VẤN ĐẠO - SÀI GÒN Ngày 7 Tháng Giêng Năm 1973 - Cuốn 2

(…nghe không rõ…)

ÐT: Tu Phật, không có ỷ lại.

BĐ: Kinh sách về vấn đề tu,

ÐT: Ừ.

BĐ: Ở bên phía bên Cao Ðài;

ÐT: Ừ.

BĐ: Rồi ổng coi những cái sách cao đó, rồi tưởng như là ổng làm sao ma nó nhập vô ổng;

ÐT: Ừ.

BĐ: Thì tôi nghe nói là ổng bị đau, mười mấy hôm rồi, một tháng mấy rồi;

ÐT: Ừ.

BĐ: Chính tôi, tôi về tôi, nghĩa là tôi xem làm sao;

ÐT: Ừ.

BĐ: Thì khi tôi nói chuyện với ổng á, tôi biểu ổng nhìn ngay chính giữa trán tui để mà tui nói chuyện với ổng; từ từ ổng thấy, ổng nhắm mắt lại;

ÐT: Ừ.

BĐ: Và tôi thấy ổng nhắm mắt, tôi mới nhắm mắt theo,

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà để tôi công phu, tập trung tư tưởng, tôi phóng cái ánh sáng của tôi rọi thử coi nghĩa là ma, hay quỷ, hay là gì đó! Ðã làm cho ổng; hay là đó là một cái sự mê tín gì đó?

ÐT: Ừ.

BĐ: Tự nhiên ông đó, ổng bị giựt cũng như là điện giựt vậy đó, người giựt lên;

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà ruột gan ổng nó bắt đầu nó muốn chạy trở lên hết.

ÐT:Ừ.

BĐ: Nó như vậy là nghĩa là sao?

ÐT:Bởi vì cái điển của chúng ta là xuất phát đi lên, mà trong lúc đó Ông muốn độ cho đối phương và Ông muốn tìm hiểu, thì cái điển Ông xuất phát nó rút ra; và trong cái lúc rút ra đó, Ông cũng có tưởng tới Ơn Trên dìu dắt cho người này nữa.

BĐ: Dạ.

ÐT: Thì tự nhiên cái, cái sự mê tín của ổng, hồi nào tới giờ ổng theo kinh sách, ổng coi này kia kia nọ, nghĩa là Ngọc Hoàng Thượng Ðế, đủ thứ, cái gì cũng ủng hộ ổng hết, thì ổng đem vô, thì thần kinh ổng càng ngày càng suy yếu, nó mới nhập được trong bản thể ổng.

BĐ: Dạ.

ÐT: Rồi bây giờ, mình đem cái thanh điển, kêu ổng tập trung nhắm mắt, thì mình rút lên; thì tự nhiên là cái phần trược điển mà nó nhập trong cái cơ thể, nó phải xuất ra ngoài. Nhưng mà sau khi Ông đi rồi, nó lại nhập trở lại.

BĐ: Dạ.

ÐT: Bây giờ ông phải nói cho ông đó nghe, phân minh cho ông đó thấy, “Ðó, làm cái phương pháp như vậy, Ông mới đánh đổ cái ngoại xâm;”

BĐ: Dạ.

ÐT: “Chớ đừng có mê tín!” Con quỷ, cái tia sáng của mặt trời nó xuống, nó cũng nói nó, “Ta là tiên; ta là phật;” rồi nó xuống cơ, nó làm cho tất cả mọi người mê tín; mà nó không có cái pháp cho người ta hành.

BĐ: Dạ.

ÐT: Ðó; nó làm sái quấy; thành ra mê tín càng ngày càng mê tín, nó mới xâm nhập; cái thần kinh nó yếu rồi. Rồi Ông muốn cho ổng hết bịnh, thì trước hết cho ổng đi trị thần kinh, cho ổng đi nằm nhà thương đi, cho ổng uống thuốc ngủ cho nó khỏe, cho nó quên hết những cái sự mà kinh kệ thâu thập Thánh Thần của ổng đó. Rồi mình đem cái Pháp Lý mình mới chỉ cho ổng tu. Ổng mở bộ đầu thì cái pháp Soi Hồn; rồi ổng làm cái Pháp Luân thì tự nhiên nó ra mồ hôi nhiều lắm, rồi nó mới đánh đổ cái đó đi được; hay là lấy thuốc đồ xông cho nó rút cái lỗ chân lông, đem cái trược khí đi ra ngoài; thì lúc đó ổng mới được nhẹ nhàng và tu, tu được. Còn mà Ông ngồi đó thì nói ổng thấy, ổng cảm giác như vậy, nhưng mà Ông đi rồi thì thôi, không; thì đằng kia nó cũng lộn trở lại à! Bởi vì mình không có chủ trương đi đánh giặc; nếu mình chủ chương đi đánh giặc, mình phải học bùa, Lỗ Bang, phép này kia, kia nọ; khi rút ra rồi đó, thì mình phải đưa nó đi giam một nơi khác, và mình phải lấy một cái bùa mình trấn cho người bịnh. Thì đằng này không có chủ trương làm việc đó.

BĐ: Thưa Ông Tám, tui có ý định rằng, rằng nếu mà con ma hay quỷ gì nó nhập vô đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Tôi cũng mong cho nó lên,

ÐT: Dạ.

BĐ: Ðể mà nó nói chuyện, đấu lý với tôi,

ÐT: Dạ.

BĐ: Ðặng mà, nói rằng đấu lý để tấn công nó là không phải,

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà đấu lý để mà, mà, mà, mà xin nó, nó tha giùm cho cái người kia.

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà rốt cuộc sao không thấy nó lên!

ÐT: Ừ.

BĐ: Nó cứ, ruột gan nó cứ chạy lên, người thỉnh thoảng bị giựt. Trong khi đó tôi nghĩ, vì tôi không có thì giờ nhiều,

ÐT: Dạ.

BĐ: Chỉ có 30 phút đồng hồ thành ra tôi không có thì giờ nhiều; tôi mới hỏi y, bây giờ y muốn chịu tu theo Pháp Lý không?

ÐT: Dạ.

BĐ: Nếu tu thì tôi hướng dẫn cho; tôi kêu mấy đứa con lại gần, rồi tôi chỉ những cái câu niệm chú, niệm kinh của mình,

ÐT: Ừ.

BĐ: Và những cái phương pháp Soi Hồn, Pháp Luân, này kia.

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà nó có cái đặc biệt là khi bắt đầu tôi hướng dẫn y niệm, “Nam Mô A Di Đà Phật” đúng sáu cái luân xa đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Thì y niệm tới đâu, y niệm từ tiếng một, bắt đầu người y nó giựt lên! Mà sau cùng á, niệm đi lại hai, ba lượt đó, thì nó hết giựt nữa; và chúng tôi để y ngồi day lưng lại và chúng tôi ngồi phía sau, công phu, để mà giúp cho y một phần nào.

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng tôi không biết rằng khi chúng tôi về rồi, y có làm lại những cái phương pháp của mình không? mà ông Tư có chỉ rằng khi ngồi, tưởng Phật, thì răng kề răng và lưỡi chỏi lên trên đó, thì con ma, con quỷ không thể nhập được,

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà không biết y có áp dụng theo như vậy, hay là y sẽ bỏ qua?

ÐT: Nó có hơi khó một chút, bởi vì tập quán hồi nào tới giờ, cái mê tín của y nuôi sẵn ở trong con tim: nó thâu thập, nó nhuộm đậm cũng như ly nước trà rồi. Cho nên mình phải gần, tiếp xúc y nhiều, và phải cho trị bệnh về thần kinh trước đã, bởi vì thần kinh bị nó xâm chiếm yếu rồi; bây giờ trị cho cái thần kinh nó mạnh rồi, cái mình tiếp xúc, đem lên; như Ông đem lên đây, Ông tiếp xúc, nói chuyện với y chừng một vài tháng, hai, ba tháng cho y về; lâu lâu y phải lên; dạy y công phu, y mới làm tự chủ được. Chớ còn không, tối y nằm chiêm bao, nó mị mộng, nó áp đảo trở lộn lại à; sáng, quên à. Cũng như Lục Căn Lục Trần nó đã tập quán rồi, nó xâm chiếm lần lần, nó điều khiển tất cả cơ cấu trong bản thể của ổng; nó phải bị cái đó.

BĐ: Thưa Ông Tám, có mấy lần khác Ông Tám, trong khi truyền Pháp Ông Tám có nói mà tôi không được nghe rõ, bây giờ kỳ này xin Ông Tám kể lại là: trong khi chúng tôi học tu ở đây, thì có những cái vị Tiên, Thánh mà để lo giúp đỡ chúng tôi về vấn đề tu hành ở đây đó, thì có bao nhiêu vị đã giúp chúng tôi về vấn đề tu luyện, như thế nào? Xin Ông Tám nói cho chúng tôi biết?

ÐT: Bởi vì cái phương pháp ở đằng này công phu, thì lâu lâu có, cái thứ nhứt có Quan Thánh; cái thứ nhì thì Di Lạc; cái thứ ba là luồng điển của Quan Âm. À, còn phần mà kiểm soát ở dưới này, tôi, với Ông Tư. Rồi cũng có nhiều vị thiêng liêng bên Ðịa Tiên người ta qua đây người ta tu, thì người ta giúp đỡ về một phần điển ở bên trên, để dắt cái bộ đầu cho nó dễ mở, vậy thôi. có bây nhiêu đó thôi.

BĐ: Sao có mấy người ban đạo nói lại với chúng tôi là có tới mười mấy vị Tiên lo giúp cái, …?

ÐT: Cái đó là khác, cái đó phần trên ở bên kia, là thuộc về bên vía;

BĐ: Dạ.

ÐT: Còn cái phần chánh á, nó có bây nhiêu đó thôi.

BĐ: Dạ.

BĐ: Thưa Ông Tám, ở trong mỗi cái gia đình, trong nhà đều có Thổ Ðịa, Thần Kỳ. Không hiểu cái nhiệm vụ của họ để làm gì? Nhưng mà tại sao họ lại để cho ma quỷ vô nhà được? Tôi nghĩ là nếu có những ông đó, thì cũng như những cái ông lính ổng giữ cái gia đình đó, mà sao ổng để ma quỷ đi vô trong nhà?

ÐT: Bởi vì trong căn nhà nào, mảnh đất nào cũng có người ta phân phối làm việc; nhưng mà bây giờ thiệt họ thuộc ở thế gian là thuộc quyền sở hữu chủ của mình, mình làm chủ. Nhưng mà mình thờ ông Thần, cái tâm mình không có kính ông Thần; mình mướn thằng gác gian mà cũng như mình không phát lương, thì làm sao mà nó chặn cửa? Còn nếu mà Ông thờ ông Thần, Ông phải kính nể ông Thần, mà Ông nhận thức, Ông biết được, “Ông đó là làm việc cho tôi, ông đó sẽ giúp đỡ tôi, tôi phải biết cảm ơn ông đó;” thì mới được. Có nhiều người đi ra ngoài phố mua cái bài vị đặt lên Thổ Thần, “Nhà tôi có Thổ Thần, không có ma vô;” nhưng mà cái tâm mình không có kính Thổ Thần, mà không biết mặt Thổ Thần! Thì tự nhiên là ông chủ ổng đi rước ma về, không lý ông Thổ Thần ổng cản sao?

BĐ: Dạ.

ÐT: Nhiều khi ông chủ ổng đi rước ma về, cũng có nữa;

BĐ: Dạ.

ÐT: Ông Thổ Thần cũng không dám cản; mà chính là ổng thờ ông Thổ Thần quen rồi, ổng không coi ông Thổ Thần không ra gì hết, có chừng thôi, chớ không biết cái ông đó là cái gì. Cho nên, một ông chủ nhà phải biết trọng người gác gian; một vị chỉ huy cũng phải biết thương một thằng lính; nó mới giữ được. Còn coi nó không ra gì, thì, “Ông đi vô, Ông rước, Ông đi vô, Ông chỉ huy tôi, mà Ông đi với người bạn, thằng đó là con quỷ, mà Ông đi với nó vô, thì tôi đâu dám chặn?”

BĐ: Dạ.

ÐT: Thì tự nhiên, đại đa số là ông chủ rước ma vô nhà, chớ không phải cái lỗi của ông Thổ Thần. Ðó; thì còn những người tu đằng này nó minh mẫn rồi, nó khai thông rồi, nó xuất hồn được rồi, thì lúc đó nó cũng không cần thiết tới ông Thổ Thần, nhưng mà ông Thổ Thần phải theo nó để học tu; và tất cả những bạn ma quỷ gì đó, nó không sợ, bởi vì nó có phần thanh điển, nó có thể thanh lọc cho đối phương, thì nó có thể chơi bất cứ hạng người nào, nếu mà nó có điển quang trên bộ đầu rồi. Còn chưa có điển quang thì không được; phải lo sửa tu, một ngày kia mới được; chớ còn chưa có điển quang rồi thì ma quỷ nó xâm nhập được.

BĐ: Dạ.

ÐT: Mình phải kính trọng những người mình đã thờ; họ sẽ giúp đỡ mình.

BĐ: Thưa Ông Tám, như vậy thì đối với lễ nghi, mỗi người đều phải thờ cúng? Chớ còn những người không thờ cúng á, thì mấy ổng sẽ không giúp đỡ hay sao?

ÐT: Không thờ cúng mà cái tâm chúng ta chánh, thì ta không cần thờ cúng: cái sự giúp đỡ đó là nó tự nhiên, mà cái sự phân phối và cái phần phước nó đã có sẵn rồi; mà nếu cái tâm của chúng ta chánh thì tự nhiên nó phải có, và nó không có bận rộn bàn thờ. Còn cái tâm người không chánh, lộn xộn thì mới nhờ Ngũ Hành giúp đỡ. Chớ cái tâm người chánh thì người ta không cần; không cần thờ cũng được. Cho nên, các bạn tu về Pháp Lý, sau này rồi các bạn đi tới rồi, xuất hồn được rồi, thôi không có thờ, thờ Ổng cũng không dám ăn! Bồ mình rồi, có gì nữa? Thì muốn làm gì thì làm!

BĐ: …. thờ pháp của mình rồi? (nghe tiếp không rõ) mp3.1 09:50

ÐT: Ừ.

BĐ: Dạ thưa Ông Tám, ở đây á, thì cô Tuyết, chưa chắc là cổ biết địa chỉ rất nhiều bạn đạo ở đây, nhưng mà làm sao mà cô Tuyết,cổ xuất hồn cổ đi vô nhà mấy bạn đạo, đi chơi được?

ÐT: Ừ.

BĐ: Làm sao cổ biết được địa chỉ; đâu có ai ghi đâu?

ÐT: Bởi vì cổ đương thực tập về cái, người xuất hồn, ban đầu thì đương thực tập đi tới nhà người này, người nọ; mà người nào có nạn á, có công chuyện nó sắp xảy ra, cổ phải thường trực đi qua đi lại ít lần, rồi về; đi qua đi lại ít lần, rồi về; vậy thôi. Nhưng mà đó là nó bắt về cái luồng điển của những người đạo hữu tu, có tưởng niệm đến cổ, thì cổ có thể tới được. Tự nhiên, cổ không có chương trình mà đi tới; nhưng mà tối đó là cổ thấy ở ngay cái nhà đó; đi ra đi vô, chơi một chút, rồi đi về.

BĐ: Dạ.

ÐT: Khổng biết chuyện gì, chuyện gì. (cười)

BĐ: Nhưng mà cổ không biết địa chỉ, làm sao cổ đi được?

ÐT: Bởi vì cái luồng điển,

BĐ: Luồng điển?

ÐT: Sự quan hệ của luồng điển;

BĐ: Quan hệ?

ÐT: Cái quan hệ của luồng điển của người tu: người ta cảm mến, tới đó người ta nhớ y, là y rút; hai cái nó liên kết liền,

BĐ: Dạ.

ÐT: Nó kéo đi.

BĐ: Dạ.

ÐT: Người tu ở đằng Pháp Lý, nó ngu là nó không biết địa chỉ thế gian thôi, nhưng mà nó biết cái địa chỉ của căn cội. Nó ngu thế gian, mà nó khôn thiên đàng! Cho nên nó giúp người ta, nó kể ơn không được! Còn nếu cho nó biết luôn cái địa chỉ người ta, nó kể ơn! Nó kể ơn hành ra mê tín rồi! Cho nên, sau này các bạn tu, đi qua đi lại chơi hoài, biết nó bình an không có chuyện gì; tới nhà người ta chơi hoài, không sao.

BĐ: Những người chết, những địa chỉ ở trên, người ta đâu có cần xin địa chỉ đâu? , khi vừa chết là nó tới à!

ÐT: Sau này, Ông tu cao rồi Ông thấy lạ lắm! Nhiều khi Ông không có tin! Cho nên, cái Pháp Lý không có tin mình, mà cũng không có tin người khác!

BĐ: Dạ.

ÐT: Khi không, Ông tới Tòa Bạch Ốc chơi vậy đó! Ngồi đó, Ông tới Tòa Bạch Ốc chơi! Hỏi chớ, Ông sức mấy Ông vô nhà Tòa Bạch Ốc chơi? Cái điều đó là cái chuyện Ông đâu có tin lấy Ông? Phải không? Cái việc hội nghị người ta đương ký vậy đó, mà Ông biết công chuyện trong đó! Khi không, Ông làm cái chuyện đó, rồi Ông làm sao Ông dám tin Ông;

BĐ: Dạ.

ÐT: Mà Ông dám nói cho người ta nghe không? Nhứt định là Ông không dám rồi! Cái chuyện bí mật của vợ chồng người ta mình cũng biết nữa; thì Ông dám nói không?

BĐ: Dạ.

ÐT: Ông không dám nói!

BĐ: (… nghe không rõ)

ÐT: À; nó kỳ cục lắm! Cho nên mình chỉ nói (…nghe không rõ 12:15) nó vậy thôi, chớ còn nói sát ra là người ta mắc cở lắm; không có được!

BĐ: Dạ.

ÐT: Khó lắm; nhưng mà không có ai tin, chính mình cũng không tin mình! Cho nên, do cái đó mình mới tiến được: mình thấy mà mình không tin!

BĐ: Dạ.

ÐT: Có nhiều khi mấy người bạn, mình biết trước hai, ba ngày, nó tới; nhưng mà làm sao mình tin? Mình người đầu óc hiện tại, làm sao tin, “Thằng đó nó sẽ tới kiếm tôi chơi!” Nhưng mà thiệt, nó tới! Mà mình đã biết trước rồi! Rồi nó tới; làm sao không tin được?

BĐ: Dạ thưa Ông Tám, Chú Ngầu á,

ÐT: Ừ?

BĐ: Chú Ngầu tụi tui á, chú đi chưa tới nhà mà chú nói, “Tui đi chưa tới nhà mà Bà Tám đã nấu nước trà chờ tui rồi!”

ÐT: Cái tu này là cái linh tánh nó mở,

BĐ: Dạ.

ÐT: Nó mở, nó dễ chịu lắm. Nhiều người tu rồi linh tánh nó mở rồi, nó làm ra như là người ta tưởng nó là thầy tướng;

BĐ: Dạ.

ÐT: Chớ thiệt nó là nhẹ hơn đối phương. Cũng như miếng kiếng như vậy mà nó dòm, nó biết, cũng như trong chùa người ta kêu bằng, “Huệ” đó; nó thấy, nó nói; vậy thôi.

BĐ: Thì có bữa đó, chú đi tới nhà, chú gõ cửa rầm rầm; tui không biết ai mà dám gõ cửa tui;

ÐT: Ừ.

BĐ: Là bởi vì chỗ tui có chỗ nhận chuông, mà lại không nhận, mà lại gõ cửa,

BĐ: Dạ.

ÐT: mà gõ mạnh lắm.

Ðức Thầy: Ừ.

BĐ: Tôi giựt mình, tôi chạy ra, tôi,

ÐT: Ừ.

BĐ: Lúc đó bị cái điển của Ông Tám, cho nên điện của chú không có hợp jeu, phóng lại, đụng điển Ông Tám, dội trở lại;

BĐ: Có bữa tôi đi chưa tới nhà là ổng biết tôi tới nhà, thì bữa nay điển của Ông yếu, yếu quá rồi; …………

ÐT: Lúc này chú Ngầu cái mặt nó dịu lại rồi đó!

BĐ: Dạ, khá rồi.

ÐT: Nó hết giống con bò rồi; (bạn đạo cười); nó dịu lại rồi.

BĐ: Dạ, khá rồi.

ÐT: Nó tu nhiều quá; tối nào cũng lo tu mấy tiếng đồng hồ. Nhưng mà cái đó là không nên chấp nhận những cái đó; chúng ta phải đi lên trên. Lên trên Trung Thiên Thế Giới đi chơi, vui hơn, cho nó mau đi; thì giờ không có đợi mà ngồi ở thế gian nói chuyện này kia, kia nọ; mất công lắm! Muốn đi tắt, đi cấp bách; muốn mọi người đi cho nó mau lẹ; gặp được, cố gắng, nó tiến triển.

BĐ: Thưa Ông Tám, lúc mà chưa tu cái pháp lý này đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Hồi lúc tui còn trẻ trẻ, thì thường thường đêm nào tui thấy tui cũng đi lên cảnh trên,

ÐT: Ừ.

BĐ: Tôi đi tới Phật Bà Quan Âm,

ÐT: Ừ.

BĐ: Tôi đi tới cảnh Bát Tiên,

ÐT: Ừ.

BĐ: Tôi bẻ bông sen, tôi đi đảnh lễ Phật.

ÐT: Ừ, ừ.

BĐ: Cái đó giả hay thiệt?

ÐT: Cái đó là vì mình coi sách, trong cái tưởng nó có cái tượng, nó in sâu ở trong bản thể. Nằm chiêm bao mà!

BĐ: Dạ.

ÐT: Ðâu có phải mình đi! Nếu là mình, thì bây giờ mới sửa lại, chánh thức đi đây này! (cười) Nó khác. À; có nhiều người nằm chiêm bao thấy Bát Tiên. Bây giờ mình chánh thức đi.

BĐ: Có nhiều khi tôi thấy tôi bay nửa lừng trời!

ÐT: Ờ, đó; thấy chiêm bao như vậy đó! Nửa lừng, ở đây là nửa lừng trời, chớ đâu nữa? Khi mà Ông, Ông xuất con tim, xuất ra ở đây là Ông thấy Ông bay, ở nửa lừng trời; ở đây, sao biết là bao nhiêu!

BĐ: Dạ

ÐT: Xuất ở đây biết bao nhiêu là cảnh! Không phải ở ngòai! Không phải ở ngòai.

BĐ: Dạ

ÐT: Còn bây giờ mình đi ra, mình bỏ bản thể mình đi; khác. Mà cái đó á, là cũng ở trong cái tiền kiếp có tu, nó mới có xuất hiện trở lại cái đó.

BĐ: Dạ

ÐT: Cái đó trong quá khứ thôi; bây giờ mình đi trở lại cái chơn chánh.

BĐ: Dạ

ÐT: Ông làm gì thì làm, rồi Ông cũng không bỏ tu được; làm gì thì làm, mà bỏ “Tu” là Ông, cũng như là Ông ghiền thuốc phiện vậy; đi kiếm tu. Bởi vì kiếp trước Ông tu, bây giờ phải tu lại một kiếp nữa. Cho nên, nhiều người thầy tu, hồi trước tu rồi, luân hồi lại thế gian, năm thê bảy thiếp! (cười) Bởi vì hồi đó ảnh, ảnh, kêu bằng: “Giữ giới;”, bây giờ xuống, ảnh làm người, ảnh thấy cái giới nào cũng ngon hết! (cười) Năm thê bẩy thiếp! Trở lộn lại tu! (16:14)

BĐ: Dạ

ÐT: Nó bị cái đó, nó bị cái réaction (16:12) năm thê bảy thiếp đó, rồi nó mới chán đời mau, Té ra: “ không có ai thương tôi thiệt hết! (cười) Rốt cuộc tôi phải tu.”

