00000000L26
12 và 13/10/1987
NGUYÊN THỦY TỨ THẬP CỬU CHƯƠNG TU ĐẠO KINH
(49 CHƯƠNG TU ĐẠO KINH NGUYÊN THỦY)
Phàm muốn tu đạo, lấy việc lập công làm đầu, giúp người cứu đời, công đức sao cho thực sâu dày, như các vị Tiên Thiên chân chính hàm dưỡng công đức vượt cả các bậc Thánh. Tích lũy công đức đủ ngàn, hình hài và thần khí đều thành Tiên. Công đức không đủ ngàn, hình hài bị hủy diệt, chỉ có thần khí được thành Tiên. Ơn mưa móc nhuần thấm cả triệu dân, ngọc thanh quý báu xác phàm hóa thành Tiên, tâm hồn siêu thoát hòa hợp cùng tự nhiên. Tan ắt thành khí, ngưng ắt thành người, thần thông tự tại, biến hóa không thấy hình, bay dạo ba cõi, ra tối vào sáng. Nguyện cứu vớt hết thảy chúng sinh, không nản lòng thối chí, tự đắc chân đạo.
Sự trai giới là căn bản, là bến là cầu của đạo, luôn luôn một lòng trì trai giữ giới, lòng tà tự nhiên dứt. Chúng sinh phải bỏ ăn mặn, vui sướng, ham thích tanh hôi để mà chăm lo hành pháp cho có kết quả, chớ như quỷ đói chuyên ăn thây chết, bụng đói cứ bị lửa thiêu đốt mãi chẳng hề được no nê. Lại như ruồi nhặng luôn luôn tranh giành nhau những thứ đồ thối tha, phải quên đi mùi tanh tưởi để mà hành pháp cho mau kết quả. Ba cung dơ dáy, sáu phủ đục ngầu, sung sướng thấy xác chết, ưa thích chốn tử địa. Phải cắt đứt gốc rễ thị dục, vào cảnh thanh tĩnh, không gây ra những nỗi khổ phiền, ác độc, không sinh tâm thiên kiến, không dấy tâm gian tà, coi lời răn dạy giới cấm của Tiên Thánh như luật pháp ở trần gian, dẫu có muốn phạm vào song cũng sợ rằng thân sẽ mất tự do. Kẻ tu phải hết sức giữ gìn, chuyên chú công phu, giới luật luôn luôn bày trước mặt để mà kinh sợ cùng nghiêm chỉnh tuân theo, diệt mọi ý niệm trong đầu, phải dốc tâm mới có thể đạt được sự chân chính.
Chương 3: Hiểu rõ bản chất nguồn cội (thức bản lai diện mục)
Hư vô là cõi tự nhiên, cho nên đạo đã từ đó mà ra, đúng với lẽ một không hai, thể tính sâu dày tự nhiên, tròn đầy sáng sủa tự đủ, không vướng mắc tư kiến, tránh xa bụi bậm, học mà không học, tu mà không tu, ung dung ở ngay chính giữa, không thiên lệch về một bên nào, không đi không ở, không giữ không bỏ, không vui không buồn, không sống không chết, không xưa không nay, đó mới thật là giác ngộ và giải thoát. Coi muôn hình tướng đều là hư không diệt trừ mọi ảo ảnh trần gian, thể nhập tự nhiên.
Chương 4: Thiện ứng (đức thiện ứng nghiệm)
Người có được một đức thiện, trăm thần đều hoan hỷ. Người có được mười đức thiện, thần số mệnh đều tính đủ. Người có trăm đức thiện đều được Đông Hoa ghi vào sổ cái. Người có ngàn đức thiện, ân phước tới bảy tổ, chết được thành Tiên. Có đủ vạn đức thiện, được Ngọc Phủ xuống nghênh đón, được Thiên Thần tới chầu, bay lên Trời giữa ban ngày.
Chương 5: Luôn luôn giữ gìn pháp lực (pháp lực năng hãn)
Thấy cảnh chết chóc sinh lòng từ bi. Không biết tự buồn thân mình. Thân do tứ đại: nước, lửa, gió, đất giả hợp thành, giống như đồ vật làm bằng đất, nung trong lò cho chắc lại. Thân người là đồ, pháp là lửa lớn, nên có thể nung đúc thân người thành thân không thể hủy hoại. Lửa là ánh sáng công đức, tâm đức ngày một tích lũy, tới khi ánh sáng chói lòa tức là thân mềm đắc pháp thành thân cứng tựa kim cương không phá hủy nổi.
Chương 6: Tích thiện làm quý (tích thiện vi bảo)
Kẻ lên núi báu, đi khắp đó đây, vật báu ngổn ngang, thứ gì cũng quý giá, khi xuống núi chẳng lẽ không đem theo được một món gì sao? Về tay không thì bị coi là khinh thường vật. Người ta sinh ra đời như được trèo lên núi quý giá vì mọi thứ thiện duyên đều quý báu. Người không tạo đức thiện thì khi chết đi chẳng khác nào kẻ trèo lên núi có nhiều báu vật, song khi xuống lại tay không, chẳng mang theo được chút gì, thật là có mắt mà như mù, sau này có hối hận cũng chẳng kịp nào!
Thể xác không sạch sẽ, bụi bậm dơ dáy bám đầy nên phải lo tắm rửa. Tâm bụi bặm không thanh tịnh, lục căn bị nhiễm, nếu không lo tẩy rửa ắt bị mê muội. Do đó thân dơ dáy có thể dùng nước trần gian rửa sạch, còn tâm ô uế phải có nước “pháp” mới rửa sạch nổi, lục căn mà trong sạch, các lỗ chân lông sẽ sáng sủa, không một sợi lông, sợi tóc bị ô nhiễm mới mong sống đạo.
Chương 8: Mùi vị của đạo (Vị đạo)
Kẻ ăn mật, miệng ngọt, lưỡi còn dư vị, lời nói của ta cũng như vậy. Còn lời nói phàm tục nhạt nhẽo vô vị, vì tâm bị nhuốm lời dơ dáy, vị bẩn thỉu, lời nói nhờ hương vị của đạo khiến tinh thần trong sạch. Lời nói ở miệng giống như ăn mà trúng độc, ói ra cũng chết, chỉ nghe mà có thể phân biệt được chính với tà, dơ dáy và trong sạch, tiên thánh cùng ma quỷ.
Tất cả chúng sinh đều do nhân mà sinh ra, nhân lại do duyên sinh ra, nhân và duyên kết thành phiền não, thành vô lượng nghiệp, đọa lạc vào chốn sống chết, luân hồi không cùng, như bọt nước trên sóng, vừa có đã mất nên con người phải giác ngộ lẽ đó, muôn vật vốn là không, tự chuốc ý niệm tự lãnh ràng buộc, mọi mối thân quen đều là gốc của phiền não cùng lao tù. Tâm này chẳng ngộ tức là tâm của đại tội nhân, từ muôn ngàn kiếp trước tới nay thân bị trói buộc chẳng thể giải thoát. Ta nay vì người, giảm “nhân” trước sau, cắt đứt mọi “duyên”. Thức được “nhân” thì không còn “nhân”, ngộ được “duyên” thì không còn “duyên”, không “nhân”, không “duyên”, luôn luôn an định cùng thanh nhẹ và sáng suốt; không tới không lui, không buông không nắm,hoàn toàn giải thoát, vượt ra ngoài “tam giới” tức là ba cõi đất, Trời, người.
