00000000L38

THIÊN ĐÀNG DU KÝ

THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG - Cuốn 19 - Hồi 28, Hồi 29

Ngày 26 và 27/10/1987

Đức Thầy giảng:

Chúng ta đọc đến đây, so sánh cái pháp mà các bạn đang hành hiện tại với những lời giảng dạy của Đức Phật Thích Ca, chúng ta thấy là con đường chánh tâm phải có một cái pháp để thanh lọc. Cái pháp mà các bạn đang hành đây là khứ trược lưu thanh và mở đệ tam nhãn, thì tự nhiên chúng ta tu tới đó nó sẽ khai mở và sáng suốt. Và còn một sự hành triển làm Pháp Luân Thường Chuyển là lấy nguyên khí của Càn Khôn Vũ Trụ giải tỏa phần trược ô trong nội tâm, nội tạng của chúng ta thì tự nhiên cái luật quân bình nó trở về với chính mình, thì nghi lễ đối đãi với bên ngoài chúng ta dư thừa sự sáng suốt để làm điều đó, trong thực hành.

Cho nên những người tu về Vô Vi mà thiếu thực hành thì cái tâm tánh nó cũng như người phàm mà thôi, không có cải thiện được. Mà thực hành đúng ba pháp thì tự nhiên từ từ nó sẽ cải thiện tâm tánh và pháp tướng sẽ khai mở, thì lúc đó chúng ta xem kinh đâu có kỳ thị cuốn kinh nào. Cuốn kinh nào cũng là đưa chân lý cho người tự thức và tự đi. Bất cứ tôn giáo nào ở đây cũng đều là giúp cho mọi người tự thức và tự tu tự tiến tới con đường giải thoát.

- Cho nên chúng ta so sánh từ ở trên Trời cũng giáo huấn bao nhiêu mà thế gian truyền pháp cũng nói bao nhiêu, mà tại sao người không thành đạo?

- Vì người không thực hành!

- Tại sao không thực hành?

- Vì tham lam!

- Tham lam nó trở nên gì?

- Yếu hèn, thiếu dũng!

Mà nói: “Chu cha tôi tu thiền không được. Tôi vô Soi Hồn nó nhớ lung tung, thiền không được”.

Tại vì hành động hàng ngày của chính mình thâu thập tham lam. Tu mà tham lam. Tu một pháp rồi mà chưa giữ lại cứ xin một pháp khác. Ai tới nói cái pháp đốn ngộ, pháp hay hơn, xin cái nữa. Rồi cái pháp đó rồi nó chạy ra một cái pháp khác nữa, cũng xin cái pháp nữa. Cũng như người xài bùa, xài một trăm lá bùa không có hiệu lực. Mà thực hành một pháp mà cương quyết rồi thì đạt thành, không có gì hết. [02:09]

Cho nên nhiều người cũng tu Vô Vi mà bị nhầm lẫn, sửa pháp, mượn pháp khác, bỏ mình bơ vơ đau khổ, ăn không được, ngủ không được - Ai làm? Chính mình đã gieo cái khổ cho mình! Hành động mình không tốt, tham lam. Ở đời thì tham lam, mà tu đạo cũng tham nữa; rước động vào tâm mà không có chịu giải tỏa, cho nên cái đại nạn nó sẽ tới. Mà khi đại nạn tới là khổ vô cùng; cái lúc chết không có phân biệt được, vì quá bận rộn, thời gian thì ít mà đường đi thì không thấy rõ, thì cũng như người mù đi giữa đường cái bị xe đụng vậy mà thôi.

Cho nên tôi khuyên tất cả những người tu Vô Vi biết cái pháp này là khứ trược lưu thanh là một cứu cánh rõ ràng, đem nguyên khí của Càn Khôn Vũ Trụ để cải hóa tất cả những sự ô trược trong nội tâm nội tạng của chúng ta, rồi quy nhứt lên trên đỉnh đầu thì lúc đó điển nó mới tròn, thì xem kinh mới thấy rõ chân lý. Đó, Đức Thích Ca cũng nói rõ.

- Mà làm sao điển tròn?

- Phải hành nó mới có tròn. Phải hướng thượng nó mới giải được.

Cho nên Trời là nhẹ, đất là nặng, mà cứ đâm đầu xuống, lệ thuộc bởi tứ quan thì càng ngày nó càng nặng thêm, nó không có khai triển được.

Cho nên khi chúng ta tu chúng ta phải ý thức rõ cái này nó hữu ích chỗ nào, và những sự sai lầm của tui là ở đâu, do đâu ra? Từ cái thanh nhẹ, từ cái ý muốn của tôi mà nó tạo động. Tôi không muốn người ta không có xâm chiếm được, mà tôi muốn là người ta mới xâm chiếm được. Đó! Cái ý tôi phải vững vàng. Khi tôi tu một pháp là tôi nhận định đường đi như vậy là tôi cứ việc đi mãi.

Vì sao bữa nay nay thấy sáng, mai thấy tối rồi chán? Từ sáng đi tới tối, mà cái tối đó là xây dựng cái dũng chí cho mình để coi thử mình có trì kỳ chí đi không, có bằng lòng đi không, có dũng chí hành không? Mà người ta nói:

- “Chu cha, tôi hôm qua hôm kia tôi tu thấy sáng mà bữa nay nó tối… chu cha, chắc tôi làm bậy?”

- “Tôi” không chịu hành!

Nhưng mà người ta gởi mình vô chỗ đó để mình học cái dũng. Từ cái tối trở lại cái sáng rồi mình mới chắc chắn là cái con đường sáng không bao giờ tiêu tan nữa, thì mình mới vững. [04:30]

Cho nên, trên đường đi nó phải như vậy. Cuộc đời có thăng trầm, có lên xuống. Buôn bán cũng vậy, lúc khá, lúc lời, lúc lỗ, mà để thử thách cái tâm con người mà thôi. Rồi tới học chữ, học văn chương cũng vậy, lúc thi đậu, lúc thi rớt. Mà tâm ta là cái chánh, nếu con người không giữ cái tâm làm sao mà đi suốt một kiếp người được, chỉ có tạo động không à, không có phát triển.

Cho nên cố gắng, trong thực hành mới thấy rõ... Cho nên các bạn đã bắt được cái pháp rồi, các bạn không có sợ một cái gì hết và không cần xin ai bổ túc cho các bạn. Chính bạn là một người đã tìm ra chơn lý và tìm ra đường đi và sử dụng cái nguyên khí của Trời đất; cái lò lửa lớn của Ông Trời đã ban cho các bạn sử dụng bất cứ lúc nào.

Không nên đi sai lệch và không nên nghe những người nào mà hướng dẫn… Thần Thánh Tiên Phật nói tùm lum, rốt cuộc là hại cái khối óc thần kinh của mình mà thôi. Còn mình giữ cái phần sáng suốt và vận hành cho sự sáng suốt đi tới tột cùng, là đạo đó, vô cửa đạo rõ ràng.

Mà không chịu hành! Đó, các bạn đã khổ bao nhiêu kiếp ngày nay mới ngộ được cái pháp, mà đi nửa chừng rồi trong cái tâm thay đổi, tán loạn, hướng về đời, hướng về thiên cơ, không hướng về nội thức, không hướng về thực chất, rồi ai là người hành hạ mình? Chính mình là người hành hạ mình. Chính mình đã làm cái khối óc thần kinh mình càng ngày càng suy yếu, đi cái chỗ tự diệt và không có phát triển được.

