00000000L25

THIÊN ĐÀNG DU KÝ

THẦY ĐỌC VÀ GIẢNG - Cuốn 8 - Hồi 10 và phần đầu Hồi 11

Ngày 11 và 12/10/1987

HỒI MƯỜI

LẠI DẠO CUNG NGỌC HƯ

NGHE NGUYÊN THỦY THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 26 tháng 8 năm Kỷ Mùi (1979)

Thơ

Vinh hoa phú quý bản vô thường

Mộng lý tương tư dạ thiên trường

Hỷ duyệt tâm tình nhân bất lão

Ưu phiền quái ngại khí thần thương.

Dịch

Phú quý vinh hoa chẳng được lâu

Đêm dài tỉnh mộng dạ thêm sầu

Tâm hồn thơ thới sao già nổi

Thần khí tiêu hao bởi khổ đau.

Tế Phật: Cảnh vui tươi sung sướng ở chốn Thiên Đàng bao la bát ngát, quốc gia này không phân biệt tôn giáo, chủng tộc; chuyên thâu nạp lưu giữ những người hiền đức, có đạo tâm, gồm các phẩm trật như sau: Đệ nhất phẩm được tới cõi Thiên Đàng thượng giới, đệ nhị phẩm được tới cõi Thiên Đàng trung giới, đệ tam phẩm được tới cõi Thiên Đàng hạ giới; đệ tứ, ngũ, lục phẩm v.v... dành cho phàm nhân, ma quỷ cùng bốn loài sinh vật hạ đẳng trong sáu ngả luân hồi. Ngay đài sen cũng có tới chín phẩm trật nên tùy theo công đức lớn hay nhỏ mà phân loại thấp cao. Mỗi người đều có Phật tính, ai nấy đều được Trời ban phát đạo căn, nếu tu thân dưỡng tính, không vùi dập nguyên linh, sau khi lìa đời, chắc chắn trở về được nguồn cội là chốn đất Phật, đất đạo đó là phản bổn hoàn nguyên hay chứng đạo thành đạo. Trời ban cho người quả vị chân linh tròn đầy, nếu như một đời lo vun bồi gìn giữ được hẳn của báu vẫn là của báu. Lúc sống cũng như sau khi chết khối nguyên linh quý giá không chút suy suyển, cho nên Kinh Thanh Tĩnh nói: “Gọi là đắc đạo nhưng thực ra thì chẳng được gì cả” (Duy danh đắc đạo, thực vô sở đắc). Tu đạo là để khôi phục lại tính trời đã phú cho buổi ban đầu chứ chẳng phải để sử dụng phép thần thông huyền bí. Bữa nay lại dẫn Dương Sinh dạo cung Ngọc Hư bái yết Nguyên Thủy Thiên Tôn, Dương Sinh mau lên đài sen để thầy trò mình cùng đi.

Dương Sinh: Con đã sẵn sàng, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: ... Đã tới cung Ngọc Hư thuộc cõi Trời trong xanh mầu nhiệm, Dương Sinh mau xuống đài sen, tới lạy chào ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

Dương Sinh: Thưa vâng! Thánh cảnh Ngọc Hư quả khác hẳn trần gian, một khối ánh sáng như bóng mặt trời ở cõi dương gian, hào quang tỏa ngời. Phía bên cung điện Tiên Đồng tựu họp đông đảo chắc là để đón tiếp ân sư và con.

Tế Phật: Ngọc Hư tức là Ngọc Kinh Huyền Đô, ở bên ngoài 33 tầng trời là nơi đức Nguyên Thủy Thiên Tôn ngự, người phàm chỉ những bậc đắc đạo cùng công đức sâu dày mới được tới đây. Bữa nay phụng chỉ viết Thiên Đàng Du Ký được Trời ban ân phước lớn thầy mới dẫn con tới đây nổi, có thể nói là ba kiếp mới được vinh hạnh này vì duyên may ngàn năm khó gặp (Tam sinh hữu hạnh, thiên cổ nan phùng). Bởi Ngọc Hư là cội nguồn đạo lớn của ba cõi nên mới được tôn vinh là Nguyên Thủy Thiên Tôn, nay tới bái yết Ngài là để thỉnh ý về nguyên do lý đạo, vậy Dương Sinh mau tới lạy chào ra mắt đức Thiên Tôn.

Dương Sinh: Thưa vâng… Trong cung Ngọc Hư đạo khí tràn đầy, lại còn thấy đức Thiên Tôn đôi mắt huệ dào dạt vẻ từ bi, toàn thân tỏa sáng ngũ sắc, những vòng hào quang xoay chuyển không ngừng, khiến con choáng váng muốn té nhào...

Tế Phật: Phải cố trấn tĩnh, đức Thiên Tôn đang dùng ánh sáng đạo nhất khí Thiên Tiên gia hộ cho nguyên linh của con nên con mới có cảm giác đó.

Dương Sinh: Hiện giờ con đã cảm thấy tinh thần phấn chấn, ánh sáng nguyên linh đầy ắp. Kính lạy đức Nguyên Thủy Thiên Tôn, bữa nay đệ tử theo thầy lên cung Ngọc Hư để xin đức Thiên Tôn ban truyền đạo lý cùng giáo pháp.

Thiên Tôn: Hai vị trải gian lao khổ cực, xin mời ngồi. Thế đạo tan nát, nhân tâm suy đồi, đến cả linh khí Tiên Thiên hỗn nguyên do Trời ban phát cũng lụi tàn dần. Khoa học phát đạt, đời sống vật chất thương tổn quá mức, khiến chân tính bị chìm đắm đọa đày, đạo đức không tu, cho nên linh khí của chúng sinh tan tác, nổi trôi trong vòng sinh tử, không hy vọng có ngày trở về Trời.

