00000000L39

THIÊN ĐÀNG DU KÝ - THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG - Cuốn 20 - Hồi 30, Hồi 31

Ngày 27 và 28 tháng 10, 1987

Đức Thầy giảng:

Đó! Nãy giờ chúng ta đi một vòng quanh để xác nhận lại cái nguyên lý của Nam Mô A Di Đà Phật. Thấy rõ chưa? Khi mà chúng ta niệm Phật, nước miếng nó ra, mà chúng ta còn co lưỡi răng kề răng niệm Phật để mở trung tim bộ đầu, dời cái phàm tâm trở lên chơn tâm. Cho nên tương lai cái tâm của các bạn mà niệm Phật rồi thì chỉ ở trung tim này nó bật sáng, lúc đó các bạn mới thấy hào quang ở trên đầu.

Chứ nhiều người nói: “Ôi, dạy đi dạy lại, dạy có niệm 6 chữ đó thôi”. Đó, ngày nay lên Thiên Đàng họ cũng xác nhận là niệm… Niệm được 6 chữ đó là cái tâm chúng ta tịnh, mà trong tịnh rồi trở về gì? Đất tĩnh, tức khắc về Thiên Đàng không có cái gì khó khăn hết. Mà nhiều người không niệm mà nuôi sự tranh chấp, ghen ghét, hờn giận, thù oán, rồi hỏi chớ lục căn lục trần làm sao tiến hóa, và tâm chúng ta làm sao mở.

Cho nên chúng ta đã có cái kinh nghiệm thực hành, và qua những cuốn băng tôi đã bỏ công và nghiên cứu rất kỹ, đem những cái vong linh nghĩa là đại ác, đại trược về để niệm Phật mà nó được cứu nữa rồi tôi mới đem ra cho tất cả mọi người.

Cái gì tôi đem ra là đã thực hành, nhưng mà nhiều người còn kỳ thị, chê ít. “Học cái đạo Ông Tám không có cái gì hết, chỉ kêu niệm Phật không”. Nhưng mà mình đã niệm chưa mà mình chê? Chưa niệm, chưa cảm thức, chưa thực hành mà đã vội chê rồi; cho nên đau khổ triền miên, gặp nhiều chuyện bất trắc xảy đến, trong nội tâm bất an, bệnh hoạn bất ngờ, cho nên tôi kêu có rảnh niệm Phật đi, co lưỡi răng kề răng, ý niệm Nam Mô A Di Đà Phật, có nước miếng là nuốt. Đó, từ đó nó sẽ mở sáng hết trong nội tâm nội tạng, rồi an nhiên tự tại, bất cứ nơi nào cũng là an tịnh hết. [01:54]

Có nhiều người nghe qua thôi rồi dùng cái phần trí thức luận thuyết mà không có thực hành, chính họ đã bỏ rơi cái nơi thanh tịnh của họ. Cho nên ngày hôm nay để kiểm chứng, các bạn được lên Thiên Đàng trong một cái chơn ý và để nghe đức Phật giảng, và chúng ta trở về, trong tâm các bạn cũng phát đại nguyện và muốn niệm Phật triền miên tới giờ phút lâm chung, thì các bạn sẽ được lên đất tĩnh.

Cho nên chúng ta không có đi sai đàng và không có nên sửa pháp, tôi đã nói rồi, cái pháp khứ trược lưu thanh Quan Thế Âm cũng khuyến khích chúng ta sử dụng nó. Phải làm cách nào khứ trược lưu thanh mới được đi lên trên chỗ thanh nhẹ mà hưởng lạc.

Còn niệm Phật phải tận tâm tận tình và hiểu rõ cái nguyên ý. Ngày hôm nay đã cắt nghĩa cho các bạn rõ rằng cái chấn động lực của nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật nó sẽ mở cái thức hòa đồng của các bạn từ cái tối tăm đi tới cái sáng suốt, từ cái dơ bẩn đi tới chỗ thanh cao. Nó là hoa sen chưa? Nó là hoa sen. Toàn thân các bạn sẽ thể hiện hoa sen, sung sướng vô ngần, còn muốn gì nữa mà không hành?

Cho nên nhiều người hành nửa chừng rồi thấy đạo này hay chạy theo, đạo nọ hay chạy theo, thấy cái hóa phép này hay, bùa kia hay chạy theo, rốt cuộc rồi mình bị đọa thôi. Vì thời gian giới hạn trong cái tiểu thiên địa này, thể xác này, giới hạn bao nhiêu năm có chừng, mà không lo công phu, không lo tu tiến thì quanh đi một vòng quanh, chừng nào mới trở lại được. Nói cái tâm phàm, chúng ta suy tính ra hết, có thể diễn tả sự thật hết, mà tâm không thanh tịnh rồi hướng ngoại trong sự tranh chấp.

Cho nên ngày hôm nay chúng ta phải lấy người làm rừng, lấy động làm tịnh. Người ta là một cái rừng, ai cũng lo tu lo phát triển, mà trong cái động chúng ta làm sao trở về với thanh tịnh của chúng ta mà mới xét rõ cái động, mới vận dụng được phần sáng suốt của mình để thăng hoa và chọn một con đường đi cho tới đích.

Cho nên ngày đêm đều có bài học 24/24 diễn tả trong tâm thức của các bạn mà chính chờ sự vận dụng sự sáng suốt của các bạn. Mà thành thật với chính bạn mới tiến tới được. [04:19]

Làm sao buông cái bỏ ý phàm? Chúng ta có tu có giải thì tự nhiên nó mới rời khỏi chúng ta, còn nếu mà chúng ta không tu không giải mà ôm thêm thì ý phàm nó càng ngày càng gia tăng, khổ càng ngày càng khổ thêm. Cứ luận thuyết về đạo pháp mà nói hoài, nói hoài mà không có thực hành thì cái đó cũng như bỏ không.

Làm phước thì để cái tâm hồn nhiên mình làm phước chứ không có luận thuyết là tôi phải làm phước gì – Không! Tới giờ đó tôi phải làm phước, là tôi gặp cái việc đó là tôi giúp là tôi giúp thôi, tôi không có nghĩ tới nữa. Tôi để cái bản chất hồn nhiên của tôi làm việc, đó là tôi lấy cái tâm tôi dâng Trời.

Trọn tâm, trọn niềm tin, thì chúng ta cho họ một cắc cũng bằng cho họ một trăm đồng, vì ta đem luôn cả cái tâm pháp cho họ với một nụ cười nhẹ nhàng khi họ nhận món quà của chúng ta.

Cho nên luôn luôn phải thực hiện trong hồn nhiên tự tại, vì các bạn giáng lâm xuống thế gian vốn là hồn nhiên tự tại, không có mê chấp, nhưng mà vì sống ở nơi trường đời thét rồi nó tạo ra sự mê chấp. Mê chấp càng ngày càng nhiều thì các bạn khổ nhiều chớ đâu có sướng. Từ cô bé mà tới cô gái, rồi đi lấy chồng, rồi đẻ con, biết bao nhiêu sự phức tạp nó bao vây các bạn. Mà các bạn không dùng cái phương pháp để giải nó trong lúc đương tiền, trong lúc còn sống mà không giải nó, để chết làm sao giải. Thấy không? [05:50]

Cho nên gia đình có chuyện gì… lo lắm. Đừng có đặt vấn đề lo, để tự nhiên, hồn nhiên; việc nó xảy thì khối óc đó nó sẽ lo, rồi tự nhiên chúng ta độ nó, chúng ta mới phóng từ quang giúp nó. Chứ nếu mà Ông Phật mà bận rộn như vậy thì Ông Phật không có vị trí làm việc. Luôn luôn phải giữ thanh tịnh mà quán độ chúng sanh.