Cho nên, một giai đoạn, nãy giờ các bạn đã nghe được một vị Phật thuyết pháp, chỉ đường vạch lối để cho các bạn trở về thanh tịnh. Nhưng mà ngày hôm nay cộng với cái pháp là nó đi nhanh hơn, nó sẽ giúp các bạn. Cố gắng hành thì tư tưởng đó, từ khi mà các bạn chống đối cái pháp này, tới ngày hôm nay các bạn hết chống đối rồi, các bạn thấy tâm thần của các bạn an nhiên tự tại, và thực hành rồi các bạn thấy….

Cho nên cái pháp Vô Vi không sợ người ta chống đối, luôn luôn sử dụng tình thương, người đi trước phải dìu dắt người đi sau - đó là trách nhiệm chung, thì càng ngày cái sự trao đổi nó càng đông đúc và giúp đỡ cho mọi người được tiến hóa nhanh hơn.

Tiện đây, các bạn có dành thì giờ vấn đáp không? [06:58]

Kết thúc buổi học ngày 26 tháng 10, 1987

Sang buổi học ngày 27 tháng 10, 1987

(chưa chép thêm 14 phút Thầy giảng ở video mở đầu khóa 9 ngày 27/10)

HỒI HAI MƯƠI TÁM

DẠO NÚI PHỔ ĐÀ Ở NAM HẢI

LẮNG NGHE ĐỨC QUAN THẾ ÂM THUYẾT PHÁP

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 9 tháng 7 năm Canh Thân (1980)

Thơ

Tử trúc lâm trung quán tự tại

Bạch liên tòa thượng tọa Quan Âm

Phổ Đà phi viễn tâm đầu thị

Bồ tát tâm trường thể nội tầm.

Dịch

Tự tại quán thông chốn trúc lâm

Trên tòa sen trắng hiện Quan Âm

Phổ Đà ở đáy tim mình đó

Bồ tát trong ta há phải tầm.

Đức Thầy giảng:

Bồ Tát ở trong ta mà ta lại mở miệng chửi người là trật rồi, phải không?

Tế Phật: Trên đời rất nhiều người sùng bái đức Quan Thế Âm Bồ Tát, bởi vì pháp tướng hòa ái của Ngài giống như bà mẹ hiền trong gia đình, nên được người ta yêu mến, thích gần gũi, do đó Ngài còn được tôn vinh là đấng nghe thấu tiếng kêu thương của mọi nhà, là Lão Mẫu Quan Âm, lạy đức Quan Âm cũng như lạy mẹ già. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là đức Phật xưa tái sinh, đã thành Phật từ muôn ngàn kiếp trước, hiệu là Như Lai Minh Chính Pháp. Cho nên còn gọi là “Quan Âm Cổ Phật” hoặc “Nam Hải Cổ Phật”. Ngài nghe tiếng kêu thương mà cứu khổ cứu nạn, hạnh nguyện to lớn của Ngài hiện diện khắp mọi nơi mọi thời, đó là nguyên nhân chính khiến người ta tôn kính sùng bái Ngài, thế nhân tại sao không tu thành Quan Âm để hành đạo bồ tát? Bữa nay ta hướng dẫn Dương Sinh dạo núi Phổ Đà ở Nam Hải bái yết Bồ Tát Quan Âm để cầu xin ngài khai mở Phật pháp. Bồ Tát Quan Thế Âm ngày xưa thành đạo tại rừng Trúc Tử thuộc miền núi Phổ Đà đất Nam Hải, ngày nay cũng dạo cảnh này nhưng đã biến hóa ở cõi Trời Tây phương.

Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: ... Đã tới Nam Hải, Dương Sinh xuống đài sen.

Dương Sinh: Phía trước tại sao lại có biển lớn? Thưa, làm cách nào để vượt qua?

Tế Phật: Thầy cũng chẳng cách nào vượt qua cả, tòa sen này lớn lên từ trong nước nóng, nếu như vượt qua biển lớn, nước mặn của biển khổ ngấm vào hoa sen, sợ rằng hoa sen sẽ khô héo, chẳng biết tính sao đây?

Dương Sinh: Thưa thầy thử đi trên mặt biển xem có bị chìm hay không?

Tế Phật: Đúng đấy, để thầy thử xem, con hãy nán đợi một chút.

Dương Sinh: Ân sư đi trên mặt nước, quả thần thông quảng đại, giống hệt như đi thuyền, không hề bị chìm.

Tế Phật: Con thấy thầy ra sao? Đôi chân của thầy quả là vạn năng nào như đi trên mặt đất, trên mặt biển, trên không trung thông dụng khắp ba cõi. Dương Sinh hãy cố học lấy.

Dương Sinh: Thưa đạo hạnh của con không đủ nên con chẳng dám thử, sợ rằng sẽ chìm xuống đáy biển.

Tế Phật: Đừng lo, đã có thầy bên cạnh, lỡ có chuyện gì thầy sẽ cứu con ngay.

Dương Sinh: Như vậy để con thử coi... Ái cha, quả là bất hạnh! Con sắp chết chìm, ân sư mau cứu con.

Tế Phật: Chớ có sợ, để thầy kéo con lên bờ.

Dương Sinh: Hay quá, được ân sư cứu cấp, không thì con đã chìm xuống đáy biển để đàn cá điểm tâm.

Tế Phật: Chớ có sợ hãi.

Dương Sinh: Xin hỏi ân sư, tại sao thầy đi trên mặt nước lại không chìm còn con thì ngược lại, xin thầy chỉ cho con bí quyết?

Tế Phật: Con muốn biết thầy cũng chẳng giấu diếm, thầy nói để con hay ngay, con hãy nhớ lại những người không biết bơi song ở trong hồ tắm họ cũng chẳng chìm, là bởi vì họ có đeo phao, trong phao chứa đầy không khí, lòng phao đương nhiên rỗng rang, do đó có thể nổi trên mặt nước. Đã biết rõ được nguyên lý này thì khi con ở trên mặt nước tự tâm niệm thân con là một trái khinh khí cầu trong ruột trống rỗng, thì tự nhiên trôi nổi giữa không trung. Nếu như không tin, con hãy nhìn gióng trúc, trái khinh khí cầu, thùng sắt v.v... chỉ cần phía trong có đầy khí hay nói cách khác “giữ gốc nắm cái ruột, một niệm không hề dấy” ắt sẽ chẳng chìm.

Dương Sinh: Thầy nói rất có lý, con đã hiểu một cách thấu đáo.

Tế Phật: Đây cũng là cách minh thị cho kẻ sống ở đời, không thể tham lam chấp mê hình danh sắc tướng thế tục, ngược lại sẽ dễ bị đọa đày trong sáu nẻo luân hồi. Nếu như vứt bỏ tất cả, chẳng để cho vật dục ái tình nơi cõi thế trói buộc thì thân mình ắt tràn đầy khí hạo nhiên chính trực, thân sẽ như trái khí cầu chẳng bị vật chất níu kéo dẫn tới đọa lạc, tự nhiên có thể bay thẳng lên Thiên Đàng. Như nay thầy thân tứ đại tức nước, lửa, gió, đất đều thông, nên nước biển không bám nổi thầy, do đó mà thầy thoát khỏi sự nguy hiểm chết chìm. Nếu như người ta một hạt bụi không nhiễm, coi vật chất như mây nổi thì tự nhiên đi trên nước trên mây, siêu thoát khỏi bể khổ, không còn bị luân hồi.

Dương Sinh: Phía trước có một con thuyền nhỏ đang đi tới, giống loại thuyền buồm, chẳng rõ đó là ai?

Tế Phật: Ha ha, đức Quan Âm Đại Sĩ đang đáp thuyền từ, Ngài đã biết thầy trò mình đang thử đạo ở đây do đó Ngài đến nghênh tiếp chúng ta.

Dương Sinh: Chiếc thuyền nhỏ đã cặp bờ, trên thuyền quả nhiên thấy có một vị bận áo trắng, tà áo phấp phới bay. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát tướng mạo trang nghiêm, dung nhan hiền từ dễ mến, so với hình ảnh Ngài khi tôi nằm mơ giống y hệt, bữa nay quả là hạnh ngộ, đệ tử lạy chào ra mắt đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát: Dương Thiện Sinh hãy đứng lên, tôi ở tại rừng trúc tía ở trên núi Phổ Đà nghe hai vị nói là muốn dạo thăm chốn tôi cư ngụ, và mắt huệ nhìn thấy rõ hai vị thử đạo tại đây nên đặc biệt đem thuyền từ tới rước, mời hai vị lên thuyền.

Dương Sinh: Hay quá, kính thưa đức Quan Âm, tại sao thuyền từ này lại nhỏ bé thế này?

Quan Âm: Chỉ độ nhị vị mà thôi, lớn quá sẽ cồng kềnh không tiện, nếu như có nhiều khách đi, thuyền này tự nhiên lớn rộng thêm. Phàm kẻ tu thân học đạo, nếu như tâm họ kiên trì không dời đổi hẳn là cả ức người tiêu dao nơi đất Phật, chỉ cần hô danh hiệu Quán Thế Âm, tôi liền hiện ngay ra bên cạnh họ, vì thuyền từ rộng lớn vô chừng, có thể độ hết thảy chúng sinh trong thiên hạ.

Dương Sinh: Đại Sĩ từ bi, pháp môn vô biên, quả là phúc lớn cho chúng sinh.

Quan Âm: Tôi sắp khởi hành, Dương Sinh bám chặt lấy mạn thuyền, vì tốc độ lẹ như bay, sẩy tay sẽ té xuống biển rất là nguy hiểm.

Dương Sinh: Xin tuân lệnh, đệ tử đã chuẩn bị xong, kính mời Đại Sĩ từ ân khởi hành... Thuyền này không có máy, tại sao Đại Sĩ lại có thể phóng như bay? quả là thần kỳ.

Tế Phật: Thuyền này chẳng giống như thuyền thế gian, chẳng cần dùng máy, chỉ cần Đại Sĩ khai khẩu, tự nhiên thuyền lao đi. Bởi vì máy đã trang bị sẵn trong tâm Đại Sĩ rồi, chỉ cần tâm niệm, máy liền quay tít không ngừng, do đó mới kêu là “thuyền pháp”.

Dương Sinh: Quả là kỳ diệu, tâm động ắt thuyền động, tâm ngưng ắt thuyền ngưng, Bồ Tát cưỡi thuyền từ chứ không phải thuyền từ cưỡi Bồ Tát. Ý nguyện của Đại Sĩ quảng đại vô biên, vô tận cho nên mới có thể hóa thân khắp nơi để thuyết pháp, cứu khổ cứu nạn.

Tế Phật: Đó là núi Phổ Đà thuộc cõi Trời Tây Phương, bữa nay chúng ta tới đấy để lắng nghe đức Đại Sĩ thuyết pháp.

Quan Âm: Chúng sinh mê đắm thất tình lục dục, thân chìm trong biển khổ nên thường gặp nghịch cảnh, lỗi lầm đó do chính mình tự chuốc. Bữa nay cửa thiện rộng mở, Phật từ cõi Tây Thiên giáng hạ Bồng Lai để phổ độ. Tế Phật, Dương Sinh đã có công tới đây thăm, xin mời đi theo tôi để cùng ngoạn cảnh.

Dương Sinh: Rừng trúc xanh ngập núi, không khí tươi mát, bên cạnh còn có nước chảy róc rách, quả là vùng đất Thánh tuyệt diệu.

Quan Âm: Đó là sự quan hệ giữa rừng trúc tía và nước sương ngọt tức cam lộ, nước cam lộ chảy về biển khổ để làm giảm bớt vị đắng cay của người đời, nên đã trở thành nước pháp cứu độ chúng sinh.

Dương Sinh: Phía trước có một ao sen lớn nở đầy hoa sen trắng khiến người ta say sưa ngắm, rừng trúc bên cạnh xanh tươi ngút Trời, vây thành một cái động Trời tự nhiên, ngoài ra trong đó còn có hai vị tiểu hài đồng, chẳng rõ họ là ai?

Quan Âm: Đó là Thiện Tài và Lương Nữ. Tôi ngự trên đài sen trắng trong rừng trúc tía này thanh tĩnh vô kể, song vì nghĩ rằng chưa độ hết được chúng sinh, cho nên bất kể giờ phút nào tôi cũng đều hóa thân giáng phàm cứu độ chúng sinh, phàm những ai nhớ danh hiệu tôi, khi gặp khổ nạn tôi đều xuất hiện giúp đỡ, mong chúng sinh thông cảm tâm tôi làm nhiều điều nhân nghĩa, ắt thân họ là thân tôi hóa thành để có thể tùy thời mà giúp đỡ kẻ khác. Tâm đã hợp với tâm bồ đề của tôi thì tâm linh của người chắc chắn sẽ tương hội với tâm tôi. Phàm những ai tu đạo bồ đề, suốt đời không thối chí, nhất định sẽ thành chính quả. Tôi đã ngồi trên tòa sen…

Dương Sinh: Thân phiêu nhiên của Đại Sĩ thoáng cái đã bay lên đài sen, vóc dáng Ngài thanh thoát y hệt như Tiên nữ, phiêu diêu thoát tục...

Tế Phật: Dương Sinh có thể thuật lại thế ngồi của Đại Sĩ cùng cảnh trí tại đây lúc này không?

Dương Sinh: Thưa được.

Thơ

Tử trúc lâm trung phủ bạch liên

Quan Âm tĩnh khán thủy trung thiên

Thiện Tài Lương Nữ song biên lập

Cam lộ liễu chi biến đại thiên.

Dịch

Nơi rừng trúc tía trắng hoa sen

Trời nước Quan Âm lặng lẽ nhìn

Lương Nữ Thiện Tài hầu cạnh mẫu

Cành dương cam lộ ngập không gian.

Thưa có phù hợp không?

Tế Phật: Hay lắm, hôm nay Dương Sinh đã tới được nơi này, hãy xin Đại Sĩ khai thị Phật pháp nhiều cho.

Dương Sinh: Thưa vâng, cuộc kỳ ngộ bữa nay thực là khó gặp, kính xin đức đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát thuyết pháp để giải rõ bến mê cho.

Quan Âm: Lành thay, trần thế hiện giờ đời sống hưởng thụ vật chất đã tới mức cao độ, từ cõi Thánh quan sát cảnh này thì thấy thế nhân quả là được hưởng phúc, chư Phật đều lấy làm mừng. Nhưng phần lớn những kẻ được hưởng phúc lại đắm mình trong cảnh “tửu sắc tiền tài” là bốn hố thẳm tội lỗi lớn, vì hưởng thụ quá độ diễm phúc Trời ban, không tiết chế nổi, càng đi vào nẻo tà càng bị đọa lạc, cuối cùng tạo thành ác nghiệp quả báo, nhìn cảnh bất hạnh này của chúng sinh lòng tôi cảm thương vô hạn. Nay nhờ có Thánh Hiền Đường mở đàn cơ bút để phát huy đạo giáo, duy trì đạo đức nhân tâm khỏi sa đọa, khuyên người hành tam cương ngũ thường, tu ngũ luân bát đức, cải thiện hoàn cảnh xã hội bất lương, khứ trược lưu thanh, thắp sáng đường tăm tối, tôi thường giáng lâm các Hiền Đường chấp bút thuyết pháp độ người, khuyên răn dẫn dụ chúng sinh tin tưởng Phật pháp, giữ gìn ngũ giới, học đạo tu pháp để minh tâm kiến tánh, chứng đắc quả Phật. Bữa nay Dương Thiện Sinh tới đây, tôi vô cùng sung sướng, giờ đây tôi hướng dẫn Dương Thiện Sinh đi hỏi đạo một số vị đạo sĩ đã tu thành quả vị Bồ Tát.

Dương Sinh: Cảm tạ sự hướng dẫn của Đại Sĩ.

Quan Âm: Hãy đi theo tôi.

Dương Sinh: Đại Sĩ nhẹ nhàng như mây, thoáng cái đã rời tòa sen, dáng đi như mây bay nước chảy... A, ven đường núi xanh nước biếc quả không thẹn là cảnh Tiên. Tới nơi, phía trước có rất nhiều tịnh xá, dưới gốc cây bồ đề có các tăng lữ ngồi, ngoài ra bên cạnh các gốc cây khác có một số vị tóc dài đang ngồi thiền định, tất cả đều có vẻ quên mình.

Quan Âm: Các vị Bồ Tát đó lúc còn tại thế đều tu đạo Bồ Tát, sau khi thành đạo tới đây tĩnh tu, không kể xuất gia tại gia, chỉ cần học tinh thần tu trì độ chúng của tôi, nhất định sẽ thành tựu, Dương Sinh có thể hỏi đạo họ.

Dương Sinh: Thưa vâng, xin hỏi đức Bồ Tát (vị này là một tăng sĩ mặc áo cà sa, vẻ mặt từ bi, vòng hào quang trên đầu tỏa chiếu sáng ngời, và vì có thụ giới cho nên hào quang phát ra càng mạnh mẽ). Thưa, Ngài đã tu cách sao mà đạt được đạo quả như ngày nay?

Bồ Tát Trí Quang: Pháp danh của tôi là Trí Quang, lúc sống xuất gia quy y Tam Bảo, chăm lễ đức Thế Tôn, hành đạo Bồ Tát. Tôi thấy rằng tu Phật học đạo, cốt ở việc giúp đời cứu người, xuất gia chẳng phải là chỉ cố giữ Tam Bảo trong điện. Quy y Phật, pháp, tăng là phải học tập tới chân tủy của ba bậc đó, tức là phải thực hành những gương tốt của các bậc đó để lại. Bởi trong khi tu hành, ngoài những công tác từ thiện như giảng kinh khuyến hóa, phóng sinh, tế bần, cứu nạn v.v... tôi còn tận lực tu dưỡng nội tâm, tham thiền nhập định, đối với Bồ Tát Quan Âm tôi lại càng kính cẩn lễ bái, các bạn đồng tu nếu như có ai bị đau ốm thống khổ tôi đều tận tâm giúp đỡ, giải nguy để họ thể hội được tinh thần từ bi của nhà Phật, khiến càng kiên định tin tưởng tu hành.

Về quá trình tu đạo của tôi cũng gặp nhiều ma nạn khảo đảo, gặp nghịch cảnh tinh thần hoảng hốt, song tự biết là nghiệp chướng chưa tiêu nên bị chà đạp; trong lúc thống khổ lòng tôi không hề bấn loạn, gắng sức giữ vững lập trường, suốt đời hành thiện tu đức, quảng bá Phật pháp nên cảm hóa được rất nhiều chúng sinh, cuối cùng tu thành quả vị Bồ Tát. Tại đây tôi thường cung kính lắng nghe đức Thế Tôn cùng đức Quan Âm thuyết pháp, để tĩnh tu lại cho tới khi chứng đắc quả vị cao hơn. Mong người đời tu đạo chớ có vì tư lợi, hãy luôn luôn ôm ấp hoài bão tâm Bồ Tát, giúp đỡ thật nhiều cho chúng sinh, trong khi ban phát tâm từ bi thương xót thì tâm mình cũng hóa thành tâm Bồ Tát, lâu ngày tâm thông suốt, dạ không còn trở ngại, tự nhiên thành tựu quả vị Bồ Tát.

Dương Sinh: Cảm tạ Bồ Tát Trí Quang đã phát tâm thuyết pháp, lấy tâm “đại bi” giúp người để rồi đạt được quả vị “đại hỷ”, lẽ nhân quả mảy may không sai chệch. Lại xin hỏi vị Bồ Tát (vị này để tóc nhưng hào quang trên đầu cũng tỏa khắp bốn phía, tướng mạo cao quý, khí chất phi phàm). Thưa, Ngài đã tu cách nào mà đạt thành được chính quả?

Từ Ngộ Bồ Tát: Tôi là nữ cư sĩ tu đạo tại gia, nhân tiền sinh tôi làm công chức, sau khi các con của tôi trưởng thành, tôi được thanh nhàn, nhờ một người bạn giới thiệu, tôi tới chùa xin quy y tam bảo, trở thành cư sĩ tại gia. Từ đó chăm chỉ nghiên cứu kinh Phật, ăn chay, giữ giới, niệm Phật, tĩnh tâm, trí tuệ mở lớn, liễu ngộ nhân sinh tứ đại giả hợp, duy có Phật tính là chân thực, do đó thường bố thí tiền bạc ấn tống kinh sách, gặp người nghèo khó ra sức giúp đỡ. Nhân người em trai mở tiệm thuốc tôi cũng bỏ tiền ra mua thuốc phát không, suốt đời làm việc thiện, tích được nhiều công đức, chăm lo tu tâm sửa tánh, khí chất ổn định, không phạm tội ác, cuối cùng tu thành đạo quả Bồ Tát.

Dương Sinh: Làm Bồ Tát tại gia càng dễ gần gũi chúng sinh, tận tâm tận lực, phát huy tinh thần Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cuối cùng thành đạo, thực quả đáng kính phục. Xin hỏi đức Bồ Tát (vị này ăn bận xuề xòa, hào quang trên đầu tròn trịa, tướng coi rất phúc hậu), không rõ Ngài tu cách sao mà lại đạt thành được chính quả?

Đức Nhân Bồ Tát: Tôi là cư sĩ tu đạo tại gia, tôi nhờ bạn bè giới thiệu thầy học đạo, sau khi thụ giáo minh sư, giác ngộ được chân lý nhân sinh nên độ được chúng sinh. Tôi cũng nghiên cứu và tu cả đạo Nho nên đã phát giác ra rằng lý đạo nhiệm mầu của hai đạo giống nhau, do đó mà lúc còn sinh tiền tôi không hề bài xích đạo Nho. Còn các kinh như: Đạo Đức Kinh, Thanh Tĩnh Kinh, Tứ Thư, Ngũ Kinh tôi đều nghiên cứu và thể nghiệm rất sâu xa, bởi vậy tôi thường đàm đạo cùng các đạo gia tu sĩ. Phàm những sách dạy về cách tu tâm dưỡng tính, nếu thấy được tôi đều ra sức nghiên cứu tu luyện, tôi còn tập cả nội ngoại công để trau dồi cơ thể, suốt đời vui đạo làm việc thiện, quảng độ chúng sinh hướng thiện, ra sức tế bần cứu thế, do đó mà tu thành quả vị Bồ Tát.

Dương Sinh: Sau khi thỉnh giáo đức Bồ Tát, cảm thấy rằng thân này tu đạo chẳng dễ, bất luận quy y tông phái nào cũng đều phải lo công quả cứu người, giúp đời. Không có tinh thần giúp người hẳn là tâm từ bi không hiển lộ ra được, muốn đắc quả Bồ Tát lại càng không đủ tư cách. Một kẻ không chịu giúp đỡ người khác hẳn là sẽ thành quỷ tham lam lợi lộc, tâm địa nhỏ nhen, chỉ lo sao cho đầy bao tử mình, chẳng thể thông suốt được cảnh giới vô hạn, tất cả những gì thành đạt được đều chỉ là giới hạn.

Tế Phật: Dương Sinh nói rất đúng, mong thế nhân chăm lo vun bồi tâm đức mới tránh khỏi sinh bệnh ung thư, hủ bại, ăn uống chẳng được. Bữa nay xin bái từ đức Đại Sĩ tại đây.

Quan Âm: Thời giờ đã trễ, tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường, tôi rất hoan nghênh nếu quý vị tới thăm chốn này thường xuyên.

Dương Sinh: Cảm tạ đức Quán Thế Âm từ bi hóa độ, đệ tử xin cáo từ. Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

HỒI HAI MƯƠI CHÍN

DẠO THẾ GIỚI CỰC LẠC TÂY PHƯƠNG

LẮNG NGHE ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ THUYẾT PHÁP

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 26 tháng 7 năm Canh Thân (1980)

Thơ

Vô trần lạc đắc nhất thân khinh

Tĩnh thổ cần bồi phương thốn canh

Quả mãn công viên quy cực lạc

Thiên biên hải giác nhậm du hành.

Dịch

Thoát tục vui thay xác nhẹ nhàng

Đất lành vun xới sống thênh thang

Tròn đầy công quả về chầu Phật

Biển rộng Trời cao thỏa vẫy vùng.

Tế Phật: Khắp nơi đều nghe thấy có người học Phật tu đạo, song cuối cùng muốn học Phật tu đạo phải làm sao đây? Theo như lão tăng thấy thì cũng chẳng có gì, chỉ cần hỏi lại lòng mình mà thôi, nếu như thấy tâm không thẹn, tôi cho là đã gần Phật rồi đấy.

Xa rời tâm tức chẳng có Phật để tìm, như trong một ngôi chùa không có một vật chi hết, hẳn chẳng thể gọi là chùa được, trong cơ thể con người nếu như không có tâm thì làm sao thành người nổi. Do đó nguyện chúng sinh hãy gắng trở thành người có tâm. Tâm có thể biến hóa vô cùng, giống như một chuyên viên vẽ kiểu y phục giỏi, có thể vẽ hàng trăm, hàng ngàn bộ đồ kỳ quái khác nhau. Tâm người có thể ví như chuyên viên vẽ mẫu y phục, có thể biến đổi diện mạo thân hình mình thành nhiều vẻ khác nhau, muốn biến thành Phật, thành ma đều tùy tâm mình muốn. Mỗi cá nhân là một vị thầy ma thuật, muốn bỡn bất cứ cách chi, đi bất cứ kiểu gì, chọc cười cách nào đều làm được cả. Lão tăng chỉ hy vọng biến thành người tốt, biến thành Thần, Thánh, Tiên, Phật chứ đừng tự biến mình thành ma thành quỷ để cho người đời sợ hãi chán ghét thì thực quả là quá u mê ngu tối. Biến thành tốt, biến thành hoại đều do một tay mình tạo nên, đem mình biến thành Địa Ngục, quỷ quái hoặc trâu bò, gà vịt, soi gương nhìn lại vóc dáng nhảy lên thất thanh kêu lớn... Khi đó mới vỡ lẽ ra là chẳng thể biến thành bức vẽ kiểu mẫu, thụ pháp chẳng cao minh cho nên đã biến hóa sai. Nghe lời lão tăng nói, bản lai diện mục tức bộ mặt chân thực nếu như mất đi thì dẫu kêu cầu liệu có thể trở lại được không? Chắc chắn là không! Một sớm biến chất, sau này có hối cũng chẳng kịp nào. Bữa nay thầy hướng dẫn trò ngoan Dương Sinh dạo thế giới cực lạc Tây phương bái hội đức Phật A Di Đà.

Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư khởi hành...

Tế Phật: Đã tới nơi, Dương Sinh xuống đài sen mau.

Dương Sinh: A, tới chốn này vàng bạc, ngọc lưu ly phô bày ngập đất, lan can, rừng cây, lưới võng đều là những vật phi phàm, thứ nào thứ nấy chói ngời hào quang, quả là cảnh tuyệt vời chưa từng thấy ở thế gian.

Tế Phật: Thế giới Tây phương cực lạc, là nơi đức Phật A Di Đà ngự, nơi đó cũng còn gọi là đất nước cực sung sướng, bẩy lần rào, bẩy lần lưới, bẩy hàng cây vây quanh kín bốn phía. Chúng ta mau tới trước bái hội đức Phật tôn kính cùng lắng nghe người thuyết pháp.

Dương Sinh: Phía trước có một ngôi điện lớn, có phải đó là nơi đức Phật tôn kính cư ngụ không?

Tế Phật: Đúng đấy, phía trước là điện Di Đà, chúng ta mau tới trước đảnh lễ.

Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Trong điện có rất nhiều cao tăng cư sĩ tu thành chính quả, vị nào vị nấy vẻ mặt từ bi, miệng đang niệm Phật, thanh âm du dương tịch mịch, người nghe trong lòng thư thái.

Tế Phật: Lúc còn tại thế họ đều là những người tu học Phật đạo, nhờ công đức viên mãn cho nên được tới thế giới cực lạc... Đã tới Thánh điện, chúng ta mau vào đảnh lễ đức Di Đà.

Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Vào trong thấy ngồi ngay chính giữa điện một vị Phật pháp tướng trang nghiêm, toàn thân ngời sáng hào quang, khiến người ta nhìn thấy phải kính nể. Đệ tử là Dương Sinh xin đảnh lễ đức Phật kính tôn, bữa nay có duyên theo ân sư tới Thánh cảnh cực lạc đảnh lễ đức Phật A Di Đà. Xin đức Phật kính tôn truyền dạy Phật pháp cho đệ tử.

Phật A Di Đà: Lành thay, người ta niệm “A Di Đà Phật” còn tôi lại niệm “Chúng sinh là Phật”. Chúng sinh bị luân hồi sáu ngả, thân bị thống khổ, cho nên tôi phát 48 đại nguyện tạo được cực lạc thế giới, nơi này hóa thành vùng đất yên lành, dạy người quyết chí niệm Phật tu đạo, mỗi niệm không quên Phật trong ta, tôi đương dẫn dắt tới đây. Nếu như nghiệp phàm chưa tĩnh, niệm Phật tâm chẳng chuyển, hình Phật tự tán, thiếu bàn tay từ bi, sức yếu vô phương cứu độ.

Cho nên hy vọng chúng sinh học Phật tu pháp, bộ đầu ắt phải tĩnh nghiệp trần, tự tạo đất tĩnh, còn không khó mà thành đạt. Bữa nay vui mừng được thấy Dương Sinh là người phàm vào cửa pháp Di Đà đất tĩnh, đặc biệt ban ít lời để giác ngộ, nếu như có gì thắc mắc cứ đặt câu hỏi tôi sẽ trả lời.

Dương Sinh: Cảm tạ đức Phật kính tôn đã ban cơ hội tốt cho đệ tử, kính hỏi đức Phật tôn kính, vừa rồi Ngài dạy: “Thế nhân đều niệm A Di Đà Phật”, còn Ngài là một lòng niệm “Chúng sinh là Phật”, đệ tử cảm thấy có bao hàm ý nghĩa, kính mong Ngài giải rõ ý đó là như thế nào?

Phật Tôn Kính: Lành thay, Dương Sinh quả là có trí huệ. Chúng sinh ngày đêm niệm “A Di Đà Phật” là mong tôi độ họ lên thế giới cực lạc. Còn tôi ngày đêm niệm “chúng sinh là Phật” tức hy vọng rằng chúng sinh và tôi là một, nếu như thể ngộ được ý của tôi thì trần thế sẽ hóa thành đất tĩnh, thế giới ta bà biến thành nước cực lạc, vì tôi cũng mong xuống đất tĩnh trần gian sống tiêu dao tự tại một phen.

Dương Sinh: Lời nói của đức Phật tôn kính hàm ngụ ý nghĩa siêu diệu, nếu như nhân gian biến thành cực lạc, Ngài sẽ đầu thai giáng phàm chăng?

Phật Tôn Kính: Chỉ mong là trần gian với đất này tương đồng, tôi ước ao xuống phàm.

Dương Sinh: Thưa, chúng sinh đều mong siêu thăng thế giới cực lạc, ý nghĩ đó có điên khùng không?

Phật Tôn Kính: Người đời nghiệp chướng quá nặng, thống khổ phiền não bất tuyệt nên khổ nghiệp buộc chặt, rất muốn thoát khổ đặng hưởng lạc, kỳ vọng nơi Phật tôi gia hộ để giải thoát khỏi khổ, như thế gọi là giác ngộ, quay đầu. Còn nếu như nhận khổ làm vui, chấp ảo làm chân mới là đảo điên.

Dương Sinh: Thưa đã như vậy, thì làm cách nào để nhờ Phật dẫn độ hầu thoát khổ?

Tế Phật: Duy chỉ có một đường “niệm Phật, học Phật”.

Dương Sinh: Thưa chỉ đơn giản có vậy thôi sao?

Phật Tôn Kính: Một tiếng A Di Đà liền tới nước cực lạc. Học Phật dù chỉ thấy hình tượng, song với Phật chân thật cũng chỉ là một.

Dương Sinh: Lời đức Phật tôn kính dạy thực là quá siêu diệu, xin Ngài giảng giải rõ hơn để cho đệ tử thấu tỏ.

Phật Tôn Kính: Niệm Phật ban đầu mỗi niệm chẳng quên, cuối cùng niệm quá ắt quên. Còn niệm A Di Đà Phật, niệm tới tự tính chân Phật, niệm lâu thành Phật, trước tự niệm làm Phật, niệm lâu thành chân, ngày sau người đời tự nhiên niệm mình làm Phật. Một lòng không loạn, một lời không sai, với Phật A Di Đà tâm tâm tương ứng, cho nên nói: “Một tiếng A Di Đà liền tới nước cực lạc”. Đã nhận tự mình là Phật, giác ngộ tâm tính, niệm Phật một lần ắt Phật hiện ra trước mắt, nhích chân một cái tới liền đất tĩnh. Chúng sinh nghiệp nặng, phiền não đa đoan, cất tiếng niệm Phật, khí đau khổ tuôn ra, khổ nghiệp giảm bớt, đó là chỗ siêu diệu của sự niệm Phật. Phật có giới luật, quy củ, nghi thức, nếu như nhất nhất học được, đều chỉ là một, tự chứng niết bàn, thành đạt chính đẳng chính giác.

Dương Sinh: Niệm Phật khí đau khổ tuôn ra, nhờ đó nhẹ bớt khổ nghiệp thì quả là một phương thuốc tuyệt diệu trị bệnh tâm linh. Thưa, đệ tử chưa được rõ, khi chúng sinh niệm Phật, cảm giác của Ngài ra sao?

Phật Tôn Kính: Chúng sinh bái thọ quy y niệm Phật để giải thoát nỗi ưu phiền trần tục, để khỏi vọng niệm, để hiện phật tâm, lúc này tâm tôi cùng với kẻ niệm tôi cùng tương ứng, ba kiếp nghiệp trói nghe danh hiệu Phật cung kính lễ bái ắt Phật cứu độ, cho nên thành tâm niệm Phật có thể tiêu tai giải nghiệp, trấn tĩnh được tâm tính. Khi chúng sinh niệm Phật, hang trống truyền thanh âm, tai tôi nghe thấy, tâm Phật cảm động, sẽ tới cứu ngay.

Dương Sinh: Thưa, đệ tử từng nghe nói niệm Phật thì có thể đeo theo nghiệp lên sống ở thế giới cực lạc, có đúng vậy không?

Phật Tôn Kính: Vãng sinh đeo theo nghiệp cũng không miễn được hết nghiệp chướng. Phải một lòng niệm Phật, gặp hoàn cảnh nào tâm đạo vẫn vững bền ắt là vào được thế giới cực lạc, rồi còn phải tu luyện thêm ở đó tới khi nghiệp lắng trong mới hóa sinh nơi đất tĩnh. Nghiệp chướng nếu không hết như màn che lấp cửa, chẳng thể thấy sự sáng nổi, tôi dùng ánh sáng Phật phổ chiếu, khiến thân họ trong sạch, tâm họ sáng sủa, tất cả ác nghiệp tan, liền vào ngay đất Phật. Nơi đây còn có rất nhiều viện tu đạo, sở tiêu nghiệp chuyên để cho những người còn đeo nghiệp dùng mà tu luyện. Kẻ vãng sinh đeo theo nghiệp là tại lý do trước khi tạo nghiệp và sau khi quy y họ đều không niệm Phật. Một lòng niệm Phật sám hối tiền nghiệp tôi sẽ cảm ứng sự tâm thành của họ mà cứu độ. Nếu như chỉ có niệm Phật, nhưng lại tái tạo các ác nghiệp, không biết sám hối, thì sự niệm danh hiệu Phật sẽ như mây che núi, chôn vùi mất sự chân thực của nó, vì vậy không thể đeo theo nghiệp vãng sinh nơi đất tĩnh. Do đó kẻ tu pháp môn tĩnh thổ, điểm quan trọng số một là tĩnh khẩu, tĩnh tâm, tĩnh thân ắt gần được đất tĩnh. Lại còn phải tích thiện tu đức, chẳng thể khẩu Phật mà tâm không Phật, phải cả tâm lẫn khẩu đều phục Phật, chớ có giảng giải nói miệng suông.

Tôi thấy chúng sinh đời mạt pháp mê đắm ngũ uẩn, luân hồi sáu nẻo, rồi vận Trời đổi thay, thời đại ngày một mới, vật chất hưng thịnh, xa hoa bừa bãi, 48 đại nguyện không thực hiện nổi.

Vì phổ độ chúng sinh, đặc biệt khai mở pháp môn, khuyên người một lòng niệm Phật, Phật pháp giản dị tu hành mau chóng. Chúng sinh nếu như không biết tu trì, sợ rằng khi không còn thân, muôn kiếp chẳng khôi phục nổi.

Phật vốn chí công, mặc dù đã vào cửa Phật, miệng tụng Di Đà nhưng tâm rắn rết thì Phật cũng chẳng dám tới gần dẫn độ. Phật rất từ tâm, chỉ tại mình tự xa lánh Phật. Bởi vậy mong rằng chúng sinh từ nay nếu đi trên đất tĩnh ắt có ngày nghiệp trần dứt sạch, vạn vật vứt bỏ, hủy diệt linh căn.

Dương Sinh: Nhờ ơn đức Phật kính tôn đã từ bi khai mở phương tiện pháp môn, nên có rất nhiều chúng sinh không kể nam phụ lão ấu tay lần tràng hạt, miệng vang vang niệm Phật thật chí tình, khiến mọi người kính mến. Cứ theo như đệ tử nhận xét thì niệm Phật có thể vãng sinh thế giới cực lạc, ý nghĩa quả là vi diệu. Kính xin đức tôn kính khai mở trí huệ thêm cho đệ tử.

Phật Tôn Kính: Phật không nói sằng. Niệm Phật có thể siêu thăng. Còn có thể siêu thăng cực lạc không? thì xin trả lời là niệm Phật để đánh đuổi tạp niệm giúp tâm linh an tịnh, do đó không phản bội đạo quy. Con người khi tạo ác nghiệp là lúc miệng quên mất Phật A Di Đà, bởi vậy nếu ngày đêm tụng “A Di Đà Phật”, miệng tụng tâm tưởng, lâu dần tâm với khẩu là một, Phật tính hiển lộ trừ được ác căn, mầm đạo ló, đất tĩnh cây bồ đề mọc lớn.

Niệm Phật khiến tâm thần quên nỗi thống khổ phiền não, có tác dụng sản sinh thiền định, cho nên tĩnh tức là định, định có thể sinh tuệ và thấy Phật, tinh thần an vui, tâm linh có chỗ gởi gấm. Lúc niệm Phật tâm sinh khí an hòa thanh tịnh, điều hợp được hành vi bất chính tàn bạo, đánh tan trược khí tụ ở bộ đầu, cứu rỗi âm linh.

Niệm Phật cũng như thế gian hòa tấu âm nhạc, người nghe cảm thấy thanh thoát nhẹ nhàng quên tất cả những nỗi phiền não rối ren, thống khổ, bất an. Bởi vậy khuyên kẻ tu đạo, kẻ bệnh hoạn, kẻ tâm thần bất ổn hãy chăm niệm Phật chắc chắn sẽ hiệu nghiệm, xa rời khổ đau, đạt được yên vui.

Dương Sinh: Đức kính tôn dạy quá đúng, niệm Phật, tưởng Phật, biết Phật, thấy Phật, tức là Phật, niệm hoài niệm mãi, không quên lời Phật dạy, nhất định sẽ thành Phật. Thưa đức kính tôn, cảnh thế giới cực lạc Tây phương đẹp đẽ quá mức, thưa, đệ tử muốn giới thiệu với chúng sinh có được không?

Phật Tôn Kính: Đất này phàm trần không có nổi, thanh tĩnh, trang nghiêm, vô cùng vi diệu. Lầu gác nguy nga hàng hàng lớp lớp, tất cả đều tuyệt diệu, quý báu, thanh nhã, tinh khiết, thơm tho lạ thường. Nước đức trong ao quý tẩy rửa tâm trần đầy bụi bặm, nhạc Trời không cần tấu vẫn thường trổi vang, khí hậu không nóng không lạnh hoàn toàn thích nghi, quần áo ăn uống chỉ mới nghĩ trong đầu là có ngay trước mặt, chim quý hót véo von. Thuyết pháp về không khổ, vô thường, vô ngã, gió thổi vi vu trong rừng cây kẽ lá, tất cả âm thanh đều hết sức vi diệu vì tiếng đó là tiếng pháp vang dội. Lục căn thanh tĩnh dứt sạch phiền não, bụi bặm, bao nỗi khổ nhọc trần gian không nổi dậy, trí tuệ thăng tiến thâm đạt thực tướng, thần thông tự tại sống thọ vô cùng, hết mọi khổ đau được mọi sung sướng. Giờ tôi xin hướng dẫn Dương Thiện Sinh dạo thăm các thắng cảnh.

Dương Sinh: Cảm tạ sự hướng dẫn của đức tôn kính, đệ tử thường ước mong được lên thế giới cực lạc, bữa nay có kỳ duyên lên được đây phải xem cho thỏa để cuộc hành trình khỏi uổng phí.

Phật Tôn Kính: Thế giới Tây phương cực lạc nơi người phàm sau khi qua đời được về an nghỉ, cảnh sắc tuyệt diệu khác hẳn trần gian. Dương Sinh đi theo tôi.

Dương Sinh: Thưa vâng, xin đi theo đức tôn kính... Phía trước có một cái ao rộng lớn, trong ao nở đầy các loại hoa đủ màu sắc coi đẹp mê hồn, bên ao cắm một cái bảng đề ba chữ “Thất Bảo Trì” tức là ao có bảy cái quý, vàng ngọc huy hoàng.

Tế Phật: Đây là ao Thất Bảo, nước trong đó là nước tám công đức, dưới đáy ao là cát vàng phủ ngập, nước này là nước “sống” diệu dụng vô cùng.

Dương Sinh: Thưa, tại sao lại gọi nước trong ao là nước tám công đức rất diệu dụng?

Phật Tôn Kính: Nước “sống” là nước Phật, là nước 8 công đức, tính nước biến hóa vô cùng. Người muốn vãng sinh đất yên ắt phải tắm và uống nước tám công đức này mới có thể thanh tĩnh. Người đời nếu như học tám công đức này nhất định sẽ được vãng sinh nơi đất tĩnh, chẳng cần phải trải qua sự tu luyện nước tám công đức ở đây. Nước 8 công đức gồm có:

1. Lắng trong: Tâm cảnh của người lắng trong tinh khiết, không ngầu đục sự ô uế.

2. Trong mát: Tâm người cần sự thanh tĩnh mát mẻ, không có khí tối tăm nặng trược phiền não.

3. Ngọt ngào, đẹp đẽ: Tâm người phải ngọt ngào, đẹp đẽ, như nước ngọt ngào uống ngon lành, kết được nhiều thiện duyên.

4. Nhẹ nhàng, mềm mại: Tâm người phải thanh nhẹ, uyển chuyển, không thể cứng cỏi. Nước này phải nhẹ và chảy lên, không thể như nước thế gian nặng và chảy xuống.

5. Nhuần thấm: Tâm người không thể khô cứng, nóng nảy, phải ban nhiều ân huệ cho người, như nước tưới mát vạn vật.

6. An vui, hòa hài: Tâm người phải an vui, hòa hài, như nước không dậy sóng, êm đềm ở trong, không chìm đắm và trôi chảy mất.

7. Dẹp bỏ lo lắng: Tâm người phải trừ bỏ nỗi lo được lo mất, nước này ngoài việc giải khát còn có thể giải đói diệu dụng vô cùng.

8. Tăng thêm lợi ích: Tâm người phải hướng thượng học nhiều để mở mang kiến thức, bồi bổ trí tuệ, có ích cho sự giác ngộ đạo lý. Dùng nước này giải khát tắm rửa thân tâm thanh tĩnh, trí tuệ vô thượng, ơn ích vô cùng tận.

Nước 8 công đức ở thế giới cực lạc diệu dụng vô cùng, người đời nếu như mỗi ngày học 8 công đức này cùng niệm danh hiệu tôi, tự nhiên có phần dành sẵn trên đất tĩnh, chẳng cần phải tắm gội nước 8 đức để tẩy rửa đào luyện thân tâm. Kẻ đeo theo nghiệp tới đất tĩnh ắt sẽ phải trải qua sự rèn luyện của nước pháp này mới có thể qua cửa. Dương Thiện Sinh có muốn xuống ao tắm rửa mình mẩy không?

Dương Sinh: Hiện tại trong ao có rất nhiều người đang tắm rửa, không quen biết đệ tử chẳng dám xuống.

Phật Tôn Kính: Chớ e ngại, nước 8 công đức là nước pháp tẩy rửa sạch tội lỗi ác nghiệp, thật là cơ hội tốt lành, chớ để mất uổng.

Dương Sinh: Thưa, đã như vậy đệ tử xin xuống... A, nước mát quá, ngâm mình xuống thân nặng trở thành nhẹ liền, giống như chim bay trên Trời tắm gió xuân, toàn thân mát mẻ khoan khoái nhẹ nhàng phơi phới, cảm thấy như là thân không nợ nần thanh thoát, loại nước thật kỳ diệu.

Phật Tôn Kính: Dương Sinh thử uống vài hớp coi, chắc chắn sẽ có cảm giác lạ lùng.

Dương Sinh: Tuy nước đã tắm song vẫn cực kỳ trong, thử uống vài hớp nước pháp xem sao. A… uống vào bụng như băng giá, khí từ trong cơ thể phóng ra giống như bay lên nhẹ nhàng phơi phới.

Phật Tôn Kính: Siêu thăng thực là mau, như phi cơ phun khí lúc cất cánh trên phi đạo. Người đời bình thường nếu như tu 8 công đức này, chắc chắn sẽ có cảm giác như bữa nay, vãng sinh đất tĩnh chẳng khó. Kẻ một lòng niệm Phật, nếu như có nghiệp chướng, ắt phải trải qua sự tắm rửa nước này để tu luyện. Kẻ nghiệp nặng, mới gặp nước này có cảm giác như bị lóc da, ban đầu đau đớn, dần dần trở thành dễ chịu cho tới khi thoát thai hoán cốt mới thực sự được tiêu dao nơi miền đất tĩnh cực lạc.

Dương Sinh: Trong ao hoa sen năm màu nở đầy vô cùng đẹp đẽ, tại sao những kẻ ngâm mình tu luyện trong nước, số lượng hoa sen bao quanh lại kẻ nhiều người ít?

Phật Tôn Kính: Mỗi tiếng niệm Phật là một đóa sen, khi chúng sinh niệm Phật, khí lực và nước miếng tức linh khí cùng nước pháp ứa ra hóa thành bông sen, do đó nước 8 công đức vốn là nước từ trong miệng kẻ niệm Phật, tức nước pháp tích tụ. Hoa sen tượng trưng cho danh hiệu Phật, nên niệm càng nhiều hoa sen nở càng lắm. Kẻ niệm Phật thành tựu sẽ cưỡi hoa sen phóng khí bay thẳng lên cõi cực lạc. Những người đó tu luyện tại đây, thời gian không giống nhau, có người nửa năm có người một năm, phải căn cứ đúng theo nghiệp chướng nặng nhẹ mà phân định.

Nếu như y phục ô uế, dùng nước 8 công đức giặt giũ ô uế càng nhiễm nặng, càng tốn nhiều thì giờ, còn ngược lại ắt rất dễ dàng.

Trong ao này, đầu tiên lo giải thoát khổ đau chuyển thành hoan lạc, một sớm tội lỗi ác nghiệp tẩy rửa sạch trong, tâm thân nhẹ nhàng ngồi trên hoa sen do công phu niệm Phật trở thành tiêu dao đất tĩnh, đó gọi là cửa pháp nơi đất tĩnh. Bữa nay Dương Thiện Sinh phụng mệnh viết sách phổ độ chúng sinh, tôi mới đặc biệt tiết lộ dấu tích chân thực này. Mong chư đệ tử Phật tu học Phật kinh hãy giải thích đất yên theo nghĩa chân thực này.

Tế Phật: Tâm tĩnh ắt đất cực lạc yên, mong thế nhân hãy ra sức công phu nơi mảnh đất tâm, quét dọn cho thật sạch sẽ, chớ để bụi bám, ắt nhà mình là đất tĩnh há còn cầu Tây phương cực lạc nữa ư? Niệm Phật, học Phật tự nhiên thành Phật, đệ tử Phật hãy mau giác ngộ. Bữa nay được nghe đức kính tôn chỉ giáo nhiều điều hữu ích, giờ xin cáo từ. Dương Sinh hãy chuẩn bị.

Dương Sinh: Cảm tạ đức tôn kính đã ban cho đệ tử nước 8 công đức, thân tâm được thanh tĩnh, ơn ích quá nhiều, kính lạy giã từ.

Phật Tôn Kính: Đất yên ở trước mắt, mong người đời chớ lạc hướng.

Dương Sinh: Thưa con đã lên đài sen, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác. [56:03]

Hết cuốn 19 - ID# 00000000L38


----
vovilibrary.net >>refresh...