00000000L3
NGUYÊN LÝ TẬN ĐỘ - Cuốn C&D
Mục Lục
Một Kiếp Phù Sanh ..................................................... 1
Thiền ........................................................................... 4
I
Vũ Trụ và Con Người .................................................... 9
Thi Đua Trần Tục........................................................ 11
Chung Tiến Hòa Bình ................................................. 13
Phục Vụ & Cộng Hưởng Hòa Bình............................... 15
Ghét Thương Tận Độ................................................. 17
Cầm Thú và Loài Người.............................................. 19
Thế Huyền Kinh ......................................................... 21
Lương Tri Lương Năng ............................................... 23
Điếc Câm ................................................................... 25
II
Cuộc Sống ................................................................. 29
Tình Trời .................................................................... 33
Trí Tâm...................................................................... 35
Thành Thật................................................................ 37
Tình Thương và Đạo Đức ........................................... 39
Dũng Mãnh Thành Tâm............................................. 43
Sức Khỏe và Tâm Linh ............................................... 45
Dưỡng Sinh................................................................ 47
III
Hành Trình Sáng Suốt................................................ 51
Nhận Định Cõi Phù Sanh............................................ 53
Vui Hành Thanh Tịnh.................................................. 55
Khí Điển Tâm Hành.................................................... 57
Trực Giác Điển Giới ................................................... 59
Thuận Chiều Phát Triển.............................................. 61
Khoác Áo Tình Thương............................................... 63
IV
Dứt Khoát Tự Cứu ...................................................... 67
Dứt Khoát Chủ Kiến ................................................... 69
Trung Tín ................................................................... 71
Dốc Lòng Tu Sửa ....................................................... 73
Cấu Trúc Siêu Nhiên................................................... 75
Trật Tự Chung Hành................................................... 79
V
Mưu Mô .................................................................... 83
Đại Sự Chung............................................................. 85
Thảm Kịch Miền Nam ................................................ 87
Dân Ngu.................................................................... 91
Tình Mẹ ..................................................................... 93
Dân Chủ và Nhân Quyền........................................... 95
VI
Sứ Giả Hòa Bình...................................................... 101
Sứ Giả Hòa Bình (II) ................................................ 103
Hồn Thiêng.............................................................. 105
Cô Gái Phù Sanh ..................................................... 107
Ðóa Hoa Hồng ........................................................ 109
Tôi và Anh ............................................................... 111
Kỉ Nguyên Di Lạc ..................................................... 113
MỘT KIẾP PHÙ SANH
Tôi tên là Lương Sĩ Hằng sanh năm 1923, đã được sống trong cõi phù sanh này trọn 74 năm tròn, dấn thân trong thực hành tu học, vượt qua biết bao nhiêu cảnh dối trá lường gạt của tình đời đen bạc, từ sự thanh nhẹ cho đến sự nặng trược của xác lẫn tâm, từng rơi lụy trong khổ cảnh đau thương tàn phá bởi chiến tranh, cảm thấy chính mình và người dân vất vả vô cùng, nên luôn luôn muốn tìm ra sự công bình của xã hội và Trời Đất. Từ sự dấn thân trong thực hành đó, tôi mới cảm nhận được nguyên khí của Trời Đất là quan trọng nhứt cho cuộc sống.
Qua thiên cơ biến chuyển bão lụt tàn phá vô cùng, làm nhà tan cửa nát ở miền Trung mà tôi đã dự từ lúc ấu thơ, tôi đã có cơ hội nhìn thấy Bát Tiên bay qua trong lúc cực kỳ nguy hiểm. Lúc ấy tâm thức của tôi quên đi sự lo âu, đói rách sắp xảy đến cho cả gia đình chúng tôi. Rồi sau sự chuyển động mạnh mẽ của thiên cơ, thì đâu cũng vào đó, mọi người chung vui và xây dựng trở lại một cuộc sống mới.
Từ đấy, tôi bắt đầu tìm đến sự huyền bí của Trời Đất, thích nghe kinh kệ trong chùa. Đêm đêm chạy chơi và thường ghé nơi tụng niệm của nhiều người sắp xếp trong trật tự, đứng ngoài cửa sổ nhìn vào, mê mẩn nghe những lời kinh kệ đã làm cho cảm động lòng tôi đến muỗi cắn cũng không đập.
Càng ngày càng lớn, tôi càng bơi vào biển động của tiền tình duyên nghiệp, nhưng chẳng thấy sướng chỉ thấy toàn là khổ nhục mà thôi. Những khi ấy tôi nhớ đến Đức Phật Thích Ca đã hành thiền đơn độc, sự tích này đập vào tâm hồn của chính tôi, ngày đêm tôi tưởng nhớ đến khổ công hành triển của Ngài.
Duyên lành lại đến với tôi là gặp được Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp.
Từ đấy, ngày đêm tôi lo niệm Phật để tự thức tự giải tất cả những sự mê lầm của chính mình từ bao nhiêu năm đã và đang sống trong cõi phù sanh này.
Nhờ dứt khoát dày công tu luyện, đêm đêm hành thiền, bất chấp sự gian lao và khổ cực, có tiền cũng tu, không tiền vẫn tu, nên mãi cho đến nay tôi vẫn khỏe mạnh và làm việc nhiều hơn lúc còn trẻ. Nhờ Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp, nay tôi có thể hiểu được nhiều việc trong một lúc mà chẳng lao tâm cực trí, tự cảm thấy làm như không làm, nói như không nói, lúc nào cũng an yên và thanh nhẹ, khí điển dồi dào trong lúc phục vụ bất cứ ở lãnh vực nào.
Ước mong các giới đọc qua quyển sách này sẽ ý thức khả năng tin yêu Phật Pháp của chính mình mà hành thiền thì sẽ có kết quả đồng nhứt như tôi đã đạt.
Chúng ta sẽ có ánh sáng từ bi tại mặt đất, nhiên hậu mới đem lại sự chung vui hòa bình và hạnh phúc cho nhơn loại của quả địa cầu này, tự động dứt khoát tham sân, cùng chung hướng về thanh tịnh mà cầu nguyện cho nhơn tâm tự thức và yên vui.
THIỀN
Qua những chuỗi ngày vật lộn với đời, ai ai cũng mệt mỏi muốn có được giờ giấc nghỉ ngơi và thoải mái, nhưng không sao gặp được pháp tốt để hành triển. Bắt buộc phải hướng tâm về tiền tình duyên nghiệp, bị dày xéo tâm can mang bệnh mà không lối thoát. Trang sử động loạn đã và đang bước qua thiên cơ biến chuyển cực khổ vô cùng, bắt đầu mới tìm đếnnguyên lý sanh tồn của Trời Đất.
Khi cảm thức được ồn ồn ào ào rồi đâu cũng sẽ về đấy, và rồi trật tự của chính mình hòa hợp với Trời Đất là quý giá thì mới bằng lòng tìm một lối thoát cho chính mình, tức là Tu. Tu sửa trong trật tự, tự đạt đến thanh tịnh, chỉ có thiền mới đạt được sự quân bình và giác tâm, phát triển huyền bí của nội tâm.
Có một không hai là mang xác làm người có khối óc sống động vô cùng. Trí tâm thanh nhẹ nhờ dứt khoát được chủ kiến, thành tâm tu thiền là sẽ tự giải được nghiệp tâm. Bằng lòng co lưỡi răng kề răng niệm Phật cho đến lúc khai mở được điển tâm, tức trung tim bộ đầu. Khí tinh trụ, điển tâm xuất phát hòa hợp với tinh ba của vũ trụ thì phần hồn càng thức giác được sự huyền vi của Trời Đất mà hành triển, tâm lẫn than sẽ được bình an. Hòa hợp với nguyên khí của Trời Đất, âm thinh sẽ được dung hòa và truyền cảm.
Chỉ có thiền đúng pháp khứ trược lưu thanh thì mới đạt được điểm tốt của Trời Đất mà hành sự tận độ quần sanh, qua những lời chân thật đã tự đạt. Chỉ có thiền mới hội tụ được điển; chỉ có điển thì mới hòa hợp với điển giới, phát triển siêu thức của hành giả, hội nhập với từ quang diệu thanh của đấng Đại Bi toàn năng, bằng lòng dấn thân phục vụ quần sanh, dẫn tiến tâm linh phát triển đến vô cùng – không biên giới, không giới hạn, thật sự thực hiện tình thương và đạo đức.
Duyên may mới được nghe qua pháp tu thiền tự thức là Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp, một pháp cho tất cả mọi pháp, chỉ có thực hành sẽ được đến nơi tươi sáng của Trời Đất.
I
VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI
Xác thân của loài người liên hệ rất mật thiết với chấn động của vũ trụ. Cơ tạng bao gồm tim, gan, tì, phế, thận gồm có chất loại như: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, hình thành trong trật tự, hiện ra ngũ sắc ngũ quang, huyền sắc huyền quang vận hành bằng biển máu chuyển chạy toàn thân. Xương sống đứng là vũ trụ, phân chia các ngành xây dựng thâu phóng điệnnăng của vũ trụ, che chở cuộc sống của ngũ tạng.
Tất cả cấu trúc đều tinh vi trong tự nhiên và hồn nhiên. Qua nguyên lý thành tựu của Trời Đất, con người là nhân lành của Trời Đất, thực hiện chi tiết sanh tồn mà tiến hóa. Gom gọn gọi là Tiểu Thiên Địa. Bên ngoài có gì thì bên trong có nấy. Tương ứng mà cảm nhận mầu sắc thanh trược của Trời Đất để khai triển tâm linh.
Muôn hình vạn trạng đều từ một nguyên lý mà sanh ra. Gốc gác của nó là thanh tịnh ban chiếu bằng từ trường thanh nhẹ gọi là diệu pháp. Có có không không mà tiến hóa.
Chưa minh nguyên lý gọi là tham. Tưởng lầm là thật sự đã am tường và hiểu biết. Kỳ thật chỉ biết dược một góc nào mà thôi. Cuối cùng của nó là ánh sáng hay là bóng tối vô cùng tận, theo luật quân bình giữa con người và vũ trụ.
Người tu cũng vậy, phải am tường nguyên lý vô sanh mà hành sự thì mọi việc sẽ được vững vàng trong chu trình tiến hóa. Khai triển điển tâm, phát triển tâm linh thoát tục tại thế thì mới thấy đường tu rõ rệt, mới dấn thân hành pháp và phát triển toàn năng ý lực vô sanh và bất diệt. Tự cảm thức siêu lý diệu thâm ẩn tàng trong thanh tịnh giới. Dứt khoát thực hiện đờiđạo song tu. Quý yêu mọi sự dũng mãnh tiến hóa của mọi sinh linh đương hành trong tinh thần dứt khoát. Bằng lòng hướng về thanh tịnh thực thi và phát triển tâm đạo quân bình tự đạt. Liên hệ với luồng điển thanh diệu của Đại Bi mà phục vụ quần sanh, khai triển từ giai đoạn một, hội nhập với siêu nhiên mà tiến hóa, vô hình vô tướng thì sẽ không bị sự giới hạn mức tiến của tâm linh.
THI ĐUA TRẦN TỤC
Thế gian phân ra kẻ Á người Âu, đều thực hành tiến giải theo nguyên lý của Trời và Đất. Gom gọn một nơi để giam hãm tâm linh. Phát triển dục vọng trong chu trình tiến hóa. Thế gian đô thị giả, cho nên việc gì trọng đại rồi cũng sẽ trở về không, chỉ có tâm linh phần hồn phát triển hướng thượng, nhiên hậu mới hội tụ về gốc gác xán lạn vô sanh bất diệt thì mới được tồn tại.
Nhân gian nối đuôi nhau cầu tiến trong sự phân chia và giành giựt. Rốt cuộc cũng sẽ về không! Vì thể xác và khối óc đều giới hạn. Trừ phi gặp được một pháp tự tu tự giải thì mới đạt được nền tảng hư không và thanh tịnh. Mới tự cảm thấy sự liên hệ giữa Trời và Đất thật sự là vô cùng tận. Nếu bằng lòng hướng về cõi thanh mà tiến hóa, tự vượt khỏi những tần số ô trược thì mới cảm thấy giá trị của sự thanh cao là tự cứu. Ngược lại, ôm chấp tạo mê thì chỉ rước khổ vào tâm mà thôi!
Pháp tự cứu thì rất khó tìm, nhưng lượm được pháp mà không hành thì sẽ càng khổ thêm. Càng ngày càng mất tự chủ, bơ vơ tại trần qua cơn điêu luyện bởi tình, tiền, duyên, nghiệp, lẩn quẩn trong vòng tứ khổ khó thoát. Toàn thân đều là điện năng của Trời Đất hình thành, nhưng không bao giờ nghĩ đến mình có điển lành tự giác và giác tha. Bỏ quên trật tự củaTrời và Đất, không phát triển chơn ngôn và thanh tịnh, mất hẳn vị trí tâm linh, thiếu khiêm nhường và nhẫn nhục, sanh ra bệnh tình loạn thuyết, không khai triển trực giác của chính mình, thích quan quyền thế lực, tự sát mà không hay. Giành của Trời Đất mà lầm tưởng là của chính mình, vàng bạc đầy mình nhưng lúc chết không thoát. Luân hồi lục đạo hy sinh than xác nhưng chưa đền hết tội! Phần hồn còn bị giam trong thể xác.
Từ là một tội hồn chưa hoàn tất, biết được chính ta chưa tiến, cần tu sửa tâm thân, thực hành đúng đắn thì chơn tâm mới có cơ hội phát triển theo chiều hướng thanh cao tự thức, mới có lối thoát ở tương lai. Tự dẹp bỏ mọi sự chật vật và keo kiết thì chơn tâm mới thành tựu tốt đẹp, tạo thành hạnh đức, hái hoa dâng Phật nghìn năm không héo.
CHUNG TIẾN HÒA BÌNH
Hiểu được nguyên lý của Trời Đất thì sẽ cảm thức rõ ràng sự nâng niu và xây dựng bởi điện năng của vũ trụ quang đang kích động và dìu tiến tâm linh tiến hóa. Tự cảm thấy dễ thương và dịu hiền, mỗi mỗi đều do Thượng Đế sắp xếp, suối tình của đạo mầu phát triển không ngừng nghỉ, tâm thức an nhiên tự tại. Tâm tình cao thượng và phục vụ rõ rệt hơn lúc chưatu. Niềm tin càng ngày càng vững vàng hơn. Mỗi mỗi không xa lìa nguyên lý của Trời và Đất. Nắng mưa dãi dầu cũng là điệu nhạc của Trời Đất trong xây dựng và dẫn tiến.
Cho nên, người chịu tu thiền thì không bao giờ sợ khổ. Bằng lòng dấn thân trong khổ. Phát triển sáng kiến tự cứu và xây dựng cơ đồ tâm linh của Thượng Đế càng ngày càng dũng mãnh hơn. Hãy thấu triệt chơn lý này mà thực hành trong thanhtịnh, khép mình trong nhịn nhục mà tiến thân, đường lối hòa hợp với tự nhiên và hồn nhiên thì tâm thân xán lạn, gieo duyên khắp các nơi mà hành triển.
Khai sáng vô tự chơn kinh là khai triển thực chất sẵn có của lãnh vực chơn tâm thực hành, Tiểu Thiên Địa xác phàm trở thành trật tự đồng nhịp chấn động của vũ trụ quang mà hành tiến. Nội ngoại tương thông, bình tâm thức giác. Khả năng vô cùng thanh nhẹ và cởi mở, hào quang sáng chói bốn phương trời. Quy y chánh giác phát triển đến vô cùng tận. Pháp hành tâm triển rộng rãi, hòa mình trong thanh giới. Quy y thắng cảnh và vĩnh cửu, không còn ảo mộng và không hành nữa. Tràn ngập chơn tình thương yêu và xây dựng, bản chất eo hẹp tự nó tan biến mất. Vui sống và thực hành trong trật tự. Tuần tự như vậy mà tiến hóa thì sẽ không bao giờ gặp phải sự khó khan mà không giải được.