BĐ: Dạ.

ÐT: Thấy không?

BĐ: Dạ.

ÐT: À; trong đám tu cũng nhiều người có những cái chuyện đó. Nhiều quá rồi, thấy “Ơ, cái tình đời nó giả, không có thiệt,” nó mới trở lại người ta tu; mà kiếp trước người ta đã tu, tu mà tu giữ giới; chuyến này nó trở lại, thôi, vợ nhiều lắm; con đông, vợ nhiều!

BĐ: Dạ thưa Ông Tám, sao nó có những trường hợp mà, trước khi tôi học tu ở đây đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Thì tôi được biết cái nhà của tôi ở chỗ nào; cái nhà đây không phải là cái nhà hiện bây giờ tôi có, nhưng mà nó có một khung cảnh, nó có nhà cửa, nó có vườn tược đầy đủ hết; mà hễ lâu lâu tôi được trở về cái nhà đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Không phải đi mà trở về cái nhà đó được,

Ðức Thầy: Ừ.

BĐ: Mà là phải bay tà tà nó mới về cái nhà đó được. Mà lâu lắm, chừng độ, có thể một, hai năm gì đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Mới được phép trở về một lần. Mà khi trở về đó, mình biết cái đó là chánh thức cái nhà đó là nhà của mình.

ÐT: Ừ.

BĐ: Như vậy thì, thì nó có một cái ấn tượng gì đâu mà nó thành ra cái đó được?

Ðức Thầy: Bời vì cái hư cảnh, như tôi nói, cái “Hư cảnh” ở trong này: cái tiền kiếp, hư cảnh, nó có; người nào cũng có cái tiền kiếp hư cảnh ở ngay chỗ lỗ rún này.

BĐ: Dạ.

ÐT: “Tứ hải quy gia,” ở đây; nó có hết đó. Rồi bây giờ Ông mới sửa lại, Ông đi vượt mức, bỏ cái cũ; nhưng mà Ông phải đi lên cái mới, đi lên bên trên căn cội, cái nhà ở bên trên còn đẹp hơn cái nhà hồi trước nữa.

BĐ: Dạ.

ÐT: Bây giờ chúng ta đi lên trên, vì hồi trước nó còn ở dưới này này,

BĐ: Dạ.

ÐT: Nó mới thấy cái mộng mị đó;

BĐ: Dạ.

ÐT: Bây giờ chúng ta đi ở trên này, đi ngay lên trên; dùng chỗ này với chỗ này thôi; tất cả các bạn tu ở đây chỉ dùng chỗ này với chỗ này thôi; chớ không có dùng cái khúc ở dưới này.

BĐ: Thưa Ông Tám, trước tôi có nghe lần nào có người hỏi Ông Tám là trong khi Ông Tám mà đi đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Ðiện đi ra đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Thì nó phải dựng hai cái tay lên như thế này, thế nào, làm sao, rồi điện nó mới xẹt nó lên. Cho nên những người công phu luyện đạo phải khép hai nách cho nó sát?

ÐT: Thì hồi ban đầu đi đó, phải khép như thế này, ngồi khép như thế này. Ðể làm chi? Để lúc mà cái vía nó xuất á, mình không có sợ sệt; chớ nó xuất mạnh lắm, có thể đụng platfond; đi một cái ào lên! Nếu mình ngồi như vậy, nó đi một cái, mình mất hồn, là nó hồi lại. Cho nên người ta buộc phải ngay; mà trong cái ngay này, để nó kiểm soát

BĐ: Dạ.

ÐT: Nó kiểm soát cái lưng có cong hay là không?

BĐ: Dạ.

ÐT: Trong cái lúc mê, nó làm cong như vầy; mình biết, phải giữ nó lại. Bắt buộc nó phải ngồi ngay như thế này, để kềm nó; chớ còn không, Lục Căn Lục Trần nó phá, mình không biết; ngồi một chập cái nó làm vậy! Phải ngay! Cái này là nó kẹp; và trong cái này nó làm cho vững trong lúc cái vía xuất ra: cái hình nó ngồi ngay cũng như khúc gỗ vậy, không có sai, không có méo. Cho nên, bắt buộc phải làm vậy. Cho nên, cái tập quán ban đầu nó phải ngay ngắn.

BĐ: Trong lúc mình công phu đó, lúc mà mình thấy mê mê, tỉnh tỉnh, thì lâu lâu mình nghe gõ cửa, nghe thấy thế này thế kia,

ÐT: Ừ.

BĐ: Nghe như tiếng ai khóc?

ÐT: Cái đó, cái đó là những cái tiếng động ở xung quanh; thây kệ nó;

BĐ: Mình có cảm giác như người ta đương kêu vậy đó,

ÐT: Mình chỉ có Niệm Phật thôi,

BĐ: Cái việc đó làm cho mình hơi, hơi, hơi,

ÐT: Ðộng.

BĐ: Hơi sợ!

ÐT: Không có; cứ niệm Phật thôi. Cái đó là qua cái gì? qua tới ma giới mới tới Thánh giới. Ai cũng phải qua cái đó. Như con nhỏ con Hà đó, nó qua biết bao nhiêu là ma giới; rồi lần lần nó đi tới Thánh giới. Cô Lương cũng vậy; hồi trước cũng vậy, nghĩa là nó qua ma giới, rồi mới tới Thánh giới; sợ tới không dám ngủ, cả đêm cũng không dám ngủ (cười);

BĐ: (nghe không rõ) Tôi ngồi tôi,

ÐT: Cái đó nó nhẹ rồi.

BĐ: Dạ, nhiều hôm tôi có cảm giác người ta rình xung quanh tôi, hay là họ muốn tấn công tôi hay cái gì đó, cho nên trong tôi hơi, hơi buồn, hơi sợ sợ. Nhưng mà trong trí thì nói, “Ồ, đâu có gì sợ! Mình linh hồn, họ cũng linh hồn, việc gì phải sợ?”

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà nó cũng hơi, hơi;

ÐT: Thì họ là mình, thì nhờ qua, vượt qua cái đó rồi, cái tánh nóng hết, hết trọi; không còn nóng nữa; làm gì cũng không nóng!

BĐ: Có nhiều khi thấy ai muốn mở cửa này, a, ai gõ cửa, gõ “Cộp, cộp, cộp!” (20:20)

ÐT: Thây kệ họ! Mình phải vượt qua cái giới đó! Ai cũng vậy.

BĐ: Thưa Ông Tám, có bữa tôi ngồi công phu ở trên một cái tòa lầu cao lắm,

ÐT: Ừ.

BĐ: Tôi leo lên nóc tôi ngồi công phu vào lúc khuya gần sáng đó;

ÐT: Ừ.

BĐ: Xong rồi có mấy cái làm như là nước;

ÐT: Ừ.

BĐ: Nó nhiểu, mà rất lạ,

ÐT: Ừ.

BĐ: Nó nhiểu lên trên vai tôi, rồi nó nhiểu lên trên đầu;

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà thỉnh thoảng nó nhiểu từng nhiểu, từng nhiểu vậy đó;

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà trời thì quang đãng không có mây, không có thể nào có hột mưa nào hết á.

ÐT: Ừ.

BĐ: Thành ra tôi vẫn ngồi đương nhiên ngồi công phu như thường; mà rồi tới chừng công phu xong rồi thì tôi lấy tay tôi rờ thì lại không có nước! Như vậy chắc có lẽ mình bị phá hay thế nào?

ÐT: Không phải! Cái kết tinh của trựơc điển của mình nó vượt xuất đi lên, và nó, tới đó nó hội lại, cái nó trở lại một điểm lạnh, nó trở lộn xuống: nó được thay đổi đó!

BĐ: Nhưng mà,

ÐT: Ờ, nó được thay đổi: cái trựơc điển của mình ra, cái nó tan, cái nó trở lại cái thanh điển, nó lạnh, nó hồi trở lộn lại. Cái đó tốt chớ đâu có sao!

BĐ: Tôi tưởng đâu mấy ông ma quỷ ở chỗ đó?

ÐT: Không có ma quỷ nào đâu nữa hết! Bây giờ, chúng ta đâu có sợ ma quỷ!

BĐ: (nghe không rõ) Sợ ma sợ quỷ! (bạn đạo cùng cười)

ÐT: Cái pháp ở đằng này tu tới nỗi, “Người hung hóa hiền,” là vậy đó. Hồi trước nghĩa là, ai nói gì thì nói, tôi không có sợ! Cũng như thằng Ngầu, hồi trước đâu có sợ ma! Nó thấy ma chạy lao xao trước nhà, nó cũng không sợ! Sau một thời gian tu nhẹ như Ông rồi, cũng như ai gõ cửa, ảnh sợ!

BĐ: Dạ.

ÐT: Ảnh hiền rồi, ảnh hết dữ rồi! Ai gõ cửa, ảnh cũng sợ; đi ra đằng sau cũng ngán nữa!

BĐ: Dạ.

ÐT: Trong đó nó ngán; mà hồi trước y không có ngán; mà y thấy ma quỷ trước mặt y cũng không có sợ nữa, “Giỏi, tới oánh lộn đi!” Mà qua hết giai đoạn đó rồi , nó mạnh; tới lúc đó nó không sợ nữa! Thiệt là thiệt, một trăm phần trăm mà bây giờ con quỷ mười năm đứng trước mặt cũng không ăn chung gì với nó hết! Mà phải qua hết cái giai đoạn đó! Ai cũng vậy.

BĐ: Dạ. Chú Ngầu á, chú,

ÐT: Sau này nó hiền là nó, “Minh vi thiện;” nó biết rồi; cũng như chú Ngầu, bây giờ nó biết rồi, con quỷ nó tới, nó ăn chung gì! “Mày quỷ thì quỷ, tui niệm ‘Nam Mô A Di Đà Phật,’ tui có cái đó!” Phải không? “Quỷ, tui cũng có thể giúp quỷ tu!”

BĐ: Dạ.

ÐT: Cho nên, y mới có cái cơ hội đi tiếp xúc người này, người kia, người nọ, nói đạo; y nói lang bang chớ y đâu có biết tiếng Việt Nam đâu! Y nói thét trật, người ta cũng nói, “Ðúng!” Ðể cho nó quen rồi đó; sau này rồi nó gặp thiêng liêng ở bên kia nó cũng nói Pháp được vậy; nó hết sợ rồi.

BĐ: Nhà chú Ngầu, chú nuôi ma nhiều lắm; phải không?

ÐT: thì ở chợ quán đó, chỗ đó là ma quỷ không à;

BĐ: chỗ đó ma quỷ không, làm sao tu được!

ÐT: Chỗ đó ma quỷ không à!

BĐ: (nghe không rõ).

ÐT: Chỗ nhà xác mà!

BĐ: Như Ông Tám giờ cũng có độ cho?

ÐT: Cái đám của y đó, tôi đã qua bên sông bên kia; đuổi, đem ra bên sông bên kia y mới tu được; nếu mà còn giữ ở trong nhà đó là y tu không được! Ðem đi rồi.

BĐ: Chú Ngầu, chú nói hễ khi nào chú nói chuyện mà nó bị kẹt, cái, chú phóng ra cái là nó hết kẹt! Mà không biết chú phóng đi đâu? Hay bữa nào chú phóng lên platfond? (bạn đạo cùng cười)

ÐT: Ở đây cái nó đem về trung ương, nó không có kẹt nữa! Nó đem vô chỗ này. Khi mà Ông nói với ai nó kẹt, Ông cứ tưởng ở đây. Rồi! Cho nó mở lên. Thấy không? Thì cái điển của mình nó xuất phát ra, nó thay đổi ở trong, mình nói lại. Đừng có thèm xài chỗ này! Xài chỗ này nhứt định phải ! Xài chỗ này. Chưa mở cũng vậy: đặt mục đích ở đây; sau này nó mở. Còn cái việc gì suy nghĩ không được, bỏ nó đi; bỏ; “Nhứt định tôi sẽ biết!” Nói vậy. Ði đi lại lại một chặp cái nó nhắc, cái mình biết. Không có lo! Tập, quen, đừng có lo!

BĐ: Dạ.

ÐT: Cái việc đó: việc nào làm việc nấy, việc nào làm việc nấy; mà để ý, đừng có lo, không có lo nữa, hết trọi cái sự lo. Không có lo lắng con người nó mới trẻ, nó mới quy nguyên về cái hồn hồi trước làm sao bây giờ nó trở lại như vậy. Hồi trước cái hồn đâu có lo! Nó là Tiên Đồng mà, mình đâu có lo? Sáng suốt mà. Bây giờ mình lo đây là mình thuộc về ngu muội, đui mù, mình mới lo, “Sợ nó mất cái này, sợ nó hư cái kia!” Mà té ra có cái nào của mình đâu mà lo? Thấy không? Nó Tiên Đồng mà;

BĐ: Dạ.

ÐT: Nó phải trở lại Tiên Đồng! Thành ra con người tu ở đằng này nó càng ngày càng trẻ, nó hết lo! Nhắc tới, nó nhớ; không nhắc, thôi!

BĐ: Tôi thấy nhiều khi cũng hơi nguy! Như hôm trước tôi có cái trường hợp, 2 giờ khuya rồi,

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà tôi chưa có đọc hết cái tài liệu để ngày mai thuyết trình;

ÐT: Ừ.

BĐ: Rồi tới sáng bữa sau rồi, làm tôi quýnh quá, sáng thức dậy sớm coi sơ qua, đủ thì giờ coi sơ qua một bận thôi à!

ÐT: Ừ.

BĐ: Rồi là tới giờ (cười)! Tôi thấy cái đó nguy à! Có bữa lại rồi bí rồi , không biết nói cái gì, ngậm kẹo a! (cười)

ÐT: Cho nên, nhiều khi sau này khi Anh tu khá rồi, Anh nắm cái cuốn sách này, Anh thấy cái người viết sách cho Anh đó, thấy cái mặt nó rồi, phải viết gian mấy chục phần trăm mình biết rồi; coi sơ đầu đề rồi, rồi thôi, khỏi mất công coi.

BĐ: Thưa Ông Tám, Ông Tám nói cái đó, thì tôi bước đầu tiên, tôi học đạo ở đây đó, thì tôi thấy rằng cái đó khó mà hiểu được cái lời Ông Tám nói,

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà bây giờ á, thì tôi đã gặp rồi.

ÐT: Dạ.

BĐ: Là cái trường hợp có một người bạn đã mua cho chúng tôi một cái cuốn:“Ðại Định Thiền Định”

ÐT: Ừ.

BĐ: Của cái ông gì, Nawasazami gì đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Ổng người Việt Nam nhưng ổng đặt theo tiếng Nhật. Ổng muốn nói là cái ly nước trà để trên cái bàn; nhưng mà ông nói hết cuốn sách đó, từ đầu tới đuôi, thì biết rằng đại để là cái ly nước trà ở trên cái bàn. Nhưng mà hỏi, “Vậy chớ cái ly nó nằm ở giữa bàn hay ở bên cạnh bàn?” thì ổng không biết để chỗ nào! Mà ông dựa theo cái lý của hai ông đại sư Thiền Định của Nhựt, rồi ổng viết trở ra. Cho nên, sau này tôi đọc cái cuốn sách đó tôi mới thấy cái lý Ông Tám nói là đúng, là mình đọc qua một bận thì mình thấy rằng ông kia ổng không biết gì hết!

ÐT: Không biết gì hết!

BĐ: Ông chỉ nghe ông kia, rồi ổng học lóm, rồi về ổng viết lại thôi. Rồi cái người nào mà không biết thì mình đọc mình coi được.

ÐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà nếu mà biết, như mình ở đây mà đã học đạo ở đây, mà mình dòm mình thấy, “Cái ông này ổng nói dóc quá: ổng nói cái ly ở trên cái bàn, mà ổng không nói chỗ nào; cứ nói lòng vòng, lòng vòng hoài mà không biết nó ở chỗ nào!” Vậy mà ông bán được tiền!

ÐT: Sau này Ông coi kinh á, Ông đọc cái câu kinh đó là Ông thấy cái điển nó arranger một vòng, đúng; nó đi trong cái không không, nó không có thiên bên nào, và nó cũng không có bỏ bên nào; nó đi tròn vo! Mà cái điển mà nó có coupures, là cái khúc đó nó sai; gạt cái đó, bỏ đi; Ông đọc tiếp mấy cái kia. Nó long vòng, mình thấy cái người viết sách nó sai; viết sách nó sai. Như bây giờ chúng ta nói chuyện ở đây, mà những người nghe không có enregistrer vô trong cái magnétophone này, họ về họ nói lại, sai hết, không có trúng.

BĐ: Dạ.

ÐT: Huống hồ gì cái ông đó, ổng ngồi ông suy nghĩ, ổng soạn bài để viết cuốn sách, thì ổng sai nhiều lắm!

BĐ: Dạ.

Ðức Thầy: Ổng lấy có một chút mà ổng làm không biết bao nhiêu trang! Như nãy giờ, chúng ta nói ở đây viết được bao nhiêu cuốn sách!

BĐ: Dạ.

Ðức Thầy: Mà những người mà người ta viết sách là người ta muốn căn cứ theo những cái lời nói này, người ta sẽ phổ biến ra, người ta viết ra biết bao nhiêu cuốn sách!

BĐ: Dạ. Bây giờ cái việc mà đọc kinh, đọc sách của họ viết lại á!

ÐT: Ừ.

BĐ: Bây giờ đâm ra nó không còn ý nghĩa gì nữa,

ÐT: Không còn ý nghĩa gì nữa hết,

BĐ: Ðọc nó thấy cái láo của họ.

ÐT: Bây giờ kêu bằng mình đọc điển, chớ không phải đọc kinh;

BĐ: Dạ.

ÐT: À; ráng tu cho thấy cái ánh sáng; ráng tu cho làm sao cái âm thanh của mình xuất phát lên bên trên.

BĐ: Dạ.

ÐT: Thấy một cái photo bằng mấy ngàn cái chữ! Phải không?

BĐ: Dạ.

ÐT: À; bây giờ Ông tu mà Ông thấy một cái hình, Ông thấy một cái cảnh, thì Ông viết ra bây nhiêu ngàn cái chữ? Phải không?

BĐ: Dạ.

ÐT: Cái đó là mình có cái điển, và mình thấy.

BĐ: Dạ.

ÐT: Chớ bây giờ mình không có xài văn chương nữa, nó khó lắm, cái văn chương xài không được!

BĐ: Dạ.

ÐT: Nó chậm lắm, Ông đi lên trên điển bộ đầu rồi, xài văn chương nó chậm, nó chậm rì à! Thấy nó chậm lắm; còn cái kia, nó mau hơn.

BĐ: Dạ. Thưa Ông Tám, cái vấn đề về điện năng, chúng tôi thấy rằng tất cả cái phương pháp mà học tu đó, người ta, khi người ta nói chuyện hay là truyền pháp á!

ÐT: Ừ.

BĐ: Là nói cái âm thanh rất trầm, và cái âm thanh đó nghe nó thật là êm dịu.

ÐT: Ừ.

BĐ: Nói như vậy mới phải là tu.

ÐT: Ừ.

BĐ: Còn cái phương pháp bên nay, mình học ở đây đó, thì tôi so sánh về âm thanh của tôi,

ÐT: Ừ.

BĐ: Và những người trong gia đình tôi và những bạn đạo.

ÐT: Ừ.

BĐ: Thì tôi thấy nó có cái khác biệt:

ÐT: Ừ.

BĐ: Không phải là chỉ êm nhẹ như vậy;

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà nó thuộc về điển, mạnh và điển thanh.

ÐT: Ừ.

BĐ: Cái âm thanh đó, nói ra đó, nó có một cái gì đó, nó làm nó giống như là chấn động,

ÐT: Dạ, chấn động; nó làm cảm động đối phương; rút lên!

BĐ: Ðó. Chớ không phải là cái âm thanh chỉ êm dịu như là ru ngủ.

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà hễ càng nói nhiều chừng nào đó, thì điện càng mạnh! Giả tỷ như Ông Tám mà nói, nếu mà có cái máy ghi âm mà không điều chỉnh làm sao cho nó, cái âm thanh chậm lại đó,

ÐT: Ừ.

BĐ: Thì cái âm thanh đó nó mạnh lắm,

ÐT: Ừ.

BĐ: Nó làm như là cái aigue (29:20), cái tiếng mạnh đó nó thấu vô trong này cho cái người nghe này.

ÐT: Ừ.

BĐ: Mà nếu mà đối với các đạo khác thì người ta nói: “Nói như vậy thì dữ tợn quá!”

ÐT: Ừ.

BĐ: “Chắc không phải ông thầy tu!”

ÐT: Ừ. Bởi vì nó, tại làm sao bắt buộc tôi phải nói mau? Vì khi mà tôi khởi điểm một cái gì thì nó rút, rút, rút nó đi lên. Mà nếu tôi ngưng lại, thì nó bị coupure liền, đứt! Thành ra tôi phải liên tục, liên tục; những cái cảnh hiện ra trước mắt tôi, tôi phải nói liên tục, nó liên tục cái này nó qua cái khác, cái này nó qua cái khác, nó lên. Thành ra nó mau lẹ và nó rõ rệt; nó kích thích, cởi mở nơi những người thính giả liền.

BĐ: Dạ.

ÐT: Mà những người thính giả mà đã có phần nhẹ ,

BĐ: Dạ.

ÐT: Tu về đạo pháp thì nó ứng lên, cái thì nó biết, nó thấy.

BĐ: Dạ.

ÐT: Mà nó thấy nó cởi mở. Còn cái kia, nói rà, rà, rà, nói về tâm lý! Là tại sao? Tại vì dụng cái tim của cha mẹ, nơi cái tâm: họ diễn cái tâm của họ, cái tâm bằng thịt, họ không có thể nói mau bằng

À! Tại vì mình thấy, mình thấy cuộc đời mình không có thể tiến được, nhưng mà sao mình tu cái pháp lý này, nó tự nhiên nó tiến. Khi không người ta đưa đẩy nó! Không có phải là mình vận động hay là mình đi tìm cái gì. Họ tới họ năn nỉ, thôi anh làm cho tôi cái này, thì mình thấy cái chức vụ mình khác đi nữa, nhưng tâm mình lúc nào cũng chuyên tu, không có chức vụ gì hết. Ở thế gian chơi mà thôi, nhưng mà mình thấy mình nhẹ nhàng hơn trước nhiều lắm. Cái luồng điển nó khác rồi, thì cái phần hồn của nó cũng được khác. À. Cho nên, cái tu ở đằng này thì tự nhiên nó không phải là duy nhất, nhưng mà người nào mà bằng lòng tu, thì có thể giúp từ đời qua đạo luôn, mà thấy đơn giản không có cái gì hết, tôi tu không có cúng, không có lạy, không có làm gì hết.

(Tiếp phần mp3.2)

ÐT:…. Mà tại sao lại có chuyện bất ngờ nó xảy đến cho tôi nhiều cái chuyện. Bằng đầu tu thì thấy khó khăn trở ngại, mà sau này cái gì nó cũng thuận hòa hết, nó không có trở ngại nữa, là nó đã lên tới cái giới khác rồi. Và cái phần thượng trí muốn suy nghĩ cái gì, nó cũng chớp nhoáng là nó biết rồi, chớ không phải ngồi, không phải suy nghĩ như hồi trước nữa, không có, không có vấn đề đó.