Thì ta là một người mẹ hiền trong gia đình cũng phải giữ thanh tịnh để quán độ các con, người cha cũng vậy, phải lui về thanh tịnh mới cứu giúp con mình tiến hóa, tìm thấy khả năng của nó và chỉ cho nó một chút xíu là nó trở về với thanh tịnh. Cho nên kỹ thuật đó là cha mẹ phải làm, mà cha mẹ là thế Thiên hành đạo, là tạo dựng thiên cơ tại thế.

Không có loài người, không có cha mẹ, không có sanh sản mà tạo ra một cái thiên cơ cho chúng sanh. Chiến tranh cũng do chúng sanh, bom nguyên tử cũng do tâm con người sản xuất ra. Mà tâm con người hướng về đất thanh tịnh thì không có sản xuất cái đó nhưng mà sản xuất những cái của báu thanh tịnh đời đời bất diệt thay vì nuôi dưỡng một tâm phá hoại, ghen ghét, cạnh tranh.

Cho nên hôm nay chúng ta được đi lên một chỗ nữa, và trong thực tế và chúng ta đã và đang thực hiện, cho nên các bạn nên cố gắng dùng thanh tịnh và trì niệm danh Phật, lần lần các bạn sẽ đến đích rõ rệt hơn. Thành thật cảm ơn sự hiện diện của các bạn! [07:28]

Kết thúc buổi học ngày 27 tháng 10, 1987

Sang buổi hoc ngày 28 tháng 10, 1987

(chưa chép 7’ ở đầu video ngày 28/10)

HỒI BA MƯƠI

DẠO ĐIỆN TAM QUAN BÁI HỘI ĐỨC THIÊN QUAN ĐẠI ĐẾ

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 13 tháng 8 năm Canh Thân (1980)

Thơ

Thân vô quái ngại bạch vân du

Viêm viêm khinh phong tọa vong ưu

Lưu tục truy tùy chung hạ đọa

Hồi quang vạn đạo chiếu cao lâu.

Dịch

Thân không trói buộc hết ưu phiền

Cưỡi gió đè mây nhẹ bước tiên

Cõi tục tham chi thêm đọa lạc

Hồi tâm lầu đạo sáng triền miên.

Đức Thầy giảng:

Đó, chúng ta hồi tâm trở về với chính mình là cái lầu đạo sáng triền miên. [08:15]

Tế Phật: Mỗi khi thấy người đời tâm tình rối ren, chìm đắm, phiền muộn, khí tắt thì quạt Bồ của lão tăng quạt cũng không có gió. Dẫu có lấy khoan khoan tâm của chúng sinh cũng chẳng khai thông phiền não, hàng ngày tiêu phí hết tâm thần để mong kiếm được nhiều tiền, gặp khi thua lỗ lại mang về sự thống khổ. Kẻ có tiền chẳng bao giờ thấy tâm mình được thư thái, bao nhiêu phiền não dần dần từ trong đống tiền bò ra, cho nên thấy rằng người đời đều quá sai lầm. Đã như vậy thì tại sao chúng sinh lại cứ còn chấp mê chưa tỉnh ngộ để rồi phiền não cứ mỗi ngày một chồng chất thêm lên? Nhìn lại trẻ thơ ngốc nghếch, lượm đá bỏ đầy túi để làm tiền, lại còn đếm một, hai... quả là tính trời hồn nhiên thật quá dễ thương. Bữa nay ta sẽ hướng dẫn trò ngoan họ Dương dạo thăm cõi trời viết sách. Dương Sinh chuẩn bị xong chưa?

Dương Sinh: Thưa, con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành.

Tế Phật: Viết sách hao tổn quá nhiều tâm thần, Dương Sinh cảm thấy thế nào?

Dương Sinh: Thưa thầy tuy lao thần tổn khí song được dạo thăm thế giới khác thì sự khổ nhọc đó con cũng cảm thấy được bù đắp lại. Hơn nữa con còn được ngắm nhìn thế giới linh thiêng kỳ diệu, đẹp đẽ để mở rộng tầm mắt, phát hiện được nhiều ấn tích kỳ lạ cùng giác ngộ đại đạo, tìm thấy bản ngã chân thực. Chúng sinh dưới gầm Trời nếu như mượn được những điều ghi chép trong sách Du Ký này để phát hiện được bản ngã chân thực của mình, truy tầm lý tưởng đất yên mới không phụ lòng Trời xanh mong đợi, gánh nặng trao phó đó mới có thể thực hiện được dễ dàng. Song tất cả đều là nhờ công ân sư dẫn dắt mới có được duyên may như thể ngày nay.

Tế Phật: Thân con mang đại mệnh phổ độ chúng sinh, ngày nay mới có vinh hạnh nhận lãnh Thánh chức, phụng chỉ dạo ba cõi trước tác sách quý, có thể nói là kim cổ kỳ tài, đảm trách việc độ pháp giống đức Như Lai, vì vậy thầy cùng gánh sứ mệnh này, cho nên thầy trò mới đồng thuyền chung vượt khó khăn. Chỉ mong chúng sinh dưới gầm Trời đọc thiên Du Ký này chớ có như kẻ phóng ngựa xem hoa mà phải nhớ kỹ sơ đồ chỉ dẫn để chuẩn bị cho việc lên thăm Thánh cảnh tương lai. Bởi vậy trăm nghe không bằng một thấy, phải đích thân thấy cảnh mới có giá trị, còn không chỉ là xem cảnh qua bản đồ, há chẳng cách biệt nhau quá xa ư? Bữa nay thầy trò mình lên đường đi thăm cảnh giới khác... Đã tới nơi.

Dương Sinh: Phía trước kiến trúc nhiều cung điện trang nghiêm, hùng vĩ vẻ cổ xưa, vàng phủ đầy đất, mây lành trùng trùng, bậc thang lớp lang, kỳ hoa dị thảo mọc đầy bốn phía, ngắm nhìn… lòng thư thái lâng lâng.

Tế Phật: Đây là điện phủ Tam Quan, bữa nay phải bái hội đức Thiên Quan Nghiêu Đế trước.

Dương Sinh: Thưa vâng, theo thầy đi lên bậc thang, thân nhẹ như lông không giống như lên thang lầu ở thế gian bước đi cảm thấy nặng nề, không hiểu tại sao?

Tế Phật: Đây là cảnh địa chân không, kẻ không có nghiệp chướng mới lên tới nổi, sở dĩ khi lên tới đây con cảm thấy thân thể nhẹ nhàng là vì giới tiên phong đạo cốt có thể đi lại dễ dàng, thân tâm quả là thanh tịnh, chỉ nhún mình một cái liền băng xa cả ngàn dặm, có thể cưỡi gió đè mây, cất bước nhẹ bay. Thế nhân bình thời cũng phải luyện thứ công phu này, còn không sẽ chẳng nhúc nhích nổi, sẽ bị vô thường bắt buộc đi đường bộ.