Lòng Trời vốn nhân từ, không nỡ để cho nguyên linh phân tán, do đó đã sai các vị giáo chủ của năm tôn giáo lớn giáng phàm, mỗi Ngài lo cứu độ một phương, dốc tâm chỉ dẫn chúng sinh lối lên Thiên Đàng. Nhưng sau khi các Ngài qua đời, có biết bao kinh sách bị tín đồ vẽ rắn thêm chân, đánh mất đi sự chân truyền; nay tuy có những người cầu mong học đạo nhưng lại ham thích cao xa không chịu bước trên đất thực, gốc đạo chẳng nghiên cứu tận tường, chỉ tự mãn với cái vỏ da và lông mà thôi, tuy có dốc chí vì đạo, song toàn là nhai đi nhai lại cái xác khô của đạo thực quả là nhạt nhẽo vô vị.

Vì thế nay lại giáng chỉ viết thêm cuốn sách thứ hai là “Thiên Đàng Du Ký” để mở vận hội mới, tiết lậu chân lý để trao truyền, sửa đổi những điều mà thế gian bấy lâu nhầm lẫn tuân theo. Phàm những kẻ tu đạo trong thiên hạ, hẳn là phải dụng tâm nghiên cứu sách này, và nếu như muốn thông suốt được ý nghĩa của sách tức phải chăm lo tu tập không ngừng.

Được như vậy tôi bảo đảm nguyên linh chắc chắn trở về nguồn cội, vì đây là pháp môn “bất nhị” tức là chỉ có một mà không hai;xa rời nó ắt là chẳng có đạo để mà tu vậy.

Dương Sinh: Kính xin đức Thiên Tôn chỉ dạy cho thế nào là “chân đạo”?

Thiên Tôn: Người đời tu đạo đều có học Phật, Khổng, Lão, Chúa, Hồi v.v... Cả trăm ngàn cửa giáo đều xưng là độc nhứt vô nhị, chí cao chí thượng, song chẳng rõ “cao thượng” là tới cảnh giới nào? Đạo vốn không có tên, nên miễn cưỡng gọi nó là đạo, bởi vậy đạo lấy vòng tròn trong không để biểu thị, kẻ đắc đạo trên đầu họ có hào quang tức là ánh sáng của nguyên linh, nguyên linh nếu tối tăm tất nhiên mất sắc thì gọi là “tàn linh” hay “chúng sinh”, thứ linh này gọi là chủng tử luân hồi. Nếu như nguyên linh sinh hào quang thì “chủng tử” không tà, đường luân hồi dứt tuyệt, “linh chủng” trở về nguồn cội tức là nơi đất cũ quê xưa, cho nên Hỗn Nguyên Chân Kinh có nói: “Phàm bên ngoài có hình có chất ắt bên trong có sắc có tướng, nếu quay về được nguồn cội thì đều không còn dấu vết.” (Phàm ngoại cầu hữu hình, hữu chất chi thể giả, kỳ nội trước hữu sắc, hữu tướng chi tích giả, hợp hoàn bản phản nguyên, quân một vi ô hữu). Tiên, Phật, Thánh đều là những bậc tu tới mức trở về được nguồn cội, cho nên phải hiểu tu đạo là không phân chia môn phái, vì hình tướng bên ngoài đều giả dối, chỉ có nội tâm bên trong mới chân thực; chăm lo tu tập vượt trở ngại về được nơi nguồn cội, thấy rõ được lẽ tu chân chính tức là chân đạo vậy.

Dương Sinh: Kính thưa đức Thiên Tôn có nhiều người nói về đại đạo nhưng con không được rõ?

Thiên Tôn: Kẻ đạt lẽ “một” là bậc Thánh vì “một” là “nguyên thủy nhất khí” tức là khí ban sơ còn nguyên vẹn chưa phân chia, chưa lẫn lộn. Nay Dao Trì Kim Mẫu phụng mệnh “thâu viên” tức chuyển hóa điều hợp khí đó sao cho thông suốt tròn đầy, vì chúng sinh dưới gầm Trời hiện giờ phần đông bỏ quên chân lý.

Còn nếu tự thâu phục được tâm linh, đức tính của chính mình để cho nó tròn đầy không còn khiếm khuyết gọi là “thâu viên”. Vì vậy muốn có hào quang thì mọi người, mọi nhà, mọi tôn giáo đều có thể tu. Khi thu hồi được thành quả, lại đem nộp về kho chứa “nguyên linh” của nguồn cội ban đầu.

Đạo Đức Kinh nói: “KHÔNG” là tên gọi nguồn cội của trời, đất. “CÓ” là tên gọi mẹ của muôn loài. Hai cái đó xuất hiện cùng một lượt song mang tên khác nhau, nhưng đều gọi là “huyền” tức mịt mờ, mịt mờ rồi lại mịt mờ vì là cửa ra vào của mọi sự huyền diệu” (VÔ: danh thiên địa chi thủy. HỮU: danh vạn vật chi mẫu... Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền, huyền chi hựu huyền chúng diệu chi môn). Kim Mẫu là lẽ “MỘT” của Ngũ Lão, và là mẹ của 96 nguyên linh, cho nên gọi là “mẫu” là “vô danh” tức không tên là “đạo”, cho nên Kim Mẫu sau khi thâu tròn nguyên linh vào trong cơ thể mình rồi, lại còn phải biến đổi sao cho “tam thanh” trong lắng; sau đó đem nguyên linh tẩy rửa cho sạch sẽ để thành “Hỗn nguyên nhất thể” tức là thành một thể duy nhứt ban sơ, có như thế sự thâu tròn mới được kể là “tròn đầy” vậy.

Dương Sinh: Phải cung kính vâng theo lời chỉ dạy ngọc vàng của đức Thiên Tôn mới hoàn thành nổi sứ mệnh, vì đường đạo là cây thang trời giống hình kim tự tháp, có leo nổi lên tới chóp đỉnh mới kể là đạt mục đích.