Rồi, bây giờ nói mấy ông Tiên đó ổng tu; thì ổng nói nghĩa là: ổng nằm tê hết bản thể ổng mới xuất được; đó là thuộc về thiếp, cho nên ổng phải lãnh cái chức Tiên. từ Địa Tiên rồi lên tới giáp giới Thiên tiên, chớ chưa được Thiên Tiên, thành ra ổng phải lo ảnh giữ về cái vía; giáo dục cái vía là ở dưới này. Nằm thiếp là mình nằm tê đi, người ta ngắt mình không biết; thấy chưa? Cái đó là nằm thiếp để đi.

Còn cái này mình, không! mình mở bộ đầu để đi. Hai cái khác! Mình mượn cái bàn đạp này ở đây mình đạp là mình phóng tuốt lên trên kia, mình đi mau hơn, thì mình đi từ Thiên Tiên xấp lên, chớ mình không có đi bên giới Địa Tiên.

Còn nếu mà chúng ta muốn đi giới Địa tiên, chúng ta chỉ ngó ở đây thôi, đừng ngó ở đây, ý ngó ở đây, thì nó sẽ giới Địa tiên. Rồi nó mất một thời giờ lâu lắm, nó mới lên tới Thiên Tiên được. Thì cái tuổi tác chúng ta đâu có chờ đợi! Sai lầm, sau này phải luân hồi lại, hay lãnh một cái chức gì cũng như mấy ông đó, lo giáo dục về cái phần vía mà thôi.

BĐ: Thưa Ông Tám! tôi xin hỏi một câu hỏi chót, nó liên quan về đời, nặng về đời hơn.

ĐT: Dạ.

BĐ: Là, nói vấn đề tu, thì người ta không có tham lam.

ĐT: Ừ.

BĐ: Chỉ có được phần nào đủ để sống, để nuôi gia đình, vợ con, đừng có đến đỗi mà phải đói rách,

ĐT: Ừ.

BĐ: có thể tu được rồi.

ĐT: Ừ.

BĐ: Thì tui có thấy có người bạn đạo đã làm bác sĩ, thay vì ông bác sĩ, ổng mỗi lần xem mạch, ổng lấy 100 đồng, một ngày ổng xem mạch hai chục lần, ông có 2000 đồng.

ĐT: Ừ.

BĐ: cứ nhìn cái số lương của ổng đó, cao có thể nói rằng ngang, hơn là cái ông mà gần cái ông tổng giám đốc,

ĐT: Ừ.

BĐ: Nhưng mà ổng thấy như vầy chưa đủ, là bởi vì: nếu mà làm như vậy đó, thì trong tương lai tôi làm sao mỗi tháng tôi gởi tiền cho con đang học bên Pháp, mỗi đứa ba chục ngàn đồng?

ĐT: Ừ.

BĐ: “… Làm sao tôi phải có cái nhà lớn hơn, tôi phải có cái ô tô đẹp hơn, để mai mốt rồi vợ con tôi nó có thể sung sướng được, chừng nào mà nó đầy đủ hết, tôi mới có thể đi tu được.” Cho nên nghĩa là mỗi một con bệnh, thay vì lấy 100 đồng thì họ lấy 1000 đồng, rồi mỗi một ngày họ thu trung bình là 20000 đồng,

ĐT: Ừ.

BĐ: Nhân ra thì mỗi tháng họ thu trên sáu trăm ngàn đồng,

ĐT: Ừ.

BĐ: Để mà họ đủ cái số tiền đó. Hỏi: “Tại sao ông phải thâu tiền nhiều như vậy?” Họ nó rằng, “Tôi phải làm như vậy, là để tôi chuẩn bị cho mai mốt tôi đi tu; khi tôi đi tu gia đình tôi có đầy đủ rồi, tôi mới đi tu được, tôi mới yên chí; chớ nếu không, trong khi tôi đi tu đó, tâm tôi còn nghĩ tới gia đình nên không thể tu được.” Ông Tám hướng dẫn dùm cho, nếu cái trường hợp như vậy đó, thì cái người mà có cái ý nghĩ như vậy, đối với việc tu hành, nó có kết quả gì không?

ĐT: Nói về tu bên Pháp Lý, thì nó không có kết quả gì hết. Cái đó là nói về tu là tu phước, tu về đời, tu về chùa, là mấy ông đó nghĩa là: “Tôi lo cho gia đình đầy đủ rồi tôi bỏ vô chùa tôi ngồi tôi tu.” Còn mình tu về trong cái gia đình, ngay ở trong gia đình mà mình tu, gia đình bản thể mình là cái chùa để mình tu, thì mình không có nghĩ cái chuyện mà, “Tôi sẽ đi tu! Tôi sẽ xuất hồn tôi tu thôi.” Còn cái chuyện gia đạo, vợ con, thì cái chuyện làm ăn thì cái nghề bác sỹ, thì nó phải theo cái tối tân của cái văn minh, thành ra mấy ổng cần phải có tiền. Tiền để làm chi? Bởi vì một cái khóa nó mới, văn minh, thì ổng phải xuất ngoại, ổng phải bỏ tiền ra, để ổng học thêm; từ 6 tháng đến 1 năm, để về ổng giúp người ta. Hay là những ông bác sỹ đó, nhiều khi có ông có lương tâm, ông mới lấy số tiền của những người nhà giàu để ổng bồi bổ cho những người nhà nghèo; cũng có nữa.

BĐ: Dạ.

ĐT: Mà nhiều ông thì có biết làm giàu không? Thì Cũng có; nhưng mà cái chuyện nhân quả của mọi người nó riêng biệt hết. Nhưng mà theo tôi thấy, một vị bác sĩ mà nếu không có tiền, cái mức tiến của họ chậm lắm, bởi vì họ cần phải cần phải cầu tiến theo cái đà tiến văn minh của ngoại quốc, của Châu Âu, hay là của Mỹ, này kia, kia nọ, họ cần phải 5, 3 năm; 2, 3 năm họ phải đi du học thêm, cái đó là cái tiền đó họ tự bỏ ra. Nhưng mà bây giờ họ có thâu vô nhiều đi nữa, thì trong cái lúc thời chiến, chính phủ cũng có cái phương pháp mà để thu cái số tiền họ một phần, để trang trải giúp đỡ trong cái lúc dân chúng hoạn nạn, họ cũng làm những cái sự phước, chớ không phải làm những chuyện bậy. Tuy rằng họ thâu vô nhiều nhưng mà họ phải đóng thuế nhiều. Cái đó nó cũng có. Cho nên, cái chuyện đó mình hổng có cần suy nghĩ và không cần lo về cái vấn đề đó.

Còn cái vấn đề tu về bên Pháp Lý này, nó khác. Người tu từ trong lúc tu nghèo, cực khổ. Mà người tu đương giàu nhưng mà tu nó nghèo hết à. Là làm chi? Cái tiền bất chánh nó phải đi ra hết, rồi nó mới đem lại cái sự chơn chánh, nó mới trường cửu, mới xây dựng lại một cái cây mới, thay vì cái cây nó sẽ sắp điêu tàn. Tôi thấy nó giàu vậy, mà nó bị một cú không còn gì hết. Phong ba thổi cái là nó ngã, nhưng mà cái đó nó sẽ tiêu hết, không còn cái gì hết; thấy mình: Chết rồi; tui tu điệu này chắc là bán nhà! Mà nhiều khi nói tui muốn bán nhà hết trọi, nó đi chỗ khác nó tu, rồi nó mới lập nên một cái cỏ sở tốt nữa; cái đó nó đi tới vững chai! Chớ đừng có nói: “Tôi tu, tại sao tôi tu chừng nào, tôi nghèo chừng nấy”. Cho nó nghèo đi, cái đó nó bất chánh, nó sẽ có một cái chơn chánh hơn nữa cho cái sự nghiệp của chúng ta ở sau này.

Nhưng mà ở trong kinh nghiệm quá trình, chính tôi ở đây cũng vậy nữa: hồi trước tôi tu, tôi cũng người làm ăn, cũng mánh lới, cũng kiếm tiền đủ chuyện. Nhưng mà tôi tu rồi, càng ngày càng hết, không còn xu nào hết! Bởi vì cả ngày tôi lo tôi tu không à; tôi nói tôi có được cái thanh điển của Trời, Phật là tôi có tất cả những món tiền cũng như Thích Ca đang có; tôi không lo. Tôi chỉ lo tu, tôi sửa lấy tôi, để ảnh hưởng tới tất cả mọi người. Tôi cương quyết làm cái đại sự thay vì cái tiểu sự; thì tôi cương quyết tôi làm. Tới bữa mà, mà chủ nhà hỏi tiền nhà tôi, tôi nói: “Không có, ông ghi cho tôi cái quyển sổ bằng da bò đó, một tôi trả mười, chớ tôi không có bao giờ có tiền nữa. Bây giờ tôi lo tôi tu, tới một ngày kia tôi sẽ có tiền.” Nhưng mà bả hỏi: “Ngày nào?” Tui nói: “Tôi không biết ngày nào, nhưng mà tôi sẽ một trả mười chớ tôi không một trả một.”

Thì nó y như lời tôi nói rồi, rồi tôi thấy tôi đi làm đồ, này kia, kia nọ; nó có tiền. Thành ra bây giờ cái tiền của tôi, hỏi có không? Thì tôi cũng chỉ biết có cái không thôi. Hồi nào tới giờ tôi chỉ nuôi cái không chớ tôi không nuôi cái có. Kêu tôi ngồi tính tiền thì tôi không bao giờ tôi tính, mời tôi ngồi đếm tiền thì không bao giờ tôi đếm. Tu phải vậy đ!. Tôi chỉ có điển là có tiền, lấy cái điển nuôi cái thân tôi thôi; tôi chỉ biết có bấy nhiêu đó thôi. Thấy không? Thành ra những lời mà ông nói về bác sỹ họ tu, thì tùy theo họ, muốn tu về cái pháp này, hay tu về đời? Nó có nhiều cách tu ở thế gian.

BĐ: Cái ông đó thì theo tôi biết ông ấy tu cái Pháp này rất lâu,

ĐT: Ừ.

BĐ: Ổng tu trước tôi nhiều năm.

(mp3.2 - 7:30)

PHẬT HỌC VẤN ĐÁP – Kỳ thứ 10 – Giai đoạn 2, Ngày 7 Tháng Giêng Năm 1973

BĐ: Dạ thưa Ông Tám, Ông Tám chỉ cho chúng tôi biết là do nơi những trợ lực nào mà những người bạn đạo chúng tôi học tu, tự nhiên mỗi ngày cái thần trí nó được mở mang, sáng láng?

ĐT: Bởi vì, hồi nào tới giờ, tôi đã nói rằng, mình tin tưởng cái phần hồn nhập xác á, thì theo sự diêu động của cơ thể, và tin tưởng cái văn minh của vật chất hiện hữu ở ngoại cảnh, thì thành ra mình càng ngày càng tham, càng sân, càng bối rối.

Mà bây giờ mình trở về bên trong bản thể, trở về cái quy nguyên, trong cái không mà nó có, thì tự nhiên càng ngày chúng ta nó càng cởi mở, thay vì chúng ta bận rộn vì ngoại cảnh và cơ thể, tại vì chúng ta nhận định rõ rằng: ngoài cái xác thân này chúng ta còn Hồn Vía, còn một cái nơi phong phú hơn cái nơi ở thế gian này. Thành ra do đó chúng ta mới kêu bằng: “xả phú cầu bần,” liệng tất cả những cái sự Tham, Sân, Si ở trong bộ óc của chúng ta đã nuôi dưỡng hàng ngày. Thành ra cái sự phức tạp đó, nó không còn bao vây chúng ta nữa.

Cho nên, chúng ta càng ngày càng cởi mở và càng nhẹ nhàng, càng tiến. Cho nên, nhiều người tu tới mức độ nào đó, cái gì ở thế gian họ tiếc, họ phải nhớ, đến một cái kiếng đeo mắt hay một cây viết trong túi họ cũng nhớ, bây giờ tất cả những cái đó họ quên hết; thành ra những cái lời nói xấu của người khác, họ cũng bỏ hết, không có nuôi dưỡng ở trong nội tâm nữa, thành ra họ càng ngày càng cởi mở, sáng suốt. Cũng như chúng ta xét; dòm ra, trời đất luôn luôn cởi mở và khai thông, là do luồng điển của chúng ta hòa cảm với Trời, Đất, thì tự nhiên cái bản tánh nó đi tới cởi mở; cái đó là cái lẽ tự nhiên, do cái phương pháp công phu ở đằng này nó sẽ dẫn tới.

BĐ: Thưa Ông Tám, những người tu theo Pháp lý, có khi tự động họ giải thích một vấn đề, mà cái vấn đề đó họ chưa bao giờ học, mà tự động họ giải thích được! Như vậy đó, thì cái lời họ giải thích đó, do nơi cái sự ứng khẩu tuỳ thích, hay là cái sự ứng khẩu tuỳ căn, nó có cái trợ duyên, họ nói ra được?

ĐT: Ông phải nhận định rằng: tất cả chúng ta mở miệng, khai khẩu, là nó do kết tập của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; đó là luồng điển. Nhưng mà luồng điển của chúng ta được thanh cao, thì nó phải sửa cho đúng đắn theo cái luồng điển mà bố hóa từ ở bên trên đưa xuống, nó phù hợp với luồng điển ở bên trên. Mà cái người nào hỏi á! họ cũng phải vận dụng cái luồng điển của bên trong ra, nhưng mà luồng điển đó nó không có sáng suốt bằng những người bên Pháp Lý. Mà những người Pháp Lý hỏi về Đạo pháp á, hồi nào giờ họ không biết cái giới đó, nhưng mà hỏi thét đó, thì bởi vì mỗi đêm, mình có Soi Hồn, có Pháp Luân, thì cái điển của mình nó tăng trưởng ở trên bộ đầu, thì tự nhiên cái điển của mình nó adapter, là nó đứng ngay trên bộ đầu của đối phương: nếu đối phương cao một tấc thì nó cao hơn 1 phân; họ cao hơn 1 phân, nó lại hơn 1 phân nữa. Thì lấy cái sáng suốt đó, nó bố hoá và nó bổ túc cho đối phương. Mà trong lúc nó trả lời thì nó thấy nó sợ, hồi nào tới giờ nó chưa gặp những cái vấn đề đó. Nhưng mà nó đã trả lời khai thông rồi thì hai bên cũng đồng được hưởng cái sáng suốt chung.

BĐ: Ông Tám! Có khi nào họ nhầm lẫn? “Mình tưởng đâu là mình được minh mà trả lời.” Rồi tự động họ trả lời theo ý muốn của họ?

ĐT: Theo cái Pháp Lý đúng, đúng về trên phương diện của điển quang, họ chỉ thọ lãnh để hưởng và sửa chữa, dạy dỗ Lục Căn Lục Trần, trong cái lúc mà họ giải thích một cái Pháp Lý, đối với người khác thì hai bên được hưởng hết thảy, thì nó mới đúng đắn. Chớ còn họ mà tự đặt ra nói chuyện đời, thì cái người đời mà người ta có ăn học, người ta nghe nó không có ăn nhậu gì hết, nó không có dính dấp gì hết, và nó không có cởi mở. Còn người mà đứng trên Pháp Lý trong lúc nó giải thích, mình nghe chừng nào mình thấy phải; mình nghe chừng nào cái lý trí của mình lại càng theo dõi cái sự sáng suốt của đối phương; thì đó nó mới là đúng. Còn cái người nào mà tự bịa đặt mà nói, dựa kinh này, sách kia, nói một chập, cái người mà tu về Pháp Lý không bao giờ người ta nghe và người ta sẽ cảm giác nặng ngực và mệt.

BĐ: Thưa Ông Tám, sự phân tán nghiệp chướng trong 3 năm đầu tiên tu luyện theo Pháp Lý là sự đương nhiên trong đạo giới, hay là tùy căn của mỗi người để mà thanh toán cái thời gian đó mới được giải thể?

ĐT: Thì ít nhất nó phải đòi hỏi trong cái thời gian 3 năm liên tục công phu, thì mới sửa chữa được những cái sự lố bịch ở bên trong, ở trong thần kinh, Mạch Đốc ở trong cơ thể, để trị cho tất cả những cái bệnh tình trong cơ thể, tự nhiên nó giải tán hồi nào, nhưng mà người hành giả cũng không hay. Cái đó nó phải đòi hỏi ít nhất 3 năm nó mới dứt khoát và nó quyết định con đường nó đi tu. Bởi vì, trước kia, bịnh, tuy rằng nhiều người cũng mập lớn, nhưng mà trong cái tâm tình không có cởi mở, thì nó sanh bệnh này, bệnh nọ; nhưng mà từ ngày nó tu ở đây rồi, nó khai thông rồi, những sự mà lỗ chân lông đồ này kia, kia nọ, đều khai thông, phát quang rồi, phải đợi ít nhứt cũng phải một thời gian 3 năm nó mới có thể làm liền được. Nhiều người làm liền được thì cũng thấy ánh sáng vậy, nhưng mà nó không có giải quyết được cái sự rắc rối của đời đã thâu thập từ bao nhiêu năm. Mà ta cố gắng là trong 3 năm ta mới sửa chữa được, phân minh được một phần trược và phần thanh của cơ thể. Mà cái căn cội về phần hồn người có tu trước kia, thì kỳ này nó tu nó thấy ánh sáng; họ cũng thấy đi đây, đi đó, nhưng mà họ không có liện tục mà tu để sửa cái cơ thể, thì họ cũng phải bị cái cơ thể nó lôi cuốn trở lại. Cho nên, có nhiều người đã tu một thời gian rồi, cũng thấy mình xuất đi, rồi ỷ lại nơi cái đó, tưởng là cái đó là sáng suốt; không bao lâu thì bị cái cơ thể này, nó giựt trở lộn lại. Bởi vì cái phần, “Ma nhứt trượng, Phật nhứt xích,” là nó lôi cuốn như vậy đó; nếu mà chúng ta không có liện tục tu thì chúng ta không có tiến vượt mức được cái sự đòi hỏi của cơ thể và ngoại cảnh.

BĐ: Thưa Ông Tám, nếu như vậy thì không phải là tuyệt đối chỉ có 3 năm, mà có thể kéo dài hơn nữa, tuỳ cái căn của cái người đó chưa giải quyết được?

ĐT: Ba năm là cái căn bản của người đã tập quán tu về Pháp Lý. Thì lúc đó, họ có bỏ đi nữa, rồi một thời gian họ sẽ trở lại chớ họ không có bao giờ bỏ được.

BĐ: Thưa Ông Tám, người có tiền tích khi nghe giảng đạo, đúng tích, trông họ bị động giựt?

ĐT: Ừ.

BĐ: Cái đó là do nơi chủ điển phát ra thẳng vào đương sự, hay là đương sự bị có cái cảm tưởng? Ở trong đó, tôi cũng thêm một chỗ, có thể là mình lầm tưởng không? Cũng như là những cái câu sấm của ông Trạng Trình;

ĐT: Ừ.

BĐ: Ông nói tổng quát, quá rộng,

ĐT: Ừ.

BĐ: Người nào nghe cũng thấy đúng?

ĐT: Ừ; Còn cái đằng Pháp Lý này nó khác: bởi vì chúng ta có tu, mỗi đêm chúng ta đã thanh lọc phần trược, phần thanh; thì khi mà những người mà tu về Pháp Lý cao, thì họ đưa phần thanh điển tới, xuất phát ra cho tất cả mọi người. Thì khi cái thanh điển của cái người hành giả, nó ứng, nó đưa lên, thì tự nhiên cái kia nó rút. Bởi vì hai cái chiều hướng nó khác, nó rút đi lên là thuộc về phần thanh điển. Cho nên, khi mà nghe tới, nó động cái nào mà sái quấy là ở trong nội tâm mình biết, biết liền, nó mở liền; là nó đi theo cái thanh điển. Nó có thể nói rằng, trong thâm tâm nó nói: “Tui, bữa nay tôi dứt bỏ sự sai lầm đó; chính hôm qua tôi đã làm việc sai lầm, nhưng mà bữa nay trong cái bài thơ của bạn đạo nhắc tới như vậy đó, thì bữa nay tôi phải dứt bỏ cái việc đó.” Là tại sao nó có thể quyết định một cách cấp tốc như vậy? Là cái sáng suốt của nó đã có một phần, mà nó ứng theo cái sáng suốt ở bên trên của cái Đạo Pháp, nó đi theo cái nhẹ hơn thay vì theo cái nặng của nó đã có.

Còn cái sấm mà nói tổng quát, nói về thời cuộc, nói tổng quát, cái đó là thuộc về cái giới địa tiên chớ không phải về pháp lý tu về bên này; mà cái đó nó nghe, để luận thời cuộc, và luận chuyện bên ngoài, chớ không có xét vô bên trong được. Còn đằng này là ở bên trong; tự nhiên ở bên trong của mình ứng lên, thừa tiếp chớ không phải ở trên bố hóa xuống. Cho nên, do sự khả năng công phu của người hành giả đã làm cho họ ngày càng sáng suốt.

Cho nên, tu lâu bộ đầu nó khai thông. Thường thường tôi nói: “Người mới tu ban đầu trong thời gian 3 năm cũng như thể dọn nhà, dọn vật này, vật kia, vật nọ, rồi lên trên bộ đầu thay vì ở trong ngũ tạng. Thì đó, nó mới kết thành một cái hội đồng ở bên trên. Thì từ ở bên trên mới xuất phát lên, tiếp xúc cái luồng thanh điển ở bên trên, nó càng ngày càng mở càng sáng suốt hơn.” Chớ nó không phải là như, như những cái pháp kia, lý luận thời cuộc, hay này kia, kia nọ; nói tổng quát, rồi người ta không biết đường rờ. Cái này, mình tự biết ở trong thâm tâm mình, mình đi tới mức độ nào, mình hiểu: hồi trước mình chưa có điển, bây giờ cái bộ đầu mình nó nhẹ nhàng; hồi trước mình xét một công chuyện nó chậm chạp, bây giờ mình xét một công chuyện nó mau lẹ. Thì hai cái nó khác xa lắm.

BĐ: Thưa Ông Tám: sửa sai là đường đạo,

ĐT: Ừ.

BĐ: Tự mình sửa chữa hoặc nghe lời khuyên để sửa chữa, nhất là lời khuyên của người truyền Đạo. Dĩ nhiên người truyền Đạo không nói rõ quá, sẽ chạm tự ái của cái người học đạo. Sự động loạn của cái người học đạo có thể làm cho họ không nghe được và hiểu được cái lời của người truyền Đạo. Như vậy, phải làm sao?

ĐT: Bởi vì như vậy; cho nên, chúng ta bắt buộc mượn cái phương tiện của Pháp Lý này trước để sửa cái nội bộ, động loạn ở bên trong. Trước kia người ta bắt đầu Soi Hồn thì ai cũng nghe, “Ồ ồ” trong lỗ tai; sau này nó khai thông rồi, không còn nghe thấy tiếng “ Ồ ồ” nữa. Trước kia người ta làm Pháp Luân, hít vô, hít không được; bây giờ người ta hít một hơi thiệt dài. Trước kia người ta ngồi một chập thấy tê, nhưng mà bây giờ họ ngồi mấy tiếng đồng hồ liên tục không thấy tê. Trước kia họ thấy ngứa, nhưng bây giờ họ ngồi cả ngày đêm cũng vẫn không thấy ngứa. Cái đó là có sắp đặt ở bên trong rồi, thì nhiên hậu họ mới hiểu cái luồng điển của Đạo Pháp. Chớ còn không có sắp đặt ở bên trong, rồi nghe cái lời khuyên không, mà bắt chước cái lời khuyên, nhưng mà bên trong nó không ứng. “Bây giờ nghe một chút, rồi về tôi muốn làm điều đó, giống như ông đó,” Không được; không làm được!