Dương Sinh: Lời dạy của ân sư rất cao siêu. Phía trước có một ngôi điện lớn, trên có đề ba chữ “Tử Vi Cung” tức cung Tử Vi, có lẽ là nơi đức Thiên Quan Đại Đế ngự?

Tế Phật: Đó chính là nơi đức Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tích Phúc Thiên Quan Đại Đế ngự, chúng ta mau tới trước làm lễ ra mắt Ngài.

Dương Sinh: Một vị mặc áo rồng vàng ngồi trong điện, đầu đội mũ Kim Long, tay cầm thẻ thánh chầu Trời, dung mạo uy nghi, hai bên còn có rất nhiều các tiên quan y phục chỉnh tề tỏ ý đang chờ nghinh tiếp... Đệ tử Dương Thiện Sinh lạy mừng ra mắt đức Thiên Quan Đại Đế, bữa nay đệ tử theo gót thầy tới đây, kính xin Đại Đế ban ân phước chỉ dạy cho.

Tiên Quan Đại Đế: Lành thay, từ chốn phàm trần mà Dương Thiện Sinh có thể lên được tới điện Thiên Quan đã là đại phước rồi, há còn cần ban ơn phước nữa sao? Dương Sinh phụng chỉ theo thầy là Tế Phật dạo thăm cõi Trời hỏi đạo viết sách phổ độ chúng sinh, lòng tôi vô cùng hoan hỷ. Tam Tào mở Thánh hội, chư vị Thánh, Tiên, Phật cùng nghị bàn, đức Dao Trì ban ý chỉ, đức Ngọc Đế ban ngọc chỉ, tam quan chấp thuận, bữa nay mới có thể đi suốt ba cõi biên soạn sách Trời. Phàm chúng sinh dưới gầm Trời sau khi đọc sách Du Ký có thể cải ác theo thiện, tu đạo lập đức, ắt tam quan có thể ban ân phước giải nguy khốn, trừ oan khiên, cho nên trọng trách mà Dương Sinh đang đảm nhận mới quá lớn lao. Bữa nay tới đây quả là cuộc kỳ ngộ, xin mời ngồi. Tiên Quan, hãy mau dâng trà.

Dương Sinh: Đại Đế quá thương tình, đệ tử vô cùng cảm kích.

Đại Đế: Chớ ngại. Ba cõi trong ngoài chỉ có đạo là độc tôn, chỉ cần tu đạo lớn, ra sức thực hành Thánh đức, ắt Trời - người hợp nhất, Thánh - phàm tương đồng, chớ có e ngại.

Tế Phật: Xin mạn phép ngồi, Đại Đế đã ra lệnh, lễ phép không bằng tuân theo lệnh của Đại Đế.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã ban ân, đệ tử tuân lệnh xin phép được ngồi. Ngồi xuống ghế cảm giác ban đầu lạnh băng, song lần lần tinh thần thư thái nhẹ nhàng, chẳng rõ vì nguyên nhân gì?

Đại Đế: Đất này là khí của cõi Trời 9 khí (cửu khí), tất cả đều là bảo vật, Dương Sinh là người phàm ngồi trên ghế quý, 9 khí lưu hành cho nên có cảm giác như vậy.

Dương Sinh: Thì ra nguyên nhân là như vậy, đã ngồi xuống rồi là không muốn đứng lên, tuy không phải là ghế nệm song vẫn thấy êm ái lạ kỳ.

Đại Đế: Ghế này làm bằng đá quý rất cứng, song khi ngồi lại có cảm giác êm ái là vì nhờ có chân khí vận hành. Đá cứng có đời sống nên còn gọi là đá sống, từ cứng hóa mềm, từ chết sống lại, như kẻ tâm dạ sắt đá cảm hóa được thì lại trở nên hiền lành nhu nhuyễn, sức sống tự nhiên hoạt bát sinh động. Dương Sinh hiện thời ngồi trên đá song người với đá đã hợp làm một, do đó mới có cảm giác như vậy.

Dương Sinh: Thưa, tại sao người và đá lại có thể hợp nhất?

Đại Đế: Xương người khi hóa cứng so với đá chẳng khác chi, nên gọi là “hóa đá”. Người chết đất vùi thành đống, cho nên người với đá vốn vẫn như nhau. Giờ Dương Sinh ngồi trên đá, phía trên có “nhân đầu”, phía dưới có “thạch đầu”, cả hai cùng hấp khí cho nên gọi là “hợp nhất”. Phàm những người ngồi yên lặng, dưới hấp khí đất (do đầu đá hút khí lên), trên hấp khí Trời (do đầu người hút khí xuống), lâu sau khí dày kết thành đan, sinh ra “thạch tử” tức đá con. Hiện thời lại không giống vậy, vì Dương Sinh ngồi trên trời, dưới hấp thiên khí, trên hấp địa khí đảo điên quay tròn, lẽ siêu diệu chỉ có một mình mình chứng ngộ.

Dương Sinh: Ngồi trên Trời ngó xuống đất, thân tuy đảo ngược song tâm lại tự tại, cho nên chân đạp Trời đầu đội đất, một điểm hư linh treo ở giữa không trung, muôn trượng biển khổ gội tóc ô uế, thưa có đúng như vậy chăng?

Đại Đế: Đúng như vậy, người phàm chân đạp đất, người Tiên chân đạp Trời. Thánh, phàm công phu không giống nhau, kẻ đi trên không (hành vân) chân chẳng chạm đất mới là Tiên Phật, thế nhân có thể như vậy được không? Nếu như có kẻ siêu nhân có được năng lực ấy đã đắc đạo quả, có thể quan sát trái cây chẳng treo lơ lửng giữa không trung sao? Người đời tu luyện công phu, trước tiên coi nhẹ tình dục, còn nếu như không chịu buông bỏ cứ khư khư nắm lấy để trở thành quá trọng tình đa dục, lúc lên đường khí kiệt thở dốc, tới cảnh địa hư không sợ rằng tinh cùng lực kiệt, mê man muốn tắt thở. Buông bỏ tất cả, hai tay áo lộng gió, trong hai bàn tay trống rỗng, tung cánh có thể bay mau, mong chúng sinh hãy lên một tầng lầu, nhìn rõ Trời đất, cảm ngộ huyền diệu, tâm sáng như gương, tính định như thủy, ắt thiên nhãn mở, tâm có thể nhìn thấy tính Trời tức là rõ thiên đạo, cưỡi gió đè mây, tự tìm được đường. Mời Dương Thiện Sinh dùng trà.

Dương Sinh: Đại Đế chỉ dạy ít lời song đã giúp đệ tử còn hơn mười năm đọc sách ở thế gian, đệ tử đã nghe thấu lẽ đạo, cảm tạ đức lớn của Đại Đế. Tách trà đặc biệt nơi thượng giới trong suốt tới đáy, cúi nhìn thấy rõ mặt mũi mình nổi trên mặt nước, giống hệt bức hình chụp... uống xong tuy vô vị nhưng lại cảm thấy sự mát mẻ thấm vào tận tâm can.