Chương 10: Tự làm mới (tự tân)
Không kể gái trai, đều cúi đầu vái lạy Tiên Thánh, tẩy rửa ô uế khiến cho tâm thanh tịnh, ăn năn lầm lỗi để tự đổi mới mình, nguyện không tái phạ. Nếu như có người từ lúc vào đời cho tới giờ cứ gặp Tiên Thánh là nội thức tỉnh liền, tâm thanh tịnh ngay, dĩ nhiên họ chẳng cần phải sám hối để tự cải hóa, vì kiếp trước họ chính là Tiên, kiếp này chẳng cần phong chức Thánh mới.
Chương 11: Ban phát tiền của (bố thí)
Dư thừa mà bố thí thì tránh khỏi hoạn nạn, còn không bố thí thì chắc chắn gặp hoạn nạn. Cho đi cái mà mình không ham muốn yêu thích thì rất dễ dàng, cho đi cái mà mình vốn ưa chuộng thì rất khó khăn. Tất cả các ân phước đều đến từ cái tâm vui vẻ, kẻ cho không mất mát, người nhận được ơn ích, tất cả sự cho đi đều khiến tâm vui vẻ, thần trí được sung sướng. Tất cả của cải châu báu thậm chí đến cả tính mệnh đều là tạm vay mượn để sử dụng, khi đại hạn tới thì tất cả đều tiêu tan, chẳng lưu giữ được gì. Bậc trí sĩ sống ở đời nhưng lòng lúc nào cũng ôm ấp sự rời bỏ cuộc sống cùng dâng hiến của cải để cúng dường tam bảo, giúp đỡ kẻ nghèo, phát huy đạo pháp, hoàn toàn giác ngộ. Gieo nhân đức hái trái thiện, ân đức báo đền vô lượng vô biên, kể sao cho xiết. Chỉ những người vui vẻ cho đi mới sung sướng nhận lại mà thôi, vì kẻ nào gieo giống kẻ đó gặt hái thành quả. Cho đi là dứt được nghiệp trần, gian tham là chuốc nghiệp vào thân.
Chương 12: Chăm chỉ thực hành (cần hành)
Kẻ biết đạo của ta mà không chăm lo thực hành, kẻ hành đạo ta mà không giữ được bền đều khó đắc đạo. Còn biết mà chăm chỉ thực hành, không lười biếng, bền chí gắng công như vượt trùng khơi ngày ngày mong tới bờ, trước sau như một, lên được bờ bên kia, vô lẹ thành trì của đạo.
Chương 13: Luyện ô uế thành chân chất (luyện uế thành chân)
Lúc người ta chưa sinh hỗn hỗn độn độn, vốn không có một vật, nhìn nghe chẳng được, với chân thường hội hợp, chẳng có tên tuổi hình tướng nên gọi là chân nhân.
Sau khi sinh muôn vạn hình tướng trang điểm hư danh đều là hình tướng giả tạm, nhìn lại ảo thân, tội thêm muôn ngàn, gọi là tội nhân. Muốn tu đạo lớn, giống như đúc kiếm, nung nấu cặn bã ô uế mới gạn lọc nổi tinh khiết rắn chắc, mạnh mẽ cứng cỏi thành thanh, được khí giới tuyệt diệu. Khinh phàm trọng thánh, thẳng tiến cõi Đại La.
Chương 14: Liên tục chuyển hóa (diễn hóa)
Người theo đạo gọi là thiện nghiệp. Kẻ bỏ đạo gọi là ác nghiệp. Lập đức Thái Thượng, có khi lập công, có khi lập ngôn, những ai lập được đức đó đều về được đạo. Tất cả chúng sinh điên đảo vọng tưởng tự tạo Địa Ngục mà chẳng hay, kéo nhau lao đầu đắm chìm dưới sông yêu. Nay vì chúng sinh, thuyết pháp cứu đời, mở cửa phương tiện để được phúc báo cùng chứng quả vô vi.
Chương 15: Chân chất thành thực (chân thành)
Tĩnh tâm khổ hạnh, dứt bỏ mọi mối tham dục thế gian, chớ vọng tưởng, không được nhiễm trược, luyện hình hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hợp đạo, thể nhập tự nhiên, thâu muôn pháp vào một thân, dùng một thân hóa muôn cảnh, cả “hữu” lẫn “vô” đều không lệ thuộc, dứt tuyệt sống chết thì đó gọi là bậc chân nhân.
Chương 16: Sự khác biệt giữa ba “thừa” (tam thừa đẳng sai)
Hành giả ở bậc “tiểu thừa” mắt chẳng nhìn bậy, tai chẳng nghe bậy, tâm chẳng nghĩ bậy, cấm chỉ tất cả, dứt bỏ hết mọi trạng thái để tới đạo.
Hành giả ở bậc “trung thừa” nhìn chỗ không nhìn, nghe điều chẳng nghe, biết cái chẳng biết, động nơi chẳng động để quán thông mọi lẽ huyền diệu.
Hành giả ở bậc “đại thừa” không nhìn mà chẳng phải không nhìn, không nghe mà chẳng phải không nghe, không biết mà chẳng phải không biết, trong ngoài rỗng rang, đó đây không ngăn cách nên có thể hòa làm một cùng vũ trụ, đi vào cõi vô cực.
Chương 17: Dùng lời khuyên thiện (dĩ ngôn khuyến thiện)
Tặng người tiền của không bằng tặng lời nói khuyên răn điều thiện. Bạc vàng tuy quý báu song tiêu xài sẽ hết, lời nói khuyên răn điều thiện lọt được vào tâm sẽ là của báu trọn đời. Tất cả các bậc Thần Tiên chân nhân đều dùng lời nói quan trọng vô thượng đạt thành đạo quả, người ta có thể đem những lời nói đó giảng dạy cho chúng sinh tuân hành để tránh tai họa mà hưởng ân phước.
Chương 18: Trước sau sướng khổ (khổ lạc tiêu hậu)
Kẻ học đạo phải dứt lìa ái dục, dẹp bỏ phì nộn, ăn chay trường, ý nghĩ trong sạch, nghiền ngẫm cho thấu lẽ đạo, đó là cầu vui trong khổ, chẳng còn thấy khổ. Tất cả chúng sinh mê say vinh hoa, đắm đuối thanh sắc, phung phí tình dục, kẻ chạy theo khoái lạc bao nhiêu tức là chuốc lấy khổ sở bấy nhiêu. Kẻ tu đạo trước khổ sở nhưng rồi sau sung sướng, chúng sinh vui sướng bây giờ nhưng rồi sau này đau khổ, bởi vậy làm người phải nhận chân lẽ đạo này.
Chương 19: Không hai cửa (bất nhị môn)
Đạo lớn không có “thân” và “sơ”, mắt Thánh không quý trọng tiền của, tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Thấy kẻ có tính lành thì giúp tính lành của họ phát triển; kẻ có tính đạo, giúp họ tiến bộ về đạo, nếu như còn tâm phân biệt chọn lựa thì gọi là “nhị môn” tức hai cửa. Phân biệt cửa này cửa nọ là tự giam mình trong nhà ngục; phải chí công vô tư thăng tiến Thiên Đàng.
Chương 20: Không được giết chóc (bất sát)
Kẻ học đạo điều cần nhất là phải hết sức thận trọng không được nuôi ý tưởng chém giết trong đầu, tất cả chúng sinh đều ham sống sợ chết, mạng sống của ta tức là mạng sống của người, không được coi thường mạng sống của muôn loài, để rồi sinh tâm thèm khát giết hại cùng ăn thịt chúng. Phải có lòng trắc ẩn, luôn luôn nghĩ tới sự sợ hãi của chúng lúc bị cắt cổ, thọc tiết mà không nỡ ăn thịt chúng để chứng tỏ hạnh từ bi.