Tế Phật: Lão Mẫu Vô Cực cưu mang 96 con đỏ trời đất, bà dạy “leo thang trời” là muốn loài người trở về chốn cũ, đôi mắt bà trông ngóng trong suốt nước mùa thu, bà kêu gào cháy cổ bỏng họng là mong mẹ con một lòng, nhưng có mấy kẻ nghe rõ tiếng hồi tâm thức tỉnh? Nghĩ tới cha mẹ của cái thuở chưa sinh, con người ở chốn nào? Bỏ qua ít chục năm tạm trú nơi căn nhà trần thế làm bằng gỗ đá, con người liệu nhớ nổi rằng nơi cõi trời đất có một căn nhà vàng, nước, lửa, gió đất không xâm phạm, trải nhiều kiếp không đổ nát? Hãy mau tu thành thân kim cương không gì tiêu hủy nổi, mau tới cư ngụ tại Thiên Đàng, nơi bốn mùa đều là xuân.

Dương Sinh: Thưa nghe lời dạy tâm huyết của ân sư lòng con vô cùng chua xót.

Thiên Tôn: Mắt huệ của con chưa mở hết, muốn tạo nổi tài năng phải đợi viết xong sách Thiên Đàng Du Ký, không những căn nhà vàng của con xây thêm một tầng lầu mà còn cất thêm ngôi biệt thự Thiên Đàng cho ức vạn đồng bào con dưới gầm Trời. Thiết tha mong cầu người đời sớm có ngày chăm lo tu đạo lớn, ra sức lập đức, tích cát thành tháp, một sớm thoát khỏi xác thân giả tạm bay thẳng lên chốn cảnh đẹp Đại La Thiên, có tòa biệt thự ngọc vàng chất ngất, sống an nhàn thảnh thơi.

Dương Sinh: Đa tạ lời khuyên dạy của đức Thiên Tôn, con từng nghe nói người đời tu đạo được về với Lão Mẫu Vô Cực, chẳng rõ như vậy đã được kể là thành đạo hay chưa?

Thiên Tôn: “Không” là tên của cội nguồn trời đất; “Có” là tên của mẹ đẻ muôn loài; cho nên Nguyên Thủy cùng Lão Mẫu có thể nói là “nhất thể lưỡng diện” tức bên trong cùng chung một thể tính, nhưng bề ngoài mang hai bộ mặt khác nhau. Lão Mẫu là “nguyên thủy” tức nguồn cội, sở dĩ chúng sinh kêu là “Lão Mẫu” hay mẹ già, vì ngụ ý Trời với người tình thân gắn bó; Mẫu thân coi chúng sinh là con đỏ, thương nó, yêu nó, cho nên khuôn mặt hyền từ của Lão Mẫu ở trên Trời được coi là hiện thân của sự cứu độ chúng sinh. Lão Mẫu ngụ tại Trời Ngũ Lão, tựa cửa cung Dao Trì trông ngóng, thệ nguyền độ hết thảy nguyên linh, do đó nếu chúng sinh hết lòng đeo đuổi việc tìm mẹ để trở về nguồn cội tức kể như là đắc đạo vậy.

Đã biết rằng con từ mẹ mà ra, và nguyên linh của nó là do Trời ban phát. Đấng “Huyền Huyền Thượng Nhân” tức người trên cõi mịt mờ hẳn là vị chúa tể chân chính của muôn loài nguyên linh, và cũng là Thượng Đế, nên vái lạy Lão Mẫu tức là vái chào đức Thiên Tôn, Thượng Đế. Bởi vậy phải nhớ nghĩ tới vạn linh đồng bào, tất cả các Thần, Thánh đều từ một nguồn cội mà ra, tuyệt đối tâm không được phân biệt để rồi sinh ra kiêu ngạo, khiến cho đạo khí nguyên linh bất hòa.

Nếu nghĩ rằng chỉ có mình là cao nhất, rồi khinh khi hết thảy chùa miễu, Thánh, Thần, và cho những thứ thuộc cõi Hậu Thiên thấp kém thì tâm đạo của mình liền xuất hiện bóng tối ngay lập tức, bài xích kẻ khác thì bản thân mình cũng bị lãnh đạn bay ngược lại mà trở thành đọa lạc. Thế mới biết thần ở tại tâm ta, khinh khi Thần Thánh tức là khinh khi chính mình, những kẻ không tu đạo thường hay có thái độ này. Nếu như cố chấp phần hình tướng của mình, sau khi chết không cách chi hòa hợp với Đại Đạo Vô Cực cùng nhập vào thân thể mẹ mà thành chính quả nổi.

Chúng sinh dưới gầm Trời đều hít thở chung cùng một bầu khí, bởi vậy khí hết ắt thân chẳng còn, cho nên nói chúng sinh vốn từ một khí mà ra quả là chí lý. Cho nên nếu tu đạo, nguyên linh sẽ trở về cõi Trời Ngũ Lão, hội kiến cùng Lão Mẫu, sau khi ngũ khí triều nguyên, nguyên linh cùng bay lên cõi tam thanh, tam hoa tụ đỉnh, rồi lại tiếp tục bay lên cõi Đại La hợp cùng Đại Đạo Vô Cực. Lúc còn tại thế mà giác ngộ thông suốt được Đại Đạo Vô Cực, dứt bỏ hình tướng, chăm lo tu tập, công đức viên mãn, một sớm vượt thoát được xác thân tù ngục ắt là một bước có thể bay thẳng tới cõi Đại La. Bởi vậy ước mong người đời cởi bỏ được mê lầm, gắng tranh đấu lìa xa sắc tướng ắt có thể tự chứng được Đại Đạo Vô Cực. Nay tạm trình bày đồ hình “thâu viên” tức hình vẽ bầu khí chuyển hóa tròn đầy dưới đây để người đời cùng rõ:

Tế Phật: Lời dạy của Thiên Tôn quả là chí lý, chân đạo vô hình, chân Phật vô tướng, chúng sinh tu đạo bắt buộc phải diệt tướng phá chấp mới có thể chứng đạo quả vô cực. Hãy nhìn hình vẽ vòng tròn vô cực (số 5) trống không ở giữa, chẳng mảy may vật gì bám víu, cho nên tâm ta phải rỗng như hang mới có thể về được cõi hư vô, còn không công đức dù có nhiều mấy đi nữa thì cũng chỉ đạt được quả vị trung thượng giới mà thôi. Bởi vì Ngũ Lão, Tam Thanh, Nhất Khí đều ở trong cảnh giới vô cực, kẻ siêng năng hết lòng tu đạo lớn ắt về được cõi Trời Ngũ Lão, cũng còn gọi là về cõi Trời Đại La, chúng sinh tu tới được mức đó, đều là do chính mình tự lựa chọn vậy.