Cho nên, ở đây người ta mới kêu nói thật ra tất cả những sự việc của người thành công; nhưng mà mình phải đi tư từ mình mới đến đó. Cho nên, nhiều người người ta nghe được lời nói của tôi trong 5, 6 tháng; rồi 5, 6 tháng sau họ đi tới đó. “À, cái lời đó đúng! Chính tôi đã nghe trước 5, 6 tháng; mà bữa nay, tại sao tôi mới biết? Là tui đã sửa chữa ở bên trong cái cơ cấu của tui; và cái cơ tầng điển quang tui nó phù hợp với cái cơ tầng điển quang của người hành giả đi trước tôi, thì tôi mới cảm giác được hiểu câu nói đó là nó đúng, tôi mới chứng minh đó là sự thật.” Còn nếu mà chúng ta không có mượn cái phương tiện, mà chúng ta ngồi nghe không, thì cũng như người ta đọc thơ khuyên đời vậy đó, nghe hoài rồi mà cái tánh sửa đổi không được. Bây giờ chúng ta đã có sẵn một cái phương tiện đã sắp xếp hết, bắt buộc ta áp dụng một cái phương tiện; rồi tự nhiên nó đi tới; nghe tới đâu thì nó thông cảm tới đó.

BĐ: Thưa Ông Tám, sự mê tín nó làm cản trở cái việc tu tiến như thế nào? Tôi đưa một cái thí dụ: là tôi có quen với những người bạn, họ thuộc về Công Giáo; họ nhất định là không bao giờ họ mê tín dị đoan. Nhưng mà, rủi cái con gà mái của họ nó ăn trúng cái gì nó ngứa cổ, nó gáy. Họ nói cái đó là sui quá, họ đem làm thịt con gà để đãi khách.

ĐT:

BĐ: Thấy họ không mê tín dị đoan, mà ở ngoài miệng thì nói như vậy, nhưng trong lòng thì nó mê tín quá nhiều! Mà cái sự mê tín nó làm cản trở việc tu hành như thế nào?

ĐT: Cho nên, tôi thường thường nói ở thế gian anh hùng là cả triệu triệu tỷ tỷ, mà cái miệng nói anh hùng, mà tâm không có anh hùng; và tu cũng vậy, triệu triệu, tỷ tỷ cái miệng nói tu, mà tâm không tu. Đó. Không chịu! Đọc kinh thì nói Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, nhưng mà y không làm Đại Hùng, mà y không Đại Lực, và y cũng không Từ Bi. Mà y thoát lời thì y nói đúng ghê lắm.

Cho nên người ta nói rằng, “Tôi tu, tôi không mê tín.” Người ta nói, “Tôi Thiên Chúa Giáo, tôi không mê tín.” “Không mê tín, mà Anh nói tin ai?” “Tin Chúa.” Hỏi chớ, “Chúa ở đâu?” “Không biết!” “Cái gì kêu bằng, ‘Mê tín’?” Đó là mê tín!

Bây giờ chúng ta tin Chúa, chúng ta phải xét từng hành động của Chúa, như tôi thường đã nói, Chúa có một hành động bình thản, không sợ bất cứ những sự diêu động nào, không sợ ai chém giết, không sợ sự đau đớn. Nhưng mà chỉ đem cái tình thương hoà cảm cho tất cả, hướng thượng, không có hướng hạ đấu tranh. Chúa bị đóng đinh, Chúa cũng không có than một lời đau khổ! Và, khi những người hậu thế đã trả thù lẫn nhau, Chúa còn xin ơn trên tha thứ cho chúng nó, vì chúng nó chưa hiểu lấy nó.” Nếu mà chúng tin nơi Chúa, chúng ta phải đi đúng theo đường lối của Chúa, là chúng ta phải hành. Chúng ta phải đi theo cái hành động, trực chỉ của Chúa, Chúa đã dạy cho chúng ta, thì mọi người mới đi tới.

Chớ không có nên nói rằng: “Tôi tin Chúa, chớ tôi không có tin Phật; Phật là giả; Chúa là thiệt. Nhưng mà tôi tin Chúa, tôi không làm giống như Chúa làm, té ra tôi lấy cái thông minh của tôi, tôi lợi dụng Chúa. Tôi tin Phật mà tôi không làm như Phật đã làm! Thì tôi lấy cái thông minh của tôi, tôi lợi dụng Phật. Suốt đời, tôi xuống thế gian tôi là tội nhân, tôi còn gia tăng thêm những cái tội, mà làm cho tôi bàng hoàng, chậm tiến! Đó là do cái sáng suốt của tôi, đã xài sái quấy.” Bởi vì con đường trắng trợn là Phật với Chúa, hai người cũng đã hy sinh, và đã tự hành, tự tu, tự tiến, tự sửa, thành ra một cái nghề sáng suốt của Ngài. Mà bây giờ chúng ta không học mà chúng ta ỷ lại nơi Ngài, thờ Ngài, bắt Ngài gác cửa cho chúng ta! Cái chuyện đó là vô lý! Không có bao giờ tiến tới được. Cái mê tín là nó vậy đó! Cái mê tín là tin mà không làm, kêu bằng mê tín. Mà chúng ta làm rồi mà chúng ta không tin, chúng ta không mê tín. Nó phù hợp với văn minh bất cứ ở thời đại nào.

BĐ: Thưa Ông Tám, có một số bạn đạo, trong khi ngồi công phu thì ngó thấy những cái người họ lại họ dòm sát vô trong mặt mình, rồi họ lấy mặt ra. Như vậy thì ai mà họ dám đùa giỡn với mình trong khi mình công phu vậy?

ĐT: Bởi vì những người đó, trong lúc công phu, những người đó không có dùng cái trung tim bộ đầu mà niệm Phật, mà chỉ dùng cái nội tâm, cái con tim của cha mẹ tạo, và niệm Phật, thì tự nhiên người ta áp đảo tới. Cho nên, đằng này chúng tôi chỉ rõ ràng, phải dùng trung tim bộ đầu Niệm Phật thì chẳng bao giờ chúng ta thấy những chuyện đó. Mà những người mà chỉ áp dụng cái con tim của cha mẹ tạo mà tưởng tới cái “Nam Mô A Di Đà Phật,” thì cái đó là Ngũ Hành trong nhà, người nào cũng có. Hiện tại, ở đây dòm cũng thấy, nhiều lắm! Nhưng mà họ không có bao giờ áp đảo đúng cái mặt mình được đâu!

Cho nên, không nên dùng cái con tim của cha mẹ tạo mà niệm “Nam Mô A Di Đà Phật.” Cho nên, nhiều người đã tu, tự tu ở trong Chùa, ở trong am, này kia, kia nọ, họ chỉ nhờ ơn trên phù hộ, “Dẫn dắt cho con được tu hành”, nhưng mà lấy cái con tim của cha mẹ niệm Phật thì họ phải thấy ma, quỷ. Cái đó là cái chính họ ưng thuận đi tới cái tần đó thì họ phải gặp những cái chuyện đó. Còn mình không có chấp nhận cái đường đó, mình chỉ trung tim bộ đầu xấp lên, theo cái hào quang của Đức Phật; Đức Phật có hào quang xung quanh bộ đầu, mình phải lấy cái trung tim bộ đầu để phát quang ra, mà tiến tới bất động; ở bên trên chớ không phải làm việc ở dưới này.

BĐ: Thưa Ông Tám chỉ chúng tôi là điển của mỗi người khi phát ra thì phát thẳng lên cao, mà không biết cái màu sắc của nó ra như thế nào, và chiều cao nó tùy theo cái sự công phu luyện đạo nó ra làm sao?

ĐT: Có người thì ban đầu, tu ở cái Pháp này á, có người cái bản tính hung hăng á, họ nhắm mắt thì thấy cái chân mày nó màu đỏ, ban đầu đỏ, đỏ bầm; sau rồi lần lần nó đỏ tươi; rồi nó xuất phát nó đi lên tới màu vàng; rồi tới mầu xanh da trời nên mới nhẹ. Qua cái mầu xanh da trời rồi, nó mới có đi tới trung điểm mầu vàng lợt, phát quang. Đó, là lúc đó là cái trung tim bộ đầu điển quang đang được phát ra, nó phải phát trước hết là ở trung tim chân mày; sau này mới trung kim bộ đầu phát quang ra. Thì cái màu sắc đó nó lợt và nó sáng lạn hơn cái màu mà chúng ta đang có bây giờ đấy,

BĐ: Dạ,

ĐT: Ban ngày này; nó sáng mà nó mát và nó không có diêu động. Thì thường trực ở trên bộ đầu. Những người tu mà có phát quang cái điển là nó lên như vậy đó. Người mới thì nó màu đỏ, những người tánh nóng nó phải màu đỏ ra trước. Còn nhiều người mà cái tánh hiền á, nó có thể đi tới màu vàng, qua cái màu xanh liền; những người đó nó hiếu đạo nhiều lắm; nói sơ sơ họ biết liền.

BĐ: Thưa Ông Tám,

ĐT: có người không thấy cái gì hết, lại nó thấy chạy ngay trung tim bộ đầu. Đó! Nó có một phần điển trực chỉ lên trên; mà nó phải tu lâu rồi nó mới có trực chỉ lên trên: vừa động tới nó cái nó minh cảm; vừa động tới nó cái nó hiểu; vừa động tới nó cái nó biết. Thì cái đó, cái điển đó nó đi về Không Không, Thiên Tiên, Phật Pháp.

BĐ: Thưa Ông Tám, cái phát chiều cao nó lên đó, độ chừng bao nhiêu cao?

ĐT: Cao thì tôi không biết bao nhiêu thước, nhưng mà cái đó xa lắm; bất cứ nơi nào nó cũng đi tới. Nếu mà đi tới Trung Thiên, như là mầu tôi nói hồi nãy đó, thì bất cứ chỗ nào nó cũng có thể đi tới được. Ngoài vũ trụ, chỗ nào nó cũng đi tới được, mà mình không có thể đo lường được, bao nhiêu thước. Bất cứ chỗ nào cũng đi tới được; trong nháy mắt là nó phải tới.

BĐ: Tui nghĩ nó như là một cái ánh sáng của cái đèn nó phát ra?

ĐT: Nó phát ra, nhưng mà ăn thua sự điều kiện của Chủ Nhân Ông: nó muốn xuất phát ở chỗ nào cũng được hết. Đông, Tây, Nam, Bắc, nó muốn phân chia ở chỗ nào cũng được hết. Nó đi tới chỗ đó là tự động rồi, không phải là sức hút của chỗ này mạnh, nhưng mà nó đã liên kết ở trên kia, thì sức hút ở trên kia, nó động tới đó thì nó rút nó đi lên, tới nơi đó nó cảm giác, nó hiểu, tới chỗ đó liền. Cũng như chúng ta ở thế gian mà chúng ta làm, bây giờ làm việc ở trên một cái cơ sở cao, cấp chỉ huy thí dụ, thì tự nhiên communication (MP3.2 - 24:40) của Ông, Ông ngồi đó, Ông bấm, ông có thể nói mấy chục cây số cũng được, mấy trăm cái số cũng được; nếu mà có cái tốt ở bên kia nó hút liền. Thì cái bên này của chúng ta cũng vậy, cái điển của chúng ta lên vượt khỏi cái sức hút của hồng trần rồi, thì lên trên đó, thì sức hút của thanh điển nó hút còn lẹ hơn sức hút của hồng trần.

Có nhiều sự chứng minh cho chúng ta thấy? Những vị đi lên APOLO, lên cung trăng, cái sức hút nó động một cái thì nó bay con người lên, chớ có gì đâu. Mà chúng ta đi lên trên đó cũng vậy, hễ động là chúng ta bay đi.Thành ra nó kêu bằng không có thể tính thước, tính số, tính gì hết; tính ra cho Ông cho nhiều, nhưng mà rốt cuộc không số, không thước, nó mới là đúng! Muốn là tới; muốn là phải có. Đi tới cái Không Không.

BĐ: Thưa Ông Tám! Nếu nói như vậy thì đối với Bạn đạo trong khi ngồi công phu, ông Tám dòm thấy điện nó phát xuất lên Ông Tám khỏi cần hỏi người nào cũng đều biết hết?

ĐT: Cái đó là biết được rồi; nếu tôi không xét biết được thì tôi không có nói công chuyện hàng tuần của họ trong bài thơ!

BĐ: Thưa Ông Tám! Nói như vậy là điển, điển quang của Phật đi như thế nào; và linh điển của ma, quỷ nó đi như thế nào? Tôi thấy hai cái hình như nó có cái khác biệt?

ĐT: Bởi vì Ma Quỷ thì nó vẫn ở cái giới sức hút thấp hơn của hồng trần, con người. Con người là bị sức hút của hồng trần, mà nó còn dưới nữa, nó là cũng như ở trong cái bản thể ta là cái Hoả Tam Muội đó, ở chỗ đó còn nóng nực hơn nữa, xuống một cái lớp nữa. Còn mình ở đây là thuộc về sức hút của hồng trần. Còn sức hút của Phật là thuộc về thanh điển, vượt cái mức hồng trần; hai cái nó khác nhau. Nó nhẹ nhiều lắm: cái sức hút bên kia nó không có dưỡng khí. Nó có một cái thanh điển khí, chớ không phải dưỡng khí như ở thế gian.

BĐ: Thưa Ông Tám, tôi thấy người ta nói là: “Bà giáng” hay là gì đó.

ĐT:

BĐ: Nó có một cái làn xanh, ngũ sắc, bề ngang nó chừng độ 4 tấc, nó bay từ hướng này qua hướng kia rồi nó nhập vô trong một cái cây, hay một cái gì đó. Cái đó là điện của ma, quỷ, nó là thuộc về linh điện, hay là điện của Phật, mà họ kêu là điện của Phật Bà?

ĐT: Không có Phật Bà! Nếu mà của Phật Bà đó, không có phải là bay như vậy, đáp trên cây. Cái đó là điển của Ngũ Hành. Các cây cối đều có những vị đó làm việc. Thì đối với những cặp con mắt kêu bằng, thuộc về phần âm đó, họ dòm họ thấy. Nhưng mà nhiều người thuộc về phần dương dồi dào, cũng đồng đứng với người đó mà không thấy. Nhưng mà người kia nó nói, “Phật Bà giáng rồi!” Cũng ăn bận áo mão vậy. Nhưng mà người về phần dương người ta dòm, không có. Cái phần âm thì nó thuộc về ở dưới thấp này, nó thấy.

BĐ: Thưa Ông Tám, nhưng mà cái lằn đó nó sáng lắm,

ĐT:

BĐ: Nó sáng nghĩa là tất cả ai cũng ngó thấy, một cái lằn nó sáng, mà nó rộng lớn, mà nó chạy dài cũng như là chiếc chiếu cổ mà người ta cúng thời ngày xưa ấy.

ĐT:

BĐ: Nó chạy dài, nó sáng cũng như là một cái hoả châu, một cái phi đê gì (mp3.2 - 27:32) nó bay.

ĐT: Cái đó là thuộc về bên Ngũ hành phía dưới này không, chớ không phải điển của Phật Bà. Còn nếu của Phật Bà Quan Âm bên Pháp Lý này nhận xét á, thì nó sáng, mà sáng thanh lắm, cực kỳ, theo cái người được tu cao kìa mới dòm thấy, còn người tầm thường ở đây cũng không thấy được. Mở mắt không có thấy được, phải nhắm mắt thấy cái ánh sáng rõ ràng, từ ở trên chiếu rọi. Không bao giờ Ngài xuống thế gian nhưng mà Ngài đưa một luồng sáng xanh, đi tới. Còn Cái người mà tiếp được cái đó, người nó nhẹ nhàng, quên hết những thế sự không có bệnh hoạn của nội tâm nữa.

BĐ: Thưa Ông Tám, như vậy thì còn cái điện, tựa như chúng ta đương ngồi đây, mà không biết ở đâu tự nhiên nó chạy đến,

ĐT:

BĐ: Và nó làm cũng như dây điện ở trong nhà nó bị chạm điện, nó xẹt lửa điện, cùng hết, mà lửa trắng. Như vậy điện đó là điện của ma, quỷ, hay điện của Ngũ Hành, hay là điện gì?

ĐT: Không phải! cái điện của mình xuất ra trong cái lúc công phu; hai cái luồng điện, hai cái xuất điển của âm, dương nó đi hợp lại tại một cái giao điểm, mà nó chưa được đúng mức, thành ra hai cái nó choảng, thành ra ta thấy vậy chứ không có gì đâu. Và của mình xuất ra chứ không phải bên ngoài vào.

BĐ: Thưa Ông Tám! Vừa qua rồi, ngày hôm qua, ngày hôm kia thì trong cái khi mà làm lễ giỗ ở nhà ông thân sinh tôi.

ĐT: Dạ.

BĐ: Thì trong lúc đó, vào lúc 3 giờ chiều, 2 giờ chiều, trong lúc mà ông thầy Chùa ổng tụng mà đem vong, rước vong về để mà cúng, thì qua thấy tới chừng độ một giờ đồng hồ sau, thì trên nhà cái điện nó làm như là tự động ở đâu? không biết có ai lao xẹt vô? cùng lóe điện lên hết trọi, mà điện trắng. Tôi có mấy người chị bị đau tim dòm thấy hết hồn luôn, cả ông thầy chùa nữa,

ĐT:

BĐ: Cả ông thầy Chùa ổng nói cái đó là Linh điện, bởi vì ổng không phải học tu như mình đây mà giải thích được; ổng nói cái đó là Linh điện!

ĐT: và 12 giờ khuya mới là thật sự là tu; có thì giờ cho họ làm việc. Nhưng Họ lười biếng thì họ phải gánh lấy thôi, họ muốn tạo nghiệp. Lười, thì họ phải chịu. Tu cái pháp này không khó

Không có pháp thiền nào mà nói người ta bỏ công chuyện xã hội hết. Không có cái pháp nào hết. Pháp thiền nào cũng dạy con người ta đi tới văn minh, thông minh làm việc nhiều hơn mà không có tính toán, không có ỷ lại.

(Track #1 mp3.1 giống Track #4 mp3.4)

(track #2 mp3.2 giống track #3 mp3.3;)

(Bắt đầu của mp3.4 giống mp3.1; mp3.4 dài tới 31:1)

(track #5 mp3.5 phần đầu nghe giống một bài Mẫu Ái; track #5 từ phút 00:35 tới 46:36)

(bắt đầu track #6 mp3.6 là nối tiếp của track #5 mp3.5)

Huy Quang chép;

Xuân An, Xuân Dung, Kiệt đang duyệt lại

(bắt đầu track mp3.5)

Saìgòn ngày 7 tháng 4 năm 1973

Thế cảnh nhơn sanh diễn tiến huyền
Minh tâm kiến tánh liễu tiền duyên
Âm dương tương hội đồng chung tiến
Sắc thế đảo điên sống ảo huyền.

Ở thế gian con người sanh ra làm người, nó diễn tiến; ở trong đó nó có bao gồm những sự huyền bí mà trong cái tâm khảm con người không có dự liệu trước được. Mình có tu, minh tâm kiến tánh, mình mới biết cái tiền duyên của mình: từ kiếp trước đã tương ngộ với ai, ngày nay mới tương hợp ở thế gian.

Âm dương tương hội đồng chung tiến; chúng ta có hồn có vía trong bản thể đồng chung tiến, tự sửa chữa, minh cái thiện ác. Sắc thế đảo điên sống ảo huyền; ở thế gian bày chuyện này chuyện nọ, rồi rốt cuộc mình bày ra, rốt cuộc mình cũng chán nản, sống ở trong cái ảo mộng của sự huyền bí mình không thấy được.

Cuộc đời thơ mộng nối liền

Tiền duyên tái hợp triền miên thế tình

Xét ra cũng bởi tại mình
Do nơi khởi điểm tạo tình thế sanh

Đó! Cuộc đời người nào sống tới mấy mươi tuổi đi nữa, rốt cuộc rồi cũng còn cái chuyện thơ mộng, muốn cái này, muốn cái kia, muốn cái nọ. Rốt cuộc không có kết thành cái gì hết. Tiền duyên tái hợp; thì chiến tranh ở thế gian cũng vậy, cái kiếp trước mỗi 600 năm nó đều thay đổi 1 lần, nó tương ngộ, nó triền miên, nó luân hồi lại thế gian ở đây. Xét ra cũng bởi tại mình; do nơi cái khởi điểm của mình: trước kia, tiền kiếp mình thề nguyện và mình ước nguyện để tôi kiếp sau, tôi sẽ tiếp tục: một là trả thù, hai là giúp đỡ. Cho nên mỗi người có một cái tánh đặc biệt khác nhau

Xem hình tỏ rõ kiếp căn

Mỗi người khác mặt ăn năn lần lần

Mỗi người đều có mắt mũi tai miệng, nhưng mà cái kiếp căn họ khác thì mặt mày họ phân ra khác. Rồi lần lần họ đụng chạm, tự họ ăn năn lấy họ, sửa chữa lấy họ.

Chuyển xoay xoay chuyển xa gần

Tầng cao tầng thấp tự lần tiến thăng

Mỗi căn mỗi quả mỗi phần

Thanh cao ô trược quay quần chuyển luân.

Đó! Nó chuyển, chuyển xoay xa gần từ nhỏ đi tới lớn, từ lớn, cái bộ óc của chúng ta càng ngày càng đụng chạm thì nó càng nghĩ, những cái truy tầm những cái chuyện xa gần, cái chuyện lợi hại, cái chuyện thấp cao của cái vũ trụ. Và chúng ta lần tiến thăng, sửa chữa; tới cái lúc mà đến ngày lão, bệnh, tử, cái ngày đó chúng ta mới tom góp lại, mới tìm hiểu cái sự sai lầm của mình mà để sửa chữa cho phần hồn được nhẹ nhàng. Mỗi người một căn quả khác nhau, tới luật định, tới lớn tuổi rồi, chúng ta mới thấy cái sự ham muốn của chúng ta nhiều lắm. Nhưng mà rốt cuộc không có đoạt được bao nhiêu, tới lúc già rồi thì thấy tất cả cũng phải buông xuôi trả lại cho thế gian, chớ không đem được cái gì. Cái sự thanh cao, cái ô trược ở trong bản thể của chúng ta, nó cứ quay quần chuyển luân ở thế gian, trong đầu óc của chúng ta hàng ngày. Một chập thì thanh bạch, một chập thì tưởng cao siêu, một chập thì theo sự diêu động của cơ thể, nó theo cái chuyện ô trược ở thế gian.

Thiên đàng địa ngục xa gần

Cảm thông chơn chánh hợp phân thế tình

Từ thiên đàng tới địa ngục xa gần mà chúng ta tu, cái luồng điển của chúng ta có thể cảm thông được sự chơn chánh, địa ngục nó cũng có sự chơn chánh; chơn chánh, tại sao người ta xuống địa ngục mà người ta ở lại bị giam? Mà những người tu ở đằng này xuống địa ngục lại không? Bởi vì người ta đi lên thiên đàng trước khi xuống địa ngục, thì tự nhiên cái điển chánh xuống rồi nó chỉ xét, rồi nó đi. Chớ nó không phải tựu ở đó, mà nó bị kẹt ở cái thế cờ ở dưới địa ngục, thành ra người phàm ở thế gian nó chết thành con ma, nó bị đày đọa xuống đó, nó không có thể tiến nổi, nó không biết đi con đường nào hơn là phục tùng. Bị những sự hạch hỏi của kiếp sống của con người, rồi nó bị đau khổ về tội lỗi.


Xét trời xét đất xét mình

Bản thân ô trược thế tình đa đoan.

