00000000L40
Ngày 29 và 30 tháng 10, 1987
[Chưa chép 12 phút Thầy giảng ở video]
HỒI BA MƯƠI HAI
DẠO ĐIỆN TAM QUAN BÁI HỘI THỦY QUAN ĐẠI ĐẾ
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 23 tháng 9 năm Canh Thân (1980)
Thơ
Nhất phái thanh sơn cảnh sắc ưu
Khinh khinh cổn thủy tính ôn nhu
Thiêu ly thế đạo kham ta thán
Mạc phụ quan âm nan đảo lưu.
Non xanh một dải đẹp vô vàn
Nước biếc êm đềm mãi chứa chan
Thế đạo tan tành khôn kể xiết
Quan âm chớ phụ kiếm gian nan.
Đức Thầy giảng:
Phụ Quan Âm thì kiếm sự gian nan.
Tế Phật: Người đời mỗi ngày trước khi đi ngủ nếu không tắm rửa thì mồ hôi chẳng toát ra, cơ thể chẳng mát mẻ, mộng mị trong giấc ngủ chẳng êm đềm. Những tà niệm trong tâm chúng sinh ngày đêm không ngớt dày vò, đầy ắp tư dục, tình ái và uất hận, vị chủ nhân của tâm chúng sinh phải chịu mãi cảnh khổ sở đó, tới nỗi tưởng chừng hết còn kham nổi. Vậy liệu chúng sinh có tẩy rửa cho sạch sẽ mỗi ngày để vị chủ nhân đó được mát mẻ khoan khoái không? Nếu như không, mồ hôi nhơ bẩn của vị chủ nhân thân xác đó sẽ bốc mùi xú uế, chẳng ai dám gần đến, cả Tiên Phật cũng tránh xa ngàn dặm, và cứ cái đà xuống dốc như thế mãi, cuối cùng sẽ thành quỷ rác rến biết không?
Bữa nay ta hướng dẫn thánh bút Dương Thiện Sinh dạo thăm điện Tam Quan, bái hội đức Thủy Quan Đại Đế để kính xin Ngài sử dụng nước pháp giải nguy trừ họa cho thế nhân, cùng giúp đỡ thân tâm những kẻ phàm phu tục tử trở nên thanh tĩnh, hẳn là người đời sẽ được hưởng phúc không nhỏ.
Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.
Tế Phật: Đã tới nơi, Dương Sinh xuống đài sen.
Dương Sinh: Nơi đây có một con sông chảy, nước trong suốt có thể nhìn thấy đáy là tại sao?
Tế Phật: Đây là linh khí của đức Thủy Quan Đại Đế hóa thành. Chúng ta hãy đi theo con đường lớn bên bờ sông, tới bái yết đức Thủy Quan Đại Đế.
Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Khí tượng nơi điện phủ Tam Quan muôn màu muôn vẻ, Thiên địa tạo hóa sao lại có thể ảo diệu tới mức này?
Tế Phật: Hỗn mang vừa chia, vạn vật tạo dựng đều có định luật, thân người cũng có Tam Quan, con người phải tự giác ngộ để có thể sáng tỏ tất cả.
Dương Sinh: Bên bờ sông liễu xanh rủ bóng, cảnh sắc khiến lòng người vô cùng ưa thích.
Tế Phật: Cảnh đó tuy trang nghiêm song vẻ thiên nhiên rất phong phú, thực là cảnh Tiên hoang dã. Cung Thanh Hoa ở phía trước, chúng ta hãy vào trong bái yết đức Thủy Quan Đại Đế.
Dương Sinh: Thưa tuân lệnh... Đệ tử Dương Sinh xin bái yết đức Thủy Quan Đại Đế, kính mong Ngài ban ân chỉ giáo giùm cho.
Thủy Quan Đại Đế: Miễn lễ. Dương Thiện Sinh, Tế Phật cùng đảm trách sứ mệnh trước tác sách Thiên Đàng Du Ký để khuyến hóa bến mê, lòng tôi rất vui mừng cảm kích. Sách Du Ký tả lại phong cảnh Thiên Đàng, một nhánh cỏ một cọng cây, một ngọn núi một dòng nước, một lời nói một nụ cười đều ẩn chứa muôn vàn diệu lý huyền cơ. Phàm là độc giả có duyên đương nhiên thần đi thì ý gặp, không thể phóng ngựa xem hoa, để tránh khỏi mất đi cơ hội tốt gặp đạo. Sách này thực là phi phàm, nhân vì Dương Sinh sớm có đầy đủ đạo căn, có trí tuệ lớn lao cho nên thấu triệt được diệu cảnh Thiên Đàng mà viết nên một thiên Du Ký, trở thành một đại kỳ thư của kim cổ. Bữa nay tới đây lòng tôi vô cùng hân hoan sung sướng. Tiên Quan, mau dâng trà.
Dương Sinh: Đức Đại Đế quá khen ngợi song đệ tử không dám nhận. Vì nhờ được may mắn theo gót ân sư dạo thăm cõi Trời trước tác sách Thánh, chỉ xin cảm tạ ân huệ lớn lao của đức Đại Đế.
Đại Đế: Cớ sao tự nhiên Dương Thiện Sinh lại nhỏ lệ?
Dương Sinh: Thưa, đệ tử thân vào cửa Thánh một lòng thay Trời giáo hóa, được rõ đạo cao ít người tỏ nên tự than, tâm có dư mà sức chẳng đủ.
Đại Đế: Dương Sinh chớ buồn phiền, đã hết sức lo việc người, dốc lòng nghe lệnh Trời, tâm của Dương Sinh Trời đã tỏ, bút của Dương Sinh người đã động lòng, ra sức giúp thế đạo cùng kéo vận trời, trách nhiệm nặng nề mà đường thì xa, hy vọng giữ bền chí lớn, Trời cao sẽ cảm ứng hóa độ chẳng phụ kẻ có lòng.
Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã yên ủy.
Tế Phật: Trò ngoan chớ ưu sầu, đã có lão tăng đây chẳng lẽ còn sợ không có duyên có chốn hóa độ sao? Y bát chân truyền trong tay, khắp chốn là đạo tràng, lo thực hiện trách nhiệm chung sao cho được tốt đẹp, đi một bước tính một bước. Bữa nay bái yết đức Đại Đế, con nên nhân cơ hội này hỏi đạo cho thật nhiều.
Dương Sinh: Thưa vâng. Kính hỏi đức Đại Đế, ý nghĩa của Thủy Quan là như thế nào?
Đại Đế: Tôi là Đại Đế Thủy Quan Giải Nguy Tam Phẩm Hạ Nguyên, chuyên giúp người đời giải trừ tai ương nguy khốn, nhưng tại sao tôi lại làm chức vụ giải nguy? Bởi vì người đời đều bị bụi bặm ô nhiễm, tội ác đầy mình cho nên biến thành tội nhân. Các tội phạm ở trần gian đều bị chế tài bởi hình phạt do luật Trời sắp đặt, những luật vô hình của Trời con người được thấy rõ nhất là khi mưu sự mà chẳng thành, bệnh ma quỷ buộc thân cầu chẳng dứt, kiếp sống nguy nan không hết, cảnh tình thống khổ tả không thấu nên hiện thời tôi được quyền lo việc giải nguy. Tất cả bệnh tật, hoạn nạn... đều gọi là “tai ương nguy biến”, chữ “tai” thuộc bộ hỏa, ý là tai nạn do lửa sinh ra cho nên phải lấy nước chế ngự nó.
Thuỷ Quan như nước sông biển có thể trừ hết mọi ô uế, tẩy sạch mọi thống khổ, hóa giải hết ân oán, tất cả các nỗi nguy khốn của kiếp sống tiêu tan, tâm thân được trong lắng mát mẻ tươi vui tiếp tục sống còn lớn mạnh, cho nên đời có nói: “Có rớt xuống sông biển tất cả mới được đổi mới”. Do đó hy vọng dẹp sạch mọi nỗi bất bình, oán hận cùng các dấu vết tội ác ô uế ở cõi thế gian, và có như vậy thì tai ương nguy khốn ở trần thế mới tiêu trừ nổi.