Dương Sinh: Xin hỏi đức Thiên Tôn bên cạnh Ngài có một vị đạo đồng nhìn con mỉm cười, con không rõ người đó là ai?

Thiên Tôn: Ha ha, đệ tử không nhận ra được người đó là ai sao?

Dương Sinh: Con chỉ cảm thấy hơi quen quen.

Thiên Tôn: Người đó là đồng tử Ngọc Hư.

Dương Sinh: A thì ra là như vậy. Hướng đồng tử Ngọc Hư kính chào.

Thiên Tôn: Đồng tử này là “phân linh” tức nguyên linh chia ra để xuống phàm trần cứu độ chúng sinh.

Dương Sinh: Xin hỏi đức Thiên Tôn con chẳng rõ cách tiên đồng “phân linh” là như thế nào?

Thiên Tôn: Phàm tu thành chính quả Tiên Chân, Phật Thánh đều có thể hóa thân phân linh. Vì đạo quả tròn đầy, nước phép tựa suối, có thể tưới ngập nhân gian, phân thân thành ngàn vạn ức, biến hóa vô cùng. Như nước trong chén chỉ vẩy một giọt thành được một vì Tiên, hóa được một người, do đó Tiên Phật có thể phân linh giáng thế, đợi tới khi công đức tu hành viên mãn trở về bản vị, nước cũ trở lại chén xưa, đạo quả càng cao. Nay gặp kỳ phổ độ, Thánh Phật cao chân lớp lớp phát nguyện “phân linh” giáng phàm cứu đời, bởi vậy ngày nay trên trần chẳng thiếu gì thanh niên nam nữ, tuổi còn nhỏ mà đã có nhiều thiện căn, tu đạo chẳng mỏi mệt, khắp nơi độ người đều là các vị Tiên Phật phân linh hóa thân vậy, do đó mà tự tính thiên chân không bị lu mờ.

Dương Sinh: À thì ra nguyên nhân là như vậy. Khẩn cầu đức Thiên Tôn mở lượng từ bi, đệ tử ở chốn thế gian, mỗi khi gặp người tu đạo cùng các thiện tín, gặp lúc bệnh hoạn nguy khốn, tuy có danh y thần dược nhưng bệnh cũ lui, thì bệnh mới lại tới, tình cảnh triền miên thống khổ, khiến bất cứ ai trông thấy cũng động lòng trắc ẩn xót thương. Đức Thiên Tôn là thủy tổ của các nguyên linh, một khí một nguồn, xin ân ban một phương pháp để giải nguy hầu cứu độ chúng sinh, không rõ ý của đức Thiên Tôn như thế nào?

Thiên Tôn: Lành thay, lành thay, chúng sinh nhiều bệnh là do tội lỗi kiếp trước gây nên, ma bệnh buộc thân, thống khổ không dứt, đó là hình phạt sống vậy. Vì mong chúng sinh nối liền một khí, nay đặc biệt truyền lệnh “Hỗn Nguyên Nhất Khí trị bệnh linh chú” nghĩa là một khí Hỗn Nguyên trị bệnh linh diệu để giải trừ những căn bệnh nguy ngập. Phàm chúng sinh bị mắc tai ương bệnh tật, thuốc thang không còn linh diệu cùng linh khí tiên thiên bạc nhược, cho nên những bệnh ma quỷ mới xâm nhập nổi. Muốn sớm khỏi bệnh, phải luôn luôn thanh tĩnh thân tâm, nơi nhà vắng đốt hương khấn như sau:

“Kính bẩm đức Vạn Linh Nguyên Thủy Thiên Tôn, đệ tử (tín nữ) tên là... hiện mắc phải bệnh... bữa nay trước mặt Thánh xin phát nguyện sám hối nghiệp ba kiếp, in tặng sách Thiên Đàng Du Ký số lượng là... cuốn, để tu công đức cùng kiên nhẫn tụng lời cầu nguyện linh thiêng Hỗn Nguyên Nhất Khí trị bệnh. Kính xin đức Thiên Tôn lãm giám, diệt trừ bệnh tật tai ương”.

Khấn xong liền tụng “linh chú” tức lời cầu khẩn linh thiêng, mỗi lần có thể đọc từ: 9, 49, 99 lần, tùy ý mà tụng, ắt Hỗn Nguyên linh khí lập tức giáng lâm, cứ kiên nhẫn tuần tự làm như vậy mãi, linh khí sẽ phủ ngập toàn thân, bệnh tật gì cũng sẽ tiêu tan hết, dẫu chín phần chết một phần sống cũng qua khỏi. Còn kẻ không phát nguyện chớ có tụng lời chú để tránh xúc phạm tới Thần Thánh. Mong chúng sinh chớ có khinh thị vậy.

HỖN NGUYÊN NHẤT KHÍ TRỊ BỆNH LINH CHÚ

(Lời cầu nguyện linh thiêng để trị bệnh bằng khí nguồn cội duy nhất)

Khấn: Kính bẩm đức “Hỗn Nguyên Nhất Khí” mở lượng từ bi cao cả ban phước cho đệ tử (tín nữ) thoát khỏi bệnh hoạn, cầu xin chính khí năm phương ân giáng xuống thể xác bệnh hoạn này. Kính mời chư Thần cùng có công lớn chiếu cố ban “phước khí” điều trị cho đệ tử (tín nữ).

Thiên y đại thánh cầu khẩn giáng ngay, mời mọc tới liền, có khấn vái là có linh nghiệm, nếu như trái lệnh sẽ lãnh hình phạt sấm sét trừng trị, xin nghiêm chỉnh tuân theo hình luật.