Thực hiện tình thương và đạo đức cứu mình và cứu họ ở tương lai. Duyên lành sẵn có từ trong nội tâm phát triển và hòa hợp với đại tự nhiên mà hành sự, thì mới thật sự đem lại sự hòa bình cho nhau. Mỗi mỗi đều do ý lực kết hợp hình thành. Đi cũng như ở không có gì phải uất ức trong nội tâm cả, lúc nào cũng hòa và cũng tiến.
Lập trường dứt khoát trong tinh thần nhịn nhục. Đó là phương châm tiến tới sự chung tiến hòa bình tốt đẹp.
PHỤC VỤ VÀ CỘNG HƯỞNG HÒA BÌNH
Qua nhiều thời đại ca tụng nền tảng văn minh, nhưng chưa một ai đứng vững được trên mặt đất! Mưu mô cho cách mấy đi nữa cũng không lưu lại với số vốn khổng lồ mà chính bản thân đã tạo được. Ngoài luật Đời lại có luật Trời.
Có phóng có thâu thì mới có quân bình. Mạnh khỏe có cơ hội phục vụ quần sanh là Trời ban ân phước tạm hành tại thế, tức là thế thiên hành đạo. Tâm thức quân bình nhiên hậu mới phục vụ quần sanh được.
Quân bình là vốn của Trời Đất. Có đến thì phải có đi. Tựu tan vô thường, nằm trong nguyên lý có có không không, sàng sẩy và giáo dục quần sanh trong quả địa cầu. Làm người hiểu được nguyên lý hóa hóa sanh sanh của Trời Đất thì sẽ tự giảm bớt sự tham muốn không cần thiết và thực hiện sự cần thiết cho bản thân và trí tuệ, tức là phải sửa đổi chiều hướng đi lên thay vì đi xuống.
Đi lên là sẽ có cơ hội tiến tới vô cùng, ngược lại đi xuống thì chỉ có tranh đấu giựt giành. Mất đi sự lý thú của cuộc sống thì làm gì đạt được mức chung sống hòa bình; luôn luôn nung nấu và kêu gọi hòa bình nhưng không bao giờ có hòa bình.
Bản thân bất độ hà thân độ! Không biết cách cứu mình thì cũng chẳng cứu được ai. Phân ranh biên giới nhưng quên Trời Đất thì suốt kiếp tranh đấu và lo lắng cũng chẳng đi đến đâu.
Của thiên trả địa, chẳng ai nắm bắt được một món nào quý báu trên đời này trước khi lìa xác. Xác thân hoàn trả trọn vẹn trong lòng đất. Khi hồn lìa xác thì mới thấy được sức mạnh của Trời Đất có luật lệ nhân quả rõ ràng. Chẳng ai hơn ai được một ly. Luật lệ rất công bằng.
Xác than khép lại kín mít thì luôn luôn thích thú trong đường lối cạnh tranh. Bước vào lòng đất thì mới chịu chấp nhận sự tan rã quy không. Mới thấy rõ đạo vốn không, bằng lòng thực hành trong chu trình tiến hóa cho kỳ tới.
Đến lúc đó mới thấy rõ sự dấn thân cộng hưởng hòa bình trong ánh sáng Đại Bi của Thượng
Đế, sẽ không còn vật gì lưu lại trong tâm thức thì mới thật sự hòa bình trong nguyên lý đời đạo song tu. Cơ Trời sẽ chuyển và đang chuyển cho nhơn loại hiểu rõ khổ cảnh và sự chơn thức thần tiên của phần hồn, nhiên hậu mới thật sự cộng hưởng hòa bình.
GHÉT THƯƠNG TẬN ĐỘ
Nguyên lý của Trời Đất rất rõ rệt, trong tiến trình từ nắng đến mưa: – Nắng gắt không khác Trời đang ghét chúng sanh. Cũng như một cuộc cách mạng giúp người phát triển khả năng sẵn có của chính mình sáng tạo ra hơi lạnh giúp cho thân xác được ổn yên trong sự hòa đồng và ổn định. – Mưa có thể đem lại lũ lụt nguy hại nhưng nó cũng là tận độ quần sanh. Nhờ nước mà sống mà tiến trong định luật hóa hóa sanh sanh.
Chính bản thân phải chấp nhận và thực hành tìm cách tự che chở trong cuộc sống. – Cuối cùng mưa và nắng cũng đều hữu ích, từ phá hoại cho đến xây dựng.
Nguyên lý sờ sờ đánh thức tâm người để tự rõ sức mạnh của Trời và Đất là vô cùng dẫn tiến trong xây dựng. Từ sự lớn rộng gom gọn thành một khối tức là Tiểu Thiên Địa, sống trong sự có có không không mà tiến hóa.
Tự ý thức tâm linh là sự sáng suốt, trách nhiệm và phục vụ triền miên như vậy mà tiến hóa từ
cõi hữu hình hữu hoại đi tới vô hình, thì mới cảm thức được phần hồn là vô sanh bất hoại. Tự trở về với nghiêm luật vô sanh mà tiến hoá, hội nhập với ánh sáng vô cùng tận đã và đang đón chờ. Mỗi mỗi phải thực hành nhiên hậu mới có kết quả, nhân tốt thì quả mới tốt.
Thật là một tổ chức chằng chịt và trật tự có một không hai của Thượng Đế đã an bài, mưu sinh mưu sinh, vụ lợi vụ lợi, và buông thả, phần hồn thấm nhuần trong cuộc sống tạm bợ mà ra đi với hai bàn tay không! Mỗi tâm linh tại mặt đất phải vượt qua cuộc thanh lọc bởi mạng lưới tinh vi của Thượng Đế bằng điển quang xán lạn dẫn tiến tới vô cùng tận. Tu đến thanh tịnh, nghe được và hiểu được thì mới gọi là văn minh. Văn Minh của Trời Đất là thông suốt đủ mọi mặt. Mang xác phàm đều học bài sướng khổ như nhau.
Cán cân điển quang tâm lý của Thượng Đế đã sáng tạo rất minh chánh và công bằng. Hiểu được nguyên lý vô sanh bất diệt của Trời Đất thì mới an tâm tu tiến ở bất cứ góc trời nào trên mặt đất.
Hiểu được thì chẳng cần phải lo âu không cần thiết và thực hiện thanh tịnh bất cứ ở giai đoạn nào. Từ có đến không cũng vậy mà thôi, tâm hồn lúc nào cũng bình thản tu tiến.
Duyên Trời duyên Đất rất chằng chịt mà vẫn thông suốt.
Chỉ có tự tu tự tiến thì mới thấy rõ điều này.
CẦM THÚ VÀ LOÀI NGƯỜI
Từ lúc tạo thiên lập địa tới bây giờ, nguyên khí của Trời Đất rất mật thiết trong xây dựng cơ đồ tâm linh, tạo thành định luật hóa hóa sanh sanh, hình thành cơ cấu xây dựng tâm linh co quần chúng tự vệ và tự hiểu ác ý tham dâm của chính mình rồi tự ăn năn sám hối, cầu tiến không cầu thối.
Bề ngoài cảnh đẹp chung vui hòa bình, cảnh đẹp xinh tươi rừng rú hoang vu, mỗi mỗi đều có đầu có đuôi: Ong thì có ong chúa, sơn lâm có chúa tể, loài người có bậc lãnh đạo…; mỗi mỗi đều xây dựng để hiểu mình.
Qua biết bao nhiêu thế kỉ, tập tành hiểu chuyện người khác và quên chuyện chính mình cho nên sự tiến hóa rất chậm chạp, về phần trí và tâm linh thì bị giới hạn bởi sự tham muốn không thành, cuối cùng cũng phải buông xuôi ra đi, luân hồi nhiều kiếp nhưng cũng chẳng đi đến đâu! Khổ hoàn khổ và không tiến.
Trừ phi những linh căn cảm thức được chính mình, nhiên hậu mới có cơ hội trở về với thực
chất tâm linh của hành giả, mới khai sáng cơ cấu tinh vi đã hình thành trong khối óc và thân xác của loài người, biết hướng về thanh tịnh mà tự cứu. Dục vọng đổi chiều hướng thượng, truy tầm ánh sáng siêu nhiên đã và đang có trong xây dựng cho muôn loài vạn vật, cùng hành cùng tiến theo trình độ sẵn có.
Thật là một việc làm lâu dài và trật tự của Thượng Đế, không ngừng nghỉ trong tinh thần phục vụ và xây dựng tâm linh.
Người tu thiền cảm thức điều này thì lúc nào cũng cảm thấy bình an và tự tại. Hành như không hành, nói như không nói, làm như không làm, thì mới thấy quy không là chánh pháp.
Nếu còn mê chấp trong phân luận thì sẽ bị giới hạn trong cơ tiến hóa, mất đi căn bản thật thà và linh động. Bày ra bùa phép gò bó tâm thân, làm việc không cần thiết thay vì cần thiết.
Cần thiết là thanh nhẹ và thanh tịnh, tức là ánh sáng siêu nhiên, lúc nào cũng sẵn sàng ban chiếu cho mọi giới khi tiến đến đó. Cho nên, người tu thiền Vô Vi rất cần chú ý về điểm siêu nhiên này. Lúc nào cũng thực hành trong thanh tịnh và xây dựng thì mới thấy rõ hạnh phúc, cộng hưởng cùng vạn linh trong thanh giới.
Quý mình thương họ rõ ràng, không bao giờ thắc mắc và trói buộc tâm thân.
THẾ HUYỀN KINH
Vị trí và trật tự tức là chỗ đứng của vạn linh tại mặt đất, sự linh hoạt phù hợp với huyền giới thanh tịnh, kinh mạch vận hành thông suốt trong Tiểu Thiên Địa, tức là xác phàm, thì mới nhận thức được nhu cầu của Tiểu Thiên Địa từ trong ra ngoài.
Làm người cơ tạng được thông suốt và khỏe mạnh, tiếp thu điện năng tự nhiên của vũ trụ thì nguồn sống sẽ được dồi dào, cung cầu rõ rệt, tâm thức mới đạt được sự quân bình gọi là kinh tế, xoay chuyển liên hồi, tự đạt tới mọi sự hòa cảm và duyên lành, có óc sáng tạo, trao đổi không ngừng nghỉ, tiết mục phong phú và trật tự, hòa giải được mọi sự từ nghẹt tớithông.
Sự sáng suốt thành tâm phục vụ cho Tiểu Thiên Địa được tươi tốt, hồn thanh tịnh, xác khỏe, tiếp tục trên đường sáng tạo và xây dựng.
Ở trên đời, một quốc gia mà không có người lãnh đạo sáng suốt, biết dân biết mình, thì nền tảng kinh tế sẽ bị băng hoại và không tiến. Cho dù thường ca tụng tình dân tộc mà không hiểu sự sống còn và cấu trúc của người dân thì kinh tế không sao thịnh vượng.
Dân giàu thì nước mới mạnh. Con khỏe cha mẹ mới vui. Dân vui dân mới chịu cống hiến khả năng sẵn có trong tinh thần phục vụ.
Cần thiết là sự vận hành lưu thông đều hòa.
Tâm linh cũng vậy, phải thực hành trong trật tự thì cơ tạng mới được an vui.
Xác thân dục vọng tương đồng với xác thú, vì là thú nên cần sự giúp đỡ và xây dựng sáng suốt của phần hồn, thì mới siêu nhiên được sự tham dục gây nên nghiệp chướng ở tương lai.
Chung quy trách nhiệm của phần hồn là quan trọng nhứt, phải luôn luôn liên hệ với Trời Đất mà hành sự. Thiên thời địa lợi nhân hòa, trí tuệ khai minh, cộng đồng phát triển, nhịn nhục xây dựng trong đời lẫn đạo, kinh tế sẽ phát triển xum xuê và tốt đẹp.
Nhìn xứ người tốt đẹp, xứ mình thì nghèo mạt tại vì sự phát triển không đồng nhứt, cạnh tranh lộn chiều, thu lợi cá nhân thay vì hòa đồng khai triển.
Thành tâm cống hiến, muôn chiều phát triển. Hội nhập chung đường tiến hóa, thì từ trong không sẽ có. Thực hành liên tục cộng với chấn động điện năng của Trời Đất thì mọi việc sẽ thành tựu tốt đẹp ở tương lai.
Thức giác trong mưu sinh thay vì hỗn loạn trong mưu sinh.
LƯƠNG TRI LƯƠNG NĂNG
Hiểu được và làm được tức là lương tri và lương năng. Hiểu được mà không làm được tức là vô tri vô năng. Không chịu dấn thân thì không bao giờ tiến hóa được.
Làm được mới là dũng mãnh sanh tồn, ngược lại là yếu hèn và thất thoát tâm linh.
Không tu, khó tiến khó giải khó minh. Trí không khai, tâm không mở, tự đày hồn vía, ngụp lặn trong tối tăm và ngu muội, chỉ có ôm lấy khổ và không bao giờ giải được khổ. Triền miên như vậy chỉ biết hận thù, không khai triển tâm từ bi, suốt kiếp chấp mê và động loạn. Xác thác ra ma, hồn vía rút thành trùng dế từ từ tan rã thảm thiết. Càng không hiểu chính mình sẽ càng tiêu tan từ mảnh một.
Duyên phước cho nhơn sanh có cơ hội nhìn thấy hoàn cảnh và thiên cơ biến chuyển, giáo dục con người tự thức giác, lui về thanh tịnh mà hành sự thì may ra sẽ ngộ pháp lành tự cứu.
Trong mảy may duyên kiếp làm người ở kỳ chót này, có tâm có xác mà không chịu hành thì uổng cho một kiếp người bơvơ. Không có lập trường và không biết xây dựng lấy chính mình để ảnh hưởng người kế tiếp thì không khác gì vật vô tri.
Thành trì chơn lý luôn luôn bảo trì và tận độ tâm linh thức giác. Trời Đất đã tạo nguyên khí hỗ trợ cho cuộc sống, nhưng rất tiếc cho nhơn sanh chỉ biết phung phí, không bằng lòng tự cứu sửa tiến, tự lường gạt chính mình quá nhiều. Biến thànhhư ảo, ca tụng Phật Tiên nhưng chưa bao giờ chịu hành khổ như Phật Tiên; chỉ nhờ đỡ, cúng bái trong tinh thần cầu xin và lợi dụng.
Thờ Chúa, thờ Phật trong phòng ngủ của chính mình là một đại tội. Dùng hình ảnh Tiên Phật đặt vào chỗ ô trược tham dâm, rồi khi bướng bỉnh làm càn, không kể giá trị Tiên Phật, ngược lại rước ma quỷ nhập xác hồi nào không hay. Đã đứng trong thảm cảnh lại cộng thêm thảm cảnh, mất lương tri lương năng, mất hẳn vị trí tâm linh.
Giảng kinh Phật không hiểu Phật, lật ngược lật xuôi nói cho xuông, đánh mất nghiêm luật thực hành chánh pháp. Trực giác không mở, trí không khai, nội tâm phẫn uất vì tu hoài không tiến, tìm minh sư học đạo nhưng tâm thức chống lại cũng như không.
Cuối cùng cũng phải tự tu tự thức thì mới có kết quả ở tương lai.
ĐIẾC CÂM
Điếc câm rơi vào vực thẳm, chẳng biết phê bình, chẳng có thâm, trực chỉ một đường, tâm thành thật, trực tiếp với nguyên khí của Trời Đất, tâm tình trọn vẹn trong âm thầm chấp nhận cuộc sống hiện hành, trong sự có có không không.
Sống trong một cơ cấu Tiểu Thiên Địa u buồn không tiến, tức là biết được mà không làm được. Cảm giác được nắng mưa từ bên ngoài rung chuyển cho đến bên trong. Hồn vía khổ!
Mối tình khổ ấy rung chuyển cả càn khôn vũ trụ, không bằng lòng cũng phải bằng lòng. Chỉ có Trời biết ta và ta biết Trời! Nhìn Trời mà tha thiết trở về với ánh sáng, cùng vui cùng tiến, giao duyên với mọi sự lộng lẫy của Trời Đất.