Đó! Khi mà chúng ta cảm thông cái chánh pháp của địa ngục và thiên đàng, nơi nào nó cũng có cái điểm liên kết cho chung hết thảy, nhưng mà chúng ta đi ngoài cái điểm đó thì tự nhiên chúng ta đi nơi cái diêu động. khi mà ta đi vô cái điểm chơn chánh rồi á, chúng ta mới xét trời đất, rồi xét lại mình, thì bản thân ô trược, thế tình đa đoan. Thấy cái bản thân ô trược; cho nên, chúng ta mới tu, chúng ta mới sửa, phải đánh đổ sự ô trược và đánh đỗ những cái sự đa đoan của bộ óc của chúng ta.

Ai ai cũng muốn sướng sang

Trường sanh vĩnh cửu theo đàng hóa sanh.

Người nào sống ở thế gian ai cũng muốn sướng, muốn sang hết, muốn trường sanh vĩnh cửu theo con đường hóa sanh ở thế gian này.

Người tu càng phải chuyên hành

Chuyên môn luyện pháp sớm thành chơn nhơn.

Chúng ta bước vào con đường tu là sửa, phải chuyên hành, là phải chuyên môn luyện cái pháp, cái đó là cái nghề sống của chúng ta. Từ đời qua đạo, phải tự sửa, phải cố gắng tu hành nó mới trở nên một chơn nhơn, rồi nó quy nguyên cái phần hồn của nó, nó mới trở nên một chơn nhơn được

Cơ năng bản thể quy hườn

Kim thanh hỏa thổ tiến hơn người phàm.

Cái cơ năng bản thể của chúng ta nó quy hườn, chỉ nó đem cái kim thanh, cái âm thanh của điển quang và cái thanh điển của cái hỏa của nội tâm và cái thanh khí của trong cái cơ thể đem lên, tiến hơn người phàm. Nó khác hẳn tư tưởng và hành động của nó đều tự sửa chữa mới hòa hợp với sự diêu động ở bên trên, thay vì hòa hợp với sự diêu động ở bên dưới.

Bộ đầu điển hội phân đàm

Thế gian thanh trược chia làm hai nơi.

Cái bộ đầu của chúng ta, cái điển nó hội ngay trung ương, trung tim bộ đầu, nó phân đàm, nó lí luận, nó tìm hiểu, cái sáng nó xét lại cái tối. Đó! Thế gian thanh trược phân minh, nó có hai nơi, cái nào đem đi được là đem đi, cái nào không đem đi được thì chúng ta đành chấp nhận để ở lại, còn người không tu, nó không phân minh được, trược nó cũng ôm ,cũng giành; mà thanh nó cũng muốn. Hai cái nó ôm lại, hai cái chỉ có lấy có một thôi, chớ không được lấy hai một lượt. Nhưng mà người thế gian họ ôm lấy hai cái, thành ra tu hoài nó cũng bị lộn xộn, không có tiến được là vì vậy.

Cha trời mẹ đất tạo duyên

Tiền căn hậu quả nối liền căn cơ

Phân thân chuyển kiếp giấc giờ

Huyền cơ tạo hóa chuyển cơ thế tình.

Cha trời mẹ đất tạo duyên; đó! Trên có cha là trời, mẹ là đất; tạo ra con người ở thế gian, tạo ra những cảnh thơ mộng, tạo ra những cái sự duyên dáng mà để cho con người theo đuổi và tự tìm hiểu lấy cái luồng điển từ bi của nội tâm. Tiền căn hậu quả nối liền căn cơ; từ có trước mới có ngày nay, chúng ta nếu càng ngày càng tu quy nguyên trở về cái chơn tâm, chúng ta mới hiểu được tiền căn của chúng ta.

Phân thân chuyển kiếp giấc giờ; mẹ thì đẻ ra con, con rồi cũng đẻ ra con, cái sự đó phân thân chuyển kiếp giờ phút nào cũng có người xuống thế gian chuyển kiếp. Huyền cơ tạo hóa chuyển cơ thế tình; trong cái bí mật mà người phàm không thấy được, nhưng mà loài người, nó vẫn tiến theo cái đà tiến của nó, tùy theo sự sáng suốt của mỗi phần

Nguyên lý thanh cao kết hợp bởi trời đất rất huyền diệu: sắp đặt đâu vào đấy, rất khó đỗi sai lầm, sự sắp đặt không có bao giờ sai lầm được. Nên nhiều người tức giận đấu tranh, nói: tôi cũng mặt mũi như ổng, tôi học cũng bằng cấp như ông đó vậy, mà tại sao tôi không làm được cái việc đó. Mà tôi ngày nay, con người tôi nó suy tư cũng thua sút người ta, học cũng một lớp, một cái bằng cấp mà tại sao tôi ngu hơn họ. Nó có sự sắp đặt về huyền cơ phần điển quang của mỗi người, nó đều có, cái cơ tầng khai thông của nó đều có, chớ không phải không. Cho nên nhiều người phân bì, vì sự phân bì đó mà nó làm cho càng ngày càng lụng bại, tâm hồn không có tiến nổi, rồi đâm ra sân si trở nên độc tài, phí công học hành, rồi trở nên cái bản tánh độc tài rồi xử sự không tốt đẹp với những người ở xung quanh mình.

Nhơn sanh tự tạo tự tầm

Trở về chốn cũ chẳng lầm chẳng sai

Tịnh tâm thấu đáo thiên đài

Tâm còn diêu động thân ngài bất an.

Đó! Nhơn sanh tự tạo tự tầm; thì cái sự sáng suốt là cái phần hồn của mình; từ tiền kiếp, mình đã làm cho cái kiếp này. Có nhiều người ở kiếp trước có tu, kiếp này tâm hồn người ta thanh thản là vì cái gì? Là vì người ta bỏ qua tất cả, tha thứ, người ta không có chấp. Đó! Thì cái con đường đó, họ đã tạo ở trước kia, ngày nay họ mới được hưởng, trở về cái chốn cũ, tất cả đều quy nguyên, người ta thông cảm được cái cơ thể con người, tất cả phải quy nguyên về Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, nó không có sai.

Sớm minh cảm cái đó thì cái tâm của chúng ta mới tịnh, mới thấu đáo thiên đài ở đâu. Chính bản thể của chúng ta cũng có cái thiên đài, mà minh cảm được cái thiên đài của bản thể này rồi mới minh cảm cái đại thế giới được. Tâm còn diêu động thì lúc nào cái thân mình nó cũng bất an là lo cho đầu này, lo cho đầu nọ, lo cho sự thất tình lục dục, tham ô, nó xúi dục, nó làm cho cái bản thể hư hao, càng ngày càng chậm tiến, cứ cho cái ngoại cảnh là tốt, rồi nó vày xéo cái nội tâm của mình. Có sanh là có diệt, vạn sự cũng do sự kích động và phản động rốt cuộc rồi cũng trở về với hư không

Chớ nên ước nguyện ngóng trông

Khai thông bình thản hợp phần chuyển luân

Duyên tình lảo đảo quay quần

Tâm ta dứt khoát chẳng cần lo âu.

Đó! Không có nên ước nguyện, ngóng trông việc này, việc nọ, việc kia. Mỗi người có cái căn quả khác nhau, không có người này, tôi không làm được cái việc cho người kia đâu. Trừ phi ở bên trên về cái thanh điển, mỗi người nó có cái căn, cội ở trên thiên đàng, mỗi người đều có về cái ngôi sao của nó sáng tối; cái đó là ở bên trên, phần điển có thể chiếu rọi cho nó một chút thôi, chớ không có tham gia vô trong cái cơ thể nó mà làm được một cái việc gì. Cho nên người tu, nó khai thông, nó biết cái căn cội của nó, thì cái tâm nó càng ngày càng cởi mở, nó khai thông, nó làm cho cái tâm nó được bình thản, nó mới hợp được cái vòng chuyển luân của cái luồng điển bộ đầu của nó.

Duyên tiền, duyên tình mà nó theo con tim của thế gian, theo cái sự tham ô trong cơ thể của nó, nó lảo đảo, xoay vần, đi theo cái duyên tình không có bao giờ dứt khoát được. Bây giờ chúng ta tu, là người tu cái tâm ta dứt khoát chẳng cần lo âu, cái gì chúng ta dứt khoát hết. kim ra kim, mộc ra mộc, thủy ra thủy, thổ ra thổ, không có cho nó dồn một cục mà nó dục. Nếu mà chúng ta thả lỏng, nó dồn cục là nó dục. Cho nên bắt buộc chúng ta phải mượn cái pháp này, làm pháp luân để cho nó xả, quen thói rồi, nó phải quy nguyên, chạy theo cái chiều hướng. Lúc ta hít vô là tôi đang đem nó ra, chớ không phải hít vô là ta giữ ở đó đâu. Bởi vì ta đem cái sáng suốt ở bên trên để dìu dắt cái tối tăm trong cơ thể, thì tự nhiên kim mộc thủy hỏa thổ nó phải quy nguyên theo chiều hướng huyền dịu của trời đất, chớ không bao giờ bị nuôi dưỡng uất hận của những người phàm ở thế gian. Họ hở ra là gây, la, lô đủ chuyện, còn cái đằng này nó mở, cái tâm hồn nó thanh thản rồi, nó không có bị lôi cuốn bởi sự kích động, ô trược của ngoại cảnh nữa.

Vạn sự khởi đầu bởi nhất không, rồi lần lần chạy theo mọi sự diêu động ở xung quanh, càng ngày càng tràn ngập vào bộ óc, chứa đựng đầy tham lam ô trược, tự gạt lấy mình mà không hay. Tưởng lầm là ta đã đạt thành, còn đối với những người tu hành thì không nên ước nguyện quá nhiều. Rốt cuộc đạo cũng chẳng thành, nhưng làm người cũng chẳng xong, đó! Chúng ta tu, mà chúng ta ước nguyện quá nhiều cũng không được, khi chúng ta tu là chúng ta sửa, sửa từ giai đoạn một, tới giai đoạn nhì, rồi giai đoạn ba, giai đoạn tư…cứ đi lần lần vậy đó, trật tự thì các bạn sẽ đi tới 100%.

Còn các bạn chưa gì, cứ mỗi đêm muốn gặp Quan Âm, muốn gặp Đức Phật, rồi muốn gặp bạn này, bạn kia, bạn nọ; vô ích! nó không có làm lợi gì cho bạn hơn là bạn tự sửa lấy bạn. Cho nó có cái cơ cấu căn bản, lập cái đài để chúng ta thăng tiến, căn bản đó chúng ta mới đi được. Chớ chúng ta ngồi, chúng ta cầu nguyện hoài; cho nên, người ta dạy ở trong đó có hai câu cầu nguyện là nói đó, để cho Lục Căn Lục Trần, là bởi vì nó theo cái tập quán của thế gian: tham ô. Mình lấy cái uy quyền cửa Đức Phật một chút để cho nó tưởng tới cái đó, nó không có phá khuấy con tim, mình dễ công phu.

Còn về phần hồn, chúng ta cứ để nó quy nguyên về tất cả những sự tự nhiên, chúng ta kêu bằng Từ Bi Hỷ Xả, bỏ tất cả những cái rối loạn bên trong, để cho nó đi lần lần là do sự công phu dày công của mình nay một chút, mai một chút. Nó mới kết tập thành sự sáng suốt, sự sáng suốt đó, nó có một chút xíu thôi, một điểm chút xíu thôi mà nó có thể biến hóa vô cực vô biên. Chớ không phải là bạn cần phải đem hết cả một cái bản thể đi tới đó, không! Cái điểm đó nó khác, cái loại cái điểm đó nó sáng hơn cái điểm…(nghe không hiểu mp3.5 - 13:40) mà một chút đó thì nó biến hóa bất cứ tới chỗ nào nó cũng đi tới được, vừa động là nó tiến.

Mà muốn có cái đó thì chúng ta phải tom góp, phải công phu, phải đánh đỗ những cái trược khí nó đang bám sát vô bản thể của chúng ta là cái phương pháp chánh mà chúng ta mỗi người đang thực thi ở đây. Mượn cái trớn đó để đánh đổ cái tà khí của nội tâm. Thì các bạn chỉ làm bao nhiêu đó, rồi các bạn đừng có trông mong, rồi nói: tôi ngồi sao tôi không thấy như vày, thấy kia, thấy nọ. bây giờ có thấy, không thấy cũng thây kệ, tôi hành cái này thì nó điều hòa trong cơ thể, mà cái cơ năng của tui, cơ thể của tui, nó điều hòa được, thì cái điển của tôi nó xuất phát lên trên thì nó hòa hợp với cái điển của vũ trụ. Thì nó hòa hợp với tầng nào thì tầng đó họ sẽ rút tôi.

À! Cái căn bản có chút xíu đó mà không làm, rồi nhiều người coi kinh, rồi nói đủ chuyện hết. nhưng mà rốt cuộc những cái kinh kệ ở đằng này, người ta nói chỉ ngay ở trong con tim của mình, chỉ ngay trong ngũ tạng của mình, chỉ ngay từ lỗ chân lông của mình, để mà mình khai thông nó ra. Lo làm việc của mình cho mình trước hết đi, đừng có nghĩ cái chuyện bao đồng của thiên hạ. Rồi nghe ông này hay, ông kia hay; rốt cuộc đi, rồi rốt cuộc mình cũng không có biết được cái gì hết. Cho nên, cái công phu ở đằng này, người nào mà dày công thét rồi lần lần nó không có nhớ thế sự nữa, tuy là nó làm ở trong một cơ sở bề bộn, đủ công chuyện mà nó coi tất cả đều là hư không chớ không có gì là sự thật đối với nó hết, thành ra cái tâm nó không động.

Mà cái tâm không động thì cái sáng suốt nó đều tăng và nó tươi tắn, nó làm được nhiều việc hơn, làm có lợi ích hơn cho chung, chớ nó không có nghĩ cái chuyện cá nhơn riêng biệt đó, để nó lấy cái sáng suốt mà nó ghìm người khác, phỉnh phờ người khác và làm cho người ta đau khổ vì nó. Nó đi cởi mở, nó lo nó cởi mở nó, nó ảnh hưởng người khác. Cho nên, các bạn tu cái pháp này, tui thấy nên hành đúng như vậy và lo công phu mỗi ngày, được một giờ thì hay một giờ, hai giờ thì hay hai giờ. Lo công phu lần lần rồi nó sẽ kết tập, nó đem lại cái thông minh cho bạn, trong lúc bạn nói đạo, bạn cũng phải sợ rằng, bạn cho rằng bạn nói láo. Nhưng mà không đâu, cái mà bạn ngồi, bạn suy nghĩ, bạn ra bạn đặt mà để nói đó, nó không hay bằng bạn thả tự nhiên để nó nói.

Thì ở đây có nhiều người có thể nói pháp được, nhưng mà cũng còn ngần ngại, cũng còn sợ là mình nói không đúng. Các bạn cứ để tự nhiên nó tới mức nào ở bên trên người ta dắt tới đó, tới cái mức đó người ta hút, người ta đem tới cái sáng suốt cho mình, thì càng ngày mình tiến tới. Mình tu nhất kiếp ngộ nhất thời, công phu nhiều ngày nhiều giờ, nhưng mà trong nháy mắt là chúng ta đã đi khỏi bản thể mà không hay. Nhiều người tưởng rằng, nói: tôi tu đến bây giờ mà tôi không hiểu cái gì, tôi không có cái gì, cũng không được. Bạn có tu, là tự nhiên cái Soi Hồn là điển chư Phật đã chiếu diệu trong bộ đầu của các bạn, mà các bạn không thấy, mà cái điển những người tu ở đây cũng dắt với nhau hàng đêm, hàng ngày.

Cho nên, các bạn không có lỗ lả đâu, nếu các bạn cố công phu thì cái điển của các bạn nó sẽ tiến mau lẹ, mà nó đem lại cái sáng suốt ở bên trên. Các bạn sẽ thông cảm càng ngày càng xa, vượt mức thông minh của người đời, chớ không phải nói tu cái này càng ngày càng ngu đâu. Ở thế gian ta ngu là ta bỏ những sự tối tăm, ô trược của trước kia, rồi ta đi tới sự thanh cao. Ở thế gian, họ thấy mình nhịn nhục, họ tưởng mình thua, không! Mình nhịn nhục để mình sửa mình, để ảnh hưởng lại sự sáng suốt và minh cảm trời đất, chớ không phải mình nhin nhục mà để đi đấu tranh, càng ngày càng chôn vùi cái tâm hồn của chúng ta, làm cho chúng ta càng ngày càng tối tăm, cái đó không có! Cho nên, các bạn nên tiếp tục công phu theo những lời tôi khuyên nhủ hàng tuần, là mình xét mình, mình đánh đổ mình, khai thông mình. Chớ không nên nghĩ cái chuyện là làm cho ai hết, các bạn mà còn nghĩ là làm cho ai thì các bạn phí công phu lắm, nhưng mà không có được.

Khi mà các bạn lên trên cao rồi, thì bạn đạo với nhau nhờ một chút là bạn động, tâm động thì thần tri, lúc đó cái điển của Đức Phật chiếu rọi cho họ cái chút xíu, nhưng mà không có phí công nhiều. Còn nếu các bạn tu chưa tới đâu, các bạn cứ ngồi đó cầu Phật giúp tôi chuyện này, giúp tôi trúng số, giúp tôi đủ thứ hết thì làm cho các bạn đau khổ thêm, bộ đầu nó nặng là vì cái lý do tham lam đó thôi. Cám ơn các bạn!

BĐ: (… câu hỏi đã bị cắt)

ĐT: “Ông nào lãnh đạo Cộng Sản, tôi bóp cổ chết hết; ông nào lãnh đạo Quốc Gia, tôi bóp cổ chết hết, để họ bầu tôi lên làm vua.” A; có người nói, “Tôi xuất hồn tôi làm điều đó!” Cũng không được! Có ông đó nói: “Tôi tu rồi tôi đi kiếm một cái mỏ ngọc, là tôi tu đủ rồi;” hay là “Tôi đi kiếm cái mỏ vàng là tôi sẽ ăn không hết rồi;” cái đó là thất bại. Còn cái tu này phải nhớ rằng: Đức Phật Thích Ca đã thành công, mà trong lúc Đức Phật Thích Ca thành công mọi người đều chê Ngài là một người ngu dại, dốt. Nhưng mà bây giờ người ta xét sâu chừng nào thì người ta thấy: một nhà cách mạng đúng đắn, rất anh hùng, cao cả, thông cảm Vũ Trụ, thông cảm vào Trời Đất, thông cảm tất cả nhơn tâm ở thế gian! Cho nên người ta mới đặt cho sự cảm động và cảm mến khi đọc tới những cái lịch sử của Ngài; người ta muốn tìm Ngài.

Cho nên, mình ở đây cũng do cái thông minh và cái lanh lợi của chúng ta, thâu góp được, lượm được cái pháp này, là mượn cái phương tiện để khai thác lấy mình, để tiến lần tới Đức Phật. Thì phải cố gắng tu mới được; cứ tu đi, chớ tu mà làm bậy hoài mà nói, “Tôi tu mười năm;” không được; không có làm bậy được! Lấy cái sáng suốt của mình đi mà sử dụng cái khác, là mình mất cơ hội rồi. Người ta nói, “Cái đèn này phải rọi như vầy, để tới hoài, để tới hoài, tới hoài, thì mới gặp Ông Cọp;” nhà đi săn người ta nói như vậy đó; phải không? “Mới bắn được Ông Cọp;” mà đi một chập nó rọi ở đây, rồi một chập nó lắc qua bên này, nó lắc qua bên kia, nó lắc qua bên nọ; thì cái sáng suốt nó xài bậy chớ nó không có đi ngay. Thì đàng này chúng ta cũng vậy: tại sao công phu này, người ta không chỉ mình ngó bên tay trái, mà không chỉ mình ngó bên tay mặt, mà bắt mình ngó ngay trung ương? Là mình đi vô cái chỗ hòa bình không động, để dễ dãi cho cái bước tiến của phần hồn: nếu đi bên phía tay mặt, bị lôi cuốn bởi tay mặt; đi phía bên tay trái, bị lôi cuốn bởi tổ chức bên tay trái. Mình đi chính giữa thì trái, mặt, mình cũng không mích lòng.

Mình cứ đi tiến tới hòa bình không động, thì cứ nắm đó mà đi chớ! Ai, bây giờ ai giúp cho mình được? Mình làm chủ mà; ông Phật ổng làm chủ mình được; chính ông Phật đã làm chủ lấy ổng, ổng mới thành công. Bây giờ chúng ta phải làm chủ lấy chúng ta, chúng ta mới thành công. Bên Thiên Chúa Giáo cũng vậy; Chúa cũng vậy: Ngài đã làm chủ lấy Ngài mà Ngài cương quyết chấp nhận; xẻo thịt Ngài cũng không cần biết, chấp nhận; và sau cái chấp nhận đó là cái vĩ đại của nhân loại.

BĐ: (… câu hỏi đã bị cắt)

ĐT: nghịch cảnh sơ sơ của pháp lý, thì cái đường lối trước khi chúng ta chưa bước vào cái pháp lý, thì chúng ta chỉ xài cái điển ra ngoài không à! Bây giờ lại tập trung cái điển trở lộn vô, thế nào nó cũng có những cái nghịch cảnh. Bởi vì đi vô trong cái thanh tịnh, thì cái tiếng ồn ào bên ngoài không thích, cái đó nó làm cái động chạm. Nhưng mà cái đằng này tôi đã nhắc rằng: cái người tu, chúng ta không phải tu về cái dư luận và âm thinh ở bên ngoài, như tất cả hồi nảy tôi nói là đều trả lời hết những cái của mà vừa nói, thắc mắc, nghe lại thì tôi trả lời hết.

Thì cái âm thinh ở bên ngoài; cho nên, người ở thế gian, cái người mà không tu về pháp lý, nó không đi tới chỗ siêu phàm tột đỉnh ngay trung tim bộ đầu. Cho nên, ở đàng này, từ ngày mà bước vào, vô tu ở đây, người ta kêu chú ý ngay trung tim bộ đầu. Ngoài cái bản thể này, đã có một phần thanh điển ở bên trên, hòa cảm với cái điển của Vũ Trụ. Rồi không phải chúng ta sống vì dư luận ở thế gian, nhưng mà chúng ta sống để mượn cái pháp này, cái phương tiện này thanh lọc cái luồng trược điển của bản thể, đi tới thanh điển.

Thành ra cái trình độ của mình vừa tới đâu thì phải gặp những cái sự thử thách ở thế gian. Bởi cái tiếng mà chúng ta mới bước vô tu, chúng ta không có tham sanh và không có sợ chết, phải không? Chúng ta mới bước vô đây, chúng ta tu để học cái chết, cho hồn xa bản thể. Thì tự nhiên một thời gian sau này không còn cái chấp, cái chấp trước kia nó có nhiều, nhưng mà ngày nay tự nó sẽ tự nó tiêu diệt lấy những cái chấp. Rồi sau này cái luồng điển của mà nó thoát khỏi trên bộ đầu rồi đó, nó mới hòa đồng với tất cả những âm thinh. Cái ti vi nó la um sùm, nó là tui, tui là nó. nói một chập cái nó hết à! khỏi phàn nàn, mà nó không có động cho cái tâm nữa. Bởi vì trước khi mình chưa có ti vi, mình chưa hiểu việc đời, mua được cái ti vi cũng muốn vặn cho hàng xóm biết là tui có cái ti vi. Mà có nhiều người nó hát dĩa máy cũng vậy, nó nói bên kia 4, 5 căn nhà nó không có, mình hát lớn cho nó nghe. Cái này nó hay quá mà, tại người ta không biết.