Dương Sinh: Đức Đại Đế dùng nước tẩy trừ những tai nạn thống khổ ở trần gian, tưới đất khô cằn, công đức vô lượng, đệ tử xin cung kính dâng lễ. Tuy nhiên còn nhiều chỗ chưa được thật tỏ tường, mong Đại Đế ban lời chỉ giáo để giúp người đời phương pháp giải nguy.
Đại Đế: Đã sinh làm kiếp người chẳng khác gì thuyền trôi trên biển, sóng dập gió vùi nổi chìm bất định, nhớ thuở ấu thơ chập chững mới biết đi, té lên té xuống chân xước máu chảy. Khi lớn lên vật lộn với cuộc sống, mồ hôi đổ ra như tắm, vận dụng hết tâm trí, thân tâm lao lực không chịu thấu tôi lấy nước nóng giải trừ sự mỏi mệt, dùng nước lạnh lay tỉnh sự hôn mê, thường thường thêm dầu thêm khí cho thân được khỏe khoắn. Gặp lúc quá căng thẳng tôi đẩy bớt sức nóng ra ngoài cơ thể để duy trì nhiệt lượng được quân bình tránh bị thiêu hủy. Người ta cũng như máy xe hơi, chạy trên đường đời có kính chiếu tiền chiếu hậu sự nguy hiểm lúc nào cũng nhìn thấy. Sự sinh tồn của nhân loại là kế tục đời sống của Vũ Trụ, vì Trời đất quyết tâm phát huy chính khí đại đạo cho nên với tam tài, tài nhân tức loài người quý hơn cả, tam quan là thiên, địa, thủy; thủy quan tức là nhân quan, người là thể, là chất của máu thịt rất dễ bị thương tổn thiệt hại. Bởi vậy Thủy Quan phải tùy thời giải nguy, hy vọng chúng sinh gặp lúc số kiếp nguy nan hãy niệm tên Thánh của tôi tức thì được hóa giải liền.
Dương Sinh: Tâm Đại Sư quá từ bi, khiến mọi người cảm động. Thế nhân nghĩ là không gặp nguy khốn tai ương như vậy là không biết đạo, thưa đức Đại Đế có thể ban lời chỉ dạy được không?
Đại Đế: Trời không giáng tai họa, sợ nhất là tại người tự tạo tai ương, đạo giải nguy tai họa không có cách nào khác hơn là: “Giữ mình cho thanh bạch ắt thân sẽ tránh được nguy khốn”. Nếu như gặp tai ương phải thực tâm sám hối, thi hành đạo thiện chớ tái phạm điều ác thì Thủy Quan sẽ giải nguy cho.
Dương Sinh: Người đời gặp nguy khốn khổ sở, đức Đại Đế làm cách nào hóa giải?
Đại Đế: Con sông ngoài kia nước của nó có công giải độc trừ họa, có thể nói là thần thủy, Dương Sinh hãy định thần nhìn coi sẽ thấy ngay sự ảo diệu bên trong của nó.
Dương Sinh: Định thần nhìn, trong sông thấy có nhiều nhân vật nhỏ bơi lội, thưa họ là ai?
Đại Đế: Người đời gặp hạn sao cô thân, quả tú, chết không có con cháu nối dõi, quá thống khổ, vì kiếp trước họ không tu cho nên kiếp này mới gặp nạn đó. Nếu các thiện nam tín nữ chịu sớm tối tắm rửa, tĩnh tâm kiên nhẫn đốt nhang đọc kinh sám hối giải trừ tội lỗi thì nguyên thần của các tội hồn đó có thể tắm gội tại sông này để nhẹ bớt đau khổ, dần dần thoát khỏi khổ đau.
Tế Phật: Đức Thủy Quan Đại Đế từ tâm đã ân ban nhiều lời chỉ giáo vàng ngọc, đức Tam Quan Đại Đế chủ tể 3 ty: Thiên, địa, thủy (nhân), trách nhiệm nặng nề, ban phước giải trừ tai ương nguy khốn, tất cả đều hết lòng nghĩ tới sự lợi ích của chúng sinh. Có thể nói là lòng dạ Tiên Phật, công đức lớn lao, do đó phút này chúng tôi tới điện Tam Quan diện kiến đức Tam Quan Đại Đế để kính cẩn lắng nghe lời Thánh dạy bảo.
Đại Đế: Trong điện Tam Quan, Thiên Quan, Địa Quan đang chờ chúng ta, chúng ta hãy cùng vào.
Dương Sinh: Thưa hay quá. Tam Quan như người trong một nhà, bữa nay nhờ vận may tới được nơi đây đồng thời được cung kính lắng nghe Tam Quan Đại Đế chỉ dạy, thực cảm thấy quá vinh hạnh... Đã tới điện Tam Quan.
Tế Phật: Tam Quan tuy chia làm 3 cung, gian giữa là Đại Điện tức là nơi hội họp để lo việc công. Hiện thời đã vào trong điện, hai vị đại đế Thiên Quan, Địa Quan đang đợi.
Dương Sinh: Xin lạy chào ra mắt nhị vị Đại Đế Thiên Quan, Địa Quan. Phía trong bày đầy trái cây tiên ngon ngọt khiến thèm chảy nước miếng.
Thiên Quan Đại Đế: Miễn lễ, Dương Thiện Sinh bữa nay tới viếng thăm điện phủ Tam Quan, đặc biệt bày tiệc khoan đãi để tưởng thưởng công lao viết sách khổ cực.
Địa Quan Đại Đế: Sách Thiên Đàng Du Ký đến đây đã gần xong phần chót, công đức của Tế Phật và Dương Sinh lớn lao, tên tuổi vĩnh viễn được ghi vào bảng Trời, làm Thiên sứ nhà trời có Tam Tào phổ độ, quảng bá phúc âm trên thế giới để cho chúng sinh hồi tâm hướng thiện, vãn hồi được khí số Trời đất, xúc tiến thế giới đại đồng, đức lớn chẳng kể xiết.
Thủy Quan Đại Đế: Tế Phật dẫn đường, Dương Thiện Sinh chủ biên, dạo khắp cõi Trời hỏi đạo chân truyền, giữa thời đại khoa học kỹ thuật chế tạo món ăn tinh thần, duy chỉ có tu dưỡng tinh thần mới có thể đem lại hạnh phúc cho con người, an tâm hưởng thụ các phương tiện của văn minh khoa học kỹ thuật. Còn nếu không sự thông minh của đầu óc con người sẽ là thứ khí giới tự hủy diệt chính con người, sự bất hạnh đó xảy đến với nhân loại ắt chẳng do Tiên Phật nhẫn tâm làm như vậy, cho nên các Ngài mới thường ban huấn thị để khuyên răn. Nhân loại nếu như đều chăm lo tu thân dưỡng tính, đem đời ô trược biến thành đất thanh tịnh ắt là Trời và người đều được may mắn hạnh phước.
Thiên Quan Đại Đế: Mời Tế Phật cùng Dương Thiện Sinh dùng chén rượu Quỳnh Tương cùng trái tiên tuyệt phẩm mà thế gian không có nổi, lộc của Trời cao ban phát hãy tận hưởng.
Dương Sinh: Cảm tạ Tam Quan Đại Đế đã quá yêu mà ban cho lễ phẩm nhiều tới mức này, nhân đây con cũng xin cảm tạ sự hướng dẫn của ân sư Tế Phật.
Tế Phật: Tình thầy trò như nghĩa cha con, hà tất phải thắc mắc. Vì trước kia khi ra đi có lời nguyền sẽ trở lại, nên hiện thời có được mối thiện duyên dạo khắp ba cõi, để viết sách khuyên đời đã khiến tôi tạm gác chuyện: “Thích thói quen tiêu dao, coi pháp môn chỉ là phương tiện” để làm thiên chức bà mẹ hiền nuôi nấng, giúp đỡ mọi người thành Phật thành Tiên. Trách nhiệm của Dương Sinh quá nặng nề mà đường lại xa, gắng đem tâm pháp truyền bá rộng rãi, lòng từ ban trải nơi nơi để chúng sinh được hưởng ơn mưa pháp thấm nhuần, chứng ngộ được đạo quả bồ đề.