Tụng: Tiên thiên, tiên địa, nguyên thủy tổ khí, tước tử thượng sinh, trường sinh tại thế, Ngọc Hoàng tâm ấn, quỷ thần giai tỵ, khuông duy tam giới, thống nhiếp vạn linh, Nguyên Thủy tổng ấn, vạn thần phụng hành.

Tổ khí nguồn cội tiên thiên, tiên địa, tha chết cho sống, sống mãi ở đời, tâm mang hình bóng Ngọc Hoàng quỷ thần đều tránh, giữ trọn tam giới, nắm hết vạn linh, nguồn cội chỉ huy, vạn linh thi hành.

Tế Phật: Đức Thiên Tôn quá từ bi nên đã đặc biệt ban “linh chú” tức lời khẩn cầu linh nghiệm để trị bệnh cứu mạng, chúng sinh quả là có phước. Mong rằng sẽ hết sức quý trọng bài thần chú thiêng liêng này, tâm thành thì linh ứng, chỉ cần tĩnh tâm sám hối, mọi tội lỗi ắt được các vì sao tốt giáng xuống giúp đỡ, nghiệp chướng sẽ tiêu tan, việc không như ý tự nhiên được như ý mong cầu. Bệnh ma quỷ không hết chỉ có Thần Thánh mới có thể diệt trừ nổi mà thôi, kẻ chữa bệnh bằng thuốc thang mãi mà không khỏi, đều có thể kiên nhẫn tụng niệm bài thần chú linh thiêng trên, sẽ linh nghiệm vô kể.

Dương Sinh: Đức Thiên Tôn vì chúng sinh thả một sợi dây hỗ trợ sinh mệnh huyền diệu, ân ban bài thần chú linh thiêng, nhân gian đời đời đội ân. Kính thưa đức Thiên Tôn, thế gian hiện giờ con trai con gái của nhiều gia đình không hiếu thảo với cha mẹ, sự kiện này có quan hệ như thế nào đối với linh khí của trời đất? Đức Thiên Tôn đã thâm hiểu bản tính của chúng sinh, xin chỉ giáo giùm cho.

Thiên Tôn: Lành thay, Dương Thiện Sinh quả là người có lòng lắm vậy. Trăm đức thiện, đức hiếu đứng hàng đầu, song thế gian ngày nay lại phản bội lại, nên mới có nhiều kẻ bất hiếu. Luận về nguyên nhân của sự kiện bất hiếu này mới thấy rõ được cái lý nhân quả của nó.

Việc sinh đẻ nuôi nấng con cái, đó là giềng mối của nhân luân, và cũng là trách nhiệm của các bậc làm cha, làm mẹ, mà tình nghĩa đối với con cái lại coi nhẹ, làm mẹ không dám cho con bú sữa mình, vì sợ bộ ngực xấu đi nên đã dùng sữa bò thay thế. Do đó trên đời mới có lắm thanh niên nam nữ bị nhiễm tính súc sinh, trẻ con lúc còn ở cái tuổi bú mớm mà không được nuôi nấng bằng sữa mẹ ắt trong cơ thể mất đi yếu tố tinh thần nghĩ tới cha mẹ, lúc lớn lên càng có cơ hội giảm tình thân đối với cha mẹ, nhất là lại cho con trẻ chơi các đồ chơi máy móc thiếu nhân tính, gởi trẻ con nơi các nhà giữ trẻ thiếu tinh thần đầm ấm vỗ về. Làm như vậy các bậc phụ huynh vô hình trung đã tiêu diệt mầm tình của trẻ thơ từ lúc còn trứng nước, khiến nó lớn lên không có lòng hiếu thảo đối với cha mẹ.

Cho nên khuyên người đời nuôi nấng dạy dỗ con cái phải dùng chân tâm, chớ có nhằm lợi ích bản thân mà sử dụng những phương thức máy móc trong việc tài bồi con trẻ. Nếu như nghịch ý hẳn đó sẽ là hố ngăn cách giữa hai đời, đào sâu thêm mãi sự vong tình chẳng thể nói hết được. Thiên đạo vô tư, chỉ có căn cứ vào thiên lý nhân luân để xây dựng nuôi dưỡng vạn vật mới hợp với đạo lớn mà thôi, nếu như hết thảy đều dùng phương thức khoa học hẳn là nhân loại sẽ đi vào cảnh giới “vật hóa” tức là người hóa thành vật, sức mạnh tinh thần sẽ ngày một yếu ớt, nhân tính sẽ chẳng còn. Con cái ở tuổi còn đi học, chớ có gieo rắc cái tinh thần học để mưu cầu lợi lộc mà phản lại thiên đạo.

Cho nên ước mong thế nhân hãy xả thân hy sinh cho con cái một cách vô tư, chớ có đòi hỏi chúng thương yêu lại mình ngay, hãy kiên nhẫn chờ đợi tới lúc chúng trưởng thành, tự nhiên chúng sẽ không phản bội lại đạo hiếu, sống ngược nhân luân.

Dương Sinh: Lời dạy của đức Thiên Tôn quả là hữu lý, thế nhân chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt của riêng mình, cho nên thường nhận lãnh sự quả báo đau thương do con cái gây nên vậy.

Tế Phật: Vì thời giờ eo hẹp, xin cáo từ, khi khác lại xin tới bái yết đức Thiên Tôn.

Thiên Tôn: Tiễn hai vị trở lại Thánh Hiền Đường.

Dương Sinh: Không dám. Thưa ân sư, con đã sửa soạn xong, cảm tạ đức Thiên Tôn đã chỉ dạy nhiều điều tốt lành.

Tế Phật: Đã tới Thánh Hiền Đường, Dương Sinh xuống đài sen, hồn phách nhập thể xác.