Đại Đế: Đó là bản lai diện mục chân chính của Dương Sinh, là tự tính chân nhân (Phật), vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, nay có thể nổi trên mặt nước, đủ chứng tỏ là cao minh chân chính, đi trên mây trên nước tiêu dao tự tại. Trong nước nhìn thấy chân diện mục, miệng uống nước bản tính có thể tẩy trừ được uế khí, khai thông trí tuệ, thông thần nhập chân.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã khai thị, Đại Đế giữ địa vị đứng đầu tam quan, kính xin Đại Đế cho biết lai lịch uyên nguyên cùng tình hình Thánh chức ở cõi Trời?

Đại Đế: Lành thay, xin lược thuật về lai lịch đạo để thế nhân được tỏ tường. Thuở ban đầu hỗn độn, huyền hoàng cắt chia rồi sau bắt đầu định Trời đất. Lúc đó Ngũ Lão hóa làm tam đế là Thiên quan, địa quan, thủy quan để cai quản lo liệu ba cõi: Trời, đất và nước; tra hỏi công với tội của người, hầu định họa phước của chúng sinh.

Tôi là Thượng Nguyên Thiên Quan, Nhất Phẩm Nguyên Dương Huyền Đô, ngự ở giữa cung Tử Vi, trông coi về hành động thiện ác của chúng sinh, cùng nắm quyền thăng giáng chư Tiên, có biệt hiệu là Thượng Nguyên Cửu Khí Tứ Phúc Thiên Quan, Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế, Tử Vi Đế Quân, từng hóa sinh làm Nghiêu Đế. Phàm các tinh tú cùng các bậc cao chân, đạo quả của họ nếu như tiến bộ hoặc Thần Thánh thuộc cõi Trời đất phổ hóa chúng sinh, có công cứu thế phò nguy sau khi được tôi coi xét chuyển trình lên Ngọc Đế để Ngài căn cứ vào công đức ấy mà thăng cấp cho. Như các chư Tiên thuộc cõi Trời, chư Thánh thuộc cõi đất không làm tròn bổn phận, hoặc phạm lỗi, sai lầm, sau khi tôi tra xét tỏ tường, liền chuyển báo lên đức Ngọc Đế để giáng chức ngay.

Trên đây là nói về Thần Thánh thuộc cõi trung hạ giới, còn như các vị đắc đạo cao minh, quả vị được vào cõi vô cực không còn chịu luân hồi thì các vị đó không thuộc sự cai quản ở đây. Còn những nguyên linh thành đạo ở cõi thế gian cũng phải trải qua sự khảo hạch của tam quan mới được căn cứ vào công để chứng quả. Phàm nhân thiện ác đều có ghi đầy đủ trong sổ, người đời phải cầu phước tránh xa họa, quyết định một trong hai đường thiện ác.

Chúng sinh nếu như vận mệnh muôn việc phần lớn không thuận, kiếp trước lại tạo nghiệp đa đoan, đời này nếu như sám hối trước Thần Thánh, phát nguyện hành thiện, thiên quan có thể ban phước cho họ. Nếu như có con hiếu thảo phát nguyện cầu phước thọ cho cha mẹ, lòng hiếu cảm thấu tới trời, thiên quan ắt cũng giáng phước cho người. Tam quan vốn cùng chung một thể chỉ dốc lòng thương người cứu đời, cho nên chuyên ban phước, xá tội, giải nguy, tế độ kẻ hoạn nạn khổ đau, nếu như người đời trên ứng lẽ Trời, dưới thuận nhân luân ắt hễ cầu là ứng.

Dương Sinh: Lắng nghe Thiên Quan nói xong mới hay rằng phước họa do người tự chuốc, còn Thiên Quan thì lòng Tiên dạ Phật, dốc lòng ban bố ân phước cho người đời, quả là tâm Trời cảm hóa người.

Đại Đế: Trời với người vốn hợp nhất, mong chúng sinh tuân theo lẽ trời, giữ đúng đạo người ắt Trời và người hợp nhất, có thể tu tới quả vị cảnh giới vô cực. Bữa nay Dương Sinh tới đây tôi xin hướng dẫn đi thăm để rõ sự tình.

Dương Sinh: Xin vâng, đức Đại Đế tàng trữ quá nhiều án lệnh, việc xét xử chắc là cũng bề bộn lắm!

Đại Đế: Nhân hiện nay người đời thiện ác gần bằng nhau, may mắn là kẻ hồi tâm hướng thiện cũng nhiều, do đó việc xét xử công quả là nhiệm vụ của Thánh trao cho cũng có nhiều kết quả. Song sánh với các miền do các tào khác quản trị thì cơ quan của tôi lãnh nhiệm vụ xét xử tối hậu, cho nên thần lực lớn rộng, không hoảng hốt hoang mang. Dương Thiện Sinh đạo căn thâm hậu, bữa nay tới đây tôi mới tiết lậu một số điểm về thiên cơ, xin mở sổ để Dương Sinh xem.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế.

Đại Đế: Đây là cuốn sổ vàng ghi công quả, lật coi cẩn thận... không được đọc thành tiếng.

Dương Sinh: A, đây là bảng ghi chép công quả của môn sinh tu đạo tại bản đường:

1. Ngày... tháng... năm... dự lễ giáng cơ bút lần thứ nhất: 5 công.

2. Ngày... tháng... năm... từ xa về dự lễ giáng cơ bút: 10 công.

3. Ngày... tháng... năm... khuyên người hướng thiện: 50 công.

4. Ngày... tháng... năm... phát tâm ấn tống kinh sách: 100 công.

5. Ngày... tháng... năm... nhẫn nhục không oán than: 100 công.

6. Ngày... tháng... năm... thấy sắc đẹp không nổi dâm dục: 300 công.

Lại thấy trong một cuốn sách có đăng:

Ngày... tháng... năm... phát thiện nguyện để cầu cho thân phụ... hưởng phúc trường thọ, chuẩn cho tăng tuổi thọ bán kỷ (6 năm)… phát nguyện cầu vận mệnh được may mắn chuẩn cho được hưởng phước cùng ánh sáng.

Đại Đế: Đại khái xem như vậy cũng tạm đủ, chúng sinh thấy rõ là nhân quả có bằng cớ, thiện ác chứng minh rõ ràng. Ra sức hành trì đạo đức, chăm lo tu Thánh đạo, một sớm công quả tròn đầy có thể siêu thăng Thiên Đàng, tiêu dao cực lạc. Chúng sinh nếu như xem xong bản Du Ký này, hồi tâm hướng thiện, tu chân ngộ đạo, trăm năm sau về cõi Trời tới điện phủ Tam Quan, tôi sẽ ban ghế mời ngồi, mong chúng sinh chớ để mất cơ hội tốt lành.

Tế Phật: Cuộc bái hội thỉnh ý đức Thiên Quan Đại Đế tới đây đã hoàn tất được một phần, cảm tạ Đại Đế từ bi ân đức đã ban cho Dương Sinh nhiều linh quang. Xin cáo từ Đại Đế.

Dương Sinh: Vì ân sư thúc giục đệ tử cũng xin cáo từ đức Đại Đế, cảm tạ Ngài đã khai mở huệ cho đệ tử. Thưa ân sư con đã lên đài sen, kính mời thầy trở lại Thánh Hiền Đường.

Đại Đế: Chúc thuận buồm xuôi gió.