Chương 21: Vắng vẻ trong sáng (thanh tĩnh)
Kẻ học đạo lấy sự thanh tĩnh là đầu, tĩnh tâm bớt lo nghĩ, ca ngợi hư vô. Coi tà đạo là kẻ thù, tránh xa ái dục như tránh mùi xú uế, trừ sạch mọi gốc rễ phiền não, dứt duyên thân ái, biển dục tối tăm, tự đắc sự thanh tĩnh. Như hoa sen trong trắng mọc trong bùn, hiên ngang vượt lên trên nước chẳng chịu ô nhiễm, ngũ tạng sạch trong; thượng, trung, hạ, đơn điền đẹp đẽ, làm bạn láng giềng với Thánh, Phật, Tiên.
Chương 22: Lòng tin (tín tâm)
Pháp đại thừa có thể vượt “tam giới” tức ba cõi, dùng lòng tin để mở đường giác ngộ, tin đạo thì được cứu độ, Trời với người giữ chữ tín không để mất, như xe tới giờ khởi hành, cuối cùng sẽ tới trạm. Tất cả Tiên Thánh đều đạt lòng tin sâu xa vào đạo lớn, chăm chỉ công phu không trễ nải cho nên được chứng quả thành đạo, vì kẻ nào có đức tin quý báu, kẻ đó đắc đạo.
Chương 23: Lòng thương xót (từ bi)
Muôn loài chúng sinh lấy lòng từ bi làm gốc, coi mọi vật ngang hàng không nỡ làm hại, coi sự hoạn nạn của muôn loài như của chính ta mà phát nguyện cứu giúp, nâng đỡ, để được sống đời sống an lạc. Tất cả chúng sinh vì ngu muội cho nên mắc phải muôn ngàn tội lỗi khổ đau, bởi vậy phải dùng chân lý cứu độ để giữ mãi tâm từ bi, tự đạt thành lẽ đạo vô thượng.
Chương 24: Muôn pháp quay về một mối (vạn pháp quy nhất)
Muôn ngàn sông lạch đều đổ về biển, ức triệu pháp môn đều quy về đạo. Chúng sinh chấp trược nên tự sinh tâm phân biệt bởi vậy mới bị đọa xuống cõi sắc dục. Cho nên phải thông suốt lẽ đạo, một hiểu thấu đạt muôn ý nghĩa; không người không ta, không sinh không diệt.
Chương 25: Dứt nhơ bẩn (đoạn uế trược)
Tất cả chúng sinh đều từ chốn dơ dáy mà ra, lúc sinh ra lặn lội trong biển máu; khi sống tới lui chốn ô trược, khi chết thể xác thối nát. Nên muốn trong sạch hãy tin ta mà bớt nói năng để khỏi nhiễm chấp, dứt hẳn được sự nghĩ ngợi bậy bạ tức là vượt khỏi sóng nhơ, vào được cửa pháp của ta, không đến không đi vĩnh viễn tránh thoát luân hồi.
Chương 26: Rửa lòng (tẩy tâm)
Vì lục căn không sạch nên phải tẩy rửa lòng mình, lòng không còn bụi bặm tự nhiên không còn dính nhơ bẩn. Cho nên tâm là chúa tể của lục căn, thống ngự tất cả, khiến được tâm chịu hàng phục như chế ngự được mãnh hổ. Tâm cũng có thể giống như mãnh hổ xổng chuồng quay lại cắn xé thân ta nên phải nhớ kỹ! nhớ kỹ! chẳng thể lơ là.
Chương 27: Chứng nghiệm chân tâm (chứng nhận)
Kẻ học đạo phải trống vắng rỗng rang mới dung chứa nổi sự sái quấy của người, cứu nguy giúp khốn, từ bi hỉ xả với muôn loài, diệt trừ mọi ý nghĩ độc ác. Coi tất cả chúng sinh là thân thuộc, thấy kẻ đói rét phải cho cơm áo; thấy kẻ bệnh tật phải tặng thuốc thang; gặp kẻ thù phải tha thứ. Tâm từ bi như vậy quả là vô lượng, kiếp này lẫn kiếp sau đều được chứng hạnh quả chân nhân.
Chương 28: Tiền của là gốc của hoạn nạn (tài vi hoạn bản)
Tiền của là gốc của hoạn nạn, thâu góp của cải tức là thâu góp nghiệp, tiền của là gốc của ái dục, là đầu mối của muôn tội lỗi. Nhưng nếu biết dùng tiền của để bồi dưỡng thiện căn, mới có thể vào được cảnh giới đạo màu. Coi tiền của như sinh mạng thì mạng sống chẳng thể bảo vệ, vui vẻ làm việc phước đức bố thí, thần của cải lên được tới cõi Trời, đạo lớn thành tựu.
Chương 29: Lời nói chí tình nhuần thấm (chí ngôn phổ nhuận)
Tất cả chúng sinh đều bị tình ái trói buộc, như đạp phải lửa bỏng khó bề tránh khỏi, từ tuổi già tới chết, chẳng thể tự thức giác, lời ta nói như sương ngọt nhuần thấm tất cả, khiến tâm hồn mọi người cảm thấy mát mẻ.
Cái quý báu của sự nhịn nhục là không tranh giành với người. Ma quỷ dầu có tới quấy phá nhưng nếu ta biết nhịn nhục, ngồi yên sẽ thắng, không nên tranh giành với đám ma quỷ, kẻ tới xâm phạm ắt phải buông bỏ khí giới, vì hại người tức hại mình, kẻ nhịn nhục được yên ổn, chỉ có ma quỷ thiệt hại chứ ta chẳng hề chi, do đó các bậc Tiên Thánh đều lấy sự nhịn nhục làm đầu.
Một kiếp người ở thế gian qua mau, như tia chớp lóe, trẻ thơ hóa cụ già, giống như giấc mộng xuân vụt biến, dũng mãnh ra đi, tự thương thân chẳng kịp. Lúc sống ở đời không kính Phật, không đền ơn, không thương kẻ khó thử hỏi sau khi chết nương nhờ vào đâu?
Chương 32: Ý niệm chân chính (chính niệm)
Tâm không vương tà niệm, một nghĩ thấu hư vô, trong cõi hư không có các bậc thánh hiền, cảm thông với muôn loài, phải chăm lo tu hạnh “vô thường” tức đức hạnh cao vời sẽ tự nhìn thấy được Thượng Đế, mãi mãi đi vào đạo lớn.
Chương 33: Vượt cả “có” lẫn “không” (xuất hữu vô)
Chúng sinh mê muội, nhận lầm cái “có”, đạo ta vốn “không”. Cũng có loại chúng sinh nhận lầm cái “không”, đạo ta lại vốn “không” cả cái “không”. Chẳng “có” chẳng “không”, là “có” là “không”, thấu được lẽ đó, vượt trên tất cả.
Chương 34: Bố thí lời nói không tội lỗi (thí ngôn vô tội)
Có kẻ hỏi rằng: “Bố thí vật gì thì được công đức lớn nhất?”
Ta nói: “Bố thí lời nói, công đức lớn nhất.”
Vì lời nói không bao giờ hết, cho nên ấn tống kinh sách quý báu như Trời tưới mưa pháp ngọt ngào, muôn loài cùng hưởng, nẩy nở tốt tươi. Sách Thiên Đàng Du Ký ghi lại tất cả thắng cảnh của các cõi Trời, in một bản tặng cho người đời để họ nhìn thấy cảnh Thiên Đàng, hiểu rõ thiên văn, khai mở muôn lượng đạo tâm, dẫn dắt cứu độ chúng sinh, công đức thắng tất cả mới có thể chứng đạo thành Tiên Thánh, vượt cả lục huyền thất tổ, chẳng còn chi ràng buộc ngăn trở.
Có kẻ hỏi: “Sống ở đời vật gì là quý?”
Ta trả lời: “Không có tội với thân đó là quý nhất.”