Đức Thầy giảng:

Đến đây chúng ta học cũng đã không ít, nhưng mà nhận cũng không có bao nhiêu, nghe thôi, rồi về nghe lại. Nghe đi nghe lại nhiều lần mới thấy rằng cái công của chư Tiên, chư Phật đã đóng góp, công của người đã đóng góp. Ngày hôm nay, người đồng hành Pháp lý Vô Vi cũng mượn đó mà để đóng góp thanh điển vào tâm, vào hồn của các bạn, tràn đầy sự hỗ trợ cho mình có cơ hội thăng hoa; nếu không tiến thì chỉ tự trách mình chớ không có trách ai. Cho nên các bạn phải cố gắng! [29:41]

[Kết thức buổi học ngày 11/10/1987]

[Sang buổi học ngày 12/10/1987]

(chưa chép 15 phút Thầy giảng ở video ngày 12/10/1987)

HỒI MƯỜI MỘT

DẠO CUNG NGỌC HƯ LẦN THỨ BA

NGHE ĐỨC NGUYÊN THỦY THIÊN TÔN THUYẾT PHÁP CÙNG

LẠY CHÀO ĐỨC HUYỀN HUYỀN THƯỢNG NHÂN

Phật Sống Tế Công

Giáng ngày 13 tháng 9 năm Kỷ Mùi (1979)

Thơ

Hoa hoa thế giới sắc mê nhân

Trí sĩ hồi đầu bán Phật lân

Ảo cảnh hư hoa như thủy nguyệt

Không tâm khử chấp luyện thành chân.

Dịch

Màu hoa trần thế đẹp mê hồn

Phật pháp người tu dạ kính tôn

Cảnh tượng hão huyền trăng đáy nước

Hư không diệt chấp luyện chân tâm.

Đức Thầy giảng:

Muốn hướng về hư không, phải diệt chấp mới luyện được cái chơn tâm. [30:32]

Tế Phật: Cõi trần hoa lệ, muôn màu muôn vẻ bủa vây con người, muốn tìm đường thoát cũng chẳng dễ nào! Có biết bao anh hùng hảo hán chí lớn ngút trời nhưng rồi khí đoản. Nhi nữ trường tính cuối cùng đều đổ vỡ, hoàn cảnh thực tế nghĩ thật đáng thương. Ta hy vọng rằng thế nhân sẽ không còn bị cảnh xa hoa phù phiếm nhất thời mê hoặc nữa, bởi khi cảnh phồn hoa giả tạm đó tan tác theo gió cuốn bay đi, con người còn nắm giữ được gì? Trái lại cảnh sắc trên Trời, bốn mùa đều là xuân, được ngắm cảnh suối trong, hoa đào nở, tâm thần sảng khoái tươi vui. Ta nhắc nhở cho những kẻ hiếu sắc hiểu là vẻ đẹp chân thức ở trên Trời, còn sắc đẹp tại cõi thế gian này đều huyền ảo, đợi tới lúc trút hơi thở cuối cùng hóa thành cái thây ma bất động thì dầu đẹp đẽ cách mấy nhưng thử hỏi còn ai ham thích nổi? Sao không như ta đây sống tiêu dao tự tại, chẳng hề thắc mắc băn khoăn là người có yêu ta, có kính trọng ta hay không? Ta hoàn toàn tự do, chẳng lệ thuộc ai, chẳng ai lệ thuộc ta, có như vậy ta mới thực sự an nhiên tự tại. Dương Sinh chuẩn bị lên đường, bữa nay thầy trò mình lại dạo thăm cõi Trời Đại La.

Dương Sinh: Thưa con đã sửa soạn xong, kính mời ân sư lên đường.

Tế Phật: Qua các lần thầy hướng dẫn con dạo thăm cảnh đẹp Thiên Đàng, trong những thoáng giây đó con có cảm giác ra sao?

Dương Sinh: Khi đó con cảm thấy được giải thoát khỏi cảnh trần gian khổ hải, hoàn toàn nhẹ nhàng thanh thản, cứ tưởng là từ đấy được ở tại Thiên Đàng không phải trở lại trần gian nữa.

Tế Phật: Tuy con có chí lìa bỏ cõi trần, song duyên trần của con chưa dứt, con còn phải cứu độ nhân gian, một sớm công quả tròn đầy, khi đó trở lại Thiên Đàng cũng chưa muộn.

Dương Sinh: Tới khi ấy ân sư có còn hướng dẫn chúng sinh lên cõi Trời nữa không?

Tế Phật: Khi con trở lại Thiên Đàng đã có vô số người đời nhờ đọc Thiên Đàng Du Ký mà phát tâm tu luyện chân tính đạt thành chính quả, chẳng còn cần thầy dẫn đường, chớ lo sợ rằng họ không biết thuật phân thân. Còn riêng con, con đã rõ đường tỏ lối, chỉ việc tự mình mà đi thôi.

Dương Sinh: Thưa lỡ con đi lầm phải đường mê thì sao?

Tế Phật: Ha ha, con phải nhớ mang theo kim chỉ nam đạo lớn, rồi hướng cửa Nam Thiên tìm tới, há chẳng đến được sao? Thầy mong con thực hiện được hết những gì thầy đã hướng dẫn, chớ đừng giống như ai làm khách “quan quang” tức đứng ngoài mà ngó. Đường Thiên Đàng giống hệt xa lộ trần gian, mỗi chặng đều có bảng chỉ dẫn, ví dụ như có các tên trạm Tam Cương, Ngũ Thường, Bát Đức v.v... Chỉ cần minh tâm, thông suốt được ý đạo nhiệm mầu, tu càng viên mãn, quả vị càng cao, cùng tuân theo đúng sự hướng dẫn thì chẳng cần người chỉ đường cũng tới được Thiên Đàng. Nay chẳng thể sánh với xưa, nhân loại bây giờ rất đề cao trí tuệ, người biết chữ mỗi ngày một nhiều, chỉ cần ghi nhớ kỹ phương châm hành đạo, bảo đảm mọi người đều có lối trở về Trời, chẳng cần phiền tới ta hướng dẫn.

Dương Sinh: Con đã tỏ tường, cảm tạ sự chỉ dạy của ân sư.

