00000000L33
THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG - Cuốn 14 - Hồi 17
Tháng 10, 1987
HỒI MƯỜI BẢY
LẠI DẠO CUNG NAM HOA
LẮNG NGHE ĐỨC NAM HOA ĐẾ QUÂN THUYẾT PHÁP
Phật Sống Tế Công
Giáng ngày 13 tháng 12 năm Kỷ Mùi (1979)
Thơ
Thế đạo kiêu ly ý cảm hàn
Tu thân kháp tự luyện kim đan
Nhân tình lãnh noãn tùy tha khứ
Phật Tổ tâm hoài thường hỷ hoan.
Thế đạo nổi trôi giá buốt hồn
Tu thân giống hệt luyện kim đơn
Tình đời ấm lạnh do ta chuốc
Phật Tổ từ tâm chẳng khổ buồn.
Tế Phật: Khí trời lạnh lẽo, mọi người đều lười ra khỏi cửa, chỉ thích nằm trên giường ấm áp. Tình đời vốn ấm lạnh, tới khi thất thế tiền của không còn, bạn bè người thân chẳng ngó ngàng, nhà cửa trở thành vắng vẻ lạnh lẽo. Nhưng nếu đột nhiên gặp thời trở nên giàu có ắt là khách khứa tới lui thăm hỏi không ngớt, hết biếu vật này lại tặng vật nọ, vui vẻ hả hê, do đó nói: “Gấm đẹp thêm hoa khắp nơi có, cứu người khổ sở thế gian không” (Cẩm thượng thiêm hoa đáo xứ thị, tuyết trung tống hội thế gian vô). Bởi vậy: “Trời lạnh lẽo không một bóng người, trời ấm áp người ta đông nghẹt” (Thiên hạn vô nhân tích, noãn nhật xứ xứ hình). Cớ sao chốn Địa Ngục giá băng lại đông nghẹt người, nơi Thiên Đàng ấm áp lại vắng khách tới thăm? Nguyên lai chốn náo nhiệt đó là hố sâu tối ám chứa nhiều tội lỗi, còn nơi đạo tràng thanh tĩnh lại hiển lộ rõ thang trời mây xanh. Do đó nơi nhiệt náo tự nhiên vong thân, bước đi loạng choạng, dễ té xuống Địa Ngục tối tăm; còn nơi đạo tràng thanh tĩnh hồn tĩnh luôn thức giác, đi đứng vững vàng dễ tìm được sự quang minh để lên chốn Thiên Đàng ấm áp. Do đó tình người nồng ấm không ngăn trở tâm đạo của mình, bởi vậy cần phải luôn luôn tin tưởng là: “Lạnh càng vững mạnh, ấm càng phấn chấn” thì chốn Thiên Đàng cực lạc chắc chắn chúng ta sẽ được ngao du. Bữa nay đã tới giờ dạo thăm Thiên Đàng, Dương Sinh mau lên đài sen, chuẩn bị khởi hành.
Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường...
Tế Phật: Đã tới cung Nam Hoa, Dương Sinh xuống đài sen.
Dương Sinh: Lúc ở tại thế gian đã cảm thấy khí Trời lạnh lẽo khiến người run bần bật, tới cung Nam Hoa lại ấm áp vô cùng, Thiên Đàng và thế gian tại sao khí hậu lại khác nhau như vậy?
Tế Phật: Đây là thắng cảnh Nam Hoa nên hỏa khí thịnh do đó con cảm thấy ấm áp hơn.
Dương Sinh: Căn cứ vào lý thuyết thì Thiên Đàng bốn mùa đều là xuân, không lạnh không nóng, cớ sao ở đây lại còn có hỏa khí? Chư Tiên Thánh ở dưới áp suất của hỏa khí quá thịnh này, tính tình liệu có tránh khỏi nóng nảy chăng?
Tế Phật: Nếu Thiên Đàng bốn mùa đều là xuân thì thế gian gặp lúc thời tiết nóng bức, có lẽ Tiên Phật ẩn mình ở nơi mát mẻ tại cõi Trời, không dám xuống trần gian chăng? Từ muôn ngàn kiếp trước tới nay, những người tu thành Tiên thành Phật đều có kinh nghiệm trải qua các loại khí hậu nóng lạnh trái ngược nhau nên có đầy đủ năng lực đề kháng ma lực ngoại giới xâm nhập và vây khốn. Con thấy hỏa lực ở đây quá mạnh là bởi vì con chưa thích ứng nổi hoàn cảnh ở Thiên Đàng, còn Tiên Phật đều đã tập sống quen nên nóng mấy cũng không còn cảm thấy nóng nữa. Như người phương Nam di cư lên phương Bắc, chắc chắn lúc đầu sẽ không chịu đựng nổi tiết trời băng giá, nhưng nếu sống một thời gian lâu, tự nhiên sức chịu lạnh sẽ ngang với người bản xứ, không còn cảm thấy quá lạnh giá nữa, ngược lại nếu trở về vùng nóng bức ắt lại cảm thấy khó chịu ngay. Vì vậy không ra công tu luyện, đương nhiên sẽ gặp hỏa tai, Tiên Phật làm sao có thể giáng phàm cứu độ nổi? Người thì thoát nạn mà Tiên Phật lại bị thiêu đốt há chẳng đáng nực cười sao?
Dương Sinh: Được nghe những lời ân sư vừa chỉ giáo đột nhiên con đại ngộ, nguyên lai cảnh hình hình sắc sắc được sắp bày ở Thiên Đàng là vì chúng sinh. Phật nói tất cả đều là không, tại sao Tây phương lại còn có bảy vật báu là: vàng, bạc, ngọc lưu ly, ngọc pha lê, ngọc san hô, ngọc trân châu, ngọc mã não? Đức Thế Tôn vốn nói: “Phàm có tướng là hư huyễn” (Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng) há chẳng mâu thuẫn sao?
Tế Phật: Đệ tử Phật nếu như chấp mê văn nghĩa hẳn là Phật pháp vô phương tìm kiếm nổi.
1. Đã nói tất cả đều không (nhất thiết giai không) tại sao còn có Thế Tôn, Như Lai, Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền bồ tát được? Bởi vậy đệ tử của Phật không được sinh tâm ngạo mạn khi thấy những cảnh hình tướng mô tả trong sách Thiên Đàng Du Ký này, nếu như phỉ báng hình tướng ở đây thì chẳng khác nào phỉ báng tượng Phật ở trong chùa vậy.