Dương Sinh: Con xin ghi nhớ mãi lời thầy dạy ước mong ân sư chỉ giáo thêm cho.
Tam Quan Đại Đế: “Tuy ba Thánh nhân song là một Thái cực, mang sứ mệnh phổ độ muôn nhà, tấm áo bao trùm hết thảy vô cùng trọng đại, là động thanh hư Tử Vi, cai quản tất cả công và tội, ban phước xá tội giải nguy, giúp đỡ sự mất còn, đạo tỏa chư Thiên, ân ngợp tam giới, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, tam nguyên tam phẩm, tam quan đại đế, tam cung cửu phủ, 360 nỗi cảm ứng Thiên Tôn”. Trên đây là những lời Tam Quan báo cáo cực quý trọng, người đời nếu như chăm chỉ tụng niệm, tự nhiên cảm ứng. Giờ đây có bữa tiệc nhỏ này để bày tỏ tấc lòng, đợi tới khi sách viết xong sẽ tổ chức một bữa tiệc lớn khác tại cung Dao Trì, mong hãy chờ đợi ngày đó.
Tế Phật: Buổi bái hội đức Tam Quan Đại Đế bữa nay kết thúc tại đây, Dương Sinh hãy lạy tạ đức Đại Đế, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.
Dương Sinh: Bữa nay được thưởng thức rượu ngon trái ngọt nơi đây, lòng vô cùng hân hoan sung sướng, cảm tạ đức Đại Đế đã ân ban.
Tam Quan Đại Đế: Chớ có e ngại, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, đạo quả tự tu tự đắc chỉ mong tiếp tục gắng công.
Dương Sinh: Bái từ đức Đại Đế. Thưa ân sư con đã lên đài sen, mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
HỒI BA MƯƠI BA
DẠO ĐIỆN TRUNG NGHĨA VÀ ĐIỆN HIẾU THẢO
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 6 tháng 10 năm Canh Thân (1980)
Tâm huyết ngưng thành nhất bảo thiên
Công thùy vạn cổ thuyết chân thuyên
Sinh tri phô thiết Thiên Đàng lộ
Tử giá tường vân tố Thánh Tiên.
Sa bàn ma phá liễu đào chi
Thụ chấp ngưng thành ngũ sắc chi
Phúc địa thiên di quy Thánh đức
Liên hoa xuất tự ngọc Dao Trì.
Tâm huyết đọng thành cuốn sách Tiên
Công ghi muôn thuở đạo chân truyền
Thiên Đàng sống rõ đường qua lại
Chết cưỡi mây thiêng hóa Thánh hiến.
Cành liễu đàn cơ vung múa mau
Nước cây đọng hóa cỏ năm màu
Về Trời đất phước lo trồng đức
Sen trắng Dao Trì nở ngợp ao.
Tế Phật: Dao Trì ý chỉ và Kim Khuyết ngọc chỉ đã ban, sách Thiên Đàng Du Ký sắp viết xong, ngả Thiên Đàng gặp nhiều người thản nhiên cày bừa nơi mảnh đất yên, họ đã tìm về được nơi trú ngụ thiện lành sau chót. Con đường tương lai mà người đời muốn đi tới là con đường nào? Thiện ác hai ngả xin lựa chọn cho thật kỹ lưỡng, cuối con đường thiện là ngả lên Thiên Đàng, cuối con đường ác là ngả xuống Địa Ngục, người đời hiện đang đi trên đường nào? Xem xong hai cuốn Thiên Đàng, Địa Ngục Du Ký chúng sinh đều trở thành những phê bình gia, tương lai lên Thiên Đàng hay xuống Địa Ngục trong lòng đã thấy rõ. Còn Tiên Phật, Diêm Vương chẳng qua chỉ chiếu theo ý muốn của chúng sinh mà thâu nhận thôi, cũng chớ nghĩ lầm là Diêm Vương lãnh đạm vô tình. Đối với một kẻ vô đạo, lòng dạ hiện ra nét mặt, rồi người đời lại đem bộ mặt giả đó gắn cho Diêm Vương. Còn Tiên Phật lộ vẻ hiền lành tươi vui giống như đưa tay vẫy gọi chúng sinh, dung nhan từ thiện phúc hậu của các Ngài cũng là do người phàm gắn cho chư vị, do đó mà chẳng cần cảm tạ tấm tình chan chứa đó của các Ngài. Hai bộ mặt khác biệt nhau đó cũng đều do chúng sinh tả chân ra, chúng sinh đã vẽ chân dung chính họ, nhưng chẳng ai dám làm chủ, chỉ thấy chúng sinh hứng thú với nét bút vẽ vời của chính mình. Lão tăng nói tới đây mong rằng chúng sinh lắng nghe kỹ lưỡng, để tránh việc mời lão tăng thuyết pháp thêm lần nữa, bởi lẽ khi đó lão tăng đã nhập niết bàn rồi. Bữa nay thầy lại hướng dẫn trò ngoan Dương Sinh dạo Thiên Đàng, hãy chuẩn bị.
Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.
Tế Phật: Thầy trò cưỡi tòa sen bay dạo thăm ba cõi khiến hoa trời rơi rụng tơi bời, chúng sinh nhìn thấy hoa lòng cũng tưng bừng đua nở, song còn bao kẻ không biết hân hoan thưởng thức, thật đáng tiếc vì họ chẳng có duyên. Dương Sinh, còn tâm con cảm thấy thế nào?
Dương Sinh: Thưa ân sư, sự theo hầu bên cạnh thầy trong những năm qua đã giúp ích con rất nhiều, được theo thầy dạo thăm ba cõi phải nói là ba kiếp mới có nổi may mắn. Ngồi trên đài sen nhẹ nhàng bay, tuy không phí sức song tự cảm thấy trách nhiệm nặng nề mà đường thì xa, không dám lơ là coi nhẹ.
Tế Phật: Phải, nếu bừa bãi tất nhiên sẽ bị hy sinh, bởi lẽ gai góc mọc đầy, đạp phải gây thành thương tích máu chảy, khi đó nhìn lại đường đời có biết bao kẻ đang đi, họ sẽ nhìn ngó và mỉm cười chua xót để an ủi.
Dương Sinh: Thưa ân sư dạy rất đúng, để mình được an tâm, để chúng sinh có đạo, đường đời mới có giá trị.
Tế Phật: Đã tới nơi, mau xuống đài sen.
Dương Sinh: Bữa nay đã tới chốn nào đây, cớ sao phía trước lại có một số người dáng vẻ uy dũng, xem ra chẳng giống người thường.
Tế Phật: Đây là điện Trung Nghĩa trực thuộc điện Tam Quan, còn những vị vừa thấy đều là các đấng tận trung, hy sinh vì tổ quốc, sau khi chết đều lên trời làm thần, chúng ta mau tới trước bái yết...
Dương Sinh: Vào trong điện thấy có nhiều vị mặc chiến bào hoặc quan phục ngồi ở giữa điện, không rõ quý vị đó là ai?