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

HỒI BA MƯƠI MỐT

DẠO ĐIỆN TAM QUAN BÁI YẾT ĐỊA QUAN ĐẠI ĐẾ

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 29 tháng 8 năm Canh Thân (1980)

Thơ

Sám hối tiền phi chủng thiện nhân

Tham sân si ái tối thương thần

Tu phòng thất túc khuynh linh mệnh

Luyện tựu kim cương bất hoại thân.

Dịch

Hối hận xưa không rắc đức nhân

Tham sân si ái hại tinh thần

Coi chừng trượt cẳng toi linh mệnh

Luyện đặng kim cang chẳng nát thân.

Tế Phật: Có kẻ bảo: “Các người đều là tội nhân”. Tôi nói: “Người đời vô tội”, có người không phục tức khí bảo: “Tôi đã làm hỏng biết bao việc mà nói là vô tội được sao?”. Tôi bảo: “Nhà ngươi đã nhận tội, ta còn gì để nói”.

Thực sự người đời vốn vô tội, chỉ biến thành tội nhân khi nào phạm vào bốn “không”:

Không lễ chớ nhìn.

Không lễ chớ nghe.

Không lễ chớ nói.

Không lễ chớ làm.

Người đời phải ra sức thực hành để tránh trở thành kẻ phạm tội bốn không. Con người lúc chào đời vốn là đứa con đỏ trần trụi, rồi được mặc áo phàm tục, nhiễm màu sắc, tham bốn không, ái mười đức, đem tội lỗi của mình bôi lem trang giấy trắng sáng ngời. Nghĩ tới người đời nếu không vui được thì cũng chớ quá buồn.

Bữa nay thầy hướng dẫn Dương Thiện Sinh tới bái yết đức Địa Quan Đại Đế Xá Tội Nhị Phẩm Trung Nguyên để xin Ngài tha tội cho người đời. Mong người đời cố gắng tự làm việc này cho bản thân mình để tránh khỏi tái phạm tội lỗi.

Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: Bữa nay chúng ta sẽ tới thăm điện Tam Quan bái yết đức Địa Quan Đại Đế. Lên đường... Đã tới điện phủ Tam Quan, Dương Sinh xuống đài sen.

Dương Sinh: Thưa thầy, bữa nọ đã đi qua nơi này, phía trước có nhiều đường, riêng một đại lộ phủ đầy vàng, đi thẳng tới trước mặt đại điện phủ Tam Quan. Tại đây có nhiều bậc đạo sĩ cao minh đi đi lại lại, các vị này tới đây để khảo sát kinh tu đạo quá đông đúc rộn rịp.

Tế Phật: Tam Quan Đại Đế, đời gọi là Tam Giới Công, vị thế đứng sau Ngọc Hoàng, các dự án của Tam Tào đều phải qua sự phê chuẩn của Tam Quan, sau đó mới chuyển trình Ngọc Đế. Kẻ tu đạo chứng đắc công quả ở trên trần phải trải qua sự sát hạch của tam quan sau đó mới được phân phối đi các tầng Trời tu luyện chứng quả.

Dương Sinh: A thì ra nguyên lai là như vậy. Phía trước đại điện có đề ba chữ “Thanh Hư Cung” hào quang lóa cả mắt. Thưa, có phải đức Địa Quan Đại Đế cư ngụ tại đây không?

Tế Phật: Đúng đấy, chúng ta mau vào trong làm lễ ra mắt.

Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Vào tới bên trong thấy một vị ngồi giữa điện, mình mặc áo lông bào (áo vua ban), tay cầm ngọc hốt (thẻ vua ban), dung mạo thật uy nghiêm. Đệ tử Dương Thiện Sinh lạy chào ra mắt đức Địa Quan Đại Đế, kính xin ngài chỉ rõ bến mê.

Địa Quan Đại Đế: Miễn lễ. Bữa nay Dương Thiện Sinh theo thầy là Tế Phật tới điện Tam Quan tôi mừng lắm, mời hai vị ngồi. Tiên Quan, mau dâng trà.

Dương Sinh: Cảm tạ Đại Đế đã ân ban, bữa nay đệ tử có được hồng ân yết kiến Đại Đế, kính xin Đại Đế thuật lại lai lịch cùng chức vụ của Đại Đế để chúng sinh dưới gầm Trời được tỏ tường.

Đại Đế: Lành thay, để phổ độ chúng sinh, chân tướng Thiên Đàng, Địa Ngục phải sáng tỏ. Địa Quan gánh trách nhiệm phổ độ hết thảy chúng sinh trên trái đất, lẽ nào lại giữ bí mật không tuyên bố được hay sao. Tôi là Thanh Linh Động Dương Nhị Phẩm vốn do chân khí Tiên Thiên hóa thành, mang các tên hiệu là: “Trung Nguyên Thất Khí Xá Tội Địa Quan, Động Linh Thanh Hư Đại Đế, Thanh Linh Đế Quân”. Bởi vì chúng sinh trên trái đất đều phạm tội, lòng trời vốn từ bi, không nỡ nhìn chúng sinh đọa lạc, cho nên lấy tư cách quyền xá tội của ti Địa Quan chỉ muốn người đời thực tâm sửa đổi sai lầm, còn ý của tôi chỉ muốn xá tội.

Dương Sinh: Đại Đế hiện thời từ bi song đệ tử không được rõ cách xá tội như thế nào?

Đại Đế: 1. Người đời phạm tội nếu như biết sám hối sửa đổi, tôi sẽ tha cho ba phần tội, từ đó về sau biết lo làm điều thiện, không tái phạm tội lỗi, tôi sẽ lượng tình tha thứ nốt bảy phần còn lại.

2. Ngày nay vào cửa thiện tu đạo, dốc tâm tu đạo không nản lòng thối chí, tuy nhiều kiếp tội lỗi chưa tiêu, tôi cũng tha cho ba phần. Nếu như giữ giới luật tinh tấn nghiêm ngặt tới chết không thay đổi, chí tu đạo không lùi, tôi có thể tha hết cho bảy phần còn lại.

3. Trăm đức thiện, đức hiếu đứng hàng đầu, nếu như vô tình phạm lỗi, song đối với cha mẹ lại là con hiếu thảo, tôi cũng xá giảm cho.

4. Người đời có tâm tu đạo, xong ma nạn trùng trùng nên sau khi chết tội trần gian đều chưa tiêu, nếu như kiên nhẫn chịu đựng khổ cực, tâm chí không thay đổi, tôi cũng tha tội cùng giảm bớt khổ đau.

5. Phàm thế nhân tội nghiệp kiếp trước chưa tiêu còn bị đày đọa tại Địa Ngục, con cháu đời sau có thể phát thiện nguyện hành thiện bố thí, tôi cũng có thể tha tội để tội hồn được giảm khinh khổ hình.

Tế Phật: Đức Địa Quan từng phân linh hóa làm Vũ Đế, cho nên đối với đạo tận hiếu Ngài đặc biệt tôn trọng. Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan Đại Đế có hoài vọng phổ độ được hết người cũng như quỷ tại trần gian và Địa Ngục, vì vậy đời mới tôn vinh Ngài là đức “Trung Nguyên Phổ Độ Công”.