2. Ánh sáng và hỏa khí vốn quý báu ở chốn Thiên Đàng, đồng thời cũng là tinh hoa linh khí của Trời đất, Thiên Đàng sở dĩ hấp dẫn thế gian là vì người đời nghĩ rằng lên Thiên Đàng không ăn cũng chẳng sao, ý nghĩ này tuy tốt nhưng không tưởng. Vì các chúng sinh về được cõi Phật đều không hề có những sự tham muốn đó của người đời, sở dĩ tại thế giới cực lạc có hằng hà sa số châu báu, chúng sinh ở cõi Phật cũng không cho là quý. Tất cả những gì mà thế gian mong ước tại Thiên Đàng đều có cả, song không sinh lòng ham muốn nên cuối cùng tâm thanh tĩnh an nhàn, cuộc sống tiêu dao. Người đời coi vàng bạc là quý báu vì nó hiếm hoi, còn như nếu sỏi đá trong sông đều là vàng thì hẳn người coi vàng rẻ như rác, và lại coi thứ khác là báu vật. Phật có sức biến hóa vô cùng, muốn gì có nấy nên không sinh lòng ham muốn. Tất cả những gì có đều là hư vô, đó là chân nghĩa Phật, chúng sinh đã giác ngộ chưa?
Sở dĩ nói chư Tiên Phật ở trong cảnh giới quá nhiều hỏa khí như vậy nên hàm dưỡng được tính tình và hiểu biết được thiên cơ, nóng lạnh tự biết, tu dưỡng được tốt, lửa vô minh tuyệt đối không nổi dậy. Chúng ta mau tới lạy chào ra mắt đức Nam Hoa Đế Quân.
Dương Sinh: Ân sư quả là tinh thông tam muội, pháp Phật vô biên đã giúp đệ tử mê lầm của Phật giác ngộ mau lẹ, chân ngôn Phật pháp vô thượng này đủ sức dạy dỗ đời sau... thấy đức Nam Hoa tuy toàn thân rực lửa nhưng lại không cảm thấy nóng một chút nào quả là sức lửa cao sâu. Lạy chào ra mắt đức Nam Hoa Đế Quân, bữa nay đệ tử lại theo ân sư tới đây, kính mong đức Đế Quân khai mở lẽ đạo siêu diệu để hóa độ chúng sinh.
Đế Quân: Lành thay, tôi biết Dương Thiện Sinh thắc mắc không hiểu tại sao toàn thân tôi rực lửa mà vẫn không bùng cháy? Ha ha, bởi vì: “Không biết rõ mặt thật của núi Lư Sơn, chỉ nhờ có thân ở tại núi này”. Tôi là “Lão Hỏa” tức lửa già Bính, Đinh Nam Hoa, khối hỏa khí thấm nhuần khắp tam thiên đại thiên thế giới, khối lửa này người đời không thể chạm tới được, như đá nóng chảy thành nước, người đời đụng phải ắt bị bỏng cháy đớn đau, song bản thân đá nóng chảy chẳng hề động tâm, cho nên nói: “Ánh lửa không biết nóng, thiêu đốt thân ngoài thân” (Hỏa quang bất giác nhiệt, nhiên thiêu thân ngoại thân). Con người vốn đều có tâm Phật tính đạo, song bản thân lại vô tình chẳng hề hay biết. “Là Phật mà quên Phật” (Thị Phật nhi vong Phật) cho nên phải “đốt cháy tiêu tượng Phật bằng gỗ mới hiển lộ Như Lai chân thực” (Phần khử mộc ngẫu tượng, hiện xuất chân Như Lai). Kẻ mê hướng ngoại cầu đạo cuối cùng lìa bỏ nguồn cội, sống chết đọa đày, quên mất đường về. Do đó người đời phải “Ngoài thì lạy Phật ở chùa, trong thì tự tu kim thân” (Ngoại bái miếu trung Phật, nội tu kỉ kim thân). Như tôi biết rõ bản thân hỏa khí chiếu cùng khắp bốn phía, biết rõ mình ắt không còn nghi ngại, hiểu rõ người ắt không bị tổn hại, nếu như mình bố thí tiền của cho người, tuy bị tổn phí vật song tâm được vui vẻ, đó gọi là tự đốt cháy chính mình để soi sáng cho người, mắt phàm nhìn thấy cho là bị tổn thất nhưng mắt huệ nhìn lại cho là vô hại.
Dương Sinh: Người đời một sớm bị cảm mạo hỏa bốc bừng bừng có nên tìm thầy chạy thuốc để giải nhiệt không?
Đế Quân: Những điều vừa trình bày ở trên đã cho thấy hỏa nhiệt của mình sẽ không làm tổn thương đến bản thân đạo thể, đó cũng là lẽ đạo. Sức nóng trong cơ thể nếu vượt quá 37 độ gọi là phát nóng ắt phải tìm thuốc trị liệu để cho nhiệt độ xuống thấp tránh cho não bộ cùng ngũ tạng khỏi bị thiệt hại. Do đó có thể kết luận, cơ thể con người sức chịu nóng có hạn, nhưng hãy coi ngói chịu nóng chẳng hề sợ lửa thiêu đốt, bởi vì nó vốn là vật ở trong lò nung gạch nên thấy lửa chẳng hề sợ hãi. Lửa Nam Hoa căn cứ theo năng lực của người mà truyền trao nên không làm hại người. Dương Thiện Sinh hỏi tại sao lửa lại không đốt cháy thân thể tôi là vì chính tôi phát ra lửa, nên lửa chẳng thể làm hại tôi. Còn nếu như tôi tự hại tôi thì lại là phản bội đạo trung dung mất rồi, giống như kẻ có năm phần sức lực lại đem sử dụng tới sáu phần chỉ vì quá độ mà sinh ra nguy hiểm chẳng thể lường. Tu đạo cũng giống hệt như vậy, ta phải tập luyện cách nào cho vừa đúng với sức của ta, rồi đạo lực cứ như vậy mà tiếp tục tu tiến, phải tôi luyện tới mức được như lửa chịu nóng để cả trăm độ cũng chẳng hề hấn gì. Cứ chậm tiến từng độ một, chớ ngưng thử luyện thì mới khiến bản thân tiến bộ được về sức chịu nóng. Cho nên có câu nói về kẻ sau khi đã thành đạo: “Vào lửa chẳng chết cháy, vào nước chẳng chết chìm” (Nhập hỏa bất phần, nhập thủy bất nịch), như vậy há chẳng công phu lắm sao? Con người mà không vượt thoát khỏi số mệnh, cứ mặc cho bị số mệnh trói buộc đó là kẻ phàm phu. Tiết trời giá buốt, có kẻ mặc áo da, áo lông mà vẫn còn cảm thấy lạnh, có kẻ chỉ một manh áo mỏng che thân mà vẫn chẳng thấy rét. Cũng là thân người, nhưng lại mạnh yếu khác nhau, sức chịu đựng tự nhiên khác biệt. Do đó người đời phải làm cách nào phá tan được trở ngại cảnh giả tình đời cùng sự vây hãm của kiếp nhân sinh mới có được công phu tu đạo. Bữa nay Dương Sinh tới cung Nam Hoa, tôi vì chúng sinh mà thuyết pháp để giúp chúng sinh phá được mê lầm, hầu thích ứng nổi hoàn cảnh hỏa khí Nam Hoa, đó là vấn đề thiết thân của kẻ tu đạo vậy.