Cũng không khác gì bây giờ bước vô đây tu, nói cái pháp lý này nó hay, chính nó phải tu lấy nó, sửa lấy nó, xây dựng lấy nó, khai thông lấy nó, tìm hiểu lấy nó. Còn những người tu kia, người ta tu vô chùa, người ta đặt ông này Bà kia, người ta cúng lạy, làm nên mê tín. Thì cái tuổi tác của họ không có chờ đợi cái sự thành công của họ. Thì thấy vậy đó, nhưng mà mỗi người, nó có một cái sở thích riêng biệt. Nhiều người, người ta thích quỳ trước một cái chân tượng như thế đó, người ta mới là bắt đầu ăn năn. Tại sao phải quỳ trước một chân tượng bằng xi măng như vậy mà người ta ăn năn? Là người ta ở trong cái cỏi thấp, người ta phải lấy cái thấp để trị, phải lấy cái giả cảnh để uy hiếp Lục Căn Lục Trần ở bên trong nó, cho nó được êm một phần nào, rồi nó ly khai cái chỗ đó rồi, rồi cũng quy nguyên trở lại cái tâm tánh sân si.

Đó! Nhưng bây giờ mình muốn dắt họ hay mình muốn đả phá họ? mình không có cái quyền gì mà đả phá họ, bởi vì mỗi người nó có một cái huyền năng của nội tâm của nó. Và nó có một cái sở thích riêng biệt của nó. Cái sở thích của mọi không có ai cản ngăn được hết, mình là cha, đẻ con, nhưng mà con nó muốn đi Honda , thì bây giờ có cấm đi nữa thì nó cũng chun ra, nó mượn cái Honda đạp một lần nó mới chịu. Nó biết là ông già cấm, nhưng mà nó phải đi thử. Cái chuyện đó mình không có nên động chạm tới họ.

Rồi cái lúc mà về bên đạo pháp, bên cái pháp lý này, thanh lọc được cái luồng thanh điển của cụ, rồi họ tới, họ muốn hỏi về cái phương thức của tu. Trước kia nóng tánh, thắc mắc, nhưng hỏi chớ tại sao bây giờ hàng ngày cứ làm thinh? mà không nói ra và cảm thấy con người không còn thắc mắc nữa? là đã bắt đầu làm việc cho ở bên trong, khai thông cái Tiểu Thiên Địa ở bên trong. phải chịu trách nhiệm dìu dắt lục căn lục trần, tới lúc đó là không có còn muốn lo chuyện thế sự nữa. Bởi vì mình biết cái bản thể của mình, cái Tiểu Thiên Địa này, nó bao gồm kim mộc thủy hỏa thổ đầy đủ. Mà chính mình làm chủ mà mình lo chưa xong, mình lo chưa xong làm sao mình lo chuyện thiên hạ.

Cho nên trong kinh, nhiều người tu, mấy vị tiền bối cũng có nói: bản thân bất độ hà thân độ; thân ta, ta lo không xong mà ta lo thiên hạ làm gì? Đó! Rồi còn cái đạo pháp, hỏi cái nào cao, cái nào thấp? thì cái nào nó cũng đang đi hết, mà nó cho rằng hợp với sở thích của nó, đó là cái đạo pháp đó tốt. nhưng mà lần lần họ sẽ đi tới. Họ đi về đời, tu có tu phước ở thế gian, còn mình tu ở đây là tu tắt, tu về điển quang, trở về phần hồn.

Xả phú cầu bần, liệng tất cả những cái sự tham sân si, phong phú trong đầu óc của chúng ta bao nhiêu năm nay từ kiếp trước tới bây giờ. Chúng ta xả thân cầu đạo, ta quên ta, ta không ở căn nhà đó, mà ta cũng chẳng có ở cái xóm đó. Thành ra ta mới diệt được cái chấp, nếu mà chúng ta tưởng ta còn ở đây, thì lúc nào nó cũng phải chấp, còn nếu ta ở đây là sống ở trong cái cơ giới diêu động, thì trong cái sự đòi hỏi của diêu động, chủ nhơn ông nó phải trợ. Mà trong lúc nó trợ thì nó phát âm bất chơn đối với thiên hạ, thành ra nó gây những cái sự phiền phức cho mình. Nhưng mà cái phương pháp công phu ở đây, như có cái tánh chơn chánh, thì luôn luôn nó sẽ phát ngôn chơn chánh. Mà sau cái chơn chánh của cụ, nó sẽ động chạm, mà sau cái động chạm đó là lại tiến chớ không có lùi. Lần lần rồi thức tỉnh, rốt cuộc mình lo cho mình hơn là lo thiên hạ.

Tôi trước kia cũng vậy, tôi tu, tôi đi tìm nhiều đạo pháp rốt cuộc tôi thấy họ mờ ám ở bên trong, rồi tôi cũng thoát ly họ. Sau này tôi cũng có cái phàm tâm, tôi ghét, tại sao người đời đi phỉnh người đời. Có bao nhiêu đó, nó cũng không khác gì ý chí của cụ, rồi tôi muốn đả phá những người đó lắm. Nhưng mà rốt cuộc tôi thấy: không nên. Bởi vì chuyện của người ta, người ta làm; chuyện của mình, mình làm; chuyện của mình, mình làm chưa xong làm sao đi can thiệp chuyện của người ta.

Cho nên cái pháp ở đàng này tu, chúng tôi không có phổ biến, chúng tôi không có đăng báo, chúng tôi không có rủ ren. Tới cái trình độ người nào họ muốn tới nghe là luồng điển ở bên trên bộ đầu họ được mở, thích hợp, họ tới, họ hòa cảm với mình ở trong xây dựng, đồng đẳng chớ không phân ra cái giới cấp gì hết. Cho nên, càng ngày nó càng cởi mở và nó tiến bộ thêm, thành ra có ngày nay, thấy tại sao ngồi mà nó bị đau ở đàng sau trái cật? là nhờ cái Pháp Luân làm. Nhưng mà cái Pháp Luân đó, nó làm chưa đủ lực lượng, trong cái giờ phút nó chưa có khai thông cái hỏa hầu phía đàng sau. Thành ra nó uất ở trong đó, nó làm cho trái cật thấy nó đau chút chút vậy thôi, thấy không!

Thành ra tu một thời gian rồi nguyện, nguyện với Trời Phật: nói bây giờ muốn cho tôi tu thì đừng cho tôi đau nữa, nếu cho tôi đau thì chắc tôi tu không được, thà là cho tôi chết đi. Cái lúc đó nói cái câu đó, làm sao nó lại hết đau? là tại vì cái ý chí tập trung lên bộ đầu thì tự nhiên cái thanh điển nó hội lên bộ đầu, nó rút một phần nào cái hỏa hầu đi lên trên. Thành ra ngồi lại, ngồi được lâu, chớ không phải là ông Bà nào phù hộ hết. nhưng mà cái ý chí lúc phát âm, cái âm thinh tâm động thần tri, muốn tiến tới Ông Phật

Khi không chuyện trên thế gian mà tôi nói với Ông Phật, nếu có Ông Phật, nếu có Quan Âm nên tôi phải tới gần Ông Phật, và tôi tới gần Quan Âm để tôi tu. Thì cái bản thân này không có nghĩa lý gì đối với tôi hết. Tôi có thể kềm chế, tôi có thể sửa chữa, tôi có thể hủy diệt nó bất cứ giờ phút nào ở dưới sự điều khiển của tôi. Thành ra tôi bất chấp sự đau đớn, tôi bất chấp những cái âm thinh, dư luận ở xung quanh; tôi bất chấp những người đời đả phá tôi, nhưng mà tôi cũng không cần đả phá thiên hạ. Họ biết tôi cũng được mà không biết tôi cũng vậy, bởi vì tôi đang lo tu, sửa chữa tôi từ tiền kiếp tới bây giờ chớ không phải cái kiếp này. Tôi sai lầm từ tiền kiếp chớ không phải ở kiếp này, thì tự nhiên sẽ đi tới cái hòa bình của nội tâm.

Mình đang sửa cho cái nội tâm mình hòa bình, mình nên khai thông cái nội bộ của mình, lập lại thứ tự, thanh bình; để tiến về cái cảnh thanh bình, Xá Vệ Quốc của Trời Phật, chớ không phải là chúng ta vẫn tiếp tục theo trong sự diêu động. Cho nên nhờ cái phép Soi Hồn đó, mà trong lúc người ta gây cụ, người ta chửi cụ, nhờ cái co lưỡi răng kề răng đó mà họ chửi, họ la cụ. thì thấy đối phương nó bị gì? Nó bệnh, nó còn cái sân tánh, nó chưa hiểu lấy nó, nó tưởng rằng nó la lô là nó sẽ đắc thắng. Nhưng mà sau một hồi kinh kệ la lô của nó đó, nó sẽ bị suy nhược thần kinh và nó sẽ bị đau gan, đau tim chớ đâu có bệnh hoạn gì. còn phải lấy cái chơn tâm để độ cho nó.

Một ngày kia chúng ta sẽ gặp, chúng ta sẽ xây dựng và cởi mở; một ngày kia, phải nhờ ơn trên khai mở cho rồi, truyền pháp cho họ. Họ là bạn, họ ghét chừng nào, sau này họ sẽ trở nên là người bạn thân của cụ. chúng tôi cũng mong như vậy.

tha thứ, đi trong cái lượng từ bi của Đức Phật, cái đó là cái chuyện quý giá lắm. Cho nên đàng này tôi nói cái bài thơ hồi nãy, tôi đã có cắt nghĩa rằng: chúng ta phải đi ở trong cái lượng Từ, Bi, Hỷ, Xả và chúng ta phải tự sửa lấy chúng ta là hơn. Làm một người ngu ở thế gian nhưng mà rốt cuộc chúng ta đã đi tới Thiên Đàng trước hơn những người khôn ở thế gian

BĐ: (… câu hỏi đã bị cắt)

ĐT: người ta bị đụng xe, đụng cộ tội nghiệp lắm; cho nên, công phu tu cái này đừng có đánh người khác, đừng có chửi người ta, đừng có nghĩ những cái điều hung ác. Bởi vì cái điển nó mạnh lắm, mình tập trung luồng điển một cái là nó tới rồi, đó! cho nên, tôi khuyên các bạn tự tu, tự sửa lấy mình, không nên nghĩ thiên hạ sai, bỏ tất cả những cái gì ở thế gian. Họ có chửi, họ có hành hung nhưng rốt cuộc họ cũng không chạy khỏi cái sự luân chuyển của Tim Gan Tỳ Phế Thận của họ. Họ có dữ, dữ như ông cọp đi nữa thì ổng cũng chạy lẫn quẫn trong cái ngũ hành sơn. Cho nên, Đức Phật nói cái ngũ hành sơn ở trong bản thể của mọi người. Cái hồn của mình tu cách mấy tu cũng chạy không khỏi, bây giờ chúng ta luyện, học cái đường lối của Đức Phật, thoát khỏi cái sự lưu chuyển của ngũ hành trong bản thể. Cho nên chúng ta phải tập trung trên trung tim bộ đầu để nó thoát khỏi sức hút của hồng trần, cũng như cái sức hút của Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ ở trong bản thể của chúng ta, khai thông nó ra.

Cho nên, càng ngày càng tu, càng công phu, cố gắng thì tánh tình nó thay đổi là do đó. Nó không có hút trược, nó không tự vô được, tự vô là nó biến chế. Người thường, người ta mới chửi một tiếng “ đồ quỷ”, ở trong này nó nghĩ: tao làm gì mà kêu tao đồ quỷ; coi coi, coi nó nói sao, đánh nó một bộp tay, ở trong này nó đề nghị, nó cuống cuồng. Còn cái này không có, cái này nó khai thông rồi, cái thì cái người kia, nó chửi: “ con quỷ nè” thì mình thấy nó quỷ rỏ ràng, chớ mình đâu có quỷ, thấy không! Đó là nó hủy hoại cái thần kinh của nó, gom cái tâm trí, nó đem xuống, nó đem cái nóng trong cái gan của nó, nó phát âm bực tức thì nó hại cái bộ gan, nó hại cái bộ thận, nó hại không còn một cái gì nữa hết. Còn cái này mình không, mình đã xả rồi, mình không có ôm vô nữa; thành ra tu cỡ chừng từ 3 - 4 năm thì tánh tình nó không còn sân nữa, thì họ chửi mình chuyển, họ chửi mình chuyển, mình còn phải cố gắng độ cho họ dứt được tham sân si đủ mọi cái.

Họ chưa có phân minh nổi, họ mới khó khăn; còn họ phân minh nổi không có chuyện. Đó! Cái nguyên nhân chính là ở trong này nó không có điều hòa, cũng như cái microphone này cũng vậy à, thâu vô rồi mà trong này,cái dĩa nó sai ở chỗ nào thì phát âm ra nó rè rè. Cũng không khác gì cái người mà chửi người ta, phải không? Thì phần nào nó theo phần nấy, ai cũng khôn hết; mà tại sao lại bầu có một ông tổng thống mà không bầu hết thảy làm tổng thống, phải không? Nó có một người thôi, thấy không? Mỗi người nó khác nhau, mỗi cái trình độ nó đều khác nhau. Mỗi cái mức tiến có người trược người thanh.

Cho nên chúng ta tu ở đây, tùy theo cái căn cơ của mỗi người, thì mình thanh lọc sớm chừng nào thì mình được nhẹ chừng nấy. Mình lo tu cho mình, hơn là nghĩ chuyện: tôi tu, rồi đây cứu độ thiên hạ; đừng có nghĩ đến cái chuyện đó, lo tu cho mình, cho đắc đi, đi tới cái thanh tịnh nè, rồi mình đi tới dễ dãi lắm, phải không? Mình xuất hồn được thì ai mà mình không gặp, có chút xíu đó thôi. Mình gặp được Đức Phật thì gặp ông Thổ Thần có gì khó khăn. Ông thổ thần ở dưới này thì đâu có gì đâu khó khăn, Ông Tiên cũng không có khó khăn. Mình đi trong thanh tịnh mà, phải không? Cũng như ở thế gian ông quen với ông tổng thống, thì ông vô ông tổng thống thì mình quen với ông cò, vậy đó! Đâu có gì đâu, không có khó khăn. Mình tu mà đi tới thanh tịnh, thì tất cả mình có thể kiểm soát được sự diêu động của cơ thể, làm chủ cơ thể.

Cho nên các bạn tu ở đây đi trở về trực về lãnh đạo thiêng liêng của cơ thể, làm chủ cái tiểu thiên địa này. Trong đó nó sắp đặt cũng như là một quốc gia. Chúng ta người và người trong cái ban giao tình cảm để có ảnh hưởng; cũng như người Việt Nam với người Nhựt Bổn. Người việt nam đi tới nhựt bổn thấy: oh, sạch sẽ, tốt; người, người ta văn minh, không có ăn cắp, về mình cũng bắt chước, mình cũng: ah, làm cho sạch sẽ, không có ăn cắp, phải không? Còn cái người tu ở đàng này cũng vậy, mình tu cho hiền là có người ta theo (… nghe không rõ – mp3.5 - 40:24)

Nếu mà chúng ta là con người nuôi dưỡng cái tham sân, thì ta là con người mất nước, nước là gì? Bản thể chúng ta, cái nước, cái Tiểu Thiên Địa của chúng ta là cái nước ta đang điều khiển nè. Mà ta không biết điều khiển thì tự nhiên ta sẽ bị ngoại xâm, thấy không? cũng không khác gì trong đó nó làm một cuộc nội loạn, bị ngoại xâm, cái hồn bị ma quỷ kềm chế, không khác gì một quốc gia mất vua.

Tu cái pháp này mỗi người đều trở về vị trí thiêng liêng của họ, cái gì mà bất chánh, cái gì mà phá hoại họ, bất phục, nhưng mà họ cũng sửa chữa để họ lên cái tầng cao hơn. Chớ họ không phải nói tôi đi ra tôi đánh đập người đó. Tôi bất phục là tôi không tùng theo cái điển của họ thì tôi không rút cái điển của họ nhập vô trong cái bộ óc của tôi và tôi lại cởi mở, thăng tiến, sau đó để tôi ảnh hưởng. Họ có tấn công tới thì tôi cũng đem trở về trả lại cho họ, chớ tôi không giữ cái của họ; cái của tôi đã có sẵn rồi, cái sự sáng suốt tôi có.

Mà bây giờ tôi tin mức độ, hồi trước kia tôi nói 110, bây giờ tôi sửa 220, tôi có 220 tôi sửa nó 380 lần lần tôi đi tới mấy nghàn vol; tôi càng ngày càng sửa càng cao. Họ có đem tới đốt tôi, đốt cũng không được, bởi vì tôi trả lại, bởi vì tôi có dư, tôi không có thiếu, nếu tôi thiếu là tôi bị chiếm tư tưởng của tôi. Còn đàng này không thiếu, tôi có dư nên tôi chỉ có cho. Tôi chỉ có viện trợ, giúp đỡ họ; không khác gì những quốc gia ở thế gian. Nhưng mà mỗi người đều hiểu tự lãnh đạo lấy mình (… nghe không rõ – mp3.5 - 42:32) Có chút xíu đó thôi, bản thể chết chớ Hồn, Vía đâu có chết, người ta nói còn Ma, Quỷ, Thần Tiên, Thánh, Chúa. Mấy ông đó ổng điên hả? ổng không có điên, ổng hay! Viết sách, còn; Bất cứ tôn giáo nào cũng nhìn nhận: còn; có ma quỷ đó, người ta chụp hình, người ta chứng minh đó. Mà nếu nó chết thì đâu còn ma quỷ nữa, phải không? Có ma quỷ phải có thần thánh. (… nghe không rõ)

Thành ra chúng ta đi lần lần vô trong cái tâm linh của chúng ta, chúng ta thấy ngoài cái bản thể này còn một cái sáng suốt bền vững. Mà khi chúng ta biết được phần hồn rồi á! Đó là chủ nhân ông của bản thể, một bậc lãnh đạo sáng suốt. Mỗi đêm Ngài xuất ra đi tìm cái sáng suốt cao siêu của trời đất, về ảnh hưởng và khai thông cái bản thể (… nghe không rõ – mp3.5 - 43:36) Họ giam bản thể chớ đâu có giam được phần hồn, họ chặt đứt cái đầu bản thể, chớ đâu có chặt đứt đầu phần hồn, thấy không? Cho nên, mình thấy không mất, bất sanh bất diệt thì chúng ta lo chi cái chuyện đấu tranh; sửa ta, để đi tới cái hòa bình của nội tâm. Thì chúng ta mới tiến tới thực sự hòa bình, không còn luân hồi lại thế gian. Nếu còn luân hồi lại thế gian là còn cái sự nhầm lẫn.

Tôi thấy mỗi người chúng ta ngồi ở đây, thấy những già rồi lần lần sẽ chết á, không có sống được. Thì bây giờ các cô cũng đấu tranh cho được cái đó; tui cần cái đó; tui phải lấy cho được; tôi phải giành cho được.; rốt cuộc (… nghe không rõ – mp3.5 - 44:24); thấy không? Mình thấy cái không không, nó trở về cái có. Mà mình còn trẻ mình hiểu; cái khởi điểm đấu tranh là đi xuống; mà cái buông xuôi là về phần hồn vĩnh cửu. Mình lấy cái nhẹ thì không có nặng nữa (… nghe không rõ – mp3.5 - 45:54)

Mình làm cái nào cho nó minh bạch, cái trường cửu là cái phần thanh điển của phần hồn, bây giờ hỏi: lấy cái gì chứng minh cái đó? Sau một thời công phu rồi, chúng ta rọi kiếng thấy mặt mày của ta thế nào! Tươi tắn, sáng suốt; cái thanh điển, phải nó bộc phát lên trên bộ đầu không? . Còn ông kia ổng nói: tôi không cần, tôi ăn uống, ăn cho thiệt no 4,5,6 chén cơm, tôi ngủ khò dậy, mặt tôi cũng tươi vậy. Hai cái mặt khác nhau: một cái mặt từ bi, một cái mặt nặng nhọc (… nghe không rõ – mp3.5 - 45: 43). Ổng ngồi ổng công phu, cái mặt ổng tươi, mà ông tươi ở trong cái luồng điển từ bi. Người ta dòm ổng; người ta mến cảm; còn cái ông ăn nó kia; ổng là thằng kêu bằng tham dục;

(kết thúc track mp3.5 ở đây; bắt đầu track mp3.6 ở đây)

… Ổng cũng tươi vậy, mà tươi ở trong tham dục, dòm không thấy có sự từ bi. Cho nên các bạn tu, rồi lần lần, lần lần cái luồng điển nó càng ngày càng cao, càng nhẹ.

BĐ: thưa ông Tám, sau khi chết (… nghe không rõ – mp3.6 - 1:04)

ĐT: bởi vì đối với người tu ở đây á! Chúng tôi là nghiên cứu để cho cái phần hồn, nó xuất ra bản thể trước khi chúng tôi chết; chúng tôi muốn nhận định rõ rằng: con đường chúng tôi phải đi bằng cách nào? Chết trước khi chết, kêu bằng cải tử hườn sanh. Cho nên trước kia nhiều người truyền pháp, tin Phật thì mới cứu rỗi được phần hồn, đi tới chỗ bất diệt; còn bên Chúa, người ta nói xin Chúa thì mới đi tới cứu rỗi được phần hồn, trường sanh bất tử, hồn bất diệt.

Thì bây giờ chúng ta tin Phật, ta phải khắc khổ theo đường lối của Đức Phật. Đức Phật đã chứng minh và để cái hào quang ở trên bộ đầu cho mọi người biết rằng: điển của tất cả các người đều có thể xuất ra ngay trung tim bộ đầu, thấy không? Thành ra Đức Phật; rốt cuộc Đức Phật sợ người thế gian già chết; cho nên, Đức Phật nói Phật tức Tâm, ta là người đã thành. Mà nếu chúng ta tin ở nơi Đức Phật, chúng ta phải khắc khổ, khai thông bộ đầu của chúng ta. Đừng nên lấy cái tâm này, nếu mà giữ lấy cái tâm này mà tu á (… nghe không rõ – mp3.6 - 02:02), chúng ta lấy cái trung tim bộ đầu để cái hào quang nó phát ra, trước khi chúng ta xa bản thể.

Đệ tử của nhà Phật thì phải có cái thanh điển của nhà Phật, nó mới thông cảm được cái Phật Pháp. Còn mà chúng ta theo những lý luận, những người đời lý luận suy tư mà nói thì tất cả đã có nhiều, ngay ở trong trường học người ta cũng bắt học. Ta coi kinh kệ, ta cũng suy luận được, ta nghiên cứu để mà ta hành, thấy không? Ngày nay thực hành, thì thấy cái tâm thế nào? Càng ngày càng nhẹ, sau một thời công phu, thấy con người nó khác hẳn, đó! nó nhẹ quá.

Rồi xét lại tất cả mọi người đang bị phỉnh và đang mê, mà chính mình cũng có một phần ở trước kia, đó! Thì tự nhiên càng ngày càng tu, càng mở, mà chúng ta phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo; câu kinh đã có, xả phú lấy cái gì mà phú , cái Tham, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái, Ố, Dục phong phú từ nhỏ tới lớn, chúng ta bỏ hết, chúng ta đi về cái điển giới thì vượt qua những cái đó. Mà chúng ta đi về cái tâm giới, phàm tâm đó, nó cũng còn sân si. Thành ra chúng ta mới đi qua cái kia, thì nó vượt khỏi ngũ giới, kêu bằng Tham, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái, Ố, Dục; đi tới đó, thì hoàn toàn cái hồn nó mới hưởng thanh khí điển ở bên trên và nó trường chay diệt dục.