Châu báu ngọc ngà, vàng bạc đeo đầy mình là tù nhân mang gông cùm xiềng xích, mắt phàm nhìn cho là đồ quý giá, mắt huệ nhìn chỉ thấy rườm rà. Phải vất bỏ những vật thế tục đó đi, nhẹ nhàng không còn gì trói buộc ngăn trở mới có thể tới được cõi trời tự tại.
Chương 35: Quả báo do nhân duyên (tùy duyên thụ báo)
Có kẻ hỏi: “Làm cách nào để biết rõ được nhân duyên số mệnh?”
Ta trả lời: “Nhìn nhân duyên hiện tại ắt biết rõ được nhân duyên số mệnh; nếu như tu nhân duyên đời nay ắt biết rõ được nhân duyên đời sau, mảy may không sai chệch, gieo nhân nào mọc quả ấy. Nếu hỏi nhân kiếp trước, kiếp này đang nhận đấy; nếu hỏi quả kiếp sau, kiếp này đang trồng đấy”.
Chương 36: Sức lớn (đại lực)
Có kẻ hỏi: “Thế gian sức gì là lớn?”
Ta trả lời: “Từ bi là sức lớn rộng nhất.”
Tâm từ bi biến đổi tất cả, hạnh từ bi có thể chế phục tất cả. Không tranh giành với kẻ ác, không phản kháng cùng kẻ bạo ngược, vì mục đích nhắm tới là vô địch, do đó mà sức mạnh của nó lớn rộng vô cùng. Người đời nếu như gặp sự bất bình mà đều nảy sinh tâm từ bi, hầu hết tu hạnh từ bi hẳn là hạnh phúc tới liền, sung sướng ngập tràn.
Chương 37: Hợp lẽ đạo (khế đạo)
Kẻ muốn tu đạo lớn, không còn tâm phải và quấy, không còn tướng người với tướng ta, thân chẳng nhiễm trược mới có thể hòa hợp cùng đạo vô vi. Chúng sinh mê muội nên bị đày đọa trong cõi sắc tướng nhân duyên, ai hiểu được sướng tức là khổ, hiểu được đạo vô vi liền.
Chương 38: Lo buồn vui sướng do tâm (tâm khởi ưu lạc)
Người chớ chất chứa tâm tai họa vì tất cả sẽ tổn hại, chúng sinh chưa rõ, thần minh đã thấy rồi, nguy nan do mình tự gây, oan uổng do mình tự chuốc, Thiên Đàng và Địa Ngục tất cả đều do tâm tạo thành.
Chương 39: Đạo pháp
Đạo ta là đuốc lửa lớn xài hoài không hết, mặc sức mà dùng, có thể nấu chín mọi thứ. Pháp ta như nguồn suối tươi tắm mọi chốn khô cằn, nhuần thấm tất cả, những sự phiền não, trở ngại của người đời, đạo đều tẩy trừ sạch.
Chương 40: Nhập diệu
Kẻ nhập môn pháp ta, học tới mức học chẳng cầu, hành tới mức hành chẳng mong, hoàn toàn đạt cái không muốn, đó gọi là vào cửa huyền diệu vậy, hoàn toàn trống rỗng không hề vướng mắc. Chúng sinh chấp trước, không thấu suốt trước sau, tạo nhiều cảnh giới là bởi nhận lầm muôn sắc tướng.
Chương 41: Từ bỏ vinh hoa (khử hoa)
Sự thanh tịnh là gốc của đạo; sự vinh hoa là tai họa của đạo. Người chớ ghét đạm bạc, vị đạm bạc là mùi vị của muôn mùi vị. Mê muội lưu luyến thế dục chẳng khác nào con thiêu thân lao mình vào lửa, không biết cái hại của nó khiến đi tới diệt vong.
Chương 42: Tốt xấu như nhau (đồng hảo ố)
Kẻ kỹ lưỡng không bậy bạ lừa dối mê hoặc chúng sinh; chớ nuôi dưỡng tâm ác độc, âm mưu đủ thứ; coi thân mình như thân người, xấu tốt vốn không khác nhau; kẻ thấu đạt được lẽ này hẳn là chứng ngộ được đạo vô thượng.
Chương 43: Trước thành thực sau bố thí (tiên thực hậu thi)
Tiên Thánh coi việc mưu cầu lợi ích là trên hết, cứu giúp chúng sinh không mỏi mệt, luôn luôn gieo nhân nên đạt quả. Nếu như có kẻ làm theo gương này ắt được quả phước không sai. Trước hết phải tu đức hạnh để cho đạo đức ngập đầy, nước pháp tràn nguồn cội, tự nhiên đem cho mãi mãi không bao giờ cạn, trước thành thực sau ban phát, suối tuôn chảy hoài không hết.
Chương 44: Chạy theo sắc tướng (xu sắc tướng)
Ta trả lời: “Ta vốn vô sắc, người nhận lầm cho là sắc. Ta vốn vô tướng, người nhận sai cho là tướng”. Tất cả đã dùng mắt thịt nhìn nên chẳng nhìn thấu sự trống không. Nếu như lấy 9 sắc và 72 tướng nhìn ta tức là lìa “vô” chấp “hữu”, chẳng thể lắng nghe được ý nghĩa “vô thường” tức siêu diệu. Ta một khí hỗn nguyên hóa tướng muôn ngàn ức, chấp một tướng là để mất vạn tướng, cho nên sắc tướng không thực, sự biến hóa vốn giả, chúng sinh chớ mê sắc tướng hầu nhìn rõ bản tính.
Chương 45: Tất cả đều nhờ đạo (nhất thiết thị đạo)
Có kẻ hỏi rằng: “Tất cả đều nhờ ở mắt nên mới có thể nhìn thấy mọi sắc, đến như pháp vi diệu, chẳng thể nhìn thấy chăng?”
Ta trả lời: “Đạo ta như ánh mặt trời, chiếu sáng muôn loài sắc tướng”. Người giác ngộ lẽ này thắp sáng được “tâm quang” tức ánh sáng siêu diệu của tâm, không nhìn bằng mắt phàm, để mắt tâm thanh tịnh nhìn, tự nhiên thấu suốt, pháp lý vi diệu là dùng tâm liễu ngộ, rời tâm hẳn là mất đạo.
Chương 46: Dũng chí quyết tâm học đạo (dũng quyết học đạo)
Kẻ học đạo chớ có nhị tâm, đoạn tuyệt trần trược, cắt đứt ái duyên, tâm như tro lạnh, ngăn ngừa lửa dục bốc cháy, nếu như thân mắc phải họa hoạn thì sẽ chẳng thể lường được mức tổn hại, như mũi tên bắn đi vĩnh viễn không trở lại, ta bảo vệ thân người hẳn là đắc đạo.
Chương 47: Ngăn ngừa ma quỷ (ma giới)
Học đạo khó lắm thay, quỷ thần ma vương chuyên đánh bại người để thành công, đẩy được người ta tới chỗ chết chúng lấy làm sung sướng. Kẻ sắp thành đạo bao giờ cũng có Thần Tiên cõi Trời xuống thử xem có còn dục hay không, có ngại khó khăn nguy nan hoặc sợ sệt do tâm chưa giác ngộ, chưa thông suốt gây nên. Tửu sắc của cải, danh lợi ái ân đều do tám ma vương lớn luôn luôn ở sát cạnh kẻ tu đạo quyến rũ để cho sa ngã, bởi vậy chúng sinh chớ cúi đầu trước ma vương, kẻ bị thử thách mà vượt qua khỏi sẽ được Chư Thiên bảo bọc, ma vương nghinh đón, đó mới gọi là đắc đạo.