Dương Sinh: Những lời chỉ giáo vàng ngọc của đức Đế Quân vừa rồi đã mở trí cho đệ tử rất nhiều.
Đế Quân: Tôi không mở trí mà là dùng một mồi lửa đốt cháy tan tành sự tối ám để xem Dương Sinh có chạy nổi không?
Tế Phật: A ha, kính xin đức Đế Quân nương tay cho, sự tối ám đó còn đang tạm trú, nếu Ngài đốt cháy nó biết cư ngụ nơi nào?
Đế Quân: Nếu tôi không dữ một chút, hẳn còn tưởng là đang nằm trên giường êm ấm. Tôi quyết dùng lửa đốt, cũng chẳng cần đóng kín các cửa, chẳng cần mặc quần áo ấm, như vậy thật là tiện lợi, đã mau khô lại ấm áp.
Tế Phật: Muốn ngăn không thể được, lửa nóng của Ngài giúp nó ấm áp, nó sẽ sợ hãi chịu không nổi, còn Dương Sinh có cảm nghĩ thế nào về những điều đức Đế Quân vừa trình bày?
Dương Sinh: Thưa ân sư, con nghĩ là đức Đế Quân muốn thử con để xem con giác ngộ được ít hay nhiều? Giờ con xin trình bày về những điều hiểu biết của con để nhờ hai vị đạo cao đức rộng chỉ giáo giùm con.
1. Đức Đế Quân muốn dùng lửa đốt cháy lòng tham dục của đệ tử là muốn đệ tử thấy rõ được chân bản ngã của đệ tử. Kẻ ở trong lều tranh có ý nghĩ là được che chở an toàn, ở đó lâu sẽ sinh ra tính ỷ lại, không chịu đề cao cảnh giác. Nếu như trộm lén vào lấy đồ, lục lọi đáy rương ngăn tủ là nơi cất giấu vàng bạc, chính là mục tiêu mà kẻ trộm thường dòm ngó, nếu như rút lui khỏi chốn sinh hoạt ganh đua tự nhiên chẳng cầu tiến bộ, đức Đế Quân muốn đem lòng tham dục của đệ tử đốt cháy đi là có ý muốn cho kẻ trong khi được che chở bao bọc đột nhiên giác ngộ mà tự hỏi rằng: “Mình có cần ở tại đó không?”. Bình thường nhận lầm nhà là chủ, lúc đó nhận “ta” là “mình”, tự nhiên phát hiện ra được cái “chính ta”. Không còn một chút gì che lấp lời nói và hành động mới cẩn thận coi chừng, vì sợ nhiều con mắt dòm ngó cái xấu, khi đó “thực tướng sinh mệnh” mới lộ rõ ra, nên xa rời được tất cả mọi giả tướng.
2. Đức Nam Hoa Đế Quân dùng lửa đốt cháy lòng ham muốn phủ che của đệ tử cũng giống như lời Phật dạy: “Ba cõi chưa yên giống như nhà lửa” (Tam giới bất an do như hỏa trạch). Thứ lửa đó thiêu đốt chẳng một ai có thể cự nổi, người ta gặp hỏa hoạn đều lo chạy trốn, khi đó mới giác ngộ được là: “Việc đời chẳng bền vững, sống chết mới là việc lớn” (Thế sự vô thường, sinh tử đại sự), vất bỏ tất cả, chỉ cầu sự sống sót. Điều này đã mở trí cho những kẻ tu đạo hiểu rằng: Không được ỷ lại vào sức bên ngoài. Phải tự tìm đường sống, nếu không khi hoàn cảnh bên ngoài biến đổi thì thân mệnh mình nương tựa vào đâu?
Những điều đệ tử vừa trình bày chẳng hiểu đức Đế Quân xét thấy ra sao?