Nó không có tránh cái cảnh luân hồi ở thế gian, bám sát vô trong cái bản thể. Nhưng mà bất minh, từ đâu đến đây rồi sẽ về đâu? Rồi chúng tôi trước kia cũng thắc mắc, khổ cực quá, tu hành mới phát giác ra: té ra mình là một phần thiêng liêng; cũng như hồi nãy nói rằng: thần thức là linh hồn. Phần thiêng liêng bất diệt mà, đâu có mất được, nhưng mà trụ hay là tan mà thôi, tập trung hay là phân tán. Bây giờ cái pháp của chúng tôi chỉ tập trung để đi lên, chỉ lấy phần thanh điển thôi, chớ không lấy gì ở thế gian đem đi. Của thế gian thì phải trả lại thế gian. Mình vay thì mình phải trả. Cái luật nó như vậy, cho nên người sống phải chết, chết rồi nó mới biến ra hoa quả, vạn vật; vạn vật mà hồi nào tới giờ mình thu thập (… nghe không rõ – mp3.6 - 04:26)

BĐ: thưa Ông Tám (… nghe không rõ)

ĐT: Sau một thời công phu, mê rồi, thấy một điểm sáng, thấy cảnh này, cảnh kia, cảnh nọ; tôi đi đây, đi đó. Còn nếu nó không phát âm không được thì sau này làm sao nó tiếp xúc với người ta. Thiêng liêng vẫn còn.

BĐ: Thưa Ông Tám (… nghe không rõ)

ĐT: Bởi vì cái đó là cái thiêng liêng, của phần về phần thiêng liêng, cái phần hồn của xuất phát ra được, thì mới tiếp xúc với em bé đó được. Mà trong cái lúc mà nó bị như thế đó, thì nó đứng ở bên cái xác, chớ không ở đâu hết á, mà đối với người tu về bên pháp lý thì cái điển họ tới họ dẫn và họ khuyên, họ tiếp xúc với nó. Nhưng mà rồi nó cũng phải đi theo cái bản thể nó 49 ngày, rồi nó mới hoàn toàn tụ lại được, chớ còn người phàm mắt mở như vầy mà muốn tiếp xúc với con ma, đâu có được. Nó tan rã, thì nó bị về cái giới con ma ở giới thấp, về phần thiêng liêng, mà mình cái thiêng liêng, mình xuất phát, mình tiếp xúc với nó đâu có gì đâu khó khăn. Như hồi hôm tôi đi về cốc, có một cậu bè gọi, gọi, gọi, rồi một hồi tôi cũng tiếp xúc với nó được vậy.

BĐ: Kính thưa Ông Tám, xin ông Tám giải đáp cho cái này, chính chúng tôi cũng có biết, trong thời gian ở cuối năm kháng chiến chống Pháp. Thì chúng tôi cũng có được nghe, đi đến, thấy rõ ràng một ông công chức chết (… nghe không rõ – mp3.6 - 07:00). Thì sau khi Pháp nó sang, nó đánh, tức là gia đình tản cư. Ở trong một cái quán bán nước ở lề đường, tức là ở trong đó, Nam Kỳ, khoảng 9, 10 giờ, thì cái người mà ở bán quán đó nó có 6 con; khi thấy tàu bay của Pháp nó đến, chủ quán có cô vợ, cô vợ chạy sang bên kia thì bị tàu bay nó bắn chết. Nó bắn chết, thì trong cái thời gian đó, thì chôn rồi, cái phần xác là chôn rồi, nhưng mà tối cái nó khóc, khóc phàn nàn (… nghe không rõ – mp3.6 - 08:08), “Bây giờ bắn chết tôi, thì ai nuôi nấng con tôi?” Thì nó khóc một thời gian rất lâu, rồi mất. Xin ông Tám giải thích cho tất cả anh em chúng con và các bạn đồng tu biết cái đó như thế nào?

ĐT: Cái đó là những người đó kêu bằng bị oan: nó có số chết, và có chết oan. Những người chết oan thì người ta còn lưu luyến, bởi vì chưa hoàn thành nhiệm vụ của họ; thành ra nhiều người chết oan, thường thường nó hiện trở lộn về sau khi nó bị chết; nó báo mộng cho gia đình: nó chết ở đâu, bị người ta làm sao, làm sao; nó về nó báo mộng; cái đó là chết oan.

Còn người tới số nó chết, nó không có vậy; nhưng mà nó chờ: nếu nó nhẹ thì bảy bảy, bốn mươi chín ngày nó phải đi chuyển qua một cái giới thanh lọc để luân hồi, hay là nó đi theo những vị Hộ Pháp tiếp tục tu. Mỗi giới đều khác nhau; mỗi người chết đều khác nhau. Có nhiều đàn bà bị chết oan, cũng chữa có con, nhưng mà nửa đêm thì khoảng 8, 9, 10 giờ đêm họ ngồi, bắt võng ngồi trên cái cây đa đó, rồi họ đưa con, họ vẫn hát. Cũng có nhiều người nghe được, cũng chứng minh được họ đưa con họ; bởi vì họ bị oan thì họ phải hiện về; hiển hách như vậy; nó chưa đến cái thời kỳ.

BĐ: (… nghe không rõ câu hỏi)

ĐT: Ờ! Trước kia tôi tu cũng vậy, nửa đêm tôi công phu, cũng có nhiều người bị oan ức về nhờ tui nói giùm, “Cho con nó chuyện này, chuyện nọ.” Tôi chỉ lấy cái Phật pháp bên này tôi khuyên: “Không nên làm cho người đời bối rối.” Nhưng mà tôi hứa rằng: “Tôi tìm cách để nói chuyện;” để cho nó cởi mở và nó bắt chước tu. Chính cũng là một bạn đạo ở trong này: đi đâu thì ông già ổng cũng đi theo; theo tới, rồi ổng đứng, ổng quỳ, ổng năn nỉ tôi nói lại cho con ổng về chuyện chia gia tài, làm việc giúp gia đạo.

Người thời đại, người ta đâu có tin; mình nói vậy là người ta không tin. Hai người đương gặp nhau rồi nói, tôi nói: “Bây giờ tôi nói thiệt cho Anh, mà Anh tin cũng hơi khó: cha Anh chết rồi, mà Anh tin cha Anh có hồn không?” Ảnh nói: “Tin; tin cha tôi có hồn.” “Nhưng mà cha Anh, tôi nói Anh đừng cười, bởi vì tôi biết người thời đại bây giờ người ta không thích cái đó; cha Anh đang đi theo Anh tới đây, nhờ tôi thông ngôn, nói lại; nhưng mà tui muốn nói lại y cái giọng của ổng nói cho Anh nghe, để Anh tin; phải không?” Rồi ảnh nói: “Thôi được, ông cứ nói đi.”

Thì tôi cũng nói lại ý kiến của ổng, mà ổng biểu nói lại cho ông kia nghe, bây giờ ông kia ổng nghe rồi (… nghe không rõ – mp3.6 – 11:15), ổng đứng đây ổng nói “Đây nè!” Rồi anh kia ảnh nổi óc hết, sợ; thấy không? Nói người kia, “Kêu Anh đừng có làm cái đó; làm cái đó thì gia đình nó tan hết (… nghe không rõ), ổng không muốn; Ổng muốn Anh phải khổ cực đi bán từ chai bia, hay là đẩy xe 3 bánh, rồi Anh sẽ xây dựng lại một cơ sở tốt, chắc hơn; hơn là Anh chia cái tài sản đó rồi sau này Anh cờ bạc nó cũng tiêu. Bởi cái chuyện này, tôi không ăn của của Anh, mà tôi phải trả cái của của cha Anh nhờ tôi lâu lắm rồi, mà bữa nay mới có cơ hội nói. Anh có nghe không?” Ảnh nói: “Đúng.” “Tôi tính chuyện như vậy đó, tôi tính tới hỏi Anh chuyện bằng cách nào đây? Bây giờ ổng nói vậy đó, thì Anh làm sao? (… nghe không rõ – mp3.6 – 13:08)

Thì cái thiêng liêng nó có, nó đều có, nhưng mà nó đúng cái kỳ của nó; cũng như thấy nó đụng như vậy mà không nghe nó khóc la, thì nó thấy biết đụng nó, nó hoảng rồi, là trong cái giờ âm đó, giờ khuya đó là âm đó, nó có cái sự ray rứt ở ngay chỗ đó; bởi vì có máu là có sự đi đứng của phần hồn, cái luồng điển nó còn ở đó, nó có sự lai vãng.

Cho nên, cái người mà tự tử, họ còn trẻ, tự tử; mấy ngón chân cái đưa thòng lọng xuống dưới này; tới hồi mà đem đi rồi, ta đào đất, ở dưới nó có hai cục máu bầm, ở dưới mặt đất. Cái đó là cái trược điển; nó vẫn còn lưu lại, nó lai vãng ở chỗ đó. Cho nên, nhiều người muốn cất cái nhà tốt ở, không có ma: ta nên đào cái khoảnh đất đó đi. Miếng đất nào mà ta nghi có ma, ta đào hết, đổ đất mới; ta đào rồi ta đốt, để lửa đồ này kia, đốt cho nó nóng. Ma thì sợ lửa; ta đốt một hồi, ta điều lại cái đất tốt cho ta; con ma nó sẽ đi. Nếu không làm cái đó nó sẽ lai vãng về cái trược điển của nó: thích hợp với nó là nó lai vãng.

Còn nhiều cái nhà mà mỗi đêm có quỷ hiện lên, thì phải làm thế nào? Giở cái nóc nhà ra, ta để rơm giữa nhà, đốt; hễ đốt có lửa là nó sợ, nó mới theo cái đó, nó mới rút đi lên cao. Cho nên, ma là sợ lửa. Cho nên, nhiều khi ở trong chùa tu, người ta để những bình đồ này kia, kia nọ, đủ thứ hết; nhưng mà nó về nó ở, ở trong những cái lỗ trống, nó tụ ở trong đó. Rồi thét, lần lần mà những người tu mà kính quá, nửa đem nó cũng nhập vô, nó cũng dựa lên vậy. Cho nên, có nhiều người bị Ông lên Bà xuống là do cái lý do đó.

Cho nên, muốn tu, muốn thờ tinh khiết, mỗi tuần lễ phải lấy chút ancol đốt; đốt rồi quậy vô trong mấy cái lỗ nào mà trống, đen, chỗ lư hương thắp nhang đó, chỗ nào mà trống đen, nó có cái lỗ trong đó, ta quậy một cái là nó không có nữa. Chớ không thôi, nó ra, nó xưng “Ta là Quan Âm,” rồi cái dựa lên, ngồi lên bàn thờ. Thành ra cái ở đàng này chúng ta, nhiều người, có nhiều người hồi trước cũng có một số người tu, tối nghĩa là trong gia đình con gái đang học tú tài, vậy mà nó khùng; nó khùng mà nó nói chuyện đi tu không; nó nói chuyện tu, nó nói rất hay, khuyên người ta tu. Té ra ở nhà đó thờ, nó đang ở trong cái lư hương bàn thờ. Tôi thấy khổ, bả là đàn bà giá, không có chồng, còn bị đứa con bệnh hoạn; mà nó khi tỉnh, khi mê. Thành ra tôi mới tới đó tôi giúp cho bả rồi, thấy bớt; rồi tôi kêu bả dọn bàn thờ, kêu bả coi cuốn “Xuất Hồn” của ông Tư, chớ cũng không chỉ nó tu nữa (… nghe không rõ – mp3.6 – 15:25)

BĐ: Dạ thưa Ông Tám (… nghe không rõ – mp3.6 – 15:35)

ĐT: ……mình theo ma thì nó theo ma, mình theo phật thì nó theo phật; theo phật là mình phần thanh điển của nó đi, còn mình theo ma là đem cái thanh điển gom về vô cái trược điển (… nghe không rõ). Bây giờ chúng ta không chủ trương xài khúc này xuống, chỉ đem đến đây, đến đây thôi. Tu sao mà lên mở hai chỗ này thôi cũng đủ rồi, ở ngoài chơi chớ không ở trong bản thể, thành ra cái người mà đi được lên trên Nê Hườn này rồi là người đó siêu phàm rồi, có chửi họ, họ cười thôi, họ dòm họ cười, họ biết cái căn quả, họ biết cái bệnh hoạn của cô, họ biết sự kẹt của cô chưa có khai thông.

Nó hung hang, nó chửi đủ chuyện hết mà lại họ dòm một cái là nó chạy, nó bỏ, nó đi.Tim Gan Tỳ Phế Thận nó bị kẹt hết, mà nó động quá nhiều thì mấy cái này hư, hư rồi còn la làng nhiều nữa, nó bệnh chớ người ta đâu có bệnh, nó tự diệt lấy nó.

Cho nên người hồi xưa, người ta nói: “Thiên Bất Tuyệt Nhân Chi Lộ”; Ông Trời, ổng đâu có cắt đứt đường của con người. Bây giờ mỗi ngày cô đi học, cô xây dựng, cởi mở, học về triết lý này kia kia nọ, mở bộ đầu, biết về phần hồn, biết về phần thiêng liêng của mình. Bây giờ cô bỏ, cô đừng đi chơi với tụi du côn, đánh lộn, đủ thứ hết (… nghe không rõ – mp3.6 – 16:54) rồi nó bị kẹt. nhưng mà một thời gian sau này không có lối thoát, cái bệnh hoạn nó dồn dập lên, tới giờ phút đau khổ, rồi chết, thác ra ma, thấy không? Mình ở đây, mình lo trước đi.

Người đi học chữ của thế gian, người đi học thanh điển của trời đất, hai cái nó hòa. Người ta nói là căn nhà này đẹp, phải không? Người ta nói căn nhà này đẹp, tôi nói căn nhà này không có đẹp (… nghe không rõ – mp3.6 – 17:30), có cái điển ở trên trời rọi xuống, nó mới có màu sắc. Cái đó là cái chủ, cái đó là cái chánh; còn cái này là cái phụ, cái này đâu có đẹp. Bây giờ chúng ta trở về đó thì chúng ta còn cái màu sắc còn tươi sáng hơn những cái màu sắc ở trong căn nhà này nữa, thấy không?

Cho nên, Đức Phật ngồi ở gốc cây, Đức Phật đâu có đi tìm cái nhà làm chi? Có chỗ nào bóng mát thì ngồi nói chuyện bình thường; nhà mình lớn quá mà; thấy không? (… nghe không rõ – mp3.6 – 18:04) là sự thanh cao, cái đó là trường cửu, cái đó chỉ huy vật chất, chớ vật chất đâu có chỉ huy mấy cái đó! Bây giờ tắt hết trọi, Trời không có rọi ánh sáng, không có không khí, thì mấy cái đồ này nó hư hết; có gì đâu; hủy hoại liền (… nghe không rõ). Cái chánh là nó ở bên trên; còn cái này kêu bằng cặn bã.

Cho nên, người ta hay hiểu lầm, người ta cho đây là cái chánh: tranh đấu, giành giật; thành ra họ không thực thi được cái tình thương bất động; thấy không? Họ cho tôi cái bánh, họ tính họ cho tôi ăn cái bánh, chút nữa họ nhờ tôi viết giùm cái thơ: nó không có cái từ bi! Lợi dụng không à; không có từ bi. Còn cái tình thương bất động của Trời Đất luôn luôn ban bố cho chúng ta. Người ta xài đã rồi người ta còn chửi lại, mà Ổng cũng cho hoài! Cái đó mới là chơn chánh; phải không? Trời nắng, “Chu choa! Ông Trời bữa nay ác quá; mình đi đoạn đường này mà bị nắng!” Gây lại với Ông Trời. Nhưng mà bữa sau Ông Trời cũng tiếp tục giúp đỡ nó, cho nó mát lại, rồi cho nó nóng lại; để nó nghĩ tới cái nóng với cái lạnh, âm dương trong bản thể của nó có sẵn. Mà nó cũng là Ông Trời Con, chớ cũng không phải nhỏ: nó đang điều khiển một cái cơ cấu âm dương trong cái định luật có nóng lạnh mới thành con người, có Hồn có Viá mới thành con người. “Âm Dương Hiệp Nhứt Chi Nhơn”: sống đồng quan, chết đồng quách.

BĐ: (… nghe không rõ câu hỏi)

ĐT: Thì bây giờ dòm cái đầu của anh Hai nè, nói ông này: “Cái đầu xấu quá,” ờ; mình thí dụ, thí dụ: “Cái đầu của ông già này xấu quá;” rồi cô hỏi tới, “Tại sao mình chê họ xấu?” Thấy không? Nói, “Tại ổng tóc không che, tóc không có hợp thời, xấu;” trong đó nó trả lời á; phải không? “Không hợp thời thì tôi chê ổng xấu;” mà tại sao ổng thích xấu? Cái sở thích của con người là tốt hay là xấu? Ổng thích là ổng chấp nhận là tốt chớ gì nữa; phải không? Khi mà cô chấp nhận thì cái đó là tốt; còn cô không chấp nhận thì cái nào cô cũng la xấu hết; rốt cuộc rồi ai xấu? Mình xấu! Nghĩa là mình ở trong cái tăm tối, mình không thấy. Mình chấp nhận (… nghe không rõ – mp3.6 – 26:28) cái hoàn cảnh nào mà đưa tới; phải không?

Cũng như bây giờ cô nói, “Má thương tôi lắm, cho tôi đi học;” má thương con, má không cho con đi học bằng Honda; mà đi Honda là bả chửi, nói thí dụ vậy đó; đi xe, đi ngoài đường là bả chửi. Rồi trong tâm mình phản cảm, “Tôi đi Honda tôi chạy cũng qua mặt con trai được mà, đâu có sợ gì!” Bả hồi nào tới giờ bả chưa đi Honda, bả thấy “Xe hơi, Honda nó chạy lộn xộn, nhất định nó đụng một cái là con tôi chết!” Nó không chịu; phải không? Là tại sao? Bả chưa hiểu; nhưng mà cái tình thương của bả rất cao quý.

Mình phản cảm, mình cho bả là xấu, “Bả không hiểu, hay là bả có ác ý, bả không muốn cho tôi đi.” Mình nghĩ bậy, nghĩ quẩn, uất; mình nghĩ người đó xấu; nhưng mà mình không nghĩ cao quý của họ; cao quý của họ là phân thân ra trong làm việc: “Có cha mẹ mới có mình; cái tình thương đó là vô cùng; nhưng mà bây giờ mình muốn làm sao cho họ hiểu: họ, hồi nào tới giờ nói tôi uống nước lạnh bị đau bụng. Bây giờ mình tìm cái cơ hội cho họ uống 1, 2 ly nước lạnh, họ thấy không có đau bụng; tại vì họ hiểu lầm cái ly nước lạnh bị có chất độc, họ thấy đau bụng, nó không được trong lành. Bây giờ mình lựa cái nước trong nè, cho họ uống thử, “Bảo đảm cho; tôi có thuốc đau bụng, cho uống liền;” bả uống thét rồi quen; rồi tôi cắt nghĩa cho bả biết: cái này nhẹ thì nó xấu, cái trong thì nó không có vi trùng, mà cái đục thì trong đó có vi trùng; mà vì lí do gì mà trong đó có vi trùng? Cắt nghĩa cho người ta thông cảm. Rồi cái vấn đề Honda cũng vậy: mình tìm cơ hội để mời bả lên ngồi trên xe, chở đi 1 vòng, 2 vòng, 3 vòng. Bả đòi hỏi: “Mày chở tao đi Bến Bạch Đằng chơi cho mát!”

Tôi có Bà chị, nghĩa là, con bả mà đi Honda là bả đóng cửa, không có cho đi ra ngoài. Mà tôi bày thét rồi nó chở bả đi, rồi bả sai rồi, “Đi giao thịt, mày chở đi cái này nó băng băng như taxi, con!” Chở bả đi, quen rồi, có gì đâu. Bởi vì nghĩa là bả chưa lái qua cái chiếc xe đó, bả thấy nguy hiểm; còn những người lái, người nào cũng có cái sách.

BĐ: (… nghe không rõ câu hói)

ĐT: Thay vì như cô cứ xài điển lo âu, cô có điển 110, mà cô gắn cái cây kia cô cũng muốn cho nó sáng, cái cây này cô cũng muốn cho nó sáng, mà cái nhà kia cô cũng muốn cho nó sáng, thành ra cái điển cô bị phân tán, tim nó hồi hộp, cái thần kinh nó yếu, mình lo ra nhiều hơn. Rồi cái pháp này, tại sao người ta kêu mình tập trung trên bộ đầu? Cái luồng điển nó tập trung, nó không có gắng nữa, nó không để ý cái cây kia nữa, mà chính nó trong này có đủ cây cối, nó phải đem đủ tất cả những ánh sáng để cung cấp ở bên trong. Bên trong đều đủ: ngoài này có cái gì, bên trong có cái nấy; thì tự nhiên nó xét một chút xíu thôi, rồi nó hiểu tất cả trên đời. Tại sao bây giờ người ta lập laboratoire để người ta thử, người ta dạy hóa học, nó bỏ cái này một chút, cái kia một chút vô, mà nó nổ cái “Đùng!” liền. Cái này vô cái kia là nó kỵ, nó nổ; còn cái này hòa với cái kia thì nó biến mầu khác; kể cả bản thể mình cũng như cái phòng thí nghiệm, mà mình chưa khai thác nó ra, rồi mình không thấy cái huyền năng kỳ diệu của Trời, Phật, sắp đặt để giam hãm phần hồn.

Phần hồn của đàn ông, nó thuộc về phần dương điển giam hãm trong con tim; cái vía nó thuộc âm điển, cai quản những sự sinh hoạt ở ngay lỗ rún. Đàn Bà thì ngược lại: bên trong âm, bên ngoài dương. “Âm Dương Hiệp Nhất Chi Nhơn”; thì mình khai thác ra, ít nhất mình người tu thì mình phải tự sửa, mình sửa cái đời nó mới qua cái đạo; từ cái đời động loạn đảo điên, mình sửa cho nó bình tỉnh, thông cảm với nhau, hiểu cái cơ năng bản thể kích động và phản động của nó; rồi nó mới nắm vững được cái đường lối làm một nhân vị ở thế gian.

Nhân vị ở thế gian để làm gì? Để minh cái thiện ác, và trao dồi sửa đổi và học một thời gian ngắn, rồi đi. Tất cả đều tu, chớ không phải ở đây chúng ta mới là người tu; phải không? Bây giờ cô dữ cũng bệnh: “Thằng đó nó chọc tôi; bữa nào tôi lấy dao chém nó!” Dữ như vậy đó! Nhưng về, suy đi nghĩ lại rồi rốt gặp nó, rồi cũng bỏ lơ, rồi cũng bỏ đi. Nó cũng tu ở trong đó; nó nói hung hang, mà nó không làm hung hăng được; thấy không? Phần hồn nó không có cho phép: cái sự thúc đẩy của Ngũ Hành ở trong bản thể, Lục Căn, Lục Trần ở trong bản thể, nó thúc đẩy không bằng cái trí của mình được mở.

Các con có học, các con hiểu lý. Chưa đụng chạm tới đời mà các con minh lý là các con đâu có làm điều ác được; thấy không? Còn cái phương pháp ở đàng này, cho đụng chạm: khi không bắt người ta Soi Hồn, bịt cái lỗ tai nó nghe “Ồ ồ;” rồi bắt cái điển đụng chạm với cái điển: mình đụng chạm nhiều, mở một con đường. Cái tâm mình không khác gì cái căn nhà tốt đẹp, thì mình bỏ mình đi ta bà, chỗ này, chỗ nọ; bây giờ mình trở về, mình trở về thì tự nhiên cái chướng ngại vật ở xung quanh nó bao vây hết căn nhà thành rừng rú. Khi mình đi về thì nó phải đụng chạm: mình phải chặt cây, khai thông cái lộ, mới bước vô trong căn nhà cũ.