Tế Phật: Suốt dọc đường thầy trò mải đàm đạo, thoáng giây đã tới trước cửa cung Ngọc Hư. Dương Sinh mau xuống đài sen, thầy trò mình cùng tới bái yết đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

Dương Sinh: Xin tuân lệnh... Đệ tử là Dương Thiện Sinh xin lạy chào ra mắt đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

Thiên Tôn: Hai vị bữa nay lại tới thăm thánh cảnh Ngọc Thanh, tôi rất lấy làm sung sướng, các vị vì độ chúng sinh mà phải chịu gian lao khổ cực muôn phần, bởi có cay đắng mới thành công, muốn gặt hái phải cày cấy, mong Dương Sinh kiên định tâm chí để hoàn thành sứ mệnh này, khi đó Dương Sinh có thể siêu thăng được hết Cửu Huyền Thất Tổ.

Dương Sinh: Cảm tạ lời răn dạy của đức Thiên Tôn, con xin tuân hành cùng giữ đúng những điều đức Thiên Tôn vừa khuyên nhủ, nhận chịu gian lao để hoàn thành thiên du ký. Bữa nay tới cung Ngọc Hư là cốt xin đức Thiên Tôn chỉ dạy thêm về lẽ huyền diệu của Đạo Lớn.

Thiên Tôn: Lẽ huyền diệu của Đại Đạo kỳ trước tôi đã tiết lậu một phần, bữa nay quý vị lại tới nơi đây, tôi đặc biệt vì người mà nói về pháp tu Đạo Lớn. Người đời thường nói: “Ba thước cao trên đầu có thần sáng suốt” (Đầu thượng tam xích hữu thần minh). Ba thước tức là ba cõi vậy, còn đầu người ta là chỗ thần cư ngụ, là chúa tể của thân xác, cho nên mới nói: “đầu là đạo”. Đầu là gốc của Trời; cho nên đầu đứt thì gốc rễ hủy hoại, người cũng diệt vong. Sự ra đời của con người là đầu đội trời chân đạp đất đi lại khắp chốn, cho nên nói: “thân người khó được” (nhân thân nan đắc) là bởi so sánh với loài vật thì con người khác xa, vì sau khi sinh, loài vật vĩnh viễn khom vai, còng lưng không cách chi đội Trời đạp đất nổi, sở dĩ chúng phải chịu như vậy là bởi kiếp trước chúng hoàn toàn phản bội lẽ Trời, kiếp trước là “nhân”, kiếp này là “quả”, báo ứng không sai chệch một mảy may, cho nên kiếp này mới để lộ chân tướng như vậy. Nay muốn trở về nguồn cội, công phu phải thực là tôi luyện, không được đảo điên vì việc đời, nếu điên đảo ắt bất chính, một sớm điên đảo phản bội Trời ắt lại một phen bị đày ải trong vòng luân hồi. Do đó con người phải học chí xung thiên của hỏa tiễn, tâm tính thật ngay thẳng, tính linh sẽ từ cửa huyền xuyên thấu Cung Nê Hoàn trên đầu mà xuất thần xung phá tầng đại khí “thiên linh cái” tức lọng Trời thiêng che phủ, tự nhiên có thể về được Trời.

Dương Sinh: Lời dạy của đức Thiên Tôn thật là chí lý, nhưng làm cách nào xung phá nổi lọng Trời thiêng?

Thiên Tôn: Lọng trời thiêng (thiên linh cái) là chỗ cửa Trời hay cửa huyền ẩn dưới cung nê hoàn, tiếp giáp với linh sơn. Lọng đó che chở cho cơ thể con người. Lúc còn là hài nhi, trên đầu có cái “thóp” tức chỗ xương sọ còn hở, nhờ cửa ngõ này mà còn có được sự liên lạc với Trời thiêng, nhưng càng lớn cửa đó càng đóng lại do đó mà ngăn cách hẳn với Trời, chân bản tính của Trời phú bị chôn vùi dần, ánh sáng thiêng liêng trở thành tối tăm. Người ta sau khi sinh ra, hai đường âm dương “địa hộ” hay cửa đất tức hai đường dẫn tinh khí ra ngoài cơ thể của người nam và người nữ tự mở, tới khi lớn lên tình dục phát động, máu huyết cùng tinh khí như nước sông không có đê điều ngăn giữ chảy tràn muôn dặm, thế chẳng thể cản, thành tạo nghiệp gây tai họa, từ đó kể như cửa Trời đóng, đường quỷ mở. Cho nên kẻ tu đạo trước tiên phải đóng “cửa đất”, một sớm tinh đầy khí dư, như hơi nước sôi trong nồi nóng đẩy nắp đậy văng ra, thần thức bay lên. Người ta nếu như biết tiết dục, đóng được cửa đất, một sớm khí dư mở tung cửa Trời, nguyên thần xung phá tầng đại khí bay thẳng lên thượng giới, thành Tiên thành Phật, tránh khỏi bị luân hồi khổ đau.

Dương Sinh: Người đời bây giờ đều tu hành tại gia, có vợ có chồng, nếu như tu cách diệt dục tinh, sợ rằng rất khó khăn, không rõ có cách nào bổ khuyết được chăng?

Thiên Tôn: Lúc này đương là thời kỳ phổ độ, tu tại gia là gốc, nên muốn tu thành chính quả chẳng khó, bữa nay tôi đặc biệt thuật về phép tu tại gia như sau: Từ muôn ngàn kiếp tới giờ, chúng sinh luân hồi không dứt, kịp tới đời nay Ngọ Mùi tương giao hội hợp, Ngọ thời như mặt trời đứng bóng, cho nên thế giới vạn vật phát triển tới cực đỉnh, muốn có là có hết thảy, cơm ăn áo mặc, nhà ở, đường đi tiện nghi thừa thãi, nhân loại vô cùng sung sướng như sống tại cõi Thiên Đàng nhỏ. Đúng lúc đạo lớn giáng xuống trần gian cứu vớt chúng sinh, phàm những kẻ sinh ở thời này, đều được Trời tha tội mới được ra đời, không được hưởng phúc thì cũng được hưởng huệ. Kẻ được phúc, hưởng thụ vô tận, kẻ được huệ có thể nghe thấu đạo lớn nơi nơi nên được tùy ý lựa chọn giữa hưởng thụ vật chất và tu dưỡng tinh thần.