Đế Quân: Hay lắm! Gian lều tranh giả tạm chớ ngu ngốc ở lỳ, lười biếng chẳng chịu bỏ đi. Trời che đất chở tức là ngôi nhà lớn, lại còn ban cho sương ngọt, gió mát với mưa lành để có thể trồng tỉa mọi thứ ngũ cốc và hoa màu, không có lửa to và nước lớn đó là ngôi nhà vàng vậy. Những điều Dương Sinh vừa trình bày rất ứng hợp với những gì tôi nghĩ, lời nói siêu diệu có ẩn chứa thiên cơ, chúng sinh nếu lãnh hội được sẽ đắc đạo. Tính linh của chúng sinh nếu như giao tiếp được cùng tôi thì có thể an tĩnh được tâm thần gìn giữ được khí lửa đỏ tỏa khắp châu thân. Có lời tụng rằng:
|
Chu thiên tam khí |
Trời son ba khí |
||
|
Nam thượng ngọc môn |
Cửa ngọc phương nam |
||
|
Trung hữu đại thần |
Trong có đại thần |
||
|
Xích đế linh quân |
Xích đế vua thiêng |
||
|
Y chu đái phù |
Phù hiệu áo son |
||
|
Phi văn vũ quần |
Phấp phới quần lông |
||
|
Giá thừa xích long |
Cỡi trên lưng rồng |
||
|
Ngọc dư chung vân |
Xe ngọc lướt mây |
||
|
Nam hoắc linh sơn |
Núi linh phương nam |
||
|
Vạn thần cao tôn |
Tôn kính chư Thần |
||
|
Xuất nhập Tam Thanh |
Ra vào Tam Thanh |
||
|
Thượng yến cửu huyền |
Dự tiệc Cửu Huyền |
||
|
Xích khuê thị dịch |
Xích Khuê hầu hạ |
||
|
Ngọc Đồng vệ chân |
Ngọc Đồng bảo vệ |
||
|
Bả chấp giản lục |
Trình tâu sổ sách |
|
|
|
Chung bạc ngọc văn |
Văn ngọc giáng phê |
|
|
|
Hiệu định tiên phẩm |
Định bậc tiên phẩm |
|
|
|
Khinh trọng thượng văn |
Cao thấp nghe bình |
|
|
|
Kim nhật đại vương |
|
Bữa nay đại vương |
|
|
Linh ngục khai tiên |
|
Ngục linh tiên mở |
|
|
Thượng hồi vạn thần |
|
Trở lại muôn thần |
|
|
Giáng ngã tam môn |
|
Giáng tôi ba cửa |
|
|
Biến hóa anh nhi |
|
Biến hóa hài nhi |
|
|
Trấn tâm an hồn |
|
Trấn tâm an hồn |
|
|
Hỗn hợp nhị khí |
|
Hòa hợp hai khí |
|
|
Truyền ngã mệnh căn |
|
Buộc căn mệnh tôi |
|
|
Trường dữ chúc dung |
|
Thần lửa nuôi lớn |
|
|
Giá thừa cảnh vân |
|
Bay theo bóng mây |
|
|
Tiêu dao nam a |
|
Tiêu dao cõi nam |
|
|
Thiên địa trường tồn |
|
Trời đất trường tồn |
|
|
Bảo ngã trường sinh |
|
Giúp tôi trường sinh. |
|
Dương Sinh: Bài tụng thiêng liêng của đức Đế Quân ẩn chứa huyền cơ và sức mạnh thần bí, ước mong người đời thành tâm kiên trì tụng niệm sẽ rất linh nghiệm. Bức màn tham dục của tôi đã bị hỏa khí Nam Hoa đốt cháy thành biển lửa, ánh sáng xuất hiện lung linh, lửa giả thiêu khô thân thịt để đạo thành, từ giữa đống lửa tro lại xuất hiện một vị Như Lai kim thân.
Đế Quân: Lành thay, nguyên linh của Dương Thiện Sinh không bị mai một, đã chứng ngộ được đại đạo Nam Hoa, tạo được đạo quả phi phàm. Từ xưa tới nay các bậc minh sư truyền đạo có rất nhiều phương pháp, nào như lấy cây đập, dùng ngón tay chỉ, chửi mắng, dâng hoa, cười mỉm, vẩy nước, điểm hương, chữa bệnh, còn tôi là lão hỏa tinh tức tinh chất của lửa già nên dùng lửa thiêu đốt. Vì đời nay thế nhân thường chú trọng vào bề ngoài của những kẻ “giả sư” tức thầy giả dối không tu nội tâm, chỉ lo trang điểm bề ngoài đẹp đẽ nhưng chưa chắc về phương diện đạo đã là kẻ hiền lương; lầu cao nhà lớn lại là chốn có nhiều chuột chui rúc. Do đó mà tôi đã dùng lửa để thiêu hủy tượng giả, nhà giả, khiến bọn tiểu nhân cùng lũ chuột hiện rõ nguyên hình chính là tôi muốn mượn cách này để hóa độ bọn chúng.
Tế Phật: Ha ha… chúng sinh đánh đập không thức tỉnh, trỏ ngón tay không phá được mê, nước cam lồ rửa chẳng trong, lúc này cần phải tỉnh ngộ. Nếu như không nghe lời Nam Hoa cảnh cáo, ngày hiện rõ hình tướng xấu xa đã gần kề.
Dương Sinh: Uy lực và đạo quả Nam Hoa vô cùng lớn lao, không rõ đức Đế Quân hiện thời phụ trách sứ mệnh gì để phổ độ chúng sinh?
Đế Quân: Tam Tào phổ độ, Kim Mẫu Dao Trì thu hồi nguyên linh, Ngũ Lão cũng cùng chung lo phận sự. Thiên cơ huyền diệu, người đời chẳng thể đo lường nổi, ngày nay cơ duyên đã chín mùi, đặc biệt tiết lậu một đôi điều, để cung cấp chút tài liệu cho chúng sinh tham khảo:
Việc phổ độ nguyên linh do Dao Trì Lão Mẫu phụ trách, Quán Âm phổ độ, Quan Thánh trợ giúp. Nguyên linh của Quan Thánh Đế Quân vốn do Lão Hỏa tôi hóa thành do đó mới nói: “Thần áo đỏ trong cung tử vi” (Tử vi cung nội châu y thần), lúc sinh ra tim hồng mặt đỏ, tính nóng như lửa, chính khí lẫm liệt nhân nghĩa phủ ngợp mây trời, giữ vẹn được “ngũ thường” tức năm giềng mối là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đáng làm gương cho người tu đạo noi theo. Bất luận tại gia, xuất gia nếu như không tuân theo ngũ thường tức là bỏ kinh phản đạo, cuối cùng sẽ rớt xuống hố sâu ác đạo. Truyền thống đạo đức được ban bố, Thánh Hiền Đường phát huy giáo lý, Quan Thánh coi sóc việc phổ độ, thay thế tôi cứu vớt các nguyên linh, hoàn thành nhiệm vụ của Ngũ Lão, cho nên Thánh Hiền Đường ngày nay vâng mệnh Trời chấn hưng đạo lý. Quan Thánh do khí đỏ lửa già phương Nam sinh ra vào ngày hỏa nhiệt tháng sáu, tính tình cương trực dũng mãnh, qua ải chém tướng, sau khi quy thiên cư ngụ tại Trời lửa phương Nam, vì công phổ độ chúng sinh có một không hai, ân đức thấm nhuần khắp nơi khắp chốn, muôn đời đổi thay nguyên linh vẫn còn nguyên vẹn, cho nên được tôn vinh là: “Huyền Linh Cao Thượng Đế” cùng “Cứu độ nguyên linh, ân nghĩa như Phật”. Thế đạo âm khí dày đặc, nếu như không có khí lửa mạnh thuần dương giúp người đời hóa giải, sợ rằng chúng sinh rớt vào đường ma đạo chẳng thể siêu thăng. Vào thời mạt pháp này, chư Tiên Phật không còn đủ sức, các tôn giáo hỗn tạp không đồng đều, nhờ có Quan Thánh ban bố chính khí phò trợ việc phát huy đạo giáo để duy trì truyền thống đạo lý khỏi bị tiêu diệt. Cho nên hy vọng chúng sinh dưới gầm Trời tu học đạo pháp phải kính vâng Quan Thánh đập tan những chướng ngại ma quỷ hãm hại hiện thời để việc bảo vệ và phát huy đạo pháp được thành công.
