có thể cho phép cho Ngài đeo, đeo đầy mình đầy mẩy Ngài cũng có bùa phép nữa, nhưng mà Ngài không có dùng, Ngài dùng một manh vải để che thân thôi. Nhưng mà rốt cuộc bùa phép tới không phá Ngài được, cái tâm Ngài vẫn bình tu tiến, để dìu dắt tất cả những người động loạn. Ngài đã chiến thắng cái tình thế động loạn, mà chính mình đang ở trong cái giới động loạn, bây giờ mình chiến thắng cái tình thế động loạn, thì mình đi gần tới Ngài chớ không có xa Ngài, thấy không? Thì tự nhiên bạn tới đây nghiên cứu, thì bạn phải coi ở trong đó, rồi về, tự mình thực hành, mình cương quyết mới làm được, chớ đây không có Thầy, không có bắt buộc người ta được, ai cũng có cái sáng suốt riêng. Như tôi đi trước, tôi hồi trước tôi động loạn hơn bạn, mà bây giờ tôi được thanh tịnh tôi chỉ nói cái công chuyện đó thôi, rồi chúng ta trau dồi sửa đổi tu chúng ta đồng đẳng với nhau là bạn, đem cái tình thương ra xây dựng giúp đỡ lẫn nhau, vợ chồng cũng vậy, con cái cũng vậy, kẻ tới trước người tới sau, chớ không ai khống chế ai được. Mỗi người nó có tánh riêng, con mình nó cũng vậy có đứa tánh vầy có đứa tánh khác, mình chỉ bổ túc xây dựng thôi, chớ không có gì làm hơn nó được, có chém chết cái tánh nó cũng vậy đó, lần lần mình ảnh hưởng cho nó thức giác nó hiểu, nó không phải là người thế gian, mình đẻ bản thể nó ra được, chớ đâu có đẻ được phần hồn nó, thấy không? Vợ chồng mỗi người đều có cái riêng biệt, mình ở trong cái tinh thần xây dựng sửa mình, tất cả thế giới đều tốt, chỉ một mình mình xấu thôi. Hàng ngày chỉ cai trị mình sửa mình là đủ rồi, thì tự nhiên nó khai thông, chớ đừng cho mình là tốt, cho mình tốt là sai.

[hết băng audio]

1- Tham sanh qúy tử: tham sống sợ chết.
2- Pít-tông: piston.
3-Ét-xăng: essence (xăng)
4-Nancy: khu chợ Nancy gần bến Hàm Tử, Sàig̣òn.
5-Angleterre: Anh quốc.
6-Paris Match: tờ báo bên Pháp.
7-Novembre: tháng mười một


----
vovilibrary.net >>refresh...