Mong thế nhân chăm lo tu thân hành thiện, lòng Trời từ ái, tuyệt không có ý bắt người đời chịu tội, vả lại vì lo cho chúng sinh khắp mọi nơi nên mới định ra điều luật xá tội. Người đời nếu như không hồi tâm hướng thiện thì dù Trời có muốn xá tội cũng chẳng được nào, tới mức đó quả là hết thuốc chữa, tội quá nặng rồi!

Đại Đế: Tôi có ý muốn xá tội cho chúng sinh, ước mong chúng sinh chớ tự bỏ lỡ cơ hội. Hy vọng chúng sinh dưới gầm Trời vô tội, người người đều là thiện nhân ắt là Địa Quan cũng như Thiên Quan đều chỉ là để ban ân phước mà thôi.

Dương Sinh: Đức Địa Quan nhân từ đáng kính, nhưng chúng sinh lại đều ngày ngày lo tạo tội ác, Ngài tính sao đây?

Đại Đế: “Họa phước không có cửa, chỉ do người tự chuốc” (Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu), nhân đời nay chúng sinh phước dày, do đó mà người người được hưởng ân huệ. Song chẳng qua phước phận như đèn dầu, cuối cùng sẽ có lúc hết, nếu như không châm thêm dầu tạo thêm phước, dầu hết đèn tắt, tai họa giáng xuống, khi đó nguyên linh của con người do Thiên Quan trao xuống cho Địa Quan sẽ rớt vào tay tôi, nhưng tôi từ bi để cho họ có cơ hội sửa đổi, chuẩn bị làm kẻ được tha tội.

Suốt đời nếu như chỉ ngang tàng không biết hồi tâm cúi đầu vái lạy đức Địa Quan để nhận lệnh tha tội thì chắc chắn sau khi chết sẽ bị đày xuống Địa Ngục, chẳng còn dịp may xá tội nữa. Diêm Vương không được quyền tha tội, mà chỉ có quyền trị tội. Tôi với Địa Tạng Vương Bồ Tát cùng Mục Liên Tôn Giả vốn do một khí hóa thành để phổ độ chúng sinh, nên đều có đại nguyện xá tội, cứu khổ, cứu nạn, bởi vậy Địa Quan và Địa Tạng chỉ là một thể.

Mục Liên Tôn Giả vì lòng hiếu thảo mà độ được mẹ mất. Lễ Vu Lan tức mùa báo hiếu hàng năm vào ngày rằm tháng bảy nhắc nhở đạo hiếu mười phương, để cầu cho cha mẹ bị đày đọa khổ cực được siêu thoát.

Bồ Tát Địa Tạng Vương có đại nguyện là nếu như không cứu hết được các tội hồn tại Địa Ngục, thề không thành Phật. Khi tôi hóa thân làm vua Vũ, đạo hiếu cảm động lòng Trời nên có thần tích là voi cày ruộng thay thế, chim giúp bừa cỏ; vua Nghiêu vì vậy mà nhường ngôi cho, khiến lưu tiếng thơm muôn thuở. Đạo giáo phổ độ của Trung Nguyên với Phật giáo Vu Lan Bồn tổ chức lễ cùng một ngày là lý do như vậy, mong người đời giác ngộ điều đó. Người đời phải lấy trung hiếu làm gốc, gắng tu Thánh đạo, sau khi chết chắc chắn hồn được siêu thăng cõi Trời, sống tiêu dao tự tại.

Tế Phật: Đức Đại Đế quá từ bi, tiết lậu một đoạn nhân duyên để cho người đời biết rằng tạo hóa vô cùng huyền diệu, thực tại ân phước sâu dày.

Dương Sinh: Bữa nay nghe những lời dạy của đức Đại Đế, đệ tử được mở mang trí não, vô cùng cảm kích. Đối với việc Ngài xá tội, đệ tử chưa thông suốt hết, xin Ngài giảng rõ thêm cho, thưa có được không?

Đại Đế: Nếu như chưa rõ, tôi xin nói thêm:

1. Có một người nọ đã vào cửa Thánh thành tâm trì chí tu đạo, song thân thể còn lắm bệnh tật, tinh thần khốn đốn, thường buông lời oán Trời vì đã tự giác hành thiện ít năm mà Trời vẫn chưa giúp đỡ giải trừ bệnh hoạn khổ đau. Tam Quan tra sổ thấy kiếp trước người đó là một tên đồ tể giết hại sinh linh quá nhiều, cuối đời tuy cải nghiệp, kính Thần lễ Phật song công đức chưa đủ. Kiếp này được sinh vào gia đình tu hành để kết thiện duyên tu đạo, song vì kiếp trước làm đồ tể giết hại sinh linh quá nhiều nên kiếp này thịt xương đau đớn, bệnh hoạn chẳng dứt. Trời cao từ bi, chính vì giúp cho kẻ đó tiêu nghiệp nên toàn thân mới bị đau nhức, có đau khổ mới rõ được khổ đau, thống khổ chính là để tượng trưng cho sự tiêu tan ác nghiệp. Nếu như nhẫn nại chịu đựng và đạo tâm không lùi bước, tôi thấy được lòng thành của họ, chắc chắn sẽ xá giảm tội nghiệp để họ được hạnh phúc yên ổn. Còn nếu như bị khổ mà không chịu đựng thì dù tôi có muốn xá tội cũng chẳng được nào. Hy vọng chúng sinh có được nghị lực kiên cường, gặp trở ngại đều tự tĩnh tâm sám hối, chớ oán Trời trách người, còn không tội nghiệp khó tiêu.

2. Nếu như nhớ tới những tội hồn thân giam nơi Địa Ngục thống khổ không chịu đựng nổi, bình thường ngoài việc thuyết pháp độ khổ ra, mỗi năm vào tháng 7 cửa quỷ đặc biệt mở để tạm tha các tội hồn một lần, cho ra ngoài đi dạo, phàm nhân đời sau thiết yến tế bái để tội hồn khỏi đói khát. Đạo gọi là “Trung Nguyên Phổ Độ”, hiến dâng hoa quả, của ngon vật lạ, cờ quạt linh đình, cỗ bàn cúng dâng chư Thánh, các quỷ đều rất vui mừng. Nhà Phật gọi là lễ Vu Lan Bồn, bày bách vị ngũ quả vào trong chậu dâng hiến thập phương đại đức, nhờ chư tăng đại đức cầu siêu cứu độ cho cha mẹ đã qua đời.

Dương Sinh: Đức Đại Đế từ bi, phổ độ khắp ngả âm dương, thánh đức quả là vô lượng. Đệ tử thuở nhỏ sống ở quê, cứ vào tiết tháng bảy về ban đêm thân phụ lại bày thân vị của Đại Đế trong nhà, ngoài ngõ đốt đèn. Cứ theo lời của thân phụ nói thì là để soi sáng cho các u hồn thấy rõ đường đi, thưa có đúng vậy không? Ngày nay công thương phát đạt, đô thị lại ít thấy cảnh đó, như thế có ảnh hưởng gì tới việc đi lại của các u hồn không?

Đại Đế: Chốn âm phủ như đêm đen chỉ có sao, tội hồn bị giam cầm ở đấy tối tăm thống khổ, chúng sinh ở dương gian mở lòng từ bi thắp đèn hai bên đường vào đêm tháng 7 để giúp tội hồn đi lại dễ dàng, công đức vô lượng. Ngày nay phàm trần khoa học kỹ thuật tiến bộ có đèn điện, nên cả hương thôn lẫn đô thị đường ban đêm đèn sáng choang, u hồn đã thấy được rõ đường, không bị trở ngại, bởi vậy người ta không đốt đèn cũng không bị ảnh hưởng, do đó nói: “Thời thay đổi thì pháp cũng thay đổi” (Thời thiên pháp diệc thiên) là như vậy.