Tế Phật: Chính khí của đức Quan Thánh cao sáng, nghĩa rợp mây trời, là bậc thầy của các cõi, ngày nay kẻ tu đạo phải coi đó là tấm gương quý báu mà noi theo. Xa rời hai chữ “chính khí” bất luận theo tôn giáo nào thì tôn giáo đó cũng là tà giáo, do đó đều phải vun bồi chính khí, không nên cho rằng Quan Thánh Đế Quân chỉ là một vị Thần thuộc hậu Thiên hoặc một vị hộ pháp nơi cửa Phật. Thực ra đức Quan Thánh vốn là một vị Kim Phật Kim Tiên, khi hiển linh một cách động thì là Quan Thánh, tĩnh thì là Như Lai, động tĩnh tuy hai nhưng tâm Ngài vẫn một, chúng sinh phải hiểu rõ điều đó.
Đế Quân: Tế Phật nói rất phải, có kẻ bảo là không nên vái lạy thần râu dài, họ không hiểu rằng Phật Như Lai còn sống tại phương Tây, râu Ngài phủ từ phương Tây qua phương Đông, phàm những ai có duyên đều có thể nương theo râu Ngài mà lên thuyền từ, không thể ôm mãi chân Phật, so sánh việc ôm râu Phật với ôm chân Phật thì ôm râu Phật cao hơn, kẻ tu đạo phải ôm được râu Phật mới không còn tánh ganh đua, thanh thoát tiêu dao. Sở dĩ có kẻ khởi tâm phân biệt bài xích râu Phật là họ đã bỏ gốc theo ngọn, giành nhau nắm chân nắm râu Phật, làm như vậy không những không được mà lại còn nguy hiểm. Đã sinh tâm ngạo mạn, tâm phân biệt, tâm phỉ báng tức là tâm với Phật đã rời xa nhau. Phải không ghen ghét đố kỵ mới tránh khỏi bị tan xương nát thịt. Chúng sinh pháp còn nông cạn thì nhìn gần, nhìn thiên lệch; mong rằng chúng sinh khi nghe tôi thuyết pháp bừng tỉnh giác ngộ, tu đạo học giáo, truy tìm cứu cánh thực tướng niết bàn, phật tính bình đẳng, chớ tự ngăn rào mà xa cách núi Linh Sơn.
Dương Sinh: Lời dạy của đức Đế Quân và ân sư hợp với đạo trung dung, tâm không thiên lệch, chấp mê tư kiến, so với các pháp sư ở thế gian khác xa một trời một vực. Ân sư và đức Đế Quân thuyết pháp ở trên Trời, coi chúng sinh dưới trần gian là một thể, cùng một lũ con đỏ, biểu lộ rõ pháp lực “thần thông quảng đại, Phật pháp vô biên”. Còn ngược lại đám pháp sư đại đức thuyết pháp ở dưới đất, họ chỉ nhìn thấy những cái trước mắt, do đó khi thuyết pháp tự nhiên bị giới hạn cho nên các tôn giáo ở thế gian mới sinh ra cái nạn đả kích, bài bác, phỉ báng, phân tranh lẫn nhau, ân oán trùng trùng khiến loài người thống khổ.
Tế Phật: Tính phiền não, ngoan cố của loài người không thể một sớm diệt trừ hết nổi, đường đạo ở thế gian đã dần dần mở lớn, mong chúng sinh chớ chấp mê đường nhỏ, phải lo đi khắp các nẻo đường lớn rộng để cho ngả đường nào cũng lên tới được nhà Trời đất Thánh, có như vậy mới không thành quỷ sa Địa Ngục.
Đế Quân: Để chứng thực cho những điều vừa mới trình bày, tôi xin hướng dẫn Dương Sinh đi thăm các vị ẩn tu đạo cao đức rộng tại Nam Hoa. Mời hai vị đi theo tôi.
Dương Sinh: Cảm tạ lòng từ bi của đức Đế Quân đã khai mở lý đạo vô cùng siêu diệu, giúp ích chúng sinh rất nhiều... Tòa lầu rực hồng phía trước, gian nào gian nấy sáng trưng như ban ngày, ánh hồng không ngớt tỏa ngời, không rõ nguyên nhân tại sao?
Đế Quân: Các vị đạo cao đức rộng đang tụ tinh, hội thần và luyện hơi thở theo dũng khí Nam Hoa do tôi hướng dẫn, do đó mới phóng nổi điển sáng đỏ như vậy. Dương Sinh hãy nhìn cảnh đêm trần thế ở về phía bên trái xem có kỳ diệu không?
Dương Sinh: Đức Đế Quân dùng tay khoa khoa trước mắt tôi, đột nhiên thấy đêm trần gian hiện ra bên phía tay trái, ánh đèn nhà, đèn đường lấp lánh sáng ngời, nhà cửa đường sá giống y hệt như đã từng nhìn thấy, bức tranh này quả là tuyệt đẹp.
Đế Quân: Bức tranh đêm trần gian này ngầm ẩn chứa nhiều bí mật về thiên cơ. Ban đêm ánh sáng Nam Hoa ngời chiếu khắp cùng mặt đất, người đời tuy có thiện có ác nhưng không phân biệt nhà thiện với nhà ác, họ đều cần tôi giúp đỡ, tôi không còn nhớ ai thiện ai ác, chỉ dốc lòng hướng dẫn họ tiến về nẻo ánh sáng, đây chỉ là một chén nhỏ ánh sáng sinh mệnh nên lại càng cần ánh sáng nhiều hơn để soi tỏ tối tăm. Nhưng không rõ người đời có tiến tới được không? Nhìn lại cảnh các tu sĩ ở Nam Hoa phát động khí hạo nhiên ngay tại nơi này, tâm vị nào vị nấy không ngừng tỏa chiếu hào quang trí huệ, và cứ tiếp tục như vậy trong một khoảng thời gian để đợi điều chỉnh linh thể có đầy đủ chân khí xong, lát sau ngũ khí triều nguyên, năng lực vô cùng mạnh mẽ, đường đạo viên mãn kể như đã đi xong, tha hồ tiêu dao khắp miền pháp giới. Dương Thiện Sinh có thể thỉnh giáo về kinh nghiệm tu đạo mà quý vị đó đã trải qua để làm tấm gương sáng cho chúng sinh tu đạo soi chung.