Con người thời đại này trí óc thông minh, nghe một biết mười, khí cụ ngày một tân tiến khác thường, giúp ích rất nhiều cho nhân quần xã hội, vì được giáng sinh vào lúc chính Ngọ, thụ hưởng ánh sáng mặt trời chiếu diệu, cho nên thiên chân không bị lu mờ, “tinh khí thần” thịnh vượng, quả đã được Trời phú cho cách “bán Tiên” tức nửa Tiên, gần tới bực Tiên, cũng còn có thể gọi là “Địa Tiên” tức Tiên ở cõi trần. Như nước trong chõ tuy không đốt thêm lửa, song vì có nắng mặt trời giữa trưa chiếu, độ nóng lên cao, vì lửa được nhen nhúm khoảnh khắc liền sôi, phút chốc tỉnh ngộ, cho nên thời nay tu đạo tại gia chỉ cần giữ vững luân thường đạo lý, chớ buông thả tâm tính như nước chảy tràn lan, ắt là nước chân chính trở lại được nguồn tưới ngập ruộng tâm, lúa mạ tốt tươi, kết hạt xum xuê, một sớm lúa chín tức đạt thành đạo quả, cởi được cái vỏ gông cùm tức hình hài giả tạm mà thoát xác bay cao.

Nếu được như vậy ắt là nguyên thần có thể xung phá cửa Trời, tu rất dễ dàng; thế mà đời nay không tu thì đợi tới kiếp nào mới tu? Nay Dương Sinh phụng chỉ trước tác sách “Thiên Đàng Du Ký” nên tôi đặc biệt tiết lộ thiên cơ: người đời bây giờ nếu chịu tu đạo, Trời sẽ giúp cho ba phần, chỉ cần lo thêm bảy phần công đức là có thể tu thành chính quả.

Dương Sinh: Cảm tạ đức Thiên Tôn bữa nay lại mở lượng từ bi, thêm một lần nữa tiết lậu lẽ huyền vi đại đạo. Xin thỉnh đức Thiên Tôn, Ngài dạy người đời nay đều đã có căn cơ, được là Tiên tới nửa phần, vậy nếu như kẻ không tu đạo liệu có thể tự nhiên trở thành “bán Tiên” tức gần tới bậc Tiên được không?

Thiên Tôn: Sở dĩ nói người đời nay là bán Tiên, tức phân nửa Tiên, là vì nhân loại ăn sơn hào hải vị, uống rượu Ngọc Quỳnh, ngay Tiên ,Phật ăn uống cũng không được sung sướng đến như vậy. Mặc thì lụa là gấm vóc, y phục của Tiên trên Trời cũng không được đẹp đẽ lả lướt đến như thế. Ở nhà cao cửa rộng, trưng bày lộng lẫy, lên xuống bằng thang máy; cung vua chúa cõi trần, điện Tiên Thánh cõi Trời cũng không so sánh nổi. Đi lại thì có xe hơi, máy bay thật là sung sướng, giống hệt như Tiên, Phật cưỡi gió đè mây, dù xa xôi tận gốc bể chân Trời, chỉ thoáng chốc, vút cái đã tới nơi. Điện thoại, truyền hình mau lẹ, chẳng khác nào Tiên, Phật thần thông quảng đại, pháp lực vô biên.

Đáng tiếc nhân loại tuy được hưởng diễm phúc lớn lao, song chẳng một ai có thể tránh khỏi “sinh, lão, bệnh, tử” cho nên gọi là “bán Tiên” tức gần tới mức Tiên. Đã được gần tới mức Tiên nhưng nếu không tu đạo, ắt khí lực sẽ lần lần tiêu tan, vì chìm đắm trong biển ái dục, linh khí tán loạn, do đó mà “bán Tiên” biến thành ma quỷ.

Ba của báu “tinh, khí, thần” là nguyên tố sinh tồn của người, Đạo Kinh dạy tu đạo phải giữ gìn ba báu này thực quả có ý nghĩa. Kẻ không giữ gìn tinh khí ắt là phường hiếu sắc tham dâm, dâm là đầu của muôn tội ác, đã ham dâm dục thì chuyên tính chuyện gian tà, đã chạy theo đường tà đạo thì làm sao có được chính đạo mà tu? Các tôn giáo đều khuyên tín đồ giữ giới, chớ phạm tà dâm, tức là phải giữ đạo, dưỡng tinh, tiết dục để bảo tồn nguyên khí.

Tinh thần suy đồi không làm được việc gì nên chuyện, bởi vậy có câu nói: “Muốn đạt được đạo trường sinh, phải uống thuốc ngủ một mình”.

Mong rằng người đời không cho đó là chuyện mê tín.

Nếu như giữ gìn được nguồn cội, bảo vệ được lẽ một, thành tâm tu đạo lớn giống như đèn cạn dầu được rót thêm dầu, ánh sáng tỏa ngập đại thiên, chan hòa tam giới, đạo quả Kim Tiên Như Lai đã đạt thành rồi vậy.

Dương Sinh: Người đời nay quả là có phước. Cúi xin đức Thiên Tôn ban lời dạy ngọc vàng quý báu thêm nữa.

Thiên Tôn: Sách “Thiên Đàng Du Ký” là tác phẩm quán tuyệt cổ kim, là tấm gương giá trị để cho những người tu đạo soi chung hầu cứu độ chúng sinh, giờ lại nói thêm về bốn mươi chín chương Tu Đạo Kinh nguyên thủy để mở trí cho người đời. [46:16]

Hết cuốn 8 - ID# 00000000L25


----
vovilibrary.net >>refresh...