Chương 48: Chuyển tâm hướng về nẻo đạo (dịch tâm hướng đạo)
Thượng sĩ nghĩ tới sự nghèo đức thiện, hạ sĩ nghĩ tới sự nghèo của cải. Tất cả chúng sinh ngày mất nghỉ, đêm mất ngủ vì lo lắng tiền của thiếu hụt, tình ái đau lòng nên cần phải chuyển tâm học đạo, tâm đã hướng đạo, cuối cùng sẽ đạt đạo, tâm hướng tình yêu cũng thành không.
Chương 49: Gắng gỏi thực hành (miễn hành)
Học đạo quá khổ chẳng khác nào gánh nặng trèo non, cho nên ta cần phải dốc lực thực hành, khi đã lên được tới chóp đỉnh rồi, những sự khổ cực đó sẽ tan biến, nhìn xuống thấy tất cả đều man mác một màu. Kiếp nhân sinh sự nghiệp chất chồng, không lo trả nợ lại còn tham lam bụi đỏ, không chịu ngừng nghỉ, một sớm giác ngộ, buông bỏ tất cả, tự cởi trói cho thân được tự do tức là đắc đạo, vậy người đời nên gắng gỏi thực hành.
Tế Phật: Đức Thiên Tôn vì ôm ấp lòng từ bi nên mới ban thêm 49 chương kinh siêu diệu, mỗi câu đúng là kinh đạo Trời, mỗi lời đúng là ý nghĩa thần diệu, chúng sinh quả là có phước mới được nghe kinh đạo lớn, cảm tạ lượng từ bi ân đức của Thiên Tôn.
Dương Sinh: Lạy tạ đức Thiên Tôn đã ban lời chỉ dạy lẽ huyền vi thái thượng giúp ích chúng sinh dưới gầm Trời không ít, thật là cảm kích vô cùng.
Thiên Tôn: Đạo lớn nguồn cội tới đây đã đủ, tôi không cần nói thêm nữa. Tôi sẽ đưa hai vị từ cõi “tam thanh” tới cõi “nhất khí” để bái kiến Thượng Đế, chẳng rõ ý kiến của hai vị như thế nào?
Dương Sinh: Cảm tạ sự chỉ dẫn của đức Thiên Tôn, thưa không rõ Thượng Đế ở chốn nào?
Thiên Tôn: Thượng Đế là đức “Hỗn Nguyên Huyền Huyền Thượng Nhân” tức Người trên cõi mịt mờ hỗn độn thuở sơ khai, ngự tại đỉnh Côn Lôn trên “Thiên Tâm Sơn” là núi lòng Trời, là đức Vô Cực chí tôn, cho nên được tôn xưng là “Thiên Phụ, Thiên Vương, Thượng Đế, Lão Tổ, Lão Mẫu, Như Lai, Chân Tể” chính là đạo lớn cội nguồn vậy.
Dương Sinh: Thưa con từng nghe trên cõi Đại La Thiên không hề có nữ phái, nay tôn vinh là Lão Mẫu như vậy có hợp không?
Thiên Tôn: Ở cõi Thái Cực có phân chia nam nữ âm dương, một sớm tu tới quả vị Vô Cực ắt trừ khử hết chất âm dương, cho nên Thượng Đế chỉ là một bầu “hư linh” tức trống rỗng thiêng liêng, không nam không nữ, không già không trẻ, nay tôn là “Lão Mẫu” để biểu thị khả năng có thể sinh đẻ nuôi dưỡng trời đất cùng vạn vật. Lại còn hình dung Thượng Đế như lòng trời từ ái, có đức hiếu sinh, giống hệt như bà mẹ thương con ở cõi thế gian, mong người đời giác ngộ lẽ này.
Dương Sinh: Dĩ nhiên cõi Vô Cực không phân biệt nam nữ, tại sao còn phân biệt Tiên ông, Tiên cô?
Thiên Tôn: Đó là sự hiển tướng của Hư Linh, có thể nhìn người rời bỏ gia đình cắt tóc đi tu, mặc áo cà sa, không phân nam nữ, ý là bôi xóa giả tướng bên ngoài để chân tướng bên trong lộ rõ. Tiên ông, Tiên cô tu tới bản tính được sáng lại, nam thì tuyệt tinh khí, nữ thì dứt kinh nguyệt, vẻ mặt hồn nhiên như trẻ thơ, trở thành một phái duy nhất thiên chân. Việc tôn vinh Tiên cô không nam không nữ là tu Đại Đạo vì dùng nước nóng dầu sôi phá hủy dung nhan, diệt sắc tướng để chân bản tướng hiển lộ làm phương tiện hành đạo. Cho nên gọi là Tiên ông, Tiên cô bởi vì họ đã lộ được bản tính thiên chân, cả hai đều không còn dục tình nam nữ, cho nên gốc đạo vô danh, miễn cưỡng gọi là đạo. Tên gọi có nam nữ, nhưng thực ra thì không có nam nữ, điểm này có thể quan sát ngay cơ thể con người, trẻ thơ có hình tướng trai gái nhưng không có dục tình trai gái; người già cả có hình tướng nam nữ, nhưng không còn sự nghĩ ngợi về nam nữ đều là hiện tượng bản tính trở về nguồn cội, đạt trạng thái không còn đối đãi phân biệt sự khác tính, người ta tu tới tâm cảnh này ắt có thể thành tựu nổi Đại Đạo Vô Cực, vĩnh viễn không còn luân hồi. Cho nên nói: “Hậu thiên phân nam nữ (khác tính), Tiên Thiên thành nhất khí (đồng tính)”.
Tế Phật: Dương Sinh sửa lại y phục cho ngay ngắn, định thần dưỡng khí.
Dương Sinh: Tuân lệnh.
Thiên Tôn: Hai vị theo tôi thăng tiến...
Dương Sinh: Thiên Tôn dùng phất trần phất một cái, ân sư và tôi tự động bay lên, giống hệt như được cưỡi gió đè mây, pháp lực của đức Thiên Tôn quả là lớn rộng vô cùng, phía trước xuất hiện một khối hào quang chói lòa, hai mắt khó mở nổi.
Thiên Tôn: Chốn này là cõi Tam Thanh, thuộc vùng trời Đại La, chính là Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, tất cả vạn vật đều bao la. Đây là Tổ khí của trời đất thuở hỗn mang ban đầu, cho nên hào quang đạo khí vô địch. Dương Sinh công lực chưa đủ nên hai mắt khó mở, mau phủ phục. Bầu khí toàn một vẻ mịt mờ tức là đạo lớn, cũng là một khí tông chủ vậy, cũng còn tôn xưng là Phật Tổ Vô Hình, Hồng Quân Lão Tổ, Hỗn Nguyên Thánh Tổ, Tiên Thiên Lão Tổ.
Dương Sinh: Chỉ thấy hào quang sáng ngời, ngoài chẳng thấy vật gì khác.
Thiên Tôn: Đúng vậy, Đạo Lớn vốn vô hình, hư vô gọi là Đại Đạo, mọi tôn giáo dưới gầm Trời đều do một khí sinh ra, đáng tiếc không thấu triệt cái lý này nên không có pháp để đắc đạo, cho nên nói: “Đạo Lớn chung nguồn, muôn giáo quay về một mối” (Đại Đạo đồng nguyên, vạn giáo quy tông) tức là lẽ đó.
Huyền Huyền Thượng Nhân: Ba vị Nguyên Thủy, Hoạt Phật và Dương Sinh cùng chung một thể cùng đạt tới “Thần, Phật, Nhân”, khác hình nhưng cùng một “tính”, bữa nay ứng vận trời để độ người, lại trở về đạo lớn mịt mờ, kỳ diệu lắm thay, chúng sinh vốn do tôi hóa thành, muôn loài do tôi đẻ ra, cho nên có thơ rằng:
Hồng mông vị tịch đạo hàm anh
Vô số tinh cầu khí hóa thành
Giáp tý nan kê thiên vạn ức
Hư không ẩn ngã bất tri danh.