Dương Sinh: Hay quá, có cảm giác như một khối hào quang tròn đầy bay thẳng tới, thì ra đó chính là thần thức của các vị Tiên chân do tự mình tu luyện. Thân các vị đó là một khối hào quang khí thế phi phàm, vị nào vị nấy giống như một “quang nhân” tức người ánh sáng, trong suốt mới mẻ đáng yêu vô cùng. Thưa, có phải vị là đạo sĩ xuất gia không? Thân mặc cà sa, đầu ngời tỏa những vòng hào quang, tướng mạo trang nghiêm, xin hỏi vị đã tu luyện cách sao mà đạt được cảnh giới đạo quả này?
Thánh Phật: Dương Thiện Sinh tới được nơi đây thật quá hay, quả là đại nhân duyên, đúng là một chúng sinh dưới gầm Trời được ban ân phước. Người khác không thấy được chánh pháp ẩn chứa trong mắt, còn Dương Thiện Sinh thì lại mắt vàng ẩn ngọc, thấu tỏ được chân bản ngã, lão tăng xin chúc một câu: Thiên Đàng Du Ký có thể tiếp nối được Kinh Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh, có thể nói là tả đúng được kinh Phật chân truyền, đã đem Phật pháp quảng bá giữa thời đại mới, đây là một cuốn chính kinh của thời kỳ mạt pháp ở thế gian, mong các đạo hữu cùng tu nơi cửa Phật, vứt bỏ ngã tướng, đốn ngộ nhập môn để đắc chính đạo. Tôi quy y cửa Phật lúc mười lăm tuổi, pháp danh Thiền Y. Khi mới bắt đầu học Phật tu đạo, phải thức dậy vào lúc năm giờ sáng, quét cả bên trong lẫn bên ngoài chùa, tẩy trừ sạch sự động loạn cùng trần trược bên ngoài rồi mới học chữ xem kinh, sau đó lần lần quét dọn sự nhơ bẩn bên trong nội tâm nội tạng xong mới được minh sư chỉ dạy phép tọa thiền. Năm tháng qua mau như nước chảy, chớp mắt đã ba chục năm qua, tam tạng kinh điển nhà Phật nhờ chịu khổ cực chân thành đọc tụng nên tâm đã lãnh hội được ý nghĩa uyên thâm của lời Phật dạy. Ngày nọ trong lúc đang thiền định chợt nhìn thấy ba loại cây ăn trái kết trái vàng ửng, sáng ngời rồi rụng từng trái một, chính là “bầu chín núm rụng”, lúc ấy cành lá của ba cây này lay động không ngừng, khác miệng nhưng cùng nói một lời: “Chúng tôi nhẹ nhàng thoải mái, không còn vướng mắc, trói buộc”. Lát sau lá cây rụng hết, lại nghe ba quả trên cây cùng hoan hô nói: “Hiện tại không còn lá (nghiệp), toàn thân nhẹ nhõm, ngày đêm chẳng còn đeo mang”. Sau khi tỉnh dậy, thốt nhiên đại ngộ. Từ đó, đối với việc ngộ đạo tu hành công phu càng thêm tích cực, đối với kinh điển lãnh ngộ, so với thời gian trước đây mau lẹ hơn, cái nhìn cũng sâu sắc hơn. Ba cây sinh trái này có thể tỉ dụ với Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo, tam giáo này cũng sinh trưởng trên trái đất, tuy cành lá to nhỏ khác nhau, song nguyện vọng của họ là khai hoa kết trái để cung cấp cho chúng sinh vật thực, đó là tinh thần giúp đời cứu người, chính là sự hóa thân của Thánh Hiền, bởi vậy chúng ta phải tôn sùng kính trọng tam giáo như nhau. Sau khi bầu chín thì rốn và lá rụng xuống cội, trở về được chân bản ngã, chính ngụ ý là người tu đạo không được cố chấp và tham muốn, cần bỏ thì bỏ liền, muôn việc muôn vật thuận theo tự nhiên, gặp trở ngại dễ khiến tâm phiền não, thần trí tối tăm, khiến không thể nào khai sáng tâm tính nổi. Nếu như giữ mãi tính đó sẽ không thể nào trút được gánh nặng, càng bước càng bị lún sâu, muốn lên Thiên Đàng cực lạc xa xôi hẳn là phí thì giờ và chậm trễ. Ví thử bỏ được gánh nặng chắc chắn sẽ thư thái sung sướng vô cùng, khi đó chỉ cần bước một bước ngắn là lên tới Thiên Đàng.
Trong thời gian tu đạo tôi đã tuân theo nguyên tắc quảng độ chúng sinh, đối với các tín đồ của các giáo phái tôi tôn trọng ngang nhau, khuyến khích họ gắng tìm tòi những điểm tinh túy nơi chân lý của tôn giáo họ, sẽ tùy duyên quy y mà vui đạo, việc tu thân đều thành tựu. Tôi như một vị từ phụ thánh sư, vì không khinh khi họ nên tôi được họ coi trọng, được như vậy là nhờ tôi đã thể ngộ được chân ngôn Phật pháp. Trong khi hóa độ những kẻ có tâm tôi cũng tùy duyên truyền pháp chỉ giáo, đó là nguyên nhân ngày nay tôi thành tựu. Phải trải qua biết bao ma nạn khảo đảo tôi luyện mới có thể đứng vững nổi, mới bò lên tới được tầng trời Ngũ Lão, tại đây tôi tu luyện Phật pháp lại càng sâu hơn. Nhờ lửa đèn pháp của Phật, tôi hấp thụ được kinh nghiệm kim cương nung lửa nên tôi đã tự luyện mình thành thép cứng. Phàm thân sống tới bảy chục tuổi thì chết, tính linh bay lên cõi Thiên Đàng cực lạc, cảm tạ chúng sinh đã giúp đỡ tôi cơ duyên, họ đã trợ lực cho tôi để tôi tu thành chính quả Phật, nếu như không có họ không thể có tôi, coi trọng chúng sinh cũng là cách đề cao mình. Hy vọng những ai tu đạo nơi cửa Phật nên hiến dâng tâm Như Lai của mình.
Tế Phật: Đại sư Thiền Y, ngài quả là đã đạt, thể-ngộ được giáo pháp của Phật Đà, do đó mà có được thành quả như ngày nay, xin kính mừng.