Dương Sinh: Thưa đức Đại Đế giải thích rất đúng.

Tế Phật: Buổi bái yết đức Đại Đế bữa nay kết thúc tại đây, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.

Đại Đế: Kính tiễn nhị vị. Ước mong chúng sinh phần lớn hướng thiện tu thân, chớ có lao mình xuống hố sâu tội ác ô uế, để tránh cho tôi khỏi bị nhọc mệt về việc xá tội cho chúng sinh. Người chẳng phải Thánh hiền, biết lầm lỗi có thể sửa chữa, đức thiện chẳng phải nhỏ. Nếu như sám hối tội lỗi ngày trước, tôi nguyện trả lại sự thanh bạch hôm nay, tha thứ hết lỗi lầm, mong chúng sinh nắm lấy cơ hội tốt, chớ để một lần mất thân, muôn kiếp khó tìm lại được.

Dương Sinh: Cảm tạ lời dạy ngọc vàng của đức Đại Đế, xin bái từ.

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

Đức Thầy giảng: [42:22 ]

Chúng ta thấy nơi đây: Tội - mọi người đều có. Nhưng mà tại sao chúng ta lại tu thiền để cho nó giải tội mỗi đêm? Tội là gì? Là sự tăm tối, và khối thần kinh không được điều hòa.

Cho nên mỗi đêm chúng ta làm pháp Soi Hồn là lập lại trật tự của khối óc, và làm Pháp Luân Thường Chuyển để khai thông những uất khí ở bên trong. Uất khí cuống cuồng ở trong nội tâm mới kêu bằng tạo tội. Không thấy mới tạo tội. Càng ngày càng sáng rỡ ra… chúng ta có dư thừa, thì từ tâm của chúng ta có, lúc nào chúng ta cũng giàu lòng tha thứ và thương yêu, chứ không có nghĩ cái chuyện kêu bằng sát phạt trả thù. Nếu còn nghĩ chuyện sát phạt, trả thù là tự gieo cho mình sự tăm tối và chậm tiến về phần hồn.

Cho nên khi mà chúng ta hiểu được phần hồn là vĩnh viễn, bất diệt, thì phải lo cái tinh thần để nung nấu phần đó, chớ không phải cái lý luận tranh chấp mà có thể thắng được. Lý luận tranh chấp là chỉ tạm bợ vinh quang trong một phút khắc nào đó thôi, nhưng cái phần hồn của chúng ta là quan trọng.

Còn trở về với quê xưa chốn cũ, mà nếu không xán lạn, không sáng suốt, không thanh nhẹ thì làm sao trở về? Đó, mỗi đêm, mỗi thời công phu của các bạn là gì? Chuộc tội, sửa tội, lập lại quân bình, là không còn sự tối tăm nữa.

À, khi mà các bạn giận hờn một chuyện gì đố các bạn ngồi thiền được. Cái uất khí ở bên trong nó làm cho các bạn ngồi thiền không được, muốn ngồi ngay thẳng cũng ngồi không được, mà muốn hít thở cũng hít không xong.

Đó, cho nên thấy rõ chúng ta luôn luôn phải trở về với cái luật quân bình sẵn có. Bởi vì cơ thể của chúng ta giáng lâm xuống thế gian là nó nằm ở trong cái luật quân bình, mà chúng ta đã làm mất cái luật quân bình là đó là tạo tội.

Thì ngày hôm nay may mắn chúng ta có cái Soi Hồn, có cái Pháp Luân là đã đem lại cái luật quân bình. Mà lấy cái gì làm được luật quân bình? Là cái nguyên khí của Càn Khôn Vũ Trụ nó thanh nhẹ vô cùng, và nó sẽ chạy khắp châu thân, bất cứ nẻo hóc nào cũng là đầy đủ, thì nhiên hậu nó mới quân bình. Chứ dùng lý thì không có quân bình. Dùng lý thì nghĩa là ông bác sĩ ổng dòm người đó bệnh:

- “Chị bệnh thì chị uống thuốc nó hết bệnh”.

Nhưng mà nhiều thứ thuốc uống không hết bệnh, vì sao? Vì cái tâm nó loạn, nó tối tăm, nó ở ác, cái tâm nó không có hiền, nó hay tranh chấp, thì tự nhiên nó mất cái quân bình rồi. Còn nó ngồi đó, nó bình thản, nó ngồi nó làm Pháp Luân Thường Chuyển… nhẹ nhẹ, nhẹ nhẹ… đem nguyên khí cả Càn Khôn Vũ Trụ vô để khai hóa, phổ độ nội tâm nội tạng nó, thì tự nhiên nó cảm thấy sung sướng nhẹ nhàng, là nó được giải tội. Nó nhẹ nó mới được bay bổng lên, lâng lâng đi lên… đó là cái phần tội trì kéo đó nó không còn nữa và nó trở nên nhẹ nhàng. Đó là một cái phương thức trị bệnh chơn tâm.

Cho nên, đừng có thấy rằng tôi phải cực nhọc, tôi phải làm việc này, việc kia, việc nọ… không có việc gì đâu, các bạn rảnh nhiều hơn là làm việc. [45:20]

Đứng cũng hít được nguyên khí, mà nằm cũng hít được nguyên khí, mà ngồi cũng hít được nguyên khí, mà chúng ta tưởng ngay nguyên khí là một liều thuốc vô cùng chữa trị bất cứ nẻo hóc nào ở bên trong cơ tạng của chúng ta, thì càng ngày nó chỉ càng sáng luôn, chớ không phải ngồi mới hít. Ta đứng ta cũng hít được; đứng mà ta tưởng Trời, ta làm Pháp Luân, cái ý chuyển “đầy rún đầy ngực tung lên bộ đầu” nó cũng thơ thới. Lúc ta đi ta cũng nghĩ được, làm thét rồi nó mở ra… thì phải gia công, phải nhiều ngày.

Rồi mỗi ngày chúng ta ăn vô những cái thực vật, thực vật nó cũng quên Trời đất hết trọi, nó đâu có biết. Nó mong ai? mong chúng ta cứu. Mà khi ăn vô, nó hóa sanh thủy, thủy biến sanh khí, thì chúng ta đem cái thanh khí trợ tiếp cái thanh khí giải cho nó được tiến; thấy cái hạnh hy sinh của nó không có hoang phí; mà hạnh hy sinh của chúng ta lại phải cao dày hơn nó, kêu bằng cứu độ toàn thân rồi mới ảnh hưởng chúng sanh.

Cho nên mỗi khi các bạn đi niệm hành, các bạn thanh nhẹ tưởng Trời Phật, dùng nguyên khí của cả Càn Khôn Vũ Trụ để hỗ trợ cho tâm, can, tỳ, phế, thận trong một cái ý niệm Nam Mô A Di Đà Phật, thấy nó nhàn hạ vô cùng, không có gì bận rộn mà không có gì phải lo lắng. Cứ tập như vậy thì nó cũng đắc đạo mấy hồi. [46:41]

Khi mà toàn thân các bạn nhẹ nhàng rồi thì các bạn đâu có thấy chuyện đời nữa, toàn thể là đạo, toàn thể là quân bình, toàn thể là sáng choang trong nội tâm nội thức từ khối óc cho tới ngũ tạng, nó nhẹ nhàng vô cùng và không có dấy bận.