Hư không cửu uẩn khí huyền huyền
Vị phán hồng mông hữu ngã tiên
Nhất điểm chân linh trường bất diệt
Sinh lai Phật Thánh dữ Thần Tiên.
Giữa thuở hỗn mang đạo sáng lòa
Tinh cầu khí hóa khắp gần xa
Chu kỳ xoay chuyển muôn ngàn ức
Ẩn bóng hư không chẳng thấy ta.
Muôn vẻ hư không khí mịt mùng
Hỗn mang trước đó có ta trong
Chân linh một điểm trường tồn mãi
Thánh Phật Thần Tiên đã sống chung.
Đức Thầy giảng:
Cái này là nguyên lý cho chúng ta thấy, khi chúng ta là một nguyên linh giáng lâm xuống thế gian là đều có một điểm chân linh của Thượng Đế ở trong chúng ta. Mà nếu chúng ta tu không có pháp, không có khai triển, không có vận dụng phần sáng suốt của chúng ta là chúng ta là chỉ đi mờ ảo, mê muội, kêu bằng tà tâm, đi xuống mà thôi. Với Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí là về thực hành khứ trược lưu thanh mới là đi tới vận dụng cái phần sáng suốt của mình hướng thượng, lúc đó mới hội nhập được với Thượng Đế - Đấng Cha Lành.
Huyền Huyền Thượng Nhân: Chúng sinh nếu như biết báo đền ơn nguồn cội, nhận rõ nguyên lý trở về với chân lý ắt là đứa con đỏ, đứa con hiếu thảo. Nếu như hồi quang phản chiếu nhìn lại ta mịt mờ ắt thành Thượng Nhân, Kim Tiên Cổ Phật vậy.
Thiên Tôn: Thượng Đế đã ban lời chỉ giáo, Dương Sinh quỳ lạy tạ ơn.
Dương Sinh: Lạy tạ ơn Trời... Tại sao con chỉ nghe tiếng mà không được thấy mặt Ngài?
Thiên Tôn: Đạo Lớn vốn không tiếng, không mùi, âm thanh vừa nghe được gọi là “Thiên âm” tức tiếng Trời. Hẳn là đã rõ vậy.
Dương Sinh: Không hình không dáng, trong cái không có sự kỳ diệu, mỗi câu mỗi phấn khích lòng con, kỳ diệu lắm thay.
Tế Phật: Bữa nay thầy trò mình còn được đức Nguyên Thủy Thiên Tôn hướng dẫn tới lạy mừng ra mắt đức Nguyên Thủy Thượng Đế, quả là sự vinh hạnh ba đời mới có được. Người đời xem tới hồi này ắt là phải ngừng đọc để làm lễ tạ ơn. Đạo Lớn siêu diệu đều gởi cả ở đây, hiểu rõ đặng thuở cha mẹ chưa sinh chân bản tính của mình là thế nào? Có về chầu nhà Tổ hào quang mới tròn đầy, và đạo quả mới đạt thành. Giờ đây tôi phải hướng dẫn Dương Sinh trở lại Thánh Hiền Đường, cảm tạ đức Thiên Tôn.
Dương Sinh: Đa tạ ân phước khai mở đạo của đức Thiên Tôn. Thưa ân sư con đã sửa soạn xong, kính mời thầy trở lại Thánh Hiền Đường.
Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.
(Đức Thầy chắp tay xá)
[Kết thúc buổi học ngày 12 tháng 10, 1987]
[Sang buổi học ngày 13 tháng 10, 1987]
(chưa chép 32 phút Thầy giảng ở video cuối buổi học ngày 12 tháng 10)
Đức Thầy giảng: [43:29]
Cho nên chúng ta đi tầm đạo, không phải tầm đời. Nếu ở đời, chúng ta đem ra cái tự ái, cái cương vị đối với cương vị; mà chúng ta tầm đạo, chúng ta chỉ nhịn nhục để nghe cái chân lý mà thôi, chứ chúng ta không ôm cái xác.
Nhiều người nhìn, nói: “Ô, cậu này có ba mấy tuổi mà nó dạy đời! Hỉ mũi chưa sạch”. Nhưng mà tại sao nó nói những cái lời thấm thía trong tâm hồn của chúng ta? Chúng ta nghe cái đó, chúng ta là người truy đạo, tầm đạo, không phải tri kiến con người.
Vì sự xa cách đã lâu rồi, vì tình Cha với con lạc xa quá lâu rồi, bây giờ nhìn lại nó lạt lẽo; bởi vì nó biến thể nhiều, nhiều, nhiều quá rồi, thành ra nhìn không ra. Rồi cái trật tự của thế gian nó càng ngày nó bành trướng lên, nó thành ra tự ái, nó không chịu nhìn sự thật, thành nó lộn xộn trong tâm hồn của mọi người, bị lộn xộn như vậy; một chặp nghe thấy phải, mình nhìn lại: “Không biết làm sao mà chú này chú nói được”. Thấy không?
Cho nên, tâm vô quái ngại, người tu Vô Vi phải đặt cái tâm vô quái ngại, không nghĩ chuyện bên ngoài.
“Tôi đang truy tầm cái gì đây?”
Cũng như một người vô trong một cái “bào chế viện”, là tôi đang truy tầm cái tế bào, truy tầm cái nhỏ nhất, coi thử nó có sức mạnh của nó ở đâu?
Đó! Chúng ta vô đây phải có cái óc đó, học nó mới nhanh. Mà một lời nói ra, chúng ta phải suy nghĩ: “Tại sao lời nói như vậy mà người ta trả lời như vậy?”
Bây giờ mình ra mình nghiên cứu để mình tham gia, vận dụng cái sáng suốt của mình coi thử mình đi ra tương đồng họ, bằng họ không? Hay là hơn họ? Khi mà bằng họ, mình cũng đã học khôn rồi. Mà hơn họ, mình càng khôn hơn nữa. Thấy chưa? [45:16]
Cho nên chúng ta đi học là học cái đó! Cho nên các bạn mới bằng lòng ngồi dưới đất để đi tầm cái kêu bằng vô cùng trong chơn thức của các bạn, không phải là tầm cái hiện hữu ở bên ngoài. Hiện hữu bên ngoài ai cũng có. Chỗ này là chỗ vật chất dư thừa, không cần nhìn vô bên ngoài, nhưng mà nhìn trong chơn thức, và để tìm con đường cho chơn thức tiến hóa.
Thành ra chúng ta phải hạ cái phẩm đời xuống và hướng về cái con đường đạo, thì chúng ta mới thấy rõ đạo, mà học trọn hết, không bị thất thoát, không mất thì giờ, không hoang phí. Đến đây với một tinh thần học hỏi rõ ràng, và gặt hái rõ ràng; lúc đó chúng ta về địa phương chúng ta mới nhìn người khác: Ai cũng ôm chuyện đời hết; ôm bảng quảng cáo thôi, chớ thực chất chưa có đưa ra. Đó! Còn kỳ thị, này kia, kia nọ là ôm cái bảng quảng cáo không à; chớ thực chất chưa đưa ra.
Thì bây giờ mình học cái gì đây?
Mình học thực chất để trở về với thực chất. Mà cái thực chất này kêu gọi mình đừng ỷ lại, phải xem lại thực chất của chính mình và tự thức tự đi.