Đại Sư: Tế Phật quá khen, còn Phật sống hành động siêu nhiên ngoại vật, giờ đây cũng gánh vác trọng trách phổ độ chúng sinh lao khổ ràng buộc.
Đế Quân: Dương Thiện Sinh hãy tiếp tục phỏng vấn để biết rõ thêm về kinh nghiệm của các bậc cao minh thành đạo.
Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã nhắc nhở. Các vị đạo sĩ cao minh dung nhan nhân từ tươi tắn, toàn thân ngời tỏa hào quang, quả thực siêu phàm. Kính thưa, Ngài đã tu luyện cách sao mà đạt được đạo quả cao vời này?
Kim Tiên: Tôi không hề tu đạo hành pháp mà chỉ bố thí cùng làm việc thiện không cầu danh, không mong đền đáp, không ngờ việc tu nhân tích đức ở cõi phàm trần lại giúp tính linh của tôi thăng hoa lên được cõi vô cực này. Khi tôi còn sống ở thế gian làm nghề bán tạp hóa để sinh nhai, không hề tham lời nhiều bán quá giá, đối xử tử tế với mọi người, không lừa già dối trẻ, do đó việc buôn bán mỗi ngày một phát đạt, kiếm được rất nhiều tiền. Vì tính yêu Tiên Phật, thường đến đền chùa thắp nhang lễ bái Thánh Phật, phàm tu sửa chùa miếu đổ nát tôi đều hoan hỷ cúng tiền. Dân nghèo gặp lúc cùng quẫn, tôi thương xót bố thí tiền bạc để cứu giúp, in kinh sách Phật tặng không; ra sức làm việc thiện, tu thân khắc kỷ, không dám phạm điều sái quấy, suốt đời không man trá, kiên nhẫn giữ gìn luân lý đạo đức, bố thí không cầu danh, không mong đền đáp, chỉ vui vẻ làm mọi việc thiện một cách vô tư.
Tôi vẫn thường nghĩ rằng: những của cải, tiền bạc mà tôi có được là do Trời mượn tay tôi để trao cho người khác chứ không phải chỉ cho một mình tôi để tiêu xài riêng, do đó coi tiền tài như rác, dốc lòng bố thí cho kẻ nghèo. Suốt đời chăm lo hành đạo, gặp sự khó khăn nhục nhã không hề than oán, hưởng thọ được 82 tuổi trời, khi thác tính linh phiêu diêu thăng tiến Thiên Đàng, phải trải qua biết bao gian nan khảo đảo bữa nay mới tới được cung Nam Hoa, gần gũi cõi hoàn nguyên.
Xin nhắn nhủ chúng sinh, kẻ tu đạo chớ tham lam mưu cầu danh lợi, tự mình tu được bao nhiêu, cuốn sổ tâm ghi chép đầy đủ, còn nếu khoe khoang lộ liễu sẽ phá hư mất đạo quả mà thôi.
Dương Sinh: Bố thí không cầu danh, quả vị đạt tới được là siêu thăng khỏi vòng khí tượng, lên đến cảnh giới Thiên lý vô cực, chứng ngộ được thứ hoa nào thì kết thành loại trái ấy. Chớ mong may mắn được thành công cũng không cầu may mắn được thành đạo.
Tế Phật: Kính cẩn nghe các vị đạo sĩ cao minh thuyết pháp, giúp ích chúng sinh rất nhiều. Cảm tạ đức Đế Quân đã tận tình giúp đỡ khiến sách Thiên Đàng Du Ký có được nhiều điển quang.
Đế Quân: Đúng vậy, đạo lớn Nam Hoa chỉ có một điểm “Linh quang thường diệu” tức là điển quang linh thiêng luôn luôn chiếu sáng một cách siêu diệu. Mong người đời gìn giữ điểm quang minh của tâm này để rồi chắc chắn điển quang hợp cùng điển quang trở về được cõi Nam Hoa thắng cảnh. Nam Hoa tỏ bày tới đây đã được một phần, mong chúng sinh thể ngộ được những lời chân thành đó.
Dương Sinh: Cảm tạ đức Đế Quân đã chỉ giáo cho, ánh sáng của sách Thiên Đàng Du Ký là do điển quang của Ngài gia hộ, để soi sáng cho chúng sinh u mê tối ám, mong những ai đọc sách này sẽ tỏ lòng tri ân những điều chư Tiên Thánh chỉ dạy mà mình đã hấp thụ được. Xin cáo từ đức Đế Quân.
Tế Phật: Dương Sinh lên đài sen, chuẩn bị trở lại Thánh Hiền Đường.
Dương Sinh: Con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
Đức Thầy giảng: [43:20]
Tới đây tạm ngưng. Các bạn đã thấy rằng tất cả những cơ năng siêu diệu ở bên trên của cảnh Thiên Đàng - Ở đâu bây giờ, tìm ở đâu bây giờ? Nó nằm ở ngay trong một cái Tiểu Thiên Địa của các bạn, đầy đủ hết sự cấu trúc của siêu nhiên mà có.
Ta có hỏa, nếu mà chúng ta hướng thiện thì hỏa nó sẽ thiện, mà nếu chúng ta hướng về ác thì hỏa nó sẽ biến thành lửa thiêu thân. Rồi chúng ta lấy cái lửa thiện để làm gì? Để đốt cái tánh phàm, sự ác độc, sự tăm tối, sự nghi kỵ, sự khờ khạo, đốt cháy nó đi, lấy cái thiện hỏa mà đốt.
Cho nên các bạn đã có hỏa, ngồi truy niệm Nam Mô A Di Đà Phật lên trung tim bộ đầu là hỏa trong bản thân Tiểu Thiên Địa này thừa tiếp với thanh quang là điển Trời, hỏa Trời, để đốt cái bản chất phàm tục mỗi đêm, mỗi phút, mỗi giờ công phu Soi Hồn, Pháp Luân, Thiền Định của các bạn.
Tôi đã đốt nó mấy chục năm rồi tôi mới thấy được một phần nhàn hạ. Tôi thấy rằng tôi sống cảnh nào cũng được, không còn sự lo âu, đòi hỏi phải lên Thiên Đàng như lúc đầu mới tu, không. Vì tâm tôi vô quái ngại, không bận rộn, không có thiện ác; chỉ đốt cái sự trần trược thì mình thấy nó lộ hẳn ra từ quang, từ bi. Đó cũng là lửa, mà lửa đó là lửa từ bi, lửa cứu độ. Cho nên có những vị gặp tôi rồi… (45:12 nghe không rõ), rồi nói đây là hỏa Phật, nhưng mà hỏa đâu mà Phật.