Tế Phật: Từ xưa tới giờ những ai trung hiếu tiết nghĩa đều được lên Trời làm Thánh, vị ngồi giữa điện là Nhạc Võ Mục Vương tức Nhạc Phi, thứ đến một số vị khác là trung thần liệt sĩ cổ kim vì nước hy sinh tính mệnh, sau khi chết linh thăng cõi Trời, được dân chúng hàng năm dâng lễ vật cúng vái, vạn cổ lưu lại tiếng thơm. Còn các vị khác lúc tại thế đều làm quan thanh liêm, chẳng hề tham nhũng hối lộ, chỉ dốc lòng lo cho dân, sau khi chết cũng được thăng cõi Trời làm Thần, sống tiêu dao tự tại trong các sảnh đường thuộc điện Trung Nghĩa, hoặc tới các tầng Trời khác đảm nhiệm chức Thánh. Ngạn ngữ có nói: “Chính trực vô tư gọi là Thần”. Quý vị đó đều ngay thẳng quên mình lo tu tập đạo công chính, tới ngày thành đạo cõi Trời cũng rất cần những nhân tài đó. Bởi vậy chốn phàm trần khi bái lạy các vị Thần Thánh chớ có đòi hỏi điều kiện này nọ ví dụ như: “Nếu Ngài giúp đỡ con được thành công trong công việc con sẽ dâng lễ vật cúng Ngài”. Nếu cầu như vậy Thần Thánh chân chính sẽ không chấp nhận, bởi lẽ các vị đó luôn luôn căn cứ theo lẽ công làm việc, bởi vậy chúng sinh phải tâm thành mới linh ứng. Dương Sinh có thể kính xin đức Nhạc Võ Mục ân ban lời chỉ giáo.
Dương Sinh: Hướng về phía Võ Mục Vương cùng chư vị thánh hiến nghĩa sĩ kính lạy. Thưa, đệ tử không được rõ sự sinh hoạt tại cõi Trời ra sao, kính xin chư liệt vị chỉ giáo cho.
Nhạc Võ Vương: Tôi vốn nhậm chức tại điện Linh Tiêu Ngọc Đế, bữa nay đặc biệt tới điện Trung Nghĩa này hội hợp. Thiên Đàng vốn ngập tràn chính khí song vì ngày nay thượng tôn văn minh khoa học, đạo đức người đời trụy lạc, gian ác thịnh hành khiến cho nguyên khí của Trời đất ngày một mất đi, cho nên gặp nhiều tai họa. Tôi ước mong người đời hãy ghi nhớ lời dạy của đức Khổng Phu Tử: “Chính tâm, tu thân” để làm khuôn mẫu sống ở đời. Phàm làm việc công không được tham nhũng lãng phí của công; ngoài ra những người làm nghề khác cũng đều phải giữ đúng cương vị của mình, mọi người phải tận trung ái quốc, bảo vệ cương thổ, hy sinh tính mệnh tức là “vị đạo vong thân”, anh linh ắt được thăng cõi Trời như đức Quan Thánh: “Lòng son ngời nhật nguyệt, nghĩa khí ngợp đất Trời” (Đan tâm chiếu nhật nguyệt, nghĩa khí quán càn khôn) tới nay mọi nhà đều có lập bàn thờ, luôn luôn cúng lễ cho nên mong ước chúng sinh: “Yêu nhà, yêu quê càng yêu nước”. Còn như Tần Cối gian nịnh hãm hại trung thần, phải chịu mười kiếp luân hồi làm heo, đến nay còn bị nhốt tại ngục A-Tỳ chẳng được siêu thăng.
Cõi Trời yêu “trung nghĩa”, Địa Ngục nhốt “bất nhân”, bởi vậy người đời chớ có gian manh hại nước, còn không lúc sống bị mọi người nguyền rủa, khi chết vĩnh viễn đọa Địa Ngục.
Dương Sinh: Trung hiếu tiết nghĩa là đức tốt của truyền thống nước ta, cũng là tôn chỉ của Thánh Hiền Đường đề xướng, tu đạo cũng chính là tu đạo đức lớn “Trung hiếu tiết nghĩa”, nếu như bỏ bốn đức đó thì kể như không có đạo để tu. A, mặt tường phía trước còn treo đầy thẻ ghi tên các vị trung thần liệt sĩ của các triều đại, hào quang lấp lánh tỏa ngời.
Nhạc Võ Vương: Đó là những thân vị của các bậc trung thần nghĩa sĩ, khi lên Trời đều được ghi tên vào bảng anh hùng, và được hưởng đời sống cực lạc.
Tế Phật: Vì thời giờ có hạn, còn phải phỏng vấn nơi khác, bởi vậy xin cáo từ tại đây.
Dương Sinh: Hướng Nhạc Võ Vương bái từ.
Tế Phật: Dương Sinh hãy đi theo thầy, chúng ta tới thăm điện Hiếu Tử phía trước để bái phỏng đức Tiên Thánh cao minh đã đạt đạo quả hiếu thảo.
Dương Sinh: Thưa vâng. Theo thầy rời khỏi điện, đi ra ngoài được một quãng đã nhìn thấy một tòa nhà nguy nga, trên khắc ba chữ “Hiếu Tử Điện” tức là điện những người con hiếu thảo, nhìn rất là uy nghi.
Tế Phật: Trung hiếu là đầu của nhân luân, người đời tất nhiên phải tôn trọng, nếu không sẽ là đứa con phạm tội ngược ngạo. Phía trước điện Hiếu Tử thấy có những vị vợ hiền con thảo, chúng ta hãy tiến tới chào ra mắt.
Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Vào trong điện thấy có rất nhiều vị nam nữ dung nhan hiền từ, ăn mặc theo lối xưa cũng như theo lối ngày nay, đang ngồi đánh cờ, uống trà hoặc gảy đờn coi vẻ rất tiêu dao, chẳng rõ họ là ai?
Tế Phật: Đó là những bậc con hiếu xưa nay, già trẻ lớn bé đều có cả, truyện Nhị Thập Tứ Hiếu còn tới bây giờ là do dân gian truyền khẩu. Phàm những người con hiếu thảo trên đời, sau khi chết trải qua sự tra xét của Tam Quan xong thì được siêu thăng lên điện hiếu Tử sống tiêu dao tự tại. Còn các vị có những công đức đặc biệt thì được hưởng đạo quả riêng tại các tầng Trời khác. Dương Sinh thấy trên tường có treo đầy bảng tên những vị hiếu tử, hào quang sáng lấp lánh. Hy vọng những kẻ có bổn phận làm con trên đời, phải hiếu thảo với cha mẹ. Khi cha mẹ qua đời phải làm lễ mai táng cho thật uy nghi cùng tỏ tình nhớ thương thật thắm thiết, ghi nhớ ngày tháng để cúng giỗ, hàng năm phải đi tảo mộ để đền ơn tổ tiên, cha mẹ sinh thành dưỡng dục. Dương Sinh hãy thỉnh vấn quý vị đó về gương hiếu thảo thuở còn tại thế.
Dương Sinh: Thưa vâng. Xin hỏi vị Hiếu Tử, vị có thể thuật cho người đời được rõ về gương hiếu thảo của vị không?
Hiếu Tử: Tự khoe về mình, tôi cảm thấy ngượng ngùng lắm. Tôi chỉ là kẻ dốc tâm làm tròn bổn phận của một người con đối với cha mẹ mà thôi. Nhớ lại lúc còn tại thế, gia đình tôi quá nghèo, mẹ tôi mất sớm, cha tôi lại nghiện ngập rượu chè, bên trên lại còn bà nội. Cha tôi mỗi lần uống rượu vào là buông lời chửi bới xấu xa ác độc, đôi khi còn mắng nhiếc cả bà nội tôi. Khi tôi can ngăn, cha tôi đã không bỏ tật ngược lại còn đánh đập tôi, song tôi vẫn cắn răng chịu đựng sự đau đớn, không hề oán trách cha tôi. Bà nội tôi tuổi già sức yếu, thức ăn trong nhà chẳng có, tôi phải đi làm mướn kiếm tiền, lén mua đồ ăn mang về dâng bà nội. Cha tôi vì uống quá nhiều rượu, tới 50 tuổi thì mắc chứng đau gan và qua đời, để lại bà nội tôi và tôi sống nương tựa nhau lây lất.