Thấy rõ mọi sự việc nó hiển hiện trước mắt, trong tâm hồn như vậy, chúng ta đến đây học. Chớ không phải ỷ lại: “Tôi có Cha, có Thầy rồi phù hộ cho tôi mạnh”. Không phải, không phải phù hộ. Bởi Cha, Thầy cũng mang cái xác phàm như chúng ta, mà người ta khai thác được, người ta ngồi, người ta giảng bao nhiêu người được nghe. Còn mình giảng, không có ai muốn nghe. Tại sao? Vì mình bỏ, mình bỏ mình, mình bỏ sự sáng suốt của mình, mình giam hãm sự sáng suốt của mình và không sử dụng sự sáng suốt của mình.
- Thì ở đời họ khao khát cái gì?
- Khao khát cái sự sáng suốt!
- Mà sáng suốt là gì?
- Là chân lý!
Bây giờ, những cái khóa này dạy là dạy mọi người phải trở về với sự sáng suốt của chính họ, chớ không phải ngồi thiền không; rồi mới thấy rõ cái tâm của mình. Có sáng suốt mới thấy rõ cái tâm mình là vô cùng.
Mà bất cứ ở các nơi, chỗ nào mình cũng có thể dự được nếu mình đạt tới thanh nhẹ, thì quý báu vô cùng. Cho nên, dẹp cái khối óc dị biệt, kỳ thị mà trở về với chơn giác. [47:28]
Chúng ta vốn vô tư. Sanh ra, vốn vô tư, không có gì hết, mà chúng ta bây giờ nhét cả một đầu rác, một đầu sân si, một đầu hơn thua, mà quên cái căn bản của chính mình. Bây giờ chúng ta có cơ hội trở về với căn bản và sử dụng khả năng sẵn có của chính mình, cái nào mừng hơn, cái nào quý hơn?
Cho nên các bạn đây mới ngày thứ nhì thôi, rồi qua tới ngày thứ ba tâm hồn nó thay đổi rồi, nó thấy nó không lớn không nhỏ rồi, huề cả làng, vui hưởng một cái niềm tin sẵn có, và khai thác những cái gì mình có để tiến, không bị lệ thuộc nữa, vui hòa với tất cả, thấy nhiệm vụ của mình.
Nhiệm vụ của mình làm gì?
Trở về với thanh nhẹ, trở về với sáng suốt, trở về với gia đình ảnh hưởng những người xung quanh mình, đó là nhiệm vụ.
Học để đạt tới sáng suốt. Học để có một trình độ để trao đổi với bất cứ nơi nào. Thì tiếp tục học nữa, làm cho mảnh đất này càng ngày càng vui hòa và tốt đẹp hơn xưa; ai gặp mình thấy mặt mày cũng hớn hở, và tâm mình nhìn mọi người là mình; tâm mình nhìn tất cả cây cối là mình; tâm mình nhìn Càn Khôn Vũ Trũ là mình - Sướng quá, định liền!
Rồi bây giờ nhìn người đó xưng Cha, cũng là mình nữa, định liền. Người đó xưng Thầy, cũng là mình nữa, định liền… trong một bầu không khí thương yêu và tha thứ.
Mình thấy khác biệt, đâu có định được. Còn động mà! Nhìn người ta rồi suy nghĩ: Người này tà hay chơn, tà hay chơn… Đó là động rồi đó! Đánh một….. rầm rầm, rầm rầm mà rốt cuộc không thâu được kết quả.
Rồi có người nhìn cái niệm, niệm, niệm Phật, niệm Phật tùm lum hết, rồi cũng là không có kết quả. Mình đóng cửa rồi! Tới một cái cơ duyên đến thì mình phải thả lỏng, hòa để mà học cái đó là cái gì. Cũng như mình vô trong cái phòng thí nghiệm mà cái tâm không hòa mà để tìm món này, món nọ, để phân chia món này món nọ, để tiến lên, sắp đặt cho nó có trật tự, thì làm sao mà có kết quả được.
Cho nên ngày hôm nay các bạn cũng như bước vô trong cái phòng thí nghiệm; nhịn nhục, học hỏi, minh giải, rồi tự thức, rất rõ ràng. [49:40]
Cho nên bữa đầu thì hơi có lộn xộn, đây bữa nay bắt đầu bữa thứ nhì, thì các bạn sẽ thấy lần lần cái cống cao ngạo mạn của mọi người và cái sự tăm tối của mọi người nó sẽ từ từ biến mất không còn nữa.
Có người nói: “Tôi đã thấy Trời Phật rồi, ông Cha kia chưa thấy Trời Phật”. Đó, là làm ngăn cái tâm mình là mình không tiến nữa. Thì mình đồng hạng xuống mình học, để mình coi coi thế nào.
Tại sao nó xưng ông cha, nó vận dụng mọi khả năng sống chung với mình, nói giỡn nói cợt với mình, rồi nó đem ra chân lý, chớ không phải giỡn cợt rồi thôi. Rồi hỏi chớ:
- Mình làm được cái đó không?
- Mình chưa!
Đây rồi nhẹ dạ, về địa phương nghe người này, người nọ nói “đó là tà”, nhưng mà tôi đâu có cần kiếm tà làm chi! Tôi kiếm chơn, là chơn gì? Chính tôi! Kiếm sự sáng suốt của tôi, vận dụng sự sáng suốt của tôi. Mình đã thấy rõ sự sáng suốt với “tôi” với cả Càn Khôn Vũ Trụ là một, tôi mới cứu được tôi và cứu tất cả. Thành ra mọi khía cạnh nào ta cũng phải học, phải tự học; nhìn để học, nghe để học.
Nói rồi phải nhận lại những gì người ta nói để mình học, chớ không phải nói một chiều khơi. Người ta nói, mình phải học. Bây giờ cha Nhẫn Hòa nhận y nói bậy, cái thì có lúc y phải nói bậy để tụi con trách móc, rồi y phải nhận: “đây là lỗi của cha”.
Tại sao phải làm như vậy?
Người ta sáng suốt, người ta phải làm như vậy để người ta thấy rằng con người phải nhận lỗi mới có cơ hội học hỏi và tiến hóa. Mà con người cống cao ngạo mạn và không chịu nhận lỗi thì tự nhận chìm mình mà thôi. Chớ mọi người kính cha Nhẫn Hòa là cha, mà tại sao cha Nhẫn Hòa phải đi xin lỗi? Đối với người đời, người ta cao lắm, tại sao phải đi xin lỗi? Nhưng không. Luật là luật. Cha dạy con làm như vậy, mà cha làm bậy thì cha vẫn ờ tù. Đúng không? Đó là đúng, đúng luật nó như vậy.
Cho nên, chúng ta làm cha ở thế gian, đánh con quá thái, cảnh sát nó cũng bắt bỏ tù. Quyền làm cha dạy dỗ, được quyền là dạy dỗ, mà làm quá là phải ở tù. Mà Cha Trời cũng vậy, làm quá cũng phải bị ở tù. Phật cũng vậy, Tiên cũng vậy. Thì tất cả đều có luật. Mà nhân gian con người đã mang cái xác này là ôm tất cả trọn bộ luật xuống thế gian, mà không biết đặt luật và không thực hành đúng luật thành ra bị lệ thuộc. [52:08]
Chúng ta ôm tất cả bộ luật, mà chúng ta ngồi thiền chúng ta khai thông thì chúng ta nhìn thấy bộ luật ở trong đó rồi, chúng ta đâu có dám làm bậy nữa. Càng ngày càng sửa thì nó càng tươi tắn, vui vẻ, hòa đẹp. Có nhiều người tu thiền, nửa chừng nói:
- “Thôi, tôi không cần thiền, tôi dụng pháp tâm thôi”.
- Pháp tâm ở đâu? Pháp tâm ở đâu?
Nói: “Tôi không cần; chỉ có pháp tâm đủ rồi!”
Cần ăn này, cần ở này, cần mặc, cần mượn xác để suy tư này, cần mượn xác để hưởng ngũ vị này… mà nói “Tôi không cần thân pháp”. Cái đó là cái lỗi lầm. Thân với tâm phải đi một lượt, đi đôi, nó mới là đúng.
Cho nên, xây dựng tiến hóa nó phải như vậy. Luật là luật, không có thể bỏ luật. Nói “Tôi bắt được cái tâm rồi, tôi không cần ai hết”. Cái đó là sai rồi! Tự mình hành hạ mình, tự mình cô lập mình, và mình không có tiến.
Cho nên cái Vô Vi phải học đa dạng, phải hạ mình học nhiều. Tôi đã nói ma quỷ nó tới nó thị oai với mình, mà mình dùng từ tâm học hỏi thì ma quỷ cũng thành ra người hiền, không cần phải chửi mắng, không cần phải đánh đập. [53:23]
Vô Vi là nhẫn, nhịn nhục để học hỏi; nhưng mà chúng ta có pháp; pháp đó là luật để đánh đổ tất cả những gì suy yếu trong nội thức ô trược và trở về với thanh nhẹ.
Phải nhớ nắm cái pháp! Không nắm cái pháp là nguy hiểm.
Nhiều người nói, “Tôi nắm được cái tâm pháp rồi, tôi không có sợ nguy hiểm”.
Cái tâm pháp nó lớn rộng vô cùng; trong không mà có, trong có mà không; bất cứ giờ phút nào cũng có thể tà pháp xâm chiếm nếu thiếu vững. Cơ thể không yên, tâm trạng không mở, mà xưng tâm pháp thì có ngày nào đó nó cuống cuồng theo dòng sông, rồi khổ biết là bao nhiêu. Đi một vòng đó, chừng nào mới trở lại?
Cho nên, nhiều người tu Vô Vi đạt, thấy thông minh và trở lại với một phần sáng suốt, nhưng mà chưa thấy Tiên Phật, đã buồn rồi. Sử dụng cái khả năng sẵn có của chính mình là sự sáng suốt này, rồi đi phổ hóa mà quên tất cả, chứng minh rằng: Không có Phật, không có Tiên, không có Trời, không có ai hết, chỉ có “tôi” thôi. Cái đó còn bị kẹt nữa!
Cho nên, trên đường tu chúng ta phải học hỏi rất nhiều. Chư Tiên, chư Phật đã thành đạo và chứng minh cho chúng ta thấy đường đi nước bước. Mà nếu chúng ta tự thị và phủi bỏ tất cả những gì, và lấy một chút thông minh, sáng suốt chèn ép mình, chớ không phải giúp đỡ thiên hạ. Mình chê là không có, là tự nhiên là chèn ép mình.
Bởi hồi xa xưa đâu có cái thứ, cái loại mà lưu manh phản trắc nhiều như vậy, mà bây giờ tụi lưu manh, phản trắc nhiều lắm. Nó lưu manh, kẻ lưu manh, tự làm lưu manh, rồi tự phản trắc lấy nó; người ta thấy hết rồi. Thấy rõ chỗ đó không? Mà nó còn chưa chịu ăn năn nữa. Mà hồi xưa không có cái luật đó.
Hồi xưa đi tu khổ lắm! Bước vô trong cái trật tự, bước vô trong kỷ luật, rồi từ đó tiến, mới tháo gỡ được. Cũng như cái hỏa tiễn mà lên được một bậc thì phải bỏ một cái vỏ, lên một bậc thì bỏ một cái vỏ trần trược. [55:32]
Cho nên, đừng có cống cao ngạo mạn mà tự hại lấy mình. Luật thì có đó. Nó ôm luật không xài luật thì luật sẽ giết nó. Cho nên, tất cả phải hiểu rằng chúng ta đang ôm luật, chúng ta phải tận dụng luật và đi đúng luật thì chúng ta không bị nữa.
Có bộ đầu là có Trời. Có hạ giới là phải có âm phủ. Có trung giới thì có nơi làm việc của cả Càn Khôn. Thượng, trung, hạ trong thể xác chúng ta đều có trật tự, đồng làm việc chung hết. Tim, gan, tỳ, phế, thận - 5 bộ phận - 1250 vị tì kheo đồng làm việc. Mà nếu chúng ta không chịu giáo dục, không chịu chia sẻ cho những phần đó thì không bao giờ chúng ta tiến.
Ta biết một chút sáng suốt, ta ôm ta chia sẻ cho người đời mà chính ta chưa chia sẻ cho ta. Không chịu tu, không chịu hành, cứ nghĩ mình là tiền kiếp là ông gì, ông gì, rồi bỏ phế mình, tiến không được.
Cũng như trong căn nhà 5 người mà có 1 người tu, 4 người không tu là thấy lộn xộn rồi. Mà huống hồ gì trong thể xác của chúng ta có 1250 vị tì kheo, có Lục Căn, Lục Trần; mà mình mình Chủ Nhân Ông không, còn ở dưới nó không tu; thì tới giờ tu, tới giờ nghe minh triết thì nó ứng, ứng chung một chút vậy thôi, rồi ra rồi nó bày chuyện bậy. [56:51]
Cho nên phải niệm Phật toàn thân. Cái gì mình gained, cũng như mình gặt hái tới ngày hôm nay được, là nhờ niệm Phật, thì mình phải truyền cái ý đó cho tất cả vạn linh trong Tiểu Thiên Địa đồng niệm Phật, thì nó mới đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, nó mạnh mẽ vô cùng, hòa ái tương thân của mọi giới. Là bên trong nó phải lo, từ giờ, phút, khắc nó cũng phải lo tu niệm, chớ không phải nói: “Tôi thành đạo rồi, tôi không cần. Tôi thành đạo rồi, tôi không cần thiền, tôi bừa bãi, tôi đi chơi; tự do sống với hiện tại của tôi!”
Nhưng mà hiện tại tôi là gì? Hiện tại nó đang dẫn tôi đi xuống hay là đi lên?
Phải hiểu cái chỗ này!
Cho nên nó rất khó khăn. Người đời khối óc rất lớn, có thể tiến tới vô cùng, mà rất hẹp thì vì tự thị và cống cao, thì nó chỉ có giới hạn bây nhiêu đó thôi, không có thêm được.
Rồi rốt cuộc cái tuổi tác nó mới trả lời, nó đặt cái câu hỏi: “Mày không cần nghiệp thân? Trí tuệ Mày bây giờ phát triển tới vô cùng xứng đáng là một vị Phật, mà bây giờ thân thể Mày như thế này, làm sao Mày cứu độ chúng sanh?”
Cái xác nó hỏi lại: “Ờ, tôi không cần đại nguyện nữa. Tôi không cứu độ chúng sanh. Tôi cứu tôi!”
“Cứu ở đâu? Tụi tao sắp chết rồi, làm sao cứu Mày?” Thấy không? Vạn linh nó trong đó, nó tới cuối cùng nó là trách, nó trách móc.
Cũng như câu ông gì mà ở ở xứ Cộng Sản ra, ổng nói: “Sống như tu, mà khổ như tù; nói năng như lãnh tụ, tới chết mới biết mình ngu!” Không lo cho ta, không lo cho bản thân, thì xứ sở không bao giờ yên. Bản thân mà cũng không lo là tiêu rồi:phương tiện này kia, kia nọ không lo, tới khi cần dùng là không được.
Cho nên nhiều người không hiểu, rồi học được 3 mớ, rồi nói là “Tôi thông minh”. Rồi tự bán cái thông minh đó đi, rồi càng ngày càng mất thông minh và không vun bồi cái thông minh trở lại, là sự thực chất sáng suốt để làm việc cho cộng đồng nhân loại ở tương lai. Cái điều đó là điều cần thiết!
Cho nên hôm nay chúng ta lại đi tiếp! [58:57]
[Hết cuốn 9 - ID# 00000000L26]