Cho nên nhiều người, các bạn có nhiều vấn đề muốn hỏi tôi, khi gặp tôi là nó lại mất hết, vì cái từ quang nó đốt các bạn, nó đốt, nó đốt cái phàm tâm của các bạn. Cho nên các bạn noi đó để cho các bạn thấy rõ rằng một người tu, mang xác trần tu mà được, nhận được cái thanh quang đó, vậy ta có đường lối khứ trược lưu thanh và xuất phát luồng tâm điển của chúng ta ra thì chúng ta sẽ nhận cái gì? Cũng nhận được từ quang y như hành giả đã đi trước. [45:55]
Thì mỗi người thực hành như vậy, các bạn thử nghĩ chúng ta còn sự tranh chấp nữa không? Không! Chỉ biết dụng từ tâm thực hiện sự tha thứ và thương yêu, cứu độ… thì quả đất nó mới được yên, chỗ chúng ta ở mới được yên, tình người nó mới bộc khởi ra trong sự thương yêu và giúp đỡ.
Cho nên nhiều người chưa, còn ở trong chấp, ở trong lý… cũng đọc Thiên Đàng Du Ký mà gom cái lý, không có hành; học một chút cái lý đó rồi tưởng bán được cái lý để ăn - tự gạt mình. Còn đằng này chúng ta không có. Thực hành… rồi đọc ra Thiên Đàng Du Ký… chúng ta đã đi tới đó rồi, đã mở rồi, đã hành rồi, đã khai triển rồi, đã tự đốt rồi, tự phá mê rồi, tự phá chấp rồi.
Cái gì mà nó phá mê phá chấp? Ngọn lửa của chúng ta càng ngày càng dâng Trời, càng hướng thượng, thì thanh thừa thanh, nó hóa giải tất cả những sự trần trược trong nội tâm của chúng ta, là đã được đốt rồi. [47:04]
Tại sao chúng ta ngồi, phải hướng Nam? Điển của Nam Hoa vẫn đốt, vẫn thường trụ, vẫn thường độ. Khi dùng nguyên ý Nam Mô A Di Đà Phật, lấy Phật pháp dẫn tiến luồng điển của chính chúng ta, thì thừa tiếp thanh quang, tự nhiên được tận độ.
Cho nên cái tâm các bạn càng tu, càng thiền càng suy gẫm, càng sử dụng sự sáng suốt của chúng ta, mà hướng thượng rồi, với thật tình thật tâm, các bạn thấy rằng tâm nhàn hạ, không có sự tranh chấp; dễ dãi với tất cả mọi người ngay trong nhà, các bạn ở ngoài đời.
Rồi thấy cũng nhiều bạn mới vừa vô tu thì cũng cảm thấy tôi tại sao tôi nóng? Đó! để mình thấy rõ cái bản chất nóng mà mình hướng thượng, để sử dụng, tận dụng, đem nó đi lên; nó có dịp hòa với thanh. Cũng là hỏa, nhưng mà diệu pháp, không phải là sát pháp nữa.
Nếu chúng ta lấy cái hỏa tâm mà động loạn và gây gổ với người khác, đó là ác pháp, tăm tối. Mà chúng ta khai mở… bất cứ những sự chấn động gì ở xung quanh ta có thể xảy tới tánh mạng đi nữa chúng ta cũng vẫn hướng thượng trong bình tâm. Vì chúng ta hiểu cái luật sanh tử trường tồn, đâu còn phải sợ nữa!
- Sợ cái gì mà động? Cái gì làm cho chúng ta sợ?
- Vì tăm tối, chưa quán thông làm cho ta sợ.
Khi sợ thì phần khác có thể nhập xác ta. Mà khi chúng ta không sợ thì hoàn toàn là tự chủ. Sanh tử chúng ta minh luận rõ ràng rồi, không có gì có thể nhập xác chúng ta.
Chúng ta hướng thượng để giải tỏa cái phần trược đó thì tự nhiên mọi việc đến với chúng ta sẽ bình định và an toàn.
Cho nên các bạn tu thiền ở khu vực nào mà sử dụng đúng nguyên năng thực hành của Pháp lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí thì các bạn sẽ đem lại sự an lành cho khu vực đó. Chắc chắn nó như vậy. Vì sự liên hệ của các bạn là thể hiện trong ba cõi, không phải một cõi. [49:14]
Cho nên Pháp Lý Vô Vi, tại sao những cái đạo khác lại không có ông này tới, ông kia tới, Pháp Lý Vô Vi ông nào cũng tới? Tới kiếm nó, vì nó chịu tu; độ cho nó để cho nó tiến. Chúng ta phải cảm ơn, và chúng ta phải chịu học và thực hành cho đúng pháp để tìm ra chính chơn tâm của chúng ta đang trụ ở đâu, và chúng ta hướng thượng để tận hưởng những gì bên trên sẵn có. Mà bất cứ giá nào, quyết tâm không thay đổi. Đừng đi nửa chừng rồi thay đổi… thì nó mất công. Bao nhiêu kiếp mới ngộ được một chút đạo, mà tới đó chúng ta tắc nghẽn, quẹo qua một con đường khác, rồi các bạn thấy, bao nhiêu kiếp mới trở lại sự chơn chánh đó.
Cho nên cái chánh pháp rất khó ngộ. Ngày hôm nay các bạn có duyên lành, và các bạn nắm trọn cái pháp trong tay và để cảm thông cái cảnh huyền vi trong nội thức của bạn, và hướng thượng để hòa tan với cảnh huyền vi vĩ đại của Trời đất. Cái chuyện đó, các bạn học ở trong trường bao nhiêu kiếp; gia đình không có ai dạy các bạn được. Những cái nhân duyên này, những cái cơ hội này mới dạy cho các bạn thấy rõ để các bạn thấy rằng các bạn không phải là đồ bỏ đâu, rất quý. Thật sự là một nguyên linh rất quý cho cả Càn Khôn Vũ Trụ, không nên tự kỳ thị và đem sự tăm tối giam hãm phần sáng suốt của mình; luôn luôn vun bồi sự sáng suốt trong tiến trình nhịn nhục và tha thứ.
Thành thật cảm ơn sự hiện diện của các bạn ngày hôm nay! [51:07]
Hết cuốn 14 - ID# 00000000L33