Hàng ngày tôi phải đi làm thuê làm mướn kiếm tiền phụng dưỡng bà nội. Mỗi lần có người mai mối tôi đều cự tuyệt vì sợ rằng bà nội tôi sẽ không có ai phụng dưỡng. Cho tới khi bà nội tôi qua đời, ma chay mai táng xong xuôi thì tôi đã 38 tuổi mà vẫn còn sống độc thân, làm công để tự nuôi thân, sống hết sức cần kiệm. Vì đời đã từng trải cảnh nghèo nên tôi thâm hiểu được cái khổ của những kẻ khốn cùng, do đó mà tôi hết sức dành dụm tiền bạc để bố thí cho những kẻ nghèo khổ hơn tôi, tôi không hề cất giữ một đồng một cắc. Tới năm 60 tuổi thì tôi qua đời, nguyên linh của tôi được đức Quan Âm Đại Sĩ dẫn độ tới Trúc Lâm Tự tu luyện, đến nay chứng đắc quả vị. Tôi nhờ tu hành chứng quả “hiếu đạo” bởi vậy thường tới điện Hiếu Tử tiếp nhận những nguyên linh có duyên tu đạo.
Bữa nay nhân có Dương Thiện Sinh tới đây, tôi cũng xin trình bày vài điểm về đức hiếu nhỏ nhoi của tôi để người đời được rõ. Mong rằng người đời nương theo cách thức của tôi mà thực hành đạo hiếu với cha mẹ mình. Cổ nhân có nói: “Nhà nghèo sinh con hiếu thảo”. Sự chịu đựng khắc khổ hy sinh ở thế gian chỉ là giai đoạn ngắn, sự hưởng thụ ở tại cõi Trời mới là vô cùng, tháng năm không kể hết.
Dương Sinh: Đức hiếu của vị quả là cảm động lòng người, tôi xin lạy vị một lạy.
Hiếu Tử: Chớ quá lễ độ, vòng linh quang trên đầu Dương Sinh đã tỏa chiếu sáng ngời, quả là một vị thành tâm tu đạo, mong Dương Sinh gắng sức phát huy đạo hiếu để quảng độ chúng sinh.
Dương Sinh: Cảm tạ vị đã ban lời khuyên chấn hưng đạo hiếu cùng đề xướng đức tốt của truyền thống văn hóa nước nhà.
Tế Phật: Thời giờ đã muộn, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.
Dương Sinh: Thưa, con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
Đức Thầy giảng: [32:17]
Đến đây chúng ta thấy rằng: ở cõi Trời, người có hiếu cũng là người đắc đạo, chớ đâu có phải là phải tu cái pháp nào mới đắc đạo; thấy không? Mà ngày hôm nay chúng ta lại được có cái cơ duyên ngắn gọn, mượn cái pháp làm cho chúng ta được khỏe mạnh và để tự thức, cũng là trở về với căn bản của sự hiếu thảo. Hiếu thảo chỗ nào? Thân xác của cha mẹ sanh ra, trước khi cha mẹ lìa thân tại thế cũng nhắn chúng ta những gì? “Con phải cố gắng bảo trọng thân thể của con” - Đó là hiếu thảo rồi, biết lo cho thân thể là các bạn biết tu, biết làm điều hòa, biết làm cho nó quân bình, cơ thể không có bệnh hoạn, sống yên vui hạnh phúc với tất cả, đó là cái chữ hiếu đối với cha mẹ và Trời Phật.
Cho nên người tu về pháp lý Vô Vi nó có cái cơ hội rất nhiều để thức tâm, là trước hết chúng ta lo cho cái xác được yên ổn là cha mẹ yên. Nếu mà các bạn tu làm cho cái xác càng ngày càng hủy hoại, đó là các bạn là người bất hiếu.
Tu: cho nên cái phương thức hành pháp đã dặn rất rõ, làm cái gì, làm cái gì đúng mức, không làm quá đáng. Nhiều người làm quá đáng, như Soi Hồn 5 phút tới 15 phút tối đa, họ Soi Hồn tới 45 phút, rồi họ Soi Hồn tới một giờ. Đó, rồi sau này lại một phút họ cũng không thèm soi nữa, thấy không? Đó là mất trật tự.
À, còn làm Pháp Luân Thường Chuyển, dặn họ 6 hơi liên tục, rồi họ làm tới 30 hơi, 40 hơi, rồi tới sau này một hơi cũng không làm, rồi chửi thầy. Đó… rồi kêu họ tham thiền tùy sức, họ lại tham thiền tới ba, bốn tiếng, rồi cái thì bữa sau họ bỏ luôn, rồi họ cũng chửi thầy dạy bậy. Đó…! [34:05]
Cho nên khi mình làm bậy, làm sai đó là tự phản trắc lấy mình. Khi mình chửi thầy là mình hành hạ mình.
- Cái người đi trước dẫn đường vạch lối, và luôn luôn giữ sức khỏe và cái thức bình đẳng đối diện với mình khi gặp Người thì tại sao mình không hành đúng để mình hưởng cái hạnh phúc như Người đã và đang hưởng?
- Tại sao mình đi ngược lại và mình chế pháp, rồi làm cho hư hao… Tâm thần bất ổn mới trở nên ngược ngạo chửi thầy.
Đó… Cho nên người đời tự họ làm sai nhiều quá, phạm phải luật, phản trắc lấy họ cho nên họ phải chuốc lấy sự đau khổ.
Cho nên chúng ta hạnh phúc lắm! Mới thấy rằng huynh đệ và người truyền pháp ở đây đều bỏ công xây dựng và giúp đỡ lẫn nhau: có anh chị em coi lại cái mức thở của chúng ta nó đúng không, mà kể cả Thầy cũng cởi trần ra làm.
Có những cái phương tiện khoa học để nhắc nhở chúng ta, tại sao chúng ta không học ngay những cái người thực hiện rõ rệt như vậy để chúng ta làm cho nó đúng. Rồi đâm ra làm cho có chừng, rồi hẹn láo với lương tâm. Nói “tối nay tôi thiền ít quá, hẹn Ông Tám mai tôi thiền 2 tiếng”. Đó, hứa láo không à, rồi tự gạt mình. Bây giờ mình làm mình chịu không có hứa với ai hết; bây giờ nó đúng là thôi, thì tự nhiên con người nó khỏe ra.
Người ta nói 5 phút tới 15 phút, mình làm tới 5 phút tới 15 phút là đủ rồi.
Rồi cái Pháp Luân Thường Chuyển bao nhiêu cái: 6 cái tới 12. Thì mình có khả năng làm tới 12, không khả năng mình làm tới 6 là đủ rồi.
Còn Thiền Định, là tùy khả năng của cơ thể, có thể ngồi lâu trong nhẹ nhàng mới ngồi lâu, mà ngồi lâu trong nặng nề thì không có ngồi được, phải xả. À, vì cái… Tại sao? Bên trong không thông, cho nên ngồi không được nhẹ nhàng. Bên trong thông thì luôn luôn ngồi rồi nhập là định, nhắm mắt là nó định.
Tại sao nói nhập định? Nhập định là sao? Nhắm con mắt ngó trở lộn vô thì cái sự sáng suốt, thanh tịnh nó nằm ở bên trong. Chúng ta không ngó ở bên ngoài nữa. Đó, thành ra đóng cửa thế gian mở cửa Thiên Đàng. [36:17]
Khi các bạn Soi Hồn là các bạn đóng cửa thế gian rồi đó! Co lưỡi răng kề răng, bịt mắt, bịt khóe mắt, chắn chỗ màng tang đó, rồi bịt lỗ tai, phải đóng… Co lưỡi răng kề răng là đóng cửa thế gian, cửa thế gian… vì bốn cái cửa đó mà nó thu thập những cái thị phi bậy bạ, hờn giận đủ thứ. Mà chúng ta đóng cái cửa đó, rồi chúng ta mở ra gì? sự thanh thản, nhẹ nhàng.