Thức hồn qua cơn đau khổ thì mới thấy được sự vi diệu của Trời Đất đã cấu thành xác phàm để che chở cho phần hồn ẩn núp.
Mến tiếc thương thân, nhiên hậu mới thấy được tình thương tận độ không ngừng nghỉ, nhắc nhở tâm tư từ giây phút khắc.
Thương thật thương, yêu thật yêu, cứu thật cứu, chỉ có tình Trời sưởi ấm nhơn sanh quy về một mối. Tình thương và sống động, vòng tròn của vũ trụ quang, ban ơn liên tục trong cuộc sống đến và đi của phần hồn.
Trong vòng tử khổ khắc sanh, thực hành trong ăn năn sám hối; bó tay trong cuộc sống bi đát, rồi vào thảm kịch trần gian dày xéo tâm can, bực bội không lối thoát, hồn vẫn dũng mãnh học hành nguyên lý Trời ban. Nghiệp lực và tâm lực suy yếu, khó xuyên đời đạo, lúc nào cũng dục, hành mà không tiến. Luật nhân quả đã cho thấy rõ rệt chiều hướng sai lầm củahành giả, đã tự hủy cơ cấu thiển lành của Thượng Đế đã an bài.
Từ nhiều kiếp, phần hồn bắt đầu cảm thức chính mình sai chẳng có ai sai! Đọa đày cực nhọc phải cam chịu, hành thức tại trần gian, ước nguyện được đóng góp từ trường tốt đẹp cùng xây dựng cho nhơn sanh.
Bốn phương Trời, mười phương Phật hợp lại, hình thành cơ cấu nhơn sanh, hãy tin yêu trong xây dựng mà hành sự. Quý thương chính mình, quý thương Trời Phật và quý thương đồng loại; cảm động chơn tình mà hành giác trong tâm tư, không biên giới, không chiến tranh, không từ chối cuộc sống của Trời Đất đã ân ban.
II
CUỘC SỐNG
Cuộc sống lúc nào cũng gặp sự khắc khe của tình đời, rồi bất mãn, càng động loạn lại càng rối ren. Trí không minh tâm không sáng, sự đòi hỏi càng ngày càng gia tăng, dần dần mất sự nghiêm minh, không rõ nhiệm vụ của chính mình; dấn thân trong sự ô trược, hy vọng trong sự hy vọng, bất chánh tưởng lầm mình là người thông minh. Luật Trời đi trước luật đời, se duyên tạo nghiệp, vợ con đùm đề, giáo dục cho phần hồn tự thức.
Khổ cảnh đa đoan, nhiên hậu mới khao khát sự thanh tịnh mà tìm đường tu, dựa theo hình ảnh của người di trước mà hành.
Không biết được chính mình là ai, tạo ra lý luận bất thuận chiều của gia cang. Làm cha không nghiêm minh. Làm mẹ không có nề nếp và trật tự. Biến thể của nó là rầy la và khó chịu. Tâm xác không yên, sanh bệnh tật triền miên cho đến chết. Lìa khỏi thể xác mới biết mình ngu. Phải theo luật nhân quả mà tiến.
Bằng lòng lập lại trật tự thật thà của chính tâm mà tiến trong khổ cảnh tự thức thì mới gọi là thức.
Khi cảm thức mình sai thì tâm xác đã yếu ớt già nua, phung phí linh khí của Trời Đất, tinh khí thần suy giảm; trí không minh, tâm không sáng.
Nhìn hình Phật mà kính sợ sự dấn thân hành pháp của Ngài. Từ trong khổ não phiền muộn mà hình thành nguyên lý tràn ngập bao thân, lưu lại nghìn năm tại thế những hình ảnh lúc nào cũng sống động, lúc nào cũng ảnh hưởng và dẫn dắt người đời trong thanh tịnh, hướng về sự tự nhiên và hồn nhiên của Trời Đất mà hành sự.
Người tu cần thật thà thì mới thấy rõ mình hơn. Càng thấy rõ mình lại càng ăn năn sám hối, chịu nhịn nhục để tiến hóa thì mới thấy được. Sự nhịn nhục sẽ giúp cảm thấy toàn thân yên ổn mà tự sửa, ngược lại sự thanh tịnh chỉ có tự hại và không tiến.
Tâm thân bất ổn cũng tại vì phần hồn thiếu sáng suốt và thanh tịnh.
Cần hành pháp môn đúng đắn để tạo thành chìa khóa khai tâm mở trí. Bằng lòng tu tiến thì mới thoát khỏi sự lôi cuốn của tình đời và nghiệp lực của nhiều kiếp.
Bằng lòng tự sửa thì có thanh, không có trược. Trời Phật đang chờ đợi chúng sinh tiến hóa, thì sẽ có một cuộc sống an nhiên tự tại. Vui trong sự nhịn nhục và thanh tịnh mà sống, tức là thoát tục.
Biết được trí tâm huệ giác thì mới có cuộc sống thanh bình. Không nuôi dưỡng sự tự ái, bằng lòng hòa mình trong tận độ thì mới biết được giá trị của thanh quang. Hướng thượng khai thông trí tuệ mà tiến, sẽ không còn bận rộn về tình tiền duyên nghiệp nữa.
TÌNH TRỜI
Muốn biết được tình Trời trước hết phải biết mình, nhiên hậu mới biết tình Trời. Sự tinh vi của Trời Đất đã cấu thành một xác phàm vô cùng tinh vi. Toàn thân và óc đều tự động, do luồng sinh khí của Trời Đất chuyển thành trật tự.
Lúa gạo và hoa quả, muôn màu muôn sắc, chuyển hóa hình thành một bức tranh tuyệt đẹp. Khai thông đường trí tuệ cho nhân sanh thấy xa hiểu rộng hơn. Muôn loài vạn vật nâng niu hy sinh và tận độ quần sanh. Vui hòa với sinh khí nhiên hậu mới cảm thức được sự sống hòa bình là cần thiết.
Tâm sẽ khai, trí sẽ mở sau khi tự cảm thức được điều này. Lần lần mới cảm thức được thể xác vi diệu này cấu trúc bởi siêu nhiên mà hình thành. Càng quán thông được nguyên lý hóa hóa sanh sanh của Trời Đất, lại càng quý trọng tình Trời ban chiếu cho quần sanh từ giờ phút khắc.
Đến đây mới cảm thức được tình Trời cao đẹp vô cùng, chỉ biết quý thương không còn ghét bỏ nữa. Luật định sanh, trụ, hoại, diệt và hồi sinh rõ rệt, liên tục như vậy mà tiến hóa trong chiều hướng quang minh tận độ của Trời Đất. Qua quá trình kích động và phản động của mọi khía cạnh nhiên hậu mới chịu hướng tâm về cõi thanh nhẹ mà tu.
Tự động dứt khoát với tình đời ô trược mà tu bổ sửa chữa chiều hướng cạnh tranh vô lý. Hướng về tình Trời bao la lớn rộng mà tu.
Lúc ấy mới cảm thức được sự hiểu biết của chính mình rất eo hẹp và thiếu thanh tịnh, từ đời đến đạo cũng chưa đến đâu; rồi mới cảm thức sự thanh tịnh là mầu nhiệm, là vô cùng.
Qua những chuỗi ngày điêu luyện bởi Trời Đất thì mới thấy rõ điểm sai của chính tâm. Câm mồm tu tiến thì mới giải tỏa được đám mây mờ đang che đậy mức tiến của tâm linh.
Càng thanh tịnh thì càng rõ chiều sâu của đạo mầu. Quý thương Trời Đất. Thực hành trong sự chất phác và thật thà trong thanh tịnh. Cứ vậy mà hành sự sẽ có cơ hội tiến tới cõi Đại La của Trời Đất.
Thanh quang tình Trời lúc nào cũng sẵn sàng ban chiếu cho tâm linh hướng thượng, thực hành, khứ trược lưu thanh là cần thiết để hiểu tình Trời hơn.
Điển tâm phát triển cơ đạo, phần hồn sẽ không còn bơ vơ nữa. Hợp nhứt với Trời Đất mới là người tu.
Sự xán lạn của tâm hồn là sự vinh quang của Trời Đất, vui trong thanh tịnh, tiến trong hòa bình.
TRÍ TÂM
Trí tâm là gốc của tâm linh. Nhờ đời động loạn dày xéo thì mới có cơ hội phát triển trí tâm trong sự khó khổ của cuộc đời. Sống trong nghịch cảnh thì mới thức tâm và tự dọn đường tiến hóa.
Chịu nhìn lại cuộc sống tâm linh trong cõi thanh nhẹ mà khơi dậy tình Trời, khao khát trở về Thiên Quốc.
Quốc Hồn đánh thức tâm linh, tự giải thoát phần mê loạn của nội tâm nhiên hậu mới phát ra đại nguyện, sửa mình để tiến hóa.
Dốc lòng tu tiến thì mới cảm thức được tình Trời hằng hữu trong nội tâm. Nhìn đó mà phát triển luồng điển liên hệ với Trời Đất mà hành sự.
Càng hành càng phát triển, tiến thẳng vào điển giới tâm linh mà học hỏi cho đến vô cùng. Trí tâm sẽ không còn dấy động. Tự cảm thức vô sanh bất tử.
Dấn thân độ đời. Phát triển tâm từ bi. Hòa hợp với Đại Bi thanh diệu của Trời Phật mà tận độ quần sanh. Ý thiển lành giao cảm nơi nơi. Nhập vào giềng mối của Trời Đất mà phát triển nơi cõi Đại La.
Tự cảm thức nguyên lý vô cùng là thanh tịnh, tiến tới đại giác, giác tha trong ba cõi: Thiên, Địa, Nhơn. Liên tục hành sự trong nhiều kiếp. Sự trong lành là chìa khóa của tâm linh. Hành trình tu ngắn. Chơn lý sinh tồn, vô sanh không tranh chấp.
Khối nghe được và hiểu được mới gọi là văn minh, văn là nghe, minh là hiểu. Nó cũng gọi là giống dân Bích Ngọc, con cưng của Trời. Đứng cũng tịnh. Đi cũng tịnh. Ngồi cũng tịnh. Nói năng tâm vẫn tịnh. Triền miên sống trong thanh tịnh và sáng suốt. Làm như không làm, mới xứng với tình Trời mà hành sự.
Chơn lý không dư không thiếu. Tròn trịa như hòn bi lăn chuyển từ trược tới thanh. Hội nhập vào Tam Thanh Thiên Giới sẽ không còn tội phước. Trí tâm toàn giác toàn thanh, qua cơn điêu luyện của Trời Đất.
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, tức là trở về với thực chất vô sanh thanh nhẹ của hành giả, toàn định toàn giác, vô cùng giao cảm vạn linh bằng từ quang đạt được, sẽ không còn tranh chấp và lý luận sai lầm nữa.
Câm mồm tự tu là chiều hướng hội nhập với đại thanh tịnh mà tu.
THÀNH THẬT
Thành thật là hiểu gì nói nấy, không thêm không bớt và chẳng chê khen.
Lúc nào tâm cũng yên, trí vẫn mở, người người quý mến. Không khác gì Trời Đất, mưa thật là mưa, nắng thật là nắng. Mọi người bắt buộc chạy theo nguyên lý đó mà hành triển. Không bằng lòng cũng phải bằng lòng, hợp tác và xây dựngchung.
Người tu thật thà là có gì nói nấy, không thêm bớt mới là chơn tu.
Có có không không cũng là nguyên lý của Trời Đất để dạy dỗ phần hồn của vạn linh tiến hóa, học hỏi và học hỏi, vun bồi và vun bồi, vươn lên trong trật tự.
Cũng như hoa quả, cây cối, đều có cơ hội tiến hóa theo tiết mùa; thật thà, trật tự và nhịp nhàng theo quy định của Trời Đất. Sanh, trụ, hoại, diệt và hồi sinh rõ rệt. Màu nào sắc nấy không sai chạy, họa thành một bức tranh Trời tuyệt đẹp, thể hiện tình Trời Đất của mỗi mùa. Tiến triển theo chiều hướng sẵn có, công minh, phân ra thứ ngôi rõ rệt.
Người đời thiếu thật thà, không biết minh chánh và không chịu kiến tánh để tự sửa theo chiều hướng của Trời Đất, thì chỉ thua lỗ và bại trận. Khi lìa xác, tiến hóa trong cõi âm u mê loạn. Thế gian gọi đó là cõi âm phủ. Thiếu thốn đủ mọi mặt thì mới chịu thật thà, học hỏi và tiến hóa.
Nếu người đang sống tại mặt đất chịu thật thà học hỏi, thì sẽ tránh tất cả tai nạn có thể xảy ra trong cuộc đời.
Hướng thượng tu thiền, hướng về cõi thanh nhẹ mà hành sự và tự xây dựng, thì tương lai phần hồn không còn bỡ ngỡ và sẽ vượt khỏi cõi âm u trong lúc lìa xác. Hướng về cõi thanh nhẹ thì luồng thanh điển từ bi của chư Phật sẽ ban chiếu theo chiều hướng quy hội với tình Trời Đất để tiến thẳng về nơi thanh tịnh mà tu tiến.
Kiếp sống của phần hồn sẽ rất có ý nghĩa, thăng hoa và không trì trệ. Hành trong thanh tịnh,
hành trong tiến hóa rõ rệt, hành để giải mọi nghiệp lực lôi cuốn trong cuộc sống. Tâm thức thanh bình tận độ quần sanh, không tranh giành, không quyền lợi, không địa vị tại thế, thức hòa đồng triền mien trong xây dựng.
Quý yêu Trời Phật, quý yêu môn loài vạn vật, thật thà, yên vui và hòa bình.
TÌNH THƯƠNG VÀ ĐẠO ĐỨC
Tình thương do ánh sáng phát triển từ trong thâm tâm mà ra. Từ khổ thức giác đi tới thương, dần dần đi tới tình thương cứu độ, vạn linh chung tiến hòa bình.
Biết đàng tự sửa tức là thực hành chơn pháp. Hướng thẳng trung tâm sinh lực của càn khôn vũ trụ mà tiến trong tự nhiên và hồn nhiên.
Càng tiến lên càng dứt khoát chủ kiến mà phân minh mọi sự kích động và phản động. Tự trở về với căn bản thanh tịnh như trong lúc chào đời, nhiên hậu mới nhận xét sự động loạn của nhơn sinh mà thương cho nhơn loại đã và đang hướng về động loạn.
Cầu xin và ước mong được sớm thành sự, nhưng kết quả có sự gì mà thành. Cho nên nhớ nhớ thương thương, tâm rất khó dứt khoát để mở đường trí tuệ thăng hoa.
Chỉ có hành giả Vô Vi tự cảm thức chính mình trở về với thanh cảnh. Từ lúc giáng thế nhẹ nhàng, bản thể toàn thân thanh tịnh, hòa hợp với Trời Đất. Mọi người chung quanh cảm thấy thương và mừng cho sự hiện diện của một tâm linh khối óc đã chào đời. Tràn đầy sự thương yêu của Trời Đất ban chiếu.
Tình thương siêu diệu của Trời Đất đã bắt đầu hình thành trên mặt đất. Rồi sống trong sự thật thà và tiến hóa trong sự quy định của Trời Đất mà lớn dần trong khổ cảnh.
Tình thương của Trời Đất túc trực và tận độ từ giờ phút khắc, an bài trong trật tự của sự sống còn, từ vật chất cho đến tâm linh.
Người tu thực hành thì mới thất sự thương mình. Siêng năng hành pháp thì mới quý thương Trời Phật, đã từ trong khổ mới có cơ hội dứt khoát tình đời đen bạc. Hướng về phần hồn mà tu tiến thời mới có lối thoát trong cõi vô cùng mà hội nhập vào biển yêu của Thượng Đế và chư Phật đã và đang an ngự.
Cảm thức được vạn linh đang cộng hưởng những gì của Trời Đất ân ban. Nguyên lý tròn vo chuyển chạy khắp hoàn vũ, cứu độ quần sanh bằng tình thương và tận độ.