Thì chúng ta bịt, nghe “Ồ ồ;” bịt một thời gian sau hết nghe “Ồ ồ” nữa, thì cái tâm linh nó mở, cái luồng điển của nội tạng nó khai thong, nó hòa hợp với cái đại tự nhiên, nó mới xả tất cả những cái ô trược của nội tâm ra ngoài: nó không có giam giữ cái thần thức nữa. Lúc đó cái tâm con người nó mới là thanh thản, nó thông cảm chính nó; tới lúc đó mới biết: “Nhất Lý Thông, Vạn Lý Minh; tôi vô trong thanh tịnh rồi, tôi mới xét tất cả những sự động loạn của tôi từ quá khứ và tới bây giờ!”

Còn cô cứ theo cái điển động loạn hoài, thì cô cứ xét hoài, thì nó làm cho cuồng trí luôn. Bây giờ sửa trở lại, sửa trở lộn lại, đi trở lộn vô cho nó tập trung cái luồng điển, cái sáng suốt đem trở lộn về: những cái dây điện mà treo ở bên ngoài, mình đem về xài ở bên trong.

Cái người tu: đại hùng, đại lực, đại từ bi. Đại hùng là sao? Cha mẹ sanh ra mình cơ cấu như thế đó, mà đời dạy mình thế đó đi nữa, thì mình cũng phải sửa trở lại cái tư cách cho đời là giả tạm. Đại hung: là cương quyết; đại lực: phải thường xuyên hành cái pháp để đi tới thanh cao, đi vô cái con đường thanh tịnh của điển quang; Đại từ bi: đem sự thật nói cho người khác nghe. Bao nhiêu đó đủ rồi; cần gì phải lập chùa, lập miễu nữa; mất công! Thấy không? Thực thi được 3 cái đó là tốt; nói cái chơn chánh, “Hồi trước tôi lộn xộn, tôi suy nghĩ là không có chú ý tất cả những cái gì ở xung quanh.” Thì bây giờ chúng ta đang sống trong gia đình, chúng ta phải mượn cái tay, cái luồng điển của Thượng Đế cho nó đỡ một phần; bởi vì cái người đời mà. Cái này tu tại thị mà, phải mượn cái này đi ngay cái đường đi của Đức Phật; tập trung cái này, bịt cái này cho nó tức ở trong này, nó tông ra, nó mới giải ra ngoài. Thành ra cái bộ óc là cái ngưỡng cửa (… nghe không rõ – mp3.6 – 28:03)

Thì Đức Phật, Ngài ngồi ở gốc cây, ngài không cần biết; bởi vì ngài đâu có biết suy tư của ngài. Ngài thấy con người phải lão, phải bệnh, phải chết, ngài không tiếc nữa; đã làm ông vua được một lúc rồi, sự suy tư quá mức của ngài, ngài mới tập trung nhắm con mắt suy tư, bựt cái ánh sáng ra (… nghe không rõ – mp3.6 – 28:22), Ngài đi, đi, đi, đi tìm cái ánh sáng đó, đi theo cái ánh sáng đó. Mà Ngài quên phương tiện sanh sống của cái bản thể, đi kiếm ăn uống đồ này kia, kia nọ thành ra xuất ra khỏi cái bản thể, bầu trời thế giới, Ngài mới cắt nghĩa “Tứ Đại Giai Không” cho mọi người nghe.

Trong lúc mọi người được tiếp xúc Ngài, Ngài chỉ rút cái điển của mọi người, làm cho tâm hồn của mọi người được yên. Thì đi về cái điển giới, cái pháp này là đi ngay cái pháp của Đức Thích Ca; còn Ngài đói bụng, Ngài làm cái gì? Ngài hít hơi, chớ cơm đâu ăn? Thì ở đây mình làm Pháp Luân, hít hơi vô “Đầy rún, đầy ngực, tung lên bộ đầu.” Vậy thì Ngài ngồi đó, Ngài không có đi cầu được nữa; có ăn gì đâu mà đi cầu! Ngài chỉ hít cho cái hơi nó tung lên bộ đầu, nó đi ra. A! Còn mình ở đây, ở trần, ở trong gia đình, mình cũng làm Pháp Luân, nhưng ở đây chỉ ngay lỗ rún, đưa lên ngực, tung lên bộ đầu, đem cái phần thanh điển (… nghe không rõ – mp3.6 – 29:30)

BĐ: (… nghe không rõ câu hỏi)

ĐT: Bởi vì Đức Phật từ bi, hi sinh luôn cả Ngài. Bởi vì hi sinh cái bản thể vật chất thì phần hồn của Ngài, nó được cao kiến. Còn cái phương pháp ở đàng này của chúng ta cũng vậy. mình đã là một người mẹ của gia đình, thì mình phải làm một con đường xứng đáng cũng như Đức Phật Quan Âm đã làm. Một biến mười, một biến tám, một biến năm; mình là nắm cái pháp trong tay rồi, tại sao mình không điều chỉnh cho nó hợp pháp, phải không? Thì mình phải đi theo cái lượng từ bi, mà muốn có cái lượng từ bi là phải có cái gì? Phải có luồng điển sáng suốt, luồng điển sáng suốt đó ở đâu? Do bộ đầu mình phát khởi.

À! Trên bộ đầu của Bà, nó kết tập bởi cái gì? Thì sự diêu động của nước, lửa, gió, đất mà thôi. Nhưng mà ở trong này, bên trong nó có cái chủ điển, là đàng này chúng tôi nói “Mô Ni Châu” là cái ánh sáng đó; tôi vừa nói, Bà hiểu; Bà nói, tôi hiểu. Đó là cái cảm thông về thiêng liêng. Thì trong đó, mọi người đều có, nhưng mà họ quay quần theo cái sự diêu động, thành ra quên hẳn cái điểm thanh tịnh của họ.

Cho nên, cái phương pháp ở đây, công phu rồi nó đem trở lại cái sự tráng kiện cho cơ thể trước hết; có tráng kiện nó mới bớt động loạn. Còn nó bệnh hoạn lôi thôi, nay nóng, mai giận, thì tự nhiên nó động loạn trí óc, nó làm cho thần kinh bất ổn, thì cái gia đình nó cũng bất ổn. Mình làm một người mẹ hiền ở trong gia đình, mà mình cái tâm thần bất ổn, thì con cái nó cũng chẳng có yên; thấy không?

Cho nên, cái phương pháp ở đàng này nó tự sửa chữa về cái luồng thanh điển, chớ không nói tu như ở vật chất, như ở thế gian. Lạy, hay là thắp nhang này kia, kia nọ, cái đó đàng này không có. Cái này phải lấy cái công phu điển quang của mình, muốn đảnh lễ Phật thì phải tự thắp lấy, đem sáng suốt đi tới gặp Phật, mới là thắp nhang. Còn không đem sáng suốt tới Đức Phật, chúng ta không phải là người thắp nhang. Thắp cây nhang cho có lệ rồi xá, xá 3 cái, rồi bỏ đi; cái đó không phải.

Còn đàng này, chúng tôi thắp nhang là tập trung cái luồng điển của chúng tôi càng ngày càng sang: “Tôi đem cái ánh sáng tôi tiến gần Đức Phật, tôi mới là kính mến Đức Phật, tôi mới học cái đường lối cực khổ của Đức Phật để đi tới trọn lành, tự giải thoát.”

Thành ra, cái phương pháp công phu của chúng tôi không sợ nghèo, không sợ đau khổ; nhưng mà chúng ta chấp nhận cái nghèo của chúng ta, rồi chúng ta sẽ hết nghèo; chấp nhận cái khổ của chúng ta rồi chúng ta sẽ hết khổ. Còn nếu mà chúng ta không chấp nhận thì cái nghèo nó dồn dập, cái khổ nó càng dồn dập thêm.

Thành ra Bà có cơ hội đến đây, đàm luận, tìm hiểu với chúng tôi; chúng tôi đây là đồng đẳng bạn bè nghiên cứu với nhau, thì bà Thiếu Tá bả đem tới, có cái gì học nơi bả? Bả hồi trước làm sao; bây giờ bả tu cảm giác thế nào? Những cái tai nạn của gia đình bả cũng nhiều lắm; nhưng mà bả vẫn bình tâm đi theo một con đường thanh tịnh. Rồi bả thấy tất cả cái gì đâu đó nó sắp đặt, nó sẽ quy nguyên theo cái đó, không có chối cãi gì được; thấy không? Mình phải lo xây dựng lấy mình; mình phải lo tu mình, rồi mới ảnh hưởng được con cái.

Cái cây nó có trái nhưng mà cái rễ không chịu thu hút cái phân bón tốt thì cái trái nó không có ngon. Thì người mẹ là cốt yếu của gia đình, mình phải lo tu, lo tìm một cái phương thức để cho nó cởi mở luồng thanh điển bộ đầu, thì tự nhiên nó đi tới một người hiền đức. Còn cái điển mà nó còn uất trong cái nội tạng nữa, thì cái đầu nó tối tăm, gặp cái gì thì nó sân si, nó la lô um sùm, nó làm cho cái gia đình bất ổn, thì con cái nó cũng không yên. Mẹ thì thương con, con thương mẹ, nhưng mà hai cái tình thương đó chưa, kêu bằng, trong suốt được vì sự bận rộn của ngoại cảnh nó làm cho cái gia đạo bất ổn.

Thì bây giờ, mình sửa, điều chỉnh lấy mình để ảnh hưởng con cái. Mình thực thi con đường của Quan Âm làm. Ngài thương tất cả mọi người, Ngài làm cho tất cả mọi người; Ngài không bao giờ đòi hỏi cho Ngài một cái gì hết. Cho nên, ngày nay họ mới kính nể Ngài và kính mến Ngài và người ta muốn học theo cái đường của Ngài đã đi.

Thì bây giờ mình làm mẹ, mình phải thực thi cái từ bi bác ái và tôi muốn hành cái pháp này để trợ, làm một cái phương tiện để giải cái trược khí hàng ngày thâu thập từ ngoại cảnh xâm nhập vô bộ óc, rồi lần lần nó sẽ hư, làm cái phương tiện thôi. Rồi còn ở cái tâm ở bên trong khi mà chúng ta sáng lạng rồi la ta thấy, thì khi ta kẹt ở dưới giếng thì bao giờ nó cũng tù túng. Mà ta tìm cái phương pháp, ta bước lên khỏi cái mặt giếng rồi, thì ta thấy cái gì nó cũng thanh thản, cái gì nó cũng dễ dãi, không có cái gì kêu bằng khó khăn hết. khi ta kẹt ở dưới giếng, ta lý luận đủ thứ hết, biện hộ đủ thứ hết, nhưng mà rốt cuộc cũng là người bị kẹt.

Thì ta cố gắng ta học cái pháp để làm ra khỏi cái miệng giếng, thấy không? Rồi ta mới hưởng cái thanh khí điển phong phú của Trời Đất đã và đang ban bố. Chớ không phải Trời Phật phạt mình đâu, chính mình đã phạt mình. Tiền kiếp mình khởi điểm sai, thì bây giờ mình phải chịu phạt; cho nên ở thế gian dòm mặt là biết: cái người đó hồi trước nó thiếu nợ ai, nó làm sao, lôi thôi. Ngày nay nó phải đau khổ.

Thì bây giờ ở đây, chúng ta cũng vậy; nhiều khi những người không có tu, thiếu tiền người ta, rồi cũng cải cho thắng, cũng không muốn trả nợ. À! Lấy lý luận này, lấy lý luận kia, lấy lý luận nọ; đó là giam hãm, đem sự tối tăm đến cho mình, rước cái ô trược vô đầu óc. Làm sao mà tiến về thanh cao được, cái gia đình mình làm sao mà phát triển được, tại ai? Tại mình! Mình còn nuôi cái tập quán của tiền kiếp: cho mình là hay, cho mình là phải, đè ém người khác. Rốt cuộc những người đó không bị cái gì hết, mà mình sẽ bị cái đau khổ do cái tập quán xấu; cái đó kêu bằng: tăm tối không có phát triển nổi.

Cho nên người tu của chúng tôi ở đây, sau này người nào cố gắng tu thì họ công khai với những sự thật: tôi thiếu nợ người đó, tôi thiếu nợ; bây giờ tôi còn bản thể, còn đầu óc, còn tay chân. Tôi phải làm để tự mình ăn, tự phải làm, bắt buộc chúng nó. Tôi lấy đồng tiền đó, tôi cũng nuôi trong cái bản thể này. Lục căn, lục trần, nhân viên trong bản thế này tạm sống ở thế gian. Tôi phải hành nó, bắt nó làm trả cho đầy đủ trước khi tôi đi, không thiếu nợ ai hết.

Tôi phải trở về cái không không, vạn sự khởi đầu bởi nhất không. Bây giờ tôi phải trở về cái không đó, tu tiếp, ăn cơm với muối, một ngày một buổi, tôi cũng chịu, chấp nhận. Tại vì trước kia tôi ăn Yến, ăn Sâm. Bây giờ tôi mới xài hết tiền làm ra sẵn; nếu tôi có mực thước thì tự nhiên nó phát triển. Một mặt tôi tu, tôi được hưởng cái thanh khí điển của trời đất, một mặt tôi xây dựng lấy tôi, tôi sửa chữa lấy tôi, tự nhiên tôi có thể hòa cảm với các giới; cái sự làm ăn của tôi, nó không có thất bại, vì tôi không còn cái tánh kiêu căng nữa, và tôi không còn lấy cái lẽ bất chánh: để tôi biện hộ lấy tôi. Nhưng mà tôi đem sự thật ra cũng như trời đất đã ban bố cho tôi, có bao nhiêu đó!

Có một cái ánh sáng đưa xuống thế gian, vạn vật mới thông cảm; mà bây giờ ánh sáng trong nội tâm tôi không có, thì trong cái cơ thể tôi nó không có an, gia đình tôi cũng bất ổn, hoàn cảnh tôi luôn luôn đi trong đường tối tăm, không thể bước ra cõi ánh sáng được. Cho nên cái phương pháp công phu ở đây, Bà có cơ hội tới đây nên nghiên cứu cùng chung với tất cả chị em. Cái nào hay thì Bà có thể thâu thập về để công phu.

Bà hỏi cái quá trình đau khổ của họ, có nhiều người còn đau khổ hơn Bà nhiều lắm, chưa thoát lời đã rơi lụy. Nhưng mà ngày nay người ta vẫn bình tâm, người ta tu, người ta thấy mỗi người đều có cái căn quả riêng biệt, có hồn, có vía. Cái hồn của đàn Bà được điển giam hãm ở trong con tim, cái vía ở ngay lỗ rún. “Âm Dương Hiệp Nhứt Chi Nhơn”, có âm, có dương mới là con người, sống đồng quan, chết đồng quách. Còn vợ chồng thế gian, nó không có tụ hợp được; cho nên đừng có gây hấn trong gia đình. Phần ai nấy lo, ông tu ông đắc, Bà tu Bà đắc; hễ mình sửa mình được thì mình có sáng suốt. Người ta sáng suốt, người ta ký một chữ ký là mấy ngàn người làm việc. Còn mình không sáng suốt mình la bể nhà, bể cửa cũng không ai tới giúp mình. Tại vì mình thiếu sáng suốt, thấy không?

Ở trên kia, mấy ông tiên, ổng họp có chút xíu; ở dưới này, nó làm việc mấy năm chưa xong nữa; còn một ông giám đốc, hay là một ông bộ trưởng, một ông làm cao, ổng vẽ có mấy chữ, ở dưới này người ta chạy, người ta làm việc như vậy, tại sao? vì người ta có sáng suốt mới được, nói về đời, còn về đạo, cái Hồn chúng ta thoát ly bản thể thì chúng ta mới quản lý bản thể được, chúng ta mới kiểm soát sự sai lầm ở trong bản thể, chúng ta mới tổ chức và điều khiển lại cái cơ cấu; cái bản thể là cái Tiểu Thiên Địa; nước, lửa, gió, đất do mình điều khiển, chớ nó không điều khiển mình được.

Còn người không tu, đi theo tối tăm ngược lại, nó lật ngược Ông Trời, nó làm (… nghe không rõ – mp3.6 –) Nó lấy cái mặt tiền làm chánh, cái nó thấy, nó cho cái đó là chánh. Còn cái của nó ở trong tâm hồn nó, nó không biết. Cái cơ cấu nó không minh cảm, rồi làm sao nó điều khiển được? làm sao nó biết sự sai lầm của nó? Còn cái đàng này của chúng tôi phải trở về với bản thể, khai thông bản thể, điều chỉnh bản thể. Xuất ra khỏi bản thể, rồi mới trở lại dìu dắt tất cả những sự sai lầm ở tiền kiếp, để sắp đặt cái khởi điểm ở kiếp này, không có luân hồi lại thế gian lần thứ nhì nữa!

Nếu mà kiếp này chúng ta còn tiếp tục biện hộ, biện hộ làm cái tập quán như kiếp trước thì chúng ta càng đi xuống nữa, thấy không? cái xấu của mình, mình không chịu công khai. Mình cứ biện hộ thì tự nhiên cái tập quán mình xấu. Cái nợ nần càng ngày càng chồng chất đầy đầu đầy cổ, nhưng bên mạo diện thì nói không có gì chớ tâm hồn thì nó tan nát hết trọi. Thì cái lúc đó cái điển nó thấp, nó chết, nó đi theo cái giới làm trâu bò để trả nợ cho họ; cái đó còn khổ nữa, bị đánh, bị đập, bị hành hạ, nhiều chuyện lắm.

Cho nên các bạn, những người tới đây tu thì được biết đi vô trong điển giới, và được biết nhất định chúng tôi phải trở về với thực trạng của tôi là: có Hồn có Vía, chớ không phải bản thể. Không phải cái gia đình ở thế gian này, mà cũng không phải cái ngoại cảnh có thể chi phối, chính cái Hồn đã trách nhiệm với Trời Đất, sẽ trở về với thực trạng càng sớm càng tốt.

Thành ra cái tu này không có bị ai gạt; không có thầy; chỉ có bạn để nghiên cứu; không có ai gạt được hết, mình trở về với thực trạng của mình, và mình không phá khuấy người khác, không có chê người này, khen người nọ. Chính mình, mình chê mình không kịp; ở trong này cái sự sái quấy của thất tình lục dục càng ngày càng nhiều; mình sửa đổi chưa được thì làm sao mình đi chê khen người khác, phải không? Cho nên cái phương pháp đàng này nó thấy đơn giản, nhưng mà sau này, nó là phức tạp; bởi vì nó phải trở về với thực cảnh của nó thì nó phải đụng chạm ở bên trong của nó, chớ không phải đụng chạm với người thế gian.

Chúng ta đâu có phổ, ở đây chúng tôi không có phổ biến là cho “Cái đạo chúng tôi hay,“ để đi đụng chạm với cái đạo khác; không! “Đụng chạm lấy tôi, đụng chạm lấy mình, người tu thì đụng chạm lấy mình; để đánh đổ thì nó mới khai thông. Thì bây giờ muốn làm thông một cái đường lộ phải đục, phải chọt, phải giở nó lên; à! Muốn phát một cái rừng là phải chặt cây: mình làm cho mình. Cho nên, cái phương pháp ở đây là tự tu, tự tiến thôi.

Bà về Bà nghiên cứu với Bà Thiếu Tá, nghe qua những cái lời tôi nói ở trong băng đó, lần lần con người nó tỉnh, chớ không có gì hết; thấy không? Còn cái khổ ở thế gian, nên chấp nhận: khổ nhiều chừng nào thì chúng ta mới tiến gần Phật chừng nấy; sướng nhiều chừng nào thì chúng ta xa Phật Pháp. Dễ xa lắm: nó vô cái nó mê, vô cái mê hồn trận là nó mê: thế gian cái gì cũng hay; “Ooa! Có cái ống, nhưng mà ổng thổi ra tò tí te, đủ thứ hết; nghe hay quá! Không biết cái đó là cái gì?” Mình tu rồi thì mình biết cái nguyên căn: “Ông đó ổng không có hơi thì cái kèn kia cũng xài không được; mà ông có hơi, mà không có cái trí, thì cũng không có phát âm rõ ràng như vậy được; nhưng mà cái trí của ổng mà những người có trí, mà trí sáng suốt, nó cũng phân có một thứ tự để mà thổi. Chớ không phải nói: “Tôi có hơi là tôi thổi kèn!” Cái kèn kêu, nhưng mà không ai nghe. Có người thổi kèn, kèn kêu, mà người ta không nghe. Còn có người, người ta thổi, “Ii…” vậy mà có người ta nghe; cái đó nó do đâu tới?

Cho nên, mỗi người đều có một căn quả khác nhau: có mặt, mũi, tai, miệng, đều có trí tuệ khác nhau, và cái sự hiểu biết nó khác nhau; không có giống nhau, không có đồng loạt đâu. Cũng thì là một lời nói của tôi phát âm ra, nhưng mà mỗi một người trí thức cao hiểu biết khác, người trí thức thấp hiểu biết khác: nó có mỗi từng, mỗi lớp, từng trình độ; nhưng mà trình độ nào nó cũng có thể tiến được nếu nó chịu sửa chữa lấy nó. Nếu nó chịu tự khắc phục và phục thiện để chấp nhận cái sự sai lầm của nó thì tất cả đều giải tỏa được hết, không có lôi thôi nữa.

Mình cứ lo mình biện hộ lấy mình, cũng như không khác gì mình lấy đồ mình ngăn đường không cho người ta đi; thấy không? Mà chính ngăn đường không cho người ta tiến tới gần mình là mình đã ngăn đường cho mình xuất ra! Ngược lại là mình đã phá hoại lấy mình; thấy không? Thành ra cái phương pháp ở đàng này, tu thét rồi tất cả Lục Căn Lục Trần nó phải theo mình: nhân viên trong cơ thể nó cũng phải theo mình. Rồi cái điển nó thông lên, nó thuộc về Long Thần Hộ Mạng; tai nạn nó không có nhiều.

Để toàn dân ủng hộ mình hơn là mình một mình mà đi làm cho toàn dân; đi ủng hộ toàn dân cũng khó lắm. Mà trước hết, muốn toàn dân ủng hộ mình, mình phải làm cái đường lối nào cho nó rành mạch: một người chủ phải chơn chính, một người chủ phải thanh liêm, một người chủ phải thông minh, một người chủ phải biết hiểu xa, hiểu rộng, thấu xa hiểu rộng; rồi đem cái sáng suốt cho toàn dân, không có kể công cán, không có kể công ơn; ở trong tinh thần phục vụ triệt để.

Phần hồn đối với bản thể, lúc nào mình cũng giúp đỡ chúng nó; mỗi, mỗi chân lông đều được thu hút cái thanh khí điển của Trời Phật, mình đem về bao nhiêu, mình ban bố cho tất cả nhân viên. Ở đây chúng tôi có cái Pháp Luân Thường Chuyển; cái đó nó tiêu diệt cái độc tài. À! Thì trong bản thể của Bà bây giờ có bò ,bay, máy, cựa, đủ hết: bởi hồi nào tới giờ ăn bò, ăn heo đủ thứ hết; tiền kiếp tới bây giờ đem theo cả đống ở trong đó; nhưng mà Bà không có giúp đỡ chúng nó cái gì hết; thì tự nhiên một ngày kia nó phải quật trở lộn lại, lật đổ. Mà mỗi ngày, mỗi đêm Bà lo Bà tu, Bà giúp đỡ cho nó, Bà viện trợ cho nó, Bà làm tất cả những gì trong khả năng của Bà giúp, cũng như Quan Âm đã giúp cho người thế sanh; thấy không?


----
vovilibrary.net >>refresh...