Mà khi chúng ta làm Pháp Luân cũng vậy, hít nhẹ, hít đều mà nhẹ thì nó sẽ tốt. Khi chúng ta hít chúng ta nghĩ chúng ta đem cái nguyên khí cả Càn Khôn Vũ Trụ vô trong cái cơ tạng và khai thông cơ tạng để cho nó trở nên nhẹ như nguyên khí đã hít vô, thì nó thơ thới, nhẹ nhàng vô cùng. Chớ không có làm cái điệu è ạch như tập thể thao rùm beng, rốt cuộc không làm được lâu. Mà cái thơ thới đó là chúng ta học đạo; ngay cái nguyên khí đó nó giáo dục cho chúng ta nhiều chuyện thức tâm. Nó mở được chỗ nào chúng ta hiểu được chỗ đó.
Mà từ cái hơi mà biến thành ánh sáng, lúc đó mới kêu bằng huệ. Cũng ngồi hít vậy mà hồi trước, hồ năm, ba năm trước tôi hít tôi thấy hơi, mà bây giờ sao tôi tu tôi càng ngày càng lâu, tôi vừa nghĩ cái chuyện hít thì tôi thấy tôi sáng, cái hơi sáng. Cái hơi là ánh sáng, nguyên khí. Con người không có hơi không có đi đứng được. Con người mà mất nguyên khí không có đi đứng. Bây giờ tắt hết trọi đèn mà con người có nguyên khí, bây giờ một chập nó rờ rờ mó mó nó đi hết trong phòng này, nó đi qua đi lại được tự nhiên, không cần đèn. Cái đó phải ánh sáng không? Sáng trong tâm.
Đó! Cho nên chúng ta tu là trở về với sự thanh dịu của nội tâm thì nó mới đạt tới cái pháp tâm. Chớ còn lấy cái è ạch cầu xin đem nhét vô, cái đó là trật rồi. Ông Thánh, ông Thần nào mà tới giúp mình đâu. Kỳ thật là mình khai mở để mình đi tới. Tôi đã giảng biết bao nhiêu cuốn băng, nhưng mà họ ngồi thét, rồi ngồi một chập thấy nó động loạn, niệm Phật không lo niệm, lo cầu Ông Tám hay cầu Ông Tư, cầu tùm lum hết. Mình không nghĩ lại, mình có đâu bao nhiêu tiền máy bay mà kêu mấy Ổng tới. Không đóng tiền mà cứ kêu Ổng tới hoài à! (cười)…. Mình thấy mình xạo không? Không được!
Bây giờ mình làm thanh nhẹ để mình tới mình gặp Ngài. Vì Ngài từ cái xác phàm, từ sự trần trược, từ sự nan giải, từ sự đau khổ Ngài đã thoát ly tới thanh nhẹ, thì ta cũng ở trong cái giới đó mà thôi. Sự u buồn, uất khí mà bây giờ ta giải được rồi ta đi, cũng như Ngài là trong bình đẳng rồi, có cái gì mà phải lo, thấy không? Trời Phật là ta, ta là Trời Phật, không còn mê chấp nữa. [38:55]
Cho nên cái lúc ngồi thiền là phải thanh nhẹ, phải hết sức thanh nhẹ. Khi mình nghĩ tập trung lên bộ đầu rồi thì mình làm cái nguyên khí… mình hạ lệnh “đầy rún đầy ngực tung lên bộ đầu” thì cái nguyên ý cứ cho nó chạy… từ từ cái bụng nó sẽ lớn, rồi nó đầy ngực… lên bộ đầu. Cái ý cho nó chạy đều, tự nhiên nó phải chạy, nhẹ nhàng như vậy. Chứ đừng có è ạch rồi làm cũng như là đánh võ nội công, không phải vậy. Giữ cái nguyên khí để khai triển.
Khi các bạn ăn uống vô, ăn vô nó biến thành thủy, thủy nó biến thành khí, khí nó biến thành sắc, thấy không? Chúng ta thấy rõ, ăn vô cái nó ra nước, nước nó thành cái hơi nó bộc lên, thì mặt mày ta hồng hào, mà lúc đói mặt xanh. Đó!
Bây giờ ta hít cái gì? Hít trực tiếp là cái nguyên khí nhẹ nhàng đó, cái màu hồng này từ ở trên chuyển qua vật chất rồi mới ra trong mặt chúng ta. Rồi bây giờ chúng ta trực tiếp cái kia là gì, cái thanh nhẹ nhất còn thanh nhẹ hơn mấy món kia, phải nhẹ nhàng đem vô để nó mở.
Ờ, chứ nhiều người hít sai, hít không cũng sai. Cho nên tôi kêu, dặn phải coi cái cuốn băng mà tôi làm. Tôi đã cởi trần ra tôi làm là vì tôi sợ người ta nhìn không rõ cái bụng và không có thấy hơi thở.
Đó, thì tất cả mọi việc đều là ở trong thực tình phục vụ và không có lừa bịp một ai. Cho nên nhiều người làm bậy rồi nó nói: “Ồ, cái đạo này, cái pháp này là cái hoang đường, nói bậy”. Họ không làm, họ không làm cho chính họ, chính họ không phục vụ cho họ rồi họ nói cái đạo này đạo hoang đường. Mà cái đạo này đâu có chỉ làm cho người ta đâu, chỉ làm cho mình, mà họ không chịu làm, thành ra họ hướng ngoại rồi nuôi dưỡng cái sân si thành ra nó trật hết trọi, trật cái luật ở trong nội thức. Thì cứ thanh tịnh, nhàn hạ làm vậy. Giờ này là giờ của ta, cho nên chọn giờ khuya là giờ của mình rảnh rỗi, làm cái gì lúc đó cũng yên nghỉ rồi, không có ai đòi hỏi mình, không có nợ nần gì mà tới gõ cửa trong giờ đó đâu. Thì chúng ta ngồi trong thanh thản lấy lại một giờ của chính mình cũng đủ rồi, sung sướng vô cùng. Cái đó là cái hạnh phúc được tái hồi cả ba cõi Thiên, địa, nhơn.
Cho nên cái phương pháp công phu các bạn phải nhìn cho kỹ, thực hành cho kỹ… trong nhàn hạ chứ đừng trói buộc tâm thức của mình, và đừng có làm cho nó è ạch nặng nề mà tạo động, không có ích gì hết. [41:33]
[Kết thúc buổi học ngày 29 tháng 10, 1987]
[Sang buổi học ngày 30 tháng 10, 1987]
HỒI BA MƯƠI BỐN
DẠO CÕI BIÊN GIỚI ÂM DƯƠNG
XEM CẢNH NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC TRỞ VỀ TRỜI
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 16 tháng 10 năm Canh Thân (1980)
Tẩu biến Thiên Đàng hội chúng Tiên
Ân ân thuyết pháp chỉ tâm điền
Nhân gian ái dục mê hồn trận
Khiêu xuất võng la thiên ngoại thiên.
Du ký khả tu vạn pháp kinh
Cần tu bản tính xuất u minh
Dương Sinh, Tế Phật đồng huy bút
Nhất bộ kì trân vạn cổ hinh.
Dạo khắp Thiên Đàng hỏi đạo Tiên
Ruộng tâm cày cấy pháp chân truyền
Trần gian dục lạc mê hồn trận
Trời thẳm, Trời cao lưới chẳng còn.
Du Ký là kinh vạn pháp tu
Giúp cho bản tính khỏi âm u
Dương Sinh, Tế Phật cùng vung bút
Hương sách ngàn năm tỏa mịt mù.
Tế Phật: Thiên Đàng Du Ký là kho tàng tu đạo quý báu, phàm kẻ có chí với đạo cần giác ngộ lý đạo siêu diệu ở trong sách, mới có thể khám phá ra được Tiên Phật hiển hiện ngay trước mắt. Sự đời vốn hư ảo, kẻ tu đạo cần phải lên tới cảnh trời ở bên ngoài Trời để trở thành một vị thượng nhơn trí tuệ siêu nhiên, còn không sẽ bị vướng mắc trong cảnh mê hồn trận, sớm còn sống tối đã chết, không tìm được lối thoát, tới lúc tinh khí lực suy kém, chỉ muốn nằm xuống nghỉ ngơi. Bởi vậy trong thời gian tu đạo, thầy giỏi và bạn tốt rất cần thiết; phàm tà thuyết dị đoan, hoang đường láo khoét không được tin theo để tránh khỏi bị sa đọa vào đường ma quỷ. Quá khứ tu đạo của Lão Tăng, chúng sinh đã tưởng lầm là toan tính nhiều, song kỳ thực ta chỉ có một trái tim Phật thương đời tức “Phật tâm”, một khối tinh thần giúp đời tức “Tế Công”, vốn bình dị đạm bạc chẳng có chi là kỳ quái, chúng sinh có thói quen thường nghĩ tới cái lợi riêng tư nên có cảm nghĩ trái ngược hẳn lại mà cho ta là kẻ có những hành động quái gở.
Nếu như người đời không có nổi năng lực của ta thì chớ có bắt chước ta du hý nhân gian kẻo một trong muôn ngàn cách diễn xuất lỡ vụng về hẳn là thảm lắm. Tóm lại, bởi vì trò “Tế Công” tức giúp chung thì có thể diễn được nhưng còn trò “Tế Tư” tức giúp riêng thì ngàn vạn chẳng thể thưởng thức nổi. Từ nửa năm nay, phụng mệnh hướng dẫn Dương Sinh dạo Thiên Đàng, lòng ta vô cùng hân hoan, vì nhiệm vụ trọng đại này đòi hỏi ta phải dằn lòng bớt nóng nảy để hoàn thành sứ mệnh, nên chẳng còn dám diễu cợt châm biếm. Dương Sinh nhẫn nhục chịu đựng, có trước có sau, gặp các vị cao minh hỏi đạo cầu tìm chân lý, gặp Thánh Phật nghe pháp mở huệ, lời lời nghe dạy sâu xa siêu diệu, thực chẳng thẹn là đệ tử của thiền sư. Tới mấy trạm chót lòng Lão Tăng vốn nhẹ nhàng thơ thới lại chuyển thành nặng nề vì kẻ mê vẫn mê, kẻ ngộ vẫn ngộ. Những kẻ rong ruổi xe trên ngả đường dẫn tới Thiên Đàng có cá nhân đã rẽ nẻo trái, có cá nhân đang ngủ gật, có cá nhân lòng khỉ ý ngựa chẳng còn nghĩ tới chuyện dốc lòng ruổi xe. Ta từ trên đỉnh mây nhìn xuống thấy nhiều kẻ đã gặp tai nạn xe cộ. Vì vậy ta có lời nhắn nhủ như sau: “Ai ở trong cửa Thánh phải luôn luôn ôm ấp trái tim thánh thì Thánh linh mới mong bất diệt”. Lão Tăng đã phải trải qua biết bao thống khổ để thực hành, nên một lần nữa ước mong chúng sinh cũng phải hành đạo giống y như vậy. Dương Sinh chuẩn bị lên đài sen.
Dương Sinh: Thưa, tại sao ân sư cứ luôn luôn than thở?
Tế Phật: Vì chẳng còn lời nào để nói với chúng sinh.
Dương Sinh: Nỗi cảm xúc của ân sư quá sâu xa, tâm sự của con cũng gần giống vậy, xin ân sư cứ thổ lộ để cho con được chia sớt một đôi phần.
Tế Phật: Có rượu chẳng biết say, vô tâm có thể thấy Phật, chúng sinh đi trên đường trần, Phật trên Trời ngó xuống, phải quý trọng duyên may tốt đẹp để tránh thành kẻ cô đơn. Chúng ta hãy lên Thiên Đàng... Đã tới, chúng ta hãy xuống đài sen.
Dương Sinh: Thưa thầy, tại sao bữa nay con thấy nơi này giống hệt nơi khác? Con đường phía bên trái hình như đã đi qua.
Tế Phật: Đây là Âm Dương Giới tức biên giới của hai cõi âm dương, hay Địa Ngục với Thiên Đàng, chỗ ngã ba đường của ba cõi Trời, đất và người. Lúc trước viết Địa Ngục Du Ký, con đã từng đi qua con đường này, bữa nay đưa con tới đây để con thấy cảnh người ta sau khi chết phải xuống Địa Ngục, hay được lên Thiên Đàng như thế nào.
Dương Sinh: A, thì ra nguyên nhân là như vậy, ngả đường phía bên trái là lối xuống Địa Ngục, thấy có tướng quân Ngưu Mã áp giải thật nhiều tội phạm đang bị chửi mắng lùa đi, nhìn cảnh họ hiện tại thật quá đáng thương.
Tế Phật: Đó là kết cuộc của những kẻ làm ác, nhưng họ còn mơ tưởng để cầu được may mắn. Lúc sống vì quá thâm hiểm ác độc, làm thương tổn cả lẽ trời, coi như không có phép trời, chuyên lén lút làm những chuyện tồi bại trong bóng tối, bởi vậy họ mới bị đày xuống Địa Ngục, thế mới biết luật Trời đã an bài một cách hữu hiệu. Con có thể quan sát ngả đường của những người được lên Thiên Đàng.
Dương Sinh: Ngả đường lớn trải vàng phía bên phải có nhiều người đi, thấy họ rất tiêu dao, còn có cả bồ tát cùng kim đồng ngọc nữ ra nghênh đón. Công đức của các vị đó ở thế gian quả lớn lao, thưa đã được lên Thiên Đàng mà còn phân chia đẳng cấp nữa sao?
Tế Phật: Đương nhiên, như ở trần gian xe pháo bảng tên chẳng giống nhau, giá trị không đồng đều, có phẩm tước cao, phẩm tước trung cùng mới cũ phân chia. Người đời tu đạo, từng li từng tí không được gian trá, có một chút chân tâm thì trên mình được nạm một chút vàng, nếu như những chút vàng này cứ nạm nhiều thêm mãi ắt được tôn làm thân Kim Phật, Kim Tiên. Ngoài ra còn phân chia quả vị thành nhiều loại khác nhau, có đại kim thân, trung kim thân. Còn nếu như phải đày xuống Địa Ngục thì hẳn là thân trở thành thân gỗ mục, chẳng thể khắc chạm được gì. Chúng ta hãy tới trước thỉnh vấn quý vị thành đạo cao minh thiện đức.
Dương Sinh: Thưa vâng. Vị lão Thánh này tuổi đã khá cao, dung nhan ngợp ánh vàng, vẻ vô cùng hiền lành, nhìn qua biết ngay là bậc có công phu tu dưỡng, xin hỏi lão tiền bối, vị đi đâu đây?
Lão Ông: Tôi lên cõi Trời.
Dương Sinh: Thưa vị có thể thuật lại thành tích quá khứ của vị không?
Lão Ông: Tôi không có công đức gì cả, nên chẳng dám.
Tế Phật: Vị chớ có quá khiêm nhường, chúng tôi phụng mệnh viết sách, cứ việc nói cái hay ra để khuyên răn người đời, công đức sẽ vô lượng.
Lão Ông: Để có thể khuyên răn người đời thì tôi xin trình bày như sau: Tôi là dân Nam bộ, sau khi con cái trưởng thành liền tới làm công quả ở một ngôi đền, chuyên giải nghĩa thơ giùm những người xin xâm, sớm hôm lo thắp nhang dâng trà, một lòng vì Thần Thánh, vì các tín đồ lo công quả. Về sau thiện nam tín nữ mỗi ngày tới đền lễ bái một đông, tiền dâng cúng rất nhiều khiến tôi lại càng hết sức thanh liêm, một đồng một cắc cũng không dám lấy lén tiêu riêng, hoàn toàn dùng để mua nhang đèn hoặc chi tiêu cho những việc trong đền. Vì nhờ đức thanh liêm công chính mà phút lâm chung tôi được thần chủ của đền đặc biệt thượng tâu lên Ngọc Đế xin cho tôi được miễn xuống Địa Ngục, lên thẳng Thiên Đàng tiếp nhận chức thần, tôi chỉ có giữ trọn đạo công như vậy mà thôi.
Tế Phật: Đại công, đại công, vị không được tự xem khinh mình, phàm trần có biết bao kẻ không được vậy. Ngọc Đế đã ban chức thần cho vị, còn tôi tặng thêm vị 100 công, để giúp thăng đạo quả vị.
Lão Ông: Xin lạy tạ đức Phật Sống đã tận tình giúp đỡ.
Tế Phật: Chớ ngại ngùng, khó được lắm đấy. Dương Sinh có thể thỉnh vấn thêm những vị được lên Thiên Đàng khác.
Dương Sinh: Thưa vâng. Xin hỏi cô nương, tôi thấy tuổi cô còn nhỏ, cớ sao lại được may mắn lên Thiên Đàng.
Cô Nương: Xin bái kiến đức ân sư Tế Phật, bữa nay sư sinh được dịp may mắn hạnh ngộ tại nơi này, trong lòng đệ tử vô cùng cảm động, xin thỉnh vấn tại sao ân sư không ban nhiều công đức tại thế độ chúng sinh tu đạo, để có thể giúp họ mau được gọi về Trời giống như đệ tử?
Tế Phật: Tại thời, tại mệnh, chớ có tiếc thương. Đệ tử rất kính trọng lão tăng, được lão tăng hóa độ nay đã thành chính quả. Chỉ vì kiếp trước và kiếp này đệ tử còn mắc chút nghiệp duyên với song thân, nhưng hôm nay duyên nghiệp đã dứt sạch, nhục thể bị tổn thương, nhưng nguyên linh được thoát xác về Trời. Đệ tử hãy nhìn kìa, đức Bồ Tát Văn Thù đã tới độ đệ tử về Tây phương, mau mau lạy chào.
Bồ Tát Văn Thù: Miễn lễ, hãy đứng lên, chúng ta có duyên thầy trò, chỉ vì đệ tử còn mắc chút duyên phàm thế, cho nên phải chịu luân hồi một lần, tới nay trả xong món nợ nghiệp duyên, nguyên linh đệ tử được phép trở về Tây phương. Xin cảm tạ Tế Phật đã hóa độ, khai mở trí huệ cho đệ tử của tôi trong thời gian tu luyện, nên bữa nay mới có thể dứt nghiệp thoát trần.
Tế Phật: Văn Thù chớ khách sáo, đó chẳng phải là hoàn toàn nhờ ở sự hóa độ của tôi, mà chính là nhờ ở thiện căn cùng tài năng tu hành đạo đức của đệ tử đó thôi. Dương Sinh có thể tiếp tục phỏng vấn thêm những vị được lên Thiên Đàng cao minh chân chính khác.
Dương Sinh: Thưa tuân lệnh. Những người đi trên đường lớn về Trời, người nào người nấy vẻ mặt đều lộ vẻ vui tươi, tôi nhìn các vị đó mà tự thấy rằng tương lai của mình cũng có được nhiều hy vọng. Xin hỏi vị, vị đi đâu đây?
Tôn Giả: Tôi tới Tây phương yết kiến đức Thế Tôn.
Dương Sinh: Tuệ căn của vị sâu dày, công đức lớn lao, hào quang trên đầu sáng chói, vị có thể cho biết về phương pháp tu trì ở thế gian của vị không?
Tôn Giả: Năm 20 tuổi tôi xuất gia được độ làm tăng, vào cửa “không” tôi thực hành bốn tướng là: “Không tranh với người, không oán than Phật, không khinh ngoại giáo, không tham dục như chúng sinh” (Bất dữ nhân tranh, bất hướng Phật oán, bất khinh ngoại giáo, bất tham chúng dục). Chỉ tu có bốn hạnh đó thôi, còn hoàn toàn chẳng có công đức gì cả.
Tế Phật: Vì khác hẳn đám tục tăng, không tham gia vào các công việc của chúng sinh phàm tục rất là siêu việt, do đó mà ngày nay có thể đi thẳng tới Tây phương, xin chia vui cùng vị.
Dương Sinh: Kính hỏi ân sư, thưa có phải những người từ phàm trần lên Thiên Đàng đều đi qua ngả đường này cả phải không?
Tế Phật: Lòng ngay dạ thẳng là “Thiên Đàng lộ” tức nẻo đi lên Thiên Đàng, còn cong cong quẹo quẹo là “Địa Ngục đạo” tức ngả đi xuống Địa Ngục. Con đường đi lên Thiên Đàng này cũng vốn do lòng dạ của người biến hóa thành.
Người ta nếu như lòng dạ không ác độc, sau khi chết lại thêm ba kiếp nhân quả đã trả hết, tiền án ở địa phủ được xóa sạch thì đều có thể đi theo con đường này mà lên Thiên Đàng.
Dương Sinh: Thưa ngả đường này dẫn tới đâu?
Tế Phật: Đường này dẫn thẳng tới cửa Nam Thiên rồi sau đó mới đi tới các từng Trời khác.
Dương Sinh: Thưa tại sao con không thấy quý vị đó cưỡi gió đè mây?
Tế Phật: Chốn này còn gần gũi phàm trần và là đoạn đường đầu tiên tiếp giáp với Thiên Đàng nên phải đi bộ. Khi tới đoạn giữa có tên riêng là “tâm quan” tức cửa lòng thì tốc độ đi bắt đầu lẹ hơn rồi cứ gia tăng mãi cho tới khi có cảm tưởng như bay bổng. “Tâm quan” đã qua “tâm nhãn” liền mở núi Linh Sơn hiện ngay trước mặt. Lên thêm nữa là đỉnh núi Tu Di ở trên đầu người, tới đây còn muốn lên nữa mà không cưỡi gió đè mây thì không lên nổi.
Dương Sinh: Thưa ân sư, lý đạo đó là như thế nào?
Tế Phật: Đó là bí quyết của thiền, lão tăng xin trình bày rõ để cho những ai có duyên thì thể ngộ nó. Là người sống ở cõi trần phải tu thân luyện đạo, chân phải đứng vững thì mới có khả năng đi trên đường lớn dẫn đến Thiên Đàng. Lên thêm tầng nữa, lục căn linh căn phải thanh tịnh, còn không phân và nước tiểu chảy ra, khắp mình ô uế, người không dám gặp thì làm sao dám gặp Trời? Lại lên thêm tầng nữa, bao tử, ruột già ruột non phải thanh tịnh, còn không sẽ như đường hẻm có nhiều ngõ ngách lầy lội bùn nhơ đi lại khó khăn tựa như đi đường âm phủ. Lại phải lên thêm một tầng nữa, tâm giữ chính niệm nên dù có bị dao động tới mức nào đi nữa vẫn không kinh hoàng sợ hãi, với đôi mắt trong sạch, nếu như Thiên Đàng có lối ắt có thể đi lên. Lên thêm tầng nữa liền tới đỉnh tháp Linh Sơn, nơi đó là chóp núi cao tuyệt trần ăn thông với thiên đài, chỉ cần bước một bước là nhập vào hư không, tấm thân nhẹ nhõm, chẳng còn vướng víu nợ trần hoàn nghiệp chướng, dưới chân khói trắng tỏa, khói đó là do nguyên khí biến thành chớ không phải khói đen ô nhiễm nơi nhà máy kỹ nghệ. Thân không còn trở ngại, bỏ được bước đi nặng nề nơi cõi thế gian, chân đạp trên xe mây ngao du khắp chốn Thiên Đàng hạ giới, đó cũng là nguyên lý cưỡi gió đè mây của chư vị Thánh, Tiên, Phật.
Dương Sinh: Thưa, ân sư vừa trình bày đầy đủ về phương pháp tu đạo kèm thêm lý đạo nhiệm mầu siêu diệu.
Tế Phật: Xem xong cảnh biên giới âm dương mới hay rằng Thiên Đàng, Địa Ngục vốn do tâm con người tạo, ý nghĩ chọn lựa con đường nào thì phải đi con đường đó. Chúng ta trở lại Thánh Hiền Đường.
Dương Sinh: Con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường...
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác. [55:54]
[Hết cuốn 21 - ID# 00000000L40]