Đạo đức cao dày của Trời Đất đã và đang đánh thức chúng sanh trong cơ tiến hóa. Người tu
thanh tịnh tức khắc sẽ giác ngộ, hội nhập vào cõi vô sanh và bất diệt.
Cảm thức điều này thì mới có cơ hội khai thông và đi đến chỗ toàn giác được, khi ấy dư
thừa chơn lý bố thì quần sanh, đồng hành đồng tiến.
Hằng hà sa số Phật Tiên hội nhập vào xác loài người thực hiện tình thương và đạo đức. Từ khổ thiếu mới sanh ra khoa khát luật lệ hòa bình trong tâm thức của nhơn sinh trên mặt đất; toàn năng điển quang của Trời Đất, Thượng Đế đấng đại bi, đang tận độ qua hành trình thành tâm tu học của hành giả hướng về Vô Vi mà hành pháp.
DŨNG MÃNH THÀNH TÂM
Trí tâm khai triển thấu triệt việc nhỏ cho đến việc lớn. Tự cảm thức trần gian là một cái còng. Dũng mãnh hành pháp, thành tâm vững vàng trong trận mạc, hướng về thanh tịnh chỉ có tiến không có lùi.
Bất cứ trở ngại nào từ đời lẫn đạo đều tự vượt qua trong sự nhịn nhục.
Tâm không, phát triển đến vô cùng, nhiên hậu mới rõ được sự chấp mê là trì trệ.
Càng hành pháp tu tâm thì pháp lực càng ngày càng mạnh. Tự động dập tắt mọi sự sân si bất chánh. Khai triển khối óc, đem lại ánh sáng của nội tâm, thức giác muôn chiều bị động.
Muôn chiều bị động làm hào quang không sáng tỏ.
Bất bình đủ chuyện, tạo sự chấp mê, khó về với chơn thức. Vì chuyện người tạo khổ cho tâm thân, bất trung bất tín, bần thần khó tiến, trực giác lu mờ. Đức tin không vững, bị ma quỷ tấn công. Vói lý đạo không sao tiến bước, thiếu trí khó dấn thân thực hành trên mọi lãnh vực cần thiết, đau buồn và trì trệ, giam hồn giam vía vào cõi vô minh mất trí. Lệ thuộc vào thiêng liêng tạo động, dậm chân tại chỗ. Cầu nguyện lung tung, thánh thần không chứng giám.
Hướng về đấu tranh bùa phép, giới hạn mức tiến của tâm linh, hành trình không thoát.
Nếu dũng mãnh thành tâm trong thanh tịnh thì nạn tai sẽ không còn với hành giả chơn tu. Thiên Địa Nhơn kết hợp trong sự sáng suốt của hành giả đã đạt thành. Quy nguyên giềng mối an vui của Trời Đất.
Chẳng còn sanh khắc và trì trệ nữa thì mới tự diệt lòng tham của chính mình.
Thanh tịnh nhìn đời, cảm thông nguyên lý thanh cao của Trời Đất mà tiến thân. Ân cần xây dựng trong mọi khía cạnh tâm giao mà phát triển.
Hành pháp rốt ráo. Tự động dẹp bỏ mọi sự tranh chấp vô lý. Tự thức hành phát triển tâm linh, vui hòa với các giới. Thanh hòa thanh, trược giải trược, nhiệm vụ rõ ràng.
Sự thanh tịnh và sáng suốt phục vụ cơ đồ của Thượng Đế. Tận độ quần sanh, an vui bình đẳng, dẫn tiến muôn hình vạn trạng thăng hoa. Tự lui về với thực chất vị trí phân minh.
Nhân nào quả nấy không sai
chạy. Càng quý thương tinh thần phục vụ của Trời
Đất lại càng giải được nhiều điều uẩn trắc trong nội
tâm.
Thương thật là thương! Minh thật là minh!
SỨC KHỎE VÀ TÂM LINH
Nguyên khí của Trời Đất đã và đem cho mọi người
có cơ hội phát triển tâm linh trong chiều hướng
hướng thượng, đáp ứng nguyên lý căn bản sơ sanh
của mỗi hành giả trên mặt đất này.
Tất cả đều có cơ
hội tự do phát triển và hòa hợp với tình Trời mà tu
tiến. Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong. Có
cơ hội sống trong thể xác tinh vi của Trời Đất đã cấu
thành, bắt buộc phải tự vượt qua mọi trạng thái kích
động và phản động của cuộc sống.
Phước họa là cán
cân của luật nhân quả, cần hít thở để mà sống, hít
thuận chiều của Trời Đất để khai thông trí tuệ.
Nếu
ngưng sự tiếp xúc thuận chiều căn bản đó thì sẽ hủy
hoại cơ tạng và không giải được độc tố ra khỏi thể
xác được. Hậu quả của nó là yếu ớt và bệnh hoạn; trí
tâm không giao cảm được nguyên lý của Trời Đất,
làm mất đi sự tinh vi cấu trúc của Trời Đất hình
thành từ lúc ban đầu.
Căn bản sức khỏe sẽ càng ngày
càng yếu dần, lệ thuộc bởi tà ma pháp giới, xa lìa
nguyên lý của Trời Đất. Triền miên trông chờ sự giúp
đỡ ở bên ngoài, lìa xác một cách không còn tự chủ
được. Sức khỏe không có, tâm linh không thành,
chiều sâu của tâm đạo càng ngày càng yếu, tu hoài
không tiến, mộng tưởng sai lầm.
Ngược chiều tiến hóa hòa bình của Trời Đất thì
không bao giờ hội nhập được quỹ đạo tâm linh mà
tiến.
Phần hồn lại vẫn chờ đợi sự cứu rỗi của thần
linh, khó tiếp xúc với ánh sáng siêu diệu của Thượng
Đế hằng hữu nơi Thiên Quốc, mất đi quyền chính
giác và chính tâm.
Cuộc sống hiện tại rất cần có sức khỏe để đương đầu
với nghịch cảnh thì mới có cơ hội cảm thức được hồn
và vía, sau khi bị kích động và phản động bởi tình đời
đen bạc; sự chuyển hành vĩ đại của Trời Đất như mưa
nắng bão bùng đã và đang làm cho loài người biết
được sự xây dựng tổ ấm cho nhơn sinh trú ngụ là cần
thiết.
Mọi việc làm này đều do có sức khỏe đạt
thành.
Có sức khỏe, vui trong trật tự, mỗi người đều có một
vị trí làm việc cho chung. Nếu muốn sinh tồn tốt đẹp
thì rất cần bảo trì sức khỏe và tâm linh thì mới đạt
được mục đích trọn vẹn.
DƯỠNG SINH
Cuộc sống từ vật thể đến tâm linh đều nằm trong
định luật hóa hóa sanh sanh của vũ trụ. Muôn hình
vạn trạng cũng phải chịu luật sanh khắc của ngũ hành
như: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, hợp thành bởi tứ
đại: nước, lửa, gió, đất, sanh khắc phân minh âm
dương tả hữu, chung hành trong cơ tiến hóa không
ngừng nghỉ, theo chiều hướng hóa hóa sanh sanh.
Người tu thiền cần thực vật tinh khiết.
Hằng ngày
thu nhập ngũ cốc thiên nhiên gọi là Lúa Trời – cặn
bã của thanh quang, sức mạnh vô cùng, tận độ quần
sanh – cộng với các loại rau tươi, chuyển hóa chất
nhờn, thanh lọc điển quang vận hành trong cơ tạng,
màu sắc tinh vi và lộng lẫy.
Các chất vị đều hữu dụng
như chua, cay, chát, đắng, mặn, ngọt, giúp cho ngũ
tạng thuận tiến và tinh thông.
Thanh quang chuyển hóa không ngừng nghỉ, lưu trữ
và đổi thay sự sống còn của vạn linh và mùi vị trên
mặt đất này, cuộc sống càng ngày càng thông cảm
lẫn nhau. Giết nhau vì ăn uống và hiểu nhau vì định
luật tự nhiên hình thành. Hiểu được sự mạnh tươi tốt
nuôi dưỡng và phục vụ quần sanh tùy theo nhu cầu
cần thiết của cơ tạng.
Xây dựng niềm tin và thực
hành đúng đắn qua luật âm dương hình thành cơ cấu
thế thiên hành đạo, trở về quỹ đạo huyền vi và thanh
tịnh. Sự dưỡng sinh sanh hoạt hằng ngày rất cần thiết
cho sự tiến hóa của tâm linh và tánh tình sống động,
cộng với sự hòa ái tương thân giữa vũ trụ và con
người, nay còn mai mất sẽ đi về đâu?
Nguyên lý của Trời Đất cấu thành rất tinh vi từ hơi
thở cho đến thực vật, hợp thành sức mạnh dẫn tiến
tâm linh. Quân bình âm dương là khỏe mạnh. Cực
âm tạo ẩm khí độc tố sanh bệnh. Cực dương tạo sự
nóng nảy bực dọc.
Âm dương tương hòa từ khí trời
cho đến thực vật thiên nhiên là vui và tốt. Sức sống
gia tăng mạnh tiến trên đường đạo hạnh vô quái ngại,
độ tha trong tình thâm bác ái, vui cùng Trời Đất, quý
trọng thiên nhiên và tự nhiên.
Ánh sáng tạo cuộc
sống trên mặt đất gọi là dưỡng sinh, rất nhiều yếu tố
mới hình thành.
Biết được dưỡng sinh là nắm được chìa khóa của cuộc
sống để mà tu thiền. Tâm thức rất dễ phát sáng và
quý yêu muôn loài vạn vật.
III
HÀNH TRÌNH SÁNG SUỐT
Dấn thân hành triển tâm thức, cảm thức được phần
xác là phụ thuộc của Hồn, gom gọn hình thành một
Tiểu Thiên Địa tại thế, bao gồm: Kim, Mộc, Thủy,
Hỏa, Thổ; nước, lửa, gió, đất, tứ giả hợp thành,
hưởng ứng tình Trời mà tiến thân.
Phần Hồn là chủ
chánh, trách nhiệm dẫn tiến vạn năng trong cơ thể
vượt qua sự lèo lái tinh vi của Trời Đất, lần lần tự cảm
thông vị trí và nhiệm vụ của chính mình: Từ có sẽ trở
về với không, phần Hồn mới dứt khoát, tự quay trở
về với Thiên Quốc, không còn lưu luyến cảnh trần
tục loạn dâm nữa.
Hướng về thanh tịnh mà khai triển hành trình sáng
suốt. Hồn Vía phân minh, nhiệm vụ rõ ràng, sống để
học hỏi, sống để dấn thân khai triển tâm linh sẵn có
của chính mình.
Tình, tiền, duyên, nghiệp, giả ảo tự
cảm minh, hành trình tự đạt trong sáng suốt.
Hiểu được hậu quả của mỗi sự việc, nhịp độ của tâm
thức lại được gia tăng.
Cảm mến nguyên lý của đạo
mầu mà tu, chẳng còn loạn động mê tín dị đoan. Trực
diện với mọi trở ngại, tự quán thông mà giải quyết, tự
vui trong hành trình tiến hóa khó khổ vô can. Hành
triển tâm thức là chánh, gánh chịu mọi hậu quả mà
giải nghiệp.
Trí tâm dũng mãnh là sáng. Cảm nhận sự
quy nhứt của Trời Đất. Có tan có tựu và có thăng
hoa, tiến hòa trong cõi vô cùng, hồn vía tương hội
trong quy luật của Trời Đất.
Thực chất khai triển trong thực hành. Chiều sâu tâm
đạo sẽ mở rộng, lượng từ bi sẽ phát triển và đem lại
sự an vui hòa hợp với Trời Đất.
Tâm thức chẳng còn biên giới. Dấn thân độ đời bằng
chơn ngôn và thực chất. Sự trong sáng tràn ngập
trong tâm thức, hướng về con đường xây dựng và xây
dựng.
Quý yêu Trời Phật trong hành trình tiến giải,
mãi mãi không nhạt phai.
Điển tâm tràn ngập hòa
hợp với trung tâm sinh lực của càn khôn vũ trụ, dụng
ý chuyển tin lành khắp nơi nơi.
NHẬN ĐỊNH CÕI PHÙ SANH
Cõi phù sanh là nơi sống tạm, vì sự trú ngụ của phần
hồn ngự trên sự mong manh của ngũ tạng: tim, gan,
tì, phế, thận đều là chất nhờn và lụa mỏng, tóm thâu
luồng điển của vũ trụ quang mà sống.
Thần kinh từ
khối óc chẳng chịt liên hệ với nhau, vận hành bởi
điển quang thanh lọc qua sự hô hấp, nhịp tim và bộ
gan hoạt động đồng nhịp bơm máu cung ứng lên bộ
óc, chuyển thành sự sáng suốt hỗ trợ cho tâm thân
vận hành theo chiều hướng quân bình vô cùng tinh
vi.
Từ bộ chỉ huy cho đến khối óc, thụ hưởng, nhận
định, phân minh rõ rệt. Từ ánh sáng cho đến tia sáng,
từ bên ngoài cho đến trong, dìu tiến phần Hồn
hướng về thanh nhẹ mà tu, mà bằng lòng sửa chữa từ
li, từ tí cho kịp kỳ tiến hóa khai triển tâm linh; tiêu
diệt bệnh căn ẩn tàng trong ngũ tạng, đồng thời giải
mê phá chấp cho cuộc sống còn nơi mặt đất.
Cảm thương mến Trời Phật đã thành đạo, rời khỏi
thể xác loạn động hấp thụ ngoại cảnh không cần
thiết cho cuộc sống.
Tự thức thực hành những
chuyện cần thiết mà tự tu tự tiến, chuyên hành: Soi
Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển và Thiền định để
tự giải nghiệp tâm, bố thí chơn ngôn độ đời trong
thời gian sống tại thế, tiếp thu ánh sáng của Trời Đất
và phát triển ánh sáng của nội tâm thì mới cảm nhận
được nguyên lý của Trời Đất mà sanh tồn tại mặt đất
này.
Rất nhiều thế hệ cũng vậy, rồi phần Hồn cũng phải
ra đi, phần xác thì phải trả lại cho lòng đất, tan rã và
hội tụ, thực hành hóa hóa sanh sanh, biến thành hoa
quả nuôi dưỡng quần sanh.
Triệu triệu ức ức phần
hồn đều phải chấp nhận luật nhân quả của Trời Đất
mà tiến hóa, hòa hợp với ánh sáng của mặt trời và
mặt trăng mà ca tụng Trời Đất và tu luyện, tùy theo
khả năng sẵn có của chính mình mà tiến.
Tự cảm
thức trần gian là một cái còng, trực diện thực hành và
tự giải mở bằng từ quang sẵn có của mỗi tâm linh
phần hồn.
VUI HÀNH THANH TỊNH
Chấp nhận sự tiến hóa hiện tại thì lúc nào cũng
thanh tịnh và vui tiến, tùy theo định luật nhân quả
mà tiến thân. Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là một khuôn
khổ dẫn tới sự thanh nhẹ và sáng suốt, giữ lấy trung
thực của chính mình, dẫn tiến tới lý đạo rõ rệt hơn.
Quy nguyên giềng mối có từ trong lúc sơ sinh, cảm
nhận được sự thật là gì?
Trật tự giảm bớt sự suy tư bất
chánh. Thành tâm vững tiến trên đường đạo, hạnh
đức gia tăng, vững vàng hành triển trong cõi tâm
linh. Phát triển chiều sâu của từ quang, dẫn tiến vạn
linh cùng hành cùng tiến. Dập tắt ngọn lửa đời, tiếp
thu ngọn lửa đạo, nhiệm mầu thăng hoa tự tiến gọi là
hạnh phúc.
Tiến hóa vừa tâm linh vừa thể chất, tự cảm vui hòa
trong thanh tịnh, duyên đời tình đạo phân minh, xuất
phát thanh nhẹ, chẳng còn sầu muộn và bê trễ nữa.
Đời đạo chung vui hành triển, công khai giữa Trời
Đất, trong tự nhiên và hồn nhiên, dấn thân vô quái
ngại, dứt khoát thành tâm phục vụ quần sanh, chẳng
còn lưu luyến tình đời, thành tâm xây dựng cho
chung. Trí tâm từ từ khai triển qua những chuỗi ngày
phục vụ. Vui trong thanh tịnh, tiến trong đà tiến tâm
minh xán lạn, tràn đầy duyên lành dẫn tiến, chẳng
còn phiền lo nữa.
Sự liên hệ rõ rệt giữa Trời, Đất và Người, chung hành
cùng tiến trong căn bản Như Lai, thành thật và dũng
mãnh. Trời Đất cấu thành duyên đạo, trong không
mà có. Ngũ tạng cùng tứ chi sanh thành nơi cõi tạm.
Rồi cũng phải ra đi trong âm thầm thanh tịnh, tùy
theo nhân lành tính tốt mà tiến hóa.
Duyên may đã xây dựng nhiều kiếp, nay mới hưởng
được phước lộc của Trời ban, đã có sẵn trong tự
nhiên.
Càng hiểu được lại càng khiêm nhường. Quý
thương Trời Phật mà tự xây hạnh đức hướng dâng
Phật Trời. Đó là đức tính tuyệt đẹp của tâm linh.
Càng thanh tịnh thì càng sáng suốt, cộng hưởng
duyên lành của Trời Đất mà tiến, bền vững hộ trì cho
tâm linh phần hồn tiến hóa, tâm thức tràn đầy trong
thanh tịnh, vượt khỏi duyên nghiệp khổ nạn tại thế.
Triền miên như vậy là đạo mầu sẽ quang khai.
KHÍ ĐIỂN TÂM HÀNH
Cuộc sống hiện tại bao gồm nguyên khí của Trời Đất
hòa đồng dẫn tiến phần hồn và thể xác. Cấu trúc chặt
chẽ và tinh vi gọi là Lưới Trời, giam giữ và xây dựng
cho phần hồn tiến hóa không ngừng nghỉ.
Phần hồn
hành sự trong chiều hướng tham lam, kích động và
phản động, không biết được ngày mai sẽ ra sao! Cứ
vậy mà hành sự trong duyên nghiệp, tùy theo sự sanh
khắc của bản thân, nhân và quả để thức tâm thực
hành hóa hóa sanh sanh.
Sanh ra chuyện lành thì học
lành. Sanh ý ác lại học ác. Dục tiến theo chiều hướng
thỏa mãn của chơn tâm, truy tầm nguyên lý diệu
thâm trong sự truy tầm thức giác.
Cứ vậy mà tiến hóa
đến vô cùng, vượt qua một cuộc đời trần trược và
kích động. Không khác con người đang đi trong
đường hầm, rất cần ánh sáng để xê dịch, vui khi nhận
được ánh sáng, vui khi được khai tâm mở trí. Phần
hồn là chủ chánh nuôi dưỡng phần sáng suốt để phục
vụ bản thân, tự tháo gỡ nghiệp duyên, quay quần
trong dịch lý, chuyển chạy khắp nơi nơi, thực hành
trong sanh khắc. Hướng thượng đi lên là hội tụ,
hướng hạ là phân tán và đau thương.
Khốn khổ muôn
chiều thì mới chịu bó tay và thức giác. Khi thức giác
rồi mới thấy được hành trình ngổn ngang và quá
động loạn, chẳng minh chẳng thức và chẳng hòa
bình, ý nguyện không thành, trì trệ giam thân, phần
hồn không tiến, tiếc uổng mà không sao làm được.
Bằng lòng hướng thượng tự giải thì chơn tâm mới
được khai triển lớn rộng, tự cảm nhận được từ bi
rộng mở và thăng hoa, muôn chiều sống động, hòa
nhịp với nguyên lý vô sanh bất diệt, hợp nhứt với ánh
sáng vô tận nhiên hậu mới giải quyết được trận đồ ô
trược và minh tâm.
Hành trong thanh tịnh, hành
trong sáng suốt. Tâm rộng, trí khai, an bài rõ rệt.
Không người, không Phật, không tâm Như Lai chánh
diện, an vui dẫn tiến và tận độ.
TRỰC GIÁC ĐIỂN GIỚI
Hành qua phương pháp Pháp Lý Vô Vi Khoa Học
Huyền Bí Phật Pháp trong một thời gian từ 6 đến
9 tháng liên tục thì sẽ tự cảm thấy trì nặng giữa
trung tâm hai chơn mày, là lúc ấy hai luồng điển hội
tụ từ pháp Soi Hồn.
Khi ấy cái nhìn của hành giả
đúng đắn và trực giác bắt đầu liên hệ với điển giới
thinh không, nhắm mắt nhìn hiểu lớn rộng hơn xưa.
Pháp Soi Hồn rất hữu ích như: tập trung tinh khí
thần – tinh hóa khí, khí hóa thần, thần hườn hư.
Luồng điển dứt khoát ấy sẽ liên hệ với tinh ba của vũ
trụ.
Hành giả sẽ bắt đầu cảm thức được hai đường
tiến hóa, thay vì một chiều hướng ngoại như hành giả
lúc chưa hành pháp lý. Đó mới là thật sự dấn thân,
đời đạo song tu. Đời thì thể xác được an khang, đạo
thì phần hồn càng ngày càng sáng suốt và dễ dứt
khoát bất cứ việc gì xảy đến.
Pháp Luân Thường Chuyển sẽ hóa giải tất cả sự trược
ô của cơ tạng, giải ra từ đại tiện và tiểu tiện. Nguyên
khí dồi dào, thể xác sẽ được mạnh khỏe.
Thiền định là các giới bên trong, qua Soi Hồn và
Pháp Luân Thường Chuyển, hợp nhất nhập định,
nhiên hậu mới xuất hồn được. Trong lúc xuất hồn,
hòa hợp với điển giới, trực giác bén nhậy và phát
triển, từ đó sẽ sửa mình chín chắn và đàng hoàng hơn
xưa, được đi xe hai bánh thay vì một bánh gọi là đời
đạo song tu.
Sửa mình trong trực giác, khỏe mạnh vui với đời, tâm
thức dũng mãnh tiến hóa trên đường đạo, dấn thân
thực hành trong điển giới tâm linh, càng ngày sẽ
càng rõ rệt và sáng suốt. Thấy rõ đời là giả tạm, chơi
vui một kiếp rồi thăng tiến, hòa hợp với tình trời mà
tiến, vượt xuyên mọi trở ngại.
Tình thương và đạo
đức thật sự phát triển, cảm thức sự thanh nhẹ của
Trời Phật siêu diệu trong tâm thức, ăn năn sám hối
lầm lỗi của quá trình, thực hành quy một cùng Trời
Đất. Cảm thức được thế gian đô thị giả, quán thông
mọi chiều cũng sẽ quy không, trực giác một đường tu
tiến, giải bỏ tất cả buồn phiền trong nội tâm, an vui
và thanh tịnh.
THUẬN CHIỀU PHÁT TRIỂN
Nguyên lý của Trời Đất đã an bài rất rõ rệt, thể hiện
qua luồng điển âm và dương đang kích động và phản
động, sanh khắc không ngừng nghỉ, gọi là cõi phù
sanh tạm bợ; làm việc trong một thời gian rồi chán
ngán, gọi là tình đời đen bạc, nay còn mai mất, chẳng
ra chi. Thân xác thì thể hiện tóc bạc mắt lờ, chiều
hướng vươn lên không thành tựu, khí tinh thất thoát,
chạy theo chiều hướng hóa hóa sanh sanh chuyển
tiếp của cuộc sống.
Nếu không tu sửa thì không sao
tháo gỡ được, càng ngày sẽ càng lụn bại thêm. Tâm
già, sợ chết, không biết đường lối dũng mãnh để sửa
sai tập quán xấu đã thành tựu từ nhiều kiếp. Ôm ấp
một mối tình không thoát, không biết được giá trị
của tâm thân, không phân minh được từ hành động
một của chính mình, lập trường không vững và tự
gây rối cho chính mình.
Phần hồn đã và đang bị giam
hãm trong thể xác, không thanh tịnh để tự cứu,
ngược lại tạo thêm xiềng xích để tự ràng buộc và
không lối thoát, mơ mơ màng màng trong ảo ảnh.
Người tu buông bỏ tất cả trong tâm thức, không dính
líu từ việc nhỏ cho đến việc lớn nhiên hậu phần hồn
mới được thanh nhẹ.
Duy trì mức tiến của tâm linh,
hiểu được tình trời cao đẹp mà tự tiến lên, thuận
chiều phát triển đến vô cùng. Sự thật của nó là ánh
sáng, khai tâm mở trí ban chiếu bởi Đại Bi siêu diệu.
Tâm tưởng sự thành, trong thanh tịnh nhập định
triền miên, không tham không khổ nữa, duyên đạo
tình đời rất rõ rệt. Thành tâm tu luyện vững bền tiến
hóa, dấn thân hành pháp cứu mình và ảnh hưởng
người kế tiếp, đó là diệu pháp của Trời Đất.
Đời đạo
phân minh, hành trình rõ rệt, chẳng còn sự bỡ ngỡ và
yếu hèn nữa. Vui trong thanh tịnh, vui trong thức
giác, quán thông muôn chiều phát triển, tâm linh là
hội tụ và tiến hóa không ngừng nghỉ. Càn khôn vũ
trụ, ánh sáng là quan trọng cho cuộc sống của tâm
linh, hành trình không bao giờ bị tắc nghẽn.
KHOÁC ÁO TÌNH THƯƠNG
Người tu thực hành đúng đắn chỉ có liên hệ với Trời
Đất mà lập lại sự quân bình của chính mình, chỉ phát
quang trong tâm thức thay vì tăm tối và không có lối
thoát. Điện năng càng ngày càng dồi dào, hòa hợp
với tình thương lớn rộng của Trời Đất, tạo duyên độ
tha tại trần.
Đi đến đâu cũng mang lại một niềm tin
an lạc cho mọi người ở chung quanh cộng hưởng,
tình thương và đạo đức không ngừng nghỉ, tự phát
triển đến vô cùng gọi là tâm từ bi tận độ. Hoan hỷ
chấp nhận bất cứ hoàn cảnh nào xảy đến, tâm giao
bình đẳng thanh nhẹ hòa cảm cùng mọi người, không
địa vị, không giai cấp, giàu lòng tha thứ và thương
yêu, bằng lòng tháo gỡ bất cứ sự trần trược nào trong
nội tâm để đem lại ánh sáng tự nhiên và hồn nhiên.
Khai triển nguyên lý sống động của Trời Đất, gieo
duyên tận độ quần sanh, thực hành đúng đắn, giữ
nghiêm luật của Trời Đất mà tiến thân. Dấn thân vô
quái ngại, phát triển thực chất và thực hiện tình
thương và đạo đức, quy thuận tình trời mà tiến, bất
chấp sự gian lao khổ cực, dũng hành trong thanh
tịnh, phát triển đồng đều không còn mê chấp nữa. Áo
trắng tình thương là con đường tự giác, hơi thở trong
lành và thanh tịnh.
Minh tâm kiến tánh. Tự tu tự
tiến, lời nói trong trắng và thanh nhẹ, hòa cảm với
muôn chiều phát triển, hướng về tâm linh mà tiến
hóa đến vô cùng tận, kết thành một loại áo hòa hợp
với Trời Đất mà thành sự. Đến lúc ấy, người tu Vô Vi
mới thật sự trở về với nguyên căn nguồn cội của ánh
sáng diệu hiền đại bi.
Chỉ có hành mới thấy, chỉ có hành mới hiểu được
chiều sâu của Trời Phật, chỉ có buông bỏ và giải tiến
thì mới thành sự. Nụ cười không tốn tiền mà đem lại
niềm vui cho mọi người đồng hành và đồng tiến. Sự
cấu trúc siêu nhiên của Trời Đất đều có giá trị vô
cùng, chỉ có thực hành thanh tịnh thì mới thấy rõ
chơn hình chơn trạng, quang minh chánh đại thì mới
ban chiếu cho muôn loài phát triển tức là ánh sáng từ
bi, cùng hành cùng triển thì mới thật sự là ánh quang
độ đời.
IV
DỨT KHOÁT TỰ CỨU
Tình đời luôn kích động và lưu luyến gọi là tình cảm,
từ trược tới thanh; rất cần có sự dấn thân rõ rệt, trong
thực hành.
Tùy theo hoàn cảnh mà tiến hóa, thì mới
thấy rõ là tình tiền duyên nghiệp không khác gì một
chiếc còng, bày biểu những điều không cần thiết, lo
âu những chuyện vô ích cho phần hồn làm càng ngày
càng bị giam hãm, tự siết chặt tâm thân, tự cảm thấy
lúc nào cũng bận rộn cả, khiến tâm trí không được
phát triển, dấn thân trong khổ mà không hiểu được
giá trị của sự khổ!
Hướng ngoại lúc nào cũng giữ ý đồ
mưu sự không thành! Cuống cuồng theo chiều hướng
không cần thiết. Muốn ngoan đạo mà lại giữ đời tạm
vui, chiều hướng không rõ rệt và rất khó dứt khoát.
Không chịu thực hành trong thanh tịnh; khả năng
sẵn có của Trời ban là sự sáng suốt vô cùng tận,
hướng về cõi Đại La mà hành sự, quý yêu Trời Phật
mà tu. Không chịu ngu mà tự sửa, cứ ôm lấy trí khôn
tạm bợ không đi đến đâu cả, khó hòa khó tiến.
Thậm
chí cha con chồng vợ cũng phải ly tán thì mới cảm
thức được cô đơn là quý, bớt sự ỷ lại và tự cảm thức
được khả năng của chính mình, đương đầu trong mọi
sự cần thiết trong cuộc đời.
Phải hành thì mới có tiến, bằng lòng dấn thân phục
vụ quần sanh tức là tự tu. Trong thực hành nhiên hậu
mới thấy rõ nghiệp tâm là gì. Bằng lòng sửa mình
trong cuộc tiến hóa hiện tại, hướng về nguyên lý tình
Trời mà học hỏi.
Tự dập tắt được dâm tánh và sự đua
đòi bất chánh. Từ từ tự mình hiểu lấy chính mình
nhiều hơn thì mới bằng lòng buông bỏ những sự
không cần thiết và thực hành những sự cần thiết cho
tâm lẫn thân. Tự xây dựng cho chính mình một tập
quán tốt là hành thiền đúng đắn.
Tự tu tự đạt. Kết
quả tiến về không giới càng ngày càng rõ rệt hơn.
Lúc ấy mới cảm thức đuợc nguyên lý của Trời Đất mà
chịu thực hiện tha thứ và thương yêu, mới thấy được
sự hòa bình là rất cần thiết cho nhơn sinh tại mặt đất.
Thanh tịnh hiểu mình thì sẽ hiểu được tất cả tình
thương yêu của Trời Đất đã ngày đêm phục vụ quần
sanh ổn định mà tự tu.
DỨT KHOÁT CHỦ KIẾN
Người tu Vô Vi cần dứt khoát chủ kiến thì mới tránh
được sự mê lầm, hồn mới được thanh nhẹ. Tự hiểu
chiều sâu của đạo mầu, tâm không không dấy bận và
ô nhiễm bởi chấn động của ngoại cảnh. Dứt khoát và
thanh tịnh là trên hết, chẳng còn nuôi dưỡng sự
luyến tiếc trần trược.
Hướng thanh tự đạt chiều sâu
của tâm đạo, không khác gì người từ dưới chân núi
bỏ công đi lên đến đỉnh núi, không khí hoàn toàn đổi
mới. Nhẹ gánh khi đã đến rồi, thảnh thơi vô sự. Quý
không mà không muốn ôm nghiệp.
Giá trị vô cùng
của Trời Đất lúc nào cũng nung nấu trong thâm tâm.
Bằng lòng thực hành trong thanh tịnh để tiến hóa
thay vì ôm chấp để tạo khổ cho tâm lẫn thân. Dứt
khoát thú tánh hành đại đạo, giải tiến trong Đại La
của càn khôn vũ trụ.
Tự khai triển hội nhập với
nguyên khí diệu thanh của Trời Phật. Tâm không
động từ từ xuất phát. Duyên lành tận độ sẽ dìu tiến
tâm linh đến cõi vô cùng xán lạn. Minh sư tràn đầy sự
yêu thương và xây dựng.
Tâm lành và thanh tịnh là quý giá nhứt của quần sanh
hiện tại. Biết thương quý mình thì phải biết thương
người. Thành quả tốt đẹp không ngờ được do Trời
Đất đã chuyển thành sự thật; nhìn được, hiểu được và
thấu triệt được là điều lành của nhơn loại ở tương lai.
Đêm đêm lo tu và ăn năn sám hối thì tương lai phần
hồn sẽ được tốt đẹp, sẽ có đất dừng chân khi điển
tâm phát triển đồng đều và thanh tịnh.
Sự huyền diệu của Trời Phật hằng cứu giúp quần
sanh. Đối với người dày công hành triển thì sẽ hiểu
rõ điều này. Ngược lại, người biết phê phán mà
không hành thì suốt kiếp sẽ bị bơ vơ.
Nguyên khí của
Trời Đất nuôi dưỡng phần hồn, mà nhiều người trí óc
nông cạn, bất chấp quy luật của Trời Đất, tự tạo khổ
cho chính phần hồn của họ mà thôi. Đọc cho nhiều
sách nhưng không biết cách áp dụng còn tệ hơn
người không đọc mà chịu thực hành, khai triển thực
chất của tâm linh là ánh sáng và thanh tịnh.
TRUNG TÍN
Trung tín là căn bản tiến thân của người tu Vô Vi.
Xưng là tu Vô Vi mà không thực hành đúng đắn từ
đời lẫn đạo thì không bao giờ phần hồn được tiến,
mưu mô lợi dụng là một sự sai lầm lớn lao trong suốt
của cuộc đời tu học. Không tiến tức là chưa minh tâm
làm sao kiến tánh? Có kiến tánh thì mới có cơ hội ăn
năn sám hối và tự sửa tiến thân.
Muốn có điển quang thì phải tự giải, giải được thì sẽ
có cơ hội quy không, vượt khỏi ngũ hành sanh khắc
thì mới rõ đạo mầu. Đầu đuôi là một chẳng sao đổi
dời, càng trung tín thì sẽ càng rõ đời cũng như đạo.
Bình tâm tiến hóa hành trình quang khai, pháp lực
càng ngày càng thanh tịnh, tức là đạt được vốn để tự
giải nghiệp tâm.
Lấy oán làm ân cao tầng tự tiến.
Người đời lầm than, phân chia sanh khắc, nhắc nhở
người đời mà không bao giờ sửa được chính mình,
làm Thầy tử vi tướng số, đành quên vị trí tâm linh của
chính mình là một đại tội, không tự cứu mà muốn
cứu người khác.
Chỉ có tu trong thực hành thì mới tự giải được
nghiệp tâm, sai lầm dứt khoát, thành tâm bỏ đời qua
đạo. Hồn vía tương hội trong thanh tịnh, hồi sinh
vĩnh cửu ca tụng Niết Bàn và giải tỏa trần tâm, hành
trong sáng suốt và thanh tịnh. Từ trường điển quang
thanh nhẹ, hướng về ánh sáng diệu thanh mà tiến hóa
đến vô cùng tận.
Pháp lành hóa giải muôn dân đồng
hành đồng tiến. Tâm thức khai minh, hành trình xán
lạn, hơn là địa vị và tiền tài danh vọng của cõi tạm
trần gian. Nơi trú ngụ cuối cùng của phần hồn là
thanh nhẹ vô sanh có một không hai, không ngoài
khối óc liên hệ với cả càn khôn vũ trụ.
Chiều hướng đi lên là vô cùng tận, chiều hướng đi
xuống phân tán và tự đọa. Cho nên, người thật tâm
tu rất lợi lộc cho tâm thân hướng thượng, tận hưởng
nguồn sống của thanh quang trong thực hành. Mắt
tươi mặt sáng chẳng biết lo âu là gì, thì mới giải được
nghiệp tâm.
Chiều sâu của điển pháp luôn luôn ban
chiếu cho hành giả Vô Vi thực hành tinh tấn, chẳng
còn gian lao và khổ cực.
DỐC LÒNG TU SỬA
Thực tâm dốc lòng tu sửa thì chỉ có tiến tới trong
thanh tịnh và không bao giờ lùi bước khi khai triển
trực giác của chính mình. Hành để tiến, hành để giải,
hành để thông suốt chính mình chứ không phải hành
để bận rộn và không thoát.
Chú tâm về sự tiến hóa, không thay đổi, thì hồn mới
được thanh nhẹ. Ghi chép điều lành tận độ quần sanh
cùng hành cùng tiến thì tương lai phần hồn sẽ được
vinh quang và tốt đẹp. Cuộc sống nhịp nhàng trong
chấn động của vũ trụ quang, chẳng còn mê ăn, mê
ngủ nữa. Lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ bất cứ
chuyện gì cần đến.
Nền tảng tốt, việc làm tiến; cơ tạng khai triển, giọng
nói ấm và hòa cảm cùng các giới. Bốn phương Trời,
mười phương Phật đều cảm ứng sự trong lành trong
chu trình tiến hóa.
Quy y thanh nhẹ và sáng suốt,
mỗi mỗi đều phát triển dễ dàng trong tập quán tốt; sẽ
không còn mơ mộng và nhờ đỡ nữa. Chỉ thực hành
trong phục vụ thì duyên nghiệp tự nó xa rời, hưởng
trọn lành tâm thức sẵn có và sẽ không còn lệ thuộc
bất cứ từ đâu đến, cộng hưởng hòa bình và dễ dãi.
Không đi đường eo hẹp, nhưng chỉ hướng về sự lớn
rộng của Trời Đất mà hành sự. Tâm thành tự giải,
quy nguyên thanh tịnh và sáng suốt, sống vui trong
tâm thức hòa bình và thanh nhẹ, càng ngày sẽ càng
thông suốt cơ tạng và tâm linh.
Tự chủ trong xây
dựng, muôn chiều phát triển từ trược tới thanh. Bằng
lòng thực hành chánh pháp mà tiến thân, quy về một
mối của Trời Đất. Việc làm sẽ không nhiều mà chẳng
ít, lợi lộc cho quần sanh, cống hiến chơn ngôn trong
thành thật, và nuôi dưỡng phần hồn tiến hóa.
Chuyện gì cũng không mà chuyện gì cũng có, trong
định luật có có không không mà thức.
Vui trong thanh tịnh mà tiến thân, đời đạo song tu
trong tinh thần phục vụ sẵn có của tâm linh. Tâm
thức xán lạn, chấp nhận duyên Trời Đất đã cấu thành
mà tiến hóa. Phân giải phân minh mọi sự việc xảy
đến trong tinh thần thật sự hòa giải và cứu độ. Lấy
tình thương và đạo đức làm nền tảng của cuộc sống
mới.
CẤU TRÚC SIÊU NHIÊN
Siêu là không lời, tự đạt thành qua cơn khảo đảo, từ
tự nhiên kích động cho đến khai mở xán lạn và quân
bình hòa hợp với siêu nhiên thanh tịnh, không lời nói
vẫn thành tựu trong nguồn sống thanh tịnh.
Người tu thiền phải chấp nhận sự nhồi quả liên hồi
nhiên hậu mới cảm thức sự cấu trúc siêu việt từ đời
lẫn đạo. Dốc lòng tu tiến thì mới đạt tới siêu nhiên
thanh tịnh, sẽ không còn vấp phải sự chông gai mà
không giải quyết được. Thanh tịnh quán thông
nguồn gốc kích động và phản động, cấu trúc và phân
giải, tiến tới ánh sáng vô cùng trong nội thức.
Nhựt
Nguyệt ban chiếu trong nội thức. Hướng tâm về cõi
Đại La, hình thành ánh sáng vô cùng thanh tịnh và
an vui. Ở thế gian phi cơ bay hết tốc độ của chính
nó, chỉ có an toàn và rút ngắn hành trình; từ đó mới
tìm ra đáp số lực học mà xây dựng cho quần sanh
chung hưởng hòa bình. Hướng tâm về Trời Phật mà
hành sự, tự mình sẽ được thoát tục. Lúc ấy mới cảm
thức được phần hồn là vô cùng.
Thanh nhẹ là đàn anh, thuộc về văn; nặng trược
thuộc về đàn em, kích động và tạo khổ cho nhau
không lối thoát. Thước đo lường cả Càn Khôn Vũ
Trụ chỉ có thanh và trược mà thôi.
Sự hiện diện của
tâm linh tại mặt đất bao gồm âm dương, thanh và
trược hình thành thể xác tại mặt đất. Hồn làm chủ,
trách nhiệm đối với Trời Đất và nhơn quần, bắt buộc
học khổ mới sớm thức tâm.
Khoa học đã tìm ra mọi cấu trúc hình thành từ tự
nhiên mà ra, còn phần hồn của người tu thiền tìm ra
khoa học huyền bí, tức là sự công bằng của Trời Đất,
chỉ có hành mới thấy. Không hành tâm thức không
khai, chỉ nhìn ngoại cảnh mà tạo ra sự tham muốn,
suốt kiếp làm người cũng chẳng đạt thành.
Vốn sẵn
của Trời Đất đã ân ban không chịu tự khai thác bằng
phương pháp vô sanh và thanh tịnh thì không bao
giờ thành đạt. Người đời thích nhai đi nhai lại những
lời thành đạt của người đi trước mà tự chuốc lấy sự
bơ vơ vì không chịu thực hành để tự cứu.
Nhơn thân
nan đắc, pháp nan ngộ; không hành pháp thì không
sao khai thác chính mình, làm sao hiểu được lực học
quân bình của Trời Đất đã hằng hiện hữu từ sơ khai
thế giới cho đến nay.
Quân bình thì mới hiểu được sự
cấu trúc tự nhiên và siêu nhiên. Hiểu được nguyên lý
quân bình của Trời Đất thì mới có cơ hội thấu triệt
quyền năng của Đấng Toàn Năng mà học hỏi đến vô
cùng.
Ánh sáng thanh diệu hằng ban chiếu cho hành giả
thành tâm tu học. Niềm tin là căn bản. Thức tâm
trong thực hành. Tâm Không, thanh nhẹ, hòa cảm
nơi nơi mà tiến hóa.
TRẬT TỰ CHUNG HÀNH
Muốn có sự thanh bình tốt đẹp cho tâm lẫn thân thì
phải ý thức được giá trị chung hành pháp môn mà
mình đã chọn. Dốc lòng thực hành cho đến đích,
không ngoài sự mưu cầu tự cứu và ảnh hưởng người
kế tiếp. Trong tình thần phục vụ không biên giới và
bất vụ lợi. Đời đạo song tu rõ rệt.
Bằng lòng dấn thân
hành pháp không ngừng nghỉ. Trí ý phát triển đến vô
cùng nhiên hậu mới đem đến ánh sáng trong nội tại.
Cảm minh nghiêm luật của Trời Đất mà hành sự thì
không bao giờ chán nản.
Quy y Phật: là trở về với sự thanh nhẹ, tức là tha thứ
và thương yêu.
Quy y Pháp: là hành pháp liên tục, tức là sửa mình
trong chu trình tiến hóa.
Quy y Tăng: là trở về với thực chất của chính mình,
phù hợp với nguyên lý tự nhiên và hồn nhiên.
Tạo thành ánh sáng trong lành độ tha tại trần, phục
vụ tối đa phù hợp với nguyên lý của tình Trời.
Dấn
thân vô quái ngại, sửa sai cầu tiến liên tục, hành động
quý thương và xây dựng, cuối cùng sẽ gặt hái được sự
huyền vi của Trời Đất mà dứt khoát với tình đời động
loạn.
Thực hành trong thanh tịnh, cảm thức được sự
hòa bình trong nội tâm càng ngày càng lớn rộng.
Tâm từ bi phát triển, không từ chối bất cứ một trở
ngại nào xảy đến. Sẵn sàng tha thứ và thương yêu,
tinh thần xây dựng không bao giờ dập tắt, cương
quyết lập trường không thay đổi.
Cứu mình và giúp họ tức là buổi cơm hằng ngày của
tâm linh. Nhịp nhàng thanh nhẹ và trật tự, óc sáng
tâm minh, vui hòa với các giới. Thực hành nghiêm
luật, hòa ái tương thân với mọi người, xóa bỏ tuổi tác
già nua trong tâm thức, chung vui hòa bình với vạn
linh; đồng hành cùng tiến, vượt xuyên trận đồ mờ ảo
của trần gian.
Phát triển tâm linh và thực chất, vía
hồn tương hội trong thanh tịnh, thực hành chánh
pháp, hội nhập vào nghiêm luật vô sinh, tự hành tự
tiến không còn bỡ ngỡ bất cứ trong trường hợp nào.
Chấp nhận định luật hóa hóa sanh sanh của Trời Đất.
Bánh xe Pháp Luân Thường Chuyển không ngừng
nghỉ. Chiều sâu của đạo mầu sẽ tự cảm thức và vui
hòa với các giới.
Tâm thân an lạc vô cùng, vui trong niềm vui tự gặt
hái được phù hợp với định luật tự nhiên và hồn
nhiên, trật tự trong sáng suốt, cảm thức sự cấu trúc
siêu nhiên mà an vui.
V
MƯU MÔ
Cuộc sống trong kích động giữa nhơn quần, mưu cầu
thực hiện sự sống còn, mưu tâm bày ra đủ chuyện.
Thậm chí lợi dụng tình thương giữa nhơn quần, khai
thác từ gia đình một, tìm thị hiếu và niềm tin, lợi
dụng tình thế sách động đưa mọi người vào chỗ uất
ức, chống đối, tạo khổ cho nhau.
Đệ trình giải pháp,
mưu cầu địa vị. Miệng nói bênh vực dân lành kỳ thật
kiếm tiền mưu sinh. Nói chuyện hy sinh vì người kỳ
thật là chia rẽ để trị.
Ôi! Cuộc sống rất phũ phàng. Toàn là luận điệu
lường gạt chính mình và nhơn quần. Cũng vì lòng
tham vô bờ bến, lôi cuốn lẫn nhau trong động loạn.
Giành đất, giành cờ, biểu lộ bản chất bẩn thỉu, tranh
giành quyền lợi, đòi hỏi dân chủ và nhân quyền,
nhưng không biết được vị trí của dân chủ và nhân
quyền nằm đâu.
Ngày đêm suy tư bất ổn, khó ăn khó
ngủ, luôn luôn suy tư hướng về đất nước nhưng
không biết căn bản của đất nước ở đâu. Tìm đủ mọi
cách khắc phục nhơn tâm, cuống cuồng theo ngoại
cảnh, không biết chính mình đã từ đâu đến và sẽ về
đâu.
Chạy theo chiều hướng phát triển của vật chất
mà gọi là văn minh, quên cả phần hồn và gốc gác
thanh nhẹ của chính mình!
Tức là phần hồn đang
chịu trách nhiệm giữa Trời và Đất. Mất tâm điển hòa
bình giữa Trời và Đất! Không biết tài sản cuối cùng
của Trời Đất đã hình thành. Mắt thấy, tai nghe tạo ra
sự sáng suốt phục vụ tâm thân và tận dụng quyền
năng sẵn có để khai thác và xây dựng chính mình từ
đời lẫn đạo. Hồn vía phân minh, nhiệm vụ rõ ràng.
Phần hồn là chủ của thể xác nhưng hành sự không
đàng hoàng, liên hệ với Trời Đất mà không hay.
Phạm rồi tái phạm.
Tạo loạn cho chính mình, làm
mất trật tự của sự tự nhiên và hồn nhiên. Đòi hỏi dân
chủ mà phần hồn không biết làm chủ thành ra nhân
phẩm của Trời Đất tan biến, làm hư nhân tốt của
Trời Đất hình thành. Tự thấy cuộc sống lẻ loi, mất sự
liên hệ tự nhiên và hồn nhiên. Lạm dụng muốn có
nhân quyền nhưng quên đi sự tiến hóa vô cùng của
phần hồn.
Nhân tốt của Trời có quyền hướng về
thanh tịnh mà tu sửa trong chu trình tiến hóa. Khi
đọc và hiểu được nguyên lý của Trời Đất thì rất hổ
thẹn với chơn tâm thanh tịnh của chính mình.
Ở mặt đất này, thiếu thanh tịnh, không thông cảm
nguyên lý của Trời Đất, dù đạt tới địa vị cao nhất ở
trần gian đều là bơ vơ và không có lối thoát.
ĐẠI SỰ CHUNG
Muốn làm đại sự chung tiến thì phải dẹp bỏ tự ái cá
nhân, nhiên hậu mới bằng lòng ngồi chung với nhau
cùng thực hành cho đến đích. Phải tự dấn thân như
mọi người và không nên tưởng lầm là mình khôn hơn
người khác. Cần học, cần hành thì mỗi mỗi sẽ được
đồng nhất, không si mê cá tánh.
Thực hành đúng
đắn, trước sau như một, không còn ý thức phân tán
từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên, nuôi dưỡng
tình thần chung hợp cùng tiến thì mới đúng luật của
Trời Đất. Quy một mới rõ sự nhiệm mầu là gì.
Cho
nên, làm người mà đồng nhất thượng trung hạ thì
mới tiết ra điều lành. Tiên Phật thực hành trong
thanh tịnh thì mới tiến đến sự thanh cao và đồng
nhất. Vô sanh bất diệt thì chỉ có hành không có phá.
Thương nhau giúp nhau cùng tu cùng tiến.
Triền miên học hỏi và triền miên tiến hóa, đạt đến
tâm hòa ổn định, tạo thành một thành trì tự giác và
giác tha tại trần.
Không khổ không lo là hòa bình
thật sự. Vui với tranh Trời tươi đẹp và nhàn hạ thì chỉ
có tu sửa chính mình là cần thiết nhứt. Nhớ nhung
trong thanh tịnh là thật sự yêu thương và xây dựng.
Thời tiết khí trời thay đổi trong thiên cơ biến chuyển
nên loài người cũng vậy.
Phải nhìn đó và đồng nhứt
sửa tiến gọi là thuận thiên giả tồn. Nếu áp dụng cá
tánh thì nghịch thiên giả vong. Mỗi mỗi việc lớn hay
nhỏ cũng sẽ bị sụp đổ vì thiếu đồng nhứt giữa Trời
Đất và Người. Vắng mất ánh sáng từ bi và xây dựng,
tạo thêm khổ thay vì hưởng phước của Trời Đất sắp
đặt ngay trong khối óc của loài người từ trong lúc
chào đời.
Thiếu thật thà tức thiếu xây dựng. Thực hiện tình
thương và đạo đức là khí giới tối tân nhất trong quả
địa cầu này.
THẢM KỊCH MIỀN NAM
Cuộc sống an vui lúa vàng khắp xứ, bỗng nhiên một
cơn gió lốc quét sạch mọi mầm mống vươn lên trở
thành thiếu thốn trên mọi mặt.
Chiến tranh bùng nổ
khắp nơi nơi. Sanh tử luân hồi dãy đầy tàn tật cộng
với vết thương lòng. Gia đình ly tán kẻ ở người đi.
Tình thâm huynh đệ tỉ muội bắt đầu nghi kỵ lẫn
nhau, dập mất thiên tính. Giành từ món vật cho đến
miếng ăn hằng ngày, tạo thành khổ cảnh cho nhau.
Cán cân xã hội mất quân bình. Từ bậc lãnh đạo cho
đến người dân hiền hòa đều phải tháo chạy xa nhau.
Mùi vị quê hương dần dần tan biến. Mọi người phải
nhận lãnh một bài học không cần thiết. Mưu mô giết
hại lẫn nhau bằng một ý thức nông cạn vì búa rìu
chặt hại.
Thần kinh bất ổn, cảnh an vi thuần túy tan
biến dần, chỉ biết than Trời trách Đất! Chẳng biết sẽ
nhờ cậy nơi ai! Bần cùng hóa toàn dân. Sống như tu,
khổ như tù, tới già mới biết mình ngu. Người chỉ
nhận những lời hoa mỹ hằng ngày qua phương tiện
đã chiếm đoạt được, trong khuôn khổ càng ngày
càng giới hạn.
Than ơi! Cuộc biến thiên lại dập dồn sau cuộc chiến
tranh tàn khốc một cách vô lý vô nhân, nhưng những
phần hồn đau thương vẫn còn sống mãi. Chịu cảnh
luân hồi trở lại chính trường, cùng xây dựng một
cuộc sống mới trong nguồn sống tham dâm tự hại.
Xã hội không còn thực hiện nghiêm luật đạo đức như
xưa. Bóc lột trên nguyên lý bóc lột, sanh ra hối lộ
toàn diện. Dân nghèo mạt không được cứu giúp, hạ
tầng cơ sở không yên. Âm binh xâm nhập tiên tri
loạn thuyết, phục vụ cho số người tham dâm.
Mất đi
thiên tính căn bản, nói được nhưng không bao giờ
làm được thiên đàng tại thế! Học cách chê và khen,
không giải quyết được. Cầu xin, cầu xin và ước vọng,
ước vọng. Cuối cùng chẳng tiến đến đâu cả. Từ giống
tốt trở nên giống xấu. Người dân nghèo đều thất học,
mức độ thăng hoa của xã hội đều tàn rụng. Thiếu trí
mất tâm linh, dẫn thuyết không minh triết, dần dần
sẽ bị tan rã.
Mầm non sẽ vươn lên, đơm hoa kết lá biến thành một
nơi cộng hưởng hòa bình sau cơn dày xéo đau khổ!
Tái hồi căn bản thăng hoa tu học theo truyền thống
xa xưa. Sống có đầu có đuôi tức là có hồn có vía.
Gánh vác giang san rõ rệt, đồng thanh tương ứng,
đồng khí tương cầu, năm châu bốn bể họp mặt trao
đổi chung vui và hòa bình.
Thuận thiên hành sự tốt
đẹp trong sự cải tiến đại sự chung. Mảnh đất đau
thương và giành giựt sẽ trở nên hiền hòa cộng với
thời tiết Xuân Thu ôn hòa. Tâm hồn thoải mái cùng
vui trong xây dựng. Tình thương và đạo đức tái hồi
trong nguyên lý thâm sâu. Chúc phúc và xây dựng
cho nhau, phát triển đại sự chung. Dân hiền đất nước
yên vui. Thấm thía và chung sống an vui. Màu xanh
phát triển, sinh khí dồi dào. Bất chiến tự nhiên thành.
DÂN NGU
Dân ngu là người dân thật thà, thích hợp với chơn lý,
bằng lòng phát triển tùy theo hoàn cảnh mà sống,
cho nên Trời phú cho thiên tánh bần cố nông. Dãi
nắng dầm mưa thành tâm phục vụ chúng sanh, trồng
khoai trồng lúa độ đời, chấp nhận cảnh bão lụt cô
đơn.
Người khôn đời không đạo đức, mưu tâm mua rẻ bán
mắc, làm giàu trên sự cực nhọc của người dân, đó là
một tội hồn tại mặt đất, tự làm mất giá trị của tâm
linh và đạo đức. Đi xe hơi đẹp, cưới vợ xinh, hưởng
không được bao lâu rồi cũng phải bỏ xác, hồn ra đi
thọ tội vì tham dục và tăm tối. Chết rồi, hồn chỉ có
biết tiếc và khóc. Lúc có xác không biết tu để hòa
hợp với nguyên khí của Trời Đất mà bồi dưỡng phần
hồn càng ngày càng sáng suốt hơn, đến lúc chết ăn
năn sám hối cũng đã muộn rồi.
Sống ở đời ham vui, không chịu tự cứu bằng một
phương pháp thực hành khứ trược lưu thanh thì hồn
mới có cơ hội thoát khỏi nghiệp chướng luân hồi
trong khốn kiếp si mê.
Người tu Vô Vi hiểu được nguyên lý điển quang của
Trời Đất, hồn được trường sinh bất diệt, Minh đời
hiểu đạo, sống trong nhịn nhục, giải khổ giải mê,
hướng về thanh tịnh mà thực hành, thì đường tu sẽ
đạt tới quân bình và tốt đẹp. Gia trì thanh tịnh, hành
pháp siêng năng, hiểu mình hiểu họ, tự khai triển
thức hòa đồng trong thanh nhẹ.
Vui đời vui đạo, cuộc sống an vui.
TÌNH MẸ
Tình mẹ tức là tình của quê hương đất nước. Nguyên
lý sanh ra ở đời, người mẹ nào cũng phải chịu sự đau
khổ và nhức nhối của toàn thân, không khác gì một
cơn bão bùng nguy hiểm, khổ nạn trong khổ nạn mà
sinh ra một đứa con yêu quý, hấp thụ dưỡng khí của
Trời Đất mà hình thành. Mẹ con đùm bọc lẫn nhau
trong cuộc sống, âu yếm sống chết có nhau, phục vụ
con thơ cho đến khi khôn lớn; biết bao kỉ niệm đã in
sâu vào thần kinh khối óc cho đến cơ tạng tứ chi,
một trang sử dầy đặc của Trời Đất đã ghi chép từ
sống cho đến chết.
Cứ vậy mà tiến hóa từ hoàn cảnh
này cho đến hoàn cảnh nọ, đầm ấm từ gia đình cho
đến xã hội. Hướng tâm về sự yêu nước yêu dân, tự
diễn tả những điều quý báu mà độ đời, qua tâm thức
dũng mãnh hỗ trợ cho nhau, qua tiếng hát câu hò của
hành giả tại mặt đất, thường khêu dậy tình quê Mẹ và
đất nước thương yêu.
Từ từ hiểu được nhân đạo, lần
lần đi tới gốc gác của tâm linh. Tự khám phá ra Hồn
và Vía thì mới cảm thức được lãnh vực thanh tịnh của
chính mình mà phát triển về đạo Tâm.
Quý yêu
muôn loài vạn vật, thì mới thấy đường lối của
Thượng Đế đã ân ban cho nhân loại chung tiến. Sẽ
không còn ngăn cách nữa, tình yêu càng ngày càng
mở rộng, quý yêu Trời Phật và dũng tiến hướng về
Trời Phật mà hành sự, mức tiến sẽ đạt đến vô cùng,
thì cảm thức được vô sanh bất động mà tiến hóa
trong thanh tịnh.
Khai thông từ bước một, cảm
thông diệu pháp của Trời Đất, từ tình Mẹ âu yếm đưa
đến mọi sự cứu rỗi của linh hồn ở tương lai, đến tình
Người là thiên tính sanh ra rồi cũng sẽ có cơ hội trở
về Thiên Quốc. Lúc ấy, mới cộng hưởng hòa bình vô
sanh bất diệt. Tranh Trời tuyệt đẹp trong nguyên lý
đời đạo song tu.
Ca tụng tình Mẹ, ca tụng nhơn sinh, ca tụng nguyên
lý của Trời Đất, tận độ quần sanh không ngần ngại.
Dấn thân thực hành pháp môn tự khai sáng trí tâm,
thầm tu thầm tiến tự tầm nguyên lý của tâm linh,
đường đi bất khuất và tận độ.
DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN
Ai ai cũng muốn có một cuộc sống thái bình và tham
gia vào sự kiến thiết chung, lúc nào cũng ước muốn
trọn lành và tốt đẹp hơn. Vậy trước hết phải nhìn lại
sự hiện diện của chính mình trên mặt đất này, do đâu
đã hình thành một khối óc tinh vi và sáng suốt, lúc
nào cũng đòi hỏi sự trọn vẹn cho chính mình và quần
chúng trong cuộc chung sống hiện tại. Cho nên đã
nêu lên quyền làm chủ địa dư mà chính mình đang
có, như thể xác hiện tại, ai là chủ?
Thể xác này bao gồm đầy đủ sự cấu trúc tinh vi như khoa học đã tìm
thấy một phần về y học, còn tâm linh thì những
người khổ công tham thiền nhập định đã tìm ra
nguyên căn nguồn gốc của phần hồn. Thanh tịnh và
sáng suốt đã và đang đem lại sự bình an cho thể xác.
Bằng lòng hay phản đối cũng do phần hồn ý thức và
quyết định. Phần hồn hoàn toàn làm chủ Tiểu Thiên
Địa, tâm làm thân chịu, hậu quả chính mình phải
gánh chịu như kết quả của sự bất chánh và hung hăng
thì thể xác phải hoàn toàn gánh chịu, tức là đem lại
bịnh hoạn và lo âu!
Muốn biết được chiều sâu của tâm đạo, trước hết thì
phải biết phần hồn là chủ của thể xác, chứ không
phải thể xác là chủ của Hồn. Hồn là gì?
Được quyền
làm chủ của thể xác, người tu thiền phải bằng lòng
hướng tâm về thanh tịnh mới tìm ra được vị trí của
phần hồn, tự giảm bớt sự đòi hỏi hướng ngoại mà âm
thầm phát triển trong tâm thức thì mới tìm ra được vị
trí thanh tịnh của phần hồn, thì mới cảm thức được
phần hồn từ tam thập tam thiên giáng lâm xuống thể
xác, bị giam hãm bởi ngoại cảnh, cuống cuồng theo
chiều hướng động loạn, đóng góp và đấu tranh cho
kỳ được mục tiêu mà mình muốn, cuối cùng cũng
phải buông xuôi ra đi với hai bàn tay trắng.
Tiếc vì có
cuộc sống xây dựng cho phần hồn tiến hóa nhưng
không hành, uổng cho một kiếp người mê say và
động loạn, quên đi sự thật của chính mình, tức là
phải tu để tiến theo đà tiến văn minh do Thượng Đế
đã an bài. Vạn linh đồng hành đồng tiến.
Nếu bằng
lòng thuận theo thiên nhiên tình Trời sẽ gia tăng
được sự sáng suốt trở về với Thượng Đế, hòa hợp với
Đại Bi mà sống thì cuộc sống sẽ khai triển được bình
an về tâm linh và thể xác. Trật tự phù hợp từ Đời lẫn
Đạo. Bớt được sự đòi hỏi bất chánh thì mới tạo được
cảnh quốc thái dân an.
Trí tuệ tự giác càng ngày được
gia tăng, hiểu được nhân phẩm trong tự do phát triển
tâm linh, quyền sống thanh tịnh cá nhân sẽ rất có ý
nghĩa trong cuộc sống trật tự giữa Đời và Đạo. Xã
hội sẽ được tốt đẹp, thích hợp với cuộc sống an vui
và hòa bình.
Cần tu sửa tâm thức nhiên hậu mới thực hiện được
dân chủ và nhân quyền của cuộc sống.
VI
SỨ GIẢ HÒA BÌNH
Mỗi khối óc tại mặt đất đều là sứ giả hòa bình. Có trí
khôn biết tu sửa và xây dựng tâm thức hòa bình từ
trong ra ngoài, nếu đi ngược từ bên ngoài vô trong
thì chỉ có tạo động cho chính mình mà thôi. Đi,
đứng, ngồi, nằm đều đòi hỏi trật tự trong xây dựng,
không chịu tu sửa đạt tới nguyên lý siêu năng của
chính mình thì chỉ sống ỷ lại nơi tha lực, dậm chân
tại chỗ chỉ có thụt lùi và không tiến. Hồn không
minh, xác không có trật tự, tham dục và tự hủy mà
thôi.
Muốn có sự hòa bình đồng nhất thì phải dốc lòng tu
sửa trong nhịn nhục. Trí sáng tâm minh mới thật sự là
sứ giả hòa bình. Quý thương vạn linh trong quả địa
cầu, nhìn nhau bằng thực chất của đôi bên, phát triển
tâm linh, cộng đồng hợp nhất, đó là căn bản của sự
hòa bình. Bằng lòng chung tiến trong xây dựng, trực
giác cảm thức được chiếu sâu của tâm đạo, hòa hợp
với nguyên năng sẵn có của càn khôn vũ trụ, nới rộng
tâm thức vị tha, hướng đi giải mở và dìu tiến, cảm
nhận được thắng cảnh siêu diệu của Trời Đất mà tiến
thân.
Nhìn nhận sự hòa bình là cứu cánh của nhân
sinh, thực hiện tình thương và đạo đức. Đâu đâu
cũng sẽ cảm thấy được sự hòa bình đồng nhứt, ca
ngợi tranh Trời tốt đẹp vô cùng của Trời Đất. Sống
trong lẽ sống bình an và vô sự, tâm thức nhàn hạ và
rảnh rỗi. Vui thật là vui, hòa mình trong sự siêu năng
thanh nhẹ, cuộc sống an bình và tốt đẹp. Tự cảm
thức được nhịp thở hiện tại là chung hành chung
tiến, chẳng lo âu hay sợ mất và còn. Dấn thân hành
triển trong thanh tịnh, để trở về với thanh tịnh. Học
từ bi thực hiện từ bi, thật sự đem lại cảnh yêu thương
và trìu mến trong trật tự.
SỨ GIẢ HÒA BÌNH (II)
Mỗi linh căn giáng lâm tại thế đều là sứ giả Hòa Bình,
nhưng than ôi! nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý đều hướng
ngoại tạo động, tranh đua cho kỳ được những gì
mình muốn. Cho nên vắng đi sự thanh tịnh cơ bản
nguyên năng sẵn có từ lúc sơ sanh. Thích động loạn
mất hẳn tâm linh và hòa bình trong nội tâm. Thậm
chí người thân yêu chung chăn chung gối cũng phản
nghịch với nhau, làm sao có hòa bình? Mưu sinh,
mưu sinh, vụ lợi, vụ lợi, mất đi cán cân quân bình của
nội tâm, tạo tâm bất ổn trí bất an. Khổ, khổ, nhiên
hậu mới ước ao có được sự hòa bình và nhàn hạ.
Gốc chính của mỗi linh căn đều từ cõi hòa bình mà
giáng lâm xuống cõi ô trược tham dâm này, rồi cuống
cuồng theo cuộc sống phức tạp và bị ô uế tâm thân,
tham dục không giờ dứt. Sự phiền muộn luôn luôn
xảy ra trong cuộc sống. Thân xác già nua, bắt đầu
chán ngán tình đời đen bạc, phân vân không lối
thoát.
Lúc bấy giờ mới hướng tâm về Trời Phật, tự
tiềm tàng sự tinh vi đắc pháp của hành giả đã thành
công, mà bỏ công tu luyện, tự giải nghiệp tâm, hướng
về sự xán lạn của Đại Bi mà tu tiến; thì mới thấy rõ
nhịp độ hòa bình của Trời Đất có sẵn. Nhưng nhơn
sinh quên hẳn lãnh vực tâm linh, hướng về đấu tranh
tạo cảnh bơ vơ, đòi hỏi dân chủ và nhân quyền.
Tranh đấu vì dân chủ và nhân quyền mà cũng vẫn
chưa hòa bình, vẫn tranh chấp lẫn nhau vì mọi sơ hở
chưa hoàn tất. Lúc nào cũng muốn có sự hòa bình
không biết phải làm sao?
Cơ Trời biến chuyển, mọi người đã tìm hiểu và nhận
thức được luật nhân quả của Trời Đất có. Vậy muốn
trở về với nhân lành của Trời Đất thì phải làm sao?
Phải tự giải nghiệp tâm qua phương pháp mà người đi
trước đã hành đạt. Giải bỏ nghiệp tâm nhiên hậu mới
cảm thức được sự hòa bình là cần thiết cho cuộc
sống. Từ người đời cho đến người đạo, quý bộ đầu và
tận dụng phát triển bộ óc sẵn có của chính mình thì
mới thấy rõ chính ta là một sứ giả hòa bình. Tiếp tục
thực hành chánh pháp khai thông trí tuệ, cống hiến
chơn ngôn tạo hòa bình cho các giới gần xa trên mặt
đất này.
Kết luận là trọn tín trọn lành, nhiên hậu mới
đạt được kết quả của sự hòa bình, hòa hợp cùng Trời
Đất mà tiến thân, mỗi mỗi đều phải tự dựng xây và tự
đạt.
HỒN THIÊNG
Sanh ra làm người tại mặt đất, có đầu có đuôi thì ai ai
cũng có hồn có vía cả, nhưng vì nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt,
thân, ý, chuyển động tạo ra chiều hướng ngoại, mưu
lợi cá nhân; biến thể của nó là tham dâm và ích kỉ,
tạo động cho đến chết, hồn vía bơ vơ, tâm linh
không phát triển. Sau khi chết lìa xác chỉ có hội nhập
trong cõi âm u thay vì xán lạn của Trời ban, mất vốn
thanh nhẹ và sáng suốt, gọi là tội hồn âm u và mê
chấp. Suốt kiếp không phân minh được đời đạo ra
sao. Mắt nhìn thấy tiền tình là quý, rồi cuống cuồng
theo chiều hướng tranh chấp, làm bất lợi cho vía,
nhưng cứ làm vì tập quán u tối đã cấu thành nhiều
kiếp; đành phải chịu nghiệp quả luân hồi. Học hy
sinh và phục vụ, như cầm thú tại thế đã và đang làm.
Cầu xin mà không bao giờ thoát nghiệp.
Chỉ có tu giải thì phần hồn mới được sáng suốt, ly
thân học đạo nhiệm mầu của Trời Đất. Lúc lìa khỏi
xác phàm, trí tuệ phân minh, hành trình rõ rệt, vượt
khỏi mây tầng mê chấp của nội tâm, dứt khoát và tu
tiến. Thất tình, lục dục, nhơn duyên tạo cho hồn vía
trì trệ và không thoát nghiệp, nên suốt kiếp lo lắng
rồi cuối cùng cũng phải về Không. Hồn thiêng đến
từ cõi thanh nhẹ, cuối cùng cũng phải ra đi với hai
bàn tay không; lúc chết mới thấy mình sai, bắt buộc
phải luân hồi lục đạo mà học hạnh hy sinh và tận độ
như Trời Đất mà tiến thân.
Quy luật của Trời Đất thật chằng chịt, đã và đang
giáo dục hồn vía thăng hoa và tự thức. Khổ cảnh xuất
hiện triền miên bởi bản chất tham dục và không lối
thoát. Có hồn không minh, có đạo không hành, làm
sao thông suốt được tình Trời Đất mà tu; uổng cho
một kiếp người không chịu khai thác lấy chính mình
bằng phương pháp khứ trược lưu thanh, ngược lại để
trược bám tạo thành trì trệ và không tiến.
CÔ GÁI PHÙ SANH
Tình cha huyết mẫu đã cấu thành một hình thù
duyên dáng, có tứ chi có khối óc, chịu học chịu tiến,
nhiên hậu mới thấy rõ chính thân xác là tạm hành.
Một thời gian rồi cũng phải bỏ xác, và hồn vía phải
ra đi học hỏi vô cùng ở bất cứ hoàn cảnh nào đưa
đến. Dũng hành trong khả năng của chính mình,
nhìn rõ ngoài trong cũng đều là tạm: Chưa biết yêu
lại muốn được yêu, cuối cùng cũng phải buông xuôi
theo định luật tiến hóa của Trời Đất đã và đang sắp
đặt trong nguyên lý tự nhiên và hồn nhiên. – Không
bằng lòng cũng phải bằng lòng, từ trược tới thanh,
lân la trong tình đời đen bạc, kích động muôn chiều.
– Học nhịn nhục nhiên hậu mới cảm thức được phần
hồn đang sống theo quy luật của Trời. Chỉ có tu sửa
mới gặt hái được một phần sống động của tâm linh.
Tự cảm thức tạm cảnh phù sanh, giữ nguyên lý của
Trời Phật đã thành công mà tu tiến.
Càng ngày càng phân minh sự mê giác của nội tâm
mà tự tu sửa, hướng về hồn vía sẵn có của Trời ban
mà hành triển tâm linh, thì mới thấy được sự vô cùng
tận của Trời Đất mà tự tu. Phần hồn chịu tu thì mới
tiến tới vô cùng diệu thanh của Trời Phật, gọi là Niết
Bàn hằng hữu của Trời Phật đã và đang ngự. Nơi đó
rất bình đẳng và xây dựng.
Cô gái phù sanh lại có cơ hội tiếp thu ánh sáng diệu
thanh của Trời Phật mà dũng mãnh tu tiến, biến
thành sắc đẹp mỹ miều, phù hợp với Đại Bi của Trời
Đất mà ổn định muôn đời thanh nhẹ, ban chiếu cho
mọi giới mọi nơi khi cần nó. Quán Âm độ hành và
cứu rỗi!
ÐÓA HOA HỒNG
Bình minh ánh sáng quang chiếu, điện năng lòng đất
xuất phát đi lên tạo thành màu sắc tươi vui, hai chiều
phối hợp hình thành, nhơn sanh nhìn thấy đến hoa
hồng ai cũng thích thú, quý yêu màu hồng tươi đẹp,
nụ cười phơi phới, tạo duyên cho mọi giới. Hãy nhìn
hoa mà hỏi:
Hỏi: Ai sanh cô ra?
Đáp: Thưa cái cây gai góc kia sanh tôi ra.
Hỏi: Cô có gì khác cái cây này không?
Đáp: Thưa, tôi khác xa nhiều hơn, vì tôi có nhiều
người quý mến, hương sắc tốt tươi hơn cái cây này.
Hỏi: Cô có sống lâu hơn cây này không?
Đáp: Thưa, tôi sẽ sống lâu hơn và sẽ ngự trong lòng
mọi người.
Nhưng không lâu, thời tiết thay đổi, gió mưa bất
thường, hoa tàn nhụy rơi, hạt giống phải chịu định
luật hóa hóa sanh sanh mà tiến hóa. Hạt giống bị
chôn vùi dưới đất tự phấn đấu vươn lên cây khác,
chúng ta tự hỏi cây vừa vươn lên xem có khác hơn
cây đã già không? Cây mới vươn lên cũng phải nhìn
nhận rằng tôi đã chiết ra từ cây gồ ghề gai gốc mà ra.
Phải chấp nhận định luật hóa hóa sanh sanh mà tiến
hóa. Sắc đẹp là tạm. Sự dũng mãnh tiến hóa là trường
cửu. Trật tự của Trời Đất đã có từ xa xưa cho đến nay
cũng như nhau.
Hiểu được nguyên lý của Trời Đất, thì cổ tân là hình
thức để tiến hóa mà thôi. Người tu thì phải xây dựng
nội thức thì mới thật sự là người tu. Bày biểu hướng
ngoại khoe khoang áo mão không phải là người tu.
Chức sắc là hoại. Hành triển là trường cửu và vô
sanh.
TÔI VÀ ANH
Chúng ta chung sống trong bầu thanh khí của Trời
và Đất, cùng chung hít thở giải tiến tâm linh, sống
trong sự nghịch thuận của tâm thức. Ai ai cũng muốn
có sự quân bình và công bằng diễn tiến từ trong tâm
thức cho đến mắt thấy tai nghe, cùng chung nguyện
vọng thâm sâu và cởi mở, nụ cười trong sự hoan hỉ và
vui đẹp. Tâm tình quý yêu của Trời Đất, chỉ có vui
không có buồn. Vui trong thanh tịnh và trật tự, tự đạt
nguyện vọng thanh cao trong xây dựng. Không còn
xa cách và bỡ ngỡ lẫn nhau, cao thấp cũng đồng nhịp
sống của cả càn khôn vũ trụ. Nhìn nhau, thấy nhau và
mách bảo cho nhau những điều không cần thiết.
Tình, tiền, duyên, nghiệp đều là tạm, chỉ có tự tu sửa
mới hiểu điều này.
Bằng chứng là lúc nào chúng ta cũng chung hợp cùng
Trời Đất qua nhịp thở sẵn có, rất cần sự thanh tịnh
để nhân diện với nhau. Từ tiền kiếp cho đến bây giò,
luân lưu trong dịch lý của Trời Đất, tròn trịa xoay
chiều hướng dẫn tiến hóa. Muôn chiều thức giác là
Không Không trong thanh tịnh. Tâm linh thật sự đến
với ánh sáng diệu thanh của Trời Đất.
Tôi và Anh, hai vị trí khác nhau nhưng cuộc sống là
một. Thâu phóng như nhau, trước sau luân lưu như
nhau trong trật tự nhân và quả đã sắp đặt từ lâu,
trong hành trình điêu luyện mệt mỏi. Có khi chấp
nhận khi không. Nghịch lại chiều tiến hóa của tâm
linh, chỉ thấy khổ! Không thấy được sự vui sướng của
Trời Đất ân ban từ giây phút khắc, dịu hiền trong xây
dựng. Càng tu càng thấy rõ chính mình đang bơ vơ,
và lạc lõng trong sự liên hệ giữa Trời và Đất, dũng
mãnh sửa mình sau cơn kích động và phản động giữa
đời và đạo thì mới đạt tới sự quân bình của nội tâm.
Tự đáp ứng với sự diệu thâm của Trời và Đất, chẳng
có gì mất và chẳng có gì tồn tại cả. Luật là luật không
sửa đổi được. Có tu thì có tiến. Không tu thì chỉ có
tạo phiền cho nội tâm mà thôi. Ngôi vị của Trời Đất
đã sắp xếp, thì chỉ có thanh nhẹ mới sớm về đến nơi.
Tôi và Anh lo khép mình tu tiến, hướng về luật định
của Trời Đất mà hành sự. Chúng ta sẽ càng vui trong
thanh tịnh. Quý nhau, thương nhau, cùng nhau diễn
tiến tới vô cùng tận. Dứt khoát thực hành trong xây
dựng, vui trong niềm vui an lạc, hướng thanh giải
trược tiến thân trong muôn chiều thanh tịnh.
KỈ NGUYÊN DI LẠC
Thiên cơ biến chuyển không ngừng nghỉ, tạo cảnh
chết chóc vô cùng thê thảm, khiến tâm người tự
động hướng về người đau khổ, cầu nguyện và bố thí
vật chất cho đến chơn ngôn, tận độ và cứu vớt, tùy
duyên mà độ hành. Di Thiện Tối Lạc, giúp người
không kể công, lượng từ bi phát triển, sống an lành
trong tinh thần tận độ. Nhiên hậu mới hấp thụ được
sức mạnh của Ðấng Tạo Hóa đã và đang chuyển cho
quần sanh biết quý yêu Trời Phật và chung tiến hòa
bình trong kỉ nguyên vô cùng đổi mới. Hướng thiện
tự cứu thay vì mưu mô sát hại lẫn nhau, gần nhau
nghiên cứu và xây dựng cho nhau trong tinh thần cứu
độ.
Theo hành trình của Thượng Ðế: Trong óc của vạn
linh tại thế biết quý thương thân xác của mình với
mọi giới, cũng đều đang nằm trong định luật hóa hóa
sanh sanh của Trời Ðất, phải cùng chung xây dựng
trong tinh thần đóng góp bất vụ lợi, phù hợp với tình
Trời, mà hợp nhất thăng hoa. Khám phá sự tinh vi
của Trời Ðất đã hình thành. Theo luật nhân quả mà
tiến thân. Sống trong cảnh nay còn mai mất, tâm ý
vô can, hiểu luật của Trời Ðất mà sanh tồn, không
biến dạng trong chân lý không dư không thiếu.
Người tu thiền cảm thức điều lành của Thượng Ðế đã
và đang hành đại sự chung, thì tâm an mà tu tiến, sẽ
không động loạn trong cuộc biến thiên của Trời Ðất.
Tâm thành và dứt khoát tiến thân thì phần hồn sẽ
được cứu.
Kỉ Nguyên Di Lạc là một kỉ nguyên mới đã và đang
dẫn tiến tâm linh trong thực hành và khai triển thực
chất của hành giả tại mặt đất.