Cho nên chúng sanh vì trường đời tranh chấp thì bị dấy bận rồi, bị ô trược rồi, bị lôi cuốn rồi, khó ăn khó ngủ. Còn người tu thì hướng thượng và đi về con đường nhàn hạ thì lúc nào nó cũng khai thông, mà lúc ngủ nó cũng cảm thấy rằng tôi đương hấp thụ tinh ba nguyên khí của cả Càn Khôn Vũ Trụ để dẫn tiến phần hồn của tôi, thì không có lúc nào các bạn rảnh mà bỏ đạo; đi vào đời các bạn cũng có đạo, đứng trước sự tranh chấp các bạn cũng có đạo, vì nguyên khí các bạn không bỏ được, tới giờ giấc ngủ cũng không bỏ được…

Thì chúng ta hành bất cứ lúc nào: 24/24 chúng ta phải nhớ nguyên khí của cả Càn Khôn Vũ Trụ, là xây dựng cái tâm pháp. Mà cái trung tâm của các cơ tạng đều được mở thì huệ nó mới phát. Mà trung tâm của các cơ tạng mà bị đóng thì không bao giờ có huệ.

Cho nên niệm Phật khai lục tâm, mà không trì thanh nhẹ thì không có lục thông - Phải hết sức thanh nhẹ!

Cho nên, chúng ta cũng là người ta mà họ chọc, họ chửi, họ mắng, họ hăm giết, họ đủ thứ… nhưng mà tại sao chúng ta lại giàu lòng tha thứ? Vì chúng ta thấy rằng thoát được rồi, không có cái gì mà tranh chấp. Những người thoát không được mới là dùng lý luận tranh chấp, mà người thoát được không có lý đi tranh chấp với người không thoát. Phải hiểu chỗ này thì cái tâm nhàn hạ. [48:26]

Mà cái sự nào mà đến vày xéo chúng ta, chúng ta phải lấy oán làm ân và cảm ơn để có cơ hội thức tâm, chớ đừng ôm nó là giận; đừng trách, đừng phiền, đừng buồn, mà thấy nó đang đến giúp cho chúng ta; thấy cái tăm tối nhập tâm rõ ràng; thấy cái tăm tối đang chiếm khối óc của chúng ta rõ ràng… Thì chúng ta làm sao giải tỏa nó ra, là giúp cho nó tiến từ cái tăm tối đi trở về cái hòa đồng, sáng suốt, thì nhất cử lưỡng đắc, làm một việc mà hai việc được thông, không có cái gì khó khăn.

Còn cái tình yêu thương: Thì chúng ta mới thấy rõ rằng cả Càn Khôn Vũ Trụ là một. Cọng cỏ cũng như anh em chúng ta, nó đương nhờ nguyên khí nó mới có sự sanh trưởng, mà giữa con người và con người cũng nhờ nguyên khí mới có sự sanh trưởng; cây cối, vạn vật đều là nhờ nguyên khí mới có sự sống. Thì đồng huynh đệ, chúng ta mở cái thức bình đẳng thì tâm chúng ta định bất cứ ở nơi nào, bất cứ giờ phút khắc nào chúng ta thấy cũng định. Vì nó là tôi, không có cái gì mà thắc mắc. Mà tôi cho nó khác, tôi khác thì phải có sự thắc mắc.

Cho nên cái sự an nhiên tự tại là mình phải làm sao cho nó lắng đọng thanh nhẹ bên trong trước rồi nó mới quy hội lên trên bộ đầu, rồi từ bộ đầu mới thừa tiếp cái phần thanh, điển quang ở bên trên, lúc đó mới luận thuyết về điển quang, khai tâm mở trí thêm.

Cho nên đường đi nó là vô cùng, mà ngay trong bản thể mình trước hết. Nếu trong bản thể của chúng ta mà chúng ta không biết khai thông là chúng ta luôn luôn bị kẹt, cả một kiếp người sân si. Cho nên, đến lúc mà vô bệnh viện nằm trên giường bệnh cũng bực bội mà thôi. Cái đó là đi tới chỗ tự sát. Lo cái chuyện không phải của ta lo nhưng mà lo thành ra tự kẹt.

Cho nên người tu Vô Vi vì nhờ cái thực hành, và hôm nay tôi bổ túc thêm những cái lý thuyết để cho các bạn thấy rằng những chuyện hỗ trợ từ giờ phút khắc ở trong nguyên khí đang hỗ trợ các bạn. Cho nên các bạn phải dùng tâm lành thiện ý thực hành nhẹ nhàng, khai mở, không có cái gì nôn nóng hết, thì đạo ở nơi đó, và cái tâm hồn nhiên của các bạn sẽ bật khởi bất cứ lúc nào.

Còn cái nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật thì xây dựng cái cơ tầng điển quang trong nội tạng và quy tụ bộ đầu mới có thể bước tới điển giới. Lúc đó, chúng ta mới từ điển giới học hỏi mới đi vượt khỏi điển giới được. Còn điển giới chưa học hỏi không có vượt khỏi điển giới được. [50:55]

Cho nên cái công tu học, ngày đêm đều phải tu học, chớ không phải nói “tới giờ tôi công phu”. Nếu mà các bạn không có nguyên khí các bạn chết ngay tức khắc, mà có nguyên khí đó là giờ học hỏi; đang hít thở này là đang học hỏi sự thanh nhẹ để hóa giải sự ô trược của nội tâm.

- Mà cái nguyên khí đó là gì?

- Nếu mà chúng ta trì kỳ chí làm, thì thanh nhẹ thì nó quy về hào quang, thì khi chúng ta hít là ánh sáng chớ không còn hơi nữa; tắt đèn nhưng vẫn thấy ánh sáng. Đó! Ta nhắm mắt nhưng mà có thể xuất ra đi được. Cũng nhờ sự thanh nhẹ mới đi được.

Nhẹ làm Trời, nặng làm đất - Mình phải nhớ kỹ chỗ đó! Phải xây dựng, phải cấy cái phúc điền làm sao cho nhẹ.

Thì chuyện đời, mình thấy người ta đau khổ mình giúp họ, phải cái tâm mình nhẹ không?

Thấy người ta buồn, mình làm sao giúp cho họ hết buồn, mình thấy cái tâm mình nhẹ không?

Đó là cấy phúc điền đó! À, giúp cho họ nhẹ là mình nhẹ, cứu họ sống là mình sống, là mình cấy cái phúc điền đó. Cái phước, cái ruộng phước, là kiếp sau ăn sao cho hết nếu trở lại thế gian. Còn đi tới giải thoát thì cũng thơ thới hưởng nhàn mà thôi!

Cái nguyên lý nó rất rõ ràng, rất khoa học. Khoa học huyền bí trong nội tâm của mọi người, thực hành rồi sẽ thấy rõ ràng như vậy. [52:15]

Hết cuốn 20 - ID# 00000000L39


----
vovilibrary.net >>refresh...