00000000L37
Ngày 25 và 26/10/1987
Đức Thầy giảng:
Đọc đến đây chúng ta mới thấy rõ, như hồi nãy tôi đã nói: Nguyên lý là một, cần phải thực hành, cần phải trở về với sự quân bình, thanh tịnh của chính mình, đừng có mê chấp. Ví dụ, nói cha Nhẫn Hòa, mọi người chưa thấy gì đã nuôi cái chấp trước. “Không biết người này phải không? Tại sao xưng cha?”. Nó cũng rắc rối trong tâm mình, thấy không? Tại sao mình không thản nhiên để coi cái đó là cái gì? Rủi sau này mình lên cảnh Trời thấy Ông đó, “cái gì, Đế Quân gì đó, mà sao Ông đó Ổng làm Đế Quân”? Mình thắc mắc một cái nữa là mình cũng tăm tối. Mình bình thản mình xem coi thử cái đó cái gì, mình nên học hay là không?
Rồi mình nuôi dưỡng sự mê chấp làm sao mình hiểu được cái gì - tất nhiên mình là người tăm tối và không hiểu. Cứ bình thản để xem coi sự việc nó xảy ra thế nào? Kiên nhẫn hết sức để coi, coi thử thế nào? À, rồi mới so sánh:
- “Người này nói chuyện bộ lưu loát, mở trí cho mọi người. Rồi bây giờ mình lên mình thay thế họ được không?”
- “Nếu mình cho đó là không thật, thì thôi bây giờ tôi thế để tôi trả lời cho tất cả được không?”
- “Thấy tôi không có khả năng”. Ngược lại, cái gì mình phải xem ngược lại mình làm được không?
- Không!
Đạo cũng vậy. Mình (01:20 nghe không rõ) đảo ngược lại:
- “Ông đạo đó ổng nói ngó hay lắm, mà giờ tôi thay ổng được không?”
- “Không! Bởi vì tôi không hành!”
- “Tôi mới truy tầm tại sao ổng nói được?”
- “Là ổng đã hành!”
Rồi tôi tìm cái kỹ thuật hành của ổng để tôi học và tôi tiến, thì tôi đâu có phải là người ngu mà tôi cứ án ngự, tôi nói: "Ô, cái đó không biết, phải không? Cái đó không biết phải không? Cái đó không biết phải không?" Tôi sợ bị lạc.
Vị trí đứng của mình chưa thấy mà làm sao sợ lạc? Chưa thấy vị trí của mình ở đâu làm sao sợ lạc?
Cho nên muốn thấy vị trí mình phải lui về thanh tịnh, đó là vị trí của chúng sanh. Yên đi để học, để thấy, rồi để xét, rồi để minh giải, rồi để học hỏi, rồi để tự tiến. Chớ còn làm cái chuyện kêu bằng lộn xộn cho chính mình, làm làm chi! [02:14]
Tới đây tôi thanh tịnh, tới đây để tôi tìm cái gì mà tôi không thể làm được, tôi học - học cái đó, chớ không phải học cái mà tôi làm được. Tôi làm được, ở nhà tôi làm được rồi. Mà cái tôi làm không được, tôi phải tìm.
- Hỏi ở nhà làm cái gì?
- Ở nhà tôi nấu ăn, tôi làm bếp. Nhưng mà tới gặp mấy người đạo nói: chưa biết nấu ăn mà chưa biết làm bếp.
- “Tôi là người nấu ăn, tôi làm bếp…”
- “Tôi lên tôi nói: Chị chưa biết nấu ăn mà chưa biết làm bếp”.
Tức à! “Họ nói không biết nấu ăn” - xăn tay áo lên để coi thử coi làm sao!
- Chị nấu cái gì?
- “Tôi” nói: “Hai món xào với món canh, tôi với chồng tôi ăn thôi. Hai món xào với món canh”.
- “Tôi” biết nấu không?
- Chưa biết nấu, mà cũng chưa biết ăn nữa.
- Tức chưa?
Gặp người đạo người ta nói: “Chưa biết nấu cơm, mà chưa biết ăn”. Hỏi:
- “Tại sao chưa biết nấu cơm?”
- “Vì con chưa biết vận dụng sáng suốt của con. Con nấu cơm mà con không sửa được tâm. Cơm ở đâu? Khi con nấu cơm con hiểu cái cọng lúa ở đâu có? Sự quy tụ của tất cả Càn Khôn Vũ Trụ kết thành hột lúa để hy sinh cho con, bây giờ con mới học cái nghề nấu không à, và chưa hiểu nguyên căn của nó, chưa hiểu cái sinh lực sinh tồn đời đời của nó, con chưa hiểu! Mà nấu nó mà không biết nó, không khác gì người chết mua nó, cái người mua nó không xài nó, mà người xài nó không biết nó, là cái hòm, thấy không?”
Ăn cơm mà không biết cái giá trị của cơm là chôn sống mình rồi, cũng như một người chết nằm trong hòm mà không biết cái hòm. Người mua nó không xài nó, thấy không? Người bán nó không xài nó, mà người dùng nó không biết nó, thấy không?
Cho nên chúng ta chưa có mở trí. Nói:
- “Tôi nấu được, tôi xào rồi tôi nấu, hai món xào, tô canh, hay lắm!”
- Không có hay! Không có biết nấu!
Khi mà biết được cái nguyên lý của một hạt gạo, rồi mới tìm ra nguyên lý của món ăn. Rồi tại sao tôi phải xào, thành ra hai món xào, một món canh để làm gì? Nó cũng nằm ở trong cái nguyên lý đó mà tôi chỉ học có chữ hòa. Nếu mà nó bất hòa là dĩa món ăn tôi không đẹp. Món nào nó hòa với món nào, chồng tôi mới chịu ăn. Thấy chưa?
Cái đẹp của Trời Phật nó ở trong cái thanh tịnh tâm hồn của con người, không phải cái đẹp của Trời Phật mà nhìn cái cảnh vầy là đẹp. Không! Phải hiểu chiều sâu của mọi việc. Chân lý cũng vậy. Lời minh triết khi người ta thoát ra đôi môi, mình nghe coi cái âm thinh này có quân bình không? Nó quân bình là nó truyền cảm cho tất cả. Một người nói chuyện tới một tỷ người nghe, và trả lời cho một lượt, một tỷ người đồng thức, cũng một câu nói thôi.
Còn mình không biết, mình vụng về, một tỷ câu nói chỉ nói một tỷ người là mình chết mất rồi.
Còn người ta, một câu nói để cho một tỷ người thưởng thức, mà người nào cũng xài được, đó là chân lý. Khi người đạt được quân bình thì mới nói được. Mà đạt được quân bình là tâm hồn họ ở đâu? Họ ở Thiên Đàng, lúc nào họ ở trong cái giới thanh sạch gọi bằng minh triết.
Đó! Cho nên muốn nhận định cái gì thật hay là cái giả phải hiểu cái đường lối này mới nhận định được.
“Như tôi tới đây tôi nghe; ở dưới Los tôi nghe có cha ở thiền viện Vĩ Kiên, tôi sùng lên tôi lên tôi check coi thằng nhỏ này ra làm sao”. Mà “tôi” không biết check. Tôi chỉ nghe rồi tôi động thôi chớ tôi không biết check. “Làm sao nó nói lại nhiều người nghe vậy vậy, mà tôi nói không ai nghe? Tôi nói lớn tiếng hơn nó mà không ai nghe. Lạ vậy?” (cười)… [06:16]
Cho nên phải truy tầm cái thanh tịnh trong nội thức. Mà cái thanh tịnh đó nó liên hệ với ba cõi Càn Khôn Vũ Trụ, chớ không phải chuyện giỡn đâu, không phải ai ngồi nói cũng được.
Cho nên con người bị sai lầm; kỳ thị người này, kỳ thị người kia, kỳ thị người nọ, rốt cuộc cô lập mình. Thấy rõ chưa? Cô lập mình!
Rồi người ta nói: “Nếu con làm vậy Cha phạt con”. Cha đâu có phạt. Vì Cha thấy nó chun vô đó, Cha nói “Cha phạt con” là nó phạt nó đó, vì nó ôm trong chỗ eo hẹp thay vì nó mở rộng đường ra và nó gia tăng cái kiến thức nó, nó đi cái đường đi nhẹ nhàng và cởi mở, nó không chịu đi, nó đi trong cái chỗ eo hẹp. Thấy không? Nó tự phạt nó chớ Ông Trời nào phạt. Nhưng mà Ông Trời nói, nhắc nó vậy đó: “Cha phạt con”.
Thì tại sao nói “Cha phạt con”? Vì luật của sơ khai thế giới đã đặt ra rồi, mà con nhảy vô chỗ đó thì con đi luôn. (cười)… Luật đó, phạt ở chỗ đó đó! Mình thấy cái chỗ phạt không?
Cho nên mình đừng có dại dột mà tự phạt mình nữa. Phải thức tâm, phải học hỏi, phải buông bỏ những cái gì mình đang nắm đây này, không phải sự thật. Mình - một tội hồn yếu ớt, bơ vơ, đang trôi giữa dòng sông gặp gì bám nấy. Nói tôi mạnh chớ không có mạnh; khi mà thả đi hết rồi mà đi được là mới là mạnh. Còn ôm mà đi, không có mạnh; không được ôm, phải thả đi, cái tâm ta phải thả lỏng đi.
Tất cả bao nhiêu chuyện ở trần gian, rác rến từ bao nhiêu kiếp rồi, chúng ta ôm ấp trong lòng, mà nó gom gọn chỉ có một chữ THAM thôi.
Cho nên ngày hôm nay, giờ phút này có tu, có hành nhưng mà vẫn tham, vì tiền kiếp đã gieo cho kiếp này tham, mà cái tham là đại họa. [08:30]
Tham thanh lọc, tham sự buông bỏ để trở lại với quân bình với chính mình, cái tham đó là cái tham thăng hoa. Còn cái tham cố giữ là cái tham bị kẹt, không tiến, chắc chắn là không tiến.
Bao nhiêu tiền của cũng không mua được một giọt điển chân lý, chỉ có làm mới có, chỉ có hành mới tiến. Cho nên chúng ta đôn đốc với nhau, trao đổi với nhau để trong thực hành mà tiến.
Cho nên các bạn đừng có nghe những cái lý thuyết suông nữa, thực hành đi để tiến, trao đổi đi để mở, đó là thợ chánh. Còn nghe mà nói lại, đó là thợ phụ, rồi đi xuống luôn, không nghĩa lý gì hết. Thấy chưa? Thợ chánh là phải nắm lấy kỹ thuật làm cho đàng hoàng.
Vô trong bếp tràn đầy là đạo mà, đâu có phải tới đây mới học đạo. Khi mà thức tâm rồi, ở trong bếp cũng là đạo không. Củ cà rốt nói chuyện với mình được, cọng rau nói chuyện với mình. Nguyên năng thanh tịnh đời đời của nó còn ở trên mặt đất này, nó không bao giờ bị tiêu diệt. Mình nấu, mình ăn, mình nuốt nhưng mà mình không có lấy được, trả lại. Vì cơ tiến hóa của nó bắt buộc phải qua mình và để nó được tiến, phần thanh nó lên thanh, phần trược nó phải quy về trược, giống nào ở theo giống nấy, không mất.
Mà chúng ta nói: “Chu cha bữa nay ăn cái này ngon quá, đã quá!” nhưng mà không hiểu đang làm việc. Mình đang xuống đây học hỏi trong chu trình tiến hóa mà vạn linh nó đang mong được qua cái Tiểu Thiên Địa này và được thăng tiến. Mình không hiểu cái chơn lý đó, mình ăn mà mình không hiểu. “Chà, bữa nay ăn bữa mắm này đã quá!”… mà không biết cái gì! (cười)… [10:26]
Dương tính, âm tính bất minh, cái gì cũng bất minh hết trọi, nhưng mà nó khoái, sướng vậy thôi. Rồi sau cái sướng là khổ là vì vậy, ngược lại nó là khổ vì bất minh. Còn tu thanh tịnh nó minh.
Khi chúng ta nhai một món ăn, nhai một chén cơm, cái ý chúng ta nghĩ Nam Mô A Di Đà Phật, một cái nhai của ta là một cái chấn động lực để hòa cảm với cả Càn Khôn Vũ Trụ, quy về một.
Vạn linh về đây là Tiểu Thiên Địa rồi, Tiểu Thiên Địa này phổ hóa ra với Đại Thiên Địa là một. Tại sao chúng ta không làm cái hành trình đó? Đắc đạo ngay trong bữa ăn. (cười)… Rất dễ!
Nhai, phải biết dùng ý niệm Nam Mô A Di Đà Phật, thì luyện nó trước khi nhập, nó nhập đảng này thì nó là điều công bằng rồi, nó mở cái thức hòa đồng rồi. Khi nó nhập cảnh là nó đã biết cái ý thức hòa đồng, rồi vô trong này lục căn lục trần nó dạy niệm cái nữa thì nó khai minh. Khai minh là đắc đạo chớ gì đâu! Đâu có phải chuyện khó, thực tế hàng ngày của các bạn nhai cái gì các bạn niệm Nam Mô A Di Đà Phật; một cử động, ý niệm trong nguyên ý của Nam Mô A Di Đà Phật, nguyên ý là chấn động lực hòa hợp với cả Càn Khôn Vũ Trụ, thì các bạn đâu thấy bơ vơ nữa; đi tới đâu đem sự bằng an cho họ; đi tới đâu đem cho mọi người vui, không có buồn nữa.
Các bạn thấy một lần tôi về đây với các bạn, chuyện gì rắc rối đâu! Nhưng mà tôi ở xa, điện thoại nói: “Ô, lúc này tiêu rồi Ông Tám ơi! Tụi nó tu điệu này tiêu hết cả đám rồi!”, nhưng mà về bây giờ cả đám… (nghe không rõ) nó đâu có buồn, đâu có ai buồn đâu, thấy chưa?
- “Thầy về Thầy coi coi thế nào, cách gì gỡ rối được hết, tụi này nó dữ lắm!”
- Mà tụi này là tụi nào?
- Tụi này có con tim bằng xương bằng thịt. Chúng nó cũng là Trời Phật chớ tụi nào đâu! Haha (cười)…
Mà mình đi đường Trời Phật thì trở lại sự bình an, có gì đâu.
Người ta rắc rối thiệt rắc rối, tôi tới không có cái gì hết. [12:32]
- Thì tại sao nó như vậy? Cũng là con người mà con người đó tới lại bằng an, mà con người kia tới lại lộn xộn, tại sao?
- Người trở về trật tự và mất trật tự, hai người khác nhau.
- Còn ta tu cái pháp để làm gì?
- Trở về trật tự chánh tâm!
Thì ta trở về trật tự chánh tâm, ta đi đâu ta cũng đem ban ơn cho người ta rồi, không cần xưng Phật xưng gì hết mà đi đến đó người ta vui.
- “Ê Bình, tới đây ăn cơm nữa, Mày!”.
Khoái mình tới ăn cơm, cũng được rồi, cũng đem sự bằng an cho họ, thấy không?
Cho nên cái đường tu nó rất dễ, trước mắt không à, nhưng mà tại mình mờ con mắt mình chớ không phải Ông Trời mờ mắt. Ông Trời Ông đặt luật ra rồi thôi, cứ việc đi, đi sai thì ráng chịu. Mà mình là người mờ mắt mình.
- Mờ ở đâu?
- Vì tứ quan này: mắt, mũi, tai, miệng nó phỉnh.
- “Mà tôi thấy mà!”
- Nhưng mà cái thấy này là thấy cạn, còn cái thức là mới là thấy hết.
Nó ở trong (cười)… mà xài cái ở ngoài nó bị lạc, vì ở ngoài mà thôi, vì lỗ tai nghe, vì con mắt thấy…
Cho nên chúng ta đóng, đóng cửa thế gian mà mở cửa Thiên Đàng: Nhắm con mắt lại, Soi Hồn - đóng cửa thế gian. Thì tự nhiên đóng cái chỗ này… (Thầy nhắm mắt)
- Co lưỡi răng kề răng, nó mở ở đâu?
- Nó mở cửa Thiên Đàng! Thì lúc đó chúng ta thấy hai chiều được. Mà phải nhàn hạ làm như vậy, đóng cửa thế gian mở cửa Thiên Đàng.
- Rồi chúng ta làm Pháp Luân Thường Chuyển để chi?
- Mở ra hết rồi! Nếu mà chúng ta không làm Pháp Luân Thường Chuyển thì nó sân si, buồn tủi, giận hờn.
- Mà chúng ta mở ra, thì nó mở cái gì?
- Đem cái Thiên Đàng xuống, thì cái quả địa cầu, cái Tiểu Thiên Địa này, những hành tinh này nó phải là Thiên Đàng. Làm Pháp Luân Thường Chuyển là cơ tạng trở nên Thiên Đàng, đâu còn hơi thở nữa, làm đúng nó là ánh sáng rồi. [14:31]
Cho nên con đường về Thiên Đàng rất ngắn gọn, nhưng mà phải bỏ công.
- Tại sao phải bỏ công?
- Vì mình làm mình ô uế, mình làm cho mình dơ.
Không chịu làm cho nó sạch thì mình phải nhờ cái nguyên khí của Càn Khôn Vũ Trụ làm cho nó sạch, thì nó đâu còn trược nữa. Nó dương hóa, dù nó âm trong đó, nó mà hít khí Trời nó cũng thành dương hóa hết. Hễ dương hóa là nó giải tất cả những sự trần trược, thấy không?
(cười)… Chuyện dễ lắm, nói ra dễ lắm, mà tới hồi hành là con ma làm biếng nó chận đầu.
- “Ông Tám Ông nói hay, để làm một chập… thấy nó mỏi rồi, thấy nó mỏi… hẹn đến mai, tối mai, tối mai mới làm”. (các bạn cười)
Ờ, rồi hít, hít hai ba cái:
- “Nó buồn ngủ, thôi tối mai tôi làm 12 cái cho Ông Tám coi”.
Rốt cuộc làm được có một cái à. À, nó làm một cái nó buồn ngủ, nó hẹn nó làm 12 cái:
- “Thôi tối mai con làm 12 cái cho ông Tám nghen!”
Nhiều khi nó hẹn đủ thứ, hẹn tôi nhiều lắm, toàn là xạo không à! (các bạn cười).
- Xạo ai?
- Xạo nó, tự nó gạt nó!
Mà nó làm đúng là cứu nó. Thấy chưa?
À… Đường dễ đi lắm, không có khó. Tôi làm cái gì trong thực tập tôi làm. Tôi cho quý vị uống một viên thuốc, viên thuốc tôi uống trước tôi mới cho sau. Không thôi nó uống chết (nghe không rõ) trách nhiệm. Tôi thử, rồi, uống đi, không sao. Mình phải thử trước!
Mà cái phương pháp công phu là tôi thực hành đứng đắn như vậy. Mà hồi trước tôi cũng bị, nghĩa là, những là thần thánh đồ tới, nói lỗ tai: Ta là gì gì, gì gì, gì gì… tôi bác hết.
Muốn ngon lành ra ngồi trước mặt tôi đi, nói chuyện. Ông là ông gì, ngồi đây nói chuyện. Nhưng mà y nói nhiều cái trúng lắm! Ban đầu nói trúng, tôi nói “không”. Tin bây giờ là tin đúng, nhưng mà sự thật chưa tin, Ông phải hiện trước mặt. [16:28]
Như Ông Quan Thánh đó, hồi ở Việt Nam là Y tới trong tai tôi, Y nói tiếng Tây không à:
- “Tao sẽ giúp Mày!”
- Hỏi: “Giúp gì? Tôi đâu cần Ông! Tôi tu mà, tôi đâu cần ông!”
Ổng nói:
- “Mày không cần hả? Mày không cần, Mày vô phòng rồi Mày thấy”.
Ờ, vô phòng coi. Ổng nói: “Mày cứ nhìn cái ổ khóa đó một chập, tao mở cái ổ khóa ra”.
Tôi là hiếu kỳ, tôi vô, tôi ngồi tôi nhìn cái ổ khóa, nó không mở! Tôi nói: “Xạo!”
À… Ổng nói: “Mày nói xạo hả? Mày ra đằng trước Mày nhìn thằng cháu Mày nó khùng”.
Thiệt, tôi ra tôi ngồi chình ình, thằng nhỏ nó tới nó thăm thôi. Tôi nhìn nó một chập, cái nó nói, “Ông voi cười!” Nó cười. “Ờ”tôi nói “…hay, cái này hay!” (Thầy và bạn đạo cười) nhưng mà cũng chưa tin.
Ổng hỏi: “Vậy mà Mày còn chưa tin hả?”
- “Bây giờ làm sao trị cho nó hết rồi tôi mới tin”.
Ổng nói: “Được, kêu nó ra sau”. Ổng hô ba tiếng cái Ổng lấy ba gáo nước đổ trên đầu nó, cái nó tỉnh, nó nói: “Dượng đánh con!” Mà mình đâu có đánh nó, nó về méc má: “Dượng đánh con!” (các bạn cười).
À, rồi cái tôi nói: “Cái đó cũng không phải hay!” (cười)… “Cái đó cũng không phải hay!”
Ổng nói: “Mày cũng xạo, ha!” (các bạn cười)
Tôi nói: “Không thấy mặt Ông mà làm sao tôi tin?”
Ổng lấy cái khăn tắm Ổng đem Ổng choàng trước ngực tôi này. Ông nói: “Mày dòm trước ngực đây này!” Xoa ba cái vậy thôi à, cái mặt y như Quan Thánh, đỏ au vậy đó. Mà tới lúc đó:
- “Thôi, Mày cứ việc đi đi! Mày không tin Mày đi đi!”
Đi không được! Đi như Quan Thánh vậy! Đi từ ở ngoài bếp mà đi vô trong phòng, đi như Quan Thánh. Tôi nói: “Đừng cho người ta thấy! Mắc cở lắm! Tôi đi điệu này kỳ quá, như tụi hát bội vậy!” (cười)… [18:12]
Vô cái ngồi cái “phịch”, ngồi mạnh lắm, ngồi, ngồi khác hơn tôi, ngồi mạnh lắm… thử coi tôi sao? Hỏi: “Chớ Mày tin chưa?”
- “Chưa!” Cũng không tin. “Bây giờ làm sao làm cho tôi chết tôi mới tin!” (các bạn đạo cười)
- “Há!” Ổng nói: “Mày muốn chết thì dễ lắm. Tao sẽ làm!”
Dẫn lên lầu nằm. Thiệt, Ổng bóp cổ á (các bạn cười)… Bóp cái hơi thở tôi còn như một sợi chỉ vậy đó.
Tôi nói: “Bóp cho tôi chết luôn đi!” (bạn đạo cười)
Rồi Ổng nói: “Thương Mày lắm! Thương thằng đệ tử lắm! Bắt đầu từ giờ phút này trở đi ta là sẽ phải bảo vệ đệ tử suốt đời!”Cũng như gạc-đờ-co vậy (garde de corps) –
Tôi không tin! (cười)... Ở trên đời này không có chuyện Quan Thánh mà đi bảo vệ người phàm, không có vụ đó! (cười)…
- “Bây giờ ngon, hiện lên tôi thấy?”
Thiệt! Nhà tôi ở có cái vách tường (nghe không rõ) dòm đằng trước á, hiện ra một cái áo của Quan Thánh, áo xanh á, sau lưng thôi, không cho thấy mặt, thấy sau lưng thôi, rõ rệt như ban ngày!
Tôi nhìn một hồi rồi cái tôi thấy cái hình của tôi đó, khắp chỗ nào cũng dán hình tôi hết á; khắp năm châu đều có hình tôi hết á. Cái hình mà, kêu bằng, bận quần cụt mà ngồi thiền đó! Rồi bây giờ cái hình nó chạy khắp năm châu rồi. Tôi thấy chỗ nào cũng dán hình tôi hết trọi.
Tôi nói:
- “Bây giờ tôi tin, nhưng mà Ông nói chuyện khi tôi ngồi, đối diện với tôi không được là tôi tin nửa thôi, tin sau lưng thôi!” (cười)… “Tin sau lưng thôi!”
Thì cái vụ hình tôi, tôi không tin. Mà hồi đó tôi chưa có chụp. Sau tôi đi du lịch, tôi đi Pháp, thì ngồi ở chỗ vườn bông đó, ông Liêm ổng bắt tôi chụp, bắt tôi cởi hết trọi áo. Khi không cởi hết áo, Trời lạnh mà cởi hết áo ngồi chụp, chụp cái nó mới có cái hình đó. Rồi từ cái hình đó gởi đi cùng hết. Rồi lúc đó mình mới thấy: “À, Ông Quan Thánh nói đúng.”
Nhưng mà có một chuyện gì tới là cũng, Ổng cũng có sự hiện diện giúp đỡ. [20:20]
Rồi có một đêm, nghĩa là, cái hồn cũ đi rồi á, hồn cũ đi rồi, rồi cái hồn mới tới nghiêm chỉnh đứng trước hình Quan Thánh: Nói tên gì, (một ngàn...) sanh năm mấy, giờ mấy, nói đàng hoàng…“Từ rày về sau con sẽ gặp minh sư còn sống” (gặp ông Tư đó). “Rồi con sẽ đi bất cứ nơi nào ở trần gian, và con sẽ hưởng tất cả những gì ở trần gian. Thầy sẽ giúp con đầy đủ”.
Tôi cũng không tin cái vụ đó. Mà thấy bắt đứng, đứng một cách không cục cựa được, ngay ngắn vậy đó.
Rồi cái, trở lại ngồi đó thì thấy cái nhà lạ quá, ai cũng lạ hết, không có người nào thật hết, không có người nào mà tôi biết hết. Sau cái vía nó mới giới thiệu: “Người này vợ của Lương Sĩ Hằng”, tên gì (cười)… nó nói, bao nhiêu tuổi, cưới nó ở đâu… nói hết trọi. Rồi cái, bà này là bà gì, nói giới thiệu hết; rồi mình mới biết. Ra rồi giới thiệu xi-nê, giới thiệu xíu mại, há cảo… Ăn cũng phải dạy nữa, không biết ăn. Rồi từ đó là nói chuyện đạo, lo, lo đi về tu thôi. Đi học tu, đi học, đi kiếm Ông Tư á, tu.
Mà kiếm ông Tư một cách lạ. Mà Ổng nói “Ông Thầy còn sống”, mà mình đâu biết Ổng ở đường nào?
Bữa đó gặp thằng bạn, từ hồi nhỏ tới lớn nó chơi với tôi. Nó tới, cái mặt mày nó tươi đẹp. Mà hồi trước đó tôi chưa tu nhưng mà cái tâm tôi nghĩ chuyện tu không à. Thấy nó tươi đẹp, hỏi:
- “Làm sao Mày tươi đẹp mà xán lạn như vậy?”
Nó nói:
- “Tao tu!”
Mà tôi ghét người tu (cười)… Đi chơi thì được, chớ còn tu là không chịu (cười)... Tôi hỏi: “Mày tu thằng thầy nào? Mày nói thằng Thầy tao nghe coi?”
Nó nói: “Không được kêu bằng thằng thầy à! (cười)… “Ổng nghe rồi đó, chết Anh chớ không phải giỡn đâu nghen!”
Tôi nói: “Mày, chừng nào Mày giới thiệu, tao mới hết kêu nó bằng thằng thầy. Bởi vì tao thấy mấy thằng thầy dạy tu xạo quá, không có thằng nào đàng hoàng hết. Tao kêu thằng thầy đó, mày kêu nó giết tao đi, tao cũng muốn chết đây này! Tao kêu Quan Thánh giết, mà giết không được rồi nè. Bây giờ Mày kêu nó giết đi!”
Nó nói: “Thôi, thôi, thôi… tôi lạy Ông, tôi lạy Ông! Bây giờ tôi sẽ (nghe không rõ) cho Ông đi gặp”. [22:41]
Rồi từ đó đi gặp Ông Tư. Ông Tư nói chuyện ba tiếng đồng hồ, tôi không biết Ổng nói cái gì; nói tiếng Việt Nam không mà không biết! (các bạn cười)
Ổng nói Trời, trăng, biển, Ổng nói tiền kiếp… Ổng nói, nghĩa là: “Bạn hồi nhỏ, bận mặc đồ con gái, phải không?”
Thiệt! Hồi nhỏ Má cho bận đồ con gái không à; không bận đồ con trai, vì trắng quá đó; bận đồ con gái. Với mấy người chị cho bận đồ con gái, ẵm ra coi người ta cho bánh trái ăn đó.
Thì tôi cũng không nói đúng hay là không. Ổng nói: “Hồi nhỏ bận đồ con gái, ha?” Tôi làm thinh: “Không biết thằng cha này có gạt không?” - Nghi ghê lắm! (cười)… Nghi đủ thứ hết á! Mà Ổng nói bất cứ cái gì tôi cũng không xác nhận là đúng. Cái tánh tôi kỳ, tôi học là tôi để đó thôi.
Ổng nói những là thiên cơ, những chuyện này, chuyện nọ, tới bây giờ là nó ra hết, nó rõ ràng; nhưng mà lúc đó tôi không bao giờ tin. Học đạo là phải vậy. Mình nghe, mình giữ, mình đừng, không có bỏ, mà đừng có vội tin, mà đừng có ra miệng nói: “Ờ, tôi bây giờ tôi tin Ông”, này kia, kia nọ… Không, không tin thì mới tiến được. Còn nếu mà cứ nói tầm bậy, tầm bạ là mang cái khẩu nghiệp.
Hồi đó tôi chưa có tu đạo nào mà tôi còn biết khôn cái vụ đó, đó; tôi chỉ nghe thôi. Ông đạo nào nói hay, tôi chỉ nghe, tôi không có nói đâu; cất đó; bởi vì mình thêm tài liệu. Tôi chơi là chơi với người lớn, người nhỏ tuổi, tôi ít chơi lắm. Là người lớn người ta sẽ nói những cái kinh nghiệm họ cho mình để mình học; cái nào hay mình giữ, cái nào mà dở mình bỏ, thành tôi học nhanh lắm. Bạn tôi toàn là ông già không à (cười)… thứ trẻ, trẻ, không có.
Hồi đó tôi trẻ mà tôi chơi thứ sáu mấy, bảy mươi tuổi không à. Nó nói cái kinh nghiệm quá khứ, ảnh lường gạt người ta đồ, này kia, kia nọ, nói hay lắm. Mình biết cái xấu, mình không làm; và biết cái tốt cái đạo đức y có, mình học cái đạo đức. [24:39]
Cho nên các bạn tu, muốn đọc, chơi với một người bạn là tôi được đọc một cuốn sách. Phải không? Cái hay thì tôi giữ, mà cái dở, tôi bỏ; mà tôi không có nói xấu người ta; cấm thị phi! Như đàn bà ở nhà hay nói cho chồng nghe chuyện này, chuyện nọ;đừng thèm nghe, bỏ đi; cái thị phi nói bậy bạ; phải gặp trực tiếp nó hay hơn, đừng có nghe thị phi. Ai nói gì, nói; tôi không bao giờ tôi nghe, tôi gặp trực tiếp mới nói chuyện.
Cho nên mình muốn tu đàng hoàng là mình phải vậy, phải dẹp thị phi qua một bên. Cái gì trực tiếp, mình làm mình chịu, thẳng thắn như vậy thì con người nó mới dễ tiến. Chớ đừng nghe lời người này giận người kia, cái đó không nên, cái đó hư, hư khối óc.
Đừng nghe lời, nghĩa là, ông kia ổng nói: “Thôi đừng chơi với cái đám đó!” Không! Tôi phải đi, tôi tìm. Tôi có khối óc sáng suốt, tôi phải tìm ra sự việc đó. Đừng có nghe rồi theo một phe rồi phá người ta; cái đó không tốt, tự làm hư khối óc của mình.
Sự minh mẫn của mình khác hơn cái người đề nghị, tại sao mình nghe họ làm chi vậy? Bị lường gạt phải không? Mình lường gạt rồi hư khối óc của mình chớ họ đâu có đền đâu. Họ bày bậy thì họ nói được, họ bày bậy được, nhưng mà cái khối óc mình hư, họ không có đền đâu. Phải nhớ: Đừng có dại dột mà nghe lời người nào hết á. Phải sử dụng cái sáng suốt của mình minh chánh, đàng hoàng.
Đừng có nói “Thằng đó nó hăm bắn Ông!” Rồi nghe cái, trốn, tìm cách bắn người đó là chết á! Mình cứ đi tới coi: “Anh bắn tôi?! Tội gì, Anh nói tôi biết chớ! Trước khi chết tôi cũng biết cái tội của tôi”. Người ta thông cảm. Nhiều khi cái miệng nói bậy. [26:23]
[Kết thúc buổi học ngày 25 tháng 10, 1987]
[Sang buổi học ngày 26 tháng 10, 1987]
(chưa chép thêm 6 phút Thầy giảng ở video mở đầu khóa 9 ngày 26/10)
HỒI HAI MƯƠI SÁU
DẠO ĐIỆN ĐẠI THÀNH BÁI HỘI CHÍ THÁNH TIÊN SƯ
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 13 tháng 6 năm Canh Thân (1980)
Thơ
Phục hưng văn hóa lại hồng Nho
Lậu hạng oa cư đức bất cô
Đoan chính tứ phi thành chí Thánh
Tội tiêu hà tất niệm Nam Mô.
Phục hưng văn hóa nhớ nhà Nho
Cuộc sống thanh bần dạ chẳng lo
Tứ đức giữ gìn thành chí Thánh
Tội tiêu há phải niệm Nam Mô.
Tế Phật: Hiện thời ngành giáo dục phổ biến rất sâu rộng, trẻ thơ được sớm đưa tới các vườn trẻ để khai mở trí hiểu biết, rồi tiếp đến tiểu học, trung học, đại học và du học. Có thể nói hầu hết trẻ em hiện nay đều được cắp sách tới trường, tương lai đều là những bậc thức giả tài ba lỗi lạc. Song chữ nghĩa trong sách vở miệng nói ra vanh vách, đặt bút là thành văn, hoàn toàn vì công danh lợi lộc, còn bàn tới chuyện giúp đời cứu người thì lại sợ hãi lánh xa. Lời dạy trong sách của các Thánh hiền đời xưa còn lưu lại, đều sử dụng thể tài hỏi và đáp là để tránh sự bắt chước hóa thành ra con vẹt đọc sách. Lại còn lắm kẻ đọc sách càng nhiều, óc gian xảo càng tinh vi khéo léo; kẻ nắm giữ pháp luật, kỹ thuật phạm pháp của họ càng tinh tế.
Đọc sách là cốt mong đạo đức tu tiến nhưng lại để biến thành phương tiện cốt sao tiền bạc vô nhiều khiến lòng lão tăng buồn vô hạn. Mong người đời nên thay sách học bằng kinh đạo đức, chớ đừng học kiếm lợ. Đọc sách cầu học chỉ cốt mở mang kiến thức, nâng cao phẩm tính con người, còn nếu như trở thành công cụ mưu sinh tức là đem sách làm thành tiền giấy, tiền đó thực là chẳng phải đồng tiền có giá trị. Còn nếu như sử dụng trí thức trong việc mưu đồ tội ác hẳn là trở thành thứ trí thức sa đọa cách tồi tệ. Bữa nay thầy hướng dẫn Dương Sinh dạo thăm thắng cảnh Thiên Đàng. Chuẩn bị lên đài sen.
Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong. Kính mời ân sư lên đường.
Tế Phật: Thầy trò mình ngồi trên tòa sen, cưỡi gió đè mây bay thẳng lên cõi Trời thanh tịnh. Tục cảnh phàm trần dần dần khuất sau lưng rồi mất tiêu dấu tích... Đã tới nơi…
Dương Sinh: Bữa nay tới nơi này, cảnh trí khác hẳn kỳ trước, khắp nơi đều xuất hiện các bóng văn nhân, tư thế hoàn toàn siêu phàm thoát tục, có vị đang tản bộ ngâm thơ...
Tế Phật: Cảnh trí tới thăm bữa nay là cảnh trí làng Nho, phía trước là điện Đại Thành, chúng ta hãy mau tới phía trước lạy chào ra mắt đức Đại Thành Chí Thánh Khổng Phu Tử.
Dương Sinh: Hay lắm, hay lắm. Vinh hạnh biết bao, bữa nay mới được tới thăm Thánh cảnh cửa Khổng. Mắt nhìn phong quang vườn Hạnh Đàn thấy thực, chẳng hư truyền chút nào. Phía trước đại điện trên đề ba chữ: “Đại Thành Điện”, tứ bề thanh khiết không nhiễm một hạt bụi, hai bên các vị phục sức coi có vẻ nho sinh, học sĩ tỏ ý hoan nghinh chúng tôi. Đi theo ân sư vào trong điện thấy một vị cao niên ngồi giữa điện, hai bên còn có các môn sinh ngồi hầu. Trong điện trang trí coi có vẻ cổ kính, bút lông nghiên mực bày ngay ngắn, sách vở quý giá trong rương nhiều vô kể. Vị cao niên ngồi giữa điện chính là đức Khổng Tử.
Tế Phật: Vị ngồi chính giữa là đức Chí Thánh của làng Nho, danh Ngài là đức Khổng Phu Tử, ngồi hầu hai bên là các vị Thánh hiền đệ tử của Ngài. Dương Sinh mau lạy chào ra mắt đức Phu Tử.
Dương Sinh: Xin tuân lệnh. Đệ tử xin cúi đầu lạy chào đức Chí Thánh cùng chư vị Thánh hiền. Đệ tử ước mong được quý Ngài phá ngu để mở trí.
Khổng Phu Tử: Làng Nho rất lấy làm hân hạnh, vì Dương Sinh hâm mộ đạo Nho nên đã đích thân mở đàn giáng cơ lấy tên là Hạnh Đàn, dùng bút Thánh trước tác kinh sách Thánh hiền để thức tỉnh người đời, tôi ở tại cõi Trời linh thiêng, lòng cảm thấy được yên ủi.
Làng Nho tuy không đề cập đến những chuyện hoang đường kỳ quái, song đức của quỷ thần tràn ngập Vũ Trụ muôn đời bất diệt, bởi vậy tôi không hề phản đối, song tôi nghĩ người chưa biết sống làm sao biết chết nổi? Tôi sợ họ bỏ gốc chạy theo ngọn, khinh rẻ cuộc sống hiện tại, coi trọng cuộc đời bên kia thế giới, cho nên tôi khuyên các đệ tử là: Những gì có quan hệ tới chuyện quỷ thần đều không được bàn cãi tới.
Đạo “trung thứ” tức lòng khoan hòa rộng lượng là đức từ bi; khép mình giữ lễ tuân theo đạo nhân từ, tính người hợp với tính Trời, tuy không nói tới Trời mà đắc được đạo Trời. Việc sống chết tự nhiên ta làm chủ, cho nên nói: “Sáng nghe đạo, chiều chết cũng cam” (Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ).
Con người nếu như sống vô tư, không phản bội nhân luân đạo đức, giữ vững tam cương ngũ thường là hợp đạo lớn, là lúc sống giữ trọn đạo, sau khi chết ắt là về được nơi đất lành, cho nên nói: “Sống hòa thuận chết yên lành” (Sinh nhi thuận, tử nhi an) - về nơi mà tôn giáo thường nói là “thế giới cực lạc”, còn tôi gọi là “thế giới đại đồng”.
Nhìn lại làng Nho hôm nay, người dạy kẻ học đều chú trọng văn bằng để làm cần câu cơm khiến phẩm tính đạo đức băng hoại, vì coi rẻ cái học tu thân. Cho nên người đời nói: “Học lắm gian trá nhiều, kẻ ngu lại chính trực”.
Tôi mong người đời đọc sách, ngoài việc trau dồi kiến thức ra còn phải lo vun bồi đạo lý, còn không, càng học lắm càng gian trá nhiều, công danh sẽ hủy hoại mình, xã hội phát sinh nhiều tệ đoan để chứng minh kẻ dụng mưu xảo trá ở cõi đời lúc về Trời sẽ bị đối đãi xảo trá lại.
Dương Sinh: Đức Phu Tử quả xứng với danh đời tặng là “Vạn Thế Sư Biểu” tức vị thầy muôn thuở. Nho sinh trên đời ôm ấp mãi mối đạo “Đức cùng Trời đất, đạo suốt cổ kim” (Đức phối Thiên địa, đạo quán cổ kim). Một lời tán tụng làm sao cho đủ, lời Phu Tử dạy như ngọc vàng, đệ tử xin ghi nhớ mãi. Kính xin đức Phu Tử chỉ dạy cho môn đồ cửa Khổng được rõ về phép tu đạo phải như thế nào? Và rồi thành quả sẽ ra sao? để được giống như Phu Tử cùng chư Tiên Nho ngày nay đang được hưởng phúc lộc tại cõi Trời, tiêu dao tự tại. Đệ tử hết sức lấy làm kính mộ song không rõ cách nào để tu tập được đây?
Khổng Phu Tử: Nho sinh đời nay học hành chỉ cốt thi cử, nên sự miệt mài ngày đêm rất ư là vô bổ, chỉ cố nhồi nhét vô đầu cho thật nhiều chữ nghĩa, song ở tư cách tiến thoái lễ nghi đối xử với người, với vật hàng ngày thì lại thấy hiện rõ sự ngang ngược, cho nên thường bị người đời chê là “học mà chẳng hành”. Nếu như trong giới trí thức ai có lâm vào tình trạng này hãy mau suy nghĩ lại, một sớm rời mái trường, ra nhập đời sống xã hội nên đem những lời chỉ dạy của Thánh hiền trong kinh sách ứng dụng vào cuộc sống, để luôn luôn hòa nhã, cung kính, khiêm nhường, cùng xa rời bốn cái “không” là:
Không lễ chớ nhìn.
Không lễ chớ nghe.
Không lễ chớ nói.
Không lễ chớ làm.
Một ngày ba lần tự nhắc nhở mình tu thân dưỡng tính, tuy không xuất gia cầu đạo, song thực sự đã hành đạo, làm việc ngoài xã hội thanh liêm chớ tham nhũng, đó chính là cách trí thức báo đền ơn nước. Ngoài ra lại còn phải đối xử bình đẳng với mọi người để cảm hóa họ. Thực hiện được như vậy, cõi Trời Đại Thành Chí Thánh sẽ sớm dành sẵn địa vị cho, một sớm lìa đời được tới miền đất lành này sống tiêu dao, chẳng còn bị luân hồi thống khổ.
Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy, làng Nho tu đạo chỉ cần giữ bốn cái “không” để tránh phạm vào tội lỗi, quả là chẳng khác đạo Phật, vả lại tu đạo ngay giữa cuộc sống quả là thực tế.
Tế Phật: Mỗi cá nhân phải thức tỉnh bốn cái “không” để thành chính nhân quân tử, để giữ gìn con người thanh cao ở bên trong con người phàm tục quen xưng tụng là Thánh hiền, cũng như gọi khác đi thì là Tiên Phật. Lo giúp đời làm lợi cho người, tính linh mình cùng Trời hợp làm một. Sở dĩ ngày nay được là Thánh hiền Triết Nhân tại cõi Trời này là nhờ trước đây tại cõi thế đã từng gây nổi sự nghiệp mưu đồ sự phúc lợi cho đời.
Dương Sinh: Kính hỏi đức Phu Tử, các môn đệ của Ngài đứng hầu hai bên, Ngài có thể cho biết đời sống của họ tại cõi Trời không?
Phu Tử: Có thể. Vì các đệ tử của tôi dốc lòng học đạo, tâm họ với tâm tôi là một, quyết chí thực hành đạo của tôi, do đó mà ngày nay có thể cùng nhau tụ hợp tại đây, đó chẳng phải là sự ngẫu nhiên. Tôi có 4 đạo nhân, 10 triết nhân, 72 hiền nhân và 3000 đệ tử, cùng với số người học đạo mà tôi không rõ mặt rõ tên nhiều vô kể. Những ai phụng hành những điều tôi chỉ dạy, họ đều được về cõi Trời hội hợp chung một nhà.
Đạo Nho không gò bó nghi thức như tôn giáo khác, không tin thần bí. Nếu như hiểu sâu về đạo tôi thì phải chính tâm tu thân, khép mình tuân theo lễ, có thể nói các anh tài, linh tính của họ tự nhiên có thể siêu thoát phàm giới đạt tới Thánh giới.
Hãy lấy Nhan Hồi hiển Thánh mà nói, ở nơi nghèo hèn ăn cơm rau uống nước lã, người chưa hết âu lo thì mình không vui sướng. Người đời hiện nay, ai có nổi đời sống thanh cao, bảo trì được bản sắc đạo Nho để trở thành một Nho gia quân tử như vậy? Có ai coi sự giàu sang như mây nổi?
Trong hàng đệ tử có nhiều người lúc còn tại thế đã từng có phong thái phú quý, không dâm dật, nghèo nàn không khuất phục; không sử dụng giới luật như tôn giáo song vẫn giữ giới, coi sự tranh giành nhẹ như băng mỏng. Lúc sống đã có phong thái như vậy, sau khi chết tự nhiên siêu thoát khỏi sự trói buộc của phàm trần, chứng đạo thành Thánh thành Hiền.
Dương Sinh: Thánh hiền đời xưa đã tu pháp như vậy, còn Thánh hiền đời nay?
Phu Tử: Thánh hiền hiện đại chứng được quả vị Thánh nhân cũng nhiều. Như một số Nho sĩ bên ngoài điện, không những chỉ làm tròn phận sự một nhà giáo dục hiện thời mà lại còn thực hiện được thêm sứ mệnh một nhà đạo đức vì suốt đời đã dùng tâm khai mở đạo cho học trò, không tham lam thụ hưởng; thân tuy đói lạnh song tâm trong trắng, ngày đêm lo hoàn thành trách nhiệm, đạo lý tràn đầy thiên hạ, Hạnh Đàn thơm nức hương. Các vị đó sau khi qua đời đều được lên cõi Trời sống tiêu dao tự tại.
Do đó ước mong các nhà giáo dục trên thế giới hiện thời phải lo tu tâm dưỡng tính để giáo hóa người. Trước khi dạy phải chuẩn bị tinh thần đạo đức cho thật dồi dào hầu truyền bá cho môn sinh, không được phạm các tội thiếu lương tâm có phương hại đến tương lai đám trẻ. Chớ tham lam mở lớp riêng kiếm tiền, coi giờ dạy chính ở trường là phụ, vì làm như vậy là không có tinh thần trách nhiệm, vô hình trung tán tận mất tính linh của mình, ngày sau bị đày đọa cực kỳ thống khổ.
Đất này trồng đầy đào lý, thành tích của mỗi vị giáo sư đều có thể theo đó mà biết được. Người tận tâm với chức vụ, phẩm tính thanh cao, đào lý đầy vườn, hương vị ngạt ngào, ngược lại đào lý rụng hết lá, không kết nổi trái. Tiếc rằng theo quan niệm của người đời nay thì vấn đề này chẳng cần đề cập tới, ai có lương tâm đạo đức thì hãy giữ lấy làm của riêng, ngoài ra chỉ cốt lo tròn trách nhiệm bình thường là cũng đủ rồi.
Tế Phật: Các vị giáo chức trên đời đều là các Thánh hiền hóa thân để làm vị thầy muôn đời, gió xuân hóa thành mưa, các học sinh đều đội ơn mãi mãi. Chớ là vị thầy thiếu lương tâm làm hại tương lai của các học trò. Vì thời giờ đã trễ xin cáo từ đức Phu Tử.
Phu Tử: Vì không thể lưu lại lâu hơn, cầu chúc Nho phong Thánh đức mãi thêm huy hoàng.
Dương Sinh: Cảm tạ đức Phu Tử đã ban lời dạy ngọc vàng... Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư trở lại Thánh Hiền Đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
HỒI HAI MƯƠI BẢY
DẠO BẢO ĐIỆN ĐẠI HÙNG TÂY THIÊN
BÁI HỘI THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 29 tháng 6 năm Canh Thân (1980)
Phật pháp tây lai nhất tự vô
Toàn bằng tâm ý dụng công phu
Nhãn tàng chính pháp niêm hoa tiếu
Khổ hải từ hàng hóa tục ngu.
Phật pháp tới đây một chữ “vô”
Thảy nhờ quyết chí gắng công phu
Cầm hoa cười mỉm truyền chân pháp
Biển khổ thuyền từ độ kẻ ngu.
Tế Phật: Phật pháp từ phương Tây tới hóa độ rất nhiều chúng sinh mê muội, nhờ đó mà tính tình người Trung Hoa trở nên thuần phát, ý nghĩa Phật pháp khuyên đời đối với văn hóa truyền thống Trung Hoa không tính trước mà đạt thành, truyền thống này đã tiếp thu tôn giáo ngoại lai, rồi dung hợp phát huy rộng lớn, nhờ vậy vùng đất đó đã có lúc trở thành trung tâm tinh thần tín ngưỡng thế giới.
Ngày nay người tu theo Phật giáo rất nhiều, phổ biến đạo từ bi thật là rộng rãi để giúp đời làm lợi cho người, đối với thế đạo nhân tâm ơn ích quá nhiều. Xuất thân từ trong hàng Thánh tăng nơi cửa Phật, tôi cũng từng là tăng sĩ, La Hán hóa thân rồi bỏ nhà nhỏ của tôi đi tới từng nhà chúng sinh để thực hành duyên hóa độ nên mới gọi là vì chúng sinh mà xuất gia.
Có một số người xuất gia song lại ẩn náu nơi chùa miếu, chẳng gặp chúng sinh, là từ nhà lớn tức xã hội trở về nhà nhỏ là chùa miếu. Tự giam hãm mình kể như là kẻ cô đơn, chẳng thể thành Phật muôn nhà, thực đáng tiếc thay. Lão tăng bữa nay sẽ hướng dẫn Dương Sinh tới cõi Trời Tây phương bái hội đức Thế Tôn cùng kính cẩn nghe Ngài thuyết pháp.
Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.
Tế Phật: ... Bảo điện Đại Hùng đã hiển hiện trước mắt, chúng ta mau tới trước lạy chào ra mắt đức Thế Tôn.
Dương Sinh: Điện Đại Hùng coi thật là hùng vĩ, giống như một ngôi chùa vĩ đại ở tại thế gian, có rất nhiều tăng ni mặc áo cà sa đi đi lại lại, trong đó còn có các sa di nhỏ, cảnh này quả là một bức tranh tuyệt vời, tất cả các vị đó đều hướng về chúng tôi hành lễ.
Tế Phật: Đây là nước Phật, Trời Tây, hoàn toàn thanh tĩnh không vương một hạt bụi.
Dương Sinh: Đá quý, ngọc lưu ly đầy đất lung linh tỏa chiếu, khí hậu êm đềm, hương vị đạo mầu thơm ngát... Đức Thế Tôn ngồi chính giữa, tướng pháp trang nghiêm, toàn thân hào quang tỏa chiếu sáng ngời, hai bên còn có hai vị hộ pháp Vệ Đà khí thế phương phi, khiến người ta có cảm giác Thần Thánh đang hiện diện, không dám xâm phạm tới... Đệ tử khấu đầu lạy mừng đức Thế Tôn. Bữa nay đệ tử theo thầy tới thăm điện Tam Bảo, trong lòng vô cùng sung sướng, kính xin đức Thế Tôn khai mở Phật pháp.
Thế Tôn: Dương Sinh hãy đứng dậy. Phật pháp truyền qua Đông phương hóa độ rộng lớn, trải qua bao thời đại không suy đồi, mạng huệ tồn tại mãi mãi là nhờ công Phật giáo đồ xả thân bảo vệ chính pháp, tôi rất cảm động. Nay gặp thời mạt pháp, các tôn giáo đều phát triển mạnh, riêng Phật giáo truyền bá khắp thế giới, các học giả quy y cửa Phật tu học ngày một đông, đủ biết Phật pháp giúp ích cho chúng sinh thật quả là nhiều. Phàm quy y cửa Phật, phải giữ gìn giới luật, suốt đời không chán, tu tới minh tâm kiến tánh đều được chứng đắc quả vị.
Dương Sinh là sứ giả cửa Thánh giáng cơ, đối với Phật pháp cũng chí thành tu học, quả là bậc trí thức có thiện tâm. Thánh Hiền Đường phổ truyền chân lý Thánh hiền rất phù hợp với Phật giáo, bởi lẽ “chớ làm các việc ác, hãy làm các việc thiện” (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành). Có thể nói đó là chính pháp ở trong thời mạt pháp, Như Lai xuất hiện nơi cửa Thánh để hóa độ chúng sinh, mở phương tiện pháp môn, tu công đức vô lượng, mọi người nên học lấy.
Dương Sinh: Đức Thế Tôn dạy rất đúng, cứ theo như đệ tử được biết, tín đồ cửa Phật dưới trần phỉ báng cửa Thánh rất nhiều, coi việc giáng cơ bút là ngoại đạo là tà giáo, khiến nhiều người đau lòng, không rõ đức Thế Tôn nghĩ thế nào?
Thế Tôn: Phật giáo nhân gặp kỳ mạt pháp, đệ tử rời Phật quá xa, chúng sinh thời nay tuy có thiện căn nhưng thiếu tuệ căn, học Phật tu đạo đã đọc ít kinh lại không chịu tham khảo nghiên cứu rộng rãi. Chỉ học có Phật, còn ngoài ra kinh điển của các tôn giáo khác chẳng hề dòm ngó tới, hay giải thích theo lối chủ quan nên tạo thành thiên kiến, không coi các tôn giáo khác là “tôn giáo bạn”, rồi miệng chửi, bút chê đạo khác là ngoại đạo, là tà thuyết, miệng Phật phun máu, dao đồ tể sát sinh, tôi thật đau lòng.
Phật có bốn vạn tám ngàn pháp môn, Thánh Hiền Đường thờ phượng Tiên Phật, Thánh hiền cổ đại rất ứng hợp với tâm Phật, thanh tâm thụ giới, tĩnh niệm kinh chú, thành tâm cầu khẩn Thánh linh thượng giới giáng phàm, mây thơm liền tới, các Phật cùng bồ tát thanh tĩnh đều cảm ứng lòng thành, giáng lâm thuyết pháp dạy đạo, có duyên khai mở hướng dẫn để quảng độ bến mê.
Nếu như các thiện nam tín nữ phụng hành ngũ giới, ra sức hành thiện, một lòng niệm Phật, ắt Phật tới ứng, sức Phật hộ trì cơ bút viết nên, diệu bút sinh hoa thuyết pháp độ chúng thực là hợp lý, dễ thực hành, mong Phật tử chớ coi khinh Phật khác mà tự hủy diệt tuệ căn. Bởi vì mắt tuệ của chúng sinh đã bị che mờ, họ chỉ đọc kinh giấy, tai chỉ nghe người nói mới thốt ra lời phỉ báng. Ánh đạo tỏa ngời, bút thiêng xúc động liền viết nên lời, nếu như tôi được thấy chắc hẳn là cũng sẽ “hữu cảm giai thông” tức là có cảm thì đều thông. Niệm Phật, Phật tới, còn nếu như không tin Phật mà lại sớm hôm tụng kinh niệm chú thì chẳng hóa ra là tà ma ngoại đạo ư?
Dương Sinh: Đức Thế Tôn quả xứng đáng là bậc được thế gian tôn thờ. Pháp Ngài thuyết khiến người đời quý trọng, thế gian sùng kính lẽ công bằng. Các tôn giáo đều chỉ cần không phản bội phong tục ngay lành, có ích lợi cho thế đạo nhân tâm đều là chính giáo. Phật được đời tôn sùng vì đã đem từ bi bình đẳng ra dạy chúng sinh, coi tất cả chúng sinh như một. Bốn loài chúng sinh, sáu ngả luân hồi đều là ba đời quyến thuộc, đều cùng tính Phật, cũng là thân Phật, nếu như khinh thị đồng bào nhân loại, tiếng gọi là học Phật song phản Phật. Không rõ cao kiến của đức Thế Tôn ra sao?
Thế Tôn: Phật pháp bao dung tất cả, cho nên mới nói Phật pháp vô biên. Ngoại giáo như áo cà sa bên ngoài, kẻ tu hành phải mặc để hộ Phật thân há lại vất nó, hủy nó.
Chúng sinh trên đất rộng, mỗi cá nhân đều mang một thiên chức riêng, tôn kính Phật, sống đời sống Phật há lại còn nuôi tính chà đạp dày xéo hay sao? Phàm những kẻ bài xích tôn giáo, đả phá người khác đều do tại tâm riêng rẽ, tâm ghen ghét, tâm sân si chưa diệt, miệng Phật phun thuốc lửa, giết hại biết bao người, có khác chi đồ tể.
Hoa tươi trái ngọt dâng cúng Phật hẳn là cũng do chúng sinh ngoại đạo khổ cực trồng trọt do bàn tay của chúng sinh ngoại đạo vun xới, Phật có chối bỏ không? Hay là Phật cảm động phát khởi lòng từ bi. Ăn mặc trú ngụ di chuyển các phương tiện đó của các tăng ni nơi cửa Phật ai người cung ứng? Ai người chế tạo? Mong tăng ni nơi cửa Phật mau vứt bỏ dao đồ tể, chớ sát hại bạn lành ân đức, để khỏi bị đày đọa vô thời hạn, khổ báo vô cùng tận.
Dương Sinh: Công đức của đức Thế Tôn vô lượng, Như Lai đại công bằng, tâm hồn vô biên, độ được mọi chúng sinh, thuyết pháp không thiên lệch, chỉ nhắm giúp tâm chúng sinh khai mở, đệ tử xin đảnh lễ Ngài.
Thế Tôn: Tôi có chính pháp nhãn tạng lưu truyền thiên hạ, mãi mãi như kim cương không thể hủy diệt, ai giác ngộ được thì đều thành Phật.
Dương Sinh: Thưa, có phải đó là pháp “Niết bàn diệu tâm” chăng?
Thế Tôn: Phải. Thực tướng vô tướng, thấy liền ngay trước mắt.
Dương Sinh: Tức là nhìn thấy Phật ngay trước mặt, ngược nhìn phía sau chẳng thấy.
Thế Tôn: Sinh ở đất Phật này, khắp nơi đều là Phật, rời khỏi đất Phật này, thấy mình là Phật, nếu như chẳng thấy, lấy gương mà soi hẳn là sẽ thấy, xác nhận chính mình với Phật là một, “hình tâm tướng phản ảnh”, không lìa xa tâm ắt tự nhiên thành Phật.
Dương Sinh: Phải phải. Đệ tử thấy trước trán đức Phật Đà có một hạt màu đỏ là tại sao?
Thế Tôn:
Sinh ra là có
Chết đi chẳng mất
Một mình tới lui
Không mở không nhắm
Đó là mắt Phật.
Dùng mắt đó nhìn sự vật sẽ không thiên lệch, nhìn mình sẽ trung chính không nghiêng trái phải, chỉ một không hai. Ngọn đèn sáng trên núi Linh Sơn, nhờ đó mà minh tâm kiến tánh, vào thẳng đất Như Lai, cho nên nói chính pháp nhãn tạng, siêu diệu chẳng thể diễn tả bằng lời.
Đức Thầy giảng: [54:34]
Đọc tới đây mới thấy rõ rằng cái pháp Soi Hồn của chúng ta: ngay trung tâm chân mày, rồi đây rồi các bạn thấy cái điểm đó nó xuất phát ra rồi mới thấy rằng cái huệ nhãn ở đâu, đệ tam nhãn nằm ở đâu. Mà con mắt nó lúc nào nhắm mắt cũng thấy ánh sáng, mở mắt vẫn thấy ánh sáng. Đó là do cái công phu của các bạn mà thôi.
Tế Phật: Mắt đó có thể nhìn thấu suốt tam Thiên đại Thiên thế giới, lớn thì như núi Tu Di, nhỏ thì bằng hạt cát, cho nên nói: “Tỏa thì ngợp cả Vũ Trụ, thâu thì lui vào ẩn nơi u mật”.
Dương Sinh: Thưa, các tăng ni đại đức xuất gia trên đỉnh đầu có ghi dấu giới luật là nghĩa tại sao?
Thế Tôn: Vết sẹo đốt có mùi hương làm nổi bật tính Phật. Những tăng ni trên đầu có dấu nhang đốt, ý là trên đỉnh sọ đã nở hoa, đầu đó đúng là đầu Phật, điển phải tròn đầy mới có thể kết thành trái Ba La Mật. Kẻ thụ giới nếu như phản bội chính đạo ắt dấu ghi giới luật chẳng thể sinh thành mạ bồ đề, vô hình trung mọc thành rễ tội ác, đầu biến thành đầu quỷ, do đó Phật quốc Tây phương khó có thể tới gần nổi.
Dương Sinh: Thì ra nguyên lai là như vậy. Phật nháy mắt, nói một lời, làm một chữ đều là pháp Phật, chẳng thể nghĩ suy. Kính hỏi đức Thế Tôn: Như nay có người tu học đạo Phật thì họ phải làm như thế nào mới có thể thành đạo?
Thế Tôn: Muốn làm một đệ tử chính đáng nơi cửa Phật, tất nhiên phương pháp tu trì phải tuân theo như dưới đây:
1. Tín: Tin Phật là thật, tin mình không giả, tin người không khác lạ - Ba điều tin hợp làm một lẽ tướng, kẻ tin được cứu, kẻ tin thành Phật.
2. Giải: Giải ngộ Phật pháp, chớ đui mù vì chữ nghĩa. Muốn giải kinh trước phải giải tâm, nếu như chỉ giải văn chương chữ nghĩa trong kinh mà chẳng giải gốc tâm khác nào đem thân quý báu nhốt vào nhà ngục. Đã là tù nhân làm sao giải thoát thành Phật? Có giải trừ được ba cái độc là tham, sân, si thì thân tâm mới tĩnh và vào được đất Phật.
3. Hành: hiểu rành được “tín, giải” nhưng nếu chẳng hành cũng kể như không. Tu đạo quý ở sự thực hành, cho nên mới nói “tu hành”. Hành giả cần phải có phong thái mô phạm thanh cao, vì “hành giả mà đi một mình thì đạo mà hành giả tu đó chỉ là đạo nhỏ, đạo có nhiều kẻ đồng hành cùng tu mới là đạo lớn”. Cho nên hành giả đi một mình là để hóa độ chúng sinh đồng hành, có như vậy mới hợp tôn chỉ của đạo từ bi là: “không làm anh hùng hảo hán cá nhân”.
4. Chứng: Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn, phàm thành tâm kiên trì tu luyện đều có thể thành đạo. Bất kỳ ai có tu là có nghiệm, thiền tăng cư sĩ thực tu là thực chứng. Các tôn giáo, các pháp khác cũng vậy, họ có tu họ đều có chứng, chớ có sinh tâm phân biệt, sân hận, phỉ báng để rồi tự thiêu hủy chôn vùi mất tự tính công đức, tiêu diệt mất tuệ căn, khác nào cây đập “người đi”, lá rơi quả rụng, chỉ vì muốn hại người mà bị người hại, cho nên nói: “Lấy lửa đốt Trời thành tự đốt mình” - Phải nhớ kỹ điều đó.
Bốn điều kể trên đã đủ là căn bản để bước vào con đường tu đạo, chỉ cần thanh tĩnh thêm 3 NGHIỆP là giác ngộ được 3 kiếp nhân quả luân hồi:
1. Thân nghiệp: Không đi nẻo tà, không nhiễm thói ác, không nỡ hại sự sống (tức là không giết chóc), không trộm cướp, không gian dâm ắt thân nghiệp thanh tĩnh.
2. Khẩu nghiệp: Không nói lời xằng bậy, gian dối điêu ngoa, vu oan giá họa ắt khẩu nghiệp thanh tĩnh.
3. Ý nghiệp: Không tham, sân, si ắt ý nghiệp thanh tĩnh.
Thanh tĩnh được 3 nghiệp rồi lại còn phải chăm chỉ hành pháp “LỤC ĐỘ”:
1. Bố thí: Thấy bất cứ chúng sinh nào đau khổ, mình đều phải có lòng từ bi tinh thần cứu giúp. Người bị chìm đắm coi như là mình bị chìm đắm. Người bị đói khát coi như là mình bị đói khát, phải bố thí để cho kẻ khổ bớt khổ, kẻ mê hết mê”. Bố thí chia làm ba loại như sau:
A. Bố thí tiền tài: Dùng tiền bạc, đồ vật giúp đỡ kẻ nghèo khổ để đời sống của họ khá hơn. Ấn tống kinh sách dạy điều thiện để khuyến hóa độ nhân, để cải thiện tâm tính chúng sinh.
B. Bố thí dũng: Đối với những kẻ thống khổ phải mềm mỏng thương yêu, an ủi họ. Thấy người nguy khốn ra tay cứu giúp để tâm nạn nhân được bình an, chớ khiến họ hoảng kinh thêm. Còn đối với chùa chiền Phật đường ra sức quét dọn tu bổ. Đối với những kẻ phỉ báng chính pháp nên sử dụng dũng chí phát huy chân lý để cảm hóa họ.
C. Bố thí pháp: Dùng các điều mình đã học, đã giác ngộ được về chân lý Phật pháp thuyết giảng cho mọi người cùng biết, để họ cũng được hưởng mưa pháp thấm nhuần, chuyển mê thành ngộ, học tu thành đạo.
2. Trì giới: Giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh mới có thể hiển lộ được pháp tướng đoan trang. Có trì giới thì thân, khẩu, ý mới thanh tĩnh không phạm ác nghiệp. Phải giữ năm giới là:
Không sát sinh.
Không trộm đạo.
Không tà dâm.
Không nói dối.
Không uống rượu.
Ngoài ra: Xa hoa, ca múa, hút ma túy khiến thần mê, mắt loạn đều bị cấm chỉ để giữ thân tâm thanh tịnh.
3. Nhẫn nhục: Con đường tu đạo trở ngại ắt nhiều, gặp sự chửi bới gây gổ không oán không giận, dùng “nhẫn” hóa “nộ” ắt tâm tự an. Ngoài: “nhẫn” đói lạnh. Trong: “nhẫn” thất tình lục dục, có như vậy đạo chí mới vững bền, chẳng sợ nguy khốn, việc học đạo độ người mới có thể thành nổi.
4. Tinh tiến: Biển Phật vô biên, núi đạo cao vời học không ngừng nghỉ, nghiên cứu chân lý không một phút rời. Nếu như sai lầm được người chỉ dẫn phải sửa đổi ngay. Gặp cơ hội giúp ích cho chúng sinh phải gắng sức làm ngay không được chối từ, chăm chỉ không được lười biếng ắt tới được bờ bên kia.
5. Thiền định: Muốn tu luyện thành Phật, cần phải tĩnh tâm để khỏi rối loạn. Phải phổ độ chúng sinh tinh thần cần phải được huấn luyện thật đặc biệt thì khi thiền định tư tưởng đen tối mới có thể phát sinh trí huệ, gặp khi động loạn mới có định lực.
6. Trí tuệ: Tâm tính kẻ tu hành đều có trí huệ cao, Thiên kinh vạn quyển, kiến thức sâu rộng, từng trải việc đời, có thể biện luận thông suốt. Biết hết mọi điều hóa độ chúng sinh không những tự nhiên dễ dàng, bản thân kẻ tu đạo lại có thể tránh khỏi đọa lạc vào vòng ma chướng.
Dương Sinh: Những lời đức Thế Tôn chỉ dạy về Phật pháp quả là kim chỉ nam cho những kẻ tu hành. Đệ tử được ban ân quá nhiều, cúi đầu lạy tạ đức Thế Tôn.
Thế Tôn: Người đời nếu như biết tôn trọng và thi hành các pháp tu tôi vừa trình bày chắc hẳn sẽ thành đạo.
Tế Phật: Vì thời giờ đã trễ, bữa nay xin ngừng tại đây, bái từ đức Thế Tôn.
Thế Tôn: Lành thay, ước mong Phật pháp phổ truyền rộng rãi khắp thế giới để chúng sinh cùng được hưởng mưa pháp, khỏi đau khổ, được yên vui.
Tế Phật: Dương Sinh lên đài sen... Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác. [01:04:28]
Hết cuốn 18 - ID